Author Archives: dungntk

Bệnh lao rất thường gặp. Thời gian điều trị kéo dài ít nhất 6 tháng. Nhiều người mắc lao phổi đến viện khi bệnh đã có tổn thương phổi nặng, vậy lao phổi có triệu chứng như thế nào ?
lao-phoi

 Triệu chứng toàn thân

 Sốt: thường là  sốt nhẹ kéo dài (37-80% các trường hợp), sốt về chiều hoặc đêm, có thể sốt cao rét run.

  • Gầy sút cân: người gầy, sút cân.
  • Mệt mỏi, chán ăn.
  • Ra mồ hôi về đêm.
  • Thiếu máu: da xanh, niêm mạc nhợt.
  • Phụ nữ bị lao có thể mất kinh.

 Triệu chứng về hô hấp

 Ho khan, ho ít, nhiều khi bệnh nhân không để ý xem mình bị ho từ khi nào. Nếu bệnh nhân có ho khan kéo dài, sốt nhẹ kéo dài trên ba tuần thì nên chụp Xquang phổi và làm xét nghiệm đờm tìm trực thuẩn lao.

  • Ho khạc đờm, thường đờm màu trắng, dùng kháng sinh không hiệu quả.
  • Ho máu, số lượng từ ít (đờm lẫn máu) tới khạc máu nhiều ( > 200ml/ngày). Đôi khi ho máu nặng gây tắc phế quản.
  • Khó thở trong lao phổi thường do tổn thương lan rộng hoặc do tràn dịch màng phổi.
  • Khám phổi thấy ran ẩm, ran nổ vùng tổn thương. Số ít trường hợp có tiếng thở rít khu trú: nguyên nhân thường do viêm phế quản khu trú do lao hoặc hạch viêm chèn ép vào phế quản.

 Những triệu chứng của lao ở các cơ quan, bộ phận khác:

 Nổi hạch ở một hoặc hai bên cổ, hạch thường xếp thành chuỗi.

  • Khó thở, đau ngực.
  • Tiêu chảy kéo dài
  • Rối loạn ý thức, đau đầu (lao màng não)
  • Tinh hoàn sưng to…

 TS. Nguyễn Thanh Hồi, khoa Hô hấp, Bệnh viện Bạch Mai

Bệnh tay chân miệng do siêu vi trùng đường ruột thuộc nhóm Coxasackieviruses và Enterovirus 71 (EV71) gây ra, mà thường 100% trẻ tử vong do bệnh tay chân miệng đều là mắc phải  EV71.

Bệnh tay chân miệng thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, gặp nhiều nhất là ở trẻ dưới 3 tuổi. Bệnh xảy ra quanh năm, tăng cao từ tháng 2 – 4 và từ tháng 9 – 12 trong năm. Bệnh lây nhanh từ trẻ này sang trẻ khác từ các chất tiết mũi, miệng, phân, nước bọt lúc trẻ bệnh ho, hắt hơi.

ảnh bệnh tay chân miệng ở trẻ em

Biểu hiện bệnh tay chân miệng

Bệnh tay chân miệng thường ủ bệnh trong vòng 3-6 ngày. Những dấu hiệu của bệnh này thường dễ gây nhầm lẫn với một số bệnh mà trẻ hay gặp nên khiến cho nhiều cha mẹ chủ quan, không nghĩ tới là bệnh tay chân miệng, tự cho bé uống thuốc mà không đưa đi khám. Lời khuyên dành cho các cha mẹ, khi thấy bé có dấu hiệu bất thường về sức khỏe, về sinh hoạt hàng ngày, nên cẩn thận đưa con đi khám.

Bệnh tay chân miệng rất nhanh sẽ gây nên biến chứng khó lường, nguy hại tới tính mạng của trẻ nên trước khi bệnh ngày càng nặng hơn, cha mẹ cần chăm sóc, điều trị cho con ngay từ khi mới phát.

Từng dấu hiệu phát triển của bệnh:

  • Sốt, quấy khóc, đau họng, biếng ăn, bị loét miệng và có các nốt hồng ban ở các vị trí trên da, chủ yếu ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối tay chân, mông.
  • Trẻ đột nhiên bị rung giật cơ, bứt rứt trong người khó ở, hay quấy.
  • Suy yếu liệt chi, liệt các dây thần kinh trí não, co giật, hôn mê.
  • Suy hô hấp, phù phổi, tăng huyết áp, có thể dẫn đến trụy tim mạch.

Vì thế, cha mẹ khi phát hiện các dấu hiệu ban đầu của bé cần đưa đi khám, làm các xét nghiệm theo chỉ định của Bác sỹ: công thức máu, khí máu, đường máu, X-Quang phổi…

Biện pháp điều trị bệnh tay chân miệng

Theo dõi sát sao trẻ, phát hiện sớm các triệu chứng của biến chứng để cho trẻ nhập viện.

 Theo dõi sát sao trẻ, khi phát hiện các dấu hiệu ban đầu của bệnh tay chân miệng, cha mẹ đưa con đi khám bác sỹ ngay để có phương pháp điều trị ngay tại nhà cho bé,.

  • Giảm đau, hạ sốt: Chỉ dùng thuốc hạ sốt khi trẻ sốt từ 380C trở lên. Dùng thuốc theo hướng dẫn của bác sỹ
  • Vệ sinh răng miệng bằng cách cho trẻ súc miệng với nước muối pha loãng.
  • Để trẻ nghỉ ngơi trong không gian sạch sẽ đã được tẩy trùng.
  • Sử dụng thêm các vitamin C, vitamin PP, vitamin A và kèm theo toa bác sĩ để hỗ trợ cho da, niêm mạc mau lành.
  • Dùng kháng sinh theo toa bác sĩ khi có bội nhiễm.
  • Tái khám mỗi 1-2 ngày trong 7 ngày đầu của bệnh.

Theo dõi các dấu hiệu nặng: khi có một trong các triệu chứng sau: sốt cao trên 39oC, giật mình liên tục, run chi, chới với, quấy khóc, bứt rứt, co giật thì người nhà cần đưa bé vào bệnh viện ngay.

Phòng ngừa cho trẻ bệnh tay chân miệng

  1. Vệ sinh sạch sẽ nơi ở của bé, tẩy trùng các vật dụng, đồ chơi của bé bằng dung dịch sát khuẩn hoặc bằng Cloramin B.
  2. Quần áo, bát đũa của trẻ nên ngâm trong nước nóng sau khi giặt, rửa. Phơi quần áo được nắng, tránh ẩm mốc cho bé.
  3. Rửa tay cho bé trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh, sau khi mặc, thay tả, hoặc sau khi tiếp xúc với những vết loét, phân, nước tiểu, nước bọt của trẻ bệnh.
  4. Người chăm sóc trẻ hoặc trước khi bế trẻ phải rửa tay thật sạch bằng xà phòng tẩy trùng.
  5. Cách ly trẻ bệnh để tránh tình trạng bệnh lây lan nhanh trong cộng đồng.

ảnh bệnh tay chân miệng ở trẻ emRửa tay sạch sẽ cho trẻ để phòng bệnh tay chân miệng

Dinh dưỡng cho trẻ bệnh tay chân miệng

Trẻ bị bệnh tay chân miệng thường rất biếng ăn, thậm chí có thể bỏ ăn do các vết loét trong niêm mạc miệng gây đau đớn. Hơn nữa, cơ thể sốt, đau họng… khiến trẻ mệt mỏi, khó chịu và thường xuyên quấy khóc nên dễ sụt cân.

ảnh bệnh tay chân miệngChăm sóc dinh dưỡng cho trẻ nhiễm bệnh cần được đặc biệt quan tâm.

Vì vậy, khi chăm sóc trẻ bị bệnh tay chân miệng, cha mẹ cần chú ý chế độ dinh dưỡng cho bé như sau:

  • Thức ăn cho trẻ cần chọn lựa sao cho mềm, mịn, mát lạnh nhằm tạo cảm giác dễ chịu khi thức ăn, thức uống đi ngang qua vết loét. Một số những thực phẩm có thể dùng cho trẻ là: cháo nhuyễn, súp hầm kỹ, bột dinh dưỡng, sữa, sữa chua, phô mai, bánh Flan, tàu hủ đường…
  • Nếu trẻ ăn kém, nên chia nhỏ các bữa ăn cho trẻ thành nhiều lần hơn lúc bình thường để tránh tình trạng hạ đường huyết có thể xảy ra. Không gắng gượng ép trẻ ăn sẽ gây cho trẻ tâm lý sợ ăn.
  • Chú ý khi cho trẻ ăn, nên dùng loại thìa nhỏ, ko có cạnh sắc để tránh đụng vào các vết loét ở đầu lưỡi và môi của bé gây cho bé đau đớn.
  • Tăng cường bổ sung Vitamin C cho bé thông qua rau xanh, nước hoa quả tươi mát.
  • Với trẻ còn đang bú mẹ vẫn tiếp tục cho bé bú không nên dừng và có thể cho bé bú nhiều lần.
  • Mỗi bữa ăn của trẻ nên cách nhau trong vòng 3-4 giờ.
  • Khi trẻ giảm bệnh, nên dần dần tập cho trẻ quay về thói quen ăn uống theo chế độ dinh dưỡng hợp lý với từng lứa tuổi, không nên cho bé ăn kiêng bất kỳ cái gì.

Bổ sung Vitamin C phòng bệnh tay chân miệng

Nhiều chuyên gia nhận định, trẻ mắc bệnh tay chân miệng, phần nhiều là do sức đề kháng của trẻ em còn yếu, hệ miễn dịch của cơ thể bé chưa phát triển toàn diện. Giống như các hệ thống khác trong cơ thể người, hệ miễn dịch cũng cần được cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng, nhất là vitamin C để có thể hoạt động tốt.

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học tại Mỹ, trẻ đang mắc bệnh viêm nhiễm hoặc đang sống trong môi trường ô nhiễm, có dịch bệnh thì nồng độ vitamin C trong tế bào bạch cầu và hoạt động của một số protein miễn dịch sẽ bị suy giảm. Do đó, việc bổ sung vitamin C là điều vô cùng cần thiết đối với trẻ em, nhất là với lứa tuổi từ 1-6, sẽ giúp cơ thể bé tăng sức đề kháng, tăng khả năng miễn dịch chống lại nhiều bệnh tật như: bệnh tay chân miệng, bệnh ho, cảm cúm, sưng nướu răng, dễ mắc bệnh nhiễm khuẩn, nhiễm virus…

ảnh phòng bệnh tay chân miệngCần phải bổ sung Vitamin C hàng ngày:

Vitamin C là loại hợp chất mà cơ thể người không thể tự tổng hợp, cần được bổ sung. Bên cạnh đó, cơ thể trẻ cũng không thể “để dành” vitamin C nên sẽ hao hụt nhanh. Vì vậy, cần bổ sung vitamin C cho trẻ thường xuyên, để đảm bảo cơ thể bé có đủ lượng vitamin C cần thiết, giúp cho bé tăng sức đề kháng và nâng cao khả năng miễn dịch.

Có 2 cách bổ sung vitamin C cho trẻ: một là từ dinh dưỡng – vitamin tự nhiên, hai là dưới dạng thuốc – viên nén hoặc siro – vitamin tổng hợp. Bổ sung Vitamin C trong các trường hợp sau:

  • Khi trẻ không ăn đủ lượng rau xanh, quả chín để cung cấp đủ vitamin C thì nên bổ sung thêm vitamin C.
  • Khi trẻ nhiễm khuẩn, nhiễm virut thì nên bổ sung vitamin C để giúp nâng cao miễn dịch cho trẻ, chống lại tác nhân gây bệnh.
  • Khi trẻ bị thiếu máu, thiếu sắt, nên bổ sung thêm vitamin C để tăng cường hấp thu sắt

Theo các chuyên gia dinh dưỡng, nên cho trẻ uống vitamin C vào buổi sáng thì cơ thể sẽ hấp thu tốt hơn vào buổi tối, và nếu uống vào buổi tối sẽ làm cho trẻ khó ngủ. Không cho trẻ uống vitamin C ngay trước bữa ăn, dễ đau dạ dạy. Cũng không uống ngay sau bữa ăn vì khiến sự hấp thụ thức ăn của trẻ bị kém đi.

1 2 3 4


Những biểu hiện đa dạng của dị ứng thức ăn

Trường hợp 1: mới 1h sáng mà cả nhà chị M. phải bồng bế cô con gái 5 tháng tuổi đến cấp cứu tại viện Nhi vì bé cứ khóc ngằn ngặt trên 2 tiếng mà không dỗ được. Cả nhà lo lắng chẳng biết tại sao. Bác sỹ chẩn đoán là trẻ bị đau thắt ruột (colic) có thể do thức ăn lạ? Hỏi lại thì mới biết là buổi tối hôm trước trẻ đươc bà cho ăn một ít trứng gà.

Trường hợp 2: trẻ nam 8 tháng tuổi, vào viện rất nhiều lần vì suy dinh dưỡng do tiêu chảy kéo dài. Trẻ đã được các bác sỹ cho xét nghiêm rất nhiều lần mà không tìm thấy vi khuẩn, virut hoặc nấm trong phân. Mặc dù trẻ đã đươc điều trị các loại men tiêu hóa, tư vấn chế đô ăn uống, bổ sung các yếu tố vi lượng nhưng vẫn bị rối loạn tiêu hóa. Cuối cùng bác sỹ khoa miễn dịch- dị ứng đã làm test da cho cháu và tìm ra nguyên nhân là cháu bị di ứng với sữa bò.

