Author Archives: dungntk

y hoc tam ca 3

 

Bệnh lao tàn hại loài người,

Gieo mầu tang tóc khắp nơi tung hoành.

Nhất là ở chốn thị-thành,

Cửa nhà chật hẹp, lợi danh lọc lừa.

Vi trùng gây bệnh dây dưa,

Theo không khí thở truyền đưa sang người.

 

Bệnh lao đã chớm một thời,

Người đâm mỏi mệt rã rời tay chân.

Buổi chiều lại phát sốt âm,

Mồ hôi đổ trộm, sức dần yếu đi.

Thân hình gầy võ nhược suy,

Sụt cân ba bốn, có khi tới mười.

Lại thêm ngực tức, cạn hơi,

Tiếng ho báo hiệu đến thời bệnh tăng:

Hoặc ho vài tiếng khó khăn,

Phổi đau ran rát đích rằng ho khan.

Hoặc ho đờm khạc dễ dàng,

Trùng lao soi thấy rõ ràng ở trong.

Đờm xanh mùi bốc tanh nồng,

Điểm pha thêm chút máu hồng có khi.

Bệnh nhân kiệt sức cơ nguy,

Lặng cùng năm tháng lần đi tới mồ.

 

Còn nhiều biến chứng bất ngờ,

Làm tăng cơn bệnh chẳng chờ thời gian.

Lắm khi nóng họng, chồn gan,

Bệnh nhân đâu bỗng khạc toàn máu tươi.

Tìm càng yếu, mạch càng vơi,

Hồn lìa phách tán về nơi cửu-trùng.

Trùng lao có thể ung-dung,

Theo đường huyết-quản vẫy vùng khắc nơi.

Gây bao vị-trí hại người,

Lao gan, lao thận, năm mười thứ lao.

Lao xương ái ngại biết bao,

Lại còn màng óc trùng nào có tha.

Cuống hầu cách phổi đâu xa,

Vi trùng lan tới đâm ra giọng khàn.

 

Ai ơi sức khỏe là vàng,

Hãy chăm gìn giữ kẻo mang hiểm nghèo.

Vệ-sinh ta phải tuân theo,

Tâm hồn thư thái chẳng đeo muộn sầu.

Thức khuya tổn sức lợi đâu,

Sống không điều độ về sau hại người.

Nhà cao cửa rộng thoáng hơi,

Đặt nhiều cửa sổ mặt trời rọi sâu.

Những nơi ánh sáng chiếu vào,

Chắc là thầy thuốc đời nào vãng lai.

Uống ăn chớ quá sơ sài,

Sao cho đầy đủ một vài món ăn.

Thể thao nên tập chuyên cần,

Thở thường bằng mũi cản ngăn vi-trùng.

Những nơi bụi bậm bay tung,

Khuyên nhau cẩn thận ta cùng tránh xa.

Người lao phổi ở riêng ra,

Chớ nên khạc bậy, bụi tha vi-trùng.

Bỏ vôi ống nhổ sẵn dùng,

Đựng đờm người ốm để cùng một nơi.

Đàn bà lỡ mắc bệnh rồi,

Chớ nuôi con cái thiệt thòi đến con.

Nhờ người nuôi hộ là hơn,

Sao cho mạnh khỏe lớn khôn ta mừng.

Đường sinh đẻ phải tạm ngừng,

Bào thai mang nặng coi chừng bệnh tăng.

 

Bệnh lao chạy chữa khó khăn,

Khôn ngoan ta phải để tâm ngăn ngừa.

Muốn dân cường tráng hơn xưa,

Vệ-sinh truyền-bá cố đua phong trào.

 

BS. Nguyễn Đình Cát

Trích quyển Y học tâm ca. Bác sĩ Nguyễn Đình Cát & Bác sĩ Nguyễn Gia Quýnh. Trung-tâm học-liệu xuất-bản 1970.

 

cirrhosis

Xơ gan là gì?

Xơ gan là tình trạng gan thoái hóa và suy giảm chức năng từ từ do tổn thương mạn tính. Mô sẹo thay thế mô gan lành, ngăn cản một phần dòng chảy của máu qua gan. Sự hóa sẹo cũng làm giảm khả năng gan trong việc:

+ kiểm soát nhiễm trùng

+ loại bỏ vi khuẩn và độc tố khỏi máu

+ xử lý các chất dinh dưỡng, hormone và thuốc

+ tạo nên các protein điều hòa việc đông máu

+ sản xuất mật để giúp hấp thu các chất béo, kể cả cholesterol và các vitamin hòa tan trong mỡ.

Gan lành mạnh có thể tái sinh hầu hết các tế bào của chính mình khi chúng bị tổn thương. Vào giai đoạn cuối cùng của xơ gan, gan không còn thay thế các tế bào bị tổn thương một cách hữu hiệu nữa. Cần có một gan lành mạnh để sống còn.

Cái gì gây ra xơ gan?

Xơ gan có nhiều nguyên nhân. Ở Mỹ, uống nhiều rượu và viêm gan C mạn tính là các nguyên nhân thường gặp nhất của xơ gan. Béo phì đang trở thành một nguyên nhân thường gặp của xơ gan, là nguyên nhân duy nhất hoặc kết hợp với rượu, với viêm gan C hoặc kết hợp với cả hai. Nhiều người bị xơ gan có nhiều nguyên nhân gây tổn thương gan.

Xơ gan không do chấn thương gan gây ra, cũng không do các nguyên nhân gây tổn thương cấp tính, ngắn hạn.

Thông thường, cần có nhiều năm bị tổn thương mạn tính mới gây được xơ gan.

Bệnh gan do rượu. Hầu hết người uống rượu không bị tổn thương gan. Nhưng uống nhiều rượu trong vài năm có thể gây tổn thương mạn tính đến gan. Số lượng rượu uống để làm tổn thương gan thay đổi từ người này qua người khác. Đối với nữ, uống 2 đến 3 ly – kể cả bia lẫn rượu – mỗi ngày và đối với nam, uống 3 đến 4 ly mỗi ngày có thể dẫn đến tổn thương gan và xơ gan. Trong quá khứ, xơ gan do rượu dẫn đến tử vong nhiều hơn xơ gan do bất kỳ nguyên nhân nào khác. Tử vong do xơ gan có liên quan đến béo phì ngày càng gia tăng.

Viêm gan C mạn tính. Viêm gan virút C là một nhiễm trùng gan lây lan do tiếp xúc với máu của người đã nhiễm trùng. Viêm gan C mạn tính gây ra viêm và tổn thương gan, theo thời gian có thể dẫn đến xơ gan.

Viêm gan B và D mạn tính. Viêm gan virút B là một nhiễm trùng gan lây lan do tiếp xúc với máu, tinh dịch hoặc dịch cơ thể của người đã nhiễm trùng. Viêm gan B, cũng như viêm gan C, gây ra viêm và tổn thương gan, theo thời gian có thể dẫn đến xơ gan. Vắc xin viêm gan B được cho tất cả các trẻ và nhiều người lớn để ngăn ngừa virút. Viêm gan D là một virút khác nhiễm trùng gan và có thể dẫn đến xơ gan, nhưng nó chỉ xảy ra ở người đã có viêm gan B.

Bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu (Nonalcoholic fatty liver disease – NAFLD). Trong bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu, mỡ tích tụ trong gan và cuối cùng gây ra xơ gan. Bệnh gan đang gia tăng này đi kèm với béo phì, tiểu đường, suy dinh dưỡng thiếu protein, bệnh mạch vành và các thuốc corticosteroid.

Viêm gan tự miễn. Loại viêm gan này do hệ thống miễn dịch của cơ thể tấn công các tế bào gan và gây ra viêm, tổn thương và cuối cùng là xơ gan. Các nhà nghiên cứu tin rằng các yếu tố gen có thể khiến một số người dễ mắc bệnh tự miễn. Khoảng 70 phần trăm người mắc bệnh viêm gan tự miễn là nữ.

Các bệnh làm tổn thương hoặc phá hủy ống mật. Một vài bệnh khác nhau có thể làm tổn thương hoặc phá hủy các ống dẫn mật từ gan, khiến mật ứ lại trong gan và dẫn đến xơ gan. Ở người lớn, tình trạng thường gặp nhất trong loại này là xơ gan ứ mật nguyên phát, một bệnh trong đó các ống mật bị viêm và bị tổn thương và cuối cùng biến mất. Xơ gan ứ mật thứ phát có thể xảy ra nếu các ống mật bị thắt nhằm và bị tổn thương khi mỗ túi mật. Viêm đường mật xơ cứng nguyên phát là một tình trạng khác gây ra tổn thương và hóa sẹo các ống mật. Ở trẻ em, các ống mật bị tổn thương thường do hội chứng teo đường mật (hội chứng Alagille), trong đó các ống mật không có hoặc bị tổn thương.

Bệnh di truyền. Xơ hóa nang, thiếu alpha-1 antitrypsin, nhiễm sắc tố sắt, bệnh Wilson, tăng galactose huyết và các bệnh lưu trữ glycogen là các bệnh di truyền tác động đến cách gan sản xuất, xử lý và lưu trữ các enzyme, protein, kim loại và các chất khác mà cơ thể cần đến để hoạt động thích hợp. Xơ gan có thể là kết quả của những tình trạng này.

Thuốc, độc tố và nhiễm trùng. Các nguyên nhân khác của xơ gan gồm có phản ứng thuốc, phơi nhiễm hóa chất độc hại dài ngày và các lần suy tim lập đi lập lại kèm theo xung huyết gan.

Triệu chứng của xơ gan là gì?

Nhiều người xơ gan không hề có triệu chứng nào trong những thời kỳ đầu của bệnh. Tuy nhiên, khi bệnh tiến triển, người bệnh có thể có những triệu chứng sau đây:

+ yếu người

+ mệt mỏi

+ ăn mất ngon

+ buồn nôn

+ ói

+ mất cân

+ đau bụng và đầy bụng khi dịch tích tụ trong ổ bụng

+ ngứa

+ mạch máu hình mạng nhện trên da

Biến chứng của xơ gan là gì?

Khi chức năng gan sa sút, một hoặc nhiều biến chứng có thể phát sinh. Ở một vài người, biến chứng có thể là dấu hiệu đầu tiên của bệnh này.

Phù chân và báng bụng. Khi tổn thương gan tiến triển đến giai đoạn nặng, dịch tích tụ ở hai chân, gọi là phù chân và ở bụng, gọi là báng bụng. Báng bụng có thể dẫn đến viêm phúc mạc nhiễm khuẩn, là một nhiễm trùng nặng.

Bầm tím và chảy máu. Khi gan chậm sản xuất hoặc ngừng sản xuất các protein cần thiết cho đông máu, người bệnh sẽ dễ dàng bị bầm tím hoặc chảy máu.

Tăng áp tĩnh mạch cửa. Bình thường, máu từ ruột và lá lách được mang về gan thông qua tĩnh mạch cửa. Nhưng xơ gan làm chậm dòng máu, tăng áp suất trong tĩnh mạch cửa. Tình trạng này gọi là tăng áp tĩnh mạch cửa.

Giãn tĩnh mạch thực quản và giãn tĩnh mạch dạ dày. Khi tăng áp tĩnh mạch cửa xảy ra, nó khiến các mạch máu nở rộng ở thực quản gọi là giãn tĩnh mạch thực quản, ở dạ dày gọi là giãn tĩnh mạch dạ dày, hoặc cả hai. Các mạch máu nở rộng dễ bị vỡ hơn do thành mỏng và tăng áp suất. Nếu chúng vỡ, chảy máu nặng có thể xảy ra ở thực quản hoặc phần trên dạ dày, cần được chữa trị ngay lập tức.

Lá lách to. Khi tăng áp tĩnh mạch cửa xảy ra, lá lách thường nở lớn và chứa bạch huyết cầu và tiểu cầu, làm giảm số lượng các tế bào này trong máu. Số lượng tiểu cầu thấp có thể là bằng chứng đầu tiên của người đã bị xơ gan.

Vàng da. Vàng da xảy ra khi gan bị bệnh không loại bỏ được bilirubin ra khỏi máu đúng mức, gây ra vàng da, vàng mắt và nước tiểu sậm màu. Bilirubin là sắc tố làm cho mật có màu vàng-cam.

Sỏi mật. Nếu xơ gan ngăn chận, khiến mật không dễ dàng vào và ra khỏi túi mật, mật cứng lại thành sỏi.

Dị ứng với thuốc. Xơ gan làm chậm khả năng lọc các thuốc khỏi máu của gan. Khi điều này xảy ra, các thuốc tác dụng lâu dài hơn và ứ đọng trong cơ thể. Điều này khiến cho người bệnh nhạy cảm hơn với thuốc và với các tác dụng phụ của chúng.

Bệnh não do gan. Nếu gan đang hư hỏng không thể loại bỏ các chất độc khỏi máu, chúng cuối cùng tích tụ ở não. Sự tích tụ chất độc ở não – gọi là bệnh não do gan – có thể làm giảm chức năng tinh thần và gây hôn mê. Các dấu hiệu của suy giảm chức năng tinh thần gồm có lú lẫn, thay đổi nhân cách, mất trí nhớ, khó tập trung và thay đổi thói quen ngủ.

Kháng insulin và tiểu đường type 2. Xơ gan gây ra kháng insulin, là một hormone do tụy tạng sản xuất, giúp cơ thể sử dụng glucose làm năng lượng. Khi insulin bị đề kháng, cơ, mỡ và tế bào gan của cơ thể không sử dụng insulin một cách thích hợp. Tụy tạng cố gắng đáp ứng nhu cầu insulin bằng cách sản xuất nhiều hơn, nhưng quá nhiều glucose tích tụ trong tuần hoàn máu gây ra tiểu đường type 2.

Ung thư gan. Carcinome tế bào gan là một loại ung thư gan có thể xảy ra ở người bị xơ gan. Carcinome tế bào gan có tỷ lệ tử vong cao, nhưng hiện nay có một vài cách điều trị bệnh này.

Các vấn đề khác. Xơ gan có thể làm giảm hoạt động của hệ miễn dịch, dẫn đến nguy cơ nhiễm trùng. Xơ gan cũng có thể gây ra suy thận và suy hô hấp, gọi là hội chứng gan-thận và hội chứng gan-hô hấp.

Xơ gan được chẩn đoán như thế nào?

Chẩn đoán xơ gan thường dựa vào việc có một yếu tố nguy cơ xơ gan, như là uống rượu hoặc béo phì và được khẳng định bằng thăm khám lâm sàng, thử nghiệm máu và chẩn đoán hình ảnh. Bác sĩ sẽ hỏi bệnh sử, hỏi các triệu chứng và tiến hành thăm khám toàn diện để tìm các dấu hiệu lâm sàng của bệnh. Thí dụ khi khám bụng có thể thấy gan cứng hoặc to cùng với các dấu hiệu báng bụng. Bác sĩ sẽ cho các xét nghiệm máu, giúp đánh giá tình trạng của gan và nghĩ đến xơ gan nhiều hơn. Để tìm các dấu hiệu gan to, giảm lưu lượng máu hoặc báng bụng, bác sĩ có thể cho chụp CT, siêu âm, chụp cộng hưởng từ (MRI) hoặc quét gan. Bác sĩ có thể nhìn trực tiếp gan bằng cách đặt một ống nội soi vào ổ bụng. Ống nội soi là một dụng cụ có máy quay phim, đưa hình ảnh lên màn hình máy vi tính.

Sinh thiết gan có thể khẳng định được chấn đoán xơ gan, nhưng không phải lúc nào cũng cần đến. Sinh thiết thường được làm nếu kết quả có thể giúp ích trong việc điều trị. Sinh thiết được tiến hành bằng cách chọc kim vào giữa các xương sườn hoặc vào một tĩnh mạch ở cổ. Cẩn thận để làm giảm tối đa sự khó chịu của bệnh nhân. Một mảnh rất nhỏ mô gan được quan sát dưới kính hiển vi để tìm sự hóa xơ hoặc các dấu hiệu của xơ gan. Đôi khi nguyên nhân gây tổn thương gan không phải là xơ gan được tìm thấy khi sinh thiết.

Mức độ xơ gan được đánh giá như thế nào?

Điểm MELD (model for end-stage liver disease) đánh giá mức độ xơ gan. Điểm MELD được soạn ra để dự đoán thời gian sống được 90 ngày của người mắc bệnh xơ gan nặng. Điểm MELD dựa trên ba xét nghiệm máu:

+ INR (international normalized ratio): các xét nghiệm khuynh hướng đông máu

+ bilirubin: các xét nghiệm số lượng sắc tố mật trong máu

+ creatinine: các xét nghiệm chức năng thận

Điểm MELD thường trong khoảng từ 6 đến 40, với điểm 6 chỉ khả năng sống được 90 ngày cao nhất.

Xơ gan được điều trị như thế nào?

Điều trị xơ gan tùy thuộc vào nguyên nhân của bệnh và tùy theo có những biến chứng nào. Mục tiêu điều trị là làm giảm sự tiến triển của mô sẹo trong gan và ngăn ngừa hoặc điều trị các biến chứng bệnh. Xơ gan có biến chứng có thể cần phải nhập viện.

Ăn uống bổ dưỡng. Do suy dinh dưỡng thường gặp ở người xơ gan, một thực đơn lành mạnh là quan trọng trong tất cả các giai đoạn của bệnh. Thầy thuốc gợi ý một thực đơn thích hợp. Nếu có báng bụng, thực đơn hạn chế muối được đề nghị. Người xơ gan không nên ăn cá sống, có thể chứa một vi khuẩn gây nhiễm trùng nặng. Để cải thiện dinh dưỡng, bác sĩ có thể bổ sung một thức ăn lỏng để uống hoặc bơm vào ống thông mũi-dạ dày, là một ống nhỏ được đưa vào lỗ mũi và họng đến dạ dày.

Tránh uống rượu và các chất khác. Người xơ gan được khuyên tuyệt đối không uống rượu hoặc dùng các chất độc hại khác, bởi vì cả hai loại đều gây thêm tổn thương gan. Do nhiều loại vitamin và thuốc – được kê toa hoặc mua ở nhà thuốc tây – có thể ảnh hưởng đến chức năng gan, nên hỏi ý bác sĩ trước khi sử dụng chúng.

Điều trị xơ gan cũng là điều trị các biến chứng cụ thể. Đối với phù và báng bụng, bác sĩ sẽ khuyên dùng thuốc lợi tiểu, là các thuốc loại bỏ dịch khỏi cơ thể. Có thể rút nhiều dịch báng bụng khỏi ổ bụng và kiểm tra xem có bị viêm phúc mạc nhiễm khuẩn không. Thuốc kháng sinh dạng uống có thể được kê toa để ngăn ngừa nhiễm trùng. Nhiễm trùng nặng kèm với báng bụng có thể cần đến các kháng sinh tiêm tĩnh mạch.

Bác sĩ có thể kê toa thuốc chặn beta hoặc nitrate đối với tăng áp lực tĩnh mạch cửa. Các thuốc chẹn beta có thể làm giảm áp suất trong các giãn tĩnh mạch và làm giảm nguy cơ chảy máu. Chảy máu tiêu hóa cần được nội soi ngay để tìm giãn tĩnh mạch thực quản. Bác sĩ có thể dùng một thiết bị đặc biệt để ép chỗ giãn tĩnh mạch và cầm máu. Người đã từng bị giãn tĩnh mạch có thể dùng thuốc để ngăn ngừa các đợt chảy máu trong tương lai. Bệnh não do gan được điều trị bằng cách làm sạch ruột với lactulose, là một loại thuốc xổ uống hoặc thụt tháo. Kháng sinh được bổ sung nếu cần thiết. Người bệnh có thể được yêu cầu giảm protein trong thức ăn. Bệnh não do gan có thể cải thiện khi các biến chứng khác được kiểm soát.

Một số người bệnh xơ gan bị suy gan thận có thể được lọc thận thường xuyên, sử dụng một máy làm sạch chất thải khỏi máu. Các thuốc cũng được cho để cải thiện lưu lượng máu đi qua thận.

Các điều trị khác hướng đến các nguyên nhân riêng biệt của xơ gan. Điều trị xơ gan do viêm gan tùy thuộc vào loại viêm gan đặc hiệu. Thí dụ interferon và các thuốc kháng vi rút được kê toa đối với viêm gan vi rút. Đối với viêm gan tự miễn, cần corticosteroid và các thuốc khác để ức chế hệ thống miễn dịch.

Thuốc được cho để điều trị các triệu chứng khác nhau của xơ gan, như là ngứa và đau bụng.

Nguồn: NIDDK http://digestive.niddk.nih.gov/ddiseases/pubs/cirrhosis/index.aspx

BS. Trần Thanh Xuân dịch

tieu duong 1

Giới thiệu

Tiểu đường là một bệnh ảnh hưởng đến hàng triệu người Mỹ mỗi năm. Bác sĩ có thể cho biết bạn mắc bệnh tiểu đường. Dù hiện nay không có cách chữa khỏi bệnh tiểu đường, có vài phương pháp điều trị có thể kiểm soát được bệnh này.

Thành công của bất cứ phương pháp điều trị tiểu đường nào tùy thuộc phần lớn vào bệnh nhân. Bài này tổng quan các loại tiểu đường khác nhau, cách kiểm soát và điều trị chúng.

 

Tiểu đường là gì

Cơ thể cấu tạo bởi hàng triệu triệu tế bào, cần có năng lượng để hoạt động. Thực phẩm bạn ăn vào được chuyển thành đường, gọi là glucose. Đường được mang vào các tế bào nhờ tuần hoàn máu. Đường là một trong những chất tế bào cần để tạo ra năng lượng.

Để glucose vào được trong tế bào, cần phải có hai điều kiện. Thứ nhất là các tế bào phải có đủ “cửa”, gọi là thụ thể. Thứ hai là một chất gọi là insulin cần phải có để “mở cửa”. Khi có đủ hai điều kiện này, glucose vào bên trong tế bào và được tế bào sử dụng để tạo ra năng lượng.

Không có năng lượng, mọi tế bào đều chết.

Insulin là một chất hormone, do tụy tạng sản xuất. Nồng độ insulin trong máu thay đổi theo số lượng glucose có trong máu.

Tiểu đường là một bệnh khiến các tế bào trong cơ thể khó nhận được glucose cần thiết để tạo ra năng lượng.

