Author Archives: dungntk

Viêm họng là một bệnh phổ biến trong cộng đồng, nhất là khi môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng như hiện nay ở các thành phố, khu công nghiệp; tỷ lệ mắc nhiều ở trẻ em dưới 7 – 8 tuổi. Có tới 200 chủng virut gây viêm họng và thường tự khỏi nếu sức đề kháng của cơ thể tốt. Ngược lại nếu cơ thể yếu, sức đề kháng giảm, người bệnh có thể bị bội nhiễm các vi khuẩn.

viem-hong-2

Khi nào là nguy hiểm?
Viêm họng được gọi là nguy hiểm khi nguyên nhân gây viêm họng do loại liên cầu bêta tan huyết nhóm A.Nguyên nhân là do vỏ của loại liên cầu này có cấu trúc gần giống cấu tạo của màng thận, màng tim, màng khớp, do đó khi mắc bệnh và không được điều trị kịp thời cơ thể tự sản sinh ra kháng thể chống lại loại liên cầu này, đồng thời tấn công cả vào thận, tim và khớp gây viêm khớp, viêm cầu thận, thấp tim để lại hậu quả rất nặng nề cho bản thân người bệnh nhân và cộng đồng.
Một số yếu tố quan trọng để phát hiện viêm họng do liên cầu bêta tan huyết nhóm A bao gồm:
– Bệnh thường khởi phát đột ngột với biểu hiện sốt cao 30 – 40 độ C, người mệt mỏi.
– Khám họng thấy có mủ trắng bẩn ở khe, hốc amiđan hai bên. Sờ thấy hạch dưới hàm cả hai bên, di động, ấn đau.
– Bạch cầu đa nhân trung tính tăng cao khi lấy máu làm xét nghiệm.
Phòng bệnh là biện pháp hữu hiệu
Khi mới thấy xuất hiện các triệu chứng của bệnh viêm họng, người bệnh cần tới cơ sở y tế chuyên khoa tai mũi họng để khám phát hiện hoặc loại trừ loại viêm họng nguy hiểm này và đưa ra biện pháp điều trị thích hợp nhất. Mỗi loại viêm họng đều có những nguyên nhân khác nhau trừ những đợt có dịch. Mỗi nguyên nhân lại gây ra những tổn thương đặc thù mà dựa vào các dấu hiệu có trên niêm mạc họng cụ thể khi đó bác sĩ sẽ đưa ra cách xử trí hợp lý nhất như có dùng kháng sinh hay không dùng kháng sinh, nếu phải dùng thì sử dụng nhóm kháng nào đem lại hiệu quả cao cho bản thân người bệnh, tránh tình trạng lạm dụng thuốc. Cách điều trị tốt nhất là lấy dịch họng đem nuôi cấy xác định loại vi khuẩn gây bệnh và làm kháng sinh đồ.
Điều trị thường kết hợp với sát khuẩn vùng họng bằng nước muối sinh lý ngậm họng, súc họng với dung dịch kiềm loãng. Khí dung mũi họng theo chỉ định bằng tinh dầu bạc hà, thuốc kháng sinh, thuốc chống viêm dạng hòa tan. Đắp khăn nóng vào hai bên cổ.
Phòng bệnh rất biện pháp rất quan trọng, đặc biệt khi có dịch viêm mũi họng. Giữ ấm vùng cổ, tránh ngồi, ngủ, tắm… ở nơi có gió lùa. Ăn nhiều hoa quả chứa nhiều vitamin C để tăng cường sức đề kháng của cơ thể và mũi họng.
BS.Trần Quốc Ninh

Trẻ em từ 1 đến 3 tuổi, thức giấc lúc nửa đêm hơn 2 lần/tuần, có nguy cơ bị bệnh hen suyễn cao gấp hai lần so với những trẻ có giấc ngủ bình thường.

