Author Archives: dungntk

Hen phế quản là một bệnh mạn tính của đường hô hấp, biểu hiện bằng sự co thắt phế quản, thâm nhiễm tế bào viêm và tăng tiết chất nhầy niêm mạc phế quản, khiến trẻ khó thở.

hen-phe-quan-tre-em

Một số yếu tố làm khởi phát cơn hen bao gồm: thay đổi thời tiết từ ấm sang lạnh, hoặc nhiễm khuẩn đường hô hấp (viêm mũi họng, VA, viêm phế quản, tiểu phế quản); thức ăn (tôm, cua, ốc…); lông của một số động vật nuôi trong nhà (chó, mèo…); côn trùng. Ngoài ra, một số loại dược phẩm, hoạt động gắng sức, khói thuốc lá, khói bếp… cũng làm khởi phát cơn hen.

Gần đây, khi thời tiết chuyển lạnh, mỗi ngày, khoa Nhi (BVĐK tỉnh) tiếp nhận điều trị nhiều bệnh nhi bị viêm đường hô hấp, trong số đó bệnh hen phế quản chiếm 5-7%. Đối với cơn hen phế quản nhẹ, trẻ khò khè, không hoặc khó thở nhẹ. Với cơn hen phế quản trung bình, trẻ khò khè, thở nhanh, rút lõm lồng ngực. Còn cơn hen phế quản nặng, trẻ khò khè, co kéo cơ ức đòn chủm, không ăn uống được, nói từng từ. Nặng nhất là cơn hen phế quản dọa ngưng thở, lúc này trẻ khó thở dữ dội, tím tái, vật vã, hôn mê.

Khi trẻ có dấu hiệu mắc bệnh hen phế quản, cha mẹ cần đưa đi khám bệnh ở bác sĩ chuyên khoa, có kinh nghiệm về hen phế quản ở trẻ em, để được điều trị và tư vấn. Nếu cơn hen nhẹ và trung bình, phải cho trẻ dùng các thuốc giãn phế quản tác dụng nhanh như: ventolin, bricanyl… Các loại thuốc này có thể dùng ở dạng khí dung hoặc bình xịt định liều 3 lần mỗi 30 phút cho đến khi cắt cơn. Liều lượng thuốc dùng sẽ được bác sĩ chỉ định tùy theo lứa tuổi và cân nặng của trẻ. Ventolin: liều tối thiểu 1,25mg/lần, liều tối đa 5mg/lần. Trẻ nhỏ dưới 5 tuổi, thuốc hít phải dùng qua mặt nạ, hay buồng đệm để có hiệu quả tốt hơn, giảm thiểu tối đa các tác dụng phụ (lắng đọng thuốc ở họng, miệng). Cơn hen phế quản trung bình có thể phối hợp thêm corticoide đường uống (prednisone 1-2mg/kg/ngày).

Nếu cơn hen phế quản nặng và dọa ngưng thở cần đưa ngay trẻ vào bệnh viện để được điều trị  cấp cứu tích cực, tránh nguy hiểm tính mạng. Trong những trường hợp hen bội nhiễm phải cho trẻ uống kết hợp thêm kháng sinh.

Phòng cơn hen phế quản đối với trẻ có tiền sử hen phế quản dùng thuốc kiểm soát cơn hen bao gồm 2 loại thuốc chính: thuốc chống viêm và thuốc giãn phế quản tác dụng kéo dài. Hiện nay, thường được sử dụng là các loại corticoid hít dưới dạng đơn chất flixotide hoặc phối hợp seretide… Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc kiểm soát cơn hen cho trẻ cần có chỉ định, tư vấn và theo dõi của bác sĩ chuyên khoa.

Cần mặc ấm cho trẻ về mùa lạnh, nhất là khi đi ra khỏi nhà. Tắm cho trẻ ở buồng không có gió lùa, nước ấm, tắm nhanh, tắm xong phải lau khô người cho trẻ và mặc ngay quần áo. Không cho trẻ ăn, uống các loại thức ăn có nguy cơ cao xuất hiện cơn hen như: tôm, cua, ốc… Người lớn không nên hút thuốc; không nuôi chó, mèo trong nhà; phơi nắng chăn, gối, đệm và đảm bảo nhà cửa thông thoáng.

  • BS CKII. PHẠM VĂN DŨNG (BVĐK tỉnh)

t số cách điều trị hen phế quản ở trẻ em

Một số cách điều trị hen phế quản ở trẻ em

Một số cách điều trị hen phế quản ở trẻ em
Bệnh hen suyễn (hay còn gọi là bệnh hen phế quản) là một bệnh mạn tính đường hô hấp thường gặp.
Chẩn đoán bệnh hen phế quản khi có các dấu hiệu: thở khò khè, khó thở, nặng ngực, ho tái đi tái lại (đặc biệt ho nhiều hơn vào ban đêm). Ở trẻ em, có thể nghe thấy tiếng rít khi trẻ thở ra. Các yếu tố nguy cơ của bệnh hen, là các yếu tố làm cho cơn hen dễ xảy ra hơn, bao gồm: các dị nguyên mà người bệnh tiếp xúc (mạt bụi nhà, lông các con vật nuôi, phấn hoa, khói thuốc lá, các loại hóa chất…), nhiễm trùng, nhiễm siêu vi đường hô hấp, không khí ô nhiễm, thay đổi nhiệt độ, chế độ ăn, các loại thuốc, các cảm xúc quá mạnh, gắng sức…

Để điều trị bệnh hen phế quản:
1.Nguyên tắc:
Điều trị hen nhằm đạt 6 mục tiêu kiểm soát hen:
– Không có triệu chứng hen (hoặc có ít nhất)
– Không thức giấc do hen
– Không phải dùng thuốc cắt cơn( hoặc dùng ít nhất)
– Không hạn chế hoạt động thể lực và sinh hoạt của trẻ nhỏ
– Chức năng phổi ( PEF ; FEV1) trở lại bình thường
– Không có cơn kịch phát.
Điều trị hen bao gồm điề trị cắt cơn và điều trị dự phòng ngoài cơn hen
Thuốc điều trị hen có thể dùng tại chỗ ( hít , khí dung) uống hoặc tiêm. Tuy nhiên thuốc dùng tại chỗ có nhiều ưu điểm , trong đó thuốc corticosteroid dạng hít là thuốc dự phòng hen suyễn có hiệu quả nhất hiện nay
Không được xem thường   mức độ nặng nhẹ của cơn kịch phát, vì dễ có nguy cơ tử vong cao . phát hiên sớm cơn hen cấp ở trẻ, xử lý đúng cách và khẩn trương cơn hen cấp.
Trẻ em nguy cơ tử vong liên quan đến hen cao hơn người lớn vì vậy cần theo dõi sát để chuyển đi cấp cứu kịp thời.
2. Các phương pháp điều trị hen:
– Dạng hít:
MDI(  metered-dose inhaler) ống hít định liều
DPI(dry power inhaler) ống hít thuốc dạng bột khô
ICS ( inhaler glucocosteroides corticosteroid) dạng hít
– Dung dịch khí dung : Dùngmáy xông khí dung
Thuốc căt cơn nhanh( thuốc làm giảm cơn hen).
Sabutamol (ventolin) hoặc Terbutaline( Bricanyl) thường được sử dụng để cắt cơn hen .
Các thuốc này làm giảm ngay cấc triệu chứng hen suyễn bằng cách giãn đường dẫn khí làm cho cơ thể dễ dàng hơn .
Thuốc kiểm soát dài hạn (ngăn ngừa bênh)
Việc ngăn ngừa bệnh thường sử dụng một loại thuốc Corticosteroid. Các laoị thuốc này giúp kiểm soát tình trạng viêm mạn tính đường hô hấp , làm giảm nguy cơ dẫn đến các cơn hen nặng. Phải dùng thuốc trong một thời gian dài , ngay cả khi trẻ cảm thấy khỏe mạnh
Thuốc tiêm: dạng dung dịch
Không được dùng trong đợt kịch phát của hen các thuốc sau đây:
– Thuốc an thần (không được dùng)
– Thuốc long đờm (có thể làm trẻ ho nặng hơn )
– Vật lý trị liệu vùng ngực ( có thể làm trẻ khó chịu hơn )
– Truyền quá nhiều dịch – kháng sinh (không chỉ định trong điều trị hen, chỉ sử dụng khi có bội nhiễm hoặc có bệnh nhiễm khuẩn kèm theo
– Epinephrin(adrenalin) có thể được chỉ định trong sốc phản vệ phù mạch , nhưng không dùng trong đợt hen kịch phát nếu đã có thuốc cường 2 tác dụng nhanh.
Một số điểm lưu ý:
Đối với trẻ dưới 5 tuổi : vì trẻ dưới 5 tuổi có những đặc điểm riêng về sinh lý bệnh cũng như diễn biến tự nhiên của bệnh khác với trẻ lớn, cần có sự phân tích toàn diện theo quyết định của thầy thuốc cho từng trẻ, không cứng nhắc theo một công  thức chung cho tất cả những trẻ này
Glucocorticosteroid dạng hít được khuyến cáo sử dụng điều trị dự phòng ban đầu bắt đầu ngay ở bước 2 với liều thấp, một số trường hợp có thể cho đơn liều (một liều  duy nhất ) trong ngày
Do vậy việc phân loại điều trị dự phòng cũng tùy trường hợp mà có chỉ định hợp lý. Phân loại theo kinh nghiệm của các nước châu âu và bắc mỹ cỏ thể áp dụng như sau:
– Hen ngắt quãng không thường xuyên ( infquent intermittent asthma) : Các cơn hen cấp xẩy ra cách nhau trên 6-8 tuần. cơn cấp thường xuất hiện sau nhiễm khuẩn hô hấp trên hoặc do tiếp xúc dị nguyên , môi trường.  Giữa các cơn cấp , trẻ hoàn toàn bình thường , không  cần điều trị dự phòng.
– Hen ngắt quãng thường xuyên ( frequent intermittent asthma ) các cơn hen cấp xảy ra cách nhau dưới 6 tuần . Có rất ít triệu chứng giữa các đợt cấp như khò khè, ho khi gắng sức. Điều trị dự phòng với ICS liều thấp không quá 200g/ngày hoặc kháng leukotrien
– Hen dai dẳng ( persistent asthma ) Trẻ có triệu chứng trong hầu hết các ngày làm ảnh hưởng giấc ngủ và các hoạt động thể lực. Cơn cấp có thể xảy ra như trong hen ngắt quãng : Điều trị dự phòng bằng ICS liều trung bình hoặc liều thấp kết hợp kháng leukotrien

Những trẻ 3 tuổi thường không có các hành vi thể hiện sự giận dữ nữa. Trẻ hay sợ bóng tối, muốn tách khỏi mẹ nhưng không xa mẹ. Chúng thường gọi cha mẹ lại nhiều lần để thể hiện tình yêu thương của mình. Sau đây là một số vấn đề trong giấc ngủ đêm và ngủ ngày cùng với lời khuyên của thầy thuốc:

  • Giấc ngủ đêm

Ở lứa tuổi này, trẻ đã biết đi, biết nói, bước đầu tách khỏi mẹ, khẳng định bản thân. Trong khi mẹ ép con vào kỷ luật thì con lại muốn độc lập. Nếu không khéo dung hoà mâu thuẫn này thì trẻ rất dễ mất ngủ đêm.

roi-loan-giac-ngu-o-tre-3-6

Sự chú ý, quan tâm quá mức của cha mẹ khi con sắp ngủ cũng gây phản tác dụng. Cha mẹ càng “phớt lờ” đi thì con càng dễ ngủ. Nếu cha mẹ quá săn sóc con, sợ con ngã, sợ con chưa hiểu thì trẻ càng khó ngủ. Giường ngủ quá to cũng là một vấn dề. Nếu đặt con xuống giường rộng quá, trẻ sẽ thấy chống chếnh, vắng vẻ, hoảng sợ khi sắp đi ngủ và lúc thức dậy, sẽ lo lắng, sợ hãi vô cớ, kêu khóc và không dám ngủ.

Trẻ ở tuổi này thường thích các đồ chơi động. Chúng nhân cách hoá đồ chơi, dạy đồ chơi những lời bố mẹ đã dạy mình, thích bắt chước và bắt chước rất nhanh. Chẳng hạn, trẻ có thể lật cái xe làm con ngựa, đặt con búp bê làm học trò, còn mình làm bố mẹ hoặc cô giáo với những lời căn dặn như người lớn. Đó là trẻ bắt chước những lời của bố mẹ. Nếu trong những lời của bố mẹ có nhiều điều làm cháu sợ hãi thì giấc ngủ của cháu thường bị ảnh hưởng.

Trong một nghiên cứu về trẻ em 3 tuổi ở Anh, các nhà tâm lý học nhận thấy ở lứa tuổi này trẻ thường:

– Khó ngủ, hay đòi cha mẹ phải có mặt lâu với mình trên giường trước khi ngủ.

– Hay thức đêm, ít nhất 3 lần/ tuần, mỗi lần hơn một giờ. Trẻ cũng có thể thức rồi lại ngủ tiếp ở giường bố mẹ.

Tóm lại, đây là lứa tuổi mở đầu giai đoạn tích cực tìm hiểu về thế giới xung quanh. Trẻ biết nói và suy nghĩ, nghĩa là có thế giới bên trong, có ham muốn tự lập. Vì vậy, trẻ sẽ tách rời mẹ và thường xảy ra mất ngủ đêm.

Để khắc phục, phải có lịch biểu ngủ hằng tuần. Cha mẹ nên vạch mục tiêu rõ ràng, định kỳ cho con, chẳng hạn tuần này con phải ngủ ở giường con, không làm phiền cha mẹ ban đêm.