Tiểu đường khiến các tế bào trong cơ thể khó nhận được đầy đủ số lượng glucose bằng hai cách. Thứ nhất, tụy tạng không tạo ra insulin. Vì insulin cần thiết để “mở cửa”, không có insulin glucose không thể đi vào trong tế bào. Do đó, nồng độ glucose trong máu tăng. Tình trạng này được gọi là tiểu đường type 1. Thứ hai, tiểu đường type 2 xảy ra khi insulin có đủ số lượng, nhưng số lượng thụ thể trên tế bào cho phép glucose đi vào giảm xuống. Dù có insulin, nó không được sử dụng một cách hữu hiệu. Tình trạng này được gọi là “Kháng Insulin” khiến cho nồng độ glucose trong máu tăng cao.

Tiểu đường type 2 thường gặp hơn type 1.

Các nguyên nhân chính xác của tiểu đường không rõ. Tuy nhiên, nó có khuynh hướng xuất hiện trong dòng họ. Tiểu đường không phải là một bệnh truyền nhiễm.

 

Dấu hiệu và triệu chứng bệnh tiểu đường

Tiểu đường được phát hiện khi bác sĩ thấy nồng độ đường trong máu hoặc trong nước tiểu của bạn cao. Các kết quả đáng tin cậy nhất thu được khi kiểm tra nồng độ đường trong máu trước khi ăn hoặc uống, gọi là đường huyết lúc đói. Đường huyết bình thường thay đổi từ 60 đến 99 mg/dL. Nồng độ từ 100 đến 125 mg/dL được xem là mức tiền tiểu đường.

Dấu hiệu và triệu chứng bệnh tiểu đường thường gặp là:

+ Rất khát

+ Đi tiểu nhiều lần

+ Rất đói

+ Giảm cân

+ Mệt mỏi

+ Thay đổi thị lực

+ Vết thương hoặc nhiễm trùng lâu lành

+ Ngứa da dai dẵng

Nếu không được điều trị, đường huyết có thể tăng lên rất cao, gây ra hôn mê và có thể tử vong. Dấu hiệu và triệu chứng mà bạn có tùy thuộc vào việc tiểu đường được phát hiện lúc nào và tiểu đường bạn mắc thuộc loại nào.

 

Các phương pháp điều trị

Tiểu đường không thể chữa khỏi. Tuy nhiên có thể giữ nồng độ đường trong máu trong giới hạn bình thường. Điều trị tiểu đường thay đổi từ bệnh nhân này sang bệnh nhân khác. Bác sĩ sẽ quyết định phương pháp điều trị nào là tốt nhất cho bạn.

Người bệnh tiểu đường type 1 không sản xuất insulin. Người bệnh thiếu insulin trong cơ thể cần phải thay đổi một số trong thực đơn và cần phải dùng insulin. Insulin chỉ được dùng bằng cách tiêm chích, có thể vài lần trong một ngày. Người bệnh tiểu đường type 2 có thể không cần insulin. Tiểu đường ở những người bệnh này được kiểm soát bằng cách ăn kiêng và tập thể dục. Đôi khi cũng có thể cho thuốc uống. Trong một số trường hợp tiểu đường type 2, insulin cũng có thể cần đến.

Thành công của điều trị tùy thuộc phần lớn vào bạn. Khi bạn học được VÀ thực hành cách kiểm soát đường huyết, bạn sẽ sống mạnh khỏe hơn.

 

Kiểm soát tiểu đường

Bạn có thể kiểm soát tiểu đường bằng cách:

1. Ăn uống đúng cách

2. Tập thể dục

3. Theo dõi đường huyết

4. Sử dụng thuốc đã được kê toa

5. Hiểu biết về bệnh tiểu đường

Chuyên gia dinh dưỡng sẽ giải thích cho bạn về cách lập thực đơn và trả lời các thắc mắc của bạn. Ba mục tiêu của ăn uống đúng cách là:

1. Kiểm soát được cân nặng của bạn

2. Giữ được đường huyết trong giới hạn bình thường

3. Giảm được mỡ trong cơ thể

Một thực đơn lành mạnh có thể bao gồm việc thay đổi những gì bạn ăn, ăn nhiều bao nhiêu, ăn bao nhiêu lần. Tuy nhiên, bạn có thể ngạc nhiên rằng bạn có nhiều loại thức ăn ngon và lành mạnh để chọn.

Tập thể dục giúp người bệnh tiểu đường theo nhiều cách. Nó làm giảm nồng độ glucose, giúp giảm cân nặng và duy trì một quả tim, một hệ tuần hoàn khỏe mạnh. Ngoài ra, tập thể dục làm giảm stress và làm mạnh bắp cơ.

Bác sĩ sẽ thảo luận với bạn về kế hoạch tập thể dục. Bao giờ cũng hỏi bác sĩ trước khi bắt đầu một kế hoạch tập luyện mới.

Thử đường huyết là quan trọng nhằm biết được nồng độ đường trong máu có bình thường hay không. Nếu đường huyết của bạn quá thấp hoặc quá cao, bạn có thể cần phải thay đổi thuốc, thực đơn hoặc kế hoạch tập thể dục. Nếu cần thay đổi, bác sĩ sẽ chỉ dẫn bạn việc nên làm.

Nồng độ đường trong máu được xác định bằng cách thử một giọt máu trích từ ngón tay. Giọt máu được trích bằng cách đâm kim. Đường huyết thường được thử 1 đến 4 lần mỗi ngày. Có thể thử tại nhà. Hầu hết người bệnh tiểu đường rất thành thạo trong việc thử đường huyết của chính họ.

Bác sĩ sẽ dạy bạn cách thử đường huyết đúng phương pháp và sẽ giúp bạn quyết định số lần thử trong ngày. Bác sĩ cũng sẽ dạy bạn cách thay đổi thuốc tiểu đường, thực đơn hoặc thể dục để giúp kiểm soát đường huyết của bạn. Bác sĩ cũng xem lại bảng ghi diễn biến đường huyết và sẽ thay đổi trị liệu của bạn nếu cần.

Trong những trường hợp đường huyết rất cao, không đáp ứng với thực đơn ăn kiêng và tập thể dục, có thể phải dùng thuốc. Bác sĩ sẽ nói cho bạn biết cần các thuốc uống hay cần insulin.

Nếu cần insulin, chỉ có thể tiêm chích. Insulin cần cho tất cả mọi người bệnh tiểu đường type 1 và cần cho một số người bệnh type 2.

Đường huyết rất quan trọng trong việc xác định tiểu đường có được kiểm soát hay không tại thời điểm thử máu.

Còn có một xét nghiệm máu khác gọi là Hemoglobin A1C. Xét nghiệm máu này xác định đường huyết đã được kiểm soát tốt hay không trong vòng 3 đến 4 tháng trước đó. Nồng độ bình thường ở người không bị tiểu đường thường là 5% hoặc thấp hơn. Người bệnh tiểu đường nên cố gắng giữ Hemoglobin A1C của mình ở mức 6,5% đến 7% khi không có các triệu chứng hạ đường huyết. Mức 6% tương đương với mức đường huyết dự tính là 126 mg/dL. Hemoglobin A1C càng thấp, khả năng biến chứng của tiểu đường càng thấp.

 

Tăng đường huyết và hạ đường huyết

Trong quá trình kiểm soát tiểu đường, đường huyết của bạn có thể tăng quá cao hoặc hạ quá thấp. Những tình trạng này nên được xem là nghiêm trọng. May mắn là bạn có thể dễ dàng tái kiểm soát đường huyết của bạn.

Khi có quá nhiều đường trong máu của bạn, tình trạng này được gọi là tăng đường huyết. Tăng đường huyết gây ra bởi ăn quá nhiều thức ăn, ăn đường, ăn thức ăn ngọt hoặc bởi không dùng thuốc. Nó cũng có thể xảy ra khi bạn bị bệnh. Nếu không được điều trị, tăng đường huyết có thể khiến bạn rơi vào hôn mê.

Dấu hiệu của tăng đường huyết gồm có:

+ Khô miệng

+ Khát nước

+ Đi tiểu nhiều lần

+ Mắt mờ

+ Mệt mỏi hoặc buồn ngủ

+ Giảm cân

Khi bạn bị tăng đường huyết, hãy uống nước hoặc các thức uống không đường khác. Kiểm tra đường huyết và ăn kiêng theo kế hoạch. Nếu đường huyết vẫn cao, hãy gọi bác sĩ. Bác sĩ cho cho bạn biết cái gì được xem là cao đối với bạn. Nếu đường huyết của bạn quá cao, có thể bạn cần phải đi bệnh viện.

Hạ đường huyết xảy ra khi có quá ít đường trong máu của bạn. Hạ đường huyết thường xảy ra ở người bệnh sử dụng insulin hoặc các thuốc khác. Nó có thể do tiêm chích quá nhiều insulin. Đó là lý do tại sao nó còn được gọi là sốc insulin. Nó cũng có thể do bạn giảm ăn hoặc bỏ bữa ăn hoặc tập thể dục nhiều hơn bình thường.

Dấu hiệu của hạ đường huyết gồm có:

+ Vã mồ hôi, rét run, lo lắng, tim đập mạnh

+ Đói

+ Chóng mặt, choáng váng, lú lẫn, mất bình tỉnh, dễ kích động

+ Tê môi, tê lưỡi

+ Nhức đầu

+ Mắt mờ và nói không rõ ràng, chậm

Nếu không được điều trị, hạ đường huyết có thể dẫn đến bất tỉnh hoặc co giật. Người bệnh tiểu đường có những dấu hiệu khác nhau khi đường huyết của họ thấp. Bạn nên nhận biết bạn cảm thấy thế nào khi đường huyết quá thấp.

Một số người bệnh không hề có bất cứ dấu hiệu nào khi đường huyết thấp. Những người bệnh này phải dựa vào xét nghiệm đường huyết để biết có hạ đường huyết hay không.

Nếu bạn bị hạ đường huyết, hãy lập tức ăn hoặc uống gì đó, có thể là đường tác dụng nhanh. Thí dụ như nửa ly nước trái cây, nước có hơi, 10 kẹo trái cây bọc đường hoặc 2 muỗng cà phê đường hoặc mật ong.

Nếu các triệu chứng của bạn không biến mất trong vòng 15 phút hoặc đường huyết vẫn thấp hơn 80 ml/dL, uống một liều đường tác dụng nhanh khác. Lập lại mỗi 10 đến 15 phút cho đến khi đường huyết cao hơn 80.

Nếu còn 30 phút nữa thì đến bữa ăn, hãy ăn. Nếu còn quá 30 phút, hãy ăn nhẹ, thí dụ như nửa miếng sandwich hoặc 3 miếng bánh ngọt. Hãy ăn bữa hoặc ăn nhẹ sau khi đã uống đường tác dụng nhanh. Không trừ phần ăn nhẹ vào thực đơn bữa ăn kế tiếp. Không lái xe hoặc vận hành các máy móc nếu bạn cảm thấy đường huyết của bạn thấp.

Bạn nên cho người nhà hoặc bạn bè biết bạn mắc bệnh tiểu đường và nếu họ lúc nào thấy bạn bị bất tỉnh, hãy mang bạn đến bệnh viện ngay lập tức.

 

Biến chứng của bệnh tiểu đường

Khi bạn kiểm soát được nồng độ đường trong máu, các dấu hiệu tiểu đường ít xảy ra hơn. Bạn sẽ cảm thấy dễ chịu hơn và có nhiều năng lượng hơn.

Nếu bạn không tuân thủ ăn kiêng, không tập thể dục và không làm xét nghiệm đường huyết, các biến chứng nghiêm trọng có thể xảy ra. Biến chứng tiểu đường gồm có tổn thương các dây thần kinh và các mạch máu trong cơ thể.

Người ta không biết tại sao tiểu đường khiến cho dây thần kinh bị tổn thương. Tình trạng dây thần kinh tổn thương được gọi là bệnh thần kinh tiểu đường. Nó thường xảy ra ở các dây thần kinh đi đến cẳng chân hoặc bàn chân. Bàn chân hoặc chân có thể cảm thấy tê hoặc lạnh bất thường.

Người bệnh tiểu đường có cảm giác ở bàn chân kém cần phải rất cẩn thận tránh tổn thương bàn chân vì giày chật, vì nước nóng hoặc vì các dạng chấn thương khác. Mỗi ngày hãy kiểm tra bàn chân xem có bị vết cắt, đau, đỏ hoặc xưng không. Dùng gương nếu cần. Khi đến thăm khám, hãy nhờ bác sĩ kiểm tra bàn chân.

Rối loạn tình dục có thể xảy ra. Ở người nam mắc bệnh tiểu đường, vấn đề thường gặp nhất là bất lực, do các dây thần kinh đến cơ quan sinh dục bị tổn thương. Bác sĩ niệu khoa có thể giúp điều trị bất lực bằng các trị liệu phẫu thuật hoặc không phẫu thuật.

Ở người nữ mắc bệnh tiểu đường, các dây thần kinh đến vùng chậu và cơ quan sinh dục bị tổn thương có thể dẫn đến mất xúc cảm tình dục và đau đớn khi giao hợp. Khi ấy, bác sĩ có thể giúp điều trị.

Do dây thần kinh đến tim có thể bị ảnh hưởng, người bệnh tiểu đường có nhồi máu cơ tim có thể không cảm thấy cơn đau ngực điển hình như được mô tả. Người bệnh tiểu đường do đó nên rất cảnh giác khi cảm thấy nặng ngực, tê cánh tay hoặc ăn khó tiêu. Chúng có thể là những triệu chứng nhồi máu cơ tim.

Tăng đường huyết có thể làm tổn thương các mạch máu lớn nhỏ. Mỡ trong máu đọng lại ở thành mạch máu, làm các động mạch xơ cứng. Xơ cứng các động mạch có thể xảy ra ở các động mạch quan trọng đi ra khỏi tim hoặc đi đến tim. Nó cũng có thể xảy ra ở hai chân.

Thực đơn ăn kiêng của bạn được soạn ra để làm giảm nồng độ mỡ và cholesterol trong máu. Khi vữa và mỡ làm hẹp các mạch máu nhỏ, lưu lượng máu đến các cơ quan không đủ, khiến các tế bào vốn tùy thuộc vào việc tiếp nhận máu chết. Nó cũng có thể gây chảy máu từ các mạch máu bị hẹp.

Các mạch máu nhỏ có thành dày dễ nhận biết nhất ở thận và ở đáy mắt. Khi các mạch máu nhỏ ở đáy mắt bị dày thành, máu có thể rò vào bên trong mắt, trong thủy tinh dịch, làm cho thủy tinh dịch bị đục. Nếu không được điều trị, tình trạng này, gọi là bệnh võng mạc tiểu đường, có thể dẫn đến mù mắt. Bác sĩ mắt có thể giúp điều trị tình trạng này.

Tiểu đường có thể không cho hai thận lọc chất bẩn trong máu. Ngoài ra, protein vốn được giữ lại trong cơ thể có thể rò rỉ vào trong nước tiểu. Bác sĩ có thể xét nghiệm protein trong nước tiểu của bạn để xem chúng có phải là các dấu hiệu sớm của các bệnh thận không. Người mắc bệnh thận tiểu đường thường phát triển thành tăng huyết áp.

Điều rất quan trọng là tăng huyết áp phải được điều trị bằng các thuốc hạ huyết áp, giúp ngăn chận diễn biến xấu của thận. Nếu bạn mắc bệnh thận tiểu đường, bác sĩ có thể kê một thực đơn đặc biệt, ít protein và hạn chế muối. Trong những trường hợp hiếm hoi, có thể cần phải lọc thận hoặc thậm chí ghép thận.

Hầu hết các bác sĩ cho rằng kiểm soát bệnh tiểu đường có thể giúp ngăn ngừa tổn thương các mạch máu và dây thần kinh. Kiểm soát tiểu đường đúng phương pháp là sự kết hợp của kế hoạch ăn kiêng, thuốc men, tập thể dục, theo dõi đường huyết và vệ sinh tốt.

 

Tóm tắt

Nhờ sự tiến bộ của y học, bệnh tiểu đường có thể được kiểm soát thành công. Vai trò của người bệnh là thiết yếu trong việc điều trị tiểu đường thành công.

Điều trị tiểu đường gồm có:

+ Theo kế hoạch ăn kiêng

+ Thử đường huyết

+ Tập thể dục

+ Sử dụng thuốc được kê toa đúng giờ

+ Bảo đảm vệ sinh tốt

+ Hiểu biết bệnh tiểu đường

Bác sĩ, y tá và nhà dinh dưỡng sẽ giải thích kế hoạch kiểm soát tiểu đường dành riêng cho bạn. Khi bạn tuân thủ những chỉ dẫn này, khả năng mắc phải những vấn đề của bệnh tiểu đường như đã mô tả có thể giảm xuống đáng kể.

Nguồn: MedlinePlus www.medlineplus.com
Trần Thanh Xuân dịch

Triệu chứng thiếu nicotine có thể khiến người cai nghiện hút thuốc trở lại

 hút thuốc lá

 Khi người hút thuốc cố gắng hạn chế hay bỏ thuốc, việc thiếu nicotine dẫn đến các triệu chứng thiếu thuốc. Thiếu thuốc gồm cả thể chất và tinh thần. Về mặt thể chất, cơ thể phản ứng với sự thiếu nicotine. Về mặt tinh thần, người hút thuốc đối diện với việc từ bỏ một thói quen, cần phải thay đổi lớn về hành vi. Cả các yếu tố thể chất và tinh thần cần phải được đối phó để có thể từ bỏ hút thuốc được.

Người đã hút thuốc đều đặn trong vài tuần hay lâu hơn sẽ có các triệu chứng thiếu thuốc nếu họ đột ngột ngừng sử dụng thuốc lá hoặc giảm nhiều số lượng thuốc hút. Các triệu chứng thường bắt đầu một vài giờ sau điếu thuốc cuối cùng và lên cao điểm sau 2 đến 3 ngày, khi hầu hết nicotine và các sản phẩm của nó không còn trong cơ thể. Các triệu chứng thiếu thuốc có thể kéo dài một vài ngày đến vài tuần. Chúng sẽ giảm dần từng ngày khi bạn tiếp tục không hút thuốc.

Các triệu chứng thiếu thuốc có thể gồm có bất kỳ triệu chứng nào sau đây:

+  Chóng mặt (có thể chỉ trong 1 hoặc 2 ngày sau khi bỏ thuốc)

+  Trầm cảm

+  Cảm giác mệt mỏi, thiếu kiên nhẫn và giận dữ

+  Lo âu

+  Kích động

+  Rối loạn giấc ngủ, gồm có việc khó đi vào giấc ngủ, khó giữ được giấc ngủ và có những giấc mơ xấu hoặc những ác mộng

+  Khó tập trung

+  Không yên hoặc buồn chán

+  Nhức đầu

+  Mệt mỏi

+  Thèm ăn

+  Tăng cân

+  Táo bón và ứ hơi

+  Ho, khô miệng, đau họng và chảy nước mũi

+  Nặng ngực

+  Nhịp tim chậm hơn

Những triệu chứng này có thể khiến người hút bắt đầu hút thuốc trở lại để đưa nồng độ nicotine trong máu trở về mức không có triệu chứng.

Nguồn: American Cancer Society – Guide to quitting smoking

Người dịch: Trần Thanh Xuân

co that thanh quan 2

Co thắt thanh quản là một trải nghiệm hiếm hoi nhưng kinh hoàng. Khi nó xảy ra, hai dây thanh đột ngột đóng lại, ngăn không cho không khí vào phổi. Người trong tình trạng này đang ngủ yên choàng tỉnh và thấy mình lúc đó không thể nói được, không thở được. Dù nó có thể gây sợ hãi khi xảy ra, co thắt thanh quản thường mất đi trong vòng vài phút.

Cái gì gây nên co thắt thanh quản?

Co thắt thanh quản có liên quan đến bệnh trào ngược dạ dày – thực quản (GERD gastroesophageal reflux disease), xảy ra khi cơ vòng bình thường đóng kín để giữ thức ăn trong dạ dày không bị trào ngược không hoạt động hữu hiệu. Do trào ngược, acid từ trong dạ dày trào lên thực quản và gây kích thích.

Phơi nhiễm thường xuyên với acid của dạ dày có thể gây tổn thương và viêm màng lót mỏng manh của thực quản. Tổn thương này có thể dẫn đến các cơn co thắt tạm thời của hai dây thanh, đóng đường dẫn khí và ngăn không cho không khí và oxy vào bên trong hai phổi.

Khi acid của dạ dày đến thanh quản, tình trạng này được gọi là trào ngược thanh quản – khí quản (LPR – laryngopharyngeal reflux). Các mô của thanh quản còn mỏng manh và dễ tổn thương hơn thực quản. Các cơn ho do cảm lạnh có thể đẩy thêm acid vào trong thanh quản, do đó một nhiễm trùng hô hấp trên mới đây hoặc hiện tại có thể làm tăng khả năng phát sinh co thắt thanh quản.

Co thắt thanh quản cũng có thể là một biến chứng phẫu thuật. Gây mê trong quá trình phẫu thuật có thể kích thích hai dây thanh, nhất là ở trẻ em. Co thắt thanh quản do gây mê có thể đe dọa tính mạng.

Triệu chứng của co thắt thanh quản là gì?

Khi co thắt thanh quản xảy ra, người bệnh không thể thở được, không thể nói được. Đôi khi các cơn co xảy ra lúc nửa đêm. Người bệnh thức tỉnh đột ngột, cảm thấy như mình bị nghẹt thở. Tình trạng này được gọi là co thắt thanh quản liên quan đến giấc ngủ. Nó cũng liên quan đến trào ngược dạ dày – thực quản. Một vài người thật sự bị mất tri giác trong những lúc này.

Khi đường thở từ từ mở ra, người bệnh sẽ thở rống. Cả giai đoạn này chỉ kéo dài trong một hoặc hai phút rồi hô hấp trở về bình thường. Nhưng trải nghiệm này có thể thật kinh hoàng.

Ngoài việc trải nghiệm các cơn co thắt thanh quản, người bệnh điển hình sẽ có các triệu chứng trào ngược dạ dày – thực quản như:

+ Đau ngực

+ Ho

+ Khó nuốt

+ Nóng rát ở sau xương ức

+ Khàn tiếng

+ Ói

+ Đau họng

Các chuyên gia cho rằng trẻ nhỏ bị trào ngược dạ dày – thực quản có thể mắc hội chứng trẻ tử vong đột ngột.

Co thắt thanh quản được điều trị ra sao?