Những phát hiện này đã khiến các nhà khoa học rất ngạc nhiên vì trước đây họ nghĩ rằng bệnh hen suyễn khiến trẻ em hay thức giấc vào nửa đêm chứ họ chưa hề biết được tác động ngược lại của việc thức giấc vào ban đêm sẽ làm tăng nguy cơ bị bệnh hen suyễn.

hen-suyen-tre-em

Nghiên cứu được tiến hành với 2.400 trẻ em từ lúc mới sinh cho đến 14 tuổi. Các nhà khoa học đã đề nghị mẹ của những đứa trẻ điền vào phiếu điều tra những thông tin về thói quen ngủ của con họ, điều kiện sống của gia đình và quá trình chăm sóc con họ sau khi sinh,…Kết quả, các nhà khoa học phát hiện ra rằng 1/3 trẻ em một tuổi, bị thức giấc lúc nửa đêm hơn 2 lần/tuần. Tỷ lệ này giảm xuống 27% khi trẻ lên 3 tuổi. Đáng chú ý là những đứa trẻ ở độ tuổi từ 1 đến 3, thường xuyên thức giấc khi ngủ, có nguy cơ bị mắc bệnh hen suyễn cao gấp 2 lần trẻ có giấc ngủ bình thường.Bà Anita Kozyrskyj, người đứng đầu cuộc nghiên cứu thuộc Trường Đại học Alberta (Canada), nói: “Các nghiên cứu trước đây cho thấy rằng thiếu ngủ có thể gây ra chứng rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD) và bệnh béo phì ở trẻ em. Nhưng đây là lần đầu tiên chúng ta biết được việc thức giấc vào ban đêm có liên quan tới bệnh hen suyễn ở trẻ em.”Bà cho rằng những chất hóa học được sinh ra do kích thích của cơ thể trong quá trình điều khiển ngủ và sự nhạy cảm với thời tiết có thể là nguyên nhân dẫn tới bệnh hen suyễn.Tiến sĩ Leanne Metcalf, Giám đốc Viện Nghiên cứu về bệnh hen suyễn tại Anh quốc, nói: “Anh là một trong những quốc gia có tỷ lệ trẻ em mắc bệnh hen suyễn cao nhất trên thế giới, nên nghiên cứu này chắc chắn sẽ được rất nhiều bậc phụ huynh quan tâm. Đáng chú ý là những trẻ em – bị thức giấc lúc nửa đêm trong nghiên cứu này – thường thuộc những gia đình có thu nhập thấp và thường xuyên bị căng thẳng.””Mối liên hệ giữa stress và bệnh hen suyễn là rất rõ ràng, cho dù chúng ta vẫn chưa hiểu hết về mối liên hệ này là như thế nào. Một phần của mối liên hệ này có thể là do ảnh hưởng của stress đối với hệ thống miễn dịch và chúng ta đã biết hệ thống miễn dịch bị ảnh hưởng bởi giấc ngủ.”
Theo Vietnamnet/Telegraph

Các nhà khoa học Mỹ đã phát hiện được một loại vi khuẩn ở chó giúp tăng cường hệ miễn dịch của trẻ chống lại bệnh hen suyễn, theo Discovery News.

Trẻ em ở tình trạng nhiễm virus hợp bào hô hấp (RSV) có nguy cơ cao mắc bệnh hen suyễn.

Nhưng sau khi xét nghiệm bụi ở những gia đình có nuôi chó, các nhà khoa học tại Trường đại học California (Mỹ) tìm thấy trong bụi có chứa một loại vi khuẩn chống lại RSV.

Tiếp xúc với chó giúp trẻ giảm nguy cơ bệnh hen suyễn – Ảnh: Shutterstock.

Để kiểm tra hiệu quả bảo vệ sức khỏe của bụi có vi khuẩn chống lại RSV, các nhà khoa học đã thu gom bụi từ những gia đình có nuôi chó và trộn thành một dung dịch, sau đó cho chuột ăn.

Sau một tuần, các nhà khoa học đưa RSV vào nhóm chuột trên và so sánh với một nhóm chuột khác cũng được tiếp xúc với RSV nhưng không được ăn dung dịch có chứa bụi. Đồng thời họ cũng so sánh hai nhóm chuột này với một nhóm chuột khỏe mạnh.

Kết quả, nhóm chuột có ăn dung dịch chứa bụi không phát triển triệu chứng có liên quan đến RSV.