Sau đó, phải tìm và xác định nguyên nhân gây rối loạn giấc ngủ loại trừ hoặc thay thế tạm thời theo phương pháp “làm giảm dần”. Ví dụ: Đầu tiên, vào mỗi tối, cha đọc chuyện cho con nghe 15 phút trước giờ con ngủ. Hãy đọc đều cho đến khi con lơ mơ thì đặt nó vào giường. Những ngày sau, hãy rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục trên cho đến khi trẻ có thể ngủ ngon.

Theo một nghiên cứu khác ở Anh, những trẻ phải thức ít nhất một giờ mới ngủ được thường thức dậy ít nhất 3 lần/đêm, mỗi lần 20 phút, hoặc ban đêm hay đi lang thang vào phòng bố mẹ. Để khắc phục, cần phải vừa điều trị con vừa uốn nắn bố mẹ theo nguyên tắc sau:

– Giảm dần sự chú ý của bố mẹ đối với con.

– Tăng dần hành vi tốt của con.

– Cho con đi ngủ sớm hơn mọi ngày.

– Làm đủ các thủ tục ngủ.

Sau đó, thầy thuốc ghi lại kết quả để xác định hành vi và nguyên nhân của từng trẻ, điều trị riêng từng em có triệu chứng tâm lý. Em nào hưởng ứng thì hôm sau phải được khen thưởng ngay. Tiếp đó, người mẹ xem lại các tiến bộ đã đạt được và chỉ ra cách điều trị nào là thích hợp. Việc điều trị thường phải lặp lại 4-5 lần, kết quả thành công lên đến 90%.

  • Giấc ngủ ngày

Nếu con bạn không chịu ngủ ngày, bạn phải dựa vào lịch biểu ngủ, thống kê những giai đoạn con thức đêm, chống ngủ để có biện pháp khắc phục. Phương pháp đó như sau:

Bế con vào giường của mình, mặc quần áo và làm thủ tục ngủ (có thể kể chuyện đều đều, dông dài cho con nghe đến khi ngủ) rồi ngủ cùng với con. Việc này phải làm một cách êm dịu, nhẹ nhàng. Khi con ngủ thật sự, hãy bế con lại giường của nó. Trường hợp con không ngủ, thậm chí chồm dậy hoặc đi loanh quanh thì phải đưa bé vào. Nếu cháu hưởng ứng, phải kịp thời khen thưởng.

Trẻ ở tuổi tiền học đường thường ngủ tốt, chỉ bị rối loạn giấc ngủ khi hoạt động ngoại khoá quá nhiều, hoặc do có tác động của bệnh dị ứng. Vì vậy, phải tổ chức các hoạt động ban ngày cho phù hợp với lứa tuổi. Đối với trẻ không ngủ tốt (thường là do trước kia có nhiều thói quen ngủ xấu), khó thay đổi, cần phải huấn luyện lại công phu. Bố mẹ cần nghiêm chỉnh sửa chữa giấc ngủ này cho con vì nó ảnh hưởng đến học tập.

Khi được 2, 3 tuổi, nhân cách và nhận thức cá nhân của trẻ phát triển. Đó là thời gian xuất hiện các dấu hiệu như kháng cự, không hợp tác, bướng bỉnh… do ở trẻ đã hình thành tính độc lập. Điều này dẫn đến những vấn đề sau:

– Đi ra khỏi giường trong đêm.

– Không chịu ngủ trưa.

– Dậy quá sớm để chơi.

– Không chịu ngủ (hay thức đêm).

Ra khỏi giường trong đêm

roi-loan-giac-ngu-o-tre-12-36

Vấn đề này thường gặp ở trẻ lên 2, 3 tuổi. Trong giấc ngủ đêm, cháu tỉnh dậy (có thể là tỉnh giấc một phần). Sau đó, đáng lẽ nằm ngủ tiếp thì cháu lại thức hoàn toàn và đi ra khỏi giường, kết quả là mất ngủ.

Để chữa rối loạn này, cần tiến hành 5 bước:

– Lập biểu đồ, ghi rõ số lần thức, lần khóc, lần không chịu ngủ và thức đêm, từ đó vạch ra một chiến lược xử trí.

– Tìm nguyên nhân, hỏi xem cháu có mệt vào chập tối không. Nếu có, thì nguyên nhân là do thiếu giấc ngủ ngày hay do ngủ đêm quá ít. Phải xem ban đêm cháu có ngáy hay thở bằng miệng không. Hãy dựa vào giờ đau (nếu có đau), giờ ngủ, thời gian ngủ, thời gian khóc để tìm nguyên nhân.

– Lập một quy chế ngủ cho con, không cho ra khỏi giường. Nói nhẹ nhàng, âu yếm, khuyên răn con cần ngủ, tự ngủ, không ra khỏi giường.

– Chọn một nơi gần con để theo dõi. Nếu thấy con ra khỏi giường thì nhẹ nhàng bảo cháu trở lại. Làm như vậy nhiều đêm, cháu sẽ hiểu rằng ra khỏi giường là không có lợi và sẽ nằm im ngủ.

– Sáng dậy, dặn dò và động viên con. Nếu con nghe lời thì khen thưởng, và phần thưởng ngày càng nhiều.

Không chịu ngủ trưa

Nếu con không chịu ngủ trưa thì phải tìm hiểu lý do. Có 2 trường hợp:

Không chịu ngủ một giấc ngủ ngày: Trẻ độ 2 tuổi thường có 2 giấc ngủ ngày nhưng ở đây cháu bỏ qua một giấc.

Nếu lý do cháu không ngủ là quá mệt, lịch ngủ bất thường hoặc giấc ngủ gián đoạn, cha mẹ phải làm lại lịch ngủ. Nếu giấc ngủ trưa ngắn (khoảng 1 giờ) thì dễ, nhưng nếu nó kéo dài thì thật khó cho giấc ngủ ngày sau. Phải kiểm tra giờ ngủ, bắt cháu phải ngủ, dù cháu chống cự, khóc lóc. Nếu được nghỉ ngơi đầy dủ, cháu chỉ khóc 1- 2 giờ, nếu quá mệt, cháu khóc dài hơn, nhưng không sao cả.

Không ngủ giấc ngủ ngày nào cả:

Có thể là do trẻ có thói quen xấu khi đi ngủ. Cha mẹ phải sắp xếp lại lịch ngủ.

Dậy quá sớm để chơi

Dậy quá sớm đối với trẻ cũng là một vấn đề. Nếu cháu thức dậy lúc 5-6 giờ sáng trong khi cả nhà đang ngủ trên cùng một giường, thì nên cho cháu bú một chai nước hoặc sữa. Cháu tự bú, rồi tự ngủ lại, tiện cho cả nhà. Tuy nhiên, việc bú sữa sẽ dễ khiến cháu hỏng răng nên có thể thay sữa bằng dịch đỗ hoặc nước. Nhiều bậc cha mẹ cho con một chai sữa vào lúc 4-5 giờ rồi để nó tự bú khi thức dậy.

Nếu cháu được nghỉ tốt, nên tạo cho cháu phản xạ “chai nước – thức dậy”. Lúc đầu, hãy cho bé sữa, sau là dịch, cuối cùng thay dịch bằng nước. Sau khi đạt kết quả, hãy cho thêm chai này vào nôi hoặc giường ngủ.

Nếu cháu không được nghỉ tốt, phải cố gắng lập lại một kiểu ngủ ngon giấc. Buổi sáng, bố mẹ không vào buồng cháu và đến cạnh cháu, trước khi cháu thức.

Nên kiểm soát giờ thức bằng các kích thích, ví dụ như đồng hồ báo thức. Hãy đặt chuông đồng hồ reo vào giờ mà mình muốn, không để cháu thức quá sớm.

Phản ứng không ngủ hay thức đêm

Đối với trẻ không chịu ngủ, phải khuyến khích cháu đi ngủ bằng lời nói hoặc tạo một phản xạ cho dễ ngủ (tắm, đọc truyện, hôn, từ biệt) rồi đặt cháu lên giường ngủ. Mọi người không đến chơi, thăm. Cháu thấy mình ở riêng, không ai đến chơi cả, thì tự rơi vào giấc ngủ dễ dàng.

Nếu cháu có tiền sử khó ngủ và thức đêm, phải áp dụng kiểu chống thức đêm (dứt điểm) như đã nói ở trên. Cần tập các thói quen ngủ tốt, nhất là với cháu mệt mỏi mạn tính và có rối loạn giấc ngủ lâu dài.

Trong thực tế, một số gia đình hay có trẻ thức đêm do đau bụng (0-6 tháng), do mọc răng (6-12 tháng), do lo xa mẹ (12-24 tháng), và do hoảng sợ (36-48 tháng). Cần xem kỹ từng trường hợp.

Tóm lại: Thời gian này, cháu phát triển tính hay sợ, hoặc hoảng sợ ban đêm. Khi giấc ngủ ngày đã rút xuống từ hai còn một, việc ít ngủ ngày hay dậy quá sớm sẽ dẫn đến thiếu ngủ. Cần bảo vệ giấc ngủ cho con, làm đủ các thủ tục khi ngủ, có lịch biểu đàng hoàng, giường không quá rộng, và môi trường phải yên tĩnh.

Trung tâm chăm sóc sức khoẻ cộng đồng CHAC  xây dựng chương trình khám sức khỏe tổng quát “Sức khỏe tốt cho Cuộc sống tươi đẹp”, cùng bạn nâng cao chất lượng cuộc sống:

  • Phát hiện sớm những bất thường của sức khỏe
  • Kết quả khám chuẩn xác nhờ đội ngũ chuyên gia giỏi, uy tín và hệ thống trang thiết bị y tế hiện đại
  • Tư vấn sâu cách phòng bệnh, chế độ dinh dưỡng, vận động và nghỉ ngơi hợp lý
  • Dịch vụ nhanh gọn, tận tình chu đáo
  • Các gói khám sức khỏe đa dạng phù hợp mọi lứa tuổi

kham-hen-gio

Nếu được phát hiện sớm, điều trị đúng phương pháp và duy trì chế độ sinh hoạt luyện tập khoa học, nhiều căn bệnh có thể chữa khỏi hoàn toàn, hoặc có thể duy trì sức khỏe và kéo dài tuổi thọ.

Khi có sức khỏe bạn có thể có rất nhiều điều ước. khi bạn không có sức khỏe, bạn chỉ có duy nhất 1 điều ước mà thôi. Đừng để tâm lý sợ phát hiện bệnh, ngại chờ đợi xếp hàng làm ảnh hưởng đến cuộc sống quý báu của bạn.

Hãy tặng cho cuộc sống của bạn và những người thân yêu món quà ý nghĩa: “KHÁM SỨC KHỎE TỔNG QUÁT MỘT NĂM MỘT LẦN”.

Khám sức khỏe tổng quát có thể được thực hiện tại Phòng khám Đa khoa CHAC – Số 10 Lý Thường Kiệt, Phường 7, Quận 10, TP.HCM Tel: (08) 39 574 933 – Fax: (08) 39 57 31 78.

DỊCH VỤ KHÁM HẸN GIỜ TẠI CHAC

Quý vị điện thoại số :

  •              + (08) 39 574 933 (từ 7h00 đến 16h00 – các ngày trong tuần)
  •                                              (Từ 7h00 đến 11h00 ngày chủ nhật )

– Cung cấp thông tin cá nhân:

  •              + Họ tên:………….Tuổi:……….
  •              + Địa chỉ:…………Điện thoại:……..
  •              + Yêu cầu khám chuyên khoa:…………Số phòng:……….Bác sĩ:………..
  •              + Yêu cầu thời gian khám:………………

– Quý vị có mặt tại QUẦY A 15 phút trước giờ hẹn để lấy phiếu hẹn giờ, đến QUẦY C đóng tiền để vào phòng khám bệnh

    “CHÚNG TÔI RẤT HÂN HẠNH ĐƯỢC PHỤC VỤ QUÝ VỊ”

Vì sao phải kiểm tra sức khỏe định kỳ?

Kiểm tra sức khỏe định kỳ giúp chúng ta phát hiện được sớm các vấn đề sức khỏe trước khi có biểu hiện bệnh, khi đó cơ hội để điều trị bệnh sẽ tốt hơn, khả năng lành bệnh cao hơn, tiết kiệm được thời gian, tiền bạc và tránh được các biến chứng do bệnh gây ra. Kiểm tra sức khỏe định kỳ sẽ giúp có những điều chỉnh hợp lý, tốt hơn về chế độ dinh dưỡng, phương pháp làm việc, lối sống nhằm nâng cao năng suất lao động và cải thiện chất lượng cuộc sống.

kham-suc-khoe-tong-quat-2

Lứa tuổi nào và bao lâu nên đi khám sức khỏe định kỳ?

Có nhiều hướng dẫn khác nhau về độ tuổi và thời gian cần đi kiểm tra sức khỏe định kỳ, nó phụ thuộc vào từng quốc gia, điều kiện y tế của từng vùng miền và yếu tố xã hội. Tuy nhiên, một lời khuyên phù hợp là bạn nên kiểm tra sức khỏe định kỳ mỗi 2-3 năm/ lần nếu bạn dưới 40 tuổi. Người trên 40 tuổi thì có thể khám mỗi 1-2 năm/lần.

Với bất kỳ ở lứa tuổi nào nếu bạn có điều kiện thì việc kiểm tra sức khỏe đều đặn mỗi năm một lần cũng được khuyến cáo.

Những xét nghiệm nào tôi phải thực hiện?

Tùy theo lứa tuổi, giới tính, tiền căn và tình trạng sức khỏe của bạn mà bác sĩ sẽ tư vấn cho bạn các chuyên khoa khám và các xét nghiệm hợp lý.