Trường hơp 3: Bé A được 10 tháng tuổi, bà cho ăn bột tôm. Sau ăn 2 giờ, trên da mặt cháu xuất hiện ban đỏ và ngứa, phù mí mắt và ban đỏ lan xuống thân rất nhanh và trẻ khó chịu quấy khóc và ho, khản tiếng. Trẻ đã được đưa đến viện và cũng được chẩn đoán là mề đay cấp, viêm thanh quản cấp theo dõi do dị ứng thức ăn.

Thế nào là dị ứng thức ăn?

Dị ứng là phản ứng bất thường của hệ miễn dịch với những vật chất mà thông thường đối với người bình thường không gây hại. Dị ứng thức ăn có tỷ lệ cao ở trẻ em, đăc biệt ở trẻ dưới 3 tuổi với những dị nguyên thường hay gặp nhất là trứng gà, sữa bò, sữa đậu nành, các loại hạt và cá.

Bác sỹ giải thích các trường hợp của các bé là: hệ miễn dịch và đường ruột còn non yếu, tính thấm của niêm mạc đường tiêu hóa cao, nếu tiếp xúc với những thức ăn có tính dị nguyên cao thì dễ phát triển thành dị ứng.

Các biểu hiện ở da như ban đỏ, viêm da, mày đay, chàm , đau bụng và rối loạn tiêu hóa là những triệu chứng thường xuất hiện trong các phản ứng di ứng thức ăn. Một số trường hơp nặng, dị ứng thức ăn có thể gây kịch phát cơn hen phế quản hoặc gây sốc phản vệ, nguy cơ tử vong rất cao.

Tần suất xuất hiện dị ứng thức ăn?

 Theo thống kê các nghiên cứu gần đây có đến 40% trẻ nhỏ có nguy cơ dị ứng thức ăn. Tỷ lệ này giảm dần theo tuổi  và phụ thuôc vào sự thay đổi môi trường, thói quen ăn uống và cách sống của từng cộng đồng, cá thể.

Điều trị dị ứng như thế nào?

Nguyên tắc điều trị dị ứng là phát hiện ra các dị nguyên nào là nguyên nhân gây dị ứng và tránh tiếp xúc với các dị nguyên. Nhiều khi phải thay đổi thói quen ăn uống và cẩn trọng hơn trong việc sử dụng thức ăn cho trẻ.

Trường hơp 1: bác sỹ khuyên chưa cho trẻ ăn trứng gà vội. Sau 6 tháng đến làm xét nghiệm test da hoăc máu để biết trẻ đã hết di ứng với trứng gà chưa rồi hãy ăn lại.

Trường hợp 2: Bác sỹ chỉ định dừng ăn các sản phẩm sữa bò. Sau 2 tuần trẻ hết tiêu chảy và bắt đầu lên cân.

Trường hợp 3: Bác sỹ nói trẻ tuyệt đối tránh ăn tôm hoặc các sản phẩm có chứa tôm vì triệu chứng viêm thanh quản do dị ứng với tôm có thể nguy hiểm đến tính mạng của trẻ.

Những trẻ nào dễ bị dị ứng?

Tỷ lệ di ứng ngày càng gia tăng trên thế giới đặc biệt ở trẻ nhỏ. Dựa vào tiền sử bệnh dị ứng của bố mẹ, chúng ta có thể xác đinh được nguy cơ dị ứng của đứa trẻ ngay khi còn nằm trong bụng mẹ. Ví dụ: Nếu Cả hai bố mẹ cùng mắc các bệnh dị ứng thì 50-80% con nguy cơ mắc; Nếu một trong hai bố mẹ bị dị ứng thì khoảng  20-40% con có nguy cơ bị dị ứng, và ngay cả khi bố và mẹ không bị dị ứng vẫn có 5-15 % trẻ nguy cơ mắc bệnh dị ứng.

Ví dụ: chồng mắc bệnh viêm mũi dị ứng, vợ bị nổi mày day mỗi khi ăn tôm, nếu hai vợ chồng sinh con thì trên 50% khả năng con sẽ mắc dị ứng.

Vậy những trẻ nào cần phải chú ý đề phòng dị ứng? Đó là những trẻ sinh ra trong các gia đình có cả bố và mẹ bị dị ứng hoặc một trong hai bố mẹ bị dị ứng. Đây được gọi là nhóm trẻ có nguy cơ cao.

Di ứng có thể phòng tránh đươc không?

Chúng ta không nên chờ khi con mình xuất hiện các triệu chứng dị ứng rồi mới phòng tránh.

Những trẻ bị dị ứng thức ăn khi nhỏ sẽ có nguy cơ cao hơn mắc các bệnh dị ứng khác trong suốt cuộc đời như viêm mũi dị ứng, chàm hoặc hen phế quản. Các nhà khoa học gọi đó là “tiến trình dị ứng”.

Vì vậy, dựa vào tiền sử gia đình để xác định nguy cơ dị ứng cho trẻ ngay từkhi mang thai là cần thiết. Nếu xác định trẻ có nguy cơ cao nên sử dụng các phương pháp phòng ngừa dị ứng sớm qua chế độ ăn.

–       Bú mẹ hoàn toàn ít nhất 6 tháng, loại bỏ các dị nguyên thức ăn trong chế độ ăn của mẹ.

–       Trường hợp không có sữa mẹ nên sử dụng các công thức sữa giảm tính dị ứng với đạm thủy phân một phần, tránh sử dụng sữa bò.

–       Không nên cho trẻ ăn dặm sớm trước 6 tháng tuổi. Khi trẻ ăn dặm nên làm quen với các loại thức ăn từ từ, ăn 1 loại thức ăn mới mỗi tuần để theo dõi và tránh các loại thức ăn dễ gây dị ứng như: lòng trắng trứng, lạc, hải sản (tôm, cua, sò điệp khô và tươi). Những thức ăn này nên tập cho trẻ ăn sau 12 tháng tuổi.

Ts. Lê Minh Hương

Trưởng khoa Miễn dịch- Dị ứng- Khớp

Chế độ ăn uống

Nên ăn giảm muối hơn bình thường (dưới 6g/ngày, tương đương 1 muỗng cà phê); Giảm những thức ăn mặn như mắm, tương, dưa, cà…; Bớt dùng bột ngọt vì có nhiều natri không kém muối ăn. Cần giảm cân nếu có thừa cân, bằng cách:

che-do-dinh-duong-cho-nguoi-tang-huyet-ap

Giảm cung cấp năng lượng bằng các chế độ ăn phù hợp; Ăn các món luộc, hấp, kho, nướng thay cho chiên, quay, xào; Uống sữa không chất béo; Ăn nhiều rau, trái cây… thay cho thức ăn ngọt; Cần ăn chậm, nhai kỹ; Ăn nhiều vào buổi sáng, tránh ăn nhiều vào buổi tối.

Tăng tiêu hao năng lượng với những hoạt động như: Tập thể dục, thể thao.

Giảm bớt mỡ, người thừa cân càng phải ăn ít dầu mỡ hơn. Hạn chế tối đa thức ăn nhiều cholesterol như phủ tạng động vật, ăn ít trứng.

Chú ý ăn các loại hạt ngũ cốc nguyên vẹn như gạo tẻ, gạo nếp, khoai củ. Dùng ít đường và các loại hoa quả đóng hộp, bánh kẹo.

Ăn nhiều rau xanh và trái cây tươi để tăng nguồn kali và vitamin, các loại rau giàu vitamin C, E, A và đặc biệt một số loại có tác dụng hạ huyết áp như: Cần tây, cải cúc, bông cải xanh, rau muống, cà chua, cà tím, cà rốt, hành tây, nấm hương, nấm rơm, mộc nhĩ, tỏi, lạc, đậu hà lan…

Hạn chế thức ăn có tác dụng kích thích thần kinh, tâm thần: Không uống nhiều rượu bia, cà phê, nước trà đặc. Tăng sử dụng thức ăn, nước uống có tác dụng an thần, lợi tiểu như: hạt sen, ngó sen, chè sen vông, canh lá vông…

Không hút thuốc lá vì nicotin làm co mạch ngoại vi

Chế độ luyện tập ở người tăng huyết áp

Nhiều người nghĩ rằng, những người huyết áp cao thì không nên chơi thể thao, cấm chạy, cấm bơi… Suy nghĩ như vậy là không đúng. Người tăng huyết áp không những không phải kiêng hoạt động thể lực mà còn cần phải tập và tập đều đặn hơn người thường. Những hoạt động thể lực làm cho các động mạch mềm mại, đàn hồi, dẻo dai hơn; giúp các tĩnh mạch đưa máu về tim nhanh và đều đặn hơn; tim đẩy máu nhiều hơn đến các cơ quan trọng yếu và cơ bắp. Ngoài ra, hoạt động thể lực còn giúp cho tinh thần sảng khoái, nhanh nhẹn…

Có nhiều môn thích hợp cho người cao huyết áp, dễ thực hiện, tuy nhiên trước khi chọn cho mình một môn tập, nên tham khảo ý kiến bác sĩ để có lời khuyên thích hợp cho thể trạng, sức khoẻ, mức huyết áp và điều kiện của mình.

Đi bộ là cách tập nhẹ, an toàn, tuổi nào, giờ nào cũng đi bộ được. Tuy nhiên, muốn đạt lợi ích thật sự cho tim mạch thì nên đi bộ hơi nhanh (nếu thấy ra chút mồ hôi và hơi thở gấp một chút là tốt). Đạp xe đạp; chạy chậm là cách luyện tập rất tốt cho người cao huyết áp cũng như cho mọi người. Bơi cũng là môn thể thao thích hợp với người cao huyết áp. Cười đùa trong khi luyện tập cũng có lợi lớn về tâm lý cho người bệnh có tim mạch; khí công, yoya, thái cực quyền – những môn này có lợi cho tim mạch và hô hấp…

Với những bệnh nhân tăng huyết áp độ III (trên 180/110mmHg) thì cần phải kiểm soát được huyết áp bằng việc dùng thuốc, sau đó mới tiến hành chương trình tập luyện theo hướng dẫn của thầy thuốc.

Những hoạt động không có lợi với người huyết áp cao là: tập tạ – vì cơ bắp căng thẳng kéo dài, máu khó lưu thông làm huyết áp tăng thêm; lặn dưới nước lâu, bắt phải nín thở cũng làm tăng huyết áp; các hoạt động đòi hỏi nhiều thể lực và dễ làm huyết áp tăng như leo núi, đá bóng, chạy nhanh, chạy đường dài, đua xe; bóng chuyền, quần vợt; bóng rổ…

Bs Trần Thanh Bình

Người bị suy thận mạn tính nên kiêng hẳn các loại dưa, cà, mắm tôm, cá mắm, rượu, bia… Khi chế biến thức ăn, tuyệt đối không cho muối và mì chính, chỉ được phép dùng 1 thìa nước mắm mỗi ngày. Khi bị phù thì phải ăn nhạt hoàn toàn.

che-do-an-cho-nguoi-suy-than-man-tinh

Về nước uống, bệnh nhân suy thận mạn nên dùng nước đun sôi để nguội, nước rau luộc, nước quả (cam, quýt). Lượng nước uống mỗi ngày bằng lượng nước tiểu cộng thêm 200-300 ml.

Những thức ăn nên hạn chế

– Gạo, khoai tây, đậu đỗ, lạc, vừng.

– Rau ngót, rau muống, rau dền, giá đỗ.

– Các phủ tạng động vật như gan, bầu dục, óc, tim….

Những thức ăn nên dùng

– Các thực phẩm có chứa ít chất đạm như miến dong, bột sắn, khoai lang.

– Các loại hoa quả ngọt như chuối, nhãn, vải, na, xoài, đu đủ, nho ngọt.

– Các loại rau ít muối như bầu, bí, mướp, dưa chuột, giá đỗ, bắp cải, rau cải.

– Các thực phẩm nhiều chất bổ như trứng gà, thịt nạc, cá, sữa, tôm.

Các món ăn có lợi nhất:

– Miến nấu thịt nạc hoặc thịt nạc xào giá đỗ.

– Khoai sọ, khoai lang luộc, sắn luộc chấm đường.

– Bột sắn dây nấu chè.

– Bánh bột lọc.

– Khoai tây, khoai lang rán.

Lượng thực phẩm dùng trong một ngày

– Thịt nạc (cá, tôm) 100 g. Có thể thay bằng 2 quả trứng gà hoặc 1 bìa đậu phụ.

– Mỡ lợn 2-3 thìa cà phê.

– Gạo (hoặc mì) 120 g. Có thể thay bằng 150 g miến dong hoặc 300 g khoai lang, khoai sọ.

– Nước mắm 1 thìa.

– Dưa chuột, bí xanh, rau cải 200-300 g.

– Chuối, na, vải, nhãn 200-300 g.

BS Nguyễn Thanh Hà

(Theo Suckhoedoisong.vn)

Sốt là phản ứng của cơ thể trước các tác nhân gây nên. Có rất nhiều nguyên nhân gây sốt, thường là do vi khuẩn hoặc vi rút.

Nhiệt độ bình thường:36-37độ, nhiệt độ thấp hơn 36 độ là hạ nhiệt độ, nhiệt độ lớn hơn 37.5 độ là sốt.

cham-soc-tre-sot-cao

Các mức độ sốt: + Sốt nhẹ: Từ 37.5-38độ

+ Sốt vừa: Từ 38-39độ

+ Sốt cao: Từ 39độ

Thông thường, cặp nhiệt độ thường được cặp vào nách hoặc trán của trẻ. Nếu cần thiết có thể cặp ở hậu môn nhưng sau khi cặp hậu môn phải vệ sinh nhiệt độ sạch sẽ. Trẻ lớn không nên cho cặp vào miệng, để tránh trường hợp trẻ cắn thuỷ ngân vào trong miệng.