Theo tiến sĩ Kei Fujimura, nhà nghiên cứu Sinh vật học phân tử tại Trường đại học California (Mỹ), kết quả nghiên cứu là bước đầu tiên cho phương pháp trị liệu nhằm bảo vệ trẻ chống lại RSV và giảm sự phát triển bệnh hen suyễn trong thời gian dài.

Nghiên cứu cũng ủng hộ cho giả thuyết cho rằng, sự tiếp xúc với động vật ở thời thơ ấu của trẻ kích thích hệ miễn dịch chống lại bệnh hen suyễn và các bệnh dị ứng khác, tiến sĩ Fujimura bổ sung.

Mất ngủ hay khó ngủ là chứng bệnh gây khó khăn trong đời sống rất nhiều người. Khó ngủ có nhiều dạng, khó đi vào giấc ngủ, ngủ không yên giấc, dậy sớm không ngủ lại được, hoặc tỉnh dậy nhiều lần trong khi ngủ, …

Khi bạn gặp một trong số những triệu chứng sau: không thể chợp mắt nổi khi đã nằm trên giường, tỉnh giấc nhiều lần trong một đêm hay thức giấc vào lúc rạng sáng, bạn mới thực sự bị căn bệnh này “quấy rầy”.

mat-ngu

Tác hại của mất ngủ: Mất ngủ để lại những hậu quả nghiêm trọng cho sức khoẻ cũng như tinh thần. Nó khiến người cảm thấy mệt mỏi, rã rời chân tay, nhức đầu…Nó làm tinh thần bị ảnh hưởng xấu, rất dễ cáu giận, trở nên nhạy cảm hay vô cùng “hiếu chiến”… Ngoài ra, sự tập trung cũng bị giảm sút, do đó chất lượng công việc của bị giảm đi. Theo các nhà khoa học Anh, nếu mất ngủ trong thời gian dài sẽ dẫn đến nguy cơ mắc một số bệnh như: Béo phì, tim mạch, tăng huyết áp, khả năng mắc tiểu đường sẽ tăng 2,5 lần.

Nguyên nhân dẫn đến mất ngủ: Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến việc bị mất ngủ. Trong đó có thể kể đến một số nguyên nhân chính sau:

– Tác dụng phụ của một số loại thuốc: Các thuốc điều trị đau đầu, các thuốc có chứa cafein, thuốc chống viêm có corticoide, thuốc lợi tiểu, v.v…

– Do bệnh lý: Các bệnh lý gây mất ngủ như đau đầu do viêm xoang, do tăng huyết áp, đau do viêm loét dạ dày tá tràng, đau do Zona, tiểu đường, đau do kích thích thần kinh, đau trong bệnh khớp xương v.v

– Do tuổi cao: Đối với phụ nữ: Sự thay đổi hormon trong chu kỳ kinh nguyệt và thời kỳ tiền mãn kinh có thể đóng một vai trò quan trọng. Trong thời kỳ tiền mãn kinh, hiện tượng ra mồ hôi, đi tiểu nhiều  ban đêm và hiện tượng nóng bừng  “bốc hỏa” cũng là nguyên nhân gây nên mất ngủ.

Đối với nam giới: Suy giảm thận dương ở nam giới, đi tiểu đêm nhiều, đau nhức xương khớp, đau mỏi lưng làm giấc ngủ không trọn vẹn.

– Do công việc căng thẳng mệt mỏi, đau đầu, stress làm bạn đi vào giấc ngủ chập chờn lo lắng không yên.

– Do thói quen ăn uống thiếu chất: Ít bổ sung các loại hoa quả và rau xanh, các loại hạt trong bữa ăn làm bạn thiếu các loại vitamin nhóm B, và các axit amin thiết yếu giúp cho giấc ngủ như tryptophan, phenylalanine,  omega6 nên giấc ngủ không trọn vẹn.

Cách khắc phục:

– Điều trị tận nơi các bệnh, khi bệnh lý hết thì giấc ngủ cũng sẽ được cải thiện.

– Cần bổ sung nhiều loại hoa quả, rau xanh, các loại hạt trong khẩu phần ăn Vitamin B và các axit amin sẽ bảo vệ giấc ngủ.