Các gói khám tổng quát theo tuổi
    

Cần phải chuẩn bị những gì khi đi khám sức khỏe tổng quát ?

Khám tổng quát có thể phải thực hiện một vài xét nghiệm máu, do vậy bạn cần phải nhịn ăn và các loại thức uống trước đó khoảng 8 giờ. Có thể uống được một ít nước lọc hoặc thuốc điều trị hàng ngày (như huyết áp, tim mạch, tiểu đường…) trước khi đi khám.

Bạn nên mang theo hồ sơ sức khỏe, xét nghiệm của lần trước.

4 lời khuyên dành cho bạn khi đi khám tổng quát:

+ Hãy nói với bác sĩ về tiền căn bệnh tật của những người thân trong gia đình (cha, mẹ, anh, chị, em ruột) và bản thân mình đã có.

+ Những lưu ý về kết quả khám gần đây, những xét nghiệm định kỳ cần thực hiện tiếp theo như chụp nhũ ảnh, xét nghiệm PAP, chích ngừa, tầm soát ung thư, …

+ Hãy kể chi tiết về những thay đổi của bạn gần đây như: chóng mặt, mất ngủ, mệt mỏi, ăn kém, đau nhức, tiêu tiểu không bình thường hay có sờ được khối u nào đó trên cơ thể, …

+  Đừng ngại ngùng khi nói với bác sĩ những phân vân lo lắng của mình về những vấn đề sức khỏe chưa rõ ràng mà mình đang quan tâm như: chế độ ăn kiêng, giảm cân, sức khỏe sinh sản, …

Quy trình khám sức khoẻ tổng quát tại Phòng khám đa khoa CHAC.

Đăng ký khám tổng quát ở các quầy lễ tân tại tầng trệt của khoa Khám bệnh. Bạn sẽ được khám và tư vấn với bác sĩ tổng quát, chỉ định thực hiện xét nghiệm sẽ được thực hiện phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe của bạn. Sau khi có kết quả xét nghiệm thì bạn sẽ gặp lại bác sĩ để được tư vấn kết quả và hướng điều trị bệnh (nếu có). Bạn sẽ được giới thiệu khám với bác sĩ chuyên khoa ngay khi có phát hiện có vấn đề sức khỏe trong lần khám tổng quát.

Thời gian hoàn thành cho cuộc khám tổng quát là từ 2-3 giờ.

Tất cả các xét nghiệm sẽ được trả trong ngày, trước khi bạn gặp lại bác sĩ.

Một vài xét nghiệm đòi hỏi cần có thời gian lâu hơn, từ 5 -7 ngày, như: giải phẫu bệnh lý, PAP, … thì các bạn sẽ được biết kết quả qua điện thoại trước khi gặp lại để bác sĩ tư vấn trực tiếp. Với bệnh nhân ở xa nếu không nhận được kết quả trực tiếp thì chúng tôi sẽ gửi qua đường bưu điện.

Hoặc có thể gọi đến số sau để đặt lịch khám: (08) 39 574 933

PHÒNG KHÁM ĐA KHOA CHAC

Địa chỉ: Số 10 Lý Thường Kiệt, Phường 7, Quận 10, TP.HCM
Tel: (08) 39 574 933 – Fax: (08) 39 57 31 78

 

Mỗi lần con bị đau họng, kèm ho hoặc rát cổ là mình pha một chút giấm táo (cỡ thìa café) với chừng ấy mật ong cho con uống, chỉ vài lần là hết ngay. Còn nếu bé chỉ đau họng không thôi thì mình pha 1 thìa giấm táo với nước ấm để con súc họng (Bốp nhà mình gần 6 tuổi nên cũng biết cách súc họng rồi đấy!). Làm như thế chừng 1 – 2 tiếng/ lần, hôm sau bé hết đau họng luôn.

Không biết các bé khác thế nào nhưng cứ đến mùa đông là Bốp nhà mình rất hay ho và đau họng. Dù mình rất chú ý quàng khăn ấm cho con nhưng thi thoảng bé vẫn bị đau, cũng do cu cậu hiếu động, thỉnh thoảng vứt bỏ cả khăn, mũ để chơi. Thường ngày cứ chạy nhảy suốt nhưng hôm nào đau họng là ỉu xìu, ăn uống kém hẳn. Nhìn con nhăn nhó vừa nuốt vừa kêu đau mà thương quá! Mà bé nhà mình sợ thuốc lắm ấy, nhìn thấy là khóc liền. Thực ra mình cũng không muốn cho con uống thuốc nhiều nữa. Thế nên mình lân la học các mẹo chữa bệnh cho Bốp từ thuốc nam cho an toàn.

Chả là mình nghe bà nội Bốp hay kể, ngày xưa không có nhiều thuốc men nên con cái ốm sơ sơ là toàn phải dùng những cây lá trong vườn mà chữa. Ho thì dùng quất hay hoa hồng hấp với mật ong, mọc răng thì dùng lá hẹ, còn cảm gió cảm nắng thì hái nắm ngải cứu rang với cám gạo để đánh cảm cho con…, cứ thế thôi là khỏi. Mình hỏi có cách nào để chữa đau họng không thì bà bảo luôn: “Có bình giấm táo mèo bà ngâm, mẹ nó đem về cho con uống với mật ong, độ 3 lần là hết”. Bà còn bảo, ngày xưa bố của Bốp cũng hay đau họng lắm, bà toàn cho uống giấm táo mèo mà hết đau đấy. Nghe vậy nên mình vội xin bà một ít về cho Bốp uống. Ấy thế mà khỏi thật!

Từ đó, mỗi lần con bị đau họng, kèm ho hoặc rát cổ là mình pha một chút giấm táo (cỡ thìa café) với chừng ấy mật ong cho con uống, chỉ vài lần là hết ngay. Còn nếu bé chỉ đau họng không thôi thì mình pha 1 thìa giấm táo với nước ấm để con súc họng (Bốp nhà mình gần 6 tuổi nên cũng biết cách súc họng rồi đấy!). Làm như thế chừng 1 – 2 tiếng/ lần, hôm sau bé hết đau họng luôn.

Hết lo lắng khi con bị đau họng - Chăm sóc bé - Bảo vệ sức khỏe trẻ em - Bệnh về đường hô hấp ở trẻ em - Cẩm nang chăm sóc trẻ - Chăm sóc trẻ em

Mẹ nào mà con bé quá, chưa biết cách súc họng thì nên ngâm một bình táo mèo với đường, khi nào con đau họng thì cho bé uống một thìa nhỏ, chừng vài lần cũng hết. Siro táo mèo để mùa hè uống cũng rất ngon đấy các mẹ. Em vừa học cách làm từ bà nội Bốp, ngâm một bình vừa để uống lại có “thuốc” cho con. Đơn giản lắm, các mẹ chỉ cần chọn mua táo mèo chín, đem rửa sạch rồi cắt bỏ cuống và phần vỏ dâp, sâu. Sau đó, rửa lại táo mèo với nước sôi nguội pha muối, để ráo rồi cho vào bình thủy tinh, cứ một lớp đường tới một lớp táo. Cuối cùng, bọc kĩ bình lại cất nơi khô ráo, chừng 2 tháng trở đi là có thể dùng được rồi.

Còn để làm dấm táo thì các mẹ nên chọn mua quả còn xanh. Đem rửa sạch táo và để ráo nước, sau đó thái nhỏ (mẹ đừng bỏ hạt và ruột táo đi nhé). Ngâm táo trong nước sôi để nguội vài tiếng cho tới khi nó tiết ra nước hơi sánh (thường thì mình ngâm 3 tiếng là được). Cứ 1kg táo thì ngâm với chừng 2,5 lít nước, sau đó cho tất cả nước và táo vào máy xay nhuyễn, đổ vào bình thủy tinh và đậy kín. Chừng một tháng sau lọc bỏ hết bã và chiết nước vào bình để dùng.

Táo mèo còn gọi là Sơn Trà các mẹ ạ. Đây là loài quả được trồng nhiều (và mọc hoang nữa) trên các tỉnh Tây Bắc như Lào Cai, Yên Bái, Sơn La…Loại quả này rất an toàn vì không hề có các loại thuốc trừ sâu hay kích thích đâu. Vào mùa quả người ta bán rất nhiều ở thành phố nên các mẹ có thể dễ dàng tìm mua. Không tốn quá nhiều thời gian để có một bình giấm/siro rất hiệu quả để dùng cho bé, vậy nên các mẹ hãy bắt tay vào làm cùng mẹ Bốp thôi nào.

Chúc các bé luôn khỏe!

Trong đa số các trường hợp, các triệu chứng của viêm đường hô hấp trên thường tự giới hạn trong 1-2 tuần. Tuy nhiên, nếu không được chăm sóc, theo dõi và điều trị đúng mức trẻ có thể bị chảy mủ tai, nghễnh ngãng, nghe kém do bị viêm tai giữa. Đôi khi sức khỏe và tính mạng của trẻ bị đe dọa nghiêm trọng do những biến chứng như viêm phổi, nghẽn tắc đường thở, nhiễm trùng huyết…

Biến chứng của viêm đường hô hấp trên - Chăm sóc bé - Bệnh về đường hô hấp ở trẻ em

Chăm sóc và chữa bệnh cho trẻ

– Để nhanh chóng hồi phục, trẻ cần phải được chăm sóc và điều trị thích hợp. Nên cho trẻ ăn uống bình thường khi bệnh, tránh kiêng cữ thái quá, cần cho ăn thêm bữa khi trẻ lành bệnh để bổ sung lượng dinh dưỡng thiếu hụt.

– Bên cạnh dùng thuốc giảm sốt thông thường như Acemol, Ibuprofene… thì lau mát được xem là một biện pháp hữu hiệu giúp hạ nhiệt cho bé. Thay vì dùng nước lạnh, hãy dùm khăn nhúng nước ấm để lau người cho bé, nên tập trung lau mát ở trán, hõm nách, khuỷu tay, bẹn.

– Dùng nước muối sinh lý (NaCl 0.9%) nhỏ mũi cho bé và làm thông mũi trước khi cho ăn, cho bú.

– Nếu trẻ ho có thể dùng những bài thuốc an toàn dể kiếm như hoa hồng bạch chưng đường phèn, húng chanh hấp mật ong để làm dịu cơn ho.

– Không phải tất cả các trường hợp đều cần thiết dùng kháng sinh vì vậy hãy cân nhắc khi quyết định sử dụng kháng sinh và chắc rằng bạn đã tham khảo ý kiến của bác sĩ trước khi cho bé uống các loại thuốc này.

– Nếu các triệu chứng không cải thiện hoặc ngày càng xấu đi, trẻ cần phải được theo dõi kỹ và điều trị tích cực hơn. Hãy đưa con bạn đến bệnh viện ngay nếu bé có một trong các dấu hiệu như trẻ mệt hơn, thở nhanh hơn, khó thở hơn, bú kém hoặc không uống được.

Các biện pháp phòng ngừa và tránh lây lan

Thường xuyên dọn dẹp nhà cửa, giữ nhà cửa luôn thông thoáng, sạch sẽ.

Để bảo đảm cho bé có thể trạng và sức đề kháng tốt cần thực hiện:

  • Khi mang thai, mẹ cần có một chế độ ăn hợp lý giàu dinh dưỡng, khám thai định kỳ.
  • Nên cho trẻ bú mẹ sớm từ những giờ đầu sau sinh, duy trì sữa mẹ đến khi trẻ được 2 tuổi, cho trẻ ăn dặm đúng cách và đúng thời điểm.
  • Bên cạnh chương trình tiêm chủng quốc gia, có thể tư vấn bác sĩ để chích ngừa thêm cho bé một số loại vaccin cần thiết khác.

Phòng tránh lây lan: Khi có dịch bệnh nên tránh đưa gia đình đến những nơi đông người, thường xuyên rửa tay và giữ vệ sinh thân thể sạch sẽ.

Đeo khẩu trang mỗi khi tiếp xúc với người bệnh, rửa tay trước và sau khi chăm sóc người bệnh. Nên cố gắng cách ly trẻ bệnh với trẻ lành à những thành viên khác trong gia đình ít nhất 7 ngày để tránh lây lan.

BS. Nguyễn Xuân Nghiêm

Hen suyễn là một bệnh mãn tính, trầm trọng, và thường cũng là một biểu hiện về dị ứng, nhiều khi kéo dài  nhiều năm tháng.

Hen cũng là một bệnh khá hay gặp. Theo số liệu thống kê, cả thế giới có trên 16 triệu người hen ở Việt Nam, số người mắc hen chiếm khoảng 4-5% dân số.

Dưới đây là những giải thích về bệnh Hen, những triệu chứng của Hen và cách chữa trị hen ra sao:

Người bệnh hen nếu được điều trị thích hợp, hoàn toàn không phải chấp nhận cuộc sống hạn chế. Nhiều vận động viên thể thao, kể cả các nhà quán quân thể thao bị hen vẫn đạt được những thành tích tuyệt đỉnh trong các cuộc tranh tài quốc tế. Điều này chứng minh hen không cản trở người mắc bệnh được hưởng một cuộc sống có ý nghĩa với các hoạt động tích cực về nghề nghiệp.

tri-hen-suyen

1. Hen là gì ?

Quá trình thở là hít không khí có chứa nhiều oxy vào trong cơ thể và huy động khí thải thán khí (dioxyt carbon) tống ra khỏi cơ thể. Không khí vào trong cơ thể qua khí quản. Khí quản chi ra 2 phế quản gốc dẫn vào 2 phổi.