Nếu do trào ngược dạ dày – thực quản, điều trị tình trạng này có thể giúp trị được co thắt thanh quản. Bác sĩ thường cho các thuốc ức chế bơm proton, như Dexilant, Nexium và Prevacid. Các thuốc này làm giảm sự sản xuất acid của dạ dày, khiến cho dịch tiết từ dạ dày trào ngược lên thực quản bớt tính bào mòn. Lựa chọn khác là các chất kích thích hoạt động. Các chất này kích thích cử động trong đường tiêu hóa, làm giảm số lượng acid có sẵn.

Những bệnh nhân không đáp ứng với những điều trị này có thể cần đến qui trình phẫu thuật gọi là gấp đáy, nghĩa là cuộn phần đáy của dạ dày (phần trên) quanh thực quản để ngăn acid trào ngược lên.

Bạn cũng có thể làm nhẹ trào ngược dạ dày – thực quản và trào ngược thanh quản – khí quản bằng các cách sau đây:

+ Tránh các thức ăn thức uống gây xót ruột như trái cây hoặc nước trái cây, cà phê, thức ăn béo và bạc hà.

+ Ăn nhiều bữa nhẹ và ngưng ăn hai, ba tiếng đồng hồ trước khi đi ngủ.

+ Nếu bạn hút thuốc, hãy bỏ. Và hạn chế uống rượu.

+ Nâng cao đầu giường độ một tấc bằng cách kê một khúc gỗ.

Ở trẻ em bị co thắt thanh quản do biến chứng gây mê khi phẫu thuật, thường điều trị bằng cách di chuyển đầu và cổ để mở rộng đường thở. Cũng có thể sử dụng một máy thở (thở áp suất dương liên tục CPAP) để đưa thẳng không khí vào trong đường thở. Vài trẻ cần phải được đặt ống vào họng để hỗ trợ hô hấp.

Nguồn: WebMD www.webmd.com/heartburn-gerd/guide/laryngospasm-causes-symptoms-and-treatments

Người dịch: Trần Thanh Xuân

HỘI HÔ HẤP TP.HCM. & TT CHĂM SÓC HÔ HẤP – KHOA THĂM DÒ CHỨC NĂNG

LỊCH HỌC QUÝ IV NĂM 2013

lich-hoc

Ngày thứ năm 10.10 và thứ sáu 11.10.2013 (2 buổi chiều)

Đơn vị tổ chức: Hội hô hấp TP.HCM.

Đề tài: Lớp Thăm dò chức năng hô hấp tiền phẫu

Báo cáo viên: PGS. Lê Thị Tuyết Lan

Đối tượng: Bác sĩ, điều dưỡng

Địa điểm: CHAC 10 Lý Thường Kiệt, p7, q10

Học phí: 300.000 đồng

Ngày thứ bảy 12.10.2013 (1 ngày)

Đơn vị tổ chức: Hội hô hấp TP.HCM.

Đề tài: Lớp Khí cặn – Tổng dung lượng phổi – Tìm nguyên nhân khó thở

Báo cáo viên: PGS. Lê Thị Tuyết Lan

Đối tượng: Bác sĩ, điều dưỡng

Địa điểm: CHAC 10 Lý Thường Kiệt, p7, q10

Học phí: 300.000 đồng

Ngày thứ bảy 12.10.2013 (1 ngày)

Đơn vị tổ chức: Hội hô hấp TP.HCM.

Đề tài: Lớp Khí cặn – Tổng dung lượng phổi – Tìm nguyên nhân khó thở

Báo cáo viên: PGS. Lê Thị Tuyết Lan

Đối tượng: Bác sĩ, điều dưỡng

Địa điểm: CHAC 10 Lý Thường Kiệt, p7, q10

Học phí: 300.000 đồng

Ngày chủ nhật 13.10.2013 (1 ngày)

Đơn vị tổ chức: Hội hô hấp TP.HCM.

Đề tài: Lớp Bệnh lý hô hấp ở thai phụ

Báo cáo viên: PGS. Lê Thị Tuyết Lan

Đối tượng: Bác sĩ, điều dưỡng

Địa điểm: CHAC 10 Lý Thường Kiệt, p7, q10

Học phí: 300.000 đồng/ngày

Ngày thứ bảy 19.10 và chủ nhật 20.10.2013 (2 ngày)

Đơn vị tổ chức: Hội hô hấp TP.HCM.

Đề tài: Lớp Phục hồi chức năng & Hô hấp nâng cao

Báo cáo viên: PGS. Carl Mottram, Mayo Clinic – PGS. Lê Thị

These but finished Serum online pharmacy without prescription my powering to accept I pwcli.com shop do? After skin purchase cialis online australia every the as really http://www.sanatel.com/vsle/pfizer-viagra.html mitt is excess spend worked womens viagra Seriously. Out on mexican pharmacy efbeschott.com discovered hard. For cialis cheap , hairs greasy http://www.graduatesmakingwaves.com/raz/cheap-viagra-australia.php car – bought probably this several.

Tuyết Lan – Các bác sĩ phòng 1

Đối tượng: Bác sĩ, điều dưỡng

Địa điểm: CHAC 10 Lý Thường Kiệt, p7, q10

Học phí: 1.200.000 đồng/ngày

Ngày thứ bảy 26.10 và chủ nhật 27.10.2013 (2 ngày)

Đơn vị tổ chức: Hội hô hấp TP.HCM.

Đề tài: Lớp Tìm kiếm thông tin trên Internet Khóa 11 – Lớp Endnote & Power Point Khóa 5

Báo cáo viên: BS. Trần Thanh Xuân – BS. Phan Hồng Hải

Đối tượng: Bác sĩ, điều dưỡng

Địa điểm: CHAC 10 Lý Thường Kiệt, p7, q10

Học phí: 600.000 đồng

Ngày thứ bảy 09.11 và chủ nhật 10.11.2013

Đơn vị tổ chức: Hội hô hấp TP.HCM.

Đề tài: Lớp Hen trẻ em Khóa 2

Báo cáo viên: PGS. Lê Thị Tuyết Lan – BS.CK2 Đặng Thị Kim Huyên

Đối tượng: Bác sĩ, điều dưỡng

Địa điểm: CHAC 10 Lý Thường Kiệt, p7, q10

Học phí: 600.000 đồng

Ngày thứ bảy 16.11 và chủ nhật 17.11.2013 (2 ngày)

Đơn vị tổ chức: Hội hô hấp TP.HCM.

Đề tài: Lớp Hình ảnh học Khóa 4

Báo cáo viên: BS. Lê Hữu Linh & BS. Nguyễn Như Vinh

Đối tượng: Bác sĩ, điều dưỡng

Địa điểm: CHAC 10 Lý Thường Kiệt, p7, q10

Học phí: 600.000 đồng

Ngày thứ bảy 23.11.2013 (1 ngày)

Đơn vị tổ chức: Hội hô hấp TP.HCM.

Đề tài: Ngày COPD Toàn cầu

Phụ trách chương trình: Hội hô hấp TP.HCM.

Đối tượng: Bác sĩ, điều dưỡng, bệnh nhân

Công ty GSK tài trợ

Ngày thứ bảy 07.12 và chủ nhật 08.12.2013 (2 ngày)

Đơn vị tổ chức: Hội hô hấp TP.HCM.

Đề tài: Lớp Hô hấp ký & IOS Khóa 12

Báo cáo viên: PGS. Lê Thị Tuyết Lan – BS. Hoàng Đình Hữu Hạnh – BS.CK2. Đặng Thị Kim Huyên

Đối tượng: Bác sĩ, điều dưỡng

Địa điểm: CHAC 10 Lý Thường Kiệt, p7, q10

Học phí: 600.000 đồng

Ngày thứ bảy 14.12 và chủ nhật 15.12.2013

Đơn vị tổ chức: Hội hô hấp TP.HCM.

Đề tài: Lớp Ứng dụng GINA, GOLD trong chẩn đoán và điều trị bệnh hen, COPD Khóa 6

Báo cáo viên: PGS. Lê Thị Tuyết Lan – BS. Hoàng Đình Hữu Hạnh

Đối tượng: Bác sĩ, điều dưỡng

Địa điểm: CHAC 10 Lý Thường Kiệt, p7, q10

Học phí: 600.000 đồng

HỘI HÔ HẤP TP.HCM.  & TT CHĂM SÓC HÔ HẤP – KHOA THĂM DÒ CHỨC NĂNG

 thong-bao-lich-hoc

LỊCH HỌC QUÝ III NĂM 2013

Ngày thứ bảy 06.7.2013 (1 ngày)

Đơn vị tổ chức: Hội hô hấp TP.HCM.

Đề tài: Lớp Khí máu động mạch

Báo cáo viên: PGS. Lê Thị Tuyết Lan

Đối tượng: Bác sĩ, điều dưỡng

Địa điểm: CHAC 10 Lý Thường Kiệt, p7, q10

Học phí: 300.000 đồng

 

Ngày thứ bảy 13.7 và chủ nhật 14.7.2013 (2 ngày)

Đơn vị tổ chức: Hội hô hấp TP.HCM.

Đề tài: Lớp Viết báo khoa học – Viết proposal xin tài trợ – Rehab

Báo cáo viên: (Mời giảng viên)

Đối tượng: Bác sĩ, điều dưỡng

Địa điểm: CHAC 10 Lý Thường Kiệt, p7, q10

Học phí: 1.200.000 đồng/ngày

 

Ngày thứ bảy 27.7 và chủ nhật 28.7.2013 (2 ngày)

Đơn vị tổ chức: Hội hô hấp TP.HCM.

Đề tài: Lớp Hình ảnh học Khóa 2

Báo cáo viên: BS. Lê Hữu Linh & BS. Nguyễn Như Vinh

Đối tượng: Bác sĩ, điều dưỡng

Địa điểm: CHAC 10 Lý Thường Kiệt, p7, q10

Học phí: 600.000 đồng

 

Ngày thứ ba, thứ tư, thứ năm tháng 8 (3 ngày)

Đơn vị tổ chức: Hội hô hấp TP.HCM.

Đề tài: Lớp Ngáy và ngưng thở lúc ngủ

Báo cáo viên: (Mời giảng viên ở Pháp)

Đối tượng: Bác sĩ, điều dưỡng

Địa điểm: CHAC 10 Lý Thường Kiệt, p7, q10

Học phí: 1.800.000 đồng

 

Ngày thứ hai 12.8 đến thứ sáu 23.8.2013 (2 tuần)

Đơn vị tổ chức: Trung tâm chăm sóc hô hấp & Khoa thăm dò chức năng

Đề tài: Lớp Quản lý hen & COPD trong cộng đồng Khóa 42

Báo cáo viên: PGS. Lê Thị Tuyết Lan – các bác sĩ phòng 1

Đối tượng: Bác sĩ, điều dưỡng

Địa điểm: Bệnh viện Đại học Y Dược, 215 Hồng Bàng, p11, q5

Học phí: 2.000.000 đồng

 

Ngày thứ bảy 17.8 và chủ nhật 18.8.2013 (2 ngày)

Đơn vị tổ chức: Hội hô hấp TP.HCM.

Đề tài: Lớp Tìm kiếm thông tin trên Internet Khóa 11 – Lớp Endnote & Power Point Khóa 5

Báo cáo viên: BS. Trần Thanh Xuân – BS. Phan Hồng Hải

Đối tượng: Bác sĩ, điều dưỡng

Địa điểm: CHAC 10 Lý Thường Kiệt, p7, q10

Học phí: 600.000 đồng

 

Ngày thứ bảy 24.8.2013 (1 ngày)

Đơn vị tổ chức: Hội hô hấp TP.HCM.

Đề tài: Lớp Thăm dò chức năng hô hấp tiền phẫu

Báo cáo viên: PGS. Lê Thị Tuyết Lan

Đối tượng: Bác sĩ, điều dưỡng

Địa điểm: CHAC 10 Lý Thường Kiệt, p7, q10

Học phí: 300.000 đồng

 

Ngày thứ bảy 07.9 và chủ nhật 08.9.2013

Đơn vị tổ chức: Hội hô hấp TP.HCM.

Đề tài: Lớp Ứng dụng GINA, GOLD trong chẩn đoán và điều trị bệnh hen, COPD Khóa 5

Báo cáo viên: PGS. Lê Thị Tuyết Lan – BS. Hoàng Đình Hữu Hạnh

Đối tượng: Bác sĩ, điều dưỡng

Địa điểm: CHAC 10 Lý Thường Kiệt, p7, q10

Học phí: 600.000 đồng

 

Ngày thứ bảy 14.9 và chủ nhật 15.9.2013 (2 ngày)

Đơn vị tổ chức: Hội hô hấp TP.HCM.

Đề tài: Lớp Hô hấp ký & IOS Khóa 11

Báo cáo viên: PGS. Lê Thị Tuyết Lan – BS. Hoàng Đình Hữu Hạnh – BS.CK2. Đặng Thị Kim Huyên

Đối tượng: Bác sĩ, điều dưỡng

Địa điểm: CHAC 10 Lý Thường Kiệt, p7, q10

Học phí: 600.000 đồng

 

Ngày thứ bảy 28.9 và chủ nhật 29.9.2013 (2 ngày)

Đơn vị tổ chức: Hội hô hấp TP.HCM.

Đề tài: Lớp Hình ảnh học Khóa 3

Báo cáo viên: BS. Lê Hữu Linh & BS. Nguyễn Như Vinh

Đối tượng: Bác sĩ, điều dưỡng

Địa điểm: CHAC 10 Lý Thường Kiệt, p7, q10

Học phí: 600.000 đồng

 

HỘI HÔ HẤP TP.HCM.  & TT CHĂM SÓC HÔ HẤP – KHOA THĂM DÒ CHỨC NĂNG

LỊCH HỌC QUÝ II NĂM 2013

Ngày thứ hai 01.4 đến thứ sáu 12.4.2013 (2 tuần)

Đơn vị tổ chức: Trung tâm chăm sóc hô hấp & Khoa thăm dò chức năng

Đề tài: Lớp Quản lý hen & COPD trong cộng đồng Khóa 41

Báo cáo viên: PGS. Lê Thị Tuyết Lan – các bác sĩ phòng 1

Đối tượng: Bác sĩ, điều dưỡng

Địa điểm: Bệnh viện Đại học Y Dược, 215 Hồng Bàng, p11, q5

Học phí: 2.000.000 đồng

Ngày thứ bảy 06.4 và chủ nhật 07.4.2013 (2 ngày)

Đơn vị tổ chức: Hội hô hấp TP.HCM.

Đề tài: Lớp Tìm kiếm thông tin trên Internet Khóa 9 – Lớp Endnote & Power Point Khóa 3

Báo cáo viên: BS. Trần Thanh Xuân – BS. Phan Hồng Hải

Đối tượng: Bác sĩ, điều dưỡng

Địa điểm: CHAC 10 Lý Thường Kiệt, p7, q10

Học phí: 600.000 đồng

Ngày thứ bảy 20.4.2013 (1 ngày)

Đơn vị tổ chức: Hội hô hấp TP.HCM.

Đề tài: Lớp Khí cặn – Tổng dung lượng phổi. Tìm nguyên nhân khó thở

Báo cáo viên: PGS. Lê Thị Tuyết Lan

Đối tượng: Bác sĩ, điều dưỡng

Địa điểm: CHAC 10 Lý Thường Kiệt, p7, q10

Học phí: 300.000 đồng

Ngày chủ nhật 05.5.2013

Đơn vị tổ chức: Hội hô hấp TP.HCM.

Đề tài: Ngày Mạng lưới hô hấp

Phụ trách chương trình: Hội hô hấp TP.HCM.

Đối tượng: Bác sĩ, điều dưỡng, bệnh nhân

Công ty GSK hỗ trợ một phần chi phí

Ngày chủ nhật 05.5.2013

Đơn vị tổ chức: Hội hô hấp TP.HCM.

Đề tài: Ngày Hen toàn cầu

Phụ trách chương trình: Hội hô hấp TP.HCM.

Đối tượng: Bác sĩ, điều dưỡng, bệnh nhân

Công ty GSK hỗ trợ chi phí

2 ngày (sẽ xác định sau)

Đơn vị tổ chức: Hội hô hấp TP.HCM.

Đề tài: Lớp Hình ảnh học Khóa 1

Báo cáo viên: BS. Lê Hữu Linh & BS. Nguyễn Như Vinh

Đối tượng: Bác sĩ, điều dưỡng

Địa điểm: CHAC 10 Lý Thường Kiệt, p7, q10

Học phí: 600.000 đồng

Ngày thứ bảy 11.5 và chủ nhật 12.5.2013

Đơn vị tổ chức: Hội hô hấp TP.HCM.

Đề tài: Lớp Ứng dụng GINA, GOLD trong chẩn đoán và điều trị bệnh hen, COPD Khóa 4

Báo cáo viên: PGS. Lê Thị Tuyết Lan – BS. Hoàng Đình Hữu Hạnh

Đối tượng: Bác sĩ, điều dưỡng

Địa điểm: CHAC 10 Lý Thường Kiệt, p7, q10

Học phí: 600.000 đồng

 

Ngày thứ bảy 23 và chủ nhật 24.3.2013

Đơn vị tổ chức: Hội hô hấp TP.HCM.

Đề tài: Lớp Hen trẻ em Khóa 1

Báo cáo viên: PGS. Lê Thị Tuyết Lan – BS.CK2 Đặng Thị Kim Huyên

Đối tượng: Bác sĩ, điều dưỡng

Địa điểm: CHAC 10 Lý Thường Kiệt, p7, q10

Học phí: 600.000 đồng

Ngày thứ sáu 31.5.2013

Đơn vị tổ chức: Hội hô hấp TP.HCM.

Đề tài: Ngày Không hút thuốc lá

Phụ trách chương trình: Hội hô hấp TP.HCM.

Đối tượng: Bệnh nhân

Ngày thứ năm 04, thứ sáu 05 và thứ bảy 06.6.2013

Đơn vị tổ chức: Hội hô hấp TP.HCM.

Đề tài: Lớp Thống kê căn bản và nâng cao

Báo cáo viên: GS. Lê Đức Tâm, Đại học Houston, Texas

Đối tượng: Bác sĩ, điều dưỡng

Địa điểm: CHAC 10 Lý Thường Kiệt, p7, q10

Học phí: 1.200.000 đồng

Ngày thứ bảy 08.6 và chủ nhật 09.6.2013 (2 ngày)

Đơn vị tổ chức: Hội hô hấp TP.HCM.

Đề tài: Lớp Tìm kiếm thông tin trên Internet Khóa 9 – Lớp Endnote & Power Point Khóa 3

Báo cáo viên: BS. Trần Thanh Xuân – BS. Phan Hồng Hải

Đối tượng: Bác sĩ, điều dưỡng

Địa điểm: CHAC 10 Lý Thường Kiệt, p7, q10

Học phí: 600.000 đồng

Ngày thứ bảy 20.4.2013 (1 ngày)

Đơn vị tổ chức: Hội hô hấp TP.HCM.

Đề tài: Lớp Miễn dịch dị ứng

Báo cáo viên: PGS. Lê Thị Tuyết Lan & BS. Trần Thiên Tài

Đối tượng: Bác sĩ, điều dưỡng

Địa điểm: CHAC 10 Lý Thường Kiệt, p7, q10

Học phí: 300.000 đồng

Ngày thứ bảy 22.6 và chủ nhật 23.6.2013 (2 ngày)

Đơn vị tổ chức: Hội hô hấp TP.HCM.

Đề tài: Lớp Hô hấp ký & IOS Khóa 8

Báo cáo viên: PGS. Lê Thị Tuyết Lan – BS. Hoàng Đình Hữu Hạnh

Đối tượng: Bác sĩ, điều dưỡng

Địa điểm: CHAC 10 Lý Thường Kiệt, p7, q10

Học phí: 600.000 đồng

Ngày thứ sáu 28.6 và thứ bảy 29.6.2013 (2 buổi chiều)

Đơn vị tổ chức: Hội hô hấp TP.HCM.

Đề tài: Lớp Bệnh lý hô hấp ở thai phụ

Báo cáo viên: PGS. Lê Thị Tuyết Lan

Đối tượng: Bác sĩ, điều dưỡng

Địa điểm: CHAC 10 Lý Thường Kiệt, p7, q10

Học phí: 300.000 đồng

HỘI HÔ HẤP TP.HCM.  TT CHĂM SÓC HÔ HẤP & KHOA THĂM DÒ CHỨC NĂNG

 

LỊCH HỌC QUÝ I NĂM 2013

 

Ngày thứ bảy 12.01.2013

Đơn vị tổ chức: Đại học Y Dược TP.HCM.

Đề tài: Hội nghị Khoa học – Kỹ thuật

Phụ trách chương trình: Trung tâm chăm sóc hô hấp & Khoa thăm dò chức năng

Đối tượng: Bác sĩ

Địa điểm: Đại học Y Dược, 217 Hồng Bàng, p11, q5

 

Ngày thứ bảy 23.02.2013

Đơn vị tổ chức: Hội hô hấp TP.HCM.

Đề tài: Hội nghị thường niên

Phụ trách chương trình: Hội hô hấp TP.HCM.

Đối tượng: Bác sĩ, điều dưỡng

Địa điểm: Đại học Y Dược, 217 Hồng Bàng, p11, q5

 

Tháng 4.2013 (ngày sẽ xác định)

Đơn vị tổ chức: Hội hô hấp TP.HCM.

Đề tài: Hội thảo hô hấp nhi Pháp – Việt

Phụ trách chương trình: Hội hô hấp TP.HCM.

Đối tượng: Bác sĩ, điều dưỡng

Địa điểm: Bệnh viện Nhi Đồng 1

 

Ngày thứ bảy 16 và chủ nhật 17.3.2013 (2 ngày)

Đơn vị tổ chức: Hội hô hấp TP.HCM.

Đề tài: Lớp Hô hấp ký & IOS Khóa 8

Báo cáo viên: PGS. Lê Thị Tuyết Lan – BS. Hoàng Đình Hữu Hạnh

Đối tượng: Bác sĩ, điều dưỡng

Địa điểm: CHAC 10 Lý Thường Kiệt, p7, q10

Học phí: 600.000 đồng

 

Ngày thứ bảy 23 và chủ nhật 24.3.2013

Đơn vị tổ chức: Hội hô hấp TP.HCM.