– Và cách đơn giản và hiệu quả nhất: Uống 4 viên Tảo Mặt trời công thức thanh lọc xanh vào mỗi buổi sáng , 6 viên Tảo Mặt trời Tự nhiên vào buổi trưa và 6 viên tảo Mặt Trời tự nhiên vào buổi tối trước khi đi ngủ 2 tiếng sẽ có một sức khỏe dồi dào cũng như một giấc ngủ ngon lành nhanh chóng.

Mọi chi tiết vui lòng liên hệ

TRUNG TÂM CHĂM SÓC SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG – CHAC

Địa chỉ: Số 10 Lý Thường Kiệt, Phường 7, Quận 10, TP.HCM
Tel: (08) 39 574 933 – Fax: (08) 39 57 31 78

Công nhân viên chức bị rối loạn giấc ngủ, không những gây tổn hại cho sức khỏe của bản thân và gây ra thiệt hại tài chính cho xã hội mỗi năm 2 tỷ USD.

Các nhà khoa học khẳng định công nhân viên chức bị rối loạn giấc ngủ, không chỉ làm giảm sức khoẻ bản thân mà còn gây ra tổn thất tài chính trực tiếp cho người sử dụng lao động và nhà nước. Tổn thất đó bao gồm sự giảm năng suất lao động và hiệu quả công việc, chi phí điều trị chứng mất ngủ cũng như các chi phí về bồi thường tai nạn do lái xe buồn ngủ gây ra.
Bệnh mất ngủ không chỉ gây hại cho sức khỏe bản thân mà còn gây thiệt hại cho
 xã hội.

Chỉ để đối phó với bệnh mất ngủ, chỉ riêng ở Mỹ đã phải chi đến 60 tỷ USD một năm, theo một nghiên cứu của giáo sư tâm thần học tại Trường Y Harvard là Robert Stickgold. Bị mất ngủ nhiều nhất là những người lao động trí óc, doanh nhân và những người hoạt động trong lĩnh vực tài chính. Kết quả là khả năng làm việc thấp, thiếu tập trung, suy nghĩ chậm chạp và trầm cảm trường diễn.

Mất ngủ rất có hại cho sức khỏe. Việc ngủ ít hơn 5 tiếng một đêm làm tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường lên gấp đôi, nguy cơ mắc bệnh tim lên gấp rưỡi, nguy cơ béo phì lên gấp ba và các nguy cơ tử vong do nguyên nhân khác lên 12%.

Các nhà y học đã chứng minh, ngoài những bệnh vừa kể, thiếu ngủ còn dẫn đến ung thư, mất cân bằng nội tiết tố, cao huyết áp, tim làm việc bất thường, giảm thị lực, giảm khả năng miễn dịch, dễ bị kích thích và các triệu chứng của bệnh tâm thần phân liệt. “Những người ngủ không đủ, chăng sớm thì muộn sẽ trở thành một kẻ béo ị, luôn than phiền về bệnh tật và ngớ ngẩn”, Stickgold nói.

Mất ngủ sẽ kèm theo buồn ngủ. Buồn ngủ là một nguyên nhân trực tiếp gây thương tật hoặc tử vong. Theo thông tin của các công ty bảo hiểm Mỹ, chi phí bồi thường những chấn thương cho những người buồn ngủ khi đi lại trên đường đã lên tới 25 triệu USD. Cảnh sát Pháp đưa ra con số là 1/10 các tai nạn giao thông là do lái xe buồn ngủ gây ra.

Theo các nhà khoa học, một người không ngủ trong 21 giờ, hiệu quả làm việc chẳng khác gì một người đang say rượu. Các chuyên gia khẳng định phải ngủ ít nhất 7-8 giờ một ngày, ngủ không muộn hơn 10 giờ đêm. Tuy nhiên, nhu cầu ngủ mỗi người một khác phụ thuộc vào tình trạng tâm lý và thể chất.
Theo VietNamNet

Mật độ xương có thể giảm tới 10 – 15% sau 1 năm uống thuốc hen, giảm sớm mật độ xương, chủ yếu ở các vùng xương xốp như xương cột sống, xương sườn,…

Hen suyễn là một bệnh mãn tính phải điều trị dài hạn bằng nhóm thuốc chống viêm chủ yếu là corticoid nên gây nhiều tác dụng phụ: nấm miệng, khản tiếng, phù, tăng cân, tăng huyết áp, đái tháo đường, loét dạ dày và đặc biệt là suy tuyến thượng thận, mục xương…. Vậy phải sử dụng thuốc như thế nào để tránh các tai biến này?Do đặc tính kháng viêm nên thuốc nhóm corticoid được xem là chủ đạo trong điều trị hen suyễn. Việc tự ý dùng thuốc không theo giai đoạn bệnh cũng làm tăng nguy cơ tai biến của thuốc.