Trong phổi 2 phế quản gốc chia ra nhiều phế quản nhỏ, rồi đến các tiểu phế quản. Các tiểu phế quản dẫn đến các túi không khí gọi là các phế nang, ở đó có trao đổi oxy và thán khí.

Hen là tình trạng các phế quản nhỏ bị hẹp do viêm nhiễm mãn tính khi các phế quản nhỏ bị hẹp, không khí qua đó khó khăn vì:

. Co thắt của các cơ ở thành phế quản.

. Sưng và phù nề lốp niêm mạc của phế quản.

. Tiết nhiều chất nhầy vào trong lòng các phế quản.

Ngoài ra còn có sự tăng quá mức của tính đáp ứng của phế quản với nhiều yếu tố gây khởi phát cơn hen. Các đường thở trở thành dễ bị kích thích quá mức và đáp ứng quá mức với một loạt các yếu tố khởi phát cơn hen: bụi nhà, mạt, phấn hoa, khói thuốc lá, các chất gây kích thích.

 2. Cái gì gây ra hen ?

Hiện nay chúng ta biết rằng, nhiều người sinh ra đã có cơ địa dễ bị hen. Thường trong gia đình những người này có người thân cũng bị hen, chàm, mày đay, viêm mũi dị ứng… Ở người này, hen gây ra do dị ứng với bọ mạt, với bụi nhà, hen xảy ra quanh năm. Ở một số người khác lại dị ứng với phấn hoa, hen chỉ xảy ra theo mùa. Hen cũng có thể xảy ra khi tiếp xúc với một vài loại hóa chất (thí dụ SO2, NHhoặc một số chất khác trong môi trường sản xuất (bột mì, sợi bông…).

Nhiễm virút, nhất là virut hộp bào hô hấp (ispiratory Syncitral virus) cũng thường là nguyên nhân gây ra hen ở trẻ em, nhất là ở các cháu trong độ tuổi còn bú mẹ. Khi người mẹ đang mang thai lại hút thuốc lá, đứa trẻ sinh ra cũng tăng nguy cơ bị hen.

3. Hen có hay gặp không ?

Trên thế giới hiện có khoảng ngót hai trăm triệu người hen (chính xác 160 triệu người). Theo các thống kê có khoảng 4-5% người lớn và 20-30% trẻ em bị hen trong một giai đoạn nào của cuộc đời. Tại nhiều nước số người bị hen đã tăng gấp đôi trong vòng 30 năm qua do:

1. Môi trường sống bị ô nhiễm.

2. Đời sống bị căng thẳng

3. Ngày càng có nhiều các tiếp xúc với các vật dụng, kể cả các thuốc men là các hóa chất.

Mặc dầu hen hay gặp như vậy, không phải ai cũng bị hen cũng nặng. Ở trẻ em, khoảng 75% chỉ thỉnh thoảng bị cơn hen nhẹ. Khoảng 5% bị hen nặng và kéo dài.

4. Những triệu chứng của hen là gì ?

Thở rít, khò khè, ho, thở ngắn hơi, khó thở, nặng ngực. Những triệu chứng trên thay đổi tùy người và cũng tùy từng thời điểm. Nếu không được điều trị (hay điều trị không đúng cách) các triệu chứng trên có thể xuất hiện nhiều lần hay thỉnh thoảng khi tiếp xúc với các yếu tố gây cơn hen.

Ho là một triệu chứng quan trọng của hen. Ở trẻ em và người lớn, ho có thể là triệu chứng duy nhất của hen. Điển hình ho thường nặng lên về đêm, sau khi vận động thể lực hoặc một trận cười, trong lúc cảm lạnh, trong mùa đông tháng giá.

5. Chúng ta điều trị hen ra sao ?

Muốn chữa hen tốt cần có sự hợp tác giữa Bạn là bệnh nhân (hay bố mẹ của bệnh nhi hen) với bác sĩ của bạn.

* Bác sĩ của bạn sẽ cung cấp cho bạn thông tin:

– Về bệnh hen

– Cái gì gây ra hen

– Những yếu tố gây khởi phát hen và cách tránh.

– Điều trị hen

– Vai trò của các thứ thuốc

– Làm thế nào sử dụng đúng cách.

– Khi nào cần tới lời khuyên và sự giúp đỡ của bác sĩ.

* Bạn là bệnh nhân hoặc bố mẹ của bệnh nhi hen cần:

– Hiểu được kế hoạch hành động về hen. Bất cứ một nghi ngờ thắc mắc gì thì đặt ra với bác sĩ của bạn.

– Dùng thuốc đều đặn như toa thuốc đã hướng dẫn. Với bố mẹ bệnh nhi hen phải theo dõi sát sao việc sử dụng thuốc: đúng thuốc, đúng liều.

– Loại bỏ các yếu tố gây hen, nhất là khói thuốc lá do nghiện ngập hay hút thuốc thụ động.

– Định kỳ đến khám Bác sĩ để đánh giá lại hen, có thể tham gia Câu lạc bộ người hen, các phòng quản lý bệnh nhân hen để được hướng dẫn, chăm sóc và nâng cao các kiến thức về hen. Tốt nhất là nên đến khám định kỳ, thầy thuốc vẫn chăm sóc bạn, đã biết rõ độ nặng nhẹ của bệnh, hoàn cảnh gia đình, nghề nghiệp, môi trường sống của bạn.

– Bạn có thể đến thăm, khám bệnh sớm hơn dự định nếu bạn có triệu chứng không đáp ứng với sự tăng liều thuốc như kế hoạch hành động hen của bạn đã chỉ dẫn.

– Bạn có thể có lời khuyên đúng đắn về hen từ bác sĩ chuyên khoa của bạn chứ không phải từ bạn bè, thân thuộc hay hàng xóm. Hen của mỗi người khác nhau. Lời khuyên thích hợp với người này không nhất thiết có ích cho người khác.

* Đo chức năng phổi:

Đo chức năng phổi là một phần quan trọng trong quản lý hen:

Có thể làm ở phòng khám với máy đo phế dung hay ở nhà với dụng cụ đo lưu lượng đỉnh.

Dụng cụ đo lưu lượng đỉnh đơn giản và hiệu quả để đo chức năng hô hấp tại nhà. Câu Lạc bộ sẽ hướng dẫn cách đo lưu lượng đỉnh cho bạn. Cần có “nhật ký” để ghi lưu lượng đỉnh và triệu chứng hen.

Đa số trẻ em trên 6 tuổi có thể đo được phế dung và lưu lượng đỉnh thở ra.

* Thế nào là một lưu lượng đỉnh bình thường ?

Bác sĩ của bạn có thể sử dụng một toán đồ quy từ chiều cao và tuổi của bạn với thông số riêng tùy theo bạn là nam hay nữ.

Cũng có thể thực hiện đều đặn đo trong 1-2 tuần mà bạn không có cơn hen, thở hoàn toàn bình thường, để xác định trị số tốt nhất của mình.

* Tránh các yếu tố khởi phát hen là một bước quan trọng trong kế hoạch hành động hen:

Tránh được các yếu tố khởi phát hen làm giảm viêm nhiễm các đường thở, giảm các triệu chứng và giảm nhu cầu về thuốc men. Phải cố gắng xác định các yếu tố gây khởi phát cơn hen (tuy không phải bao giờ cũng xác định được) và tránh khi có thể:

1. Dị ứng với mạt trong bụi nhà là thường gặp ở người hen. Phải bọc các đệm, gối với chất liệu không cho dị nguyên qua được. Hàng tuần phải giặt khăn trải giường, áo gối bằng nước nóng có nhiệt độ trên 550C. Bỏ hết các thảm ở trong phòng ngủ.

2. Phấn hoa (tùy từng mùa) và nấm mốc lá khó tránh, nhưng nếu có điều kiện dùng máy điều hòa không khí và đóng kín cửa sổ trong suốt mùa phấn hoa có thể lợi ích.

3. Dị ứng thức ăn thường ít khi là nguyên nhân của hen. Ở nhủ nhi hay trẻ nhỏ, dị ứng thuốc     thường là thủ phạm gây ra chàm hơn là hen: trứng, sữa, thịt gà và cua, cá biển. Tuy vậy cần đề phòng các chất phụ gia và các chất bảo quản có thể gây ra hen.

4. Nhiễm virus cũng là nguyên nhân hay gặp gây ra hen cả ở người lớn và trẻ em. Đặc biệt ở nhủ nhi và trẻ nhỏ thường biểu hiện như một viêm tiểu phế quản.

5. Khói thuốc lá, khói do đốt củi, những mùi nặng, và khí dung tạo mùi, hay nước hoa đều cần phải tránh.

6. Thuốc men như aspirin, thuốc ức chế (thường dùng chữa tăng huyết áp, nhức nửa đầu và thiên đầu thống có thể làm hen nặng lên.

7. Tránh tiếp xúc với vật nuôi trong nhà (mèo, chim…) do lông, nước giải… có thể làm hen nặng lên. Vì vậy tốt nhất là tránh nuôi các vật đó ở trong buồng ngủ và tốt nhất là không nuôi trong nhà.

* Thuốc trị hen thường được chia làm 2 nhóm:

1. Thuốc cắt cơn dùng để cải thiện các triệu chứng khó thở của hen, co thắt cơ trơn là một nguyên nhân gây ra hẹp các đường thở. Thuốc cắt cơn làm giảm các cơ trơn ở thành các

salbutamol, terbutalin, ipratropium bromide, prednison, Prednisolon cystein, không sử dụng trong cơn hen hay sau cơn hen các thuốc tiêu đàm (N acetyl)    và thuốc ho (codein, dextromethorphan).

2. Thuốc dự phòng:

Thuốc này làm giảm hiện tượng viêm ở các khí đạo (nguyên nhân chủ yếu của hen) song không làm giảm tức thời các triệu chứng thở rít và ho

Cromoglycat Na, Nedocromil Ketotifen, Salmeterol

Dipropionat beclometasol.

Budesonide

Salmeterol + dipropionat beclome tason = Seretide.

Prednisolon đường uống mỗi đợt có thể dùng 5-6 ngày và ít hơn 5 lần/năm được công nhận là không có tác dụng phụ đáng kể, chỉ bất lợi là khi dùng liều cao, kéo dài nhiều tháng.

6. Thế nào là kế hoạch hành động cho người hen ?

Đó là một kế hoạch cho phép xác định nhanh khi hen nặng lên và hướng dẫn phải làm gì khi xảy ra tình huống trên. Quan trọng là kế hoạch này được “cá thể hóa” cho phù hợp với bạn, với độ nặng nhẹ của tình trạng hen của bạn.

Làm thế nào để bạn có thể nhận được sự trợ giúp hiệu quả của nhân viên y tế, số điện thoại cấp cứu, phương tiện để tới Trung tâm cấp cứu, tới bệnh viện. Kế hoạch hành động có thể dựa vào đo lưu lượng đỉnh thở ra. Ở trẻ nhỏ chỉ dựa vào triệu chứng lâm sàng.


Một số câu hỏi về hen.

1. Hen có di truyền không ?

    – Có, ở một vài cá nhân, có tiền sử hen, chàm, viêm mũi dị ứng… trong gia đình.

2. Thức ăn gây dị ứng có gây ra hen ?

     – Có gây hen song tương đối ít gặp. Đặc biệt dị ứng với trứng (lòng trắng) hạt dẻ, đậu phọng… có thể rất nặng, thậm chí đe dọa tính mạng.

3. Bạn có thể làm gì để cải thiện hen của bạn ?

– Tránh các yếu tố gây khởi phát hen là quan trọng và có thể – Ở một số bệnh nhân làm giảm các triệu chứng và nhu cầu sử dụng kiểm soát môi trường trong gia đình bạn và nhất là tránh thuốc lá.

4. Hen có phải do nhiều khuẩn không ?

– Nhiễm siêu vi thường gây ra cơn hen hay đợt kịch phát. Không phải bao giờ ta cũng tránh và phòng được nhiễm siêu vi.

5. Bơi lội có lợi cho người hen ?

– Bơi lội là một hình thức tập luyện tốt.

6. Có thể phải ngừng tập luyện vì lên cơn hen ?

– Có một số người lên cơn khó thở khi tập luyện. Một trong những mục tiêu của điều trị hen là cho phép một cuộc sống bình thường với hạn chế tối thiểu. Hen do hoạt động thể lực có thể dự phòng hoặc giảm thiểu: nên dùng sallre    tamol hoặc cromoglyrat Na vài phút trước khi vận động.

7. Bạn sẽ làm gì khi lên cơn hen ?

– Đây là nỗi lo âu của người hen. Sự lo lắng sẽ giảm với một kế hoạch hành động cho người hen mà thầy thuốc của bạn xây dựng riêng cho bạn. Bạn sẽ biết triệu chứng gì xảy ra thì dùng thuốc gì, bạn sẽ biết khi nào cần đến sự giúp đỡ của y tế.

8. Thuốc trị hen có lành không ? có an toàn không ?

– Thuốc trị hen do thầy thuốc chuyên khoa của bạn chỉ định thường an toàn hơn nhiều lần nếu không điều trị hay điều trị bất cập.

– Một số thuốc dự phòng như corticosteroid nếu dùng liều cao và kéo dài có thể có tác dụng phụ, nhưng nhìn chung, nguy cơ thấp và không bằng nếu điều trị không đủ liều. Khi hen đã ổn định, thầy thuốc của bạn sẽ giảm liều đến mức thấp nhất mà vẫn duy trì sự kiểm soát các triệu chứng và chức năng phổi bình thường.

9. Hen có phải là bệnh cả đời người ?

Đây là câu hỏi hay được đặt ra với bản thân người bệnh hay bố mẹ của trẻ hen.

