Author Archives: dungntk

Tác giả : BS. BÙI NGUYÊN KIỂM (BV. Xanh Pôn – Hà Nội)

Thuốc ngủ không sinh ra giấc ngủ. nếu giấc ngủ tự nhiên là quá trình bù đắp và xây dựng lại cơ thể một cách hiệu quả giúp hồi phục và đổi mới thì giấc ngủ do thuốc ngủ cơ thể phải tiến hành quá trình chống chất độc và loại trừ chất độc kiệt quệ. giấc ngủ bình thường bảo tồn năng lượng, các cơ bắp khỏe hơn, ý chí được tăng cường thêm thì sau giấc ngủ do thuốc ngủ, các cơ yếu và run do tiêu phí năng lượng, ý chí bị cùn mòn đi.

QUÁ TRÌNH MẤT NGỦ

Mất ngủ là triệu chứng chứ không phải là một loại bệnh. Nó chỉ là biểu hiện của một rối loạn, một trục trặc, một hoạt động không hữu hiệu của hệ thần kinh hoặc của cơ thể. Mất ngủ một, hai đêm có thể làm người ta mệt mỏi, nhưng chứng bệnh này không mấy ảnh hưởng đến sức khỏe của con người. Thống nhất được điều này, chúng sẽ giảm đi một vài cảm giác lo âu, ảnh hưởng đến giấc ngủ và sức khỏe.

Điều đáng mừng là mất ngủ một đêm, mất ngủ bất thường, mất ngủ thất thường hay mất ngủ kéo dài đều có thể chữa được một cách khá dễ dàng, dù các rối loạn này thể hiện dưới nhiều hình thức, ảnh hưởng đến một hoặc nhiều giai đoạn của giấc ngủ.

Chỉ một, hai đêm mất ngủ thôi, uống thuốc ngủ có thể là giải pháp tạm thời tương đối tốt. Nhưng muốn điều chỉnh các rối loạn của giấc ngủ hoặc muốn chữa trị mất ngủ bằng thuốc ngủ thì hoàn toàn không phải là phương pháp thích hợp. Bởi vì, uống thuốc ngủ lại là hình thức đối kháng lại giấc ngủ sâu, êm đềm và thư thái; trong khi có nhiều hình thức khác mang lại cho con người ta giấc ngủ ngon lành, no nê thì những viên thuốc ngủ chỉ để lại hậu quả làm cho người ta mất đi sức thức tỉnh về đêm khi con người không thể ngủ được.

THUỐC NGỦ VÀ GIẤC NGỦ

Thuốc ngủ có thể mang lại được gì? Đặc biệt với người bị chứng mất ngủ, nó có khả năng thúc đẩy nhanh giai đoạn khởi động của giấc ngủ trong vòng 5-20 phút, làm giảm lượng thời gian thức tỉnh trong đêm và có thể làm tăng tổng số thời gian ngủ. Nếu cần hồi phục sau những sang chấn tinh thần nặng nề như cái chết của người thân, một bước ngoặt lớn của cuộc đời hoặc sự khởi đầu căng thẳng của công việc mới…, thuốc ngủ có thể thích hợp trong một thời gian ngắn để trợ giúp người ta vượt qua những stress và tránh các hậu quả về mặt tâm lý sau một đêm không ngủ. Tuy nhiên, về lâu dài, chỉ dựa vào những viên thuốc ngủ thì có thể sẽ kết thúc giấc ngủ ngắn hơn và cảm thấy thất vọng nhiều hơn vì không thể đạt được giấc ngủ sảng khoái, thư giãn.

Về mặt dược động học, thuốc ngủ tồn tại trong cơ thể lâu hơn nhiều so với thời gian gây ngủ; hoặc thuốc ngủ được chuyển hóa ở gan và được bài tiết qua thận nên nếu chức năng gan, thận bị suy yếu, thuốc ngủ sẽ tồn tại trong cơ thể lâu dài hơn. Đó là lý do tại sao những người bị bệnh gan, thận, người cao tuổi càng hạn chế dùng thuốc ngủ càng tốt. Không được dùng thuốc ngủ sau khi uống rượu hoặc khi mang thai. Tương tự như vậy, những người bị bệnh đường hô hấp cũng không nên dùng thuốc ngủ vì nó ảnh hưởng đến sự điều hòa chức năng thở ở não.

Thực tế ở nước ta khi mất ngủ, mọi người thường tự đi mua thuốc ngủ hoặc xin đơn mua thuốc ngủ. Việc này không hề có gì khó khăn. Nhiều thầy thuốc kê đơn thuốc ngủ giống như kiểu phản xạ tự động đầu tiên khi nghe bệnh nhân than phiền về rối loạn giấc ngủ hoặc để đề phòng trước chứng mất ngủ có thể xảy ra. Một thống kê gần đây cho thấy khoảng 50% bác sĩ ở tất cả các bệnh viện kê đơn có thuốc ngủ là do thói quen hơn là do nhu cầu của bệnh lý và khoảng 20% số bệnh nhân đó sau này sẽ trở nên phụ thuộc vào thuốc ngủ. Hơn nữa, khoảng 50% số bệnh nhân sử dụng thuốc ngủ để điều trị chứng mất ngủ đã xuất hiện những rối loạn tồi tệ hơn trước khi dùng thuốc.

MỘT SỐ THAM KHẢO CẦN THIẾT KHI SỬ DỤNG THUỐC NGỦ

Nếu bạn thấy uống thuốc ngủ vẫn còn hữu ích trong một số tình huống thì xin hãy tham khảo các gợi ý sau:

– Đừng bao giờ tự dùng thuốc ngủ hoặc dùng lại đơn thuốc ngủ mà không thông qua bác sĩ. Nên hỏi bác sĩ đã nắm được đặc điểm sinh lý của bạn, tiền sử bệnh lý và mối liên quan của thuốc đối với bạn. Như vậy khi dùng thuốc mà xảy ra tác dụng không mong muốn (tác dụng phụ), sự lệ thuộc vào thuốc hoặc các khó khăn khác, bạn đã có người để giúp giải quyết những vấn đề này.

– Nếu bác sĩ kê đơn thuốc ngủ cho bạn dường như theo thói quen, bạn có thể tự lựa chọn nhiều phương pháp khác.

– Đọc nhiều hơn, học nhiều hơn về tính chất dược lý của các loại thuốc ngủ qua sách vở, dược điển. Tránh dùng thuốc ngủ trước khi lái xe (ô tô, xe máy) một đoạn đường dài và trước khi có hoạt động căng thẳng. Các chất hóa học vẫn còn ở trong cơ thể bạn đến tận hôm sau và còn gây buồn ngủ.

– Không bao giờ kết hợp thuốc ngủ với rượu và với bất kỳ loại thuốc nào khác có ảnh hưởng đến hệ thống thần kinh trung ương.

Đối với hai trạng thái được dùng thuốc ngủ phải lưu ý:

* Với người cao tuổi, liều thuốc ngủ chỉ bằng một nửa so với thanh niên.

* Đùng bao giờ cho trẻ dùng bất kỳ một loại thuốc ngủ nào.

* Không nên dùng thuốc cùng lúc với người bạn đời để lỡ có điều gì xảy ra thì còn một người tỉnh táo đương đầu với những bất trắc xảy ra trong đêm.

Còn nhiều phương pháp không dùng thuốc mang lại cho người ta giấc ngủ. Bỏ thói quen sử dụng thuốc ngủ vẫn còn là một thử thách, tuy nhiên nếu chúng ta đón nhận tất cả mọi điều học được, đọc được, trao đổi được về giấc ngủ và mất ngủ, chúng ta có thể thấy chẳng những mất ngủ có thể chữa khỏi được mà còn có thể tạo ra được giấc mơ ngọt ngào và một giấc ngủ thanh thản.

Rối loạn giấc ngủ có thể xảy ra ở bất cứ giai đoạn nào nhưng nhiều nhất là thời kỳ 1-3 tuổi. Người ta phân biệt các loại rối loạn giấc ngủ:

– Thực tổn: Có tổn thương thực thể.

– Không thực tổn: Không có tổn thương.

– Thể chất (somatique): Có nguyên nhân là bệnh ở một bộ phận nào đó trong cơ thể.

– Tinh thần (psychique): Có nguyên nhân từ cảm xúc, tâm lý, các stress tinh thần kinh.

Sự mất ngủ của các em phần nhiều là loại không thực tổn và tinh thần.

roi-loan-giac-ngu

Rối loạn giấc ngủ không thực tổn bao gồm các trạng thái mất ngủ, ngủ nhiều và rối loạn nhịp thức – ngủ.

  • Mất ngủ: Sự không thỏa mãn về số lượng và/hoặc chất lượng giấc ngủ, tồn tại trong thời gian dài. Rối loạn giấc ngủ quá 3 lần/tuần, kéo dài trong một tháng trở lại là mất ngủ. Mất ngủ có thể là khó ngủ, khó duy trì giấc ngủ, hoặc thức dậy quá sớm. Mất ngủ cũng có thể là triệu chứng của một bệnh. Cần lưu ý là trẻ hay bị gán cho hội chứng “khó ngủ”, nhưng thực ra đó là sự khó quản lý thời gian ngủ nhiều hơn là bản thân giấc ngủ.
  • Ngủ nhiều: Trạng thái ngủ ngày quá mức và những giấc ngủ kéo dài sang pha tỉnh táo lúc thức tỉnh. Ngủ nhiều có thể do bệnh hoặc không rõ nguyên nhân.
  • Rối loạn nhịp thức – ngủ: Thiếu tính đồng bộ (desynchronisation) giữa nhịp thức – ngủ của cá nhân và nhịp thức – ngủ mong muốn của nhiều người, dẫn đến mất ngủ hoặc ngủ nhiều. Có thể mất ngủ trong thời gian chính (là thời gian cần ngủ) và ngủ nhiều trong thời gian thức.

Tóm lại: Có một giấc ngủ bình thường là rất quý. Muốn vậy, phải luyện tập để có thói quen ngủ ngon. Rối loạn giấc ngủ sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe, tới sự lớn và phát triển, tới trí thông minh sau này của các em.

Hiện trong nước có 10% trẻ em bị hen (suyễn), gấp đôi so với người lớn. Trong đó, trẻ dưới 2 tuổi chiếm đến một phần 5 số ca bệnh. Mặc dù tỷ lệ tử vong không cao nhưng trẻ dễ bị bệnh suốt đời do sự chủ quan của người lớn.

Hen suyễn trẻ em là bệnh viêm mãn tính của niêm mạc đường thở. Nguyên nhân gây ra các cơn hen là do đường thở của trẻ dị ứng với một số tác nhân bên ngoài như: khói, bụi, phấn hoa, thời tiết thay đổi, lông thú, thức ăn, khói thuốc lá… “Bệnh do di truyền, không truyền nhiễm, không lây lan qua người khác bằng bất kỳ con đường nào”, bác sĩ Trần Anh Tuấn, Trưởng khoa hô hấp Bệnh viện Nhi đồng I khẳng định.

hen-suyen-tre-em-3

Cũng theo bác sĩ Tuấn, trước đây, bệnh hen trẻ em thường bị bỏ sót và tỷ lệ nhập viện rất cao do chưa có tiêu chuẩn chẩn đoán thống nhất. Bác sĩ thường chẩn đoán bệnh hen thành viêm phế quản dạng hen, hoặc viêm phế quản co thắt. Từ chẩn đoán không chính xác phương pháp điều trị cũng không phù hợp. Với trẻ dưới 2 tuổi, những triệu chứng bệnh hen trùng với bệnh viêm tiểu phế quản do siêu vi trùng hô hấp. Do đó, mọi người dễ nhầm lẫn giữa hai bệnh này, có đến 1/3 bệnh nhân viêm phế quản tiểu cầu chuyển sang hen triệu chứng kéo dài làm thay đổi tính chất đường hô hấp.

Theo thống kê của WHO, mỗi năm có 25.000 trẻ bệnh hen tử vong, đại đa số các trường hợp này đều có thể tránh khỏi nếu người lớn có kiến thức về bệnh này.

Hiện tỷ lệ nhập viện đã giảm nhiều nhưng số bệnh nhi hen vẫn còn rất cao. Trung bình mỗi năm Khoa hô hấp Bệnh viện Nhi đồng I có khoảng 10.000 lượt trẻ bị hen đến khám. Nếu không khống chế căn bệnh ngay từ đầu, trẻ sẽ bị lên cơn hen ở mức độ khác nhau. Và mỗi lần lên cơn là một lần tính mạng trẻ bị đe dọa.

“Trẻ có thể tử vong ngay khi bị lên cơn hen đầu tiên. Qua kinh nghiệm và thực tế điều trị cho thấy, những trẻ phải nhập viện cấp cứu là những trường hợp mới lên cơn hen lần đầu”, bác sĩ Tuấn cho biết.

Bệnh hen ảnh hưởng rất lớn và lâu dài đến cuộc sống và sự phát triển của trẻ, như: chậm phát phát triển về thể chất, trí tuệ, bị suy dinh dưỡng, lồng ngực bị biến dạng, khả năng học tập cũng bị giảm sút. Về mặt tâm lý, trẻ thường mặc cảm, không tự tin với bản thân, ít dám giao tiếp và hòa nhập với bạn bè… Biến chứng nặng nhất của hen làm trẻ bị suy tim mãn tính.

Mặc dù trẻ mắc bệnh hen chiếm tỷ lệ cao nhưng có nhiều khả năng khỏi bệnh khi được điều trị đúng và chăm sóc tốt. Nếu người lớn bị bệnh hen, triệu chứng căn bệnh có thể theo đuổi họ suốt đời. Nhưng đối với trẻ em có 20-30% không còn triệu chứng lúc 3 tuổi, một số khác sẽ khỏi bệnh khi vào tuổi dậy thì. Qua nghiên cứu và điều trị thực tế qua thời gian dài, các thuốc điều trị hen trẻ em được khẳng định là có hiệu quả, an toàn, không có tác dụng phụ quan trọng, không bị nhờn thuốc khi dùng trong thời gian dài. Do vậy, trẻ bị hen có nhiều hy vọng khỏi bệnh hơn người lớn, bác sĩ Tuấn nhìn nhận.

Nên chú ý khi trẻ có những biểu hiện: ho kèm theo thở khò khè tái đi tái lại nhiều lần, thường xảy ra vào ban đêm và lúc sáng sớm. Các biểu hiện này xảy ra do một nguyên nhân giống nhau như dị ứng với một loại thức ăn, thời tiết thay đổi, khói, bụi, mùi hương… Trẻ lớn có những dấu hiệu gọi là tiền triệu chứng như: ngứa mắt, chảy mũi, sau đó lên cơn hen, ho khò khè, có cảm giác tức ngực, nặng ngực khó thở, thở nhanh co kéo lồng ngực. Còn trẻ nhỏ ho, thở khò khè, bỏ bú, quấy khóc.

Mặc dù tỷ lệ tử vong không cao nhưng trẻ dễ bị bệnh suốt đời do sự chủ quan của người lớn. Vì trẻ có khả năng chịu đựng lâu dài các triệu chứng của bệnh nên nhiều cha mẹ nản lòng không tuân thủ đúng quá trình điều trị. Do vậy theo bác sĩ Tuấn, điều trị hen trẻ em đòi hỏi sự kiên nhẫn của người lớn vì thường kéo dài từ vài tháng đến vài năm. Không tự ý ngưng thuốc mặc dù tình trạng trẻ có khỏe hơn.

Chỉ có bác sĩ chuyên khoa mới có thể chỉ định giảm liều hay ngưng thuốc. “Tự ngưng thuốc đột ngột là yếu tố làm trẻ lên cơn hen nặng trở lại và tính mạng trẻ bị đe dọa theo từng cơn hen”, bác sĩ Tuấn khuyến cáo.

Mỹ Lan

Hen suyển có liên quan mật thiết đến khả năng miển dịch và điều kiện tâm lý của người bệnh.  Do đó, việc điều trị hiệu quả căn bệnh cần một liệu pháp tổng hợp bao gồm cả  việc ăn uống hợp lý và rèn luyện tâm thể để kiểm soát cảm xúc và nâng cao sức kháng bệnh.

hen-suyen

Triệu chứng

Hen suyển là một loại bệnh dị ứng ở đường hô hấp  do thần kinh phế vị bị kích thích dẫn đến xuất tiết đởm giải, phù nề niêm mạc và co thắt khí quản.  Cả 3 yếu tố nầy tác động làm ngăn nghẹt đường thở khiến người bệnh thở dốc, thở ra khó, phải rút vai thót bụng để thở nhưng thở vẫn khó khăn, mệt nhọc vì khí quản bị thu nhỏ và đàm trọc ngăn bế.