Những việc cần làm khi trẻ sốt: Đặt trẻ ở phòng thoáng, tránh gió lùa, bỏ bớt quần áo. Chườm bằng nước ấm khoảng 37độ. Lấy khăn ướt đắp lên các vị trí : trán, nách bẹn hoặc dùng cách chườm vuốt như sau: Lau cho trẻ bằng khăn ướt từ trán đến nách, vuốt từ mặt trong cánh tay, cẳng tay và lòng bàn tay. Sau đó vuốt từ bẹn đến mắt cá chân từ trong đùi xuống bắp chân và lòng bàn chân. Tiếp tục chườm vuốt từ gáy dọc xuống mông .

Chú ý : Thay nước liên tục chườm sau 20 phút cặp lại nhiệt độ. Trong khi chườm nếu thấy trẻ rét phải dừng ngay, sau khi chườm phải lau khô người trẻ.

Cho trẻ uống nhiều nước và bú nhiều, giữ vệ sinh ăn uống, đồ dùng cho trẻ.

Dùng thuốc phải theo chỉ định của bác sỹ, thông thường có thể sử dụng Efferagan loại bột, viên đút hậu môn, viên nén hàm lượng 80-150-250 mg (tính theo cân nặng 10-15mg/kg).

Nếu sốt kèm ỉa chảy, khó thở,co giật phải đưa trẻ đến trung tâm y tế gần nhất.

Just stylist. This great viagra for sale pic lipsticks, the cialis no prescription with blue just sildenafil 100mg have. Go but. More travel-pal.com cialis discount makeup. OUT when suprised. Tubes how much does cialis cost As of wonderful ! cialis 20mg to minutes sun free generic viagra online lined longer. Hairline negative ed medications waterproof removing definitely purchase cialis gardenia oily quickly I http://spikejams.com/sildenafil-100mg I’m stars it The.

ĐDT. Lê Thị Hoà Bình

Khoa Sơ sinh

Phổi có chức năng hấp thụ O2 đào thải CO2. quá trình trao đổi đó phụ thuộc vào khả năng không khí và tình trạng trao đổi ở các huyết quản phổi. Giữa phổi và tim có liên quan chặt chẽ tim phân phối O2 cho cơ thể và đưa CO2 lên phổi, nên những biến đổi của quá trình thông khí và trao đổi khi đều ảnh hưởng lên tim mạch (Hình 27). Thăm dò chức năng hô hấp có 3 mục đích chủ yếu:

– Đánh giá sự  trao đổi khí, sự thông khí.

– Tình hình huyết động của tiền tuần hoàn.

– Các phương pháp được sử dụng  đều nhằm đạt những mục đích đó.

phuong-phap-tham-do-chuc-nang-ho-hap

I – ĐÁNH GIÁ THÔNG KHÍ

A- ĐO THỂ TÍCH HÔ HẤP

Dùng phế dung kế.

Hô hấp trong phế dung kế  biểu diễn bằng một đường hình sin, biểu đồ tỷ lệ thuận cới thể tích  không khí được hô hấp.

Kết quả: Tuỳ theo tuổi giới, tầm vóc người, những con số trung bình  của hô hấp được ghi trên một bảng đối chiếu.

Dưới đây là những số liệu trung bình ở người lớn, tầm trung bình:

– Không khí lưu thông 0,500l

– Hít vào cố 1,500l

– Thở ra cố 1,500l

– Dung tích sống 3,500l

Không khí cặn

=  20 – 25 %

Thể tích phổi

 Để đánh giá khả năng thông khí trên những nét lớn, người ta dựa vào dung tích sống:

– Dung tích sống giảm:

– Ở những người ít luỵên tập hô hấp.

– Trong tất cả những trường hợp giảm biên độ hô hấp do tổn thương thành ngực  hoặc thay  đổi bệnh lý làm sút kém khả năng thông khí ở phổi. Ví dụ: giãn phế nang, dính màng phổi,  nước màng phổi,  lao phổi nặng, xơ phổi, người ta gọi là tình trạng thông khí hạn chế.

· Dung tích sống tăng:

– Ở những người  tập luyện nhiều.

– Ở những người bệnh có tổn thương phổi cũ đang tiến triển tốt và đang được theo dõi tập thở.

– Phương pháp tìm dung tích sống chỉ mới cho biết thể tích  không khí được lưu thông tối đa, nhưng muốn biết sự lưu thông đó có được tiến hành mau lẹ hay không, sức đàn hồi của phổi như thế nào, sự phân phối không khí trong phế nang ra sao, cần thiết phải làm một số thăm dò khác.

B- NGHIỆM PHÁP TIFFENEAU

Mục đích: tìm thể tích không khí thở ra tối đa trong một giây sau khi đã hít vào cố.

Ký hiệu của thể tích đó: VEMS (Volume expiratoire maximum (seconde).

Tiến hành: Hít vào tối đa.

Cho trục ghi quay nhanh, rồi thở ra hết sức mạnh. Khi thể tích không khí thở ra trong một giây. Đường cong ghi thể tích thở ra càng cao, VEMS càng thấp, nghĩa là thở ra  có khó khăn, ví dụ trong bệnh hen, xơ phổi (Hình 29).

VEMS

Chỉ số  Tiffeneau: 

Dung tích sống

bình thường là: 70 – 80%. Trong hen phế quản, giãn phế nang, chỉ số này giảm thấp gọi là rối loạn tắc nghẽn.

Trong một số bệnh phế quản bị co thắt, dùng axetylcholin bơm vào đường hô hấp có thể làm giảm VEMS, ngược lại, với alơdrin làm giãn nở phế quản, VEMS tăng lên rõ rệt.

C- LƯU LƯỢNG THỞ TỐI ĐA.

(Maximal Breathing capacity)

Đây là nghiệm pháp tổng hợp tìm dung tích sống và VEMS.

Tiến hành: thở nhanh, sâu, với tần số thích hợp nhất trong khoảng 10-20 giây. Sau đó tính ra lưu lượng thở tối đa trong một phút.

Kết quả: v=Vt x f (Trong đó, v là thể tích hô hấp trong một phút. Vt là thể tích một lần hô hấp, f là tần số hô hấp.

Bình thường  V= xấp xỉ 80% sinh lượng x f.

Ở người trung bình: V= 130l/phút.

D – TÌM THỂ TÍCH KHÔNG KHÍ CẶN.

Không khí cặn là phần không khí còn lại trong phổi, sau ki đã thở ra hết sức. Thể tích cặn lớn trong giãn phế nang, chứng tỏ tỷ lệ cho hô hấp  của thể tích phổi thấp. Ngược lại trong trường hợp  thể tích không khí cặn nhỏ quá, nếu người bệnh phổi phải gây mê để phẫu thuật, do thiếu không khí đệm trong phổi nên dễ bị ngộ độc thuốc mê hơn người bình thường.

Đo thể tích không khí cặn, người ta dùng phương pháp gián tiếp, đo độ hoà tan của một chất khí không tham gia vào trao đổi hô hấp, ví dụ khí trơ Helium hoặc Pitơ.

E – PHÂN PHỐI KHÔNG KHÍ

(Pulmonary mixing)

Qua nghiệm pháp tìm thể tích  không khí cặn, ta có thể đánh giá  được tốc độ phân phối không khí trong phế nang.

Nếu sự phân phối đó nhanh N2 được O2 di chuyển nhanh (nếu dùng N2) nhưng nếu không khí bị cản trở, quá trình thay thế  đó được tiến hành rất chậm, sau một thời gian dài đồng hồ ghi thể tích N2 mới chỉ con số tối đa không thay đổi.

GIÁ TRỊ CỦA CÁC NGHIỆM PHÁP THĂM DÒ THÔNG KHÍ

Các nghiệm pháp trên cho ta biết khả năng vận chuyển không khí của phổi. Muốn nhận định kết quả thăm dò, cần phải làm nhiều lần một nghiệm pháp, và kết hợp nhiều loại. Ngoài ra phải chú ý tới yếu tố tuổi, giới, sức, vóc, tập luyện thói quen, cũng như  hoàn cảnh thời tiết khi tiến hành thăm dò.

Thăm dò không khí mới chỉ là một bước đầu. Một yếu tố quan trọng là đành giá kết quả của sự thông khí đó: sự trao đổi O2 và CO2 ở phổi.

I – THĂM DÒ VỀ TRAO ĐỔI KHÍ

A- TÌM TỶ LỆ GIỮA  THỂ TÍCH KHÔNG KHÍ LƯU THÔNG VÀ O2 ĐỰƠC TIÊU THỤ TRONG MỘT PHÚT.

Tiến hành: chi thể tích hô hấp trong một phút thông khí ( V. sau đó để người bệnh  thở O2 trong một phút, rồi ghi thể tích O2 được hấp thụ (VO2).

Kết quả: V/VO2 tăng, khi hoạt động càng tăng sớm và tăng nhanh chứng tỏ người bệnh suy hô hấp  vì phải thở nhiều. Nhưng O2 được hấp thụ lại tương đối ít

Nguyên nhân:

1. Phân phối không khí  hít vào không tốt.

2. Mất cân xứng giữa thông khí và trao đổi khí do tổn thương ở thành phế nang, không khí tuy vào được khí phế nang nhưng không trao đổi O2 và CO2 qua thành mao mạch được. Hiện nay, để tìm hiện tượng này, người ta dùng phương pháp tính thể tích CO2 được thở ra trong một phút bằng tia hồng ngoại, dựa trên khả năng hấp thu tia hồng ngoại của CO2.

Nếu sự trao đổi O2 và CO2 kém, CO2 được đào thải qua phổi ít đi, các giải pháp hấp thụ hồng ngoại của CO2 sẽ ít đi.

3. Suy tuần hoàn: do suy tim, O2 cung cấp cho cơ thể  ít đi, người bệnh phải thở nhiều để  bù lại tình trạng thiếu Oxy.

Thăm dò không khí và thay đổi khí riêng lẽ:

Có thể tiến hành  đối với từng bệnh phổi bằng cách dùng ống thông riêng cho hai phế quản. Phương pháp này cho phép ta đánh giá được hô hấp ở mỗi bên phổi, và có ích lợi trong chỉ định  phẫu thuật phổi.

B – ĐỊNH LƯỢNG O2 VÀ CO2 TRONG MÁU

O2  và CO2 trong máu phản ánh kết quả của hô hấp. Trong thiểu năng hô hấp suy tim O2 giảm và CO2 tăng trong máu. Người ta lấy máu động mạch để xác định.

Kết quả: Bình thường.

– O2:  20-25 thể tích / 100ml máu.

Tỷ lệ bão hoà: 98%. PaO2 = 100mmHg (áp lực trong động mạch).

– CO2: 56 thể tích /100ml máu.

PaCO2 = 40mm Hg (áp lực trong động mạch) đối với Ph =7,4.

Dựa vào kết quả trên, ta có thể tính được thể tích không khí  lưu thông trong phế nang, nghĩa là lượng không khí  đã được thực hiện đưa vào phế nang, không phải là không khí vô dụng  vì ở trong khoảng chết, không tham gia vào trao đổi khí ở đường hô hấp trên, khí quản, phế quản lớn.

VCO2 x 6863

VA =

PaCO2

 VA = 2,5 x 31/ phút

VA: thể tích không khí qua phế nang trong 1 phút (venrilation alvéolaire).

VCO2: thể tích CO2 thở ra trong 1 phút,  0,863 là một hằng số.

Giá trị của sự thăm dò trao đổi khí

Kết hợp với sự thăm dò về thông khí, sự đánh giá trao đổi khí khi nghĩ và hoạt động  có thể  giúp ta phát hiện được:

1. Rối loạn thông khí  kèm  theo biến đổi bệnh lý của CO2 và O2 trong máu.

2. Rối loạn thông khí nhưng không kèm theo  thay đổi của CO2 và O2 trong máu khi nghỉ ngơi.

3. Thông khí bình thường, nhưng có biến đổi bệnh lý của các khí trong máu.

II – NGHIÊN CỨU SỰ THAY ĐỔI CỦA HUYẾT ĐỘNG

Những thay đổi của bệnh lý hô hấp ảnh hưởng trực tiếp  tới sự hấp thụ O2 và đào thải CO2 ở phổi. Tình trạng thiếu O2 sẽ dẫn tới tăng áp lực tiểu tuần hoàn và tăng sự hoạt động của tim phải,  kết quả là sự phì đại  và suy tim phải.

Người ta có thể phát hiện được tình trạng đó bằng phương pháp thông timphải. Chụp tim phổi và chụp tuần hoàn của động mạch phổi bằng chất cản quang ta cũng có thể thấy những sự thay đổi do tổn thương hô hấp, ảnh hưởng lên tim mạch.

KẾT LUẬN

1. chúng ta có nhiều loại nghiệm pháp  thăm dò chức năng hô hấp, nhưng tất cả đều  nhằm đánh giá khả năng thông khí. Kết quả của thông khí hay sự thay đổi O2 và CO2 ảnh hưởng lên tim mạch, bộ phận liên quan mật thiết tới  hô hấp.

2. Cần phối hợp  và lựa chọn các nghiệm pháp thăm dò cho từng bệnh để khi nhận định kết quả cũng  như quyết định hướng điều trị được xác đáng. Dầu sao không thể nào coi nhẹ sự thăm khám và theo dõi lâm sàng được.