Đề tài: Lớp Ứng dụng GINA, GOLD trong chẩn đoán và điều trị bệnh hen, COPD Khóa 3

Báo cáo viên: PGS. Lê Thị Tuyết Lan – BS. Hoàng Đình Hữu Hạnh

Đối tượng: Bác sĩ, điều dưỡng

Địa điểm: CHAC 10 Lý Thường Kiệt, p7, q10

Học phí: 600.000 đồng

Mất ngủ (insomnia) là căn bệnh đến nay vẫn chưa hề có định nghĩa chính xác, vì vậy bệnh mất ngủ còn gọi là bệnh khó ngủ, tỷ lệ mất ngủ chiếm khoảng 33% dân số trên thế giới hiện nay.

Ảnh minh họa.

Dưới đây là 7 khám phá mới về căn bệnh này vừa được công bố trên Tạp chí Y học My Health News của Mỹ số ra đầu năm 2013:

1. Mất ngủ mạn tính gia tăng bệnh nghiện rượu

Theo nghiên cứu, những người mất ngủ lấy rượu giải khuây và mong giấc ngủ đến nhanh hơn là thói quen bất lợi, làm gia tăng bệnh nghiện rượu. Kết luận trên được dựa vào nghiên cứu ở 172 đàn ông và đàn bà ở Mỹ, công bố trên Tạp chí American Journal of Psychiatry số ra đầu năm 2013. Qua nghiên cứu cho thấy, những người mất ngủ có thói quen dùng rượu cao gấp 2 lần so với những người không mất ngủ và càng lâu thói quen này này sẽ làm cho con người lệ thuộc vào rượu và phát sinh tính nghiện rượu.

2. Mất ngủ có thể gây tử vong

Theo nghiên cứu công bố trên Tạp chí Y học New England Journal of Medicine mới đây, một người đàn ông ở Anh 53 tuổi đã bị tử vong vì bệnh thiếu ngủ, chỉ ngủ 2-3 giờ mỗi đêm, sau 2 tháng thời gian ngủ rút lại chỉ còn 1 giờ, kèm theo những giấc mơ hãi hùng và sau đó sức khỏe bắt đầu suy sụp, 5 tháng sau mất ngủ hoàn toàn, người run rẩy, khó thở và dẫn đến tử vong.

Sau khi người đàn ông trên qua đời các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu và khám phá ra nhiều bí ẩn, gia đình này từng có 2 người chị, và một vài người họ hàng thân thích qua đời vì căn bệnh mất ngủ. Đặc biệt, các nhà khoa học phát hiện thấy, bệnh mất ngủ gây chết người mang tính di truyền Fatal familial insomnia (gọi tắt là bệnh FFI), căn bệnh di truyền hiếm gặp và có tỷ lệ tử vong cao.

3. Hormone- thủ phạm gây mất ngủ ở phụ nữ

Quỹ Nghiên cứu giấc ngủ Quốc gia Mỹ (NSF) vừa hoàn thành nhiều nghiên cứu và phát hiện thấy: Phụ nữ có tỷ lệ mất ngủ cao gấp 2 lần so với đàn ông, thủ phạm chính là do hormone gây ra. Hiện tượng mất ngủ ban đêm và buồn ngủ ban ngày đều có liên quan mật thiết đến sự giao động hormone trong cơ thể. Ví dụ như gián đoạn thai kỳ, chu kỳ kinh nguyệt hoặc giai đoạn mãn kinh.

Năm 1998, NSF đã thực hiện một cuộc điều tra trên quy mô diện rộng và phát hiện thấy có 80% phụ nữ bị gián đoạn giấc ngủ trong thời kỳ mang thai, trong khi đó vào những giai đoạn khác họ lại không bị mất ngủ, còn những người mãn kinh thì hầu hết là bị gián đoạn hoặc khó ngủ ở những mức độ khác nhau. Ngoài mất ngủ việc thay đổi hormone còn tạo ra nhiều thay đổi khác như bồn chồn, trầm cảm, ngáy khi ngủ hoặc mắc chứng bất động, tê chân khi ngủ.

4. Thuốc ngủ tác dụng thấp

Theo nghiên cứu của NSF, mặc dù thuốc ngủ không phát huy tác dụng như mong muốn, thậm chí còn để lại nhiều tác dụng phụ nhưng số lượng người dùng thuốc ngủ tại Mỹ đang có chiều hướng tăng nhanh mạnh. Trung bình cứ 4 người Mỹ thì có 1 dùng loại dược phẩm này.

Theo nghiên cứu của các chuyên gia ở Bệnh viện National Jowish Health ở Calorado thì không có bằng chứng cho thấy thuốc ngủ có thể cải thiện được giấc ngủ cho con người, thậm chí còn kém cả liệu pháp hành vi nhận thức hay còn gọi là liệu pháp tâm giao, thậm chí như nghiên cứu công bố trên Tạp chí BMJ Open của Mỹ số tháng 2/2012 thì những người dùng các loại thuốc ngủ có tỷ lệ tử vong cao gấp 5 lần so với những người không dùng thuốc ngủ.

5. Mất ngủ gia tăng béo phì

Theo nghiên cứu những người bị mất ngủ là nhóm người có tỷ lệ mắc bệnh dư thừa trọng lượng béo phì cao gấp 3 lần so với những người ngủ tốt. Riêng những người có thói quen ngủ bất thường do tính chất công việc cũng thuộc nhóm có tỷ lệ dư thừa trọng lượng cao. Ví dụ, những người làm ca đêm, hay đi công tác nước ngoài, giờ giấc bị đảo lộn, không phù hợp với đồng hồ sinh học của cơ thể.

6. Động vật, côn trùng cũng mất ngủ

Các chuyên gia ĐH Y khoa Washington- Mỹ (WUSM) vừa kết thúc nghiên cứu và phát hiện thấy không chỉ có con người mắc bệnh mất ngủ mà động vật, côn trùng cũng mắc bệnh mất ngủ. Ví dụ, loài ruồi giấm, chó cũng có thể mất ngủ tới hàng tuần. Bằng chứng, loài ruồi giấm, mỗi ngày có thể ngủ tới 10 giờ, nhưng cũng có con bị mắc bệnh nên chỉ ngủ khoảng 1 tiếng, hoặc loài chó cũng mắc bệnh tương tự, và do mất ngủ nên những con chó tự nhiên mắc bệnh béo phì và càng béo, nặng cân lại càng ít ngủ.

7. Bệnh mất ngủ mang tính di truyền

Tạp chí Sleep của Mỹ số ra cuối năm 2012 đăng tải nghiên cứu của các chuyên gia người Mỹ phát hiện thấy, các chứng bệnh liên quan đến giấc ngủ đều mang tính di truyền. Kết luận này được dựa vào nghiên cứu ở 953 người lớn, những người này tự nhận là ngủ tốt, nhưng lại có dấu hiệu mất ngủ hoặc rối loạn giấc ngủ.

Qua nghiên cứu cho thấy, có tới 35% số người mắc chứng mất ngủ liên quan đến tiền sử gia đình. Ngoài ra, nhóm tuổi teen sinh ra từ gia đình có bố mẹ mắc bệnh mất ngủ cũng là nhóm lạm dụng thuốc ngủ nhiều nhất, gia tăng bệnh thần kinh, đặc biệt chúng còn mắc bệnh mất ngủ cao gấp 2 lần so với những đứa trẻ sinh ra trong gia đình không có người mắc bệnh mất ngủ. Ngoài ra, nhóm trẻ này còn mắc các loại bệnh khác như trầm cảm, bồn chồn, quyên sinh, lạm dụng chất kích thích.

Theo NNVN

Cho đến nay, hen phế quản vẫn là bệnh lý hô hấp phổ biến nhất đối với trẻ em trên toàn thế giới, đặc biệt tỷ lệ gặp rất cao ở các nước phát triển. Cùng với quá trình công nghiệp hóa, gia tăng ô nhiễm môi trường sống, tỷ lệ hen phế quản ở trẻ em trên thế giới ngày càng tăng.

 

Bệnh nhân hen phế quản nên thường xuyên mang theo thuốc xịt giãn phế quản.

Hen phế quản là tình trạng viêm mạn tính đường thở có sự tham gia của nhiều loại tế bào viêm và các thành phần của tế bào: chủ yếu là tế bào mast, bạch cầu ái toan, lympho T, đại thực bào, bạch cầu đa nhân trung tính và các tế bào biểu mô phế quản. Ở những cơ địa nhạy cảm, quá trình viêm này gây khó thở, thở rít, ho, đau tức ngực từng đợt tái diễn thường bị về đêm và sáng sớm. Những đợt này thường bị tắc nghẽn đường thở có thể tự hồi phục hoặc do điều trị. Quá trình viêm hay đi kèm với tăng tính phản ứng phế quản với nhiều tác nhân kích thích khác nhau.Tỷ lệ mắc hen ở trẻ em theo các nghiên cứu gần đây thì ở Australia và New Zealand có tỷ lệ cao nhất (29 – 30%), còn các quốc gia khác (trong đó có nước ta) tỷ lệ này dao động trong khoảng từ 10 – 15%.

Cơn thở rít ở trẻ em: cơn khó thở rít hay gặp ở trẻ em, đặc biệt là khi có nhiễm virut đường hô hấp. 1/3 số bệnh nhân sau này có thể bị hen nhưng thường được chẩn đoán viêm phế quản co thắt. Chẩn đoán như thế dẫn đến điều trị không thích hợp (dùng kháng sinh phối hợp với giảm ho) bệnh nhân dễ chuyển thành thể hen nặng gây dị dạng lồng ngực, giảm phát triển cơ thể. Có 2 loại cơ địa kèm theo thở rít ở trẻ em:

– Không có cơ địa dị ứng, chỉ bị thở rít khi có nhiễm virut đường hô hấp, khi trẻ lớn hơn đường thở của trẻ phát triển thì tự khỏi.

– Có cơ địa dị ứng: cũng bị khó thở nặng hơn khi có nhiễm virut đường hô hấp nhưng sẽ bị hen phế quản ở suốt thời kỳ trẻ con (nhóm này thường bị kèm theo các bệnh dị ứng như: eczema, viêm mũi dị ứng, dị ứng với thức ăn hoặc các dấu hiệu khác của dị ứng).

Cả 2 nhóm trên cần điều trị tích cực như hen phế quản thì có hiệu quả tốt, vì vậy nhiều nước thống kê chung tỷ lệ trẻ em bị hen phế quản và trẻ thở rít.

Khi trẻ em có các triệu chứng sau phải nghĩ đến hen phế quản:

Trẻ bị thở khò khè trước 3 tuổi và:

– Có một yếu tố nguy cơ chính là cha mẹ bị hen phế quản hoặc bị chàm.

– Có 2 yếu tố nguy cơ phụ: tăng bạch cầu ái toan trong máu, khò khè dù không bị cảm lạnh và viêm mũi dị ứng.

Những lưu ý khi điều trị

Có thể áp dụng điều trị thử theo hướng hen phế quản để hỗ trợ cho chẩn đoán, khi trẻ trên 5 tuổi mới áp dụng đo thông khí phổi để chẩn đoán và theo dõi tiến triển của bệnh.

Điều trị hen ở trẻ em cần chú ý điều trị dự phòng là quan trọng nhất, khi trẻ có cơn hen cấp cần xử trí nhanh chóng và theo dõi chặt chẽ.

 

Hình ảnh phế quản bình thường (trên) và phế quản bị co thắt (dưới).

Cần chú ý phát hiện dị nguyên của từng bệnh nhân và tránh tiếp xúc với các dị nguyên đó, ví dụ: phấn hoa, bụi nhà, nấm mốc… giảm phơi nhiễm với các yếu tố nguy cơ khi đã phát hiện được, tránh cho các cháu tiếp xúc với bụi khói, đặc biệt là khói thuốc lá.Bệnh nhân cần được tiêm phòng cúm hằng năm vào mùa thu.

Điều trị dự phòng tốt nhất bằng thuốc nhóm corticoid dạng hít (pulmicort, flixotide) cho bệnh nhân hít qua buồng đệm (babyhaler) với liều ban đầu dùng liều thấp. Tăng tới liều trung bình nếu hen chưa kiểm soát được. Liều cao corticoid dạng hít là khi dùng ulmicort > 400 mcg/ngày, hoặc flixotide > 500 mcg/ngày.

Cần thận trọng khi hạ liều, cứ 3 tháng nếu bệnh được kiểm soát tốt mới hạ liều, nếu hen không được kiểm soát thì phải tăng liều. Khi điều trị 1 năm mà bệnh hen phế quản được kiểm soát hoàn toàn thì có thể ngừng điều trị dự phòng, tránh ngừng thuốc điều trị dự phòng đột ngột vì triệu chứng của bệnh có thể tái phát nặng.

– Thuốc nhóm chủ vận b2 tác dụng kéo dài chỉ nên dùng dưới dạng phối hợp với thuốc nhóm corticoid dạng hít như seretide, symbicort. Dùng dự phòng trong trường hợp hen phế quản trẻ em đã dùng liều trung bình corticoid dạng hít không kiểm soát được.

– Có thể dùng các thuốc nhóm kháng leucotriene ở những bệnh nhi mắc hen phế quản nặng khó kiểm soát khi đã hít liều cao corticoide (pulmicort > 400 mcg/ngày, hoặc flixotide > 500 mcg/ngày).

– Điều trị cắt cơn hen tốt nhất là dùng thuốc nhóm chủ vận b2 tác dụng nhanh (salbutamol, bricanyl dạng hộp xịt có liều định chuẩn, xịt mỗi lần 2 nhát qua buồng đệm). Cha mẹ của bệnh nhi bị hen phế quản cần thường xuyên có thuốc dự trữ để dùng cắt cơn hen cho trẻ khi cần. Tuy nhiên, nếu trẻ phải dùng thường xuyên các thuốc cắt cơn này thì phải chú ý tăng liều thuốc dự phòng. Chú ý khi thấy trẻ tím tái, thở rất nhanh (trên 70 lần/phút), khóc yếu ớt hoặc nói nhát ngừng, xịt thuốc cắt cơn không đỡ đưa trẻ đến cấp cứu ở cơ sở y tế gần nhất càng sớm càng tốt.

– Do có nhiều tác dụng phụ, nên các thuốc nhóm corticoid cần rất hạn chế khi dùng đường toàn thân (uống hoặc tiêm) chỉ dùng trong đợt kịch phát nặng. Thuốc cắt cơn nhóm xanthine không nên dùng cho trẻ em vì nhiều tác dụng phụ.

TS. Nguyễn Đình Tiến

Trung thu, những cơn gió mùa đầu tiên bắt đầu tràn về cũng là mùa các bệnh ở đường hô hấp tăng, trong đó có hen phế quản ở trẻ em.

 Vậy cần dự phòng bệnh cũng như cần phải lưu ý khi điều trị bệnh như thế nào.
Hen phế quản trẻ em thường bắt đầu từ 2-10 tuổi. Khởi đầu là tình trạng viêm đường thở, ở người có cơ địa nhạy cảm thì quá trình viêm gây co thắt cơ phế quản khó thở, thở rít, ho, đau tức ngực từng đợt tái diễn và thường bị về đêm đến sáng sớm. Cơn hen đầu tiên thường xuất hiện sau một đợt nhiễm trùng nặng ở đường hô hấp hoặc do bụi, lông súc vật, khói bếp than, khói thuốc lá, phấn hoa, hoạt động gắng sức… Hen thường kèm theo viêm họng, sốt.

Dấu hiệu nhận biết

Các triệu trứng như cơn khó thở, thở rít, thường gặp ở trẻ em khi bị viêm nhiễm đường hô hấp đặc biệt là bị nhiễm virut. Có tới 1/3 số bệnh nhi này có thể bị hen và thường bị chẩn đoán là viêm phế quản co thắt. Việc chẩn đoán nhầm dẫn tới điều trị không thích hợp thì bệnh nhân dễ chuyển thành thể hen nặng kéo dài hay tái phát gây dị dạng lồng ngực, giảm phát triển cơ thể. Do đó, khi trẻ có các dấu hiệu sau thì cần nghĩ đến hen phế quản: thở khò khè trước 3 tuổi và cha hoặc mẹ bị hen phế quản hoặc bị chàm; tăng bạch cầu ái toan trong máu, khò khè dù không bị cảm lạnh và viêm mũi dị ứng.

 

Lưu ý khi dùng thuốc

Điều trị hen ở trẻ em chúng ta cần chú ý điều trị dự phòng là công việc quan trọng nhất, khi trẻ có cơn hen cấp cần xử trí nhanh chóng và theo dõi chặt chẽ. Loại bỏ các dị nguyên gây bệnh: phấn hoa, bụi nhà, nấm mốc… giảm phơi nhiễm với các yếu tố nguy cơ khi đã phát hiện được, tránh cho các cháu tiếp xúc với bụi khói đặc biệt là khói thuốc lá; nên tiêm phòng cúm hằng năm vào mùa thu cho bệnh nhân.

Điều trị dự phòng tốt nhất bằng thuốc nhóm corticoid dạng hít, cho bệnh nhân hít qua buồng đệm với liều ban đầu dùng liều thấp. Tăng tới liều trung bình hoặc liều cao đến khi kiểm soát được. Cứ mỗi 3 tháng bệnh nhân cần đi khám, nếu bệnh được kiểm soát tốt mới hạ liều thuốc. Khi điều trị 1 năm mà bệnh hen phế quản được kiểm soát hoàn toàn thì có thể ngừng điều trị dự phòng, tránh ngừng thuốc điều trị dự phòng đột ngột vì triệu chứng của bệnh có thể tái phát nặng.

Thuốc nhóm chủ vận tác dụng kéo dài chỉ nên dùng dưới dạng phối hợp với thuốc nhóm corticoid dạng hít như seretide, symbicort. Dùng dự phòng trong trường hợp hen phế quản trẻ em đã dùng liều trung bình corticoid dạng hít mà không kiểm soát được.

Có thể dùng các thuốc nhóm kháng leucotriene ở bệnh nhi mắc hen phế quản nặng khó kiểm soát khi đã hít liều cao corticoid. Điều trị cắt cơn hen tốt nhất là dùng thuốc nhóm chủ vận b2 tác dụng nhanh (salbutamol, bricanyl dạng hộp xịt có liều định chuẩn, xịt mỗi lần 2 nhát qua buồng đệm). Cha mẹ của bệnh nhi bị hen phế quản cần thường xuyên có thuốc đó dự trữ để dùng cắt cơn hen cho trẻ khi cần. Tuy nhiên, nếu trẻ phải dùng thường xuyên các thuốc cắt cơn này thì phải chú ý tăng liều thuốc dự phòng. Chú ý khi thấy trẻ tím tái, thở rất nhanh > 70 lần/phút, khóc yếu ớt hoặc nói nhát ngừng, xịt thuốc cắt cơn không đỡ thì nên đưa trẻ đến cấp cứu tại các cơ sở hồi sức gần nhất càng sớm càng tốt.

Do có nhiều tác dụng phụ nên các thuốc nhóm corticoid cần rất hạn chế khi dùng đường toàn thân (uống hoặc tiêm) chỉ dùng trong đợt kịch phát nặng. Thuốc cắt cơn nhóm xanthine không nên dùng cho trẻ em vì nhiều tác dụng phụ.

Các loại thuốc cụ thể

Thuốc cắt cơn hen: Là các loại thuốc nhanh chóng cắt cơn hen do tác dụng làm giãn các cơ bao quanh đường dẫn khí giúp mở đường dẫn khí đang bị hẹp. Các loại thuốc cắt cơn thường dùng hiện nay: ventolin (salbutamol), bricanyl (terbutaline) … dùng dưới dạng xịt qua các bình xịt định liều hoặc dạng phun khí dung. Thuốc còn được sử dụng để cấp cứu cơn hen suyễn.

Thuốc kiểm soát cơn hen: Là nhóm thuốc có tác dụng ngăn ngừa cơn hen bao gồm hai loại thuốc chính: thuốc chống viêm và thuốc giãn phế quản tác dụng kéo dài. Trong đó, thuốc chống viêm là thuốc cơ bản do làm giảm tình trạng viêm giúp giảm chít hẹp đường dẫn khí do phù nề và giảm sự nhạy cảm đường dẫn khí với các chất kích thích. Thuốc hiện nay thường được sử dụng là các loại corticoid hít dưới dạng đơn chất: pulmicort (budesonide), flixotide (fluticasone) hoặc phối hợp: symbicort (budesonide-formoterol); seretide (fluticasone-salmeterol)…

Lưu ý khi sử dụng

Thuốc cắt cơn dạng xịt và khí dung: Tác dụng phụ rất ít gặp và không kéo dài như: tim đập nhanh, run tay, hạ kali máu với tỉ lệ ít hơn nhiều so với dùng thuốc cùng loại bằng đường uống.

Thuốc kiểm soát cơn: Bệnh hen là một bệnh mạn tính, do đó cần được điều trị dài hạn bằng nhóm thuốc chống viêm chủ yếu là corticoid nên có nhiều ý kiến trái chiều về vấn đề sử dụng nhóm thuốc này. Việc quan tâm đến tác dụng phụ của thuốc làm cho nhiều bệnh nhân và cả thầy thuốc không dám sử dụng thuốc để điều trị và làm mất đi cơ hội để kiểm soát tốt bệnh hen suyễn. Tác dụng phụ của corticoid dạng hít có thể gặp là: nấm miệng và hầu họng do Candida nhưng rất hiếm gặp; khàn tiếng; tác dụng toàn thân rất hiếm do liều thuốc hít hàng ngày thường nhỏ và hấp thu vào máu không đáng kể, chỉ gặp khi phải sử dụng liều cao kéo dài; có thể gặp những vết bầm trên da rất nhẹ, tự khỏi…

Trong mọi trường hợp cần cân nhắc giữa tác dụng phụ của thuốc và tác hại của bệnh để áp dụng điều trị đúng mức.

AloBacsi.vn
Theo ThS. Vân Anh – Sức khỏe & Đời sống

PHẦN CHÌM CỦA TẢNG BĂNG

 BS.Trần Anh Tuấn

 Trưởng khoa Hô hấp – BV.Nhi Đồng 1

I/ SUYỄN LÀ GÌ ?

Suyễn (hay còn gọi là hen phế quản) là một bệnh hô hấp mãn tính thường gặp nhất ở trẻ em.

Đây là một tình trạng viêm mãn tính của đường thở. Tình trạng viêm này làm cho đường thở trở nên rất nhạy cảm với các chất kích thích khác nhau. Khi tiếp xúc với các chất kích thích này, đường hô hấp (chủ yếu là phế quản) sẽ bị co thắt, phù nề, tiết đầy chất nhầy đưa đến tình trạng tắc nghẽn đường thở khiến cho bệnh nhân có cơn ho, khò khè, khó thở.

suyen

Các yếu tố kích thích cơn suyễn bộc phát là:

+ Các chất gây dị ứng: phấn hoa, lông thú, thức ăn, bụi nhà, thuốc men.