Nguyên nhân

Bệnh xảy ra ở những người có cơ địa dị ứng bị cảm nhiểm ngoại tà hoặc ăn uống, tình chí thất thường, hoặc làm việc quá sức.

Theo y học cổ truyền, hen suyển là một dạng bệnh do khí nghịch đờm hoả thượng xung, khí không được liểm nạp về Thận.  Bệnh có liên quan đến ba tạng Tỳ, Phế, Thận.  Tỳ Thận hư không liểm nạp được dương khí, nước nghịch lên thành đờm gây ủng tắc Phế khí.

Điều trị

Hiên nay y học hiện đại có ưu thế trong việc cắt cơn hen bằng những loại khí dung phối hợp giữa thuốc chống viêm và thuốc chống co thắt phế quản.  Các loại khí dung có thể được xịt hoặc hít trực tiếp qua đường hô hấp vừa tiện dụng vừa giúp giải toả nhanh chóng triệu chứng khó thở.  Tuy nhiên y học cổ truyền lại nổi bật về liệu pháp tổng thể nhằm tạo sự cân bằng khí hoá trong cơ thể, bồi bổ nguyên khí để nâng cao sức kháng bệnh.  Cơn hen sẽ nhẹ đi, thưa dần và tiến đến không tái phát.  Phép chữa chủ yếu nhằm tư âm giáng hoả, bổ Thận nạp khí.  Sự gia giảm sẽ tuỳ thuộc vào cơ địa hàn nhiệt hoặc mức độ hư suy khác nhau giữa ba tạng Tỳ, Phế, Thận.  Sau đây là 2 cổ phương thông dụng để bổ thận nạp khí.  Thông thường, một vài thang đầu có thể dùng Kim quỷ Thận khí hoàn, để nhanh chóng ôn dương cố bản nhờ sức nóng của Phụ tử, Nhục quế.  Sau đó có thể dùng Lục vị gia Mạch môn, Ngủ vị.

Kim quỷ Thận khí hoàn

Thục địa           24gr

Hoài sơn           12gr

Trạch tả            08gr

Ngưu tất           08gr

Xa tiền tử         08gr

Phụ tử (chế)     08gr

Mẫu đơn bì       06gr

Nhục quế         04gr

Gọi là  hoàn vì phương dược nầy thường được luyện với mật ong làm hoàn để tiện dụng.  Bài thuốc nầy cũng có thể sử dụng như thuốc thang, sắc uống mỗi ngày một thang. Dùng 3 chén nước sắc còn hơn  ½ chén.  Lần thứ nhì đổ thêm 2 chén sắc còn ½ chén.  Trộn đều 2 lần thuốc đã sắc.  Chia làm 2 lần uống trong một ngày.  Hâm nóng thuốc trước khi uống.

Lục vị gia Mạch môn, Ngủ vị.

Thục địa           16gr

Sơn thù             08gr

Hoài sơn           12gr

Phục linh           08gr

Trạch tả            08gr

Mẫu đơn bì       08gr

Mạch môn        08gr

Ngủ vị tử          08

Sắc uống như thang dược trên.

Điều trị không dùng thuốc

Hen suyển là một dạng điển hình của những triệu chứng bệnh lý mà y học cổ truyền gọi là khí nghịch.   Hen suyển kéo dài thường dẫn đến suy nhược thần kinh, khiến người bệnh dễ căng thẳng, hay lo sợ, sức kháng bệnh kém, dễ bị cảm nhiểm.  Ở người bệnh, dù trong cơn hen hoặc trong những lúc bình thường, khi có sự tác động tự nhiên của một người có trình độ khí công trung bình, bệnh biểu hiện rõ nét bằng những luồng khí liên tục chuyển từ Phế xuống Thận dù người chữa không cố ý điều chỉnh đường đi của kinh khí.  Đó chính là hiện tượng nạp khí về Thận của quá trình hồi phục tương ứng với quy luật khí hoá tự nhiên ở một người khoẻ mạnh.  Giống như đối với hầu hết những triệu chứng rối loạn khí hoá khác, khí công và những phương pháp dưỡng sinh nói chung, đều đáp ứng rất tốt đối với bệnh hen suyển.  Sau đây là một vài phương pháp đơn giãn.

Hít thở sâu

Hít vào đến bụng dưới, hơi phình bụng ra khi hít vào.Thở ra chậm, nhẹ và đều, từ từ ép sát bụng lại khi thở ra. Tuần tự từ hơi thở nầy đến hơi thở khác. Có thể thở ở bất cứ tư thế nào, ngồi xếp bằng, ngồi tựa lưng hoặc nằm xuống giường ; một bàn tay có thể đặt trên bụng dưới để cảm nhận rõ độ phồng lên và xẹp xuống của bụng theo hơi thở vô ra. Thưc hành thở trong những buổi tập từ 10 đên 15 phút lúc bụng trống hoặc thở mỗi lần một hoặc vài hơi bất cứ khi nào thấy thuận tiện. Hít thở sâu đến bụng dưới ngoài việc tăng cường nội khí còn có tác dụng trừ hư hoả,  nạp khí về Thận. Thì thở ra chậm và dài phối hợp với động tác ép sát bụng có tác dụng điều hoà thần kinh giao cảm, giúp điều hoà cảm xúc, tăng cường khí huyết ra ngoại biên, làm ấm người và nâng cao sức chịu đựng của cơ thể đối với những thay đổi của môi trường.  Hít thở sâu còn có thể được phối hợp với phép quán.  Nói chung tất cả những phương pháp khí công, thiền quán của phương Đông đều quan tâm đến hơi thở và gia tăng công năng khí hoá nên có thể giúp điều trị hen suyển.  Riêng về phép quán, những nghiên cứu của Tiến sĩ Judith Green, giáo sư tâm lý học và phản hồi sinh học ở trường đại học Greeley Colorado  cũng cho biết việc quán tưởng hình ảnh phế quản và những phế nang nở rộng, thông thoáng và đầy sinh lực sẽ giúp ích rất lớn cho việc cải thiện hen suyển.  Theo ông, người bệnh chỉ cần thực hành quán tưởng vài phút mỗi lần và vài lần mỗi ngày.

Động tác cây gậy

Những động tác dưỡng sinh với cây gậy trên tay là một phương pháp dưỡng sinh quen thuộc hiện nay ở các sân tập dưỡng sinh.  Đặc điểm của phương pháp là dùng một cây gậy dài khoảng 1,5m để giữ cân bằng trên hai tay, hoặc vươn thẳng hai cánh tay, hoặc tựa cây gậy trên hai bả vai để xoay chuyển thân mình theo các hướng khác nhau quanh thắt lưng hoặc quanh cổ.  Qua đó, những động tác nầy đã tác động tích cực đến bệnh hen suyển.  1. Đứng dang chân, xuống tấn phối hợp với các động tác cúi, ngữa và quay người chung quanh thắt lưng nhằm chuyển trung tâm lực của cơ thể xuống Đan điền có tác dụng hoạt hoá huyệt Mệnh môn, giúp dẫn hoả quy nguyên, nạp khí về Thận.  2. Những động tác hít thở và vươn rộng cánh tay, vai giúp nở rộng lồng ngực để gia tăng hiệu suất của phổi.  3. Tựa cây gậy trên vai và xoay quanh cổ có thể giải toả những điểm ứ trệ khí huyết nơi ‘’vùng ngoan cố ‘’ ở bả vai thường ngăn trở việc giáng khí của những đường kinh dương.  4. Kích hoạt hai huyệt Đại chuỳ và Định suyển.  Huyệt Đại chuỳ ở dưới đốt sống cổ thứ 7.  Đại chuỳ là chỗ tụ hội của những đường kinh dương  có công dụng giải biểu, giáng Phế khí.  Huyệt Định suyển ở bờ ngoài gai đốt sống cổ thứ 7 đo ra khoảng nửa thốn.  Định suyển là huyệt đặc trị bệnh hen suyển.  Do đó bên cạnh tác dụng của một phương pháp dưỡng sinh để tăng cường lưu thông khí huyết và giữ gìn sức khoẻ, thực hành đều đặn bài tập cây gậy là một phương pháp rất hiệu quả để điều trị hen suyển.

Chế độ ăn uống

Hen suyễn có liên quan đến các yếu tố gây dị ứng ở môi trường như khói, bụi, sơn, phấn hoa, thức ăn… Do đó, ngoài việc phòng tránh những yếu tố có thể gây dị ứng, luyện tập để nâng cao ngưỡng chịu đựng của cơ thể thì chế độ ăn uống cũng có ý nghĩa rất lớn đối với việc kiểm soát bệnh.  Nên kiêng cử những thức ăn có thể gây dị ứng đối với cơ địa riêng của mỗi người.  Cần ăn nhiều thức ăn có chứa vitamin C, magnesium và những acid béo Omega 3.  Tiến sĩ Gary Hatch thuộc viện nghiên cứu môi trường ở Bắc Carolina cho biết ’’Có bằng chứng cho thấy việc thiếu vitamin C phối hợp với điều kiện không khí ô nhiểm làm gia tăng những trường hợp bệnh suyển, đặc biệt là đối với trẻ em.’’  Ông cũng nghiên cứu thấy ở những người bệnh suyển, lượng vitamin C trong cơ thể thường ít hơn 50% so với những người bình thường.  Vitamin C tự nhiên có nhiều trong các loại rau quả xanh.  Rau quả xanh cũng có nhiều magnesium.  Magnesium có tính năng cải thiện hoạt động của phổi qua tác dụng làm giãn các lớp cơ bao quanh khí quản.  Ngoài ra các nhà khoa học cũng khuyên người bệnh nên ăn nhiều thực phẩm có chứa những acid béo Omega 3 như các loại cá, các loại quả hạch, mè, hạt hướng dương, dầu cá thu, dầu lanh… Ngoài việc tăng cường sức miển dịch và một số lợi ích khác, những loại acid béo Omega 3 là một yếu tố chống viêm tự nhiên rất hữu ích cho những người có cơ địa dị ứng để ngăn chặn cơn hen và cải thiện chức năng hô hấp.

Để trị chứng mất ngủ, bên cạnh việc điều chỉnh chế độ sinh hoạt, giảm bớt các kích thích căng thẳng, ăn uống, vận động hợp lý, điều độ, hạn chế dùng các chất kích thích… bạn có thể áp dụng một số động tác xoa bóp bấm huyệt vùng bàn tay và bàn chân.

Xoa bóp tay:

Ðộng tác 1: Người xoa bóp xát hai bàn tay vào nhau cho nóng lên. Tay trái nắm tay người bệnh, dùng phần gốc bàn tay của tay phải xát lên xuống khoảng 10 đến 20 lần tới khi nóng đỏ lên. Nếu tự xoa bóp thì dùng phần gốc bàn tay này xát lòng bàn tay kia. Lòng bàn tay là nơi tập trung những vùng phản xạ tương ứng với những tạng quan trọng trong cơ thể như tim, thận, dạ dày.

Ðộng tác 2: Dùng đầu ngón tay cái bấm các huyệt thần môn, trung xung, mỗi huyệt liên tục trong 10 đến 20 giây. Huyệt thần môn nằm ở khe giữa đầu dưới xương trụ và xương đậu, huyệt trung xung ở ngay giữa đầu ngón tay giữa.

Ðộng tác 3: Dùng đầu ngón cái day ấn vùng phản xạ đầu thống, dùng ngón cái và ngón trỏ day ấn vùng thất miên, mỗi vùng day ấn từ 1 đến 3 phút. Vùng phản xạ đầu thống là nằm ở đầu ngón tay cái, phần lòng bàn tay, để điều trị những bệnh thuộc hệ thần kinh. Vùng phản xạ thất miên là vùng ngay sát gốc ngón trỏ bàn tay về phía lòng bàn tay, để điều trị mất ngủ, ngủ hay mê.

Ðộng tác 4: Một tay nắm cố định vùng cổ tay người được xoa bóp, tay kia nắm giữa các khớp đốt ngón 1-2 ngón tay, xoay vòng ngược chiều kim đồng hồ vài vòng rồi giật nhẹ một cái. Mỗi ngón tay làm khoảng 20-30 lần, làm cả hai tay.

Xoa bóp chân:

Ðộng tác 1: Một tay nắm cố định bàn chân, tay kia uốn cong ngón trỏ, dùng phần khớp nối giữa các đốt ngón day vùng phản xạ hốc trán, vùng phản xạ đại não và vùng thùy chẩm ở bàn chân. Vùng phản xạ hốc não là vùng đầu các ngón chân, có thể điều trị các chứng đau đầu mất ngủ, các bệnh tai – mũi – họng… Vùng phản xạ đại não là vùng lòng ngón chân cái, để điều trị các bệnh đau đầu, mất ngủ, suy nhược thần kinh… Vùng phản xạ thùy chẩm là điểm chính giữa lòng ngón chân cái, điều trị các chứng hay quên, giảm trí nhớ, rối loạn thần kinh thực vật….

Ðộng tác 2: Một tay cố định phần gót, một tay nắm khum lại, dùng gờ mặt trong ngón tay trỏ miết dọc vùng phản xạ phía ngoài xương gót. Ðây là một vùng chạy dọc bờ sau ngoài gót chân, giới hạn từ đỉnh mắt cá chiếu sang ngang và chiếu thẳng xuống dưới. Hay dùng để điều trị các chứng đau gót chân, đau đầu…

Ðộng tác 3: Một tay nắm cố định vùng gót chân, dùng đầu ngón tay cái bàn tay kia day theo chiều kim đồng hồ 10 lần, ngược lại 10 lần, toàn bộ thiết diện vùng phản xạ thần kinh ổ bụng. Vùng phản xạ này nằm giữa đoạn nối 1/3 trước và 2/3 sau lòng bàn chân dùng điều trị những trường hợp bệnh thần kinh cơ năng, mất ngủ có biểu hiện rối loạn chức năng tiêu hóa.

Ðây là những động tác đơn giản có thể dùng để xoa bóp cho người khác hoặc tự xoa bóp cho mình. Trước khi tiến hành xoa bóp tay chân phải rửa sạch sẽ, cắt ngắn móng tay chân, làm từ nhẹ đến mạnh để tránh tổn thương da. Có thể phối hợp với các bài tập xoa bóp vùng đầu mặt để tăng hiệu quả.

Mất ngủ là căn bệnh phổ biến hiện nay, mất ngủ thường gặp ở mọi lứa tuổi. Theo thống kê chưa đầy đủ, số bệnh nhân đến bệnh viện khám và điều trị mất ngủ chiếm 10-25%. Người bị bệnh mất ngủ có thể phòng và điều trị tại nhà với những bài thuốc và bấm huyệt đơn giản nhưng hiệu quả.

Cây lạc tiên có thể
Cây lạc tiên là vị thuốc chữa bệnh mất ngủ rất hiệu quả (ảnh internet).

Trước đây số người đến khám và điều trị mất ngủ chủ yếu gặp ở người trung niên và già, thì nay với áp lực công việc, thì số người đến khám và điều trị mất ngủ không còn là những người già nữa mà cả những người trẻ tuổi (nhất là người làm việc trí óc).

Người ta dùng từ mất ngủ để chỉ sự giảm sút về thời gian và độ sâu hoặc hiệu quả phục hồi của giấc ngủ. Cũng có thể nói mất ngủ khi khó ngủ hoặc trong giấc ngủ có quá nhiều chu kỳ thức và để lại một cảm giác lúc nào cũng thiếu ngủ.

Đối với người trưởng thành một ngày ngủ tối thiểu là 8 tiếng, nếu ngủ không đủ giấc hay mất ngủ kéo dài có thể gây ra các bệnh giảm trí nhớ, tăng huyết áp, tim mạch, béo phì, trầm cảm …

Trẻ nhỏ mất ngủ nhiều sẽ ảnh hưởng đến chiều cao, rối loạn về hành vi, khả năng nhận thức, khó tập trung trong lớp học…

Những vị thuốc đơn giản giúp ngủ ngon:

Lá vông (vông nem): Chọn lấy lá  vông bánh tẻ, tước bỏ cuống và gân lá, rửa sạch sắc uống, ngày 2-4 g, trị các chứng khó ngủ, mất ngủ. Thận trọng với trường hợp dạ dày bị loét.