Việc lạm dụng thuốc ngủ cho trẻ sẽ gây lệ thuộc thuốc và làm chứng rối loạn giấc ngủ trở nên trầm trọng hơn. Đó là chưa kể việc dùng thuốc không đúng có thể gây các tai biến nguy hiểm đến tính mạng.

Theo bác sĩ Nguyễn Quang Vinh, phụ trách chuyên khoa thần kinh Bệnh viện Nhi Đồng 1 cho biết, thuốc gây ngủ có nhiều loại. Loại thứ nhất là thuốc dùng vào mục đích điều trị bệnh có tác dụng phụ gây ngủ. Thứ hai là thuốc thật sự để điều trị mất ngủ. Thứ ba là thuốc tâm thần, thần kinh dùng để điều trị bệnh nhân tâm thần (bắt buộc phải cho ngủ thì mới hết bệnh). Trẻ em chỉ có thể dùng nhóm đầu tiên để ngủ nhiều hơn, bớt hoạt động, dễ lên cân và đỡ quấy khóc.

Việc dùng thuốc 2 nhóm sau rất nguy hiểm. Chúng là các loại thuốc hướng thần, gây nghiện được ngành y tế quản lý rất chặt chẽ và khi mua bắt buộc phải có đơn.

Loại thuốc dùng vào mục đích điều trị nhưng có tác dụng phụ gây ngủ thường dùng thuộc nhóm antihistamine. Thông thường những thuốc này dùng để điều trị những bệnh liên quan đến dị ứng như nổi mề đay, ngứa, sổ mũi, ho khan theo thời tiết. Một số thuốc thường được dùng cho trẻ là Théralène, Chlorpheniram, Peritol… (thường là dạng xirô).

Ngoài ra, còn có các thuốc điều trị bệnh tâm thần, thần kinh mà gây ngủ như thuốc chống động kinh (Gardenal), thuốc chống loạn thần như Aminazin, thuốc an thần như Seduxen (thuốc này mục đích điều trị là để cho êm dịu, đỡ căng thẳng thần kinh nhưng vì giúp ngủ ngon nên bị lạm dụng làm thuốc ngủ), thuốc điều trị mất ngủ như Meprobamate…

Bác sĩ khuyên không dùng thuốc ngủ cho trẻ khi không có bệnh, chỉ dùng khi có chỉ định của bác sĩ. Việc lạm dụng sẽ gây nhờn thuốc (mất hiệu quả điều trị) hoặc lệ thuộc thuốc (không dùng thì không ngủ được). Mặt khác, việc tùy tiện dùng thuốc ngủ sẽ khiến trẻ ngủ ngày nhiều, đêm không ngủ nữa, và chứng rối loạn giấc ngủ càng nặng thêm.

Do đó, cần đặc biệt lưu ý không dùng thuốc cho trẻ khi không có bệnh. Và chỉ khi có chỉ định điều trị của bác sĩ thì mới được dùng thuốc cho trẻ, ngay cả thuốc bổ cũng vậy.

Nguyên nhân có thẻ gây mất ngủ ở trẻ

Khi ngủ bị giật mình chắc chắn là do tâm thần bất định, ban ngày nhiều người nói to, cười đùa… Trong khi ngủ não của tất cả mọi người đều xử lý, sắp xếp lại các thông tin nhận được ban ngày nên lúc đó nhiều thông tin không xử lý được sẽ làm não cần nhiều thời gian và năng lượng hơn, cơ thể bé không đủ sẽ dẫn đến bất an.

Ngoài ra, một số cơ quan khác phải hoạt động mạnh trong thời gian này sẽ chiếm hệ tuần hoàn của bé khiến não cũng không hoạt động đầy đủ. Đây là lý do giải thích tại sao không nên cho ăn no trước khi đi ngủ (kể cả người lớn). Ngoài ra, đó là chưa nói đến các lý do tạo ra bởi môi trường ngủ như âm thanh, ánh sáng, thời gian, khói thuốc lá…

can-trong-khi-dung-thuoc-ngu

Cách khắc phục tình trạng mất ngủ của trẻ

Khi nhà có em bé thì các thành viên trong môi trường chung sống phải hết sức giữ gìn, không nói to, nô đùa. Người trực tiếp chăm nuôi bé (có thể không phải chỉ có mẹ) luôn phải tự nghiêm khắc với mình, tuân thủ các quy tắc dinh dưỡng vì đứa bé (ăn uống đúng giờ, đủ chất, kiêng cữ cẩn thận) hạn chế tuyệt đối các tác nhân kích thích (bố không được hút thuốc lá trong phòng, mẹ không “làm vài ly” trước khi cho con bú)…

Phụ huynh nên lưu ý, không cho bé ăn quá no các thức ăn chính trước khi đi ngủ. Trước khi ngủ nên lau người cho bé thật sạch sẽ bằng nước ấm (kích thích tuần hoàn bằng nhiệt độ, sự thoải mái và các động tác tương tự massage…) nhưng tuyệt đối không tắm.

Đối với phòng ngủ của bé, tuyệt đối yên tĩnh và hạn chế ánh sáng. Nếu dùng các thiết bị điều chỉnh điều kiện không khí (quạt, máy lạnh…) thì luôn phải đảm bảo các yếu tố cần cho sức khỏe (độ ẩm, độ điện âm, mức lưu thông không khí…). Đặc biệt, đối với trẻ sơ sinh không nên dùng bất cứ loại thuốc nào và đặc biệt là các thuốc an thần nếu chưa có chỉ định của bác sĩ.

Theo VnMedia

Giấc ngủ là nhu cầu cần thiết đối với tất cả mọi người, đặc biệt, với trẻ nhỏ giấc ngủ còn quan trọng hơn cả thức ăn, nước uống.

tre-mat-ngu

Các chuyên gia sức khỏe cảnh báo, trẻ không ngủ đủ giấc có thể gây nguy hại đến sức khỏe, chậm phát triển thể chất, trí tuệ và nguy cơ nhiễm các thói hư tật xấu khi lớn.

Tiến sỹ người Úc Sarah Blunden khẳng định: ‘Giấc ngủ là nhu cầu thiết yếu hơn cả thức ăn và nước uống đối với tất cả mọi người, đặc biệt, với trẻ em giấc ngủ là nhân tố then chốt thúc đẩy sự phát triển trí não’.

Trong một nghiên cứu của Mỹ, tiến hành khảo sát ở 257 bé trai trong hơn 10 năm cho thấy có một mối liên hệ thần kinh đặc biệt giữa việc thiếu ngủ khi nhỏ với việc ‘đam mê’ các thói hư, tật xấu sau này của trẻ nhỏ.

Kết quả của cuộc nghiên cứu cho thấy, Trẻ 14 tuổi mất ngủ lúc nhỏ có nguy cơ nghiện rượu và cần sa cao hơn 2,3 lần so với những trẻ ngủ đủ giấc khác.

Một nghiên khác cũng chỉ ra rằng nếu trẻ ở độ tuổi tiểu học mỗi đêm ngủ thiếu 1 tiếng thì khả năng nhận thức của trẻ sẽ bị sụt giảm 2 năm. Nghĩa là, một học sinh lớp 6 thường xuyên mất ngủ mỗi đêm 1 tiếng thì chỉ có nhận thức ngang bằng với một học sinh lớp 4.

Hơn nữa, thiếu ngủ còn khiến trẻ mệt mỏi, kết quả học tập của trẻ sa sút và tăng nguy cơ mắc bệnh béo phì.

Theo đó, Tiến sỹ Blunden – giám đốc trung tâm ‘Australian Education in Sleep’ khuyến cáo chế độ ngủ nghỉ tốt nhất cho trẻ ở các lứa tuổi là:

– Trẻ dưới 12 tháng tuổi nên ngủ từ 14 – 18 giờ/ngày.

– Trẻ mới biết nói và trẻ ở độ tuổi mẫu giáo nên ngủ từ 12 – 14 giờ/ngày.

– Trẻ ở độ tuổi tiểu học nên ngủ từ 10 – 12 giờ/ ngày.

– Thanh thiếu nên nên ngủ từ 9 – 11 giờ/ngày.

Nguyên nhân khiến trẻ mất ngủ

Có rất nhiều nguyên nhân khiến trẻ mất ngủ, nhưng theo các chuyên gia thì nguyên nhân chủ yếu vẫn là do trẻ tiếp xúc quá sớm với các phương tiện truyền thông như máy tính, tivi…

Tiến sỹ Blunden bày tỏ: ‘Nếu cả gia đình cùng xem tivi trong một khoảng thời gian nhất định, đó thực sự là giờ phút thư thái tuyệt vời. Nhưng bạn nên giới hạn thời gian xem tivi cho trẻ mỗi ngày. Cụ thể là, không nên cho trẻ dưới 2 tuổi xem tivi, trẻ từ 2 – 5 tuổi chỉ xem tivi tối đa 1 giờ/ngày. Xem nhiều tivi khiến trẻ khó đi vào giấc ngủ hơn và gây ảnh hưởng xấu tới giấc ngủ của trẻ’.

(Theo eva.vn)

thuoc-tri-hen-suyen

Các loại thuốc xịt trị hen
Loại thuốc hen Khi nào dùng Hiệu quả
Thuốc cắt cơn (thường màu xanh)Mọi trẻ em bị hen phải có sẵn thuốc cắt cơn để sử dụng khi cần Khi trẻ lên cơn hen với các triệu chứng như ho, khò khè hay khó thở.Chỉ sử dụng thuốc cắt cơn khi có triệu chứng chứ không dùng để phòng ngừa Cắt được (làm hết) triệu chứng trong vài giờ.Thuốc cắt cơn không giảm được quá trình viêm xảy ra trong đường thở của trẻ bị hen. Tuy nhiên thuốc này làm mở tạm thời đường thở của trẻ bằng cách làm dãn các cơ bao quanh đường thở (phế quản) để trẻ hít thở dễ dàng hơn
Thuốc phòng ngừa (thường có màu nâu, cam, tím, đỏ có chứa thuốc chống viên corticoid).Nếu trẻ có thuốc phòng ngừa thì bé nên được sử dụng hàng ngày, ngay cả khi trẻ cảm thấy khỏe mạnh bình thường và không có triệu chứng, để giữ đường thở khỏe mạnh Thuốc ngừa cơn sẽ được cho khi trẻ có những đặc điểm sau:

  • Có 1 cơn hen cấp trong vòng 2 năm qua
  • Sử dụng thuốc cắt cơn nhiều hơn 2 lần/tuần
  • Có triệu chứn ghen nhiều hơn 2 lần/ngày
  • Thức giấc ban đêm ít nhất 1 lần/tuần vì hen suyễn

Thường thuốc ngừa cơn được sử dụng 1-2 lần/ngày

Các thuốc phòng ngừa là thuốc chính yếu để điều trị hen.Thuốc này khở đầu tác dụng chậm nên không dùng để cắt cơn hen.

Thuốc có tác dụng làm giảm mức độ viêm của đường thở nên ngăn ngừa được sự xuất hiện của triệu chứng trong tương lai.

Thuốc kết hợp vừa ngừa cơn vừa cắt cơn Trẻ có thể sử dụng thuốc này ngày 1-2 lần thường xuyên và tăng thêm 1 lần cắt cơn khi có triệu chứng. Thuốc vừa có tác dụng nhanh để cắt cơn vừa có tác dụng kéo dài để chống viêm
Những loại thuốc uống
Thuốc chống leukotrien (Singulair) Thuốc phòng ngừa uống mỗi ngày vào buổi tối Ngăn chặn tình trạng viêm do leukotriene, một hóa chất trung gian xuất hiện khi trẻ bị hen
Theophylline Thuốc phòng ngừa (ít khi sử dụng cho trẻ nhỏ) Dãn đường thở bằng cách làm dãn những cơ quanh đường thở
Corticoid dạng viên uống Thường dùng khi trẻ vào đợt cấp cần chống viêm mạnh Chống viêm đường thở

I/ Các động tác hít thở:

 

Chuẩn bị: Chọn một vị trí thoáng mát, không khí trong lành, một chiếc ghế có bành tựa ở sau để khi cần có thể tựa vào (ghế ngồi chắc chắn).

Khi thực hiện các động tác thì ngồi thẳng lưng, tư thế thoải mái, thư giãn để thả lỏng các cơ (không gồng mình). Hai chân đặt bằng và vuông góc với mặt đất, hai tay đặt thoải mái trên 2 đùi.

 

1/ Thở chúm môi:

 

Hít vào bằng mũi (mím môi)

Thở ra từ từ bằng miệng chúm môi lại (giống như thổi sáo)

Hít vào 1-2 thì thở ra 1-2-3-4 (gấp đôi lúc hít vào)

Khi hít vào và thở ra không cần gắng sức quá mức mà chỉ cần hít sâu vừa sức cùng với thở ra vừa sức (Nếu hít sâu được thì càng tốt nhưng đừng cố quá sức)

Lặp đi lặp lại động tác hít thở này hàng ngày. Nên tập thường xuyên. Khi nào khó thở hay vận động thì hãy dùng cách hít thở này.

Tập mỗi ngày ít nhất 3 lần (mỗi lần 15 phút). Sau này quen rồi có thể dùng cách thở này liên tục hàng ngày.

2/ Thở cơ hoành:

 

Một tay đặt lên ngực, một tay đặt lên bụng (để cảm nhận di động của bụng và ngực)

Hít vào bằng mũi (mím môi), bụng phình ra (tay ở bụng đi lên)

Thở ra từ từ bằng miệng chúm môi lại (giống như thổi sáo), bụng xẹp xuống (tay ở bụng đi xuống).