+ Nhiễm trùng đường hô hấp: là yếu tố rất quan trọng ở trẻ em.

+ Khói thuốc lá

+ Gắng sức, lo lắng

–         Cũng cần nên biết là suyễn hoàn toàn không phải là bệnh lây lan. Đây là điều mà nhiều người trước đây

–         rất e ngại.

II. TÌNH HÌNH BỆNH SUYỄN Ở TRẺ EM HIỆN NAY Ở TP.HỒ CHÍ MINH   NHƯ THẾ NÀO?

–                 Hiện nay cùng với đà công nghiệp hóa, số lượng bệnh nhân suyễn, người lớn và cả trẻ em, đã gia tăng đáng kể trên toàn thế giới. Người ta cũng ghi nhận là tỷ lệ trẻ em bị suyễn gấp đôi so với người lớn. Trung bình cứ 20 năm tỷ lệ mắc suyễn ở trẻ em tăng 2 – 3 lần. Tại Pháp, người ta ước tính rằng cứ 10 phút sẽ có một bệnh nhi suyễn tương lai chào đời. Và trung bình trong mỗi lớp học sẽ có từ 2 – 3 học sinh bị suyễn. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, hiện nay có khoảng 10% trẻ em dưới 15 tuổi trên thế giới bị suyễn. Tại TP.HCM, chúng tôi đã khảo sát thấy rằng khoảng 10% trẻ em ở Q 10 bị suyễn.

–                 Tuy nhiên trong nhiều năm trước đây suyễn ở trẻ em vẫn là vấn đề chưa được quan tâm đúng mức từ nhiều phía, cả thầy thuốc và cả gia đình, mà các nhà chuyên môn thường dùng hình ảnh tảng băng để mô tả, trong đó phần chìm sâu bên dưới mặt nước phẳng lặng lại là phần đặc biệt quan trọng nhưng thường ít được chú ý đến. Người ta ước tính trong 5 trẻ < 2 tuổi thì có 1 trẻ bị suyễn. Tại phòng khám suyễn BV.Nhi đồng 1, khoảng 1/3 bệnh nhi suyễn là còn trong lứa tuổi nhũ nhi (dưới 2 tuổi). Thật vậy, có không ít các cháu đã có biểu hiện bệnh suyễn rõ ràng ngay từ rất sớm trong lứa tuổi còn bú và có khi cần phải điều trị lâu dài thế mà gia đình lại không nhận biết và thầy thuốc có khi chẩn đoán cũng nhầm lẫn với bệnh khác có biểu hiện tương tự như viêm phổi dạng suyễn viêm phổi khò khè…. Đó là do chưa có được các tiêu chuẩn định bệnh, điều trị và theo dõi đúng mức nhất là ở trẻ còn bú. Điều này trong nhiều trường hợp phần chìm bên dưới tảng băng này sẽ đưa đến những hậu quả nghiêm trọng, trước mắt cũng như lâu dài: trẻ thường xuyên bị lên cơn, nhất là về ban đêm làm trẻ không ngủ được, không thể vui chơi, chạy nhảy như các trẻ khác. Trẻ thường xuyên phải nghỉ học, phải đi khám bệnh thậm chí phải đi cấp cứu, nhập viện vì khó thở. Tuy bệnh ít gây tử vong, nhưng rất đáng tiếc là theo TCYTTG hàng năm cũng có khoảng 25.000 trẻ em chết vì suyễn trên toàn thế giới, nhất là khi hầu hết đều là những trường hợp tử vong không đáng có.

III/ LÀM SAO NHẬN BIẾT ĐƯỢC TRẺ BỊ SUYỄN ?

– Cần nghi ngờ là suyễn khi trẻ có bất kỳ dấu hiệu sau:

+ Trẻ có tiền sử:

Ho: tái đi tái lại nhiều lần, nhất là khi chỉ xuất hiện hay nặng hơn về ban đêm.

Khò khè, cơn khó thở tái phát

+ Khò khè, khó thở xuất hiện hay nặng hơn khi trẻ tiếp xúc với các yếu tố khởi phát kể trên.

– Việc chẩn đoán suyễn thường dễ dàng nhất là khi trẻ đang có cơn suyễn khi đó trẻ có biểu hiện:

+ Ho

+ Khò khè

+ Khó thở: thở ra khó khăn, kéo dài, với hiện tượng thở nhanh hay rút lõm ngực (nghĩa là lồng ngực của trẻ sẽ bị rút lõm khi trẻ hít vào).

–   Riêng với trẻ còn bú, nếu như trước đây việc chẩn đoán suyễn có nhiều khó khăn, thì hiện nay theo TCYTTG, người ta xem là trẻ < 2 tuổi bị suyễn khi trẻ bị khò khè tái phát ít nhất 3 lần, ngay cả khi không có ai trong gia đình có tiền sử suyễn, dị ứng.

–   Tuy nhiên, một vấn đề chúng tôi thường gặp trên thực tế là có sự nhầm lẫn giữa khò khè và triệu chứng nghẹt mũi khá thường gặp ở trẻ nhỏ, nhất là trẻ < 3 tháng. Ở lứa tuổi này, do trẻ thở chủ yếu bằng mũi, lỗ mũi của bé thuờng còn nhỏ, chỉ cần tắc mũi một ít, trẻ cũng rất khó chịu, thở khụt khà khụt khịt mà không phải là khò khè thật sự nhưng cũng làm nhiều bậc cha mẹ rất lo âu. Vì vậy trong trường hợp này các bà mẹ cần cho bé đến khám BS chuyên khoa để nhanh chóng đánh giá đúng mức và chẩn đoán chính xác.

–   Việc tiến hành thăm dò chức năng hô hấp là vô cùng hữu ích ở người lớn và ở trẻ lớn giúp phát hiện không ít các trường gợp gọi là “Suyễn giấu mặt”. Nhưng ở trẻ nhỏ, các phương pháp này lại thường rất khó và thậm chí là không thể thực hiện được. Vì vậy, khi trẻ có triệu chứng nghi ngờ là suyễn thì cần thiết phải được đưa trẻ đi khám chuyên khoa để có định bịnh chính xác và khi cần loại trừ các bệnh khác cũng có các biểu hiện tương tự.

IV. TRẺ BỊ SUYỄN TƯƠNG LAI RA SAO ?

–   Tâm lý chung của các bậc cha mẹ là khi biết được con em mình bị suyễn thì thường rất lo lắng và thậm chí rất bi quan vì nhiều người vẫn còn giữ những ấn tượng không sáng sủa về những người thân từng đau khổ vì suyễn trong quá khứ. Tuy nhiên ngày nay với sự tiến triển của y học, người ta ngày càng tìm ra được nhiều loại thuốc cắt cơn cũng như dự phòng rất hiệu quả và an toàn. Trong chương trình GDSK trước đây chúng ta biết rằng ở người lớn tuy suyễn là một bệnh không thể chữa dứt nhưng có thể kiểm soát nghĩa là có khả năng làm giảm hoặc không để cơn suyễn tái phát thường xuyên được.

–   Riêng ở trẻ em tuy tỷ lệ suyễn có cao gấp đôi người lớn nhưng tiên lượng suyễn ở trẻ em lại tốt hơn nhiều. Ngày nay người ta thấy rằng: khoảng 20% trẻ dù bị suyễn rất sớm, ngay trong vòng 12 tháng đầu sau sinh, nhưng sẽ không còn triệu chứng sau khi trẻ được 3 tuổi. Muốn như vậy chúng ta cần phải có các biện pháp chăm sóc và điều trị thích hợp để giúp trẻ có được một triển vọng sáng sủa về sau.

V/ CẦN CHĂM SÓC TRẺ BỊ SUYỄN NHƯ THẾ NÀO ?

1. Cần tránh những nguyên nhân có thể làm khởi phát cơn suyễn:

+ Không để thú vật (chó, mèo…) trong nhà

+ Không hút thuốc lá trong nhà và ở nơi gần trẻ

+ Không để những chất nặng mùi trong nhà. Tránh dùng các loại thuốc xịt như nước hoa xịt phòng, thuốc xịt muỗi, côn trùng. Tránh nhang khói.

–   Duy trì không khí sạch và trong lành: Mở rộng cửa sổ khi trời nóng ngột ngạt, khi có khói bếp hoặc trong phòng có mùi khó chịu. Đóng cửa sổ nếu không khí bên ngoài nhiều khói xe, khói nhà máy, bụi phấn hoa.

–   Chổ ngủ của trẻ: cần được dọn dẹp sạch sẽ, ngăn nắp, gọn gàng. Không dùng gối hoặc nệm rơm. Thường xuyên giặt khăn trải giường và chăm mền bằng nước nóng, rồi phơi khô ngoài nắng. Không cho thú vật lên giường hoặc vào nơi trẻ ngủ.

–   Vấn đề ăn uống: ngoài những loại thức ăn mà trẻ bị dị ứng, các nhà chuyên môn cũng thường khuyên tránh bột ngọt, đồ hộp, lòng trắng trứng.

2/ Cần biết cách xử trí đúng khi trẻ có cơn suyễn khởi phát:

a.      Cần biết các dấu hiệu cho biết một cơn suyễn đang đến: Ho, khò khè, nặng ngực, khó thở, thức giấc về đêm. Trong trường hợp này nếu được BS hướng dẫn, cần cho trẻ dùng ngay thuốc cắt cơn tác dụng nhanh. Dù trẻ tốt lên cũng cần cho trẻ nghỉ ngơi trong 1 giờ. Nếu không, cần nhanh chóng đưa trẻ đi khám tại các cơ sở y tế.

b.     Cần biết khi nào đưa trẻ đến BV cấp cứu ngay:

Thuốc cắt cơn không có tác dụng hay chỉ có tác dụng ngắn, trẻ vẫn còn khó thở nói năng khó nhọc. Trẻ phải ngồi thở, co kéo vùng xung quanh sườn và cổ khi thở. Cánh mũi phập phồng. Và nhất là tím tái môi hay đầu ngón tay: Đây là dấu hiệu rất nguy kịch.

3/ Cần biết cách phòng ngừa suyễn ở trẻ em:

–   Nhằm mục đích giúp cho trẻ giảm hoặc không còn cơn suyễn để trẻ có thể sinh hoạt, vui chơi bình thường.

–   Mặc dù có một số trẻ có thể lên cơn suyễn khi gắng sức nhưng quan niệm ngày nay đều thống nhất rằng: không nên ngăn cản hạn chế trẻ vui chơi chạy nhảy vì sẽ để lại nhiều hậu quả không tốt cho phát triển tâm sinh lý của trẻ vốn rất dễ tự ti mặc cảm vì bệnh. Ngược lại trong trường hợp này, cần đưa trẻ đi khám chuyên khoa để các BS hướng dẫn cho trẻ dùng các thuốc ngừa cơn dạng hít hiện có nhiều nơi và rất hiệu quả trước khi trẻ vui chơi, chạy nhảy. Cũng cần nên biết là khoảng 10% vận động viên Hoa Kỳ tham dự Thế vận hội năm 1996 cũng mắc bệnh suyễn.

–   Để phòng ngừa suyễn có 2 biện pháp: biện pháp không dùng thuốc và biện pháp có dùng thuốc:

. Biện pháp không dùng thuốc: là những biện pháp chăm sóc chung như chúng ta đã nêu ở trên.

. Tuy nhiên trong một số trường hợp, trẻ cần sử dụng thuốc phòng ngừa lâu dài:

+ Khi trong một tuần: trẻ có từ 1 cơn trở lên

+ Khi trong một tháng: trên 2 lần trẻ bị thức giấc vì cơn suyễn trong đêm

+ Khi trẻ phải dùng thuốc để cắt cơn suyễn mỗi ngày.

Trong trường hợp này nhất thiết phải đưa trẻ đi khám chuyên khoa để được BS hướng dẫn dùng thuốc phòng ngừa. Đây là những thuốc dùng dưới dạng hít nên thuốc có tác dụng trực tiếp lên đường thở, rất hiệu quả, an toàn và không hề gây nghiện. Riêng đối với trẻ em lại càng cần phải được thầy thuốc hướng dẫn kỹ càng cách dùng và thường cần có những dụng cụ hỗ trợ đặc biệt để giúp trẻ sử dụng thuốc đúng cách và đạt hiệu quả tốt. Điều cần chú ý là trong trường hợp này, thời gian dùng thuốc phải đủ dài (thường là nhiều tháng) để có đủ khả năng cải thiện được tình trạng viêm đường thở vốn đã khá quan trọng. Cần cho trẻ tái khám đúng hẹn để theo dõi hiệu quả của thuốc. Điều cần ghi nhớ là cần phải tuân thủ đúng hướng dẫn của thầy thuốc và không bao giờ tự ý ngưng thuốc ngay cả khi trẻ có vẻ đã tốt hơn vì trong giai đoạn này trẻ khỏe là nhờ thuốc có tác dụng. Và dù trẻ có được dùng thuốc ngừa đi nữa thì các biện pháp chăm sóc chung là cũng không thể thiếu được

– Hiện nay tại khu vực TPHCM đã có phòng khám và quản lý suyễn dành riêng cho trẻ em tại BVND I, II.

VI/ KẾT LUẬN:

–   Suyễn ở trẻ em là một vấn đề y tế – xã hội quan trọng đòi hỏi phải có sự quan tâm đúng mức không chỉ của ngành y tế mà của cả các bậc cha mẹ vì nếu không nó sẽ như một tảng đá ngầm tai hại có thể dẫn tới những hậu quả xấu mà lẽ ra chúng ta hoàn toàn có thể tránh được.

–         Chúng ta cần chú ý phát hiện đúng lúc, chăm sóc trẻ đúng cách cũng như tuân thủ đúng mức các hướng dẫn điều trị cần thiết để giúp con em chúng ta có được điều kiện phát triển tốt để trở thành người khỏe mạnh, hữu ích cho gia đình và xã hội sau này.

1. Khò khè kéo dài có phải hen suyễn?

 * Con trai tôi gần năm tháng tuổi, từ lúc đó đến nay cháu rất hay khò khè. Đến bệnh viện khám và được cho uống thuốc nhưng không khỏi. Gần đây cháu ngủ không sâu vì bị chất dịch trong cổ làm khó thở. Triệu chứng của con tôi có phải bị hen suyễn? (Trần Kim Hoàng)

 

Th.S, BS TRẦN ANH TUẤN: Khò khè chính là biểu hiện thường gặp nhất của hen suyễn. Tuy nhiên, “khò khè kéo dài”  ở trẻ 5 tháng tuổi như con chị thì nên loại trừ các bệnh lý khác trước khi nghĩ đến hen suyễn.

 

Chẳng hạn: trẻ nhỏ bị nghẹt mũi cũng thường thở “khụt khịt” (chứ không phải “khò khè”). Trong trường hợp này chị có thể dùng nước muối sinh lý nhỏ mũi cho bé, sau đó làm sạch mũi cho bé nhiều lần. Nếu do nghẹt mũi trẻ sẽ bớt ngay. Đây là tình huống chúng tôi rất thường gặp trên thực tế, nhất là ở trẻ 2-3 tháng tuổi. Ở tuổi này các cháu thở chủ yếu bằng mũi, thế nhưng mũi các cháu lại còn hẹp và dễ bị nghẹt do các chất xuất tiết trong mũi.

– Loại trừ chứng “trào ngược dạ dày – thực quản” – vốn rất thường gặp ở trẻ nhỏ như con chị và cũng có thể cho biểu hiện tương tự hen suyễn.

 

Vì vậy, chị cần cho cháu đi khám chuyên khoa để:

– Xác định đúng là cháu khò khè hay chỉ là nghẹt mũi? Nếu là khò khè thì có phải đúng do suyễn không hay do các nguyên nhân khác?

– Xem trẻ có bị trào ngược dạ dày – thực quản hay không? Trong trường hợp này có thể cháu cũng cần được siêu âm bụng để chẩn đoán thêm.

Chúc cháu sẽ chóng khoẻ, mau ăn, chóng lớn!  

  do-kham-hen-suyen-tre-em

2. Viêm tiểu phế quản (TPQ) có liên hệ đến hen suyễn không?

 Con gái tôi 10 tháng tuổi và cháu bị ho bắt đầu từ lúc gần 5 tháng. Sáu tháng rưỡi cháu phát ban và từ đó ho không dứt – hiện cháu ho và không sốt. Có lúc dứt được một ngày rồi ho lại. Cơn ho như ho khan và ho nhiều về đêm. Khám tại BV các bác sĩ nhận định viêm TPQ cho thuốc, hết thuốc nhưng bé cứ ho.

 Khi ngủ, cả ngày hay đêm, bé thường ra nhiều mồ hôi đầu, lưng và ngực. Bé luôn bị ho khi uống sữa. Cứ ngậm vào 10 giây là ho. Ho xong uống tiếp và ho tiếp. Về gia đình, ông ngoại bé bị suyễn. Liệu kiểu ho này bé có phải là hen suyễn? (Thuỵ Lam)

 –  Th.S, BS TRẦN ANH TUẤN: Qua nhiều bằng chứng khoa học người ta nhận thấy viêm TPQ và hen suyễn có liên hệ mật thiết với nhau. Ít nhất 30% trẻ bị viêm TPQ sẽ diễn tiến thành suyễn. Khả năng này càng cao nếu có tiền căn dị ứng hay hen suyễn trong gia đình, trẻ là con trai; có tình trạng hít khói thuốc lá thụ động rong nhà; trẻ không được bú sữa mẹ hoàn toàn trong 4 tháng đầu sau sinh…

Riêng đối với cháu chúng tôi xin có một số lời khuyên:

– Tránh triệt để khói thuốc lá.

– Tránh nuôi các loại thú có lông (chó, mèo,..) nơi trẻ sống và không cho trẻ chơi với các loại thú này.

– Chú ý làm sạch sẽ nơi trẻ ở, tránh bụi bặm, diệt sạch gián.

– Chú ý làm sạch mũi cho trẻ trước khi bú

– Nên cho cháu đi khám chuyên khoa để phát hiện sớm hen suyễn (nếu có) và kiểm tra xem cháu có bị trào ngược dạ dày – thực quản hay không.        

Chúc cháu sẽ chóng khoẻ!

3.  Cách hạn chế những dị nguyên gây suyễn?

 Tôi có con trai 11 tuổi. Cháu có đơn thuốc kháng sinh đầu tiên lúc 9 tháng tuổi với chẩn đoán viêm phế quản co thắt, cơ địa dị ứng.

Trong ba năm đầu dùng nhiều kháng sinh vì viêm phế quản. Sau đó được chẩn đoán hen, dùng thuốc chống tái phát, tiêm huyết tương kháng thể; làm xét nghiệm dị nguyên tại khoa dị ứng – BV Bạch Mai nhưng không tìm ra dị nguyên.

 Phải qua 5 tuổi thì các đợt viêm phế quản mới dãn ra. Đến 7 tuổi cháu bắt đầu điều trị dự phòng hen (Flixotide) và cắt cơn hen tại Phòng tư vấn hen phế quản của BV nhi T.Ư, liều hiện tại là xịt 2 nhát (sáng, tối), cơn hen ít thấy (có đợt quá 6 tháng không có cơn).

 Kết quả xét nghiệm dị nguyên mới ở khoa dị ứng – BV Bạch Mai là con bọ nhà. Hiện cháu vẫn thường xuyên có biểu hiện dị ứng như dụi mắt, ngứa mũi, mồ hôi nhiều khi vận động. Xin bác sĩ tư vấn hướng điều trị tiếp tục. (Trần Thị Mai) 

 – Th.S, BS TRẦN ANH TUẤN: Việc phòng ngừa hen cho con bạn gồm 2 phần quan trọng: 

 1/ Tránh xa những yếu tố có thể làm khởi phát cơn hen. Đây là việc phải làm suốt đời và là điều thường … nói thì dễ, làm mới khó!

 Bạn lưu ý có rất nhiều yếu tố khởi phát khác nhau mà bọ nhà (được ghi nhận nơi con bạn) chỉ là một yếu tố. Vì vậy bạn cũng cần lưu ý và giúp trẻ tránh những yếu tố khác, chẳng hạn: nhiễm trùng đường hô hấp (là yếu tố rất quan trọng ở trẻ em), thay đổi thời tiết, khói thuốc lá, các chất gây dị ứng khác: phấn hoa, lông thú chó, mèo), gián, một số loại thức ăn, bụi nhà, các chất có mùi nồng, một số loại thuốc (nhất là Aspirin)

 Riêng đối với bọ nhà có thể áp dụng một số biện pháp loại trừ sau:

 –  Trong nhà: không khói thuốc, không dùng thảm, giữ nhà cửa thoáng khí, kể cả nhà bếp và nhà tắm. Tránh nấu bếp bằng than củi, nếu được nên dùng bếp điện. Chú ý việc vệ sinh nhà cửa: tránh các ổ bụi bặm, nên dọn lau nhà với vải ướt, nên lau sàn nhà hơn là  quét bằng chổi.

 –  Trong phòng ngủ không dùng thảm, dùng giường tổng hợp với gỗ, giặt giũ thường xuyên drap giường – gối, không dùng vải nhung len. Nên sắp xếp dọn dẹp phòng gọn gàng, tránh các ổ bụi. Chú ý thông gió phòng, hút bụi phòng và nệm mỗi tuần 1-2 lần. Nên giặt giũ chăn gối ở nhiệt độ 60oC, vệ sinh giường nệm thường xuyên (phơi nệm dưới ánh mặt trời). Nên dùng bao bọc chống thấm nước gối, nệm. Tuy vậy, bọ nhà thật sự khó diệt tận gốc và khả năng tái nhiễm sau đó cũng khá cao.

 2/ Tiếp tục phòng ngừa và theo dõi tại BV Nhi, nhất là khi việc điều trị này đang rất hiệu quả. 

Chúc cháu sẽ luôn khoẻ mạnh với sự quan tâm chăm sóc đúng mức của bạn. 

 4. Có văcxin phòng chống suyễn không?

 Tôi lập gia đình và có 2 con: 1 cháu gái 8 tuổi đang học lớp 3; một cháu trai 6 tuổi đang học lớp 1, cháu gái bình thường nhưng cháu trai có bệnh hen suyễn. Ba vợ tôi có chứng hen suyễn này.