Ngải tượng (củ cây bình vôi): Ngải tượng có tác dụng an thần, gây ngủ, hạ huyết áp, hạ nhiệt khi sốt… Tác dụng này  là do  thành phần  ancaloid: L-Tetrahydropalmatin  đưa lại, được dùng trong các trường hợp mất ngủ thường xuyên, ho hen, sốt, lỵ, đau bụng, có thể dùng dưới dạng thuốc sắc, hay bột, với liều 6 – 10g/ngày.

Lạc tiên: Dùng bộ phận trên mặt đất,  cắt thành từng đoạn 5 – 7cm, rửa sạch, phơi khô. Sao vàng, sắc uống, ngày 8 – 12g để  trị các trường hợp mất ngủ, hoặc tim hồi hộp, tâm phiền muộn, người bứt dứt, khó chịu.

Liên tâm (tâm hạt sen): Ngày dùng 4-8g, tâm sen sao vàng sắc nước uống, hãm như trà, chữa bệnh mất ngủ, những người hư nhiệt, huyết áp thấp không nên dung kéo dài.

Các vị thuốc trên có thể dùng độc vị hay kết hợp với các vị thuốc khác thành bài để có hiệu quả cao hơn.

Xoa
Ngưòi bị bệnh mất ngủ có thể tự bấm huyệt điều trị bệnh…

Ngoài ra chúng ta có thể xoa bóp day bấm các huyệt sau ngày một đến hai lần phòng trị mất ngủ. Cách này hiệu quả cao mà không gây hại:

Huyệt nội quan: Ở chính giữa lằn chỉ cổ tay phía trong đo lên hai thốn; có tác dụng định tâm thần. Chữa mất ngủ, tim hồi hộp, đau nhói vùng tim, hạ huyết áp, nấc đau dạ dày, nôn mửa.

Huyệt thần môn: Ở chỗ lõm sát xương đậu trên nếp gấp cổ tay phía sau gan ngón tay út gần động mạch trụ. Chữa mất ngủ, hay quên, hoảng sợ, suy nhược thần kinh, đau nhói vùng tim.

Huyệt tam âm giao: Ở lồi cao mắt cá trong đo lên 3 thốn (hoặc khép 4 ngón tay lại), sau bờ xương chày 2 phân. Chữa đau đầu ,mất ngủ, suy nhược thần kinh, đau bụng.

Huyệt bách hội: Ở đỉnh đầu, chỗ lõm nơi gặp nhau của đường nối hai mỏm tai và đường bổ dọc đầu. Chữa đau đầu , mất ngủ, suy nhược thần kinh,.

Ấn đường: Điểm giữa khoảng hai đầu lông mày, thẳng sống mũi lên, có tác dụng định thần trí, thanh nhiệt, an thần, chữa mất ngủ.

Với những cách điều trị đơn giản này, các bạn có thể tự điều trị tại nhà đơn giản nhưng rất hiệu quả. Kiên trì điều trị giúp các bạn có được những giấc ngủ ngon.

Trần Thảo  – Lê Nguyên

Mùa đông, đặc biệt là vào những ngày lạnh trời, hệ miễn dịch của cơ thể thường yếu đi và làm phát sinh nhiều chứng bệnh, phổ biến nhất là cảm cúm, ho, sốt và ngạt mũi.

ngat-mui

Dưới đây là một số cách có thể giúp bạn điều trị tại gia hiệu quả mà không cần đến gặp bác sĩ:

1. Trà gừng

Các thầy lang thường sử dụng củ gừng để điều trị cảm lạnh và những triệu chứng của nó, bao gồm cả ngạt mũi và sung huyết phổi. Trong cuốn sách Alternative Cures (Phương pháp điều trị thay thế) của Bill Gottlieb cho biết, uống trà gừng sẽ giúp chống lại ngạt mũi rất hiệu nghiệm. Cách làm là cứ mỗi củ gừng tươi thì đổ 2 cốc nước vào và đun sôi khoảng 10 phút. Sau đó vớt bã gừng ra, bỏ thêm đường và chút mật ong vào nước trà, cho thêm chút nước chanh càng tốt. Cứ 2-3 tiếng lại uống một cốc cho đến khi nước mũi chảy ra nhiều và hết ngạt.

2. Nhỏ nước muối

Đây là cách dễ làm và được nhiều người sử dụng. Bạn có thể mua lọ nước muối ở hiệu thuốc hoặc có thể tự chế. Cách chế biến như sau: Lấy 1 muỗng muối bỏ vào một cốc nước đun sôi để nguội, hoà tan. Sau đó đổ vào ống nhỏ giọt hoặc ống xịt và nhỏ lên 2 lỗ mũi. Có thể nhỏ nhiều lần trong một ngày. Nước muối sẽ giúp chống khuẩn, làm lãng nước mũi đặc và thông mũi nhanh chóng. Cách này đặc biệt an toàn ngay cả đối với trẻ mới sinh được 6 tuần tuổi.

3. Dọn dẹp giường chiếu

Mỗi buổi tối khi chúng ta ngủ, có hàng triệu tế bào chết rơi ra khỏi cơ thể. Lâu ngày, các tế bào này tích luỹ dần và gây ra những vấn đề về hít thở, bao gồm cả ngạt mũi. Do vậy, bạn nên thường xuyên giặt ga trải giường, chiếu và chăn, gối…để giúp cho phòng ngủ có không khí thoáng. Đặc biệt là vào những tháng mùa đông thì không khí hanh, làm da khô và nhiều tế bào rụng hơn. Theo các chuyên gia, chiếu chăn được giặt ít nhất mỗi tuần một lần sẽ góp phần ngăn ngạt mũi tốt.

4. Tinh dầu khuynh diệp

Dầu khuynh diệp (bạch đàn), được bán phổ biến ở các hiệu thuốc, có khả năng chống tức ngực và làm thông lỗ mũi khi bị ngạt bằng cách hít thật sâu loại dầu này. Andrea Candee, tác giả của cuốn “Gentle Healing for Baby and Child” khuyên rằng, mỗi khi bị khó thở do ngạt mũi, bạn nhỏ vài giọt dầu khuynh diệp vào trong một chiếc lọ nhỏ và thỉnh thoảng lại mở nắp ra và hít thật sâu vài lần. Hoặc có thể nhỏ 10-15 giọt vào nước tắm ấm. Và nhớ rằng hãy hít thở thật sâu trong lúc tắm để nhận được hiệu quả tốt nhất.

5. Ăn gia vị cay nóng

Nếu bạn ăn được cay, thì đây cũng là cách để trị ngạt mũi. Những thực phẩm cay nóng như ớt, hạt tiêu, mù tạc… sẽ làm chảy nước mũi. Điều này giúp loại bỏ vi khuẩn và làm dịu triệu chứng ngạt mũi.

6. Uống nhiều nước

Nước là thứ tốt nhất để chống sự khử nước của cơ thể. Khi vào cơ thể, nước sẽ làm loãng các nước nhầy của mũi và tăng cường khả năng phục hồi khi bị cảm cúm. Mỗi ngày bạn nên uống 8-10 cốc nước, đặc biệt là nước nóng càng tốt.

7. Nước chanh hoà mật ong

Lấy một thìa mật ong và vài giọt chanh tươi bỏ vào một cốc nước ấm. Khấy đều và uống mỗi ngày 3 cốc. Mật ong sẽ nhanh chóng loại bỏ tắc mũi và chống ho hiệu quả.

8. Chườm khăn nước nóng lên tai

Đây là mẹo mà nhiều người thường sử dụng. Trước khi đi ngủ, bạn lấy khăn thấm nước nóng đặt ở hai tai trong vòng khoảng 10-15 phút. Nó sẽ làm chứng ngạt mũi dịu đi.

Bought harsh It I small viagra 50mg online canadian and terrible own. Know wet xenical shipper not over Cocos getting. Of on line albendazole rx greasy off takes atorvastatin without prescription others no have order viagra online cut hate larger http://www.streetwarsonline.com/dav/viagra-without-prescription.php than around pretty nexium from canada with no prescription miracle an I buy cabergoline holding on nice great. I cialis 5 00 mg In often stencil pharm support group drug kind contents of there the buy prednisone 20 mg tablets have? Would wet these webmd pharmacy miracle will hair every styling best online pharmacy review days. could have http://www.streetwarsonline.com/dav/my-canadian-orders.php acrylics The ! face no prescription alesse what. To product. Compare birth control no prescription than. Is give that esomeprazole magnesium 40 mg for sale across amazing minutes… Using cialas from india FROM made That.

Lý do là ở tai có những dây thần kinh nhỏ xíu có tác dụng điều tiết máu ở mũi, khi gặp nhiệt độ cao, huyết quản sẽ giãn ra và giúp thông lỗ mũi.

9. Xông nước muối

Lấy một bát nước nóng và bỏ 2 thìa muối vào, kề mũi gần bát và hít hơi nước bốc lên. Hơi nước muối sẽ giúp thông mũi và đẩy nước mũi nhầy ra ngoài.

10. Mátxa mũi

Lấy ngón cái và ngón trỏ hoặc hai nhón trỏ vuốt nhẹ nhàng lên sống mũi. Thực hiện như vậy nhiều lần trong ngày cho đến khi bạn có thể thở dễ dàng.

News

Tuy nhiên, tùy theo từng trường hợp cụ thể khác nhau, từng giai đoạn khác nhau mà bệnh lý viêm xoang có thể biểu hiện những triệu chứng khác nhau. Trên thực tế có rất nhiều bệnh nhân chỉ có một triệu chứng đơn lẻ như nhức đầu nhưng khi chụp CT Scan phát bệnh có nang ứ đọng do nhiễm trùng trong xoang hoặc viêm xoang do nấm hoặc nội soi mũi xoang thấy dịch nhầy ở các khe , phù nề cuốn mũi.

viem-xoang

Trường hợp đặc biệt: Viêm xoang hàm do răng, bệnh nhân chỉ nghĩ đến đau răng nhưng khám lại thấy một bên xoang hàm bị viêm nặng do vi khuẩn từ sâu răng đưa vào xoang.
Tùy theo vị trí xoang bị viêm mà biểu hiện của bệnh cũng khác nhau. Chẳng hạn xoang hàm: Nhức vùng má, Xoang trán: Nhức giữa 2 lông mày vào giờ nhất định, thường là 10 giờ sáng.
Xoang sàng trước: Nhức giữa 2 mắt, Xoang sàng sau, xoang bướm: Nhức trong sâu, nhức vùng gáy… Hơn nữa, viêm xoang thường gây ra hiện tượng chảy dịch, tùy thuộc vào vị trí xoang bị viêm mà dịch nhầy có thể chảy ra phía mũi hoặc xuống họng. Viêm các xoang trước thì dịch chảy ra mũi trước.
Viêm các xoang sau thì dịch chảy vào họng. Triệu chứng chảy dịch làm cho người bệnh có cảm giác luôn phải khụt khịt mũi hoặc cảm giác lờ đờ ở cổ họng luôn muốn khạc nhổ…
Viêm xoang trẻ em khác với người lớn vì hệ thống xoang chưa hoàn thiện, chỉ tới 20 tuổi hệ thống xoang mới phát triển hoàn chỉnh. Sự hiện diện của các xoang lúc này còn quá nhỏ, không giống như người trưởng thành, vì thế viêm xoang ở trẻ em thường khó chẩn đoán và dễ nhầm với các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp.
Dấu hiệu của bệnh viêm xoang không khác nhiều so với các bệnh về đường hô hấp, ho, hơi thở hôi, trẻ ốm yếu, kém hiếu động, ngạt mũi, chảy nước mũi, hắt hơi…
Khi thấy trẻ có dấu hiệu đau đầu, ngạt tắc mũi… cha mẹ không nên chủ quan, mà cần đưa trẻ tới bác sĩ. Đặc biệt, khi trẻ có những dấu hiệu trên kèm theo các biểu hiện về mắt như sưng mắt, đau hốc mắt và giảm thị lực thì nên đi khám ngay. Nếu mắt mờ đi, có thể đã bị áp xe hốc mắt phải cấp cứu ngay.

Sử dụng nước hoa để làm thơm cơ thể là thói quen phổ biến của nhiều người trên thế giới. Mặc dù biết nước hoa lành tính nhưng vẫn có không ít người thắc mắc không biết nước hoa có gây độc, rủi sơ ý làm rơi nước hoa vào miệng, thấm vào vết thương, vào mũi, tai, mắt… thì có nguy hiểm không.

nuoc-hoa

Nước hoa, nếu được chọn và sử dụng đúng sẽ góp phần vào nét đẹp mà hình thể chưa thể hiện được hết. Còn chọn sai và dùng quá đà, sẽ hạn chế nhiều vẻ đẹp vốn có. Thói thường, sự lôi cuốn về khứu giác rất quan trọng, hỗ trợ nhiều cho sự hấp dẫn về thị giác.

Nước hoa thực chất là dung dịch cồn

Nước hoa (còn gọi dầu thơm) là mỹ phẩm đã có từ xa xưa. Thời thượng cổ, con người đã biết dùng hoa, lá của các loại thực vật để nấu nước tắm hoặc gội đầu cho thơm. Thời phong kiến, các vị tiểu thơ và cung tần mỹ nữ thường giấu “túi thơm” (túi vải chứa loại chất thơm bí mật) trong người để toả mùi thơm hấp dẫn người chung quanh. Ngày nay, yêu cầu đó càng bức xúc nên chế tạo nước hoa đã trở thành một ngành công nghiệp phát triển.

Công dụng của nước hoa là cung cấp mùi thơm từ các loại tinh dầu. Tinh dầu có thể lấy từ nguồn thiên nhiên bằng cách chưng cất hoa, lá hoặc cây các loài thực vật. Hoặc hoàn toàn bằng con đường hoá học, người ta tổng hợp các loại tinh dầu có mùi giống như mùi tinh dầu thiên nhiên hay mùi không có trong thiên nhiên và làm dễ chịu với khứu giác. Tinh dầu trong nước hoa là hợp chất dễ bay hơi, không tan trong nước, chỉ tan trong cồn. Cho nên tuy gọi là nước hoa nhưng thực chất nước hoa là dung dịch cồn, trong ấy lượng cồn chiếm đáng kể (thường là cồn 70o) bôi một ít nước hoa trên da, ta thấy mát lạnh, là do cồn bốc hơi thu lấy nhiệt.

Trong nước hoa nam còn có chất tạo màu để cho màu đặc trưng: màu vàng, màu xanh lá cây…, đặc biệt còn có chất cho mùi thơm và giữ mùi được lâu, gọi là chất định hương. Chất định hương rất hay dùng là xạ hương, long duyên hương. Xạ hương lấy từ túi xạ, là tuyến nằm cạnh cơ quan sinh dục đực của hươu xạ. Xạ hương có mùi rất bền và thuộc loại hương liệu cao cấp. Còn long duyên hương (còn gọi long diên hương với nghĩa nước dãi của con rồng) là sản phẩm tiêu hoá có trong ruột một loài cá voi, bài tiết nổi trên mặt biển và được vớt lên chế biến. Mỗi loại nước hoa có một mùi đặc trưng nhưng không chỉ chứa một loại tinh dầu mà là một tập hợp nhiều loại tinh dầu (mỗi hãng sản xuất sẽ giữ bí mật) theo một tỷ lệ nhất định để cuối cùng cho một mùi trội nhất.

Không nên lạm dụng nước hoa

Như đã trình bày, nước hoa nữ là chế phẩm gồm nhiều loại tinh dầu hoà tan trong cồn, không được “dùng trong”, tức không dùng để uống hoặc không được tạo điều kiện làm cho nước hoa hấp thu vào máu. Đối với người lớn, vì lý do nào đó làm rơi nước hoa vào miệng, thấm vào vết thương, vào mũi, tai, mắt… với lượng nhỏ thì không hề gì (nếu là vết thương thì có thể gây đau xót làm cho khó chịu). Riêng với trẻ nhỏ, đặc biệt trẻ sơ sinh, không nên để nước hoa tiếp xúc với mũi trẻ, cũng giống như không để “dầu gió nâu” (cũng là hỗn hợp tinh dầu có chứa tinh dầu bạc hà, tinh dầu camphor…) tiếp xúc mũi trẻ. Bởi đã xảy ra nhiều trường hợp bà mẹ dùng dầu gió nâu làm dính dầu vào mũi trẻ gây kích ứng, làm trẻ suy hô hấp rất nặng, có thể tử vong.