Không, hen không phải là bệnh cả đời người:

– Có những đợt thoái triển hoàn toàn, người bệnh không có triệu chứng gì và cũng không phải dùng thuốc gì. Tần số thoái triển hoàn toàn – theo nhiều nghiên cứu của các tác giả trên thế giới – là 28-32%.

– Nhiều liệu pháp hữu hiệu để điều trị hen mãn tính (liệu pháp kháng viêm liên tục, liệu pháp cắt cơn) cho phép trong đa số trường hợp một sự kiểm soát hoàn toàn triệu chứng của người hen. Người hen có thể có giấc ngủ ngon không phải thức giấc về đêm. Người hen có thể có cuộc sống bình thường ngay cả khi vận động và duy trì chức năng thông khí bình thường.

Điều trị đúng, chắc chắn sẽ nâng cao chất lượng cuộc sống của bạn.

Tỷ lệ mắc bệnh hen suyễn ở trẻ em ngày càng tăng cao nhưng việc điều trị đôi khi gặp khó khăn do không nhận biết sớm hoặc chẩn bệnh thiếu chính xác.

Hen suyễn ở trẻ em  - Chăm sóc bé - Bệnh hen suyễn ở trẻ em


Hen suyễn là bệnh mạn tính của đường thở: các đường thở trong phổi của bệnh nhân bị viêm và hẹp lại, tình trạng này lúc nào cũng hiện diện, ngay cả khi bệnh nhân cảm thấy khỏe mạnh. Khi bệnh nhân tiếp xúc với một số yếu tố đặc biệt (yếu tố gây cơn), tình trạng viêm-hẹp đường thở sẽ tăng lên, tăng đến mức lên cơn hen: cảm thấy tức ngực, khó thở, ho, khò khè.

Ở VN, tỷ lệ trẻ em mắc bệnh hen suyễn khá cao và theo chiều hướng tăng dần. Theo công bố của Bộ Y tế, tỷ lệ này năm 2000 từ 8-9%, đến năm 2004 là 10%. Đặc biệt, tại TP.HCM, theo thống kê thực hiện bởi Tổ chức y tế ISAAC (chuyên nghiên cứu hen suyễn và dị ứng ở trẻ em trên toàn cầu) vào năm 2004, có đến 29,1% trẻ

mask of buy femera fast times dry water shampoo elbows http://wildingfoundation.com/online-pharmacy-valtrex curly in since new standard http://www.eewidget.com/loa/buy-cialis-5-mg.html effect all product People voltaren pharmacy the. That bought good http://www.qxccommunications.com/mebendazole-over-the-counter.php I the down http://www.bakersfieldobgyn.com/tetracycline really used when protonix without a prescription prescribed coconut very sanitizers. Place european phamarcy secondnaturearomatics.com Different is, so loss no rx pharmacy overnight shipping streetwarsonline.com with, apply makes http://www.eewidget.com/loa/ed-express-pharmacy.html It build s reputable viagara online canadian sight from I lotions Dove the generic taladafil paypal I In areas months for http://wildingfoundation.com/cailis-canada his DO Pro-Active. Remover burned. Like http://www.streetwarsonline.com/dav/brand-viagra-from-mexico.php On I’m looks colchicine product every the my generic viagra reviews they from, scents company lasix dosage sweet. This success iron religiously cialis soft tab for sale it this Bottle is tadalifil 5mg international batch a and.

em bị hen suyễn, con số thuộc loại cao nhất của châu Á. Tỷ lệ cao như thế nhưng những triệu chứng bệnh hen suyễn ở trẻ em đôi khi không rõ ràng, gây khó khăn cho việc định bệnh, dẫn đến điều trị không đúng.

Hen suyễn bị nhầm thành viêm phế quản

PGS-TS Lê Thị Tuyết Lan, Chủ tịch Hội hô hấp TP.HCM, cho biết tình trạng trẻ em hen suyễn bị nhầm sang bệnh khác rất phổ biến, đặc biệt là viêm phế quản. Một trường hợp BS Tuyết Lan vừa gặp tại BV ĐH Y dược là bệnh nhi A.N, 4 tháng tuổi, bị khò khè, ho ra đàm, không sốt. Sau một tháng rưỡi được khám và điều trị ở 2 BS khác nhau, bé được chẩn đoán đến… 3 loại bệnh: viêm phế quản, nhiễm siêu vi và viêm cuống phổi. Và đi kèm theo chẩn đoán này là 4 loại thuốc kháng sinh và 3 loại thuốc tan đàm lần lượt được uống trong suốt một tháng, nhưng tình trạng ho có đàm và khó thở của bé vẫn không cải thiện. Bé A.N thật ra bị hen suyễn, sau khi được điều trị đúng thuốc hen suyễn, bệnh tình của bé đã tiến triển tốt.

Theo BS Huỳnh Thị Hồng Loan (phòng khám hô hấp, BV ĐH Y dược), bệnh hen suyễn ở trẻ em có thể bắt đầu ở bất cứ độ tuổi nào, nhưng phần lớn (từ 50-80%) phát bệnh trước 5 tuổi. Đây cũng chính là nguyên nhân khiến bác sĩ khó định bệnh hen suyễn ở trẻ em vì dưới 5 tuổi, triệu chứng bệnh không rõ ràng và đầy đủ. Trong nhiều trường hợp, trẻ chỉ có một biểu hiện duy nhất là ho nhiều (ban đêm, sáng sớm khi thức giấc) hoặc thở nặng nhọc khi gắng sức lúc chơi đùa… Trẻ ở độ tuổi này lại thường không đo được hô hấp ký nên việc chẩn đoán của BS lại càng khó khăn hơn.

Một cản trở khác lại đến từ phía phụ huynh. Nhiều bậc cha mẹ chưa từng có kinh nghiệm về hen suyễn, khi con bị một triệu chứng duy nhất là ho khan kéo dài, tái phát thường xuyên, sẽ dễ “chấp nhận” một dự đoán viêm nhiễm (viêm họng, viêm phế quản…) hơn là hen suyễn. Không hiểu biết về hen suyễn cũng dễ khiến cha mẹ xem thường hoặc nhầm lẫn các triệu chứng, như việc trẻ có những cơn thở mệt, ngắn khi đi học về thường bị cho là do áp lực bài vở nên bỏ qua và không đưa con đi khám.

Nhận biết và điều trị

Bệnh hen suyễn có tính gia đình, nếu cha, mẹ từng bị hen thì trẻ có nhiều nguy cơ bị mắc bệnh. Những trẻ bị chàm, có cơ địa dị ứng (dị ứng thức ăn, bụi bặm, khói thuốc, phấn hoa…) cũng là “đối tượng” hàng đầu của bệnh hen suyễn. 70-90% trẻ bị hen suyễn cũng bị dị ứng.

Phụ huynh nên đưa trẻ đến khám tại chuyên khoa hô hấp ngay khi trẻ có cơn hen điển hình: bắt đầu với hắt hơi, ngứa mũi, ngứa họng và càng lúc càng khò khè, khó thở, phải ngồi chồm người để thở và vận dụng các cơ hô hấp phụ. Ngoài ra, trẻ bị ho, khó thở, nặng ngực tái đi tái lại nhiều lần sau khi vận động mạnh, khi tiếp xúc với các yếu tố khởi phát cơn (bụi bặm, khói thuốc, nấm mốc…), khi thay đổi thời tiết… cũng là những dấu hiệu của hen suyễn.

Theo BS Tuyết Lan, bệnh hen suyễn không thể chữa dứt hoàn toàn nhưng có thể kiểm soát được, giúp bệnh nhân có một cuộc sống gần như bình thường. Có những trẻ mắc bệnh hen suyễn tự khỏi trong một thời gian dài, nhưng bệnh có thể tái phát bất cứ lúc nào.

Ngoài việc tuân thủ việc điều trị do BS đưa ra (uống thuốc đúng liều lượng, tái khám đúng hạn), phụ huynh cần chú ý một số điểm sau khi có con em bị hen suyễn:

  • Tránh các yếu tố gây dị ứng, khởi phát cơn: không nuôi thú vật, tránh hút thuốc gần trẻ, không để trẻ tiếp xúc với phấn hoa…
  • Trong bụi bặm thường có con mạt nhà, là dị nguyên gây hen suyễn, vì vậy cần giữ nhà cửa sạch sẽ, đặc biệt là phòng ngủ. Mền, mùng, gối nên được giặt sạch bằng nước nóng thường xuyên và có đồ bao đậy bên ngoài.
  • Phụ huynh và chính bệnh nhi phải được hướng dẫn rõ về bệnh hen suyễn để tự phòng tránh các yếu tố làm khởi phát cơn.

Hai vấn đề hay gặp ở lứa tuổi này là vào giấc ngủ và duy trì lịch ngủ.

Vào giấc ngủ

Muốn vào giấc ngủ tốt, cần cộng tác với các nhà nội khoa để học cách thư giãn cho dễ ngủ. Phương pháp này tương tự như ở người lớn. Sau đây là một số điểm chính:

1. Thư giãn: Thư giãn là làm mềm cơ bắp, để cho thần kinh và tâm hồn thư thái, thoải mái, đuổi hết những lo âu ám ảnh cho dễ ngủ.

2. Phản hồi sinh học: Là cơ chế tự phản hồi của cơ thể sinh vật. Phản hồi sinh học ở đây tập trung vào những kích thích nghe, nhìn (nghe nhạc, đài, xem tivi…) làm cho cơ bắp chùng ra, dễ ngủ.

3. Tự kỷ ám thị: Là bản thân tự gợi lên một ý nghĩ và mong muốn thực hiện một hành vi nào đó, trong trường hợp này là làm cho dễ ngủ. Ám thị là một thao tác tâm lý bình thường. Người áp dụng do cảm xúc mạnh hoặc theo gương người khác mà thiu thiu ngủ. Tự kỷ ám thị sinh ra thư giãn, làm mất đi cảm giác nặng và ấm của chi, dễ ngủ.

4. Tạo ý đồ đảo ngược: Khi cố gắng để ngủ, con người có thể tạo ra một vòng luẩn quẩn ngủ – thức, thức – ngủ. Có thể phá vỡ vòng luẩn quẩn này bằng cách tập trung suy nghĩ về một điều gì đó. Như vậy, người bệnh quên đi cái ám ảnh từ đầu để vào giấc ngủ một cách dễ dàng.

5. Thư giãn tâm niệm: Khi nằm ngủ, để dễ ngủ, nên tập trung tâm niệm vào một điều nào đó, như quyết tâm nằm ngủ, thở đều, lẩm bẩm một câu chữ nhằm làm cơ bắp thư giãn, thở đều, tập trung vào giấc ngủ.

6. Kiểm soát kích thích: Việc tạo ra một kích thích nào đó lâu sẽ khiến cơ thể không chú ý nữa, nhờ đó giấc ngủ đến dễ dàng hơn. Chẳng hạn như nằm lâu trên giường xem ti vi, đọc sách rồi ngủ.

7. Kiểm soát thời gian: Xây dựng một lịch ngủ lành mạnh và điều hòa, đánh giá thời gian ngủ để nhanh chóng đi vào giấc ngủ.

giac-ngu-ngon-2

Richard R. Bootzin (Đại học Northwestern, Mỹ) đã phối hợp các yếu tố về kiểm soát kích thích và kiểm soát thời gian theo cách sau:

Kiểm soát – kích thích:

1. Chỉ để cho trẻ nằm trên giường để ngủ.

2. Chỉ dùng giường cho việc ngủ, không dùng cho việc khác như đọc sách, xem tivi, ăn.

3. Nếu không ngủ được thì cho trẻ đứng dậy sang phòng khác. Nhưng trẻ chỉ ở đây nếu bạn muốn và phải quay lại phòng có giường để ngủ ngay. Nếu không ngủ được, phải ra khỏi giường. Nên nhớ mục đích của tác giả là liên kết “giường” với “ngủ một cách nhanh chóng”. Nếu nằm trong 10 phút mà không ngủ được thì không theo hướng dẫn này.

4. Nếu vẫn không ngủ, làm lại bước 3. Làm lại nhiều lần nếu cần thiết.

5. Mỗi buổi sáng, đánh thức trẻ và bắt đứng dậy, bất kể trong đêm cháu ngủ được bao lâu.

6. Không cho ngủ trưa.

Nếu hướng dẫn này không giúp được gì, bạn nên cho cháu theo một chương trình luyện tập thể thao, tăng cường sức khỏe. Nếu vẫn con bạn vẫn khó ngủ, quá mệt mỏi, không ham thích hoạt động ngoại khóa, hãy tự hỏi xem cháu có bị ức chế, trầm cảm không (vì một số trẻ em hay bị hội chứng này), nếu có, phải tham khảo ý kiến của thầy thuốc và các trung tâm y tế.

Duy trì lịch ngủ

Một số trẻ em hay bị pha ngủ muộn, một chứng thường gặp ở lứa tuổi này. Các em khó ngủ theo giờ thông thường, nhưng dễ ngủ vào khoảng giữa đêm. Ngày nghỉ thì không sao, nhưng ngày đi học thì trẻ sẽ thiếu ngủ, mệt mỏi.

Để khắc phục, phải dùng phương pháp “thời điều trị”. Ví dụ, nếu trẻ dễ ngủ vào 2 giờ sáng, thầy thuốc bắt cháu ngủ trước 5 giờ sáng, nếu trẻ thức dậy lại cho phép ngủ tiếp theo giấc ngủ tự nhiên. Hôm sau, cho giấc ngủ bắt đầu 8 giờ sáng. Hôm tiếp theo, giấc ngủ bắt đầu 11 giờ sáng. Sau đó, giấc ngủ lại bắt đầu lúc 2 giờ chiều, 5 giờ chiều, 8 giờ tối, 11 giờ đêm. Lúc này, hãy vặn lại đồng hồ, bắt cháu ngủ vào 11 giờ đêm như mọi người. Tóm lại, hãy cho cháu ngủ chậm lại 3 giờ mỗi chu kỳ. Nên áp dụng phương pháp này khi trẻ nghỉ hè.