Chẳng hạn, corticoid dạng viên (prednisolone, prednisone) và dạng tiêm rất hữu ích trong các đợt cấp nặng của bệnh khi corticoid hít không đủ để cắt cơn, nếu sử dụng ngắn hạn thì không có tác dụng phụ đáng kể.

Song không ít bệnh nhân thấy nó rẻ tiền và sử dụng có hiệu quả nên mua dùng lâu dài dẫn tới mục và loãng xương khi dùng kéo dài.

Nhiều nghiên cứu đã cho thấy, uống hàng ngày hơn 5mg prednisolone hay liều corticoid tương đương có thể dẫn tới giảm mật độ xương và tăng nhanh nguy cơ gãy xương trong quá trình điều trị.

Mật độ xương có thể giảm tới 10 – 15% sau 1 năm điều trị corticoid. Ở bệnh nhân dùng corticoid thường hay giảm sớm mật độ xương, chủ yếu ở các vùng xương xốp như xương cột sống và xương sườn, nhưng cũng cả ở các vùng xương khác của cơ thể.

Mới đây, các nghiên cứu còn chứng tỏ rằng, nguy cơ gãy xương tăng lên nhanh chóng, trong vòng 3 tháng đầu dùng thuốc.

Không những thế, việc tiêm hoặc uống K-Cort, prednisolone, prednisone… hàng ngày, với thời gian lâu tức là đã tạo nồng độ corticoid cao và kéo dài trong máu sẽ gây ức chế hoạt động của tuyến thượng thận dẫn tới suy tuyến thượng thận.

Vì vậy, để hạn chế các tác dụng phụ này cần phải thăm khám thường xuyên và dùng thuốc theo chỉ dẫn của bác sĩ. Khi đó, bác sĩ sẽ dựa vào mức độ của bệnh để lựa chọn thuốc thích hợp. Chẳng hạn, nếu bị hen bậc 1, chỉ cần dùng thuốc giãn phế quản thường là thuốc chủ vận beta 2 tác dụng nhanh để hạ cơn.

Từ bậc 2 – 4, dùng corticoid dạng hít có kèm theo hay không thuốc chủ vận beta 2 tác dụng kéo dài. Corticoid dạng viên chỉ dùng trong trường hợp nặng (bậc 5) nhưng cũng chỉ dùng 5 – 7 ngày, có khi 2 tuần. Khi triệu chứng hen được kiểm soát tốt sẽ giảm liều từ từ và chuyển qua dạng thuốc hít.

Dạng tiêm chỉ được dùng trong trường hợp cấp cứu, sau khi qua cơn nguy kịch, người ta cũng chuyển sang dạng viên rồi thuốc hít. Thực tế hiện nay người ta thường dùng corticoid dạng hít để điều trị hen vì thuốc sẽ được đưa trực tiếp vào phế quản nên tác dụng có hiệu quả cao và ít gây tác dụng phụ như dùng dạng uống hoặc tiêm.

Theo ThS Trần Anh

Thời tiết giao mùa rất dễ khiến trẻ mắc chứng hen suyễn. Dưới đây là vài lời khuyên hữu ích cho các bậc cha mẹ trong việc phòng chống căn bệnh này cho các bé của mình.

Thời điểm giao mùa là thời điểm khá nhạy cảm, đặc biệt là đối với những người có sức khỏe yếu, sức đề kháng không cao. Lúc này, nhiều loại bệnh dễ tấn công cơ thể chúng ta, mà cụ thể là bệnh cúm, gây khó chịu, ảnh hưởng tới công việc và cuộc sống hàng ngày. Hơn nữa, mầm mống của bệnh cúm có thể tấn công mạnh mẽ tới sức khỏe và làm trầm trọng thêm các triệu chứng của bệnh hen suyễn ở trẻ em.