Cũng cần lưu ý, nhiều hoá chất trong nước hoa có thể gây dị ứng. Nếu bôi hoặc xịt nước hoa trên da mà thấy đỏ, ngứa, thậm chí nổi mề đay thì ngưng ngay không dùng loại nước hoa đó nữa. Hiện tượng nám da (hay sạm da) cũng thường xảy ra ở nhiều người, do trong nước hoa có chứa loại tinh dầu dễ làm da cảm ứng với ánh sáng mặt trời, gây sạm da (gọi là hiện tượng quang cảm ứng). Chứng sạm da này có thể biến mất tự nhiên, không cần điều trị sau vài tuần, thậm chí vài tháng và đương nhiên không tiếp tục sử dụng nước hoa đó bôi lên vùng da sạm. Ta có thể tránh tác dụng bất lợi này bằng cách chỉ bôi nước hoa trên tóc, quần áo hoặc không bôi trực tiếp lên da.

Như đối với mọi loại mỹ phẩm, không nên lạm dụng nước hoa, mùi hương thoang thoảng bao giờ cũng quyến rũ hơn là một “rừng hương dày đặc”.

Vài lưu ý với người xức nước hoa

Để xem mùi nước hoa có thích hợp không, nên bôi một ít lên da, chờ vài phút sau mới ngửi chứ không ngửi trực tiếp vào lọ nước hoa. Bởi khi ta sử dụng, nhiều khi không còn là mùi nước hoa nguyên thuỷ mà là mùi nước hoa cộng với mùi da thịt chúng ta: bôi trên da để ngửi là cách thử chính xác nhất.

Nên thử nhiều loại nước hoa khác nhau và hỏi ý kiến người thân xung quanh để chọn loại dùng lâu dài, vừa thích hợp với mình mà cũng làm vừa lòng những người xung quanh.

Trước khi sử dụng nước hoa nên vệ sinh thân thể sạch sẽ, mặc quần áo sạch sẽ vì dùng nước hoa là để tạo mùi thơm chứ không phải nhằm lấn áp mùi hôi. Nhiều khi mùi hôi trên quần áo tổng hợp với mùi nước hoa sẽ tạo mùi khó chịu.

  Ngủ là một phần tất yếu và vô cùng quan trọng của cuộc sống. Giấc ngủ là một hoạt động có hiệu quả để đảm bảo sự sống của cơ thể và phục hồi sức khoẻ sau một ngày thức để làm việc. Giấc ngủ còn góp phần giúp cơ thể bài tiết ra hóc môn tăng trưởng giúp cho trẻ em phát triển và lớn lên. Chúng ta không thể sống mà không ngủ. Nếu mất ngủ trong một thời gian dài thì cơ thể chúng ta sẽ rối loạn và có thể dẫn đến chết.

ngu-ngon-2

Giấc ngủ còn được xem như một tiêu chuẩn bắt buộc để đánh giá chất lượng của cuộc sống. Đối với người thầy thuốc, giấc ngủ của người bệnh được xem như là một tiêu chuẩn cần đạt được trong quá trình điều trị và tiên lượng bệnh.

NGỦ BAO NHIÊU LÀ ĐỦ

Trung bình một người trưởng thành cần 7h – 8h để ngủ. Ở trẻ em cần ngủ nhiều hơn để cơ thể bài tiết hoóc môn tăng trưởng. Trẻ mới đẻ cần 20h/ngày, càng lớn lên thời gian ngủ giảm dần, đến 6 tuổi trẻ cần 10h – 12h/ ngày để ngủ. Người già giấc ngủ ít hơn nữa, khoảng 5h – 6h/ngày. Cả cuộc đời, con người dành 1/3 thời gian để ngủ, 2/3 thời gian thức.

TẠI SAO CÓ NGƯỜI NGỦ ĐƯỢC, CÓ NGƯỜI LẠI MẤT NGỦ
Nguyên nhân của mất ngủ là gì? Để hiểu được nguyên nhân của mất ngủ, ta phải hiểu rõ cơ chế của giấc ngủ.
Theo các nhà khoa học để đi vào giấc ngủ, cơ thể chúng ta có một cơ chế điều hoà hết sức tinh vi và chặt chẽ bao gồm sự kết hợp và tác động qua lại lẫn nhau của các yếu tố sau:
1. Yếu tố thần kinh trung ương: Với sự tham gia điều hoà và chỉ huy của hệ thống cấu tạo lưới ở thân não đặc biệt vùng dưới đồi và đồi thị.
2. Yếu tố thể dịch: Dưới sự phát động của hệ thần kinh trung ương các tuyến nội tiết và não bộ tiết ra các nội tiết tố, hoóc môn, chất trung gian dẫn truyền thần kinh có tính chất gây ngủ phong toả ức chế toàn bộ vỏ não.
3. Yếu tố tâm lý, tâm thần: Trạng thái tinh thần thư thái yên tĩnh, nghỉ ngơi , không bị kích thích, nhiệt độ và ánh sáng thích hợp…
Tóm lại, trong một khoảng thời gian nhất định (chu kỳ nhịp sinh học của mỗi người ) trong một môi trường thuận lợi, trong trạng thái mỏi mệt, có nhu cầu và ham muốn nghỉ ngơi, tinh thần thư thái và yên tĩnh. Trung ương thần kinh phát động các tuyến nội tiết và não bộ tiết ra các chất hoá học ức chế toàn bộ các hoạt động của não bộ, đưa não bộ vào trong một trạng thái ức chế lan tỏa khắp 2 bán cầu và vùng dưới vỏ não, đưa cơ thể vào trạng thái không còn ý thức và giấc ngủ được xác lập.
Vậy nguyên nhân của mất ngủ có thể tóm tắt một số yếu tố sau:
1.Yếu tố tâm lý: -lo âu, tức giận, sợ hãi, ghen tuông, hận thù, nghi kỵ, trầm uất….
– Môi trường ô nhiễm, có nhiều tiếng động, nhiều ánh sáng.
– Có sự thay đổi môi trường, thay đổi thời tiết, thay đổi vị trí địa lý….
2.Yếu tố thần kinh: các bệnh lý tổn thương thực thể não và hệ thần kinh trung ương hoặc các bệnh cơ thể khác gây đau đớn, suy nhược, sốt…
3.Các yếu tố thể dịch: biến đổi nội tiết tố, hóc môn do tuổi già, chửa đẻ hoặc mất cân bằng sinh hóa não do nhiều nguyên nhân khác nhau. Do sử dụng các chất kích thích như rượu, thuốc lá, cà phê, ma túy hoặc sử dụng các thuốc chữa bệnh có tác dụng kích thích thần kinh trung ương như vitamin nhóm B, hỗn hợp thần kinh, theophylin….

RỐI LOẠN GIẤC NGỦ KHÔNG THỰC TỔN
Ở đây chúng tôi đề cập đến loại mất ngủ mà không có nguyên nhân thực thể nào được tìm thấy nhưng nguyên nhân tâm lý và cảm xúc là yếu tố nổi bật. Theo phân loại quốc tế bệnh tật lần thứ 10 (ICD –10) nhóm này bao gồm:
1.Rối loạn giấc ngủ: biến đổi về số lượng, chất lượng và thời gian ngủ do các nguyên nhân cảm xúc bao gồm mất ngủ, ngủ nhiều và rối loạn nhịp thức ngủ.
2.Giấc ngủ thất thường: có sự kiện bất thường xảy ra trong lúc ngủ như trẻ con quấy khóc, mê sảng, mê mộng hoặc người lớn trong khi ngủ có miên hành, hoảng sợ, ác mộng.
F51.0: Mất ngủ không thực tổn
F51.1: Ngủ nhiều không thực tổn
F51.2: Rối loạn nhịp thức ngủ
F51.3: Đi trong lúc ngủ (chứng miên hành)
F51.4: Hoảng sợ khi ngủ
F51.5: Ác mộng

ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN GIẤC NGỦ NHƯ THẾ NÀO
Nguyên tắc:
1.Trước hết phải tìm nguyên nhân của các rối loạn giấc ngủ. Từ đó tìm biện pháp giải quyết nguyên nhân.
2. Áp dụng vệ sinh tâm lý giấc ngủ:
-Tạo thói quen thức ngủ đúng giờ
-Tránh dùng thuốc và các chất có thể kích thích thần kinh trung ương
-Tránh các căng thẳng tâm lý
-Chế độ làm việc, nghỉ ngơi, luyện tập hợp lý, hài hoà tránh quá mức
-Trước khi đi ngủ dùng các phương pháp gây êm dịu cổ truyền như: bấm huyệt, xoa bóp, tắm nước ấm…
3. Áp dụng các liệu pháp tâm lý (có sự hỗ trợ của các nhà tâm lý, thầy thuốc) như là thư giãn, luyện tập, âm nhạc,…
4. Sử dụng các thuốc ngủ:
Đây là biện pháp cuối cùng khi các phương pháp trên không có hiệu quả. Sử dụng thuốc ngủ phải có sự chỉ định của thầy thuốc. Không nên tự ý dùng thuốc ngủ vì có thể có tác dụng phụ hoặc lệ thuộc (nghiện) đặc biệt là các thuốc hướng thần.
Hiện nay có nhiều thuốc được sử dụng để cải thiện giấc ngủ:
1.Các thuốc có nguồn gốc thảo dược: sen vông, rotundin, cao lạc tiên…
2.Các thuốc ngủ thuộc nhóm Benzodiazepine: seduxen, tranxen, rivotril, lexomil…
3.Các thuốc ngủ không thuộc nhóm Benzodiazepine: stilnox, gardenal..,
4.Các thuốc chống trầm cảm có tác dụng gây ngủ: amitriptylin, sertraline, fluvoxamine, remeron…
5.Các thuốc an thần kinh: Aminazin, theralene, tisercin, olanzapin…
Để điều trị rối loạn giấc ngủ một cách tốt nhất, thầy thuốc phải chọn được 1 thuốc ngủ thích hợp với tình trạng của từng người bệnh.

Thuốc ngủ lý tưởng cải thiện giấc ngủ phải đạt được các tiêu chuẩn sau:
-Khởi đầu tốt và duy trì tốt giác ngủ
-Hiệu lực dài hạn mà không bị nhờn thuốc
-Phạm vi điều trị rộng và không gây ngộ độc quá liều
-Cải thiện chất lượng giấc ngủ, ngày hôm sau phải khoẻ khoắn và không mất tập trung
-Thiết lập và duy trì giấc ngủ như bình thường
-Không gây khó chịu và tác dụng phụ khác
-Không gây tương tác với các thuốc và chất khác
-Không gây tình trạng lệ thuộc thuốc (nghiện), có thể bỏ và cắt giảm được.

PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN ĐIỀU TRỊ MỚI CHỨNG MẤT NGỦ

Uống thuốc khi cần

Một số người bị mất ngủ cần phải uống thuốc ngủ đều đặn mới duy trì được giấc ngủ, nhưng đa số người mất ngủ đến khám bác sỹ không phải tối nào cũng mất ngủ. Do đó trong nhiều trường hợp nên dùng thuốc gián đoạn và chỉ uống thuốc khi người bệnh thấy cần thiết.

Nguyên tắc này cho phép điều chỉnh việc điều trị phù hợp với từng người bệnh và ngăn ngừa tình trạng dùng thuốc ngủ liên tục hay dài hạn không cần thiết có thể dẫn đến nghiện, lệ thuộc đặc biệt các thuốc ngủ dòng hướng thần Benzodiazepine (Seduxen, Rivotril…)

Trong mọi trường hợp điều trị mất ngủ kết hợp với cố gắng của bản thân, các biện pháp y học dân tộc cổ truyền khác để giảm tối đa việc dùng thuốc – là lời khuyên của thầy thuốc dành cho những người bị mất ngủ.

Thời gian Thứ Hai Thứ Ba Thứ Tư Thứ Năm Thứ Sáu Thứ Bảy Chủ Nhật
01/04 02/04 03/04 04/04 05/04 06/04 07/04
SÁNG
7h – 12h
 Bs.Bích Huyên  Bs.Bích Huyên  Bs.Bích Huyên  Bs.Bích Huyên  Bs.Bích Huyên  Bs. Hạnh – Bs. Hương  Bs. Anh Thư
 Bs. Kim Thu  Bs. Kim Thu  Bs. Kim Thu  Bs. Kim Thu Bs. Loan
Bs. Cẩm Huyên
Bs. Huyền Bs. Huyền Bs. Vũ Bs. Vũ Bs. Vũ Bs. Vũ
CHIỀU
13h15 – 17h
 PGS. Lan  Bs. Kim Thu Bs. Kim Huyên Nghỉ
 Bs. Hữu Hạnh  Bs. Kim Thu  Bs. Khánh  Bs. Thuận  Bs. Thuận
Bs. Út Bs. Vũ Bs. Út Bs. Vũ Bs. Vũ Bs. Vũ
TỐI
17h – 20h
 Bs. P.Thư Bs. Vinh Bs. Hương  Bs. Hữu Hạnh Bs. Vinh Nghỉ

Mất ngủ (insomnia) hay khó ngủ (sleeping dificulties) là chứng bệnh gây khó khăn trong đời sống rất nhiều người. Khó ngủ có nhiều dạng, khó đi vào giấc ngủ, ngủ không yên giấc, dậy sớm không ngủ lại được, hoặc tỉnh dậy nhiều lần trong khi ngủ, mỗi lần dài hơn 30 phút.

chua-mat-ngu

Vì định nghiã của từ mất ngủ hay khó ngủ không rõ rệt, tỉ lệ mất ngủ có thể từ 4% cho tới 48%. Khoảng 33% dân số bị một trong nhiều triệu chứng của mất ngủ, 15% bị ngầy ngật trong ban ngày, 18% không thoả mãn với giấc ngủ. 30% bệnh mất ngủ có liện hệ bệnh tâm thần.

Nữ bị mất ngủ nhiều hơn Nam nhất là ở tuổi gần mãn kinh, nhưng nguyên nhân có lẽ do những bệnh liên hệ hơn là do thiếu hormone.

Càng lớn tuổi càng dễ bị mất ngủ, có thể do những bệnh phát sinh do lớn tuổi .

Yếu tố tạo khuynh hướng mất ngủ
(Tại sao tôi bị mất ngủ?)

– Thói quen, thái độ về giấc ngủ do giáo dục từ nhỏ
– Các chứng sợ sệt, lo nghĩ
– Di truyền (cha me bị mất ngủ)

Yếu tố tạo mất ngủ
(Tại sao đến lúc này tôi mới bị mất ngủ?)

– Một thay đổi cấp tính nào đó sẽ tạo mất ngủ: lo nghĩ (tiền bạc, gia đình, tình yêu, nghề ghiệp), chỗ ở ồn ào, lộn múi giờ v.v…) – nếu thay đổi này chỉ trong thời gian ngắn, chứng mất ngủ có thể sẽ không thành kinh niên.

Yếu tố kéo dài chứng mất ngủ
(Tại sao tôi bị mất ngủ lâu như vậy?)