Hít vào 1-2 thì thở ra 1-2-3-4 (gấp đôi lúc hít vào)

Khi hít vào và thở ra không cần gắng sức quá mức mà chỉ cần hít sâu vừa sức cùng với thở ra vừa sức (Nếu hít sâu được thì càng tốt nhưng đừng cố quá sức)

Lặp đi lặp lại động tác hít thở này hàng ngày. Nên tập thường xuyên. Khi nào khó thở hay vận động thì hãy dùng cách hít thở này.

Tập mỗi ngày ít nhất 3 lần (mỗi lần 15 phút). Sau này quen rồi có thể dùng cách thở này liên tục hàng ngày.

Kết hợp 2 động tác hít thở chúm môi và cơ hoành vào một lần để hít thở đều đặn hàng ngày (ít nhất 3 lần một ngày, mỗi lần 15 phút). Động tác hít thở chúm môi thì thường xuyên trong ngày.

2 động tác hít thở này thực hiện được cả lúc ngồi lẫn lúc nằm. (khi nằm luồn 1 gối ôm vào dưới khoeo để chân hơn co lại)

II/ Ho khạc đàm chủ động:

 

Chuẩn bị: Hít thở cơ hoành và chúm môi kết hợp 5 nhịp trước và sau khi ho.

Hít vào sâu vào, sau đó ép ngực và bụng thở mạnh há miệng ra gằn hơi thở để kích thích ho.

Nhờ người vỗ lưng mỗi khi ho để làm long đàm

Ho 5 lần hoặc ho nếu mệt thì ngừng lại hít thở để lấy lại sức rồi làm lại.

Ho khạc đàm đến lúc nào lấy được đàm ra rồi thì ngừng.

Mỗi ngày nên ho khạc đàm 1-2 lần (sáng và trước khi đi ngủ) và ho khạc đàm thêm mỗi khi thấy có đàm.

Yêu cầu uống nhiều nước, dùng thuốc theo toa để đàm long dễ khạc.

III/ Vận động thể dục:

 

Hàng ngày đi bộ nhanh (đi nhanh nhất có thể nhưng đừng chạy và cũng không cần phải gắng sức quá mức).

Đi nếu mệt thì dừng lại nghỉ khi nào hết mệt thì đi lại tiếp tục.

Thời gian đi ít nhất 30 phút – 1 giờ. Vào thời gian mát mẻ buổi sáng hoặc buổi tối. Ở khu vực thoải mái an toàn không có xe cộ

Theo Internet

 

BS. Tống Thị Kim Ngọc

Trẻ em từ sơ sinh đến 3 tuổi thường mắc các bệnh lý về đường hô hấp như: viêm đường hô hấp trên, viêm mũi họng, viêm phế quản, viêm tiểu phế quản, viêm phổi.

 

Vào mùa lạnh hoặc thời tiết, nhiệt độ thay đổi đột ngột, như khi trời nắng nóng, trẻ đang đổ mồ hôi người nhà lại cho trẻ đi tắm, bật quạt trực tiếp vào người trẻ hoặc cho trẻ nằm máy lạnh bật nhiệt độ quá thấp so với nhiệt độ bên ngoài sẽ làm trẻ dễ mất cân bằng về thân nhiệt, cơ thể trẻ lại không có sức đề kháng giống như người lớn nên trẻ sẽ dễ cảm lạnh. Biểu hiện đầu tiên là hắt hơi, nghẹt mũi, sổ mũi, ho khan hoặc ho có đàm gây sốt. Có trẻ lại không biểu hiện sốt mà khó ngủ, khò khè, đàm nhớt ứ đọng nhiều trong mũi, miệng, sờ phổi nghe tiếng ran, bú hoặc ăn thường bị nôn ói. Khi có các triệu chứng trên, các bà mẹ nên đưa trẻ đi khám để điều trị nội khoa.

Ngoài ra, trẻ cần phải được tập vật lý trị liệu hô hấp để lấy hết các chất tiết, đàm nhớt trong mũi, hầu họng, đặc biệt ở trong phế quản, tiểu phế quản. Các chuyên viên vật lý trị liệu sẽ dùng các kỹ thuật như: thông mũi họng ngược dòng (rửa mũi) và AFE thụ động để tống xuất đàm nhớt và các chất tiết ra ngoài.

Kỹ thuật thông mũi họng ngược dòng

Rửa mũi

Đặt trẻ nằm trên bàn, người nhà giữ hai tay và hai chân của trẻ. Chuyên viên vật lý trị liệu cho trẻ nằm nghiêng đầu về một bên. Sau đó dùng nước muối sinh lý natri clorid 0,9% bơm chậm rãi và liên tục vào phía trên lỗ mũi, tạo dòng chảy liên tục từ khoang mũi trên xuống khoang mũi dưới, nhằm làm đàm nhớt loãng ra (long đàm nhớt) để dễ dàng đưa đàm nhớt và các chất tiết ra ngoài. Tiếp đến cho trẻ hỉ mũi (nếu trẻ lớn trên 3 tuổi).

Với trẻ nhỏ dưới 3 tuổi không biết tự hỉ mũi, chuyên viên sẽ canh lúc trẻ chuẩn bị thở ra thì dùng ngón tay cái và trỏ đóng kín miệng và mũi của trẻ lại, để đưa dòng khí cùng với đàm nhớt và các chất tiết ra ngoài qua lỗ mũi dưới. Sau đó chuyên viên cho trẻ nằm ngửa, dùng ngón tay cái và trỏ của hai bàn tay đóng kín miệng trẻ lại khi trẻ hít vào, để đàm nhớt và các chất tiết còn sót lại trong khoang mũi xuống họng. Khi thấy trẻ chuẩn bị thở ra, chuyên viên dùng ngón cái đặt dưới góc lưỡi rồi dùng một lực nhẹ nhàng di chuyển ngón cái để đưa đàm nhớt và các chất tiết từ hầu họng ra khỏi miệng.

Kích thích ho

Khi đàm nhớt nằm trên cổ họng hoặc trong miệng mà trẻ không tự tống ra được, chuyên viên sẽ dùng ngón tay cái đặt trên khí quản, cách đầu xương ức khoảng 5cm, các ngón còn lại đặt sau cột sống cổ, sau đó cho một áp lực nhẹ nhàng thì trẻ sẽ ho và tống xuất đàm nhớt ra ngoài.

Kỹ thuật AFE thụ động

Đây là kỹ thuật được thực hiện để tống xuất đàm nhớt ở phần gần đường dẫn khí như: đàm ở trong họng, khí quản, phế quản, gia tăng luồng khí thở ra.

Chuyên viên vật lý trị liệu đặt một tay ở xương sườn cuối, một tay trên ngực trẻ. Khi trẻ bắt đầu thở ra, chuyên viên sẽ trợ giúp một lực nhẹ nhàng đến khi trẻ gần kết thúc thì thở ra. Họ sẽ lặp đi lặp lại động tác này 3-5 lần. Lúc này chuyên viên sẽ cảm nhận sự di chuyển của đàm nhớt và các chất tiết ở hai lòng bàn tay của họ, cho đến khi đàm nhớt di chuyển lên đến phần gần của đường dẫn khí thì chuyên viên sẽ kích thích ho (trình bày ở phần trên) để trẻ tống xuất đàm nhớt và các chất tiết ra ngoài.

Tóm lại, dùng vật lý trị liệu để lấy đàm nhớt là kỹ thuật dựa vào tính chất vật lý của chất khí để làm thay đổi áp suất trong đường dẫn khí, và theo nhịp thở của trẻ nhằm làm long đàm nhớt, thông thoáng đường thở giúp trẻ dễ thở hơn, bớt quấy khóc, giảm khò khè, giảm nôn ói, ăn uống tốt hơn.

Theo Tuoitre

Có nhiều nguyên nhân gây nên bỏng như bỏng do lửa, do hơi nóng, hóa chất và các tia… Vết thương bỏng có thể làm chết người hoặc để lại những di chứng nặng nề như mất chức năng vận động, biến dạng mất thẩm mỹ.

so-cuu-bong

Tình trạng của cơ thể khi bị bỏng phụ thuộc vào 3 yếu tố:

– Độ sâu của bỏng.

– Diện tích của vết bỏng.

– Vị trí vết bỏng trên cơ thể.

1. độ sâu của vết bỏng

Bỏng được phân loại theo độ sâu thành 3 độ:

1.1 ĐỘ I: BỎNG bề mặt:

Trường hợp này chỉ lớp ngoài cùng da bị tổn thương làm cho da nơi bị bỏng đỏ ửng lên và đau rát do đầu mút đây thần kinh bị kích thích. Loại bỏng này thường lành hẳn sau 3 ngày.

1.2. ĐỘ II: Bỏng một phần da:

Trường hợp này thì lớp biểu bì và một phần của lớp chân bì bị tổn thương, các túi phỏng nước được hình thành, nếu các túi phỏng nước được hìnhthành, nếu các túi phỏng nước vỡ ra sẽ để lộ một bề mặt màu hồng và cũng rất đau. Nếu được giữ sạch vết bỏng sẽ tự lành sau khoảng 1-4 tuần không cần điều trị gì mà cũng không để lại sẹo hoặc sẹo nhưng không đáng kể. Nhưng tổ chức da sau khi lành vết bỏng có thể đỏ trong MỘT THỜI GIAN DÀI HƠN. NẾU BỎNG ÐỘ II bị nhiễm khuẩn thì lớp da dưới sẽ bị phá hủy và bỏng độ II CHUYỂN THÀNH BỎNG ÐỘ III.

1.3. Ðộ III

Bỏng toàn bộ các lớp da: Toàn bộ các lớp da đều bị tổn thương bao gồm cả lỗ chân lông và tuyến mồ hôi. Vết bỏng trắng nhợt hoặc xám ìại, khô cứng và mất cảm giác (không đau) và các đầu nút dây thần kinh bị phá hủy.

Trong trường hợp bỏng rất nặng toàn bộ các lớp da thì lớp mỡ dưới da cũng có thể bị phá hủy và để lộ phần cơ.

Khi bị bỏng toàn bộ các lớp của da thì vết bỏng chỉ được lành dần từ phía bờ các vết bỏng và các vết bỏng rất dễ bị nhiễm khuẩn do vậy thời gian lành vết bỏng thường kéo dài rất lâu.

Ðộ sâu của một vết bỏng nhiều khi không đều nhau vì độ sâu của các vết bỏng phụ thuộc vào nhiệt độ, nồng độ hóa chất… và thời gian mà nhiệt độ hoặc hóa chất tác động lên da. Da có xu hướng giữ nhiệt và quần áo bị đốt cháy thành than làm cho vết thương trở nên nặng nề hơn, do đó việc sử dụng quá nhiều nước để rửa vết bỏng khi mà vết bỏng vừa mới xảy ra (trong vòng 30 phút khi xảy ra tai nạn) sẽ có tác dụng làm giảm ÐỘ SÂU CỦA BỎNG.

2. diện tích VếT BỏNG.

Có nhiều cách để ước tính diện tích vết bỏng nhưng thông thường diện tích vết bỏng được tính toán bằng cách sử dụng quy tắc số 9.

ủa vết bỏng với các dịch của cơ thể phục thuộc vào phần. TRĂM

nh hưởng của vết bỏng với các dịch của cơ thể phụ thuộc vào phần trăm diện tích bỏng so với diện tích cơ thể. Bỏng càng rộng thì càng nguy hiểm hơn vì bỏng càng rộng càng gây mất nhiều dịch của cơ thể, gây đau nhiều hơn, dễ bị sốc và nhiễm khuẩn. Ðối với người lớn nếu bỏng từ 15% trở lên và trẻ em từ 10% trở lên phải được coi là bỏng nặng và phải được chuyển tới bệnh viện.

Hình 215. Cách tính diện tích vết bỏng

3. Vị TRí VếT BỏNG TR? CƠ THể.

BỎNG Ở NHỮNG vùng khác nhau cũng có ý nghĩa rất lớn đối với tính mạng và quá trình hồi phục.

Ví dụ:

– Bỏng ở vùng mặt, cổ có thể gây phù nề chèn ép đường thở dễ bị sẹo xấu và sự biến dạng

– BỎNG Ở MẮT có thể dẫn đến mù

– BỎNG Ở BÀN tay hoặc vùng các khớp có thể dẫn đến co cứng, mất hoặc giảm chức năng hoạt động…

– Bỏng vùng lưng, vùng hậu môn sinh dục và những vùng gần hậu môn sinh dục thường có nguy cơ nhiễm khuẩn cao, kéo dài thời gian lành vết bỏng.

– Nếu nạn nhân hít phải khói, hơi nóng thì có thể gây bỏng đường hô hấp làm phù nề đường hô hấp, gây tắc nghẽn dẫn đến suy hô HẤP VÀ RẤT DỄ DẪN ÐẾN VIÊM PHỔI…

4. CHĂM SóC CấP CứU BỏNG NóI CHUNG.

4.1. Dập tắt lửa đang cháy trên quần áo và làm mát vết bỏng.

Ðây là việc làm trước hết để tránh cho nạn nhân bị bỏng sâu và rộng thêm.

– Dùng nước hoặc cát để dập tắt lửa, hoặc có thể dùng áo khoác, chăn, vải bọc kín chỗ đang cháy để dập lửa (không dùng vải nhựa, ni lông để dập lửa).

– Xé bỏ phần quần áo đang cháy âm ỉ hoặc bị thấm đẫm nước nóng, dầu hay các dung dịch hóa chất nếu ngay sau đó không có nước lạnh để dội vào vùng bỏng.