Theo các chuyên gia của Trung Tâm Trẻ Em thuộc Học viện Johns Hopkins, việc phòng ngừa ngăn bệnh suyễn tấn công bằng cách thường xuyên sử dụng các loại thuốc để kiểm soát là rất quan trọng.

Arlene Butz, y tá chuyên môn đồng thời là giáo sư khoa Nhi tại bệnh viện Johns Hopkins cho biết: “Rất nhiều bệnh nhân cảm thấy trong mùa hè, những triệu chứng của căn bệnh suyễn gần như thuyên giảm hẳn vì vậy họ có thể giảm bớt việc điều trị, nhưng khi mùa thu và mùa đông đến, mọi triệu chứng lại xuất hiện trở lại và họ phải quay trở lại điều trị bằng thuốc như bình thường”.

Giáo sư Butz đồng thời cũng đưa ra những lời khuyên cho các bậc cha mẹ để phòng chống căn bệnh suyễn cho con mình:

– Trẻ em bị căn bệnh suyễn mãn tính, nghĩa là có các triệu chứng như là thở khò khè, ho và thở dốc hoặc bị lên cơn suyễn nhiều lần thì nên uống thuốc phòng chống bệnh cảm.

– Để giảm nguy cơ bị truyền nhiễm trùng, các thành viên trong nhà nên thường xuyên rửa tay. Nếu đi du lịch thì nên mang theo một lọ nước rửa tay để vệ sinh sạch sẽ.

– Việc sử dụng thường xuyên các loại thuốc để kiểm soát cơn suyễn là rất cần thiết đối với những người bị nặng để ngăn ngừa bệnh tấn công bất cứ lúc nào.

– Khi bị lên cơn suyễn, cần sử dụng loại thuốc cắt cơn nhanh chóng, ví dụ như Albuterol, loại thuốc này có thể được sử dụng để ngăn chặn bệnh trở nên xấu đi nhưng cũng không nên quá lạm dụng vào Albuterol.

Giáo sư Butz cũng cho biết: “Quá lạm dụng loại thuốc cắt cơn nhanh chóng này là rất nguy hiểm vì bạn đang điều trị căn bệnh này chứ không phải là ngăn ngừa bệnh. Để ngăn ngừa bệnh suyễn, trẻ em cần được uống các loại thuốc có tác dụng chống viêm đường hô hấp, nguyên nhân chính gây lên những cơn suyễn”.

Bệnh hen suyễn là căn bệnh nhi khoa nghiêm trọng hàng đầu trong các căn bệnh mãn tính, nó có ảnh hưởng tới 6,2 triệu trẻ em dưới 18 tuổi trên thế giới, đa số là bị suyễn dị ứng, đặc biệt là dị ứng thời tiết. Vì vậy khi thời tiết thay đổi vào những lúc giao mùa, các bậc phụ huynh nên để ý phòng bệnh cúm cho các em nhỏ, đặc biệt là các em có tiền sử bệnh suyễn để tránh ảnh hưởng tới sinh hoạt và học tập.

Thùy Liên

Mất ngủ do sử dụng điện thoại di động nhiều là kết quả đã được công bố trên nhiều tạp chí.

Báo The indephendent đăng ngày chủ nhật 20 tháng 1 năm 2008 đã chỉ ra rằng: “Bức xạ từ điện thoại di động chậm trễ và làm giảm giấc ngủ, và gây ra đau đầu và nhầm lẫn”

goi-dien-thoai-gay-mat-ngu

The Daily Telegraph công bố kết quả nghiên cứu của các nhà sản xuất thiết bị cầm tay cho thấy việc sử dụng điện thoại di động trước khi đi ngủ có thể gây tổn hại sức khỏe và có thể ảnh hưởng trực tiếp tới các giai đoạn của giấc ngủ, giấc ngủ không sâu.