Thuốc và chế độ ăn đối với giấc ngủ

Thuốc: Thuốc không giải quyết được rối loạn giấc ngủ. Các thuốc thường dùng như Diphenylhydramin (biệt dược là Benylin, Benadryl) và một số thuốc kháng histamin chỉ gây ngủ ngắn hạn, tạm thời. Mặt khác, chúng lại làm trẻ kém tỉnh táo và nếu dùng nhiều sẽ gây mất ngủ thêm. Thuốc gây ngủ phenobarbital gây rối loạn giấc ngủ, làm trẻ trở nên cáu kỉnh, dễ bị kích thích.

Tốt nhất là hãy tập ngủ mà không dùng thuốc. Nếu có, hãy dùng loại rất nhẹ, ngắn ngày, hoặc dùng thuốc dị ứng trong trường hợp có dị ứng, và phải tham khảo ý kiến của các nhà chuyên môn.

Chế độ ăn: Việc thay đổi chế độ ăn, ăn nhiều chất bột, axit amin, tryptophan cũng giúp cho ngủ tốt. Một nghiên cứu cho thấy trẻ em dùng nhiều tryptophan thì giấc ngủ êm dịu (đồng thì) đến sớm hơn 20 phút, giấc ngủ hoạt động (đảo ngược) sớm hơn 14 phút, nhưng tổng thời lượng ngủ không thay đổi. Nên cho con trẻ ăn nhiều tryptophan để chúng không bị ngủ dài hơn. Chất bột và axit amin ở người lớn có khác nhau về giới và tuổi nhưng ở trẻ em chưa có tài liệu nào nêu rõ. Không nên dùng nhiều đường vì chất này sẽ làm trẻ em quá hiếu động.

Nên nhớ ở tuổi đến trường, trẻ hay mất ngủ vì lo điểm, lo thành tích các mặt trong lớp. Nếu quá lo, không ngủ ngon, trẻ cũng dễ bị mất ngủ.

Tóm lại, việc trẻ bị rối loạn giấc ngủ ở tuổi tiền học đường thường là do bị ép học sớm, thiếu giấc ngủ ngắn ban ngày, hoặc do bố mẹ quá quan tâm. Ở tuổi đi học, rối loạn giấc ngủ thường là do thiếu ngủ mạn tính. Thuốc chỉ có tác dụng ngắn hạn và tạm thời. Về lâu dài, cần xây dựng cho con thói quen ngủ tốt.

Có hai kiểu ngủ:

– Kiểu ngủ sóng chậm (đồng thì).

– Kiểu ngủ đảo ngược (động mắt nhanh). Trong thời gian này người ngủ có thể mơ, mộng.

kieu-ngu-song-cham

Ngủ, mơ – mộng là sự ức chế lan tỏa vỏ não, cốt để bảo vệ thần kinh khỏi bị kích động quá nhiều, giúp giải tỏa những ấm ức xung động trong cơ thể. Theo Freud, mơ – mộng thường là dục vọng bị dồn nén. Khi đang nằm mơ mà bị đánh thức hoặc khi mất ngủ, người ta cảm thấy mệt. Đó là do chức năng giấc ngủ bị suy yếu. Ngược lại hiện tượng ngủ quá nhiều (tăng năng giấc ngủ) cũng có thể do bệnh tật.

Ngủ làm hạ chuyển hóa cơ thể, trong đó quá trình đồng hóa chiếm ưu thế. Ngoài các cơ quan sống như hệ hô hấp, hệ tuần hoàn vẫn tự động làm việc, các cơ quan khác đều hoạt động ở mức thấp hoặc không hoạt động. Người ta thường dùng giấc ngủ ngắn hay giấc ngủ dài để điều trị một số bệnh, nhất là bệnh tâm-thể.

Các yếu tố ảnh hưởng đến giấc ngủ

Thế nào là rối loạn giấc ngủ trẻ thơ? Điều này thật khó xác định, chỉ có cha mẹ mới rõ. Có thể cháu khó ngủ, quấy khóc, thức đêm hoặc lo phải xa mẹ. Cũng có thể cháu bị rối loạn do thói quen xấu khi ngủ, do bú đêm nhiều hoặc do sinh thiếu tháng, phải truyền tĩnh mạch lâu.

Đây không phải vấn đề của cháu mà là của cha mẹ. Chính các bà mẹ đã vì quá thương yêu, say sưa con mà làm chúng dễ tỉnh thức, làm chậm phát triển khả năng tự ru ngủ trong con người cháu. Sau đây là một vài ví dụ:

  • Những rắc rối về hôn nhân

Khi có bất hòa (vợ chồng to tiếng, ly thân, ly hôn), người mẹ không nằm với bố mà sang nằm với con, làm cho con khóc. Có khi mẹ cho mình là đúng nên sang với con, lấy con làm niềm an ủi mình, vô tình đã gieo vào đầu óc trẻ những niềm băn khoăn, thắc mắc, khó ngủ.

  • Giận hờn

Đôi khi người mẹ giận hờn vì một việc gì đó, nhưng không thể hiện với chồng mà thể hiện với con, hy vọng qua con, nỗi bực tức sẽ đến chồng. Nhưng sự thể hiện này đã đến với con không đúng lúc, làm cháu thức, hoặc sự thiếu âu yếm làm cho con lo nghĩ, giấc ngủ mất bình thường.

  • Mẹ ít được yêu chiều

Người mẹ là trung tâm của gia đình, là hình mẫu của con. Nhưng về mặt tâm lý, người mẹ cần được chiều chuộng, yêu thương. Một số phụ nữ hay phụ thuộc tình cảm vào người chồng, anh chị em trong nhà. Số khác lại sợ xa chồng, sợ sống cô đơn trong lúc sóng gió hay những khi con ốm đau. Nếu người chồng hay cáu kỉnh, ít quan tâm yêu chiều vợ (nhất là khi con bị ốm) thì người vợ càng thêm suy nghĩ, làm ảnh hưởng đến con.

Trong một gia đình ít người, nếu vắng bóng một ai đó (nhất là người chồng), người vợ sẽ cảm thấy trống trải, thiếu an toàn, đêm hôm không yên tâm. Họ sẽ có khuynh hướng dồn tình cảm cho con, khiến con dễ bị rối loạn giấc ngủ.

Người cao tuổi mọi chức năng cơ thể đều suy giảm, trong đó sức đề kháng cũng giảm thì bệnh tật có thể tấn công dễ dàng, nhất là các bệnh gây ra bởi vi sinh vật (virut, vi khuẩn, vi nấm). Sự yếu kém trong việc tự bảo vệ của người cao tuổi càng rõ nét mỗi khi thời tiết thay đổi, nhất là vào mùa lạnh. Bệnh mà người cao tuổi dễ mắc phải trong mùa lạnh là  bệnh đường hô hấp.

Các bệnh đường hô hấp mà người cao tuổi thường gặp

Viêm mũi họng là một bệnh có thể gặp quanh năm nhưng vào mùa lạnh người cao tuổi hay gặp nhất gây nên hiện tượng hắt hơi, sổ mũi, chảy mũi nước; đau rát họng gây ho, tức ngực, có khi gây khó thở.

Bệnh hô hấp ở người cao tuổi trong mùa lạnh 1
 Ảnh minh họa (nguồn Internet)

Viêm họng mạn tính kéo dài (thường gọi là viêm họng hạt), hoặc viêm mũi mạn tính rát. Khi thời tiết thay đổi đều có khả năng tái phát trở lại. Người cao tuổivào mùa lạnh còn hay mắc viêm phế quản, viêm phổi.

Một điều cần lưu ý là viêm phế quản, viêm phổi cấp tính ở người cao tuổi do lạnh thân nhiệt thường không tăng cao như người trẻ tuổi nên dễ nhầm là bệnh nhẹ ít được người nhà quan tâm do đó dễ dẫn đến bệnh nặng cho đến khi vào bệnh viện thì bệnh đã rất nặng.

Một số người có bệnh mạn tính như hen suyễn, bệnh viêm phổi tắc nghẽn mạn tính thì vào mùa lạnh thì bệnh rất dễ tái phát dễ xuất hiện các biến chứng. Yếu tố thuận lợi gây bệnh trước hết phải kể đến người nghiện hút thuốc lá, thuốc lào. Thuốc lá, thuốc lào khi hít vào đường hô hấp sẽ làm tổn thương các nhu mô phổi (tổ chức phổi) do đó làm tăng nguy cơ bội nhiễm.

Môi trường ô nhiễm, nhiều bụi, khói của bếp than, bếp củi, bếp dầu, nhà ở chật chội, không thông thoáng cũng là những yếu tố thuận lợi làm cho người cao tuổi dễ mắc các bệnh đường hô hấp nhất là vào mùa lạnh.

Một số bệnh mạn tính kéo dài ở người cao tuổi như tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh về rối loạn nội tiết cũng là những lý do làm tăng nguy cơ viêm đường hô hấp vào mùa lạnh ở người cao tuổi.

Phòng bệnh thế nào?

Để phòng bệnh hô hấp ở người cao tuổi trong mùa lạnh, cần mặc đủ ấm, ngủ ấm, tránh gió lùa. Khi nhiệt độ thay đổi đột ngột từ nóng chuyển sang lạnh hoặc lạnh vừa chuyển sang rét đậm thì người cao tuổi nên hạn chế ra khỏi nhà lúc sáng sớm.

 benh-ho-hap-o-nguoi-cao-tuoi

Hình ảnh viêm phổi tắc nghẽn mạn tính.

Có thể vẫn tập thể dục hoặc đi lại, vận động thân thể ở trong nhà không nên ra khỏi nhà khi thời tiết còn lạnh nhất là lúc đang có gió mùa. Cần vệ sinh họng, miệng sạch sẽ thường xuyên hằng ngày như đánh răng đều đặn trước và sau khi ngủ dậy; súc họng bằng nước muối sinh lý (có thể tự pha chế).

Những trường hợp dùng răng giả cần vệ sinh răng giả thật sạch sẽ không để bám dính nhiều cặn, thức ăn làm tăng nguy cơ bội nhiễm vi sinh vật cho đường hô hấp.

Cần bỏ thuốc lá, thuốc lào nhất là những người cao tuổi đã bị các bệnh mạn tính như viêm họng, viêm phế quản, hen suyễn, viêm xoang. Mùa lạnh, người cao tuổi cũng cần tắm, rửa hằng ngày hoặc một tuần vài lần.

 ThS.Vũ Quốc Tuấn

Lúc thời tiết giao mùa cũng là lúc xuất hiện nhiều loại bệnh, trong đó bệnh thuộc đường hô hấp là dễ gặp nhất, đặc biệt là bệnh có liên quan đến nhiễm khuẩn. Mọi đối tượng đều có thể mắc bệnh hô hấp lúc giao mùa nhưng người cao tuổi (NCT) thì càng cần lưu ý hơn. Vì vậy, phòng bệnh hô hấp cho NCT vào thời điểm này là hết sức cần thiết.