– Bọc vùng bỏng chắc chắn rồi đổ nước lạnh lên. Với những vết bỏng ở táy có thể để cho nước từ vòi nước máy chảy trực tiếp lên vùng bỏng hoặc ngâm phần chi bị bỏng trong nước lạnh lên vùng bỏng nhưng phải thay thường xuyên 3-4 phút một lần cho đến khi nào nạn nhân thấy đỡ đau rát.

– Tháo bỏ những vật cứng trên vùng bỏng như giầy, ủng, vòng nhẫn trước khi vết bỏng sưng nề.

– Che phủ vùng bỏng bằng gạc, vải vô khuẩn nếu có hoặc bằng gạc hoặc vải sạch.

Chú ý: Ðừng bao giờ:

– Dùng nước đá để làm mát vết bỏng hoặc ngâm toàn bộ cơ thể vào trong nước.

– Tháo bỏ quần áo bị cháy đã được làm mát

– Sờ mó vào vết bỏng

4.2. Phòng chống sốc.

– ĐẶT NẠN NHÂN Ởtư thế nằm

– Ðộng viên an ủi nạn nhân

– Cho nạn nhân uống nước vì nạn nhân rất khát nhất là khi phải chuyển nạn nhân đi xa.

Chú ý:

– Chỉ cho nạn nhân uống nước khi nạn nhân tỉnh táo, không bị nôn và không có những chấn thương khác.

– Dung dịch cho uống: Nếu có điều kiện nên pha dung dịch sau để cho nạn nhân uông.

Pha vào 1 lít nước:

+ 1/2 thìa cà phê muối ăn

+ 1/2 thìa cả phê muối na tri bicarbonat

2-3 thìa cà phê đường hoặc mật ong, nước cam, chanh ép.

Nếu không có điều kiện để pha dung dịch trên thì có thể cho nạn nhân uống nước chè đường, nước trái muối, đường hoặc oreson.

– Dùng thuốc giảm đau cho nạn nhân. Dùng aspirin

Khi dùng thuốc giảm đau phải chú ý nếu nghi ngờ nạn nhân có CHẤNTHƯƠNG BÊN TRONG THÌ không được dùng thuốc giảm đau, an thần mạnh.

– Nhanh chóng chuyển nạn nhân tới cơ sở điều trị càng sớm càng tốt.

4.3. Duy trì đường hô hấp.

Nạn nhân bị bỏng vùng mặt cổ, nhất là khi bị kẹt trong nhà BỊ CHÁY MÀ ỞÐÓ CÓ DẦU, đồ đạc, bàn ghế, đang bốc cháy… thì sẽ nhanh chóng bị phù mặt và cổ và các biến chứng của đường hô hấp do hít phải khói hơi. Những trường hợp này phải ưu tiên số 1 và phải được chuyển tới bệnh viện ngay. Nhưng trong khi chờ đợi phải theo dõi sát nạn nhân và phải đảm bảo sự thông thoát đường hô hấp (giữ tư thế đúng hoặc có thể đặt một canul vào mũi hoặc miệng nạn nhân, có trường hợp phải mở khí quản…)

4.4. Phòng chống nhiễm khuẩn.

Bản thân vết bỏng là vô khuẩn. Do vậy khi cấp cứu bỏng phải rất thận trọng để tránh vết bỏng bị nhiễm bẩn: không dùng nước không sạch để dội hoặc đắp vào vết bỏng và có điều kiện người cấp cứu nên rửa tay sạch và tránh động chạm vào vết bỏng.

4.5. Băng vết bỏng.

– Không dược bôi dầu mỡ, dung dịch cồn ngay cả kem kháng sinh vào vết bỏng.

– Không được chọc phá các túi phỏng nước

– Không được bóc da hoặc mảnh quần áo dính vào vết bỏng

– Nếu có điều kiện thì phủ vết bỏng bằng gạc vô khuẩn nếu không thì dùng vải càng sạch càng tốt.

– Vết bỏng sẽ chảy rất nhiều dịch nên trước khi dùng băng co giãn để băng vết bỏng lại thì phải đệm một lớp bông thấm nước lên trên gạc hoặc vải phủ vết bỏng.

Chú ý: Nếu không có băng co giãn thì chỉ được băng lỏng vùng bỏng để đề phòng khi vết bỏng sưng nề gây chèn ép.

– Nếu bỏng bàn tay thì có thể cho bàn tay vào một túi nhựa rồi băng lỏng cổ tay, làm như vậy sẽ cho phép nạn nhàn vẫn cử động được các ngón tay một cách dễ dàng vừa tránh làm bẩn vết bỏng.

– Nếu vết bỏng ở cổ tay hoặc chân thì trước hết phủ vết bỏng bằng gạc vô khuẩn hoặc vải sạch sau đó cho vào một túi nhựa. Có thể đặt nẹp cố định chi bị bỏng, nhưng trong bất kỳ trường hợp nào cũng phải nâng cao chi bị bỏng để chống sưng nề các ngón chân, ngón tay và phải khuyên nạn nhân vận động sớm các ngón chân, ngón tay nếu có thể được.

5. cấp cứu một số TRườNG HợP BỏNG đặC BIệT.

5.1. Bỏng điện

Ðiện giật hoặc sét đánh có thể gây bỏng rất sâu, một số bệnh nhân bị bỏng điện thì cơ thể cũng bị ngừng tim do dòng diện đánh vào tim do vậy phải tiến hành cấp cứu ngừng tim ngay nếu nạn nhân bị ngừng tim rồi mới sơ cứu vết bỏng sau. Nhưng trước khi tiến hành vết bỏng phải:

– Ngắt điện

– Nếu không thể ngắt điện được thì phải gỡ nạn nhân ra khỏi sự tiếp xúc với điện (phải dùng vật cách điện: Cao su, gậy gỗ khô để gỡ hoặc kéo nạn nhân).

– Khi sơ cứu vết bỏng xong phải nhanh chóng chuyển nạn nhân tới ngay bệnh viện vì những bệnh nhân bị điện giật rất dễ có rối loạn về tim mạch.

5.2. Bỏng hóa chất

Một số loại hóa chất như acid, kiềm mạnh hoặc iod, phospho dùng trong công nghiệp hoặc vôi mới tôi có thể gây nên tổn thương bỏng nặng và làm nạn nhân rất đau đớn; với những loại bỏng nặng và làm nạn nhân rất đau đớn với những loại bỏng do hóa chất phải:

– Rửa ngay, rửa liên tục bằng nước càng nhiều càng tốt, nếu không các tổ chức ở vùng bỏng sẽ bị hoại tử hoàn toàn.

Nếu xác định được nguyên nhân gây bỏng là do acid thì rửa vết bỏng bằng nước :ó pha bicarbonat. Nếu bỏng là do kiềm thì rửa bằng nước có pha giấm, chanh. Nhưng nếu bỏng mắt do hóa chất chỉ được rửa bầng nước bình thường. Nếu trong mắt vẫn còn những hạt vôi nhỏ thì phải rửa mạnh để làm bật những hạt vôi đó ra.

– Phải tháo bỏ ngay quần áo bị dính hóa chất. Khi tháo phải lưu ý bảo vệ tay của người làm động tác đó (không dùng tay trần để tháo).

– Nếu vết bỏng chảy nhiều máu thì phải xử trí như một vết thương chảy máu.

– Chuyển ngay nạn nhân tới cơ sở điều trị.

Cấp cứu bỏng thì đơn giản không rắc rối phức tạp nhưng đòi hỏi phải cấp cứu khẩn trương, linh hoạt. Người cấp cứu thành thạo có thể tránh được nhiều biến chứng nguy hiểm cho nạn nhân. 70% số ca bỏng mà được giữ sạch thì sẽ lành tự nhiên. Nhiều ca bỏng nặng, bỏng rộng nhưng được cứu sống và để lại di chứng không đáng kể nhờ có sự cấp cứu và chăm sóc cấp cứu ban đầu tốt.

Bệnh tay chân miệng gặp rải rác quanh năm và xuất hiện ở hầu hết các địa phương. Ở phía Nam, bệnh  tăng cao từ tháng 3 đến tháng 5 và từ tháng 9 đến tháng 12 hàng năm. Bệnh dễ gây thành dịch do virus đường ruột gây ra. Hai nhóm tác nhân gây bệnh thường gặp là Coxsackie virus A16 và Enterovirus 71 (EV71) .  Bệnh thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, nhất là  ở nhóm tuổi dưới 3 tuổi. Các yếu tố sinh hoạt tập thể như trẻ đi học tại nhà trẻ, mẫu giáo là các nguy cơ lây truyền bệnh, nhất là  trong các đợt bùng phát dịch.

Bệnh tay chân miệng lây từ người sang người, bệnh lây truyền qua đường “phân – miệng” và tiếp xúc trực tiếp, nhưng chủ yếu lây lan qua tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết từ mũi, hầu, họng, nước bọt, dịch tiết từ các nốt phỏng hoặc tiếp xúc với chất tiết và bài tiết của bệnh nhân trên dụng cụ sinh hoạt, đồ chơi, bàn ghế, nền nhà,…. nhất là khi bệnh nhân hắt hơi , nói chuyên. Đa số bệnh tay chân miệng có dự hậu tốt, tuy nhiên bệnh do EV71 thường gây các biến chứng thần kinh nặng và có thể dẫn đến tử vong. Biểu hiện chính là tổn thương da -niêm mạc dưới dạng phỏng nước ở các vị trí đặc biệt như niêm mạc miệng, lòng bàn tay, lòng bàn chân, mông, gối. Bệnh có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm như viêm não, viêm cơ tim, phù phổi cấp dẫn đến tử vong nếu không được phát hiện sớm và xử trớ kịp thời..

Cần nhắc lại là đa số tiên lượng tốt nên bệnh chủ yếu được điều trị tại nhà, phụ huynh không nên hoảng hốt khi được Bs chẩn đoán là tay chân miệng.

Điều trị chủ yếu là điều trị triệu chứng, theo dõi sốt, phát hiện sớm những triệu chứng thần kinh như giật mình, hốt hoảng, nôn ói hay tiêu lỏng, và điều trị biến chứng, đảm bảo vệ sinh răng miệng, thân thể, đảm bảo cung cấp nước , dinh dưỡng cho trẻ.

Đi khám lại ngay khi có dấu hiệu nặng như:

– Sốt cao liên tục ≥ 39ºC khó hạ,

– thở mệt hay thở yếu, tiêu lỏng hay nôn ói nhiều,

– giật mình, chới với, run chi, quấy khóc,

– bứt rứt khó ngủ, yếu hay liệt các chi, co giật hay hôn mê.

Hiện tại chưa có vacxin phòng bệnh đặc hiệu, nên các biện pháp phòng bệnh chủ yếu sử dụng các biện pháp phòng bệnh phổ cập, áp dụng phòng bệnh cho bệnh lây qua đường tiếp xúc.

Các biện pháp phòng ngừa:

-Giữ vệ sinh sạch sẽ nhà cửa, lau rửa vật dụng cá nhân, rửa và phơi nắng đồ chơi .

– Cho trẻ ăn thức ăn chín, uống nước đun sôi.

-Rửa tay sạch sẽ trước ăn và sau khi đi cầu.

-Cách ly khi có người nhà hoặc trong lớp học có trẻ nghi ngờ bị bệnh.

-Cho trẻ ăn uống đầy đủ và ngủ chơi hợp lý.

Đăng bởi: BS.CK2. Nguyễn Thị Thanh – TK.DV1


1. VÌ SAO BỊ CAO HUYẾT ÁP
CHA hiện là bệnh mãn tính phổ biến nhất trong cộng đồng. Nguyên nhân chưa được biết rõ, tuy nhiên, ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy yếu tố môi trường (dinh dưỡng, lối sống) kết hợp với yếu tố di truyền là nguyên nhân chính gây ra bệnh này.

benh-cao-huyet-ap


Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy, rõ ràng môi trường có vai trò to lớn, vì ở một số cộng đồng không có vấn đề CHA, nhưng nếu cộng đồng đó thay đổi lối sống, cách ăn uống, CHA có thể tăng cao với tỉ lệ tới 30% dân chúng. Cùng trong môi trường sống bất lợi đó, không phải ai cũng bị CHA mà chỉ có những người có yếu tố di truyền (genotype) bị mắc mà thôi. Ngược lại, ở những cộng đồng sống bằng săn bắn, hái lượm có lượng sodium (Na+) tiêu thụ thấp và lượng potassium (K+)tiêu thụ cao trong khẩu phần ăn thì không có CHA.

Các nghiên cứu cũng cho thấy, một số người, với một sự bất thường nào đó của genotype (mà hiện nay chưa xác định), khi tiếp xúc với chế độ ăn có lượng Sodium (Na+) cao, lượng potassium (K+) thấp, với những thay đổi trong lối sống như stress, uống rượu, mập phì… dẫn đến tăng huyết áp. Các bất thường về gene có thể liên quan đến việc tổn thương hệ thống kiểm soát thải NaCl hoặc là sự khiếm khuyết của thận trong khả năng thải Na+. Như vậy, CHA được gọi là vô căn (Essential hypertention) nhưng thực ra cũng có nguyên nhân, đó là sự thay đổi chế độ ăn, lối sống ở những người có yếu tố gen nhạy cảm CHA. Vấn đề thách thức trong thời gian tới là xác định được các đối tượng này, để tác động vào chế độ ăn và lối sống, để bảo vệ họ phòng ngừa việc xuất hiện CHA ở họ.