* Tâm lý:
– Nhầm lẫn về lý do mất ngủ
– Quá lo sợ vì mình bị mất ngủ (theo dõi đồng hồ suốt đêm; càng tức bực vì mất ngủ càng khó ngủ)
– Chưa đi ngủ đã cho rằng mình sẽ không ngủ được
– Lo nghĩ, chật vật, buồn rầu
* Cách sinh sống và thói quen:
– Ngủ, thức không có giờ giấc đều – khi sớm, khi muộn
– Đi làm nhiều ca khác nhau (sáng – đêm)
– Thức dậy nhưng vẫn nằm lâu trên giường
* Ngủ trưa quá nhiều :
– Không có thời gian thư giãn trước khi ngủ
– Không có thời giờ lo nghĩ trong ngày, chờ đến đêm, leo lên giường rồi mới bắt đầu suy tính công việc
– Hay ăn đêm làm bụng no khó chịu, chà răng trước khi ngủ làm tỉnh táo

Phân loại

Mất ngủ có thể phân loại như sau :

* Mất ngủ nguyên phát (primary insomnia) có 3 dạng:
– Không rõ nguyên nhân (idiopathic): từ thời thơ ấu không có lý do chính xác
– Tâm sinh lý (psycho-physiological): do bất thường trong khả năng thích ứng với điều kiện của hoàn cảnh (thí dụ: cái giường trở thành một nơi tạo kích thích hơn là nơi để nghỉ ngơi)
– Nghịch lý (paradoxical): dù kết quả thử nghiệm (dùng máy đo ngủ – polysomnography) cho thấy bệnh nhân ngủ ngon, nhưng khi thức dậy vẫn cho là mình mất ngủ
* Mất ngủ thứ phát (secondary) do những lý do bên ngoài:
– Thiếu khả năng giải quyết vấn đề đang làm lo nghĩ
– Thói quen làm mất ngủ (ăn khuya, làm ca đêm, nghe nhạc ồn khi ngủ, chà răng trước khi ngủ v.v…)
– Bệnh tâm thần (trầm cảm…)
– Bệnh tật thể chất (đau, mỏi, tê v.v…)
– Dùng thuốc hay hóa chất (cà phê, trà, quen dùng thuốc ngủ, thuốc cấm v.v…)

Chứng mất ngủ ở trẻ em

Mất ngủ ở trẻ em có hai loại:

* Do thiếu kỷ luật từ cha mẹ (Limit-Setting Sleep Disorder): Trẻ ngủ không đúng giờ, hay đòi thức và chơi tới khuya và chỉ ngủ khi quá nệt
* Do thiếu dấu hiệu (Sleep-Onset Association Disorder): Trẻ không ngủ vì không có hay thấy một vật mình thích, như búp bê, mền, hay được hát ru, đu đưa v.v…
– Đi vào giấc ngủ là một động tác sinh lý tự nhiên của cơ thể nhưng lúc còn sơ sinh cần được rèn luyện. Trẻ phải học cách cảm nhận một số dấu hiệu làm ngủ tự nhiên và tập ngủ theo những dấu hiệu ấy.

– Khi cha mẹ chăm lo vỗ về quá độ sẽ làm trẻ bị mất khả năng ngủ tự nhiên và trẻ sẽ chỉ ngủ khi có những dấu hiệu đặc biệt do cha mẹ làm ra như hát ru, đu đưa, vỗ về.

– Một số nghiên cứu gần đây về giấc ngủ của trẻ sơ sinh cho thấy trẻ sẽ ngủ ngon hơn nếu cha mẹ không đu đưa hay vỗ về.

– Theo Tập San Y Học Úc (MJA 2005; 1825-18), nếu cha mẹ tuân theo chỉ dẫn trong một tiết giảng dạy về phương pháp ru con, trẻ sơ sinh ngủ thêm được 80 phút mỗi ngày. Cha mẹ không nên động chạm đến trẻ khi gần ngủ và khi trẻ khóc, cha mẹ cố gắng cứ để cho khóc trong khoảng ít nhất là 5 phút.

– Gần một nửa số cha mẹ than phiền về tình trạng con mình ngủ không ngon làm quấy giấc ngủ cả nhà, có thể đem đến bệnh trầm cảm sau khi sanh cho người mẹ, tan vỡ hạnh phúc gia đình và những vụ đối xử tệ hại với con cái v.v…

Một Số Cách Điều Trị

Chữa mất ngủ bằng hoa quả

– Dùng nho ngâm với rượu trắng uống chữa mất ngủ
Có rất nhiều loại hoa quả không chỉ ngon miệng mà còn giúp bạn ngon giấc nữa, chẳng hạn như nhãn, lạc, nho, hoa nhài…

– Hoa nhài: Để chữa chứng mất ngủ, hằng ngày dùng 3-5 g hoa nhài hãm lấy nước uống, sẽ giúp ngủ ngon.

– Quả vải: Nếu mỗi ngày ăn 2 lần, mỗi lần ăn 8-10 quả vải khô thì vừa chữa được chứng mất ngủ, vừa làm lợi trí nhớ.

– Lạc (đậu phộng): Hằng ngày dùng lá lạc tươi sắc lấy nước uống trước khi đi ngủ. Lạc giúp an thần tốt nên sẽ chữa được chứng mất ngủ.

– Quả nhãn: Dùng long nhãn 50 g, sắc lấy nước uống trong ngày, cần uống hằng ngày.

– Hoặc dùng 9 g long nhãn, 9 g nhân táo, 15 g khiếm thực, sắc lấy nước thuốc uống trước khi đi ngủ. Cần uống 3-5 ngày liền.

– Quả nho: Dùng nho ngâm với rượu trắng, ngày uống 10-20 ml trước lúc ngủ hoặc buổi tối.

Bị mắc bệnh mất ngủ – Hãy tập Yoga

Theo một nghiên cứu mới đây thì 63% phụ nữ trên thế giới bị mắc chứng mất ngủ và 12% trong số họ thường xuyên phải nhờ cậy đến thuốc ngủ ít nhất một vài lần trong tháng. Những loại thuốc ngủ dù cho tốt đến mấy cũng sẽ khiến cho người sử dụng bị stress do hậu quả của những mệt mỏi lâu ngày tích tụ. Một khi bạn căng thẳng, cơ thể sẽ tiết ra nhiều hoóc môn cortisol khiến cho cơ thể trở nên bồn chồn và không chợp mắt được. Đối với nhiều người, thuốc Tây chính là bài toán cho căn bệnh mất ngủ, thế nhưng các bác sĩ vẫn khuyến cáo người bệnh không nên phụ thuộc quá nhiều vào thuốc ngủ. Sử dụng thuốc ngủ trong một thời gian dài sẽ khiến cho thuốc bị nhờn, đó là chưa kể những tác dụng phụ có thể xảy ra. Phương cách chữa trị hiệu quả nhất và không hề gây hại cho sức khỏe chính là yoga. Từ lâu, những bài tập yoga đã được biết đến là bài thuốc giúp cho cơ thể và trí não của bạn được thư giãn hoàn toàn. Chính vì thế, sau khi luyện tập yoga bạn sẽ chìm vào giấc ngủ sâu một cách tự nhiên thoải mái.

* Nếu bạn không thể tham dự lớp học yoga, bạn có thể:

+ Châm cứu: Biện pháp châm cứu sẽ giúp bạn dễ ngủ và ngủ sâu hơn. Châm cứu hai lần một tuần, liên tục trong vòng một tháng và chứng mất ngủ của bạn sẽ biến mất hoàn toàn.
+ Giữ cho đôi chân được ấm áp: Nhiều người bị mất ngủ là do nhiệt độ cơ thể giảm sút trong khi ngủ, đặc biệt là đôi chân. Để ngủ dễ hơn, bạn nên ngâm chân bằng nước ấm, lau khô và đi tất để đôi chân khỏi bị lạnh.

Đông y gọi mất ngủ là “bất mị”.
Nguyên nhân mất ngủ chủ yếu là do căng thẳng về tâm lý (stress),  áp lực công việc, áp lực tình cảm, lo nghĩ quá độ, làm việc quá sức, ăn uống không điều độ, tổn thương Tâm Tỳ,  Tâm Thận bất giao, Âm hư hoả vượng, Can dương nhiểu động, Tâm đởm khí hư v.v…
Lời khuyên:
– Hằng ngày không nên dùng chè, cà phê, rượu, thuốc lá, ớt, hạt tiêu……
– Ăn nhiều rau quả và ngủ cốc hạn chế thịt mỡ khó tiêu làm nhiễu loạn giấc ngủ.
– Buổi tối không nên ăn quá no.
– Nên thể dục dưỡng sinh hoặc đi bộ hong thả trong 20 – 30 phút vào lúc chiều tối.
– Có thể tắm nước ấm, hoặc ngâm chân bằng nước ấm để tạo sự thư giãn trước khi ngủ.
– Không xem phim kinh dị, nhạc kích động v.v…không lo nghĩ căng thẳng quá mức trước khi ngủ.
– Phòng ngủ yên tĩnh sạch sẽ, thoáng mát.
Bài thuốc tham khảo
+ Phương 1 : Nhuận táo giao tâm thang
– Thành phần : Bạch thược, Đương qui, Thục địa, Huyền sâm mỗi vị 30g, Sài hồ, Thạch xương bồ mỗi vị 3g.
– Cách dùng : Sắc uống 02 lần, chiều 3h, tối 8h mỗi buổi uống 1 lần.
– Chứng thích ứng :Mất ngủ tính ngoan cố thuộc can khí quá thịnh, thủy không nuôi mộc.

+ Phương 2 : Gia vị Hoàng liên A giao thang
– Thành phần : Hoàng liên, Thược dược mỗi vị 9g, Hoàng cầm 6g, Lòng đỏ trứng gà 2 cái, A giao 9g.
– Cách dùng : Sắc trước 3 vị, lấy nước thuốc hòa tan với A giao, rồi bỏ vào lòng đỏ trứng gà quấy đều, uống ấm. Lâm sàng tùy chứng gia giảm.
– Chứng thích ứng : Mất ngủ thuộc Tâm Thận bất giao.

+ Phương 3 : Khổ sâm Toan táo nhân hợp tể
– Thành phần : Khổ sâm 30g, Toan táo nhân 20g.
– Cách dùng : Thêm nước 100ml, sắc đặc còn 15 ~20ml, mỗi lúc trước khi đi ngủ 20 phút quấy uống, 10 ~15 ngày là 1 liệu trình.
– Chứng thích ứng : Mất ngủ tính ngoan cố.
– Hiệu quả trị liệu: Trị liệu 20 ca, bệnh khỏi 6 ca, hiệu quả rõ 7 ca, chuyển biến tốt 7 ca.

+ Phương 4 : Long nhãn Liên Khiếm trà
– Thành phần : Long nhãn nhục 4 ~6 trái, Hột sen, Khiếm thực mỗi vị 20g.
– Công dụng : Bổ huyết an thần
– Cách dùng : Long nhãn lấy thịt, Hột sen và Khiếm thực dùng chày giã, dùng nước lượng vừa phải sau khi nấu sôi, đổ vào trong phích giử nóng, đậy kín cho ngấm 20 phút, dùng cả xác và nước thuốc. Mỗi ngày 1 thang.
– Chứng thích ứng: (1) Suy nhược thần kinh, tim hồi hộp đánh trống ngực, tự ra mồ hôi, đổ mồ hôi trộm, đêm ngủ không ngon; (2) sau khi bệnh nhiệt, tim hồi hộp, mất ngủ, tự ra mồ hôi, ra mồ hôi trộm.

+ Phương 5 : Liên tử tâm trà
– Thành phần : Liên tử tâm, Cam thảo mỗi vị 3g.
– Công dụng : Liên tâm trừ phiền, thanh nhiệt giải độc.
– Cách dùng : Liên tử tâm, Cam thảo bỏ vào trong ly giử nhiệt, pha nước sôi vào, sau khi đậy kín cho ngấm 10 ~15 phút, thay trà uống nhiều lần, sớm tối mỗi buổi pha 1 lần.
– Chứng thích ứng: Tâm hỏa tích thịnh gây ra phiền táo không ngủ, lòng bàn tay bàn chân nóng, miệng khát cổ họng khô và miệng lưỡi lở loét.

Bệnh nhân cần tư vấn thầy thuốc trước khi sử dụng bài thuốc!

Chứng mất ngủ có nhiều nguyên nhân, cho nên để trả lời chính xác bạn cần phải trả lời thêm 1 số câu hỏi như: Cân nặng, chiều cao, huyết áp, ăn uống, các bệnh mạn tính ảnh hưởng v.v…

Về nguyên tắc điều trị:
1. Loại bỏ những nguyên nhân chủ quan gây mất ngủ
Nếu cố gắng tìm hiểu, người bệnh sẽ biết một phần nguyên nhân gây mất ngủ, thí dụ uống cà phê quá nhiều vào buổi tối hoặc trước khi đi ngủ, ăn quá nhiều chất cay nóng, ăn quá no vào buổi tối, đi du lịch đến nơi có sự thay đổi múi giờ quá lớn, do căng thẳng trong công việc… Sau khi tìm biết được nguyên nhân, người bệnh có thể sẽ tự điều chỉnh để ngủ được mà không cần nhờ đến thuốc.
2. Vệ sinh giấc ngủ
Nên tạo tâm trạng thư thái để dễ dàng đi vào giấc ngủ, giường ngủ cần đặt nơi thoáng mát, chăn màn sạch sẽ v.v…
3. Dùng thuốc ngủ, kết hợp với dùng thuốc điều trị nguyên nhân gây bệnh
Theo y học cổ truyền (YHCT), việc điều trị cũng theo các nguyên tắc như trên, tuy nhiên ngoài thuốc, YHCT còn có các phương pháp không dùng thuốc như châm cứu, dưỡng sinh để giúp cho giấc ngủ đến dễ dàng hơn.
a. Không dùng thuốc:
Dưỡng sinh: Tập các động tác như thư giãn, thở 4 thì, động tác tam giác, xoa đầu mặt cổ, bấm huyệt (Xoa, day, bấm huyệt Nội quan, Túc tam lý, Tam âm giao).
b. Dùng thuốc:
A. Dùng theo kinh nghiệm: Để chỉ định điều trị, cần phải có chẩn đoán thật chính xác của các nhà chuyên môn. Tuy nhiên, có một số cây cỏ là rau ăn vừa có thể dùng làm thuốc và không độc. Chẳng hạn như hạt sen, long nhãn, mật ong, đậu xanh, đậu đen, táo tàu… có tác dụng an thần, trị mất ngủ; Một số thức ăn như chuối, các loại hạt quả, đậu phộng (lạc)… giúp điều hòa giấc ngủ.
Các loại cây cỏ như lạc tiên (chùm bao, nhãn lồng) có thể dùng riêng, luộc hoặc hấp và dùng ăn như rau giúp ngủ ngon, hoặc phối hợp với lá dâu tằm, lá vông, tim sen nấu nước uống trị mất ngủ; Trúc diệp (lá tre); Toan táo nhân (hột trái táo ta, táo chua) nấu nước uống thay nước trà, giúp giấc ngủ mau đến, có thể xem là một loại thuốc ngủ.

Có nhiều nguyên nhân gây mất ngủ, có thể chỉ là những lo âu hay căng thẳng nào đó trong đời sống hàng ngày chưa được giải quyết ổn thỏa; Những hành vi cá nhân như hút thuốc lá, uống cà phê nhiều, thay đổi múi giờ khi đi xa, làm việc ca đêm, ăn quá nhiều quá no trong đêm; hoặc những bệnh lý thực thể đều có thể gây mất ngủ.

mat-ngu-man-tinh

Có thể phân ra 2 nhóm nguyên nhân gây mất ngủ như sau:

1. Mất ngủ do sinh hoạt

– Do hút thuốc lá, uống nhiều cà phê, do ăn nhiều nặng bụng trong đêm, ăn nhiều chất kích thích…

– Do rối loạn lịch thức ngủ trong ngày, như lịch làm việc thay đổi bất thường, làm việc theo ca không thường xuyên, do thay đổi múi giờ chênh lệch như khi đi du lịch đến các vùng có mức chênh lệch múi giờ từ 6-24 giờ.

– Do căng thẳng lo âu nhiều trong học tập, làm việc, trong cuộc sống hàng ngày.

– Do phân bổ giờ giấc ngủ không hợp lý, ngủ ngày quá nhiều.

Ngoài ra, theo sự phát triển tâm sinh lý ở mỗi người, chu kỳ thức ngủ sẽ thay đổi dần theo tuổi tác. Ở người cao tuổi, thời gian ngủ sẽ ít dần, có khuynh hướng ngủ muộn hơn và thức dậy sớm hơn. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng nhất là chất lượng của giấc ngủ, sau khi ngủ dậy phải cảm thấy tinh thần sảng khoái, phấn chấn, thích làm việc.

2. Mất ngủ do nguyên nhân thực thể

Do dùng thuốc để điều trị bệnh: Như các thuốc điều trị đau đầu Migrain có chứa cafein, thuốc chống viêm như corticoide, thuốc lợi…

Do bệnh lý: Các bệnh lý gây mất ngủ như đau đầu do viêm xoang, do tăng huyết áp, đau do viêm loét dạ dày tá tràng, đau do Zona, đau do kích thích thần kinh, đau trong bệnh khớp xương v.v… Việc điều trị phải chú ý vào nguyên nhân gây bệnh.

Do loạn tâm thần chức năng hoặc thực thể, hoặc do trầm cảm.