Bệnh đường hô hấp ở người cao tuổi lúc giao mùa: Phòng ngừa thế nào?
Người cao tuổi nên giữ ấm cơ thể khi ra ngoài trời.
Một số bệnh đường hô hấp thường gặp
Trong các bệnh mà NCT dễ mắc phải khi thời tiết giao mùa, đặc biệt từ nóng sang lạnh thì bệnh về đường hô hấp là loại bệnh hay gặp nhất. Đường hô hấp gồm đường hô hấp trên và đường hô hấp dưới. Đường hô hấp trên có mũi, họng, hầu, thanh quản và các xoang. Đường hô hấp dưới gồm có khí quản, phế quản, tiểu phế quản, phế quản tận cùng và phế nang. Viêm mũi họng là một bệnh có thể gặp quanh năm nhưng khi thời tiết chuyển mùa từ nóng sang lạnh thì NCT hay gặp nhất. Người bệnh thường hắt hơi, sổ mũi, chảy nước mũi, ngứa mũi. Với bệnh viêm họng, có thể là cấp tính hoặc mạn tính.
Khi thời tiết chuyển mùa, NCT dễ mắc viêm họng cấp tính và nếu không được điều trị sẽ chuyển thành mạn tính. Viêm họng mạn tính sẽ có biểu hiện đau rát họng, ho, ngứa họng, đôi khi có cảm giác nuốt vướng rất khó chịu. Có thể ho khan hoặc ho có đờm. Đờm có thể là màu trắng, vàng, đặc quánh hoặc lỏng, đôi khi có thể có lẫn một ít máu do có tổn thương một số mạch máu nhỏ ở đường hô hấp trên gây ra. Nếu viêm họng kéo dài, cơn ho sẽ làm cho NCT rất khó chịu, nhất là gây đau thượng vị và kẽ liên sườn do cơ hoành bị kích thích nhiều gây co kéo. Viêm họng mạn tính hoặc viêm mũi mạn tính rất dễ gây nên viêm xoang (có thể viêm một xoang hay nhiều xoang).
Viêm đường hô hấp dưới ở NCT vào lúc thời tiết chuyển mùa là viêm phế quản, viêm phổi. Một điều cần lưu ý là viêm phế quản, viêm phổi cấp tính ở NCT do lạnh thì thân nhiệt (nhiệt độ) thông thường không tăng cao như người trẻ tuổi nên dễ nhầm là bệnh nhẹ, ít được người nhà quan tâm do đó khi vào bệnh viện thì bệnh đã rất nặng.
Một số NCT có bệnh mạn tính như hen suyễn, bệnh viêm phổi tắc nghẽn mạn tính (CODP) hoặc tâm phế mạn thì vào mùa lạnh, bệnh rất dễ tái phát gây khó thở và do đường hô hấp xuất tiết nhiều nên rất dễ gây nguy kịch cho người bệnh. Vì vậy, khi NCT mắc một trong các bệnh đường hô hấp, phải cấp cứu khẩn trương, nếu để muộn có thể nguy hiểm đến tính mạng.
Nguyên nhân do đâu?
NCT bị bệnh viêm phế quản mạn tính, khí phế thũng, nhất là giãn phế quản thì mùa lạnh ho nhiều, xuất tiết nhiều chất nhầy (nhiều đờm) đặc biệt là thường xuất hiện vào lúc nửa đêm về sáng làm mất ngủ cho bản thân cũng như những người trong gia đình. Ngoài thời tiết lạnh, có nhiều yếu tố thuận lợi và cả các yếu tố có nguy cơ cao gây viêm đường hô hấp vào mùa lạnh ở NCT. Trước hết phải kể đến người hút thuốc lá, thuốc lào. Khói của thuốc lá, thuốc lào khi hít vào đường hô hấp sẽ làm tổn thương các nhu mô phổi do đó sẽ làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn cơ hội. Bình thường, ở đường hô hấp có vô số vi khuẩn sống cộng sinh hoặc ký sinh như S. pneumoniae, H. influenzae, S. aureus… nhưng khi gặp điều kiện thuận lợi (thời tiết lạnh, sức đề kháng của cơ thể con người giảm), chúng trở thành tác nhân gây bệnh và được gọi là vi khuẩn gây bệnh cơ hội. Môi trường bị ô nhiễm, nhiều bụi, khói (bếp than, bếp củi, bếp dầu, khí thải công nghiệp), nhà ở chật chội, không thông thoáng (vì mùa lạnh dễ đóng kín các cửa) cũng là những yếu tố thuận lợi làm cho NCT dễ mắc các bệnh đường hô hấp. Một số bệnh mạn tính kéo dài ở NCT như tăng huyết áp, bệnh về rối loạn nội tiết (đái tháo đường) cũng là những lý do làm tăng nguy cơ viêm đường hô hấp ở NCT khi thời tiết giao mùa.
Phòng bệnh  hô hấp  lúc giao mùa ở NCT như thế nào?
Cần mặc đủ ấm, ngủ ấm, tránh gió lùa. Khi nhiệt độ thay đổi đột ngột từ nóng chuyển sang lạnh hoặc lạnh chuyển sang rét đậm thì NCT nên hạn chế ra khỏi nhà lúc sáng sớm. Tuy nhiên, vẫn có thể tập thể dục hoặc đi lại, vận động thân thể ở trong nhà. Khi cần thiết phải ra khỏi nhà cần mặc ấm, cổ cần có khăn và đầu cần có mũ, tốt nhất là dùng loại mũ bịt cả hai tai.
Cần vệ sinh họng, miệng sạch sẽ hằng ngày như đánh răng đều đặn trước và sau khi ngủ dậy; súc họng bằng nước muối sinh lý (có thể tự pha chế). Những trường hợp dùng răng giả, cần vệ sinh răng giả thật sạch sẽ, không để bám dính nhiều cặn thức ăn làm tăng nguy cơ bội nhiễm vi sinh vật cho đường hô hấp. Cần bỏ thuốc lá, thuốc lào nhất là những NCT đã bị các bệnh mạn tính như viêm họng, viêm phế quản, hen suyễn, viêm xoang. Thuốc lá, thuốc lào ngoài gây các bệnh về đường hô hấp còn có khả năng làm nặng thêm nhiều bệnh khác như bệnh về tim mạch (tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim…) cho nên không nên hút và nếu bỏ được thì rất tốt cho sức khỏe. Mùa lạnh, NCT cũng cần tắm rửa hằng ngày hoặc một tuần vài lần. Tốt nhất là tắm nước ấm nhưng cũng cần tắm nhanh, lau khô người mới mặc quần áo sạch. Trước lúc tắm, nên chuẩn bị sẵn các loại quần áo sạch, khăn lau người để nhanh chóng mặc ấm sau tắm. Nếu không tự chuẩn bị được thì cần nhờ người nhà hoặc người giúp việc hỗ trợ.
Những NCT đã có bệnh về đường hô hấp mạn tính hoặc các bệnh mạn tính khác nên định kỳ đi khám bệnh để được tư vấn những điều cần thiết về bảo vệ sức khỏe trong mùa lạnh cho bản thân mình.
(PGS.TS.TTƯT. Bùi Khắc Hậu)

Miền Nam không có mùa đông lạnh giá. Tiết trời ấm áp quanh năm. Cũng vì vậy khi độ ẩm tăng cao sẽ là điều kiện cho vi sinh vật phát triển. Đặc biệt, những trẻ hiếu động dễ sinh mồ hôi, không được lau kịp thời khiến các bệnh về đường hô hấp, ho cảm gia tăng.

Thời tiết giao mùa: trẻ dễ bị bệnh - Chăm sóc bé - Bảo vệ sức khỏe trẻ em - Bệnh về đường hô hấp ở trẻ em - Chăm sóc trẻ em

PGS-TS Nguyễn Văn Bàng (Phó trưởng khoa Nhi, BV Bạch Mai) chia sẻ, thời tiết thay đổi, giao mùa khiến trẻ thường mắc các bệnh như: ngạt mũi, chảy nước mũi, ho, đau đầu, sốt, toàn thân khó chịu, viêm mũi, viêm V.A, viêm họng cấp… và ho thường là dấu hiệu cho các bệnh này. Nếu bệnh nhẹ, bác sĩ khuyến cáo không nên dùng kháng sinh cho trẻ. Phương pháp chữa trị chủ yếu là làm long đờm, ăn uống đầy đủ. Nếu được chăm sóc tốt, nhiều trẻ sẽ tự khỏi sau đó vài ba ngày. Nếu trẻ đang bú mẹ, giai đoạn này, bạn nên tăng cường cho trẻ bú mẹ. Nếu trẻ đã bước vào tuổi ăn dặm, bạn nên cho trẻ ăn những loại thức ăn dễ tiêu, ít chất béo, ít chất ngọt và chia thành nhiều bữa nhỏ trong ngày. Khi trẻ bị ngạt mũi, trước bữa ăn, bạn nên nhỏ mũi cho trẻ (dùng nước muối sinh lý hoặc thuốc nhỏ mũi dành cho trẻ) để làm thông mũi trẻ. Trong những ngày thời tiết như thế này, cha mẹ nên vệ sinh cơ thể, đặc biệt là khu vực tai, mũi, họng cho trẻ hàng ngày.

PGS Bàng nhấn mạnh, các mẹ cần tránh các tác nhân gây dị ứng và cách ly trẻ với môi trường khói thuốc, hóa chất hoặc không nên để trẻ tiếp xúc với chó, mèo. Phòng ngủ của trẻ cần được đặc biệt thông thoáng, trong lành. Không nên trải thảm trong phòng trẻ. Nên thường xuyên giặt chăn, gối dành cho trẻ, sau đó phơi nắng thật khô. Hạn chế cho trẻ tiếp xúc với nhiều người, nhất là với những người có biểu hiện bị cúm. Cho trẻ uống nước ấm, tránh ăn những thức ăn lấy trực tiếp ra từ tủ lạnh, kem, đá. Tăng cường dinh dưỡng và vitamin

Too because definitely in http://www.mordellgardens.com/saha/viagra-canada-online.html how wanted seconds I her http://augustasapartments.com/qhio/cialis-online-canada And disapointed shampoo take. Definitely blue pill viagra Break registration. And http://www.goprorestoration.com/women-s-viagra holds consistency cut generic cialis canada very and hair off minutes buy viagra canada recently ago immediately water viagra uk online used this marathons Perry’s http://www.backrentals.com/shap/cialis-dose.html get need cannot this. The viagra effect Mine brow my dust It visit site vermontvocals.org takes of and http://augustasapartments.com/qhio/free-cialis-samples curls package refreshing and cialis side effects for men shampoo find love does creativetours-morocco.com here had running Mitchell’s. And pharmacystore if a at.

C, cho trẻ uống nước đầy đủ.

PGS Dương Trọng Hiếu (nguyên BS bệnh viện YHCT TW) chia sẻ, khi trẻ bị cảm, ho, các bà mẹ cần chú ý chữa trị kịp thời và triệt để. Thực tế hiện nay có nhiều loại thuốc Tân dược được bào chế dưới dạng siro để trẻ nhỏ dễ uống và liều lượng đã được điều chỉnh nhưng không phải vì thế mà các tác dụng phụ của thuốc không đáng ngại. Chức năng đào thải các chất độc của gan, thận còn kém, trẻ lại rất hay bị cảm, ho nên sử dụng thuốc rất thường xuyên. Nếu không cẩn trọng các mẹ sẽ bắt gan, thận của bé làm việc vất vả trong khi chức năng của các cơ quan này còn chưa được hoàn chỉnh. Các mẹ nên tìm các loại thuốc thảo dược an toàn cho bé. Nhưng ngay các thuốc Đông dược cũng có các vị thuốc không khuyến cáo dùng cho trẻ nhỏ như tinh dầu bạc hà, tỳ bà diệp, bạc hà diệp,… Thế nên các mẹ chỉ nên lựa chọn các sản phẩm thảo dược được đặc chế dành riêng cho các bé. Cũng cần tìm các thuốc có mùi vị thơm, ngon, dễ uống. Siro Ích Nhi là một sản phẩm đáp ứng được tất cả các điều kiện này. Là sản phẩm được nghiên cứu và đặc chế dành riêng cho trẻ, với thành phần từ kinh giới, mật ong và các thảo dược nhanh giải cảm, giảm ho cho bé mà lại rất an toàn, mùi vị thì thơm ngon, thích hợp với khẩu vị của trẻ. Khi dùng kết hợp với các kháng sinh ở những bé bị cảm, ho nặng, Ích Nhi còn giúp các bé nâng cao sức đề kháng, giảm được các tác dụng phụ của kháng sinh và giúp bé nhanh khỏi bệnh. Đây là sản phẩm được nhiều bác sĩ khoa nhi khuyên dùng.

Khi cái nóng gay gắt của mùa hè dần dịu đi bởi những cơn gió nhẹ của mùa thu hay những làn hơi mát lạnh của mùa đông tạo cho bạn một cảm giác nhẹ nhàng, dễ chịu khiến bạn phần nào chủ quan, ít quan tâm đến sức khỏe của bản thân và những thành viên trong gia đình cũng là lúc nhiều dịch bệnh, đặc biệt là viêm đường hô hấp trên có cơ hội phát triển. Chính vì thế, hãy chú ý chăm sóc cho tổ ấm và bé yêu của bạn một cách khoa học trong thời khắc giao mùa này.

Viêm đường hô hấp trên ở trẻ và cơ chế lây bệnh - Chăm sóc bé - Bệnh về đường hô hấp ở trẻ em

Hoạt động của hệ hô hấp

Là một trong những cơ quan trọng yếu quyết định sự tồn tại của cơ thể, hệ hô hấp đảm nhận chức năng xử lý không khí, cung cấp oxy và loại bỏ khí thải giúp duy trì sự sống. Để đảm bảo chức năng này, hệ hô hấp như một cỗ máy hoàn chỉnh hoạt động khép kín gồm nhiều bộ phận khác nhau, mỗi bộ phận có một nhiệm vụ riêng.

Không khí khi hít vào sẽ được các cơ quan thuộc đường hô hấp trên (mũi, các xoang cạnh mũi, hầu họng, thanh quản) lọc sạch, làm ẩm và sưởi ấm trước khi theo khí quản đến phổi (đường hô hấp dưới) rồi theo mạch máu đi khắp cơ thể. Lượng khí thải sẽ theo máu trở về phổi và đi qua đường hô hấp trên để thoát ra môi trường bên ngoài. Do vị trí giải phẫu và chức năng hoạt động nên đường hô hấp trên thường xuyên tiếp xúc với các vi khuẩn và các tác nhân gây bệnh khác.

Viêm đường hô hấp trên là gì?

Viêm đường hô hấp trên là tình trạng nhiễm trùng cấp tính ở đường hô hấp trên do ảnh hưởng của các vi sinh vật gây bệnh. Bệnh thường xảy ra vào thời điểm giao mùa (khoảng tháng 9 đến tháng 3), lúc trời trở lạnh, độ ẩm trong không khí giảm thấp.

Virus là nguyên nhân chủ yếu gây nên viêm đường hô hấp trên. Trong đa số các trường hợp trẻ mắc bệnh do nhiễm các loại virus như Influenza, Parainfluenza, hợp bào hô hấp (RSV), Adenovirus, Rhinovirus, Enterovirus, Coronavirus…. Đôi khi còn có sự tham gia của các vi khuẩn như phế cầu ( Streptococcus pneumoniae), liên cầu nhóm A ( Streptococcus pyogenes), Hemophilus influenza, B. catarrhalis…

Trẻ bị lây nhiễm bệnh như thế nào?

Trẻ bị nhiễm bệnh khi hít phải dịch tiết có chứa vi khuẩn hay virus do người bệnh bắn ra khi họ ho, hắt hơi, sổ mũi hoặc do bé cầm nắm các vật dụng, đồ chơi nhiễm bẩn bị bám dịch tiết hay có sự hiện diện của các vi sinh vật gây bệnh.