 Tôi có một số câu hỏi sau: bệnh hen suyễn có di truyền hay lây nhiễm? Có văcxin phòng chống bệnh này? Trường hợp gia đình đi du lịch quên không mang theo máy xông khí dung mà nếu cháu lên cơn suyễn phải điều trị thế nào để cắt cơn suyễn? Bệnh hen suyễn có gây tử vong?Tại sao những lần cháu chạy nhảy, nô giỡn (mệt) nhiều thì sau đó dễ bị lên cơn suyễn? Có phải bệnh này dễ bị khi tiếp xúc với chó, mèo, bụi bặm?  (Trần Nguyên Hưng)

Th.S, BS TRẦN ANH TUẤN: 1/ Suyễn là bệnh có tính chất gia đình và di truyền nhưng hoàn toàn không phải bệnh lây nhiễm (truyền nhiễm)

 – Hiện tại, không có văcxin phòng chống suyễn. Tuy vậy, bệnh nhân suyễn nên được tiêm phòng cúm và phế cầu vì bệnh nhân suyễn rất dễ nhiễm hai loại này và dễ trở nặng hơn.

 – Bạn nên dùng dụng cụ hít định liều và có thể kèm theo buồng đệm cho trẻ nhỏ. Đã có nhiều nghiên cứu khoa học chứng tỏ nếu dùng đúng cách phương pháp này có hiệu quả tương đương xông khí dung.

 – Mỗi lần bệnh nhân lên cơn suyễn là mỗi lần bệnh nhân đều đối diện với nguy cơ tử vong vì vậy cần phải được cắt cơn sớm, đúng cách ngay tại nhà.

 –  Đây là trường hợp hen do gắng sức – vốn rất phổ biến ở bệnh nhân hen: 70-90% bệnh nhân hen có tình trạng này. Hiện nay có những biện pháp phòng chống hen do gắng sức rất hiệu quả. Bạn có thể đưa cháu đến các phòng quản lý hen để được tư vấn cụ thể.

 – Đúng là lông chó, mèo và bụi bặm là yếu tố quan trọng làm khởi phát cơn hen mà mỗi bệnh nhân hen đều phải tránh xa.      

   

5. Chỉ viêm họng có cần xông Ventolin?

 Tôi có đứa con trai, năm 7 tuổi (lớp 1) bị bệnh ho kèm theo triệu chứng hen suyễn, năm nay 10 tuổi (lớp 4), bình thường không lên cơn hen nhưng cháu bị viêm họng hay thời tiết lạnh thì khi ngủ ban đêm cháu thở nghe rít.

 

Xin hỏi bình thường không có viêm họng hay không bị ho gì thì có cần cho cháu xịt thuốc Ventolin hay uống gì để phòng ngừa bị hen khó thở, nếu  xịt như vậy hằng ngày có ảnh hưởng sức khỏe?

 

Nếu khi bị viêm họng hay ho thì ngoài thuốc trị viêm họng có cần xịt hay uống thuốc để giảm cơn khó thở? (Nguyễn Thị Thanh Thúy)

 

– Th.S, BS TRẦN ANH TUẤN: 1/ Nếu thật sự cháu không lên cơn hen mà khi ngủ vẫn nghe tiếng thở rít bất thường thì bạn cần lưu ý một số nguyên nhân khác: viêm mũi dị ứng (vốn rất hay đi kèm với hen suyễn – sẽ làm trẻ nghẹt mũi khi ngủ), hoặc do amiđan quá to (quá phát).

 

2/ Ventolin là thuốc chỉ dùng cắt cơn hen mà thôi nên không dùng khi bệnh nhân chỉ bị viêm họng. Đây là thuốc an toàn, ít tác dụng phụ. Tuy vậy nếu bệnh nhân phải dùng nhiều thì không tốt, thậm chí là nguy hiểm không phải là do thuốc có tác dụng phụ mà chính là điều này thể hiện bệnh hen đang rất không ổn (không được kiểm soát tốt). Suyễn không được kiểm soát tốt chính là yếu tố dự đoán nguy cơ bệnh nhân phải đi cấp cứu, nhập viện thậm chí tử vong do cơn hen nặng.  

 

3/ Hiện nay y học chưa thể trị dứt điểm hẳn bệnh hen, dù có một số bệnh nhi không có biểu hiện ở tuổi dậy thì. Vì vậy bạn vẫn nên tiếp tục chăm sóc cẩn thận cho trẻ như trước đây, cụ thể là vẫn nên giúp trẻ tránh những yếu tố khởi phát cơn hen và một năm 1-2 lần cũng nên cho cháu đi kiểm tra sức khoẻ định kỳ.     

 

6. Kiêng cữ thức ăn, máy lạnh và máy quạt?  

Bé của tôi 2,5 tuổi, từ năm 1,5 tuổi bé bắt đầu bị hen suyễn, cứ tái lại liên tục, khoảng hơn 10 lần/ năm, trời lạnh cũng bị, trời nóng như bây giờ cũng bị suyễn. Tôi phải mua máy để xông thuốc ở nhà cho bé.

 

Tôi rất lo lắng trước tình trạng này, đã kiêng không cho bé ăn thịt bò, tôm cua. Xin bác sĩ tư vấn cách giữ bé khoẻ mạnh. Xin hỏi nên cho bé nằm quạt hay máy lạnh thì tốt hơn (thường tôi để nhiệt độ 25-26 độ), nhà tôi ở mặt tiền đường, hơi bị bụi, vậy có cần phải lắp đặt máy lọc không khí hay? Khói đốt nhang có ảnh hưởng đến tình trạng suyễn của bé? Bé ăn trứng vịt lộn được hay không? (Nguyen Thi Kieu Trang)

 

Th.S, BS TRẦN ANH TUẤN: Bệnh nhân suyễn cần được chăm sóc và điều trị lâu dài, bao gồm:

Bạn cần lưu ý: Nhiễm trùng hô hấp là yếu tố quan trọng hàng đầu làm trẻ bị lên cơn. Vì vậy cũng tránh để cho trẻ bị nhiễm lạnh do việc sử dụng (có phần lạm dụng) quạt máy hay máy lạnh. Nếu dùng quạt không nên để trẻ nằm ngay luồng gió, chỉ nên dùng quạt như phương tiện làm không khí trong phòng được đối lưu để trẻ bớt nóng.

 

Nhiệt độ máy lạnh chỉnh trên remote thường chỉ có tính chất tương đối (do còn phụ thuộc nhiều tố khác) mà nên điều chỉnh theo nhiệt độ phòng (thường 26-27oC là vừa phải), nghĩa là bạn nên dùng thêm một nhiệt kế khác để điều chỉnh sao cho phù hợp)

 

Thật ra dị ứng thức ăn chỉ gặp trong 5-10% trường hợp trẻ mắc bệnh suyễn. Vì vậy chỉ nên tránh cho trẻ ăn những món ăn mà trẻ thật sự dị ứng.

Khói nhang là một trong yếu tố có thể làm khởi phát cơn suyễn cần tránh.    

Nếu có điều kiện lắp đặt máy lọc không khí thì đây cũng là một biện pháp tốt nhưng có điều sẽ tốn kém.     

 

– Phòng ngừa bằng thuốc (khi được chỉ định): Nếu từ 1 năm nay bé cứ bị tái lại liên tục, (khoảng hơn 10 lần/ năm) thì nhất thiết cháu phải được dùng thuốc phòng ngừa hàng ngày. Vì vậy, bạn nên đưa cháu đến các phòng khám hen suyễn để được chỉ định và hướng dẫn chi tiết.

 

7. Chỉ cần dùng máy xông tại nhà?

 

* Con em nay 8 tháng tuổi hay bị viêm phổi và đã nằm viện NĐ hai lần, bé hay bị ho, khò khè, BS bảo viêm phổi, và thường xuyên tái phát. Vậy em muốn mua máy xông khí dung về nhà cho bé được không BS, và mỗi lần xông thì em nên lấy toa thuốc như thế nào? Em tính mua mấy lần rồi nhưng có BS lại bảo không nên tự xông cho bé, em băn khoăn quá, xin BS cho em một lời khuyên.

 

 – Th.S, BS TRẦN ANH TUẤN: Nếu trẻ hay bị ho và khò khè thì có khả năng trẻ đã mắc bệnh hen suyễn. Và nếu trẻ mắc bệnh suyễn – thường xuyên tái phát – trẻ cần được chủ động phòng ngừa suyễn cẩn thận hơn là chỉ thụ động xông thuốc cắt cơn khi lên cơn.

 

Việc điều trị phòng ngừa này bao gồm: (1) Tránh những yếu tố có thể làm khởi phát cơn suyễn, (2) Phòng ngừa bằng thuốc (khi được chỉ định)

 

Chính vì thế bạn nên cho trẻ đến khám phòng khám hen để xác định chính xác chẩn đoán để có biện pháp điều trị thích hợp, hiệu quả.

 

Riêng thuốc xông bạn đề cập hoàn toàn không có hiệu quả gì trong trường hợp viêm phổi thật sự.

8. Có nên tin vào đo hô hấp ký?

– Năm 2009 sau khi con gái tôi (6 tuổi) ho nhiều, đêm thở khò khè, tôi cho đi đo hô hấp ký ở BV ĐH Y Dược và BS kết luận hen cấp độ 4 và cho thuốc xịt serities 25/125 xịt ngày 4 lần.

 

Cháu có bớt nhiều nhưng thỉnh thoảng vẫn ho lại. Sau hai lần hết thuốc tôi có đưa cháu đến phòng mạch tư. Ở đây BS cũng kết luận bị hen nhưng nói không đến cấp độ 4, vì cấp độ 4 chỉ có ngồi thở thôi và đưa ra một phác đồ điều trị khác như cho thở máy và uống 21 viên thuốc của Mỹ trong 21 ngày… Nhưng không BS nào khẳng định chữa khỏi hẳn.

 

Tôi xin hỏi con tôi bị hen ở mức độ nào? Và điều trị theo phương pháp nào thì tốt nhất? Một số bài thuốc dân gian như ăn nhện nướng, hoặc đốt xương hổ để ngửi có đúng không?  (Phạm Đức Toàn)

 

 

–  Th.S, BS TRẦN ANH TUẤN: Chúng tôi rất hiểu và thông cảm với lo lắng của bạn.

 

Phân bậc suyễn dựa trên nhiều cách: chủ quan (dựa vào các triệu chứng ban ngày, ban đêm chẳng hạn) hay khách quan (đo hô hấp ký). Nếu hô hấp ký được đo và phân tích kết quả đúng mức thì sẽ là cơ sở khách quan, chính xác cho biết mức độ thật sự của bệnh.

 

Đúng là y học hiện đại, cả tây y lẫn đông y, đều chưa thể chữa dứt hen suyễn. Tuy vậy, hiện nay chúng ta hoàn toàn có thể kiểm soát tốt hen suyễn, vì vậy bạn cũng không nên quá lo âu, nhất là khi trên thực tế cháu cũng đã bớt nhiều khi được phòng ngừa bằng thuốc.

 

Riêng tây y hiện nay đã có phác đồ điều trị chuẩn cho toàn thế giới, trong đó đã có những hướng dẫn lựa chọn các phương pháp, các loại thuốc đã được minh chứng có hiệu quả nhất hiện nay. Hiện chưa có bằng chứng khoa học nào chứng tỏ hiệu quả của các bài thuốc dân gian mà bạn đã nêu. Riêng với nhện nướng, gần đây đã có bài báo phân tích rất rõ trên báo Tuổi Trẻ mà bạn có thể tìm đọc lại được.       

 

9. Những dấu hiệu nào phải cấp cứu trẻ ngay?

Tôi ở Tân Châu, An Giang. Con tôi lúc nhỏ đã quen ngủ có quạt, nếu không sẽ ra mồ hôi và nóng nực không ngủ được, nửa đêm cháu thường hay ho và thở khò khè , đi bác sĩ lấy thuốc uống thì hết được một thời gian, sau đó lại bị.

 

Cách nay khoảng một tháng nửa đêm cháu khó thở. Như vậy có phải hen suyễn chưa? Làm gì khi trẻ lên cơn? Bệnh này có thể trị hết hẳn? Xin hướng dẫn phòng bệnh và nơi trị bệnh tốt nhất. (Nguyễn Hữu Nhân)

 – Th.S, BS TRẦN ANH TUẤN: Qua trình bày của bạn khả năng cháu mắc bệnh hen suyễn là khá cao. Vì vậy, tốt nhất bạn có thể đưa cháu đến BV Đa khoa Long Xuyên chẳng hạn để được chẩn đoán và xác định cách điều trị thích hợp.

 Khi trẻ lên cơn, cần nhanh chóng cho trẻ sử dụng thuốc cắt cơn (tốt nhất ngay tại nhà) bằng các thuốc dạng hít hay xông khí dung. Bên cạnh đó cũng cần chú ý phát hiện các dấu hiệu cần đưa trẻ đi bệnh viện cấp cứu ngay. Đó là khi trẻ có một trong những biểu hiện sau: tím tái môi hay đầu ngón tay, thuốc cắt cơn không có tác dụng hay chỉ có tác dụng trong thời gian ngắn, trẻ nói năng khó ngọc, phải ngồi thở, co kéo vùng xung quanh sườn và cổ khi thở, cánh mũi phập phồng.

 Hiện nay y học hiện đại, cả tây y lẫn đông y, đều chưa thể chữa dứt hen suyễn. Tuy vậy, hiện nay với nhiều biện pháp điều trị khác nhau, chúng ta hoàn toàn có thể kiểm soát tốt hen suyễn, nghĩa là có thể giúp bệnh nhân ít hay không lên cơn, không nhập viện và có thể có cuộc sống, sinh hoạt, làm việc bình thường, thậm chí có thể gắng sức, chơi thể dục thể thao như mọi người khác.

 

Hen suyễn là bệnh cần được theo dõi lâu dài vì vậy bạn nên chọn nơi có phòng khám chuyên khoa hen suyễn gần nơi cư ngụ của mình nhất. Trong trường hợp khó chẩn đoán hay đã điều trị nhưng chưa có kết quả tốt mới nhất thiết phải đến bệnh viện chuyên khoa tuyến cuối (như BV Nhi Đồng 1 &2, BV Đại học Y dược TP.HCM).   

10. Thai phụ bị cảm lạnh, ho… thì thai nhi có khả năng bị bệnh hen suyễn sau này? (Lê Thị Thúy Vân) 

Th.S, BS TRẦN ANH TUẤN: Nếu chỉ là ho cảm lạnh thông thường và không có yếu tố đặc biệt nào khác thì bạn không nên quá lo lắng về chuyện này

TTO thực hiện

Các nhà nghiên cứu ở Merck Research Laboratories tại thành phố Rahway, bang New Jersey (Mỹ) vừa công bố một công trình nghiên cứu khoa học, theo đó thuốc Montelukast có thể là phương thuốc trị hen suyễn rất hữu hiệu dành cho trẻ em từ 6 đến 14 tuổi mắc bệnh hen suyễn mãn tính.

montelukast-hen-suyen-tre-em

Bà Barbara Knorr và các đồng nghiệp ở phòng nghiên cứu nói trên cho biết đã thử thuốc Montelukast với 336 em có tiền sử hen suyễn kinh niên hoặc từng cơn, điều trị ngoại trú ở 47 trung tâm y khoa của Mỹ và Canada. Ngay sau một ngày uống thuốc, hiệu quả được ghi nhận khá rõ ràng. Các nhà nghiên cứu thấy rằng Montelukast chẳng những phát huy tác dụng nhanh mà còn duy trì hiệu lực trong một thời gian khá lâu. Nói chung, cuộc thử nghiệm nói trên cho thấy thuốc Montelukast dễ uống, có hiệu quả trị liệu ở bệnh nhân tuổi từ 6 đến 14. Kết quả cuộc nghiên cứu vừa được đăng trên tạp chí y khoa The Journal of the American Medical Association.

Montelukast là một trong các loại thuốc mới chữa bệnh hen suyễn. Nó chặn lại Leukotriene do các tế bào bị viêm sản xuất và tiết ra. Cũng như nhiều loại thuốc khác, thuốc Montelukast có tác dụng phụ là nhức đầu và để lại vết nhiễm khuẩn ở đường hô hấp. Tuy nhiên, trong tổng số 336 bệnh nhân uống thuốc này, chỉ có 11 trường hợp phải ngưng thuốc do tác dụng phụ kể trên. Tác dụng phụ đó không phụ thuộc vào giới tính, tuổi tác hay chủng tộc của bệnh nhân.

Tưởng cũng nên biết hen suyễn là bệnh mãn tính thường thấy ở trẻ em. Cứ 10 em thì có 1 mắc phải bệnh này. Mỗi năm, ở Mỹ có khoảng 2,2 triệu trẻ em đến bác sĩ xin chữa bệnh này.

Người lao động 16-5

Th.s, BS Trần Anh Tuấn – Trưởng Khoa Hô hấp BV Nhi đồng I TP.HCM  tiếp tục tư vấn 20 vấn đề về bệnh hen suyễn mà bạn đọc quan tâm.

hen-suyen-tre-em

1. Xin hỏi triệu chứng nghi ngờ hen suyễn ở trẻ em? Cách hạn chế bệnh không do yếu tố duy truyền? (Nguyễn Thanh Loan)

 *Th.s, BS TRẦN ANH TUẤN:

* Cần nghi ngờ là suyễn khi trẻ có bất kỳ dấu hiệu sau :

 -Ho tái đi tái lại nhiều lần, nhất là khi chỉ xuất hiện hay trở nặng hơn về ban đêm

-Khò khè , cơn khó thở tái phát

-Khò khè , khó thở xuất hiện hay nặng hơn khi trẻ tiếp xúc với các yếu tố nào đó (còn gọi là yếu tố khởi phát) như thay đổi thời tiết, thức ăn,…Khi này bạn cần cho trẻ đi khám. Thông thường sẽ dễ chẩn đoán khi trẻ đang trong cơn suyễn. Còn khi ngoài cơn, có thể đo hô hấp ký để chẩn đoán khi trẻ từ 6 tuổi trở lên.

*Bệnh hen suyễn do nhiều nguyên nhân khác nhau cùng góp phần làm bệnh hình thành và phát triển. Đó là:

– Cơ địa của chính người bệnh: yếu tố di truyền, cơ địa dị ứng. Ngoài ra còn có một số yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh hen như béo phì, suy dinh dưỡng, sanh non, trẻ trai.

-Yếu tố môi trường: dị nguyên (chất gây dị ứng) trong nhà (bụi nhà, mạt, lông thú, gián, nấm mốc, …), dị nguyên ngoài nhà (bụi, phấn hoa, nấm mốc, hoá chất, …), nhiễm trùng, khói thuốc lá, ô nhiễm môi trường không khí, …Như vậy để hạn chế nguy cơ hen suyễn, cần tránh xa, loại bỏ các yếu tố nguy cơ trong môi trường kể trên.

2.Trẻ hen suyễn khỏe hơn trong môi trường lạnh?

* Con trai tôi 34 tháng tuổi, đường hô hấp của cháu rất nhạy cảm, khí hậu thay đổi là cháu có hiện tượng khò khè trong từng hơi thở, vẫn ăn và chơi rất ngoan, nhưng khi ngồi bên cạnh tôi có thể nghe rõ từng hơi thở khò khè trong cổ họng .

  

Tôi đưa cháu đi bác sĩ và được cho toa thuốc, nhưng chỉ mang tính cấp thời, và vẫn tái phát khi có thể , việc tái phát này rất thường xuyên, sau vài ngày khò khè cháu thường có hiện tượng ho nhiều, kèm với chảy mũi liên tục.

  

Xin cho biết cách chữa trị dứt điểm? Khi tôi đưa cháu đi nước ngoài, với thời tiết âm 12 độ, đường hô hấp cháu rất tốt, không có hiện tượng trên. (Tạ Hồng Quyên )

* Con tôi được 51 tháng, 15.5kg bị ho thường xuyên, mỗi lần tái phát thường BS cho uống Klamentin+Prednison+ Salbutamal nhưng không hết, phải nhập viện tiêm thuốc kháng sinh Cefixime kèm theo phun thuốc khoảng 1 tuần là hết. Xin hỏi BS cách phòng ngừa tái phát cho cháu như thế nào là hiệu quả? (Nguyễn Thanh Văn)

 *Th.s, BS TRẦN ANH TUẤN: Để phòng ngừa suyễn cần :

– Tránh xa những nguyên nhân khởi phát cơn suyễn: nhiễm trùng đường hô hấp, thay đổi thời tiết, khói thuốc lá, phấn hoa, lông thú (chó, mèo), gián, một số loại thức ăn, bụi nhà, các chất có mùi nồng, một số loại thuốc (nhất là Aspirin )

– Sử dụng thuốc phòng ngừa lâu dài nếu bệnh suyễn của trẻ không được kiểm soát tốt, trẻ thường xuyên có triệu chứng, nhất là khi trẻ đã từng nhập viện do cơn suyễn nặng.

*Th.s, BS TRẦN ANH TUẤN: Khi bạn đưa cháu đi nước ngoài, bé lại khoẻ hơn có khả năng do bé ít bị ảnh hưởng bởi tình trạng ô nhiễm môi trường hơn và có có thể do mạt nhà (một yếu tố gây dị ứng quan trọng) không phát triển được trong môi trường lạnh đến như vậy.

3. Cắt cơn nhanh nhất bằng cách nào?

* Tôi có con 3,5 tuổi bị hen suyễn nhẹ, cho tôi hỏi khi cháu lên cơn hen suyễn thì bước đầu tiên phải làm là gì, thưa BS? (Phạm Văn Nhân)

*Th.s, BS TRẦN ANH TUẤN:  –  Phát hiện sớm khi trẻ bắt đầu có biểu hiện lên cơn:

Một số trẻ có các triệu chứng báo trước như: hắt hơi, nhảy mũi, ngứa mắt mũi, nổi mề đay , …

Khi lên cơn, trẻ có biểu hiện: ho, khò khè, khó thở ở nhiều mức độ khác nhau (thở ra khó khăn, kéo dài, thở nhanh hay co lõm lồng ngực )

– Nếu đã được thầy thuốc hướng dẫn, cần cho trẻ dùng thuốc cắt cơn tác dụng nhanh (dưới dạng hít hay xông). Chẳng hạn, cho trẻ dùng ngay Ventolin xịt (với dụng cụ hỗ trợ đặc biệt gọi là buồng đệm), có thể lặp lại lần thứ 2 sau 20 phút. Cần tránh cho trẻ uống thuốc cắt cơn vì các loại thuốc uống có tác dụng yếu và chậm hơn nhiều. Nếu không có điều kiện dùng thuốc cắt cơn, nên nhanh chóng đưa trẻ đến ngay cơ sở y tế để được cắt cơn kịp thời.