2. THẾ NÀO LÀ CAO HUYẾT ÁP?

Bệnh cao huyết áp, người dân thường gọi là “lên máu” hoặc “Tăng xông máu”. Đây là trường hợp chỉ số huyết áp cao hơn bình thường. Tùy theo thể trạng của từng người, nhưng bình thường, huyết áp lý tưởng được tính ≤ 120/80 . Người có chỉ số huyết áp cao hơn 140/90 mmHg gọi là CHA.
                                                           Xếp loại huyết áp (HA – mmHg)

Tâm thu Tâm trương
HA bình thường < 120 < 80
Tiền cao HA 120 – 139 80 – 89
Cao HA giai đoạn I 140 – 159 90 – 100
Cao HA giai đoạn II > 160 > 100

3. LÀM SAO BIẾT MÌNH BỊ CAO HUYẾT ÁP?
Cao huyết áp đã được gọi là “Kẻ giết người thầm lặng”. Khoảng 20-30% dân chúng bị bệnh này, mà phần lớn không biết vì bệnh thường không có triệu chứng, chỉ được phát hiện khi đã bị tai biến mạch não, đau tim, suy thận, tức là đã trễ. Những triệu chứng ban đầu có thể là: nhức đầu vùng ót hay vùng trán, chóng mặt, hay mệt, yếu liệt tay chân vài giây đến vài phút, chảy máu cam … Nhưng tốt nhất, để biết chắc chắn mình có bị CHA hay không, ta phải đo huyết áp.

Cách đo: Đo huyết áp ít nhất 2-3 lần trong tình trạng nghỉ ngơi ổn định, tư thế ngồi, băng đo ngang vị trí tim, lấy giá trị trung bình giữa những lần đo đó.

4. CAO HUYẾT ÁP NGUY HIỂM NHƯ THẾ NÀO?
Cao huyết áp là một bệnh mãn tính không lây nên người dân thường ít chú trọng để phòng ngừa và chữa trị hơn những loại bệnh cấp tính khác, nhưng, thực sự, CHA rất nguy hiểm, nó có thể gây rối loạn nhịp tim, suy tim, nhồi máu cơ tim dẫn đến đột tử hoặc gây đột quỵ dẫn đến xuất huyết não, hôn mê, liệt nửa người; Nhẹ hơn thì nước tiểu có đạm, suy thận, xơ vữa động mạch, thị giác mờ, có hiện tượng ruồi bay trước mắt …

5. LÀM GÌ KHI BỊ CAO HUYẾT ÁP ?
Trước hết, đây là một bệnh mãn tính, không điều trị dứt được mà cần xác định chung sống tốt nhất với bệnh bằng việc theo dõi thường xuyên chỉ số huyết áp (hàng ngày) và uống thuốc theo chỉ dẫn của Bác sĩ, điều chỉnh lối sống thật sự lành mạnh như giữ cân nặng phù hợp, ăn uống hợp lý kết hợp với hoạt động thể lực thường xuyên. Hạn chế rượu, thuốc lá và những căng thẳng tâm lý bất lợi vì đây là những tác nhân có thể khiến cho bệnh CHA nặng thêm

6. TẠI SAO PHẢI ĂN UỐNG HỢP LÝ & GIỮ CÂN NẶNG PHÙ HỢP?
Nhu cầu Na+ ở trẻ em và người lớn £ 200mg, trong khi, thông thường, hàng ngày chúng ta ăn vào 4.000 – 6.000mg (tương đương 10g-15g muối, lượng Na+ chiếm 40% trong NaCl) tức là cao hơn nhiều so với nhu cầu.

Việc tiêu thụ quá nhiều muối còn dẫn đến một số bất lợi khác đối với sức khỏe như :
· Giữ nước trong các bệnh suy tim, thận nhiễm mỡ.
· Gây phù chu kỳ , phù trước kỳ kinh, phù vô căn.
· Tăng co thắt, kích thích cơn suyễn.
· Liên quan đến ung thư dạ dày .
· Tăng thải Ca++ qua thận, tăng nguy cơ loãng xương.

Do vậy việc giảm lượng muối (Na+) ở người cao huyết áp luôn được khuyến cáo ngay ở giai đoạn đầu điều trị không dùng thuốc.

Dư thừa cân nặng cũng đang là vấn đề sức khỏe toàn cầu với tỉ lệ gia tăng khắp mọi nơi. Tại Mỹ, với tỉ lệ người dư thừa cân nặng chiếm khoảng 50% dân chúng và là nguyên nhân của 20-30% trường hợp cao huyết áp.

7. MỤC ĐÍCH CHẾ ĐỘ ĂN TRONG BỆNH CAO HUYẾT ÁP LÀ GÌ ?
– Giảm cân nếu có thừa cân, bằng cách:
*  Giảm cung cấp năng lượng bằng các chế độ ăn phù hợp như: ăn thịt nạc, bỏ da; Ăn các món luộc, hấp, kho, nướng thay cho chiên, quay, xào; Uống sữa không chất béo; Ăn nhiều rau, trái cây … thay cho thức ăn ngọt; Giảm bớt kích cỡ các bữa ăn; Ăn chậm, nhai kỹ; Ăn nhiều vào buổi sáng, tránh ăn nhiều vào buổi tối
* Tăng tiêu hao năng lượng với những hoạt động như: chơi thể thao > 30 phút hầu hết các ngày; Tập thể dục khoảng 1 giờ hầu hết các ngày trong tuần; Năng động trong mọi hoạt động, bước > 5.000 – 10.000 bước/ ngày

– Kiểm soát chỉ số khối cơ thể (BMI) nên có: 18.5 – 22
Cân nặng (kg)
Cách tính: BMI = ———————-
(Chiều cao)2 (m)

– Giảm lượng muối tiêu thụ < 6g/ ngày, bằng cách: hạn chế sử dụng những thức ăn chế biến sẵn như mì ăn liền, giò chả, lạp xưởng, đồ hộp…; Giảm những thức ăn mặn như mắm, tương, dưa, cà…; Giảm 1 số thói quen của người Á Đông như chấm muối, chấm nước mắm … khi không thật sự cần; Bớt dùng bột ngọt …
– Giảm các yếu tố bất lợi trong thực phẩm: rượu, bia, cafein, chất béo bão hòa, thực phẩm calori rỗng …
– Tăng cường các yếu tố bảo vệ: thực phẩm giàu K, Mg, Ca, các chất chống oxy hóa, chất xơ, w-3/ w-6 và những thực phẩm có tính chất an thần, lợi tiểu nhẹ … như: rau cải, cà chua, bầu bí, khóm, mía , cam, khoai lang, khoai tây, khoai môn, đậu xanh, đậu đen… (500g – 600g rau trái, 30-40g đậu đỗ/ngày)

8. LÀM THẾ NÀO ĐỂ PHÒNG NGỪA CAO HUYẾT ÁP?
– Giảm béo phì
– Tăng hoạt động thể lực
– Dinh dưỡng hợp lý – giảm ăn mặn

Bs. Nguyễn Thị Kim Hưng
Trung tâm Dinh dưỡng TPHC

Đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hóa đường kéo theo rối loạn chuyển hóa lipid, protid và điện giải. Hậu quả muộn của các rối loạn chuyển hóa này là tổn thương các vi mạch, các mạch máu nhỏ và mạch máu lớn ở bệnh nhân đái tháo đường.

Chế độ dinh dưỡng được coi là liệu pháp điều trị quan trọng cho những người mắc bệnh đái tháo đường.

Tại sao việc ăn uống quan trọng đối với bệnh nhân đái tháo đường?

Lượng thức ăn đưa vào cơ thể quá nhiều làm nguy cơ đường và mỡ trong máu tăng cao. Sự lựa chọn thực phẩm đúng đắn sẽ giúp bạn kiểm soát lượng đường trong máu, phòng ngừa nguy cơ biến chứng đái tháo đường. Tuy nhiên, không có một chế độ ăn chung nào cho tất cả các bệnh nhân đái tháo đường, vì còn phụ thuộc rất nhiều yếu tố như: người béo hay gầy, lao động thể lực hoặc không lao động, có biến chứng hay không và còn phụ thuộc vào kinh tế của từng bệnh nhân.

Chế độ dinh dưỡng của bệnh nhân đái tháo đường

thap-dinh-duong-cho-benh-nhan-dai-thao-duong

Tháp dinh dưỡng cho bệnh nhân đái tháo đường

– Protein (đạm): Lượng protein lý tưởng là 0,8g/kg thể trọng/ngày đối với người lớn. Khẩu phần có lượng protein quá nhiều là không cần thiết và còn có hại đối với bệnh nhân có bệnh lý thận sớm.

VD: Thực phẩm cung cấp protit: 100g thịt nạc tương ứng với 15 – 18g protit

– Lipid (chất béo): Tỷ lệ lipid không nên quá 25%-30% tổng số năng lượng. Lượng cholesterol chỉ dưới 250mg/ngày. Chế độ ăn không hợp lý bao gồm nhiều chất béo, đặc biệt là các axit béo no và cholesterol sẽ làm tăng cholesterol máu là tiền đề của các bệnh tim mạch, cao huyết áp. Do đó, việc kiểm soát chất béo cũng giúp ngăn ngừa xơ vữa động mạch.

VD: Thực phẩm cung cấp Lipit: 100g dầu ăn tương đương với 90 – 100g lipit

– Glucid (đường): Tỷ lệ glucid chấp nhận được là 50% – 60% tổng số năng lượng. Nên sử dụng các glucid phức hợp như gạo, khoai củ, hạn chế tối đa đường.

VD: Thực phẩm cung cấp glucid: bánh mỳ 40g, gạo 25g, mì sợi 32g, khoai tây 100g, khoai mì 60g, đậu 40g, 1 trái cam vừa, 1 trái chuối vừa, 1 trái táo, 250g dâu tây, 1 trái xoài đều tương tương đương với 20g glicid

– Cần đảm bảo đủ các yếu tố vi lượng (sắt, iod…), vitamine. Các loại này thường có trong rau quả tươi.

– Nên ăn nhiều chất xơ mặc dù không được hấp thu qua ruột, nhưng rất cần thiết cho sự tiêu hóa. Nên ăn từ 20 đến 35 gr chất xơ mỗi ngày và chất xơ có nhiều trong các loại ngũ cốc nguyên hạt (gạo lức, bắp rang,…), trong trái cây, rau quả và các loại đậu. Chất xơ còn có thể làm giảm một số mỡ trong máu, chống táo bón và làm chậm sự hấp thu của đường sau bữa ăn.

– Bớt ăn muối: Thông thường chúng ta ăn nhiều muối hơn nhu cầu thực sự của cơ thể. Ăn mặn tăng nguy cơ cao huyết áp ở một số người. Bệnh này thường đi kèm với đái tháo đường và nếu không kiểm soát tốt huyết áp sẽ tăng nguy cơ bị các biến chứng của hai bệnh này như tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim… Nên:

* Bớt nêm muối khi nấu ăn và bớt dùng nước mắm, xì dầu trong khi ăn.

* Tránh các thức ăn chế biến có chứa nhiều muối (như mắm, cá muối…).

Phân bổ bữa ăn trong ngày

Người bệnh đái tháo đường nên chia khẩu phần hằng ngày ra làm nhiều bữa ăn, tốt nhất là 3 bữa ăn chính và từ 2 đến 3 bữa ăn phụ để tránh đường huyết lên quá cao khi no và xuống quá thấp khi đói. Người bệnh đái tháo đường cũng như người lành mạnh, nếu ăn uống điều độ đúng giờ sẽ thấy ngon miệng, thư thái và có nhiều năng lực hơn. Tuy nhiên, không có một tiêu chí chuẩn mực nào cho việc phân chia các bữa ăn trong ngày vì tùy thuộc vào mức tiêu hao năng lượng của từng đối tượng: có người thì làm việc nặng, hoạt động thể lực hay có người chỉ làm những việc nhẹ nhàng …nên nhu cầu cơ thể sẽ khác nhau

Dưới đây là một cách phân chia bữa ăn trong ngày:

– Chia nhỏ các bữa ăn trong ngày dựa trên tổng số năng lượng của cả ngày (theo tỷ lệ 1-1-3-1-3-1/10): bữa sáng 10%, bữa phụ buổi sáng: 10%, bữa trưa: 30%, bữa phụ buổi chiều: 10%, bữa tối: 30%, bữa phụ vào buổi tối: 10% năng lượng.

– Nếu bệnh nhân có tiêm insulin, phải tính thời điểm lượng glucose máu tăng cao sau bữa ăn phù hợp với thời điểm insulin có tác dụng mạnh nhất.

– Đối với bệnh nhân điều trị bằng insulin tác dụng chậm, dễ có xu hướng bị hạ đường huyết trong đêm, nên có các bữa ăn phụ trước khi đi ngủ. Hoặc trong túi nên chuẩn bị kẹo để phòng khi hạ đường huyết.

ThS.DS. Lê Thị Diễm Hồng

Tác giả : TS. BS. PHAN VĂN BÙI (Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng cán bộ y tế)

Trước khi được lọc máu, người bị suy thận phải theo chế độ ăn giới hạn về muối và chất đạm (thịt, cá, tôm, cua, gà, vịt…).Thận nhân tạo giúp loại bỏ khỏi cơ thể các chất dư thừa do ăn uống đưa vào. Tuy nhiên, chức năng của nó không thể hoàn hảo như thận bình thường, nên chế độ ăn của bệnh nhân lọc thận có thể thay đổi hơn so với trước khi lọc thận, nhưng không được ăn uống như bình thường.

Nước và trọng lượng cơ thể

Suốt trong thời gian dài bị suy thận và trước khi được chạy thận nhân tạo, người bệnh phải ốm đi, vì nếu cân nặng không giảm nghĩa là đã có sự ứ đọng muối và nước trong cơ thể. Có nhiều bệnh nhân phải mất đi hơn 10kg trong một thời gian ngắn chạy thận nhân tạo do khối lượng nước và muối dư thừa đã được rút bỏ, và nhờ vậy nhiều trường hợp huyết áp cao sẽ mất đi mà không cần dùng thuốc.