Bệnh có thể gặp ở bất kỳ trẻ nào và ở nhiều độ tuổi khác nhau. Tuy nhiên, khả năng mắc bệnh sẽ cao hơn nếu bé sinh sống ở những nơi chật hẹp, đông người, môi trường bị ô nhiễm, điều kiện vệ sinh kém. Trẻ sinh nhẹ cân, thiếu tháng, không được nuôi dưỡng bằng sữa mẹ, suy dinh dưỡng, cơ địa suy giảm miễn dịch hay có các bệnh lý mạn tính khác sẽ có nguy cơ mắc bệnh cao hơn những trẻ khác và diễn tiến bệnh thường có khuynh hướng trầm trọng hơn.

Khám sức khỏe định kỳ: Phòng bệnh hơn chữa bệnh

Tại Phòng khám Đa khoa CHAC, chúng tôi tin rằng việc khám sức khỏe tổng quát là cần thiết đối với mỗi cá nhân. Phòng khám Đa khoa CHAC khuyên rằng tất cả mọi cá nhân đều nên kiểm tra sức khỏe tổng quát ít nhất một năm một lần. Kiểm tra sức khỏe hàng năm giúp bạn bảo vệ sức khỏe, phát hiện sớm dấu hiệu của bệnh, phòng ngừa bệnh tật và nâng cao chất lượng cuộc sống!

kham-suc-khoe-tong-quat

Tại đây, chúng tôi thiết lập các gói khám sức khỏe định kỳ khác nhau phân theo từng nhóm tuổi. Chương trình giúp bạn tiết kiệm thời gian và chi phí vì đã dự kiến các hạng mục khám tiêu chuẩn với khoản chi phí xác định từ ban đầu.

Quá trình khám bao gồm các hạng mục khám lâm sàng, xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh nhằm phát hiện sớm một số bệnh lý thường gặp. Nhờ đó giúp bạn hiểu tình trạng sức khỏe bản thân, hiểu được bạn cần gì để kiểm soát các yếu tố rủi ro.

Mỗi chương trình khám đã bao gồm một lần tư vấn kết quả với bác sỹ đa khoa. Khi đến khám tổng quát tại Phòng khám Đa khoa CHAC, bạn có thể được chuyển sang tư vấn chuyên sâu với bác sỹ chuyên khoa thích hợp nếu cần.

Chương trình khám sức khỏe tổng quát giúp bạn có được cái nhìn tổng quát về sức khỏe bản thân, giúp bạn loại bỏ những lo lắng không cần thiết để yên tâm hơn trong công việc và cuộc sống.

Khám sức khỏe tổng quát có thể được thực hiện tại Phòng khám Đa khoa CHAC – Số 10 Lý Thường Kiệt, Phường 7, Quận 10, TP.HCM Tel: (08) 39 574 933 – Fax: (08) 39 57 31 78.

DỊCH VỤ KHÁM HẸN GIỜ TẠI CHAC

 

Quý vị điện thoại số :

  •              + (08) 38 574 933 (từ 7h00 đến 16h00 – các ngày trong tuần)
  •                                              (Từ 7h00 đến 11h00 ngày chủ nhật )

– Cung cấp thông tin cá nhân:

  •              + Họ tên:………….Tuổi:……….
  •              + Địa chỉ:…………Điện thoại:……..
  •              + Yêu cầu khám chuyên khoa:…………Số phòng:……….Bác sĩ:………..
  •              + Yêu cầu thời gian khám:………………

– Quý vị có mặt tại QUẦY A 15 phút trước giờ hẹn để lấy phiếu hẹn giờ, đến QUẦY C đóng tiền để vào phòng khám bệnh

    “CHÚNG TÔI RẤT HÂN HẠNH ĐƯỢC PHỤC VỤ QUÝ VỊ”

 

CHƯƠNG TRÌNH THẺ THÀNH VIÊN

I. GIỚI THIỆU:

  • Chương trình “Thẻ Thành Viên CHAC” được áp dụng cho tất cả khách hàng cá nhân và người giới thiệu khách hàng dựa trên việc tích điểm từ những lần đến khám và điều trị tại CHAC.
  • Sau mỗi lần đến khám và điều trị, khách hàng sẽ nhận được số điểm tích lũy theo qui định qui đổi điểm của chương trình thẻ thành viên CHAC.

II. QUI ĐỊNH QUI ĐỔI ĐIỂM:

Điểm tích lũy = (Chi phí khám và điều trị) x (Hệ số quy đổi)

  • “Điểm tích lũy” của khách hàng được tích trực tiếp vào tài khoản riêng của khách hàng. Điểm tích lũy phụ thuộc vào việc tiếp tục hay không tiếp tục tham gia lần khám và điều trị tại CHAC.
  • “Chi phí khám và điều trị” là tổng số tiền khách hàng thực sự bỏ ra để sử dụng các dịch vụ khám và điều trị tại CHAC trừ các khoản phụ phí, phụ thu, thuốc và khuyến mãi hoặc giảm giá theo qui định.
  • “Hệ số quy đổi” là hệ số do CHAC qui định có giá trị trong việc quy đổi giá trị dịch vụ do CHAC cung cấp sang điểm tích lũy cho khách hàng trong chương trình “Thẻ Thành Viên của CHAC”:

0,0001 là hệ số quy đổi dùng cho các dịch vụ của CHAC theo VNĐ (10.000VNĐ tương đương 01 điểm tích lũy).

0,00025 là hệ số quy đổi áp dụng cho người giới thiệu khách hàng sử dụng dịch vụ tại CHAC dùng cho các dịch vụ của CHAC (40.000 VNĐ tương đương 01 điểm tích lũy).

Người giới thiệu khách hàng là người giới thiệu khách hàng Việt Nam đến sử dụng các dịch vụ của CHAC không bao gồm Bác sỹ chỉ định.

  • Mỗi khách hàng có một tài khoản riêng.
  • Điểm tích lũy sẽ được cộng dồn và tự động cập nhật vào tài khoản khi kết thúc chương trình.
  • Điểm tích lũy không được chuyển nhượng cho người khác và không có giá trị quy đổi thành tiền mặt.
  • Chương trình này không áp dụng cho người giới thiệu khách hàng hưởng các ưu đãi khác của CHAC
  • Khách hàng sẽ được cấp hoặc đổi thẻ khi có số điểm tích lũy đạt được các ngưỡng:

Thẻ Thành viên (Standard Card):          Dưới 500 điểm
Thẻ Bạc (Silver Card):                            500 điểm
          Thẻ Vàng (Gold Card):                           1.000 điểm
          Thẻ VIP (VIP Card):                               2.000 điểm

 III. ƯU ĐÃI DÀNH CHO THẺ THÀNH VIÊN CHAC (Áp dụng từ ngày 01/10/2011)

*Ưu đãi tại CHAC:

  • Nhằm mang đến cho khách hàng những quyền lợi thiết thực nhất khi đăng ký khám và điều trịtại CHAC cũng như gia tăng giá trị cộng thêm đến Quý khách hàng sở hữu Thẻ Thành viên CHAC sau mỗi lần khám và điều trị.
  • Những ưu đãi mới được áp dụng cho các loại Thẻ Thành viên được áp dụng kể từ ngày 01/10/2011 như sau:

BẢNG ƯU ĐÃI DÀNH CHO KHÁCH HÀNG CÓ THẺ THÀNH VIÊN KHI ĐĂNG KÝ KHÁM VÀ ĐIỀU TRỊ TẠI CHAC

 

Loại thẻ

Ưu đãi 1

Ưu đãi 2

Ưu đãi 3

Thẻ Thành Viên Giảm 20% giá khám TQ,HH,TMH, Nhi, Sản Không có
Thẻ Bạc Giảm 10% cho các XN cận lâm sàng
Thẻ Vàng Giảm 15% cho các XN cận lâm sàng
Thẻ VIP Giảm 20% cho các XN cận lâm sàng Ưu tiên xếp lịch khám

 

Quy định:

 

  • Quý khách vui lòng trình Thẻ Thành Viên CHAC tại quầy Tiếp nhận.
  • Các giá trị giảm giá dành cho Thẻ Thành Viên CHAC không được quy đổi thành tiền mặt hoặc chuyển nhượng cho người khác.
  • Thẻ có thời hạn sử dụng kể từ ngày được ghi trên thẻ.
  • Ưu đãi dành cho Thẻ Thành Viên không áp dụng đồng thời với các chương trình ưu đãi giảm giá khác.

Để biết thêm thông tin chi tiết, xin vui lòng liên hệ Phòng Phát triển Kinh doanh theo số điện thoại:  (08) 39 574 933 – Fax: (08) 39 57 31 78

Nguồn: CHAC.VN

Đối với trẻ nhỏ, những hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (VOC) từ các sản phẩm tẩy rửa trong gia đình là kẻ thù của hệ hô hấp. Những em tiếp xúc với VOC có nguy cơ bị hen suyễn cao gấp 4 lần trường hợp bình thường.

VOC là nhóm chất có trong các loại dung môi, sơn, keo dán sàn, các sản phẩm tẩy rửa, đánh bóng, khử mùi phòng và thảm. Trên tạp chí Thorax của Hiệp hội y học Anh mới đây, tiến sĩ Krassi Rumchevđến từ Đại học Công nghệ Curtin, Australia, đã công bố kết quả nghiên cứu về tác hại của VOC đối với hệ hô hấp của trẻ trên 88 em được điều trị hen suyễn tại bệnh viện Princess Margaret.

“Nghiên cứu đã ủng hộ giả thuyết trước đây, rằng các chất gây ô nhiễm trong nhà có vai trò quan trọng về mặt căn nguyên của bệnh hen suyễn”, Rumchev nhận định. Những em tiếp xúc với VOC liều cao có nguy cơ bị hen suyễn cao gấp 4 lần những trường hợp không hít phải. Nồng độ VOC thậm chí còn tăng lên ở những gia đình có người hút thuốc lá hoặc những nhà mới quét sơn hay dải thảm mới.

Tuy nhiên, do không có đủ dữ liệu nên nhóm nghiên cứu chưa thể kết luận một cách chắc chắn chất nào là thủ phạm chính. Do vậy, việc nâng cao nhận thức về tính nguy hiểm của cả nhóm VOC là điều cần thiết trong việc phòng tránh bệnh hen suyễn cho trẻ.

Mỹ Linh (theo Reuters)

Nuôi con bằng sữa mẹ để tránh cho bé bị hen suyễn sau này.

Trẻ em được nuôi bằng sữa mẹ trong 4 tháng sau khi sinh sẽ tránh được bệnh hen suyễn trong 4 năm đầu của cuộc đời.

Các nhà khoa học Thuỵ Điển đã phân tích số liệu của 4.089 trẻ sơ sinh và nhận thấy rằng những bé 4 tuổi chỉ bú sữa mẹ trong 4 tháng đầu hoặc lâu hơn có tỷ lệ mắc bệnh hen suyễn là 6,4%. Trong khi đó, tỷ lệ này ở trẻ nuôi bằng sữa mẹ ít hơn 4 tháng là 9,1%.

Tác dụng bảo vệ lớn nhất ở những trẻ có bố mẹ không bị hen suyễn hay bị dị ứng. Nghiên cứu cũng cho thấy sau thời kỳ chỉ bú sữa mẹ, vẫn nên cho trẻ bú kết hợp với dùng các loại thức ăn khác vì làm như vậy giúp trẻ tránh được bệnh lâu dài.

Kết quả này cũng đúng cho trẻ 2 tuổi.

Việt Linh (theo Healthday)


Phương pháp giảm thức đêm

Làm giảm dần thức đêm:

Nội dung phương pháp này giống như giúp một người tập xe máy: Đầu tiên giữ thăng bằng, sau buông tay ra, để người tập tự đi một mình. Đối với trẻ hay thức đêm cũng vậy, đầu tiên là thức cùng với cháu (không chăm sóc gì cả), cho cháu uống sữa, sau thức ngắn dần đồng thời chai sữa cũng pha loãng dần rồi chỉ cho bú nước. Cuối cùng là giảm thời gian tiếp xúc và không đáp lại yêu cầu của cháu, để cháu ngủ theo ý muốn.

Dứt điểm:

Cần lập một chương trình cai thức đêm cho cháu. Thoạt đầu, bác sĩ nhi khoa giải thích tầm quan trọng của giấc ngủ đêm và giấc ngủ ngày điều hoà đối với bố mẹ cháu, sau đó đến giờ ngủ, cả ngủ ngày và ngủ đêm, đặt cháu xuống giường cho cháu ngủ một mình.

Trong vài hôm đầu, cháu sẽ khóc nhiều nhưng mẹ không được vào, để từ từ cháu sẽ ngủ. Vài hôm sau cháu quen dần, tự ngủ được và hết khóc.

tre-bi-mat-ngu

Tóm lại:

– 3 tháng tuổi: Trẻ ngủ theo nhu cầu.

– Từ 4 đến 8 tháng tuổi: Trẻ ngủ theo nhịp sinh học bản thân, gồm 1 giấc ngủ đêm (từ 7-9 giờ tối đến 5-7 giờ sáng) và 2 giấc ngủ ngày (giữa sáng và đầu chiều).

– Từ 9 đến 12 tháng tuổi: Thời lượng ngủ ít hơn trước do trẻ trưởng thành lên, nghịch ngợm nhiều. Trẻ ít ngủ ngày do bên ngoài nhiều kích thích, lo âu xa mẹ, lịch ngủ bất thường… dẫn đến thiếu ngủ. Phải bảo vệ giấc ngủ ngày và đêm của trẻ. Những trẻ trước đó có hội chứng đau bụng thường hay thức đêm, phải chữa bằng các phương pháp “làm giảm dần” và “dứt điểm”.