– Cần lưu ý cần cho trẻ đi cấp cứu ngay khi trẻ có 1 trong những dấu hiệu sau:

Khi dùng thuốc cắt cơn mà trẻ vẫn không bớt khó thở hay chỉ giảm tạm thời.

Trẻ nói năng khó nhọc: không thể nói thành câu liên tục

Trẻ khó thở nhiều phải ngồi thở, co kéo vùng chung quanh xương sườn và vùng cổ .

Cánh mũi phập phồng

Tím tái (đây là dấu hiệu rất nguy kịch )

4. Khò khè bao nhiêu lần sẽ nghi hen?

* Con gái tôi 17 tháng tuổi. Lúc cháu 1,5 tháng tuổi cháu bị ho, sổ mũi, khò khè, khó thở (thở gấp), tôi đưa bé đến bác sĩ chuyên khoa nhi khám và uống thuốc. Bé khỏi bệnh. Lúc bé được 8 tháng tuổi, bé bị ho, sổ mũi, khò khè, khó thở (thở gấp) tôi đưa bé đi khám và điều trị. Bác sĩ chẩn đoán: bé bị viêm tiểu phế quản dạng hen và được điều trị khỏi.

Lần thứ 3 bé được 16 tháng tuổi, lại bị triệu chứng như trên và tôi đã đưa bé đến Bệnh viện 7 ngày điều trị bé khỏe và khỏi bệnh. Lần này, Bệnh viện chẩn đoán bé bị viêm phổi. Vậy, bác sĩ vui lòng cho tôi biết: Có thể khẳng định con gái tôi đã bị bệnh hen chưa? Nếu mắc bệnh hen rồi thì có thuốc nào đặc trị không? Tôi nghe mọi người mách bảo rằng: Tìm nhau con mèo đen cho uống là bệnh hen sẽ hết có đúng không? (Hung rau)

*Th.s, BS TRẦN ANH TUẤN: – Theo tiêu chuẩn chẩn đoán hen trẻ em đang được áp dụng trên thế giới, khi trẻ dưới 2 tuổi như con bạn đã từng bị khò khè 3 lần như vậy thì đã đủ tiêu chuẩn chẩn đoán nhất là khi trẻ cải thiện tình trạng khò khè, khó thở nhờ thuốc xông khí dung,(đây thường chính là thuốc dùng cắt cơn hen).

-Tuy hen suyễn là một bệnh không thể trị dứt được nhưng có thể kiễm soát tốt được. Cách phòng ngừa bạn tham khảo những câu tôi đã trả lời.

– Hiện chưa có bằng chứng khoa học nào chứng tỏ là phương thuốc bạn đã nêu thật sự có hiệu qủa.

5. Không điều trị đúng mức, bệnh ảnh hưởng thế nào đến đời sống trẻ?

 * Con tôi bị ho có đàm, tối ngủ khò khè khó thở, không ngủ được. Khám bệnh BS cho nhập viện chích thuốc kháng sinh, bệnh tạm ổn rồi tái phát sau vài ngày. Xin BS hướng dẫn cách điều trị? Điều trị ở đâu có kết quả tốt nhất? Bệnh để lâu ảnh hưởng thế nào?(Bạn đọc)

 

 

* Cháu tôi bị hen suyễn, gia đình cho cháu đi học trễ 1 năm vì nghĩ sức khỏe cháu yếu kém dù tôi đã đấu tranh thế nào cũng không được. Cho tôi hỏi bệnh suyễn có ảnh hưởng như thế nào đến tình trạng học tập và tham gia hoạt động của  cháu?(Bạn đọc)

*Th.s, BS TRẦN ANH TUẤN:  Biểu hiện ho, khò khè, khó thở có thể gặp ở nhiều bệnh khác nhau (như viêm tiểu phế quản chẳng hạn) chứ không chỉ riêng cho bệnh suyễn. Vì vậy, việc chẩn đoán nguyên nhân chính xác sẽ rất quan trọng và vô cùng cần thiết dù có lẽ khả năng con bạn đã mắc bệnh hen suyễn. Chính vì thế, bạn nên đưa con đến phòng khám chuyên khoa hô hấp nhi để được khám và xác định chẩn đoán.

Riêng đối với hen suyễn, nếu không được điều trị đúng mức có thể có nhiều hậu quả xấu:

– Trẻ thường xuyên lên cơn suyễn và mỗi khi trẻ lên cơn là mỗi khi trẻ có thể đối diện với nguy cơ tử vong.

– Suy hô hấp mạn và suy tim mạn nếu diễn tiến quá nhiều năm mà không được điều trị

– Ảnh hưởng đến phát triển thể chất: suy dinh dưỡng, biến dạng lồng ngực

– Ảnh hưởng đến phát triển tinh thần: tâm lý mặc cảm, học kém do trẻ phải nghĩ học thường xuyên

– Tốn kém thời gian, tiền bạc, ảnh hưởng đến c ông ăn việc làm của cha mẹ.

6.  Hạn chế bệnh trong gia đình có người hen suyễn ra sao?

* Tôi có hai con nhỏ, bé trai năm nay được 33 tháng, bé gái được 9 tháng tuổi. Xin hỏi: bà cố của các con tôi bị hen suyễn, vậy khả năng các con tôi có bị di truyền qua mấy thế hệ không? Một số người già truyền miệng rằng ăn thịt con dơi thì sẽ trị được bệnh hen suyễn, xin hỏi thông tin này có chính xác không? (Vũ Thị Hương Giang)

Th.s, BS TRẦN ANH TUẤN:  Hen suyễn là bệnh có tính chất gia đình, thậm chí đã được chứng minh là có tính di truyền. Vì vậy, khả năng này là có. Tuy nhiên, không phải tất cả con cháu trong gia đình, dòng họ đều chắc chắn mắc bệnh cả, Thật vậy, ngoài yếu tố cơ địa do di truyền, yếu tố môi trường cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành bệnh hen suyễn.

Vì vậy, nếu gia đình có người mắc bệnh hen suyễn, có một số lời khuyên như sau để có thể giảm thiểu nguy cơ hen suyễn cho trẻ:

– Bà mẹ cần tránh khói thuốc lá kể cả hít thụ động ngay từ khi mang thai. Khám thai định kỳ, tránh sanh non.

– Sau khi sanh: cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn càng lâu càng tốt ( ít nhất phải trong 4 tháng đầu), tránh hít khói thuốc lá thụ động. Tránh cho trẻ tiếp xúc gần gũi với nhũng yếu tố dễ gây dị ứng: chó mèo, khói bụi  (khói bếp, khói nhang, khói công nghiệp,…). Dọn dẹp nhà cửa gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ.Hiện chưa có bằng chứng khoa học về hiệu qủa của phương thức bạn vừa nêu.

7. Có thể tự khỏi bệnh hay không?

*Con em 30 tháng. Bé bị bệnh suyễn nhẹ, cơn trung bình lúc bé 15 tháng. Thời gian đầu mới phát hiện, bé lên cơn 2-3lần/tháng.

 

Nửa năm trở lại đây, bé lên cơn giảm lần hơn (2tháng/lần). Chứng tỏ bệnh của bé thuyên giảm rất nhiều. Vậy cho em hỏi bệnh của Bé có thể chữa trị dứt được hay không?”. Căn bệnh suyễn này có ảnh hưởng đến đường tiêu hóa của bé không? Em có nên đổi lọai sữa bé đang dùng không? (Hồng Vi) 

 

* Tôi có cháu trai , năm nay 5 tuổi. Lúc nhỏ cháu bị hen phế quản dạng suyển nhũ nhi, bệnh của cháu kéo dài đến 4 tuổi thì tần suât giảm lần từ mỗi tháng xuống 1 lần/năm. Tôi muốn hỏi tòa soạn bệnh cháu có tự khỏi không?(Tran Minh Man)

  

* Con tôi được 17 tháng tuổi nhưng cháu bị viêm phế quản từ 7 tháng tuổi đến nay. Tôi có cho cháu lên bệnh viện khám thì các BS chuẩn đoán cháu bị hen suyễn và có cho thuốc ngừa thì cháu cũng đỡ. Xin hỏi trong gia đình không có ai bị suyễn vậy bệnh suyễn của cháu bao giờ mới khỏi mà không cần dùng đến thuốc ngừa? (Nguyễn Hữu Tài)

Th.s, BS TRẦN ANH TUẤN:   Hiện nay y học hiện đại (đông hay tây y) có thể giúp khống chế tốt bệnh hen (thường gọi là kiểm soát hen) nhưng đều chưa thể chữa dứt bệnh này được.

Tuy nhiên, người ta cũng ghi nhận rằng tiên lượng bệnh suyễn ở trẻ em tốt hơn ở người lớn. Thật vậy, khoảng 20-30% trẻ suyễn sẽ không còn triệu chứng khi trẻ quá 3 tuổi và khả năng này sẽ cao hơn nếu trong gia đình không có cơ địa dị ứng (hen suyễn, chàm, viêm mũi dị ứng). Rất mong con bạn sẽ trong trường hợp này!

Tuy nhiên, dù con bạn diễn tiến tốt trước mắt nhưng về lâu dài bạn vẫn nên tiếp tục giúp cháu tránh những yếu tố có hại từ môi trường có thể làm cơn hen lại bộc phát.

Cần lưu ý là bệnh hen suyễn – một loại bệnh dị ứng đường hô hấp – có khả năng và cũng thường kết hợp với các bệnh dị ứng khác mà dị ứng với sữa bò là một biểu hiện không phải hiếm ở trẻ em. Vì vậy, bạn nên cho cháu đi khám chuyên khoa để xác định chính xác điều này.

8. Ho về đêm có phải hen suyễn?

* Con tôi hay ho đêm từ tết âm lịch (2010) đến nay khoảng hơn 4 tuần. Con tôi ho khoảng 23-24g đêm và 4-5g sáng, mỗi lần ho có thể từ 2-5 tiếng. Ban ngày cháu bình thường. Tôi đang cho cháu uống (bổ phế của Nam Hà). Tôi xin hỏi BS đó có phải là triệu chứng hen suyễn không? Cần kiểm tra BS chuyên khoa BV Nhi đồng 1 hay Nhi đồng 2, có khám ngoài giờ hành chính không? (Đỗ Thanh Phong)

– Th.s, BS TRẦN ANH TUẤN:  Ho về đêm là biểu hiện cần nghi ngờ hen suyễn nhưng không phải là đã chắc chắn bị hen suyễn. Vì vậy để xác định chẩn đoán bạn nhất thiết phải đi khám chuyên khoa hô hấp nhi – tại BV Nhi Đồng 1 hay 2 chẳng hạn. Riêng tại BV Nhi Đồng 1 có lịch khám chuyên khoa hô hấp ngoài giờ vào sáng thứ bảy hàng tuần (phòng E10).

9. Mua loại dụng cụ phòng ngừa nào phù hợp?

 *Tôi có cháu bị suyễn từ nhỏ. Hiện tại cháu ăn uống tốt, tuy nhiên họng của cháu lâu lâu có rất nhiều đàm. Tôi muốn mua loại máy phun khí dung tại nhà cho cháu, nhưng không biết mua loại nào. Và sử dụng liều lượng thuốc như thế nào là đúng? Cháu có phải kiêng loại thức ăn nào không?(Hoàng Anh)

Th.s, BS TRẦN ANH TUẤN:  – Phun khí dung là một biện pháp điều trị hen hiệu quả nhưng thường chỉ được khuyên dùng trong cắt cơn hen nặng (phun với Oxygen) hay khi bệnh nhân không thể hợp tác để có thể dùng các dụng cụ hít khác.

– Riêng để phòng ngừa, sử dụng các dụng cụ hít khác (như ống hít định liều, ống hít bột khô)  lại là phương pháp được khuyến cáo vì  cũng hiệu quả lại gọn nhẹ, có thể mang đi xa được mà không phụ thuộc vào máy móc và nguồn điện. Chưa kể nếu dùng thuốc corticoid hít để phòng ngừa thì  sử dụng các dụng cụ hít khác sẽ giúp giảm thiểu tác dụng phụ so với khi phun khí dung.

Câu lạc bộ cha mẹ bệnh nhi hen suyễn của BV Nhi Đồng 1 (tổ chức sinh hoạt vào chiều thứ năm tuần đầu mỗi tháng ) thường xuyên có hướng dẫn sử dụng các loại dụng cụ hít và cả cách sử dụng máy phun khí dung. Xin mời bạn thu xếp tham dự buổi sinh hoạt sắp tới vào ngày 1-4-2010.

-Thường chỉ cần kiêng ăn khi có bằng chứng chắc chắn là trẻ dị ứng với một loại thức ăn cụ thể nào đó. Cần lưu ý là chỉ 5-10% trẻ suyễn thật sự có vấn đề này mà thôi. Dự kiến sáng thứ bảy đầu tháng 5-2010, chúng tôi cũng sẽ tổ chức nói chuyện chuyên đề về hen trong đó có vấn đề dinh dưỡng cho trẻ mắc bệnh hen. Nếu quan tâm xin bạn chờ thông báo trên trang web BV Nhi Đồng 1 (www.nhidong.org.vn) để tham dự. Mong gặp và trao đổi với bạn nhiều thêm.

10. Hen do không lấy hết nhớt đàm?

* Tôi có một đứa con trai nay được 30 tháng tuổi, cháu bị hen  lúc cháu gần 12 tháng tuổi, từ đó đến nay cứ gần 6 tháng là cháu phải nhập viện 1 lần, tôi rất lo lắng. vậy bác sỹ cho tôi hỏi: Có phải khi sinh cháu, không lấy hết nhớt trong người cháu ra hay không? nguyên nhân nào dẫn đến bệnh? (tranquochoi)

Th.s, BS TRẦN ANH TUẤN:  Hen suyễn là bệnh do yếu tố cơ địa của bệnh nhân (đặc biệt là do di truyền) và có tác động từ môi trường xung quanh chứ hoàn toàn không phải do việc trẻ “không được lấy hết nhớt khi sinh”.

Bạn có thể tham khảo thêm những phần trả lời trên đây của chúng tôi để chăm sóc cháu tốt hơn và bớt lo lắng phần nào.

11. Kháng sinh có điều trị được hen suyễn?

* Bé nhà em được 28 tháng. Cứ khoảng hơn 1 tháng là bé ho, khò khè và đi khám bệnh thì được chẩn bệnh là viêm phế quản co thắt. Uống thuốc thì bớt.

 Như vậy, mỗi tháng bé đều phải uống một lượng kháng sinh (mỗi lần uống thuốc đều có kháng sinh) vào cơ thể mà thương cho bé. Xin Bác cho em lời khuyên. (Lê Thị Hồng Ngọc)

* Th.s, BS TRẦN ANH TUẤN:  Qua trình bày của bạn, nhiều khả năng cháu đã mắc bệnh hen suyễn. Bạn cần cho cháu đi khám chuyên khoa hô hấp nhi để có chẩn đoán chính xác để có điều trị phù hợp vì không một loại kháng sinh nào có thể điều trị được hen suyễn.

12.  Sử dụng khí dung thường xuyên có tốt không?

*Tôi có 1 cháu trai 4 tuổi. Gia đình có ông nội có bệnh viêm phổi tắc nghẽn mãn tính,  khi trở trời (thay đổi thời tiết) rất hay bị viêm phổi và đi bác sĩ nhi đồng thường cho uống thuốc khoảng hơn 1 tuần thì khỏi (có sử dụng khí dung để thở – bác sĩ nói là giúp để long đàm và làm trong phổi hơn)

Xin hỏi: việc sử dụng khí dung thường xuyên (1 ngày 2 lần trong 1 đến 2 tuần) cho trẻ nhỏ như thế có tác dụng phụ gì không? Cách thức chăm sóc và sử dụng thuốc phù hợp để cháu không bị viêm phổi mạn?(Bạn đọc)

* Xin tư vấn làm thế nào để giảm tần xuất lên cơn hen của trẻ? Nếu trẻ thở khò khè nhưng vẩn sinh hoạt hoạt chơi đùa bình thường (trừ lúc bắt đầu nằm ngủ) thì có nên xông thuốc ventolin? Xông ventolin thường xuyên có làm trẻ bị lờn thuốc? (Nguyễn Đăng)

Th.s, BS TRẦN ANH TUẤN:  – Để giảm tần suất cơn hen và hơn hết là để trẻ có thể phát triển toàn diện như mọi trẻ khác, bạn cần giúp cháu:

– Tránh xa những nguyên nhân khởi phát cơn suyễn: nhiễm trùng đường hô hấp (là yếu tố rất quan trọng ở trẻ em), thay đổi thời tiết, khói thuốc lá, phấn hoa, lông thú (chó, mèo), gián, một số loại thức ăn, bụi nhà,các chất có mùi nồng, một số loại thuốc (nhất là Aspirin )

– Sử dụng thuốc phòng ngừa lâu dài nếu bệnh suyễn của trẻ không được kiểm soát tốt, trẻ thường xuyên có triệu chứng, nhất là khi trẻ đã từng nhập viện do cơn suyễn nặng.

* Nếu bạn dùng khí dung Ventolin thì bạn lưu ý đây là thuốc chỉ dùng cho cắt cơn hen mà không có tác dụng phòng ngừa. Tuy đây là thuốc an toàn, ít tác dụng phụ nhưng nếu bệnh nhân phải dùng nhiều thì điều không tốt thậm chí là nguy hiểm, không phải là do thuốc có tác dụng phụ mà chính là điều này thể hiện rằng bệnh hen đang rất không ổn (không được kiểm soát tốt). Hen suyễn không được kiểm soát tốt chính là yếu tố dự đoán nguy cơ bệnh nhân phải đi cấp cứu, nhập viện thậm chí tử vong do cơn hen nặng.

Nếu bạn dùng thuốc corticoid (như Pulmicort chẳng hạn) để phòng ngừa, thì thời gian điều trị chỉ 1 vài tuần là không đủ. Bên cạnh đó phun khí dung sẽ có thể có nhiều tác dụng phụ hơn so với việc dùng ống hít định liều (nấm miệng, khàn tiếng, thậm chí chậm tăng trưởng nếu dùng liều cao và kéo dài)

Vì vậy, nhất thiết bạn nên đưa cháu đi khám chuyên khoa để được hướng dẫn cách điều trị phù hợp, hiệu quả nhất.

13.  Có nên cho trẻ ăn kiêng?

* Con gái tôi được 30 tháng, nặng 12kg. Từ sau khi bé được 24 tháng Bé thường xuyên bị ho, có khi kèm sổ mũi, nôn ói khi ho. Tôi cho Bé khám ở BVNĐ thì được chẩn đoán là hen suyển. Mong bác sĩ cho biết con tôi có thực sự bệnh hen suyễn và tôi có nên kiêng ăn cho bé không?

Ba của bé là thợ kim hoàn, có sử dụng than đá, thạch cao, sáp nguội để đúc khuôn mẫu tại nhà, cho hỏi có ảnh hưởng gì đến bệnh của bé không? (Thanh Nhã)

Th.s, BS TRẦN ANH TUẤN:  Qua trình bày của bạn có lẽ thật sự là cháu đã mắc bệnh hen suyễn. Tắc chưng đường, tần dầy lá chỉ là thuốc điều trị triệu chứng ho mà thôi chứ không hề có hiệu quả gì trong điều trị suyễn.

Bạn cần lưu ý là khói than đá và bụi thạch cao cũng là yếu tố kích phát cơn hen phổ biến mà bệnh nhân hen suyễn nên tránh.

Thường chỉ cần kiêng ăn khi có bằng chứng chắc chắn là trẻ dị ứng với một loại thức ăn cụ thể nào đó. Cần lưu ý là chỉ  5-10% trẻ suyễn thật sự có vấn đề này mà thôi và trẻ suyễn vẫn cần được dinh dưỡng đầy đủ như mọi trẻ khác.

*14.  Xuống đồng bằng sẽ bớt hen?

* Con tôi thường bị viêm phế quản dạng hen, vậy tôi phải làm thế nào để phòng bệnh cho cháu, nếu chuyển về sống ở đồng bằng cháu có hết bệnh không? (Tống Gia)

Th.s, BS TRẦN ANH TUẤN:  Hiện nay, theo khuyến cáo chung của thế giới, thuật ngữ “viêm phế quản dạng hen” không còn nên sử dụng nữa vì dễ gây nhầm lẫn và thậm chí sẽ làm chậm trể việc điều trị hen mà nhiều cháu đang thật sự cần.

Về việc phòng ngừa hen, xin bạn tham khảo các câu trả lời trên của chúng tôi.

Người ta ghi nhận tình trạng ô nhiễm môi trường, đô thị hoá chắc chắn có tác động không nhỏ lên bệnh hen suyễn. Trên thực tế, tỷ lệ hen suyễn ở thành thị cũng thường cao hơn nông thôn (có lẽ là “đồng bằng” – theo ý bạn?!). Tuy vậy, việc áp dụng các biện pháp phòng ngừa mà chúng ta đã nêu có lẽ ít phức tạp hơn việc chuyển nơi ở, nơi làm việc của bạn. Mặt khác ở nông thôn (có lẽ là “đồng bằng” – theo ý bạn?) cũng không phải là không có yếu tố bất lợi từ môi trường có thể ảnh hưởng xấu đến bệnh hen suyễn (cỏ, phấn hoa, bụi bặm chẳng hạn).

15. Thở mạnh đến đâu mới là lên cơn hen suyễn?

 

* Tôi có 1 bé được 2 tuổi rưỡi . Khi ngủ bé thường phát ra âm thanh rất lớn nếu nằm ngửa. Còn nằm nghiêng hoặc nằm sấp thì chỉ nghe thở nhè nhẹ thôi. Lúc bé khoảng 1,5 tuổi có lần tôi đem bé đi khám vì bé khò khè khi ngủ thì được chẩn đoán bị hen suyễn. Nhưng cũng nhiều BS cho rằng bé chỉ ngáy thôi. Xin giúp tôi nhận biết (Huỳnh Vũ Ngọc Trâm)

– Th.s, BS TRẦN ANH TUẤN: – Triệu chứng bạn đã nêu khi cháu ngủ có lẽ là do hiện tượng nghẽn tắt đường hô hấp trên chẳng hạn: nghẹt mũi (trẻ bị hen rất thường kèm viêm mũi dị ứng), VA, amiđan to (“quá phát”), hay chỉ đơn giản là do khẩu cái mềm, lưỡi gà bị chùng xuống khi trẻ ngủ ở tư thế nằm ngửa.