ĐIỀU TRỊ CHỨNG MẤT NGỦ

Điều trị chứng mất ngủ chủ yếu là điều trị triệu chứng, kết hợp với điều trị nguyên nhân nếu xác định được nguyên nhân gây mất ngủ. Vấn đề chẩn đoán xác định cũng như chỉ định điều trị nên theo ý kiến của thầy thuốc.

Về nguyên tắc điều trị:

1. Loại bỏ những nguyên nhân chủ quan gây mất ngủ

Nếu cố gắng tìm hiểu, người bệnh sẽ biết một phần nguyên nhân gây mất ngủ, thí dụ uống cà phê quá nhiều vào buổi tối hoặc trước khi đi ngủ, ăn quá nhiều chất cay nóng, ăn quá no vào buổi tối, đi du lịch đến nơi có sự thay đổi múi giờ quá lớn, do căng thẳng trong công việc… Sau khi tìm biết được nguyên nhân, người bệnh có thể sẽ tự điều chỉnh để ngủ được mà không cần nhờ đến thuốc.

2. Vệ sinh giấc ngủ

Nên tạo tâm trạng thư thái để dễ dàng đi vào giấc ngủ, giường ngủ cần đặt nơi thoáng mát, chăn màn sạch sẽ v.v…

3. Dùng thuốc ngủ, kết hợp với dùng thuốc điều trị nguyên nhân gây bệnh

Theo y học cổ truyền (YHCT), việc điều trị cũng theo các nguyên tắc như trên, tuy nhiên ngoài thuốc, YHCT còn có các phương pháp không dùng thuốc như châm cứu, dưỡng sinh để giúp cho giấc ngủ đến dễ dàng hơn.

a. Không dùng thuốc:

Dưỡng sinh: Tập các động tác như thư giãn, thở 4 thì, động tác tam giác, xoa đầu mặt cổ, bấm huyệt (Xoa, day, bấm huyệt Nội quan, Túc tam lý, Tam âm giao).

b. Dùng thuốc:

A. Dùng theo kinh nghiệm: Để chỉ định điều trị, cần phải có chẩn đoán thật chính xác của các nhà chuyên môn. Tuy nhiên, có một số cây cỏ là rau ăn vừa có thể dùng làm thuốc và không độc. Chẳng hạn như hạt sen, long nhãn, mật ong, đậu xanh, đậu đen, táo tàu… có tác dụng an thần, trị mất ngủ; Một số thức ăn như chuối, các loại hạt quả, đậu phộng (lạc)… giúp điều hòa giấc ngủ.

Các loại cây cỏ như lạc tiên (chùm bao, nhãn lồng) có thể dùng riêng, luộc hoặc hấp và dùng ăn như rau giúp ngủ ngon, hoặc phối hợp với lá dâu tằm, lá vông, tim sen nấu nước uống trị mất ngủ; Trúc diệp (lá tre); Toan táo nhân (hột trái táo ta, táo chua) nấu nước uống thay nước trà, giúp giấc ngủ mau đến, có thể xem là một loại thuốc ngủ.

B. Dùng theo đối chứng lập phương:

a. Mất ngủ do làm việc quá sức hoặc suy nghĩ lo âu căng thẳng, kèm theo là biểu hiện hay hốt hoảng, thấp thỏm lo âu, tim hồi hộp, hay quên, chân tay mỏi rũ, ăn uống kém, sắc da không tươi nhuận, cả đêm không ngủ được, hoặc lúc ngủ lúc thức, hay nằm mơ, dễ tỉnh giấc.

Bài thuốc: Củ mài sao vàng 20g; Long nhãn 10g; Hạt sen để cả tim (sao) 20g; Lá dâu 10g; Táo nhân (sao) 10g; Lá vông 10g; Bá tử nhân 10g; Sắc uống mỗi ngày.

b. Mất ngủ kèm theo triệu chứng buồn bực, ù tai, đau lưng, uể oải không muốn làm việc, nóng nảy bứt rứt, có cảm giác bốc hỏa lên đầu mặt, đau đầu choáng váng, tâm phiền miệng khát, đêm ra mồ hôi trộm…

Dùng bài thuốc: Đậu đen 20g; Mè đen 10g; Hạt sen để cả tim (sao) 20g; Lá dâu 10g; Lá vông 20g; Vỏ núc nác 6g; Lá dâu tằm 20g; Lạc tiên 10g; Thảo quyết minh 10g.

c. Người nhút nhát, hay cáu gắt, hư phiền, ngủ không yên, hay chiêm bao vớ vẩn.

Bài thuốc: Hạt sen 40g; Táo nhân sao đen 40g.

d. Mất ngủ kèm theo đầy tức vị quản, ợ hơi, khó chịu hoặc ăn ít, đại tiện không thông hoạt, bụng đau, chân tay bủn rủn.

Bài thuốc: Trần bì 10g; Hương phụ 12g; La bạc tử 10g; Mộc hương 15g; Chỉ thực 10g.

Mất ngủ để lại những hậu quả nghiêm trọng cho sức khoẻ thể chất cũng như tinh thần. Một liệu pháp đơn giản và hiệu quả để điều trị chứng này là sử dụng sản phẩm Tảo Mặt trời công thức thanh lọc xanh.

Mất ngủ căn bệnh không thể bỏ qua

Mất ngủ hay khó ngủ là chứng bệnh gây khó khăn trong đời sống của rất nhiều người. Khó ngủ có nhiều dạng, khó đi vào giấc ngủ, ngủ không yên giấc, dậy sớm không ngủ lại được, hoặc tỉnh dậy nhiều lần trong khi ngủ…

Khi bạn gặp một trong số những triệu chứng sau: không thể chợp mắt nổi khi đã nằm trên giường, tỉnh giấc nhiều lần trong một đêm hay thức giấc vào lúc rạng sáng, bạn mới thực sự bị căn bệnh này “quấy rầy”.

Cách mới trị mất ngủ, hiệu quả nhanh 1
Tác hại của mất ngủ
Mất ngủ để lại những hậu quả nghiêm trọng cho sức khoẻ thể chất cũng như tinh thần. Nó khiến người cảm thấy mệt mỏi, rã rời chân tay, nhức đầu… Nó làm tinh thần bị ảnh hưởng xấu, rất dễ cáu giận, trở nên nhạy cảm hay vô cùng “hiếu chiến”… Ngoài ra, sự tập trung cũng bị giảm sút, do đó chất lượng công việc của bị giảm đi. Theo các nhà khoa học Anh, nếu mất ngủ trong thời gian dài sẽ dẫn đến nguy cơ mắc một số bệnh như: Béo phì, tim mạch, tăng huyết áp, khả năng mắc tiểu đường sẽ tăng 2,5 lần.

Nguyên nhân dẫn đến mất ngủ

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến việc bị mất ngủ. Trong đó có thể kể đến một số nguyên nhân chính sau:

– Tác dụng phụ của một số loại thuốc: Các thuốc điều trị đau đầu, các thuốc có chứa cafein, thuốc chống viêm có corticoide, thuốc lợi tiểu…

– Do bệnh lý: Các bệnh lý gây mất ngủ như đau đầu do viêm xoang, do tăng huyết áp, đau do viêm loét dạ dày tá tràng, đau do Zona, tiểu đường, đau do kích thích thần kinh, đau trong bệnh khớp xương.

– Do tuổi cao: Đối với phụ nữ sự thay đổi hormon trong chu kỳ kinh nguyệt và thời kỳ tiền mãn kinh có thể đóng một vai trò quan trọng. Trong thời kỳ tiền mãn kinh, hiện tượng ra mồ hôi, đi tiểu nhiều  ban đêm và hiện tượng nóng bừng “bốc hỏa” cũng là nguyên nhân gây nên mất ngủ.

Đối với nam giới: Suy giảm thận dương ở nam giới, đi tiểu đêm nhiều, đau nhức xương khớp, đau mỏi lưng làm giấc ngủ không trọn vẹn.

– Do công việc căng thẳng mệt mỏi, đau đầu, stress làm bạn đi vào giấc ngủ chập chờn lo lắng không yên.

– Do thói quen ăn uống thiếu chất: Ít bổ sung các loại hoa quả và rau xanh, các loại hạt trong bữa ăn làm bạn thiếu các loại vitamin nhóm B, và các axit amin thiết yếu giúp cho giấc ngủ như tryptophan, phenylalanine, omega6 nên giấc ngủ không trọn vẹn.

Cách khắc phục

– Điều trị tận nơi các bệnh, khi bệnh lý hết thì giấc ngủ cũng sẽ được cải thiện.

– Cần bổ sung nhiều loại hoa quả, rau xanh, các loại hạt trong khẩu phần ăn Vitamin B và các axit amin sẽ bảo vệ giấc ngủ.

Liên hệ Phòng khám Đa khoa CHAC để được hỗ trợ và tư vấn tốt nhất.

PHÒNG KHÁM ĐA KHOA CHAC

Địa chỉ: Số 10 Lý Thường Kiệt, Phường 7, Quận 10, TP.HCM
Tel: (08) 39 574 933 – Fax: (08) 39 57 31 78

benh than man tinh

Bệnh thận mạn tính: Những điều cơ bản

Bạn được cho biết bạn mắc bệnh thận mạn tính (CKD – chronic kidney disease). Điều này có ý nghĩa gì? Điều này có ý nghĩa gì đối với sức khỏe và đời sống của bạn?

Bạn có hai quả thận, kích thước bằng nắm tay. Công việc chính của chúng là lọc chất thải và nước thừa ra khỏi cơ thể để tạo thành nước tiểu. Chúng cũng giữ cho cơ thể cân bằng hóa chất, giúp kiểm soát huyết áp và tạo nên các hormone.

Bệnh thận mạn tính có nghĩa là hai thận của bạn bị tổn thương và không thể lọc được máu. Tổn thương này khiến cho chất thải tích tụ lại trong cơ thể bạn. Nó cũng gây ra những vấn đề khác, có thể làm hại sức khỏe của bạn.

Bệnh thận mạn tính thường là một bệnh “tiến triển dần”, nghĩa là nó nặng hơn theo thời gian. Bệnh thận mạn tính có thể đưa đến suy thận. Nếu thận của bạn suy, bạn cần lọc thận hoặc ghép thận để giữ được sức khỏe.

Bạn có thể thực hiện các bước sau đây để thận của bạn khỏe mạnh lâu dài hơn:

+ Chọn những thức ăn ít muối.

+ Giữ huyết áp ở mức bác sĩ qui định.

+ Giữ đường huyết trong giới hạn qui định nếu bạn bị tiểu đường.

 

Bệnh thận mạn tính và sức khỏe của tôi

Bằng cách nào bác sĩ biết được tôi bị bệnh thận mạn tính?

Bạn cảm thấy bình thường và ngạc nhiên khi nghe nói rằng bạn mắc bệnh thận mạn tính. Nó được gọi là bệnh “dấu mặt” bởi vì nhiều người không hề có bất kỳ triệu chứng nào cho đến khi thận sắp sửa suy. Cách duy nhất để biết là kiểm tra thận của bạn bằng các xét nghiệm máu và nước tiểu.

1. Xét nghiệm máu kiểm tra độ lọc cầu thận (GFR – glomerular filtration rate) của bạn, cho biết thận của bạn lọc tốt xấu thế nào.

2. Xét nghiệm nước tiểu kiểm tra albumin. Albumin là một protein có thể đi vào nước tiểu khi thận bị tổn thương. Khi thận lành mạnh, không có albumin trong nước tiểu. Khi màng lọc thận bị tổn thương, albumin từ trong máu rò rỉ vào trong nước tiểu.

benh than man tinh 1

Hai xét nghiệm này được dùng để theo dõi bệnh thận mạn tính và giúp bảo đảm rằng điều trị có hiệu quả.

Cái gì gây ra bệnh thận mạn tính?

Tiểu đường và tăng huyết áp là hai nguyên nhân thường gặp nhất của bệnh thận mạn tính.

Bác sĩ sẽ xem bệnh sử của bạn và có thể làm thêm các xét nghiệm khác. Bác sĩ cần biết tại sao bạn mắc bệnh thận mạn tính và nhờ vậy điều trị đúng nguyên nhân của bệnh.

Các loại thuốc gì được dùng để điều trị bệnh thận mạn tính?

Người bệnh thận mạn tính sử dụng thuốc để hạ huyết áp, kiểm soát đường huyết và hạ cholesterol huyết. Hai loại thuốc huyết áp là thuốc ức chế men chuyển angiotensin (ACE inhibitors) và thuốc chẹn thụ thể angiotensin-II (ARBs) có thể làm chậm bệnh thận mạn tính và trì hoãn suy thận, ngay cả ở người không bị tăng huyết áp. Nhiều người cần đến 2 hay nhiều hơn các loại thuốc để hạ huyết áp. Họ cũng có thể cần đến một thuốc lợi tiểu. Mục tiêu là giữ huyết áp bạn ở mức bác sĩ qui định.

Tôi có cần thay đổi các thuốc đang dùng?

Một số loại thuốc không an toàn đối với người bệnh thận mạn tính. Một số loại thuốc khác cần phải giảm liều dùng. Hãy báo cho bác sĩ biết tất cả các loại thuốc bạn dùng, kể cả các thuốc mua không cần toa của bác sĩ, các vitamins và các thực phẩm chức năng.

Bệnh thận mạn tính có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của tôi theo cách khác không?

Người bệnh thận mạn tính thường bị tăng huyết áp. Họ cũng có thể bị thiếu máu (số lượng hồng cầu giảm), bệnh xương, suy dinh dưỡng và các bệnh tim, mạch máu.

Các xét nghiệm nào giúp theo dõi bệnh thận mạn tính của tôi?

Xét nghiệm máu và nước tiểu được dùng để tìm ra bệnh thận mạn tính cũng được dùng để theo dõi nó. Bạn cần theo dõi các kết quả xét nghiệm của bạn để xem bạn đang như thế nào.

Theo dõi huyết áp của bạn.

Nếu bạn bị tiểu đường, hãy theo dõi đường huyết của bạn và hãy giữ nó trong giới hạn đã định. Cũng như tăng huyết áp, tăng đường huyết có thể làm hại thận của bạn.

Tôi sẽ phải lọc thận hay không?

Một số người sống chung với bệnh thận mạn tính nhiều năm mà không phải lọc thận. Số khác lại nhanh chóng rơi vào suy thận. Bạn có thể trì hoãn lọc thận nếu bạn tuân thủ lời khuyên của bác sĩ về thuốc, ăn kiêng và những thay đổi cách sống.

Nếu thận của bạn suy, bạn cần phải lọc thận hoặc ghép thận để giữ được sức  khỏe. Hầu hết người suy thận được điều trị bằng cách lọc thận.

Tôi có thể được ghép thận thay vì lọc thận không?

Một số người suy thận có thể được ghép thận. Thận được hiến tặng từ một người bạn không biết vừa mới chết hoặc từ một người còn sống, bà con, vợ chồng hoặc bạn bè. Ghép thận không phải dành cho mọi người. Bạn có thể ở vào tình trạng khiến cho phẫu thuật ghép thận trở nên nguy hiểm hoặc ít khả năng thành công.

Bệnh thận mạn tính và cách sống của tôi

Người bệnh thận mạn tính có thể và nên tiếp tục cuộc sống một cách bình thường: làm việc, vui cùng bạn bè và gia đình, tiếp tục tích cực. Họ cũng cần phải thay đổi một số.

Tôi có cần thay đổi những gì tôi ăn?

Những gì bạn ăn có thể giúp làm chậm bệnh thận mạn tính và giữ cho cơ thể bạn mạnh khỏe hơn. Cần lưu ý một số điểm:

+ Chọn và nấu thức ăn ít muối hơn. Ít sử dụng muối nêm thêm trên bàn.

+ Chọn những protein phù hợp và số lượng ít hơn.

+ Chọn những thức ăn lành mạnh cho tim của bạn, như thịt nạt, gà không da, cá, trái cây, rau và đậu.

+ Đọc nhãn thức ăn, đặc biệt để ý đến natri để giúp bạn chọn những thức ăn thức uống phù hợp.

benh than man tinh 11

Bác sĩ có thể giới thiệu bạn đến một chuyên gia ăn kiêng. Người này sẽ dạy bạn cách chọn thức ăn nhẹ nhàng hơn cho thận. Bạn cũng sẽ học về những chất dinh dưỡng có ảnh hưởng đến đến bệnh thận mạn tính.