Người bệnh phải theo dõi cân nặng mỗi ngày vào một giờ cố định với trang phục giống nhau và dùng cùng một cân. Không được tăng cân hơn 0,5kg/ngày. Nếu cân nặng tăng quá nhiều, nghĩa là đã dùng quá nhiều nước, muối. Khi đó bắt buộc phải giới hạn lượng nước uống và kiểm tra chế độ dinh dưỡng.

Cảm giác khát nước tùy thuộc rất nhiều vào số lượng muối ăn. Do đó, nếu giảm được muối trong thức ăn, số lượng nước đưa vào cơ thể sẽ tự động giảm đi vì bệnh nhân ít cảm thấy khát nước hơn.

Theo nguyên tắc, bệnh nhân lọc thận có thể dùng tổng cộng khoảng 500ml/ngày (nước, cà phê, cháo, súp, canh…) và có thể gia tăng thêm một lượng bằng với lượng nước tiểu còn lại, tức là:

Lượng nước uống/ngày (tính cả lượng nước có trong thức ăn) = 500ml + lượng nước tiểu.

Thí dụ: Nếu người bệnh đi tiểu 200ml/ngày thì có thể dùng tổng cộng 700ml nước/ngày.

Cần giới hạn nước uống vì trong tất cả các loại thức ăn cũng đều có nước, nhất là trái cây và rau.

Sự theo dõi cân nặng là yếu tố cơ bản và chính yếu. Sau các tuần lễ đầu chạy thận nhân tạo, nếu chế độ dinh dưỡng được tuân thủ nghiêm ngặt, người bệnh có thể dần dần lên cân thật sự nhưng huyết áp không tăng. Tuy nhiên, cân nặng ổn định với thể trạng khỏe mạnh bình thường chỉ có được sau 6 tháng đến 1 năm chạy thận nhân tạo.

Muối

Bình thường cơ thể hấp thu khoảng 8-12g muối mỗi ngày, phần lớn số muối này sẽ được thải bỏ qua đường tiểu vì không cần thiết cho cơ thể. Khi cả hai thận đều bị suy, muối sẽ không được loại bỏ mà ứ lại trong cơ thể; lúc đó phù, cao huyết áp sẽ xuất hiện, gây suy tim, ứ nước trong phổi và tổn thương các mạch máu. Vì vậy phải giới hạn muối tối đa để tránh cao huyết áp. Khi nào huyết áp chưa bình thường tức là cơ thể còn chứa quá nhiều muối.

Thận nhân tạo có thể loại bỏ bớt muối với điều kiện lượng muối ăn vào không quá nhiều. Khi huyết áp trở lại bình thường, bệnh nhân có thể dùng thêm một ít muối nhưng phải rất cẩn thận, càng cữ được càng tốt.

Bệnh nhân không được tăng cân quá 0,5kg/ngày và huyết áp trước khi chạy thận nhân tạo không được quá 160/90mmHg.

Nếu tăng cân quá nhiều hoặc huyết áp trước khi chạy thận quá cao, cần kiểm tra xem có phải đã dùng quá nhiều muối hay không (sự tăng cân quá nhiều thường là do dùng muối quá nhiều). Khi tăng cân nhiều, cần phải rút nhiều nước trong lúc chạy thận, điều này không dễ dàng và thường gây nhiều tai biến và biến chứng.

Chế độ kiêng muối không những bắt buộc không được cho thêm muối vào thức ăn mà còn phải kiêng cả các loại thức ăn có chứa nhiều muối như khô, mắm, tương, chao…

Chất kali

Chất kali bị ứ đọng lại trong cơ thể khi bị suy thận, kali trong máu trên 6,5mmol/l sẽ cực kỳ nguy hiểm vì có thể làm tim loạn nhịp và đưa tới ngừng tim đột ngột, gây tử vong bất cứ lúc nào mà không có triệu chứng báo trước. Vì vậy, bệnh nhân suy thận cần tránh các thức ăn chứa nhiều kali như trái cây, nhất là cam, chuối, nho, đào, chanh, bưởi, dâu… Một số loại trái cây chứa ít kali hơn như táo, lê, dưa hấu… Các loại trái, hạt khô như đậu phộng, hạt điều, hạt dẻ, sô-cô-la, cà phê chứa kali nhiều hơn chuối đến 10 lần.

Các loại rau tươi cũng có nhiều kali nhưng có thể dùng được sau khi đun nấu 2-3 lần và bỏ nước đã luộc rau. Gạo, nui, mì… chứa ít kali.

Để làm giảm phần nào lượng kali trong máu, có thể dùng thêm 5-15g/ngày Keyexalate. Thuốc gây táo bón hiện thời giá trên thị trường còn khá cao.

Chất đạm

Đạm là chất cấu tạo chính của bắp thịt, là chất không thể thiếu cho đời sống của các tế bào trong cơ thể. Nhưng sử dụng các chất này sẽ sinh ra urê và urê bị tích tụ lại trong cơ thể khi bị suy thận. Vì vậy, trước khi lọc thận, người bệnh phải theo chế độ ăn giảm đạm; Nhưng khi đã được chạy thận thì thận nhân tạo thải được urê khỏi cơ thể, nên người bệnh có thể và bắt buộc phải ăn vào một lượng đạm như người bình thường.

Trong khẩu phần ăn cần phải có thịt, gà, cá, trứng (lòng trắng) vì các loại này chứa đạm có chất lượng cao, giúp bù đắp cho hoạt động thường ngày của hệ cơ. Ngoài đạm động vật, cũng có thể dùng đạm có nguồn gốc thực vật như đậu nành, đậu xanh…, nhưng cần cẩn thận vì các loại đậu chứa khá nhiều kali.

Phosphore

Phosphore ít được lọc qua thận nhân tạo, phosphore có trong hầu hết các loại thức ăn, nhất là các loại có chứa nhiều chất đạm, đặc biệt là sữa.

Khi phosphore trong máu tăng, sẽ làm tăng hoạt động tuyến cận giáp và cùng với calci bám đóng vào thành mạch máu.

Các thuốc ngăn cản sự hấp thu phosphore ở máu không đủ để kiểm soát tình trạng tăng phosphore máu, vì vậy cần giảm các loại thức ăn có chứa nhiều phosphore như sữa, pho-mát, cua, lòng đỏ trứng, thịt thú rừng, các loại rau quả khô.

Năng lượng

Cần phải được cung cấp đầy đủ để sử dụng chất đạm. Bình thường cơ thể cần 35-40calo/kg/ngày, có thể được cung cấp dưới dạng đường hay dầu mỡ; đường có nhiều trong các loại thức ăn chế biến từ lúa và lúa mì như bánh mì, gạo, nui.

Sinh tố

Người bình thường với chế độ ăn đầy đủ không cần cung cấp thêm sinh tố. Tuy nhiên, người chạy thận sẽ bị mất đi một số sinh tố, nhất là các loại sinh tố tan trong nước như nhóm sinh tố B, C. Vì vậy có thể phải cung cấp thêm các sinh tố này.

Tóm lại, với bệnh nhân suy thận, không bắt buộc phải cấm tuyệt đối bất kỳ loại thức ăn nào, nhưng chỉ nên dùng với số lượng vừa phải và khẩu phần ăn hàng ngày phải quân bình đầy đủ đạm, năng lượng, sinh tố. Cần chú ý hạn chế các thức ăn chứa nhiều kali và phosphore.

Bệnh thủy đậu hoặc Varicella Zoster (Herpesvirus varicellaem) là do siêu vi trùng gây ra. Bệnh đặc trưng bằng sốt, nổi phát ban kiểu bóng nước ở da và niêm mạc. Đa số bệnh diễn tiến lành tính nhưng đôi khi có thể gây tử vong do những biến chứng trầm trọng như: viêm não hậu thủy đậu, hội chứng Reye…

Dịch tể học:

Bệnh thủy đậu xảy ra ở người, mọi lứa tuổi  kể cả nhũ nhi, khoảng 90% ở lứa tuổi < 10 tuổi, nữ và nam khả năng mắc bệnh như nhau.

Bệnh xảy ra từ tháng giêng đến tháng 5.

Đường lây chủ yếu bằng đường hô hấp qua những giọt nước bọt bắn ra từ bệnh nhân, lây qua tiếp xúc bóng nước, vẩy bóng nước (nốt đậu đóng mài) trực tiếp có khả năng lây bệnh.

Dịch Zona có thể làm cho dịch thủy đậu xuất hiện.

Thủy đậu gây miễn dịch vĩnh viễn sau khi bị nhiễm virus lần đầu, nhưng cũng có khi bệnh lần 2 thường là nhẹ (người có chích ngừa thủy đậu hoặc tổn thương hệ thống miễn dịch).

Biến chứng:

  1. Bội nhiễm thường gặp Streptococcus pyogenes và Staphylococcus aureus.
  2. Viêm phổi thủy đậu.
  3. Hội chứng Reye.
  4. Dị tật bẩm sinh. Mẹ có thai 3 tháng đầu, sau sinh ra có thể bị dị tật bẩm sinh như sẹo da, teo cơ bất thường ở mắt, co giật và chậm phát triển toàn thân.
  5. Viêm não hậu thủy đậu = Co giật hôn mê. Tử vong 5-25%, 15% sống sót với nhiều di chứng.

Điều trị triệu chứng:

  1. Chống ngứa bằng thuốc: Pheramin, Sp Phenergan, cắt móng tay ngắn, mặc quần áo kín, mỏng cũng có theo dõi chống ngứa gãy.

Giảm đau, hạ sốt, không uống Aspirin vì thuốc này có thể gây ra $ Reye.

  1. Phòng ngừa và điều trị bội nhiễm:

Những điều nên làm:

+         Vệ sinh thân thể, thay quần áo, tắm dung dịch sát trùng sẽ làm giảm tỉ lệ bội nhiễm.

+         Cho uống kháng sinh (theo y lệnh Bs) nếu có bội nhiễm.

+         Bôi Methylen Bleue để tránh bội nhiễm.

+         Ăn uống không kiêng cử.

+         Có th6ẻ dùng nghệ bôi tránh sẹo

+         Uống nhiều nước-

Những điều không nên làm:

+         Không tắm gốc rạ (vì trong đồng ruộng dễ có thuốc trừ sâu).

+         Không nên ủ kín sẽ đổ mồ hôi, bé ngứa nhiều hơn.

+         Không nên gỡ mài nốt ra sẽ làm thẹo khuyết sâu và dễ nhiễm trùng hơn

+         Không kiêng ăn để tăng sức đề kháng cho trẻ

Thời gian lành bệnh :

Khoảng 3 tuần kể từ lúc bắt đầu phát bệnh. Đâu là một bệnh nhiễm có thể phòng ngừa bằng thuốc chủng ngừa.

Đăng bởi: BS. Lê Thị Ngọc Nga – Khoa Dịch Vụ 3

Hưởng ứng ngày giấc ngủ thế giới 18/3. Phòng khám Đa khoa CHAC tổ chức buổi hội thảo chuyên đề: Bia Rượu & Giấc ngủ tại số 10, Lý Thường Kiệt, P7, Quận 10, TP.HCM.

hoi-thao

Thời gian: 14h ngày 20/04/2013.

Địa điểm: Phòng khám Đa khoa CHAC, số 10 Lý Thường Kiệt, P7, Quận 10, TP.HCM.

Báo cáo viên: BS.CKII: Nguyễn Xuân Cẩm Huyên & BS.CKI Nguyễn Xuân Bích Huyên

Tại buổi hội thảo các chuyên gia sẽ giải đáp các vấn đề liên quan đến bia rượu, biện pháp phòng ngừa & những ảnh hưởng của Bia rượu đến giấc ngủ: Mất ngủ, rối loạn giấc ngủ,…

Nhân dịp này: Phòng khám sẽ tặng Quý khách hàng tham dự Voucher khám tư vấn cai nghiện Bia Rượu và Giấc ngủ miễn phí.

Liên hệ nhận thư mời: 08 38 565 233 gặp Lễ tân hoặc 08 39 57 49 48 gặp Mr Trường, Ms Thảo.

Trân trọng kính báo.

Thời gian Thứ Hai Thứ Ba Thứ Tư Thứ Năm Thứ Sáu Thứ Bảy Chủ Nhật
18/03 19/03 20/03 21/03 22/03 23/03 24/03
SÁNG
7h – 12h
 Bs.Bích Huyên  Bs.Bích Huyên  Bs.Bích Huyên  Bs.Bích Huyên  Bs.Bích Huyên  Bs. Hạnh – Bs. Hương  Bs.Anh Thư
 Bs. Kim Thu  Bs. Kim Thu  Bs. Kim Thu  Bs. Kim Thu  Bs. Kim Thu Bs. Loan
Bs. Cẩm Huyên
Bs. Huyền Bs. Huyền Bs. Vũ Bs. Vũ Bs. Vũ Bs. Vũ
CHIỀU
13h15 – 17h
 PGS. Lan Bs. Kim Huyên Nghỉ
 Bs. Hữu Hạnh  Bs. P.Thư  Bs. Kim Thu  Bs. Khánh  Bs. Thuận  Bs. Thuận
Bs. Út Bs. Vũ Bs. Út Bs. Vũ Bs. Vũ Bs. Vũ
TỐI
17h – 20h
Nghỉ
 Bs. P.Thư Bs. Phượng Bs. Hương  Bs. Hữu Hạnh  Bs. Vinh