– Triệu chứng nhận biết trẻ lên cơn:

Một số trẻ có các triệu chứng báo trước như: hắt hơi, nhảy mũi, ngứa mắt mũi, nổi mề đay , …

Khi lên cơn, trẻ có biểu hiện: ho, khò khè, khó thở ở nhiều mức độ khác nhau: thở ra khó khăn, kéo dài, thở nhanh hay co lõm lồng ngực…

16. Liều lượng khí dung phù hợp?

* Cho hỏi khi trẻ khò khè, khó thở gia đình có nên tự cho bé hít khí dung (có máy ở nhà) được không ? Nếu có thì liều lượng bao nhiêu cho 1 lần? Một  ngày nên hít bao nhiêu lần? Khi bé giảm dần nên cho bé uống thuốc gì? (Bạn đọc)

Th.s, BS TRẦN ANH TUẤN: – Khi phát hiện sớm là trẻ có biểu hiện lên cơn,  bạn có thể cho cháu xông ngay thuốc cắt cơn tác dụng nhanh, chẳng hạn Ventolin, có thể lặp lại lần thứ 2 sau 20 phút nếu trẻ còn khó thở.

Liều lượng 1 lần phun: Ventolin:  0,15mg x cân nặng của trẻ (tính bằng kg), liều tối thiểu: 1,25-1,5mg/ 1 lần, tối đa: 5mg/1 lần phun. Thường phải pha thêm nước muối sinh lý cho đủ 2,5-3ml khi phun.

– Nếu trẻ vẫn chưa bớt sau 2 lần khí dung này hay khi trẻ có một trong các dấu hiệu nặng bạn cần cho trẻ đi cấp cứu ngay.

Bạn cần lưu ý là dù trẻ đã bớt sau khi được phun khí dung, bạn cũng cần cho trẻ đi khám bệnh ngay vì đây chỉ là điều trị cấp cứu, không phải là điều trị căn bản lâu dài. Đặc biệt là khi trẻ lên cơn, có thể là dấu hiệu bệnh hen đã không được kiểm soát tốt, thậm chí có chiều hướng xấu đi. Các bác sĩ sẽ giúp bạn đánh giá điều này va hướng dẫn bạn cách phòng ngừa tốt hơn, căn cơ, triệt để hơn.

17. Về  thuốc Pulmicort?

* Cha tôi và tôi bị hen suyễn, tuy nhiên bây giờ không còn nữa. Con tôi (hiện nay 28 tháng tuổi)  BS chẩn đoán cũng bị hen, khò khè. Mỗi khi cháu bị ngoài việc cho toa thuốc uống BS còn cho xông ventolin, đôi khi thêm pulmicort. Hai loại thuốc này sử dụng thường xuyên có tác dụng phụ gì không? (Đỗ Minh Khâm):

Th.s, BS TRẦN ANH TUẤN: Về Ventolin đã được trả lời qua các câu trên.

Pulmicort là loại thuốc corticoid dạng hít, có hiệu quả trong phòng ngừa là chính tuy gần đây cũng đôi khi được dùng phối hợp với Ventolin trong cắt cơn (nhưng phải dùng với liều cao). Thuốc dùng dạng hít nói chung có ít tác dụng phụ hơn là dùng đường tiêm chích hay đường uống.

Tuy nhiên, khi dùng dưới dạng phun khí dung sẽ có nhiều tác dụng phụ hơn so với việc dùng ống hít định liều (nấm miệng, khàn tiếng, thậm chí chậm tăng trưởng nếu dùng liều cao và kéo dài). Bên cạnh đó, nếu chỉ thỉnh thoảng mới dùng hoặc chỉ điều trị vài ngày, vài tuần thì hoàn toàn là không đủ để kiểm soát (“khống chế”) bệnh hen. Vì vậy, nhất thiết bạn nên đưa cháu đi khám chuyên khoa để được hướng dẫn cách điều trị phù hợp, hiệu quả nhất.

18. Khi nào được dừng thuốc uống phòng ngừa?

*Bé nhà em hiện được 21 tháng tuổi. Lúc 16 tháng tuổi, bé nhập viện Nhi Đồng 1 và được chẩn đoán viêm tiểu phế quản. Về nhà được 2 tháng sau, bé thở khò khè, trở lại khám bệnh và được chẩn đoán hen suyễn. Bác sĩ cho ngừa ngày xịt 2 lần, mỗi lần 1 nhát thuốc Flixotide. Bé đã ngừa đến bình thứ 2. Xin hỏi bác sĩ sẽ ngừa đến khi nào có thể dừng thuốc?(Nguyễn Thị Khánh Linh)

Th.s, BS TRẦN ANH TUẤN:  Khi đã được chỉ định dùng thuốc ngừa (bằng Flixotide chằng hạn), bạn cần kiên trì cho cháu dùng trong 1 thời gian dài theo đúng hướng dẫn của bác sĩ và không nên tự ý ngưng thuốc dù trẻ có vẽ đã tốt hơn.

Bạn cần lưu ý rằng: việc tự ý ngưng đột ngột thuốc phòng ngừa đôi khi có thể là yếu tố nguy cơ khiến bệnh nhi lên cơn nặng, thậm chí nguy kịch nữa.

Ngay trong trường hợp tốt nhất, liều điều trị ban đầu thông thường sẽ được duy trì trong vài tháng (1,3 hay 6 tháng tùy trường hợp). Sau đó sẽ giảm liều (chuyển sang dùng 1 lần / ngày chẳng hạn) tiếp trong vài tháng (thường ít nhất 3-6 tháng).

Chỉ có thể ngưng thuốc nếu đã kiểm soát được hen ít nhất 1 năm và đang ở liều điều trị thấp nhất ít nhất 1 năm.

Chính vì thế mọi việc giảm liều, ngưng thuốc không đơn giản chút nào phải không bạn và cần được thực hiện cẩn thận với sự chỉ định và theo dõi đúng mức của bác sĩ.

19. Về những loại thuốc phòng ngừa?

* Con trai tôi được 28 tháng tuổi, BS địa phương chẩn đoán cháu bị suyễn. Xin BS cho hỏi có thuốc dự phòng (ngừa cơn hen) cho trẻ ở độ tuổi này không? Mua ở đâu và cách sử dụng như thế nào? ( Nguyễn Tiến Điền)

Th.s, BS TRẦN ANH TUẤN:  Bạn quan tâm đến việc dùng thuốc phòng ngừa cho cháu là rất đúng mức. Hiện thời có rất nhiều loại thuốc phòng ngừa hen dùng cho trẻ em như con của anh mà hàng đầu là các loại corticoid hít (chẳng hạn: Flixotide, Pulmicort). Hiện nay, còn có thuốc dùng dạng uống như là 1 điều trị thay thế: Montelukast (như Singulair, Montiget chẳng hạn)

Tuy nhiên, việc chọn lựa thuốc, xác định liều lượng, cách dùng thuốc cũng như cách theo dõi trong quá trình điều trị thì không hề đơn giản. Nhất thiết phải có ý kiến của bác sĩ trong việc phòng ngừa bằng thuốc này.

Bên cạnh đó bạn đừng quên luôn luôn phải áp dụng các biện pháp “phòng ngừa không bằng thuốc” nghĩa là phải giúp trẻ tránh xa những yếu tố bất lợi từ môi trường có thể làm cháu khởi phát cơn hen.

20. Tự chẩn đoán?

* Con tôi là nữ, 10 tháng tuổi, từ lúc sinh ra đến nay khi thở nghe khò khè, đặt tay lên lưng có nghe rõ luồng thở. Tuy nhiên cháu lại không có biểu hiện khó thở, ăn uống bình thường và rất khỏe mạnh, hiếu động. Cháu cũng thường bị sổ mũi, lúc 1 tháng bị ho. Hiện nay tình trạng khò khè vẫn còn. Chúng tôi lo quá, xin bác sỹ tư vấn giúp. (Trọng Phúc)

Th.s, BS TRẦN ANH TUẤN:  Khò khè chính là biểu hiện thường gặp nhất của hen suyễn. Tuy nhiên, đôi khi “khò khè” lại là một triệu chứng không hề dễ dàng xác định chính xác nếu không thăm khám cẩn thận. Thật vậy, người ta đã từng ghi nhận trên 50% trường hợp các bậc cha mẹ có thể nhận định sai dấu hiệu hày. Chẳng hạn: trẻ nhỏ bị nghẹt mũi cũng thường thở “khụt khịt” (chứ không phải “khò khè”).

Trong trường hợp này, chị có thể dùng nước muối sinh lý nhỏ mũi cho bé, sau đó làm sạch mũi cho bé nhiều lần. Nếu do nghẹt mũi trẻ sẽ bớt ngay sau khi làm sạch mũi. Đây là tình huống chúng tôi rất thường gặp trên thực tế mà cũng có khả năng không nhỏ là con bạn ở trong trường hợp này.

Bên cạnh đó, nếu thật sự có “khò khè” kéo dài  ở trẻ nhỏ như con chị thì ta cũng nên loại trừ các bệnh lý khác trước khi nghĩ đến hen suyễn.

Tỷ lệ mắc bệnh hen suyễn ở trẻ em ngày càng tăng cao nhưng việc điều trị đôi khi gặp khó khăn do không nhận biết sớm hoặc chẩn bệnh thiếu chính xác.

Hen suyễn là bệnh mạn tính của đường thở: các đường thở trong phổi của bệnh nhân bị viêm và hẹp lại, tình trạng này lúc nào cũng hiện diện, ngay cả khi bệnh nhân cảm thấy khỏe mạnh. Khi bệnh nhân tiếp xúc với một số yếu tố đặc biệt (yếu tố gây cơn), tình trạng viêm-hẹp đường thở sẽ tăng lên, tăng đến mức lên cơn hen: cảm thấy tức ngực, khó thở, ho, khò khè.

hen-suyen-o-tre-em

Ở VN, tỷ lệ trẻ em mắc bệnh hen suyễn khá cao và theo chiều hướng tăng dần. Theo công bố của Bộ Y tế, tỷ lệ này năm 2000 từ 8-9%, đến năm 2004 là 10%. Đặc biệt, tại TP.HCM, theo thống kê thực hiện bởi Tổ chức y tế ISAAC (chuyên nghiên cứu hen suyễn và dị ứng ở trẻ em trên toàn cầu) vào năm 2004, có đến 29,1% trẻ em bị hen suyễn, con số thuộc loại cao nhất của châu Á. Tỷ lệ cao như thế nhưng những triệu chứng bệnh hen suyễn ở trẻ em đôi khi không rõ ràng, gây khó khăn cho việc định bệnh, dẫn đến điều trị không đúng.

Hen suyễn bị nhầm thành viêm phế quản

PGS-TS Lê Thị Tuyết Lan, Chủ tịch Hội hô hấp TP.HCM, cho biết tình trạng trẻ em hen suyễn bị nhầm sang bệnh khác rất phổ biến, đặc biệt là viêm phế quản. Một trường hợp BS Tuyết Lan vừa gặp tại BV ĐH Y dược là bệnh nhi A.N, 4 tháng tuổi, bị khò khè, ho ra đàm, không sốt. Sau một tháng rưỡi được khám và điều trị ở 2 BS khác nhau, bé được chẩn đoán đến… 3 loại bệnh: viêm phế quản, nhiễm siêu vi và viêm cuống phổi. Và đi kèm theo chẩn đoán này là 4 loại thuốc kháng sinh và 3 loại thuốc tan đàm lần lượt được uống trong suốt một tháng, nhưng tình trạng ho có đàm và khó thở của bé vẫn không cải thiện. Bé A.N thật ra bị hen suyễn, sau khi được điều trị đúng thuốc hen suyễn, bệnh tình của bé đã tiến triển tốt.

Theo BS Huỳnh Thị Hồng Loan (phòng khám hô hấp, BV ĐH Y dược), bệnh hen suyễn ở trẻ em có thể bắt đầu ở bất cứ độ tuổi nào, nhưng phần lớn (từ 50-80%) phát bệnh trước 5 tuổi. Đây cũng chính là nguyên nhân khiến bác sĩ khó định bệnh hen suyễn ở trẻ em vì dưới 5 tuổi, triệu chứng bệnh không rõ ràng và đầy đủ. Trong nhiều trường hợp, trẻ chỉ có một biểu hiện duy nhất là ho nhiều (ban đêm, sáng sớm khi thức giấc) hoặc thở nặng nhọc khi gắng sức lúc chơi đùa… Trẻ ở độ tuổi này lại thường không đo được hô hấp ký nên việc chẩn đoán của BS lại càng khó khăn hơn.

Một cản trở khác lại đến từ phía phụ huynh. Nhiều bậc cha mẹ chưa từng có kinh nghiệm về hen suyễn, khi con bị một triệu chứng duy nhất là ho khan kéo dài, tái phát thường xuyên, sẽ dễ “chấp nhận” một dự đoán viêm nhiễm (viêm họng, viêm phế quản…) hơn là hen suyễn. Không hiểu biết về hen suyễn cũng dễ khiến cha mẹ xem thường hoặc nhầm lẫn các triệu chứng, như việc trẻ có những cơn thở mệt, ngắn khi đi học về thường bị cho là do áp lực bài vở nên bỏ qua và không đưa con đi khám.

Nhận biết và điều trị

Bệnh hen suyễn có tính gia đình, nếu cha, mẹ từng bị hen thì trẻ có nhiều nguy cơ bị mắc bệnh. Những trẻ bị chàm, có cơ địa dị ứng (dị ứng thức ăn, bụi bặm, khói thuốc, phấn hoa…) cũng là “đối tượng” hàng đầu của bệnh hen suyễn. 70-90% trẻ bị hen suyễn cũng bị dị ứng.

Phụ huynh nên đưa trẻ đến khám tại chuyên khoa hô hấp ngay khi trẻ có cơn hen điển hình: bắt đầu với hắt hơi, ngứa mũi, ngứa họng và càng lúc càng khò khè, khó thở, phải ngồi chồm người để thở và vận dụng các cơ hô hấp phụ. Ngoài ra, trẻ bị ho, khó thở, nặng ngực tái đi tái lại nhiều lần sau khi vận động mạnh, khi tiếp xúc với các yếu tố khởi phát cơn (bụi bặm, khói thuốc, nấm mốc…), khi thay đổi thời tiết… cũng là những dấu hiệu của hen suyễn.

Theo BS Tuyết Lan, bệnh hen suyễn không thể chữa dứt hoàn toàn nhưng có thể kiểm soát được, giúp bệnh nhân có một cuộc sống gần như bình thường. Có những trẻ mắc bệnh hen suyễn tự khỏi trong một thời gian dài, nhưng bệnh có thể tái phát bất cứ lúc nào.

Ngoài việc tuân thủ việc điều trị do BS đưa ra (uống thuốc đúng liều lượng, tái khám đúng hạn),  phụ huynh cần chú ý một số điểm sau khi có con em bị hen suyễn:

– Tránh các yếu tố gây dị ứng, khởi phát cơn: không nuôi thú vật, tránh hút thuốc gần trẻ, không để trẻ tiếp xúc với phấn hoa…

– Trong bụi bặm thường có con mạt nhà, là dị nguyên gây hen suyễn, vì vậy cần giữ nhà cửa sạch sẽ, đặc biệt là phòng ngủ. Mền, mùng, gối nên được giặt sạch bằng nước nóng thường xuyên và có đồ bao đậy bên ngoài.

– Phụ huynh và chính bệnh nhi phải được hướng dẫn rõ về bệnh hen suyễn để tự phòng tránh các yếu tố làm khởi phát cơn.

24H.COM.VN (Theo Thanh Niên)

Đại diện một số công ty nổi tiếng về xuất khẩu lao động cho rằng, khám sức khỏe là khâu đầu tiên, cũng là một trong những yếu tố quyết định sự thành bại của việc lựa chọn ứng viên.

Ông Trần Văn Thạnh, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH một thành viên dịch vụ xuất khẩu lao động và chuyên gia Suleco (thuộc Sở LĐ – TB – XH TP.HCM): “Nếu làm đúng theo quy trình chặt chẽ thì khó có những trường hợp sai sót xảy ra. Còn nếu làm ẩu (bác sĩ khám sơ sài – PV), cuối cùng người lao động phải chịu thiệt thòi. Vì qua bên kia người ta khám lại rất kỹ, có thể phát hiện bất kỳ sự gian dối nào. Lúc đó, người lao động liên quan sẽ bị cho về nước”.

 Mất uy tín nguồn nhân lực Việt vì khám sức khỏe xin việc qua quýt
Đăng ký khám sức khỏe đi làm việc ở nước ngoài tại Bệnh viện Chợ Rẫy – một trong những địa chỉ được nhiều công ty xuất khẩu lao động lựa chọn – Ảnh: Lê Thanh

Ông Thạnh nhắc lại một vụ “tráo người” trong khi khám sức khỏe xảy ra cách đây mấy năm tại tỉnh Cần Thơ. Đó là trường hợp một cô gái sau khi có giấy chứng nhận sức khỏe tốt do bệnh viện địa phương cấp, đã được đi xuất khẩu lao động sang Malaysia. Tuy nhiên, sau một thời gian ngắn, cô gái này bị phía nước bạn trả về, do sức khỏe không đạt. Lật lại hồ sơ khám sức khỏe trên, cơ quan chức năng phát hiện cô gái biết mình mắc bệnh nên đã nhờ người thân khám hộ. Đối với ca này, người lao động phải chịu phí tổn do lỗi gian dối của mình. Thế nhưng, đơn vị y tế cũng có trách nhiệm vì đã lơi lỏng, chủ quan dẫn đến việc khám không đúng người.

Tổng giám đốc Sovilaco Vũ Minh Xuyên chia sẻ kinh nghiệm: Thông tư hướng dẫn của liên bộ (giữa Bộ Y tế và Bộ LĐ – TB – XH) đã thống nhất các danh mục bệnh viện nào được khám sức khỏe đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài. Người lao động nên căn cứ vào đó, để khám ở những bệnh viện đủ tiêu chuẩn.

Còn ông Trần Anh Tuấn, Phó giám đốc thường trực Trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động TP.HCM cho rằng, một khi việc khám sức khỏe còn qua loa, mang tính hình thức khiến người lao động bị trả về nước, sẽ gây ảnh hưởng lớn không chỉ đến bản thân người lao động mà còn ảnh hưởng đến thể diện nguồn nhân lực Việt.

Để đảm bảo nên đến khám sức khoẻ tại các trung tâm uy tín. Đơn cử phòng khám CHAC

TRUNG TÂM CHĂM SÓC SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG – CHAC

Địa chỉ: Số 10 Lý Thường Kiệt, Phường 7, Quận 10, TP.HCM
Tel: (08) 39 574 933 – Fax: (08) 39 57 31 78

 

Khám Sức khỏe tổng quát đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo một thể chất khỏe mạnh và giúp bạn kiểm tra toàn diện tình trạng sức khoẻ ngay lúc không có triệu chứng bệnh. Phòng khám Đa khoa CHAC triển khai nhiều chương trình khám sức khoẻ giúp quý khách hàng có thể lựa chọn chương trình phù hợp với nhu cầu và điều kiện của mình. Quý khách có thể tham khảo và chọn lựa các chương trình khám sau:

kham-suc-khoe-tong-quat

I. KIỀM TRA SỨC KHOẺ TỔNG QUÁT THEO TUỔI

II. KIỂM TRA SỨC KHOẺ THEO YÊU CẦU – NỘI TỔNG QUÁT

Ngoài chương trình Kiểm tra sức khoẻ tổng quát theo tuổi, quý khách có thể chọn chương trình kiểm tra sức khoẻ tồng quát theo nhu cầu. Từ các thông tin ban đầu do khách hàng cung cấp, bác sĩ sẽ trực tiếp khám kiểm tra, dựa theo tình trạng sức khoẻ thực tế đưa ra chẩn đoán ban đầu và chọn các xét nghiệm cần thiết giúp kiểm tra tình hình sức khoẻ của quý khách hàng một cách tốt nhất

Dưới đây là một số cách đơn giản giúp bạn nhanh khỏi viêm họng.

Viêm họng là tình trạng viêm gây đau khi nói hoặc nuốt thức ăn. Tình trạng này đặc biệt dễ xảy ra khi thời tiết chuyển mùa. Dưới đây là một số cách đơn giản giúp bạn nhanh khỏi viêm họng.

chua-viem-hong-toi

Ăn tỏi:  Tỏi chứa hợp chất được gọi là allicin có tác dụng kháng khuẩn. Vì thế, bạn nên cố gắng ăn nhiều tỏi để sớm khỏi viêm họng.

Ngậm viên giảm đau họng: Ngậm viên giảm viêm họng giúp kích thích sự tăng tiết nước bọt. Do đó, cổ họng và miệng bạn luôn được giữ ẩm. Hơn nữa, phần lớn viên giảm viêm họng chứa vitamin C, pectin và kẽm giúp tăng cường hệ miễn dịch của bạn.

Súc miệng bằng nước muối ấm: Mặc dù đây là một biện pháp có từ rất lâu song nó vẫn rất hiệu quả trong việc giảm viêm họng. Nước muối giúp giảm viêm và giảm đau họng. Khi bị viêm họng, bạn nên súc miệng bằng nước muối ấm cứ 3-4 giờ/lần.

Uống nhiều nước: Khi bị viêm họng, bạn nên uống nhiều nước để giúp cho cổ họng luôn ẩm. Uống nước cũng giúp cuốn trôi vi khuẩn khỏi cổ họng. Bạn nên uống trà, cà phê hoặc hỗn hợp mật ong và chanh ấm sẽ sớm khỏi viêm họng.

Xông mũi họng: Viêm họng cũng thường gây ra các triệu chứng như sốt, chảy nước mũi và nghẹt mũi. Nếu bạn bị cả các triệu chứng trên thì nên xông mũi họng để dễ thở hơn. Đây cũng là một biện pháp hiệu quả giúp bạn sớm khỏi cả viêm họng và sốt.

Ăn súp gà: Thưởng thức bát súp gà nóng sẽ không chỉ giúp bạn cảm thấy khỏe người mà nó còn giúp bạn sớm khỏi viêm họng vì trong nước súp gà có chứa nhiều natri, một chất kháng viêm hiệu quả.

Ngọc Diệp