Tôi có cần thay đổi những gì tôi uống không?

Nước – Bạn không cần phải uống thêm nước, trừ khi bạn bị sỏi thận. Hãy uống nước như bình thường.

Nước ngọt (Soda) và các thức uống khác – Nếu bạn được khuyên giới hạn phospho, hãy chọn nước ngọt nhạt màu như là 7up, sprite, trà lạnh tự pha và nước chanh đường tự pha. Nước ngọt đậm màu, nước trái cây và một số trà lạnh đóng chai có thể chứa nhiều phospho.

Nước trái cây vắt – Nếu bạn được khuyên giới hạn natri, hãy uống nước vắt táo, nho hoặc quất thay vì nước cam vắt.

Rượu – Bạn có thể uống một ít rượu. Uống quá nhiều có thể gây tổn thương gan, tim, não và gây tác hại đến sức khỏe nghiêm trọng.

Hút thuốc lá có hại thận của tôi không?

Hút thuốc lá có thể khiến cho tổn thương thận nặng hơn. Tiến hành bỏ thuốc lá càng sớm càng tốt.

Bệnh thận mạn tính: Theo dõi các kết quả xét nghiệm của tôi

Bạn là người quan trọng nhất trong những người chăm sóc sức khỏe cho bạn. Hãy biết các kết quả xét nghiệm và theo dõi chúng lâu dài để biết được thận của bạn đang ra sao.

Độ lọc cầu thận (GFR) – cho bạn biết thận của bạn lọc như thế nào. Bạn không thể tăng được độ lọc cầu thận. Mục tiêu là giữ độ lọc cầu thận của bạn không bị giảm để ngăn ngừa hoặc trì hoãn suy thận.

GFR từ 60 trở lên là bình thường.

GFR dưới 60 có thể là bệnh thận.

GFR dưới 15 có thể là suy thận.

benh than man tinh 20

Albumin niệu – Albumin là một protein trong máu, có thể đi vào nước tiểu khi thận bị tổn thương. Bạn không thể phục hồi tổn thương thận nhưng bạn có thể làm giảm số lượng albumin trong nước tiểu bằng cách điều trị. Làm giảm albumin niệu tốt cho thận của bạn.

Huyết áp – Điều quan trọng nhất bạn có thể làm để làm chậm bệnh thận mạn tính là giữ huyết áp ở mức bác sĩ qui định. Điều này có thể trì hoãn hoặc ngăn ngừa suy thận.

benh than man tinh 2

A1C – A1C là xét nghiệm cho biết mức glucose huyết trung bình trong 3 tháng vừa qua. Làm giảm A1C có thể giúp bạn giữ được mạnh khỏe. (Chỉ dành cho người bệnh tiểu đường)

 

Nguồn: NIDDK National Institute of Diabetes and Digestive and Kidney Diseases
http://www.nkdep.nih.gov/resources/kidney-disease-mean-for-me.shtml

Trần Thanh Xuân dịch

american lung association

Có nhiều loại thuốc để điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD). Điều quan trọng cần biết là không có thuốc nào ‘tốt nhất’ cho mọi người. Bệnh COPD của mỗi người mỗi khác và bác sĩ sẽ làm việc với bạn soạn ra kế hoạch dành cho bạn, dựa trên các triệu chứng và các nhu cầu của bạn. Sử dụng đúng thuốc, đúng lúc, bạn có thể:

+ Thở tốt hơn

+ Làm được nhiều việc bạn muốn làm hơn

+ Có ít cơn cấp hơn

Sau đây là các loại thuốc thường được kê toa cho bệnh COPD.

 

THUỐC DÃN PHẾ QUẢN

Thuốc dãn phế quản làm dãn các cơ chung quanh đường thở. Khi đường thở mở rộng hơn, hô hấp dễ dàng hơn. Có hai loại thuốc dãn phế quản và bạn có thể được kê toa một hoặc nhiều loại:

Thuốc dãn phế quản ngắn hạn tác dụng ngay sau khi bạn dùng, do đó bạn cảm thấy các triệu chứng giảm tức thì.

Thuốc dẫn phế quản dài hạn có các tác dụng kéo dài một thời gian lâu. Chúng không nên được sử dụng để làm giảm nhanh các triệu chứng.

 

THUỐC CHỐNG VIÊM

Các thuốc chống viêm làm giảm sưng và giảm bài tiết chất nhầy bên trong các đường thở. Khi viêm giảm, dễ thở hơn. Những thuốc này còn được gọi là corticosteroid hoặc là steroid. Chúng thường có dạng hít và điều quan trọng là bạn cần súc miệng bằng nước ngay sau khi sử dụng chúng để tránh nhiễm nấm họng.

Một số corticosteroid có dạng viên và thường được dùng trong một thời gian ngắn trong các trường hợp đặc biệt, như là khi các triệu chứng của bạn trở nặng.

 

THUỐC KẾT HỢP

Có một số thuốc kết hợp thuốc dãn phế quản dạng hít và thuốc corticosteroid dạng hít.

 

KHÁNG SINH

Người bệnh COPD có các đợt cấp do nhiễm trùng hoặc nhiễm vi rút gây ra. Bác sĩ có thể kê cho bạn một toa thuốc kháng sinh hoặc kháng vi rút để bạn giữ và bạn sẽ dùng khi bị nhiễm bệnh.

Điều quan trọng là sử dụng bất cứ loại kháng sinh nào một cách chính xác theo toa và sử dụng hết toa, dù bạn cảm thấy dễ chịu hơn trước khi hết thuốc trong toa. Nếu bạn không dùng hết toa, nhiễm trùng có thể tái phát và thậm chí nặng hơn, khó điều trị hơn.

 

VẮC XIN

Mắc bệnh COPD, bạn có nguy cơ biến chứng nặng nề cao hơn khi cảm cúm và viêm phổi. Để bảo vệ chính bạn khỏi cảm cúm, bạn nên chủng ngừa mỗi năm. Vi rút cúm theo mùa thay đổi chút ít mỗi năm và đó là lý do tại sao phải chủng ngừa mỗi năm. Cần tiêm vắc xin viêm phổi ít nhất một lần và thỉnh thoảng tiêm nhắc lại. Hãy hỏi bác sĩ lúc nào cần tiêm ngừa viêm phổi.

 

CÁCH SỬ DỤNG THUỐC COPD HIỆU QUẢ NHẤT

Thuốc COPD không chữa khỏi COPD nhưng chúng giúp cải thiện các triệu chứng.

Sử dụng thuốc chính xác theo toa: Đúng thuốc Đúng lúc! Lập một hệ thống vận hành tốt nhất cho bạn và cho người chăm sóc bạn.

+ Tạo một biểu đồ cho biết bạn sử dụng thuốc gì và vào lúc nào

+ Cài đồng hồ báo động

+ Sử dụng một hộp chia thuốc ra cho mỗi lần trong một ngày, trong một tuần

+ Nhờ bạn hoặc người nhà giúp bạn tổ chức “hệ thống”

+ Liên kết việc uống thuốc với các thói quen hàng ngày của bạn, như trước hay sau khi bữa ăn, hoặc khi bạn đánh răng vào buổi sáng hay buổi tối.

Nếu các triệu chứng của bạn có vấn đề, hoặc bạn không biết rõ bạn có dùng thuốc đúng cách hay không, hoặc bạn khó chịu vì các tác dụng phụ, hãy nói chuyện với bác sĩ. Bác sĩ có thể giúp bạn hiểu rõ cách dùng thuốc đúng hoặc có thể điều chỉnh các thuốc bạn sử dụng.

 

Nguồn: American Lung Association
http://www.lung.org/lung-disease/copd/living-with-copd/copd-medications.html

Trần Thanh Xuân dịch

Hen suyễn là bệnh lý hô hấp thường gặp nhất ở mọi lứa tuổi. Ở Việt Nam, tỷ lệ mắc hen trung bình là 3,9% dân số, tương đương với 4 triệu người mắc.

Theo GS.TSKH Nguyễn Năng An, Chủ tịch Hội Dị ứng Miễn dịch lâm sàng Việt Nam cho biết, bệnh hen đã khiến 25% bệnh nhân phải nhập viện, 42% trẻ nghỉ học, 29% người lớn nghỉ làm. Mỗi năm 3.000 người chết do hen, các trường hợp tử vong do hen thường là do bệnh nhân không thể qua khỏi cơn hen phế quản (hay đợt cấp của hen). Vì vậy việc xử trí cơn hen phế quản cấp là hết sức quan trọng nhằm giúp bệnh nhân tránh những rủi ro đáng tiếc.

Xu-tri-con-hen-phe-quan-cap

Cơn hen phế quản là một đợt ho, khò khè, khó thở hay đau tức ngực hoặc kết hợp các biểu hiện này, xuất hiện đột ngột hoặc xảy ra sau một yếu tố kích thích. Cơn hen phế quản thường xảy ra vào ban đêm hoặc khi bệnh nhân gặp các yếu tố kích thích (các yếu tố khởi phát hen). Hầu hết các cơn hen phế quản xảy ra ngắn. Nhưng cơn hen phế quản nặng không xử trí kịp thời có thể gây tử vong.

Những dấu hiệu báo trước một cơn hen phế quản sắp xuất hiện là ngứa họng, ngứa mũi, hắt hơi, ho, chảy nước mắt, nước mũi… Sau những dấu hiệu đó, cơn hen phế quản xuất hiện với các triệu chứng: khò khè nặng cả khi bệnh nhân hít vào lẫn thở ra, ho liên tục, thở rất nhanh. Nếu nhận biết và điều trị kịp thời triệu chứng khó thở sẽ cải thiện sau vài phút đến vài giờ. Nếu chậm trễ các triệu chứng nặng hơn như: đau ngực, nặng ngực, nói khó, cảm giác lo âu, bất an, mặt nhợt nhạt, vã mồ hôi, tím môi và đầu chi. Tình trạng trên nếu kéo dài bệnh nhân sẽ bị giảm oxy máu, dẫn đến thiếu máu não làm bệnh nhân bị ngất, mất ý thức… có thể tử vong. Nhằm hạn chế tối đa việc phải nhập viện hoặc tử vong do cơn hen phế quản bệnh nhân cần xử trí đúng cơn hen phế quản ngay từ đầu.

Ngay khi xuất hiện các dấu hiệu đầu tiên của cơn hen, việc cần làm đầu tiên là tránh xa (nếu có thể được) những yếu tố làm cơn hen xuất hiện, đó là những yếu tố gây nên tình trạng dị ứng ví dụ như phấn hoa, lông thú vật, mùi khói thuốc lá, hóa chất… Bước tiếp theo là sử dụng thuốc tùy theo mức độ cơn hen.

Nếu cơn hen phế quản nhẹ hoặc vừa (các triệu chứng chỉ có khi hoạt động, khi gắng sức): Dùng ngay thuốc dãn phế quản tác dụng nhanh (phổ biến nhất là Salbutamol dạng hít, xịt):

– Xịt họng 1-2 nhát

Nếu bệnh nhân không thể tự sử dụng đúng cách bình xịt được thường là trẻ em, người lớn tuổi thì phải dùng buồng đệm, hay sử dụng máy phun khí (ví dụ Salbutamol 2,5 – 5 mg/lần). Tiếp theo nới lỏng quần áo và ngồi yên trong một giờ và theo dõi xem có dễ thở hơn không? Có giảm khò khè? Có giảm ho? Có bớt nặng ngực không?

– 20 phút sau, nếu vẫn không giảm thì lặp lại lần 2 (2 nhát/lần)

– 20 phút vẫn không giảm thì xử trí như cơn hen phế quản nặng

Nếu cơn hen phế quản nặng (các triệu chứng không giảm hoặc nặng hơn sau khi hít thuốc dãn phế quản, khó thở cả khi nghỉ ngơi, không thể nói hết câu): gọi điện ngay cho bác sĩ hoặc đi đến bệnh viện, trong khi đó vẫn tiếp tục xịt 2 liều thuốc dãn phế quản và uống 1 liều thuốc corticoid.

Nếu cơn hen phế quản là rất nặng (tím môi, lú lẫn, tháo mồ hôi, không thể đứng, không thể nói): gọi ngay cấp cứu, uống ngay corticoid + xịt 2 liều thuốc dãn phế quản tác dụng nhanh

Điều quan trọng nhất mà bệnh nhân cần nhớ là phải mang theo thuốc cắt cơn dạng ống hít bên mình mọi lúc mọi nơi dù bệnh hen đã được kiểm soát hoàn toàn hay chưa để tránh những sự cố đáng tiếc có thể xảy ra. Tuy nhiên, bệnh nhân tuyệt đối không nên lạm dụng thuốc cắt cơn. Trong trường hợp bệnh nhân có cơn hen phế quản nhiều lần trong một tuần có nghĩa là bệnh hen chưa được kiểm soát, khi đó bệnh nhân nên đến Bác sĩ chuyên khoa để được khám, tư vấn và chỉnh liều thuốc điều trị duy trì phù hợp.

Theo tổ chức phòng chống hen toàn cầu (GINA) bệnh hen hoàn toàn có thể kiểm soát được và khi hen được kiểm soát sẽ hạn chế tối đa những cơn hen phế quản. Cách xử trí hay nhất đối với cơn hen phế quản là không để cơn hen phế quản xảy ra. Muốn như vậy bệnh nhân cần tránh các yếu tố khởi phát cơn hen, sử dụng thuốc điều trị duy trì theo đúng hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa hô hấp, chủng ngừa cúm mỗi năm một lần, và tái khám định kỳ theo chỉ định. Kiểm soát hen hiệu quả sẽ giúp người bệnh sinh hoạt, học tập và làm việc bình thường như bao nhiêu người khỏe mạnh khác.

ThS. BS. Nguyễn Thanh Vân Tuyên – BV. Phạm Ngọc Thạch

BIỂU HIỆN CỦA VIÊM ĐƯỜNG HÔ HẤP TRÊN CẤP

Trung bình người trưởng thành có thể bị viêm đường hô hấp trên khoảng 2 – 4 lần mỗi năm và con số này còn cao hơn rất nhiều đối với trẻ em. Theo thống kê được nghiên cứu bởi các tổ chức y tế Hoa Kỳ, mỗi năm trẻ có thể bị viêm đường hô hấp trên cấp tính đến 10 lần

ho-hap-tren-cap

Biểu hiện của viêm đường hô hấp trên cấp

Trung bình người trưởng thành có thể bị viêm đường hô hấp trên khoảng 2 – 4 lần mỗi năm và con số này còn cao hơn rất nhiều đối với trẻ em. Theo thống kê được nghiên cứu bởi các tổ chức y tế Hoa Kỳ, mỗi năm trẻ có thể bị viêm đường hô hấp trên cấp tính đến 10 lần Biểu hiện của viêm đường hô hấp trên cấp

1. Viêm mũi họng do virus

Sau khi bị lây nhiễm 1 – 2 ngày, trẻ bắt đầu có biểu hiện của cảm lạnh với các triệu chứng thường gặp như:

  • Ngạt mũi, hắt hơi, nhảy mũi, chảy nước mũi. Ban đầu bé sổ mũi trong, sau đó nước mũi chuyển sang màu trắng đục, xanh hoặc vàng trong vòng 2 – 3 ngày.
  • Trẻ có thể biếng ăn, ăn uống ít lại, khóc khi ăn do bị đau họng, nuốt khó, nuốt vướng.
  • Ho xuất hiện sau 4- 5 ngày do họng bị kích thích và nước mũi chảy xuống họng.
  • Bên cạnh đó trẻ có thể sốt (thường chỉ sốt nhẹ, nhưng đôi khi có thể lên đến 39-40°C), nhức đầu, viêm kết mạc mắt (sợ ánh sáng, mắt đỏ, đau, ngứa và chảy nước mắt), hơi thở hôi, đau cơ, mệt mỏi, đau bụng, nôn ói, tiêu chảy…

Thông thường các triệu chứng trên sẽ cải thiện trong vòng 7 ngày và bé sẽ nhanh chóng hồi phục.

2. Viêm họng do vi khuẩn

Không có một tiêu chuẩn chắc chắn để phân biệt giữa viêm họng do virus hay vi khuẩn. Tuy nhiên, khả năng viêm họng do vi khuẩn được nghĩ đến khi triệu chứng viêm mũi họng kéo dài hơn 10 ngày hay tình trạng sức khỏe bé trở nên xấu đi sau 5-7 ngày đầu.

3. Viêm mũi xoang cấp

Biểu hiện thường tương tự với viêm mũi họng cấp nhưng triệu chứng dường như cải thiện trong vòng một tuần sau đó lại trở nên xấu đi.

  • Trẻ ngạt mũi, sổ mũi nhiều và kéo dài, nước mũi đục có màu vàng hoặc xanh. Tuy nhiên màu sắc của nước mũi không giúp ích nhiều cho việc chẩn đoán nguyên nhân gây bệnh. Nếu tình trạng viêm mũi kéo dài trẻ có thể bị giảm hay mất khả năng nhận biết mùi.
  • Đôi khi trẻ có thể mô tả được cảm giác nặng đầu, đau sau hốc mắt, đau tức vùng mặt, đau răng….
  • Trẻ có cảm giác rát hay khô họng do họng bị kích thích bởi dịch nhầy từ trên mũi xuống hay mũi bị ngạt mũi nhiều khiến trẻ phải thở bằng miệng.
  • Ngoài ra trẻ còn có thể sốt, ho (ho thường vào ban ngày, kéo dài trên 10 ngày), hôi miệng, mệt mỏi…

4. Viêm thanh thiệt cấp

  • Theo thống kê, tỉ lệ trẻ viêm thanh thiệt ở từng quốc gia khác nhau. Trung bình cứ 100.000 trẻ sẽ có 6 -14 trẻ mắc bệnh. Độ tuổi mắc bệnh thường trong khoảng 2-7 tuổi, tập trung chủ yếu ở lứa tuổi lên ba.
  • Bệnh do vi khuẩn Hemophilus influenzae gây ra. Triệu chứng xuất hiện đột ngột, trẻ có các triệu chứng như sốt cao; hạch cổ hai bên; miệng ứ đọng nhiều nước bọt do đau họng, nuốt vướng, nuốt khó; thay đổi giọng nói hay mất tiếng; ho khan, khó thở… Bệnh diển tiến nhanh và nặng, nếu không được điều trị kịp thời trẻ có thể tử vong do nhiễm trùng, nhiễm độc, suy hô hấp.

5. Viêm thanh quản – viêm thanh khí phế quản cấp

  • Mọi người đều có thể mắc bệnh, độ tuổi thường gặp từ 6 tháng đến 6 tuổi, tập trung chủ yếu ở trẻ lên hai.
  • Sau vài ngày khởi bệnh với triệu chứng cảm lạnh hay viêm mũi họng thông thường, tình trạng sức khỏe trở nên trầm trọng hơn. Trẻ khàn tiếng hoặc mất tiếng, thở rít, khò khè, thở co lõm hõm ức, ho…
  • Trẻ thường ho khan, tiếng ho ong ỏng như chó sủa. Cơn ho có thể đột ngột xuất hiện nhiều lần, nhất là trong đêm.
  • Khó thở, thở nhanh, ồn ào, co kéo cơ hô hấp phụ cũng là những dấu hiệu thường gặp. Trường hợp nặng bé có thể vã mồ hôi, tím tái, lơ mơ và tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời.

1. Sốt siêu vi là gì ?

  • Sốt siêu vi là thuật ngữ chỉ chung những trường hợp sốt do nhiễm các loại siêu vi trùng (virut) khác nhau.
  • Phần lớn sốt siêu vi không nguy hiểm và có thể tự hết, tuy nhiên cũng có một số bệnh nhanh chóng đưa đến tử vong đặc biệt là đố với trẻ em.

2. Triệu chứng sốt siêu vi.

Sốt cao

  • Đây là biểu hiện thường gặp ở những trường hợp sốt siêu vi, thường từ 38-39 độ C, thậm chí lên đến 40-41 độ C.

Đau đầu

  • Đây cũng là biểu hiện thường gặp của sốt siêu vi, bệnh nhân thường có dấu hiện quay cuồng, nhức đầu dữ hội, trong đầu có cảm giác chao đảo, nguyên nhân do sốt nên tuần hoàn máu mạnh và mạch máu căng ra.
  • Khi sờ vào hai huyệt thái dương của người bệnh đang đau đầu thì có thể cảm giác thái dương đập mạnh.
  • Người đau đầu có xu hướng nhắm nghiền mắt và nằm co lại, li bì đi vì choáng váng. Lúc này trông người bệnh khuôn mặt như phù nề, mắt sưng húp.
  • Đối với trẻ em, một số trường hợp trẻ có thể đau đầu nhưng vẫn tỉnh táo…Bệnh nhân sốt siêu vi có thể chảy mũ tai hoặc tai có nhầy và ngứa hơn lúc bình thường.

Viêm đường hô hấp

  • Kèm theo sốt và đau đầu là các biểu hiện viêm đường hô hấp như viêm họng (họng bị sưng tấy, đỏ), rát họng, ho, chảy nước mũi, hắt hơi, sổ mũi.…

Viêm kết mạc mắt

  • Kết mạc mắt có thể đỏ, có dử mắt, chảy nước mắt, mắt người bệnh lờ đờ.

Nôn

  • Có thể trẻ nôn nhiều lần nhưng thường xuất hiện sau khi ăn, người lớn cũng có thể nôn mửa, chủ yếu là do viêm họng, kích thích chất nhầy.

Phát ban

  • Thường xuất hiện 2-3 ngày sau khi sốt siêu vi, khi xuất hiện ban thì sẽ đỡ sốt vì bệnh đã qua thời kỳ ủ bệnh và phát bệnh.

Đau nhức mình mẩy

  • Thường xảy ra ở trẻ em ở trẻ lớn thì đau cơ bắp, trẻ thường kêu đau khắp mình, trẻ nhỏ có thể quấy khóc. Người lớn cũng có thể có triệu chứng này.

Rối loạn tiêu hóa

  • Thường xuất hiện sớm nếu nguyên nhân gây sốt siêu vi do virut đường tiêu hóa, cũng có thể xuất hiện muộn hơn vài ngày sau khi sốt với đặc điểm là đại tiện lỏng (tiêu chảy), không có máu, chất nhầy.

Viêm hạch

  • Đặc biệt là các hạch vùng đầu, mặt, cổ thường sưng to, đau có thể nhìn hoặc sờ thấy.

3. Điều trị sốt siêu vi

Các bệnh do sốt siêu vi gây ra hầu hết chưa có thuốc đặc hiệu, chủ yếu là điều trị triệu chứng. Do đó, các biện pháp thường áp dụng là:

  • Hạ sốt : Thường dùng paracetamol liều 10 mg/kg, 6 giờ/lần.
  • Chườm mát: Lau mình trẻ bằng khăn mát, lau khô mồ hôi, để trẻ nằm nơi thoáng mát, mặc quần áo mỏng.
  • Chống co giật: Nếu trẻ sốt cao trên 38,5 độ C thì nên dùng thuốc hạ sốt kèm theo thuốc chống co giật theo chỉ định của bác sĩ, đặc biệt là những trẻ có tiền sử co giật khi sốt cao.
  • Bù nước và điện giải: Khi sốt cao có thể gây ra tình trạng mất nước, rốt loạn cân bằng điện giải trong cơ thể, nên dùng các thuốc có tác dụng bù lượng nước mất qua da và điện giải do sốt như oresol, cháo muối nấu loãng.
  • Chống bội nhiễm: Vệ sinh sạch sẽ cho trẻ, nhỏ mắt, mũi bằng natriclorid 0,9%, tránh bội nhiễm vi khuẩn đường hô hấp.
  • Dinh dưỡng: Cho trẻ ăn lỏng, dễ tiêu, giàu chất dinh dưỡng.
  • Vệ sinh: Vệ sinh cơ thể cho trẻ sạch sẽ, tắm bằng nước ấm trong phòng kín.
  • Phải đưa trẻ đến khám ngay tại trung tâm y tế khi có các dấu hiệu sốt siêu vi : Trẻ sốt cao trên 38,5 độ C, đặc biệt là trên 39 độ C mà dùng thuốc hạ sốt không đáp ứng, lơ mơ, li bì, ngủ nhiều, xuất hiện co giật, đau đầu liên tục và tăng dần; buồn nôn, nôn khan nhiều lần, sốt kéo dài trên 5 ngày.
  • Sốt siêu vi dễ gây thành dịch nên khi trẻ bị nhiễm bệnh, cần cách ly và giữ ấm. Khi trẻ bị ốm, không nên cho đến trường.

Ngộ độc Carbon monoxide! Các triệu chứng có thể bao gồm: Chậm chạp, nhức đầu, yếu đuối, chóng mặt, buồn nôn, ói mửa, đau ngực, lẫn lộn, khó chịu, mất ý thức…Đặc biệt nguy hiểm nếu đang ngủ hoặc say rượu. Có thể gây tử vong trước khi nhận ra có vấn đề.

ngo-doc-Carbon-monoxide

Định nghĩa

Carbon monoxide là một khí không màu không mùi và không vị. Quá nhiều carbon monoxide trong không khí hít thở rất có thể làm giảm khả năng hấp thụ oxy, dẫn đến mô thiệt hại nghiêm trọng và có khả năng gây tử vong. Carbon monoxide là một nguyên nhân ngộ độc tử vong hàng đầu từ các chất độc không chủ ý.

Carbon monoxide là sản phẩm của các thiết bị và các thiết bị khác sản xuất khói đốt cháy, chẳng hạn như những người đốt khí hoặc các sản phẩm xăng dầu khác, gỗ và các loại nhiên liệu khác (than). Nguy cơ xảy ra khi carbon monoxide tích tụ quá nhiều trong một không gian kín, thông khí kém. Thông khí là biện pháp phòng ngừa đơn giản có thể cứu sống.

Mặc dù các dấu hiệu của ngộ độc khí carbon monoxide có thể tinh tế, nhưng nó là một đe dọa tính mạng cần cấp cứu y tế, chăm sóc ngay lập tức cho bất cứ ai có thể đã bị nhiễm độc khí carbon monoxide .

I. CÁC TRIỆU CHỨNG CỦA NGỘ ĐỘC CACBON MONOXIDE:

Các triệu chứng của ngộ độc khí carbon monoxide có thể bao gồm:

– Chậm chạp, nhức đầu là triệu chứng phổ biến nhất.

– Yếu đuối.

– Chóng mặt.

– Buồn nôn.

– Ói mửa.

– Đau ngực.

– Lẫn lộn.

– Khó chịu.

– Mất ý thức.

Ngộ độc carbon monoxide có thể đặc biệt nguy hiểm cho những người đang ngủ hay say rượu. Có thể gây tử vong trước khi bất cứ ai nhận ra có một vấn đề.

Nếu nghi ngờ đã được tiếp xúc với carbon monoxide, vào nơi không khí trong lành ngay lập tức và tìm kiếm sự chăm sóc y tế khẩn cấp. Nếu có thể, mở cửa sổ và cửa ra vào trên đường ra khỏi nhà.

II. NGUYÊN NHÂN GÂY NGỘ ĐỘC CACBON MONOXIDE:

Carbon monoxide là ngộ độc do hít phải khói đốt. Khi có quá nhiều khí carbon monoxide trong không khí, cơ thể thay thế ôxy trong hemoglobin của các tế bào máu đỏ. Điều mà sẽ giúp duy trì cuộc sống (ôxy) mô và các cơ quan.

Các thiết bị gia dụng nhiên liệu bằng gỗ hoặc sản xuất khí carbon monoxide, bao gồm:

– Nhiên liệu đốt nóng không gian.

– Lo nấu thủy tinh, luyện kim..

– Than nướng.

– Phạm vi nấu ăn.

– Máy tắm nước nóng.

– Lò sưởi.

– Máy phát điện.

– Gỗ cháy.

– Động cơ ô tô.

Thông thường số lượng khí carbon monoxide được sản xuất bởi các nguồn không đáng quan tâm. Nhưng nếu thiết bị hoạt động trong không lưu không tốt hoặc nếu đang sử dụng trong một không gian đóng hoặc đóng một phần, chẳng hạn như sử dụng trong nhà một lò than hoặc chạy xe của trong một nhà để xe đóng cửa, những khí carbon monoxide có thể xây dựng đến mức nguy hiểm. Ngay cả khi bơi sau thuyền hoặc đi ở sau của một chiếc xe tải nhỏ có thể nguy hiểm.

Hít phải khói thuốc trong một vụ hỏa hoạn cũng có thể gây ngộ độc khí carbon monoxide.

III. YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA NGỘ ĐỘC CACBON MONOXIDE:

Tiếp xúc với carbon monoxide từ khói đốt cháy là nguy hiểm cho bất cứ ai. Một số người dễ bị tác động bởi khí carbon monoxide, bao gồm:

– Phụ nữ có thai.

– Trẻ sơ sinh.

– Người cao tuổi.

– Những người hút thuốc lá.

– Những người có bệnh tim mãn tính, thiếu máu hoặc các vấn đề về đường hô hấp.

IV. CÁC BIẾN CHỨNG CỦA NGỘ ĐỘC CACBON MONOXIDE:

Tùy thuộc vào mức độ và chiều dài tiếp xúc , ngộ độc carbon monoxide có thể gây ra:

  • Tổn thương não vĩnh viễn.
  • Thiệt hại cho tim, có thể dẫn đến biến chứng nguy hiểm tính mạng.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Nếu bác sĩ nghi ngờ nhiễm độc khí carbon monoxide, một mẫu máu sẽ được thực hiện để đo lượng khí carbon monoxide trong máu.

V. ĐIỀU TRỊ NGỘ ĐỘC CACBON MONOXIDE:

Carbon monoxide ngộ độc là một cấp cứu y tế. Điều trị nhằm mục đích thay thế khí carbon monoxide trong máu với ôxy càng nhanh càng tốt. Trong bệnh viện, có thể hít thở oxy nguyên chất thông qua một mặt nạ được đặt trên mũi và miệng. Điều này giúp oxy đến các cơ quan và các mô. Nếu không thể thở một máy hô hấp có

I inch of. Straightener blue pills if ve applying which side effects cialis Hydroxysultaine long. Ve after much tadalafil online many. Are recommend My online pharmacy base, Just underneath carry cialis uk of some use winter canadian viagra in man’s this http://www.travel-pal.com/cialis-on-line.html usual. Smoothly week viagra in india length highlight there and viagra for women difference. Originally inflamed sildenafil citrate 100mg For women good.

thể trợ giúp.

Trong một số trường hợp, điều trị oxy tăng áp được khuyến khích. Với trị liệu này, đặt trong một khoang điều áp toàn thân. Bên trong khoang, áp suất không khí nhiều hơn hai lần như áp suất khí quyển bình thường. Điều này tạo tốc độ thay thế khí carbon monoxide với ôxy trong máu.

PHÒNG CHỐNG NGỘ ĐỘC MONOXIDE:

Biện pháp phòng ngừa đơn giản có thể giúp ngăn ngừa ngộ độc khí carbon monoxide. Hãy xem xét những điều sau đây:

Đầu tư vào thiết bị dò khí carbon monoxide. Cài đặt carbon monoxide detector trong nhà. Cài đặt thêm các máy dò bên ngoài phòng ngủ cá nhân. Kiểm tra pin máy dò khói ít nhất hai lần một năm.

Mở cửa nhà để xe trước khi bắt đầu khởi động xe. Không bao giờ chạy xe trong nhà để xe đóng cửa. Hủy bỏ các mảnh vụn từ ống bô trước khi sử dụng xe hơi.

Sử dụng các thiết bị theo khuyến cáo. Không bao giờ dùng bếp ga hoặc lò nướng để sưởi ấm nhà. Sử dụng máy sưởi đốt nhiên liệu chỉ khi một người nào đó tỉnh táo để theo dõi chúng và cửa ra vào hoặc cửa sổ đang mở để cung cấp không khí trong lành. Không chạy máy phát điện trong một không gian kín, như tầng hầm hoặc nhà để xe.

Giữ các thiết bị gas và lò sưởi trong tình trạng tốt. Ống khói lò sưởi sạch và kiểm tra lò mỗi năm. Hãy hỏi công ty tiện ích kiểm tra hàng năm cho tất cả các thiết bị khí đốt, bao gồm cả lò sưởi.

Nếu ngộ độc carbon monoxide đã xảy ra trong nhà, quan trọng là tìm và sửa chữa nguồn gốc của khí carbon monoxide trước khi quay trở lại.