Quy trình nghiên cứu

Một phòng thí nghiệm được thiết kế để tiến hành nghiên cứu này. Các tình nguyện viên là 71 người đàn ông và phụ nữ tuổi từ 18-45. 38 tình nguyện viên đã có các triệu chứng do sử dụng điện thoại di động (vấn đề với suy nghĩ tinh thần, kích thích tố căng thẳng, hiệu suất và giấc ngủ), 33 tình nguyện viên khác báo cáo không có các triệu chứng liên quan đến điện thoại di động “. Cả hai đối tượng có triệu chứng và không có triệu chứng báo cáo bằng cách sử dụng điện thoại di động của họ hàng ngày và dao động từ 02:55 giờ mỗi ngày. Tất cả những người tham gia đã tham gia vào hai thí nghiệm, thứ tự trong số đó đã ngẫu nhiên được thiết lập bởi các nhà nghiên cứu. Trong hai thí nghiệm này, các tình nguyện viên được tiếp xúc với sóng vô tuyến hoặc “giả” tiếp xúc. Những người tham gia không biết tiếp xúc họ nhận được. Trong quá trình tiếp xúc thực sự, những người tham gia đã được tiếp xúc tới 884 MHz GSM tín hiệu truyền thông không dây, điều này bao gồm cả thời gian truyền không liên tục (bắt chước một điện thoại di động đã được bật lên nhưng không được sử dụng) và truyền tải không liên tục (bắt chước tiếp xúc trong quá trình nói chuyện trên một điện thoại di động), để nửa trái của người đứng đầu mà thôi. Các nhà nghiên cứu tuyên bố tiếp xúc được “phù hợp với tiếp xúc với trường hợp tồi tệ hơn xảy ra trong các tình huống thực tế, nhưng với thời gian gia hạn”. Cả hai phiên kéo dài thời gian ba giờ.

Trong khi các phiên họp diễn ra, các đại biểu đã tiến hành kiểm tra hiệu suất và bộ nhớ, báo cáo trạng thái tâm trạng của họ và ghi được bất kỳ triệu chứng họ đã trải qua bảy điểm trên thang điểm từ “không” đến “mức độ cao”. Sau các phiên họp, họ phải ngủ trong một phòng thí nghiệm giấc ngủ trong thời gian đó, hoạt động não của họ được theo dõi điện não đồ (EEG).

Các thí nghiệm được thực hiện trong một phòng thí nghiệm được bảo vệ. Trước khi thí nghiệm bắt đầu, nền đài phát thanh và ghi âm tần số điện từ của môi trường đã được thực hiện để đảm bảo rằng họ là trong giao thức. Nó cũng bị cấm sử dụng điện thoại di động ở khu vực quanh các phòng thí nghiệm tiếp xúc.

Kết quả của nghiên cứu

Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng, sau khi tiếp xúc tần số vô tuyến, các đại biểu mất trung bình khoảng 6 phút còn đạt đến giai đoạn của giấc ngủ sâu hơn khi họ đã nhận được sự tiếp xúc giả tạo. Họ cũng đã dành một thời gian ít hơn tám phút trung bình trong giấc ngủ “giai đoạn bốn” sâu sắc nhất.

Báo cáo cũng chỉ ra rằng tình nguyện viên cảm thấy những người tiếp xúc với sóng vô tuyến thật (tiếp xúc trực tiếp với điện thoại di động) bị đau đầu nhiều hơn so với những người tiếp xúc với sóng vô tuyến “giả” không có liên quan tới điện thoại di động. Tuy nhiên, trong những người có triệu chứng, không có sự khác biệt trong các báo cáo của đau đầu giữa hai tiếp xúc. Cả nhóm đã có thể phát hiện với độ chính xác cho dù họ đã được tiếp xúc với sóng vô tuyến đúng hay giả tiếp xúc.

Những gì giải thích các nhà nghiên cứu rút ra từ nghiên cứu

Các tác giả kết luận rằng “tần số vô tuyến tiếp xúc theo những điều kiện có liên quan đến ảnh hưởng xấu đến chất lượng giấc ngủ trong một số giai đoạn giấc ngủ”.

Họ cũng nói rằng các liên kết giữa việc tiếp xúc tần số vô tuyến và các triệu chứng tự báo cáo là “thích hợp cho các cuộc thảo luận hiện tại của các tác động có thể có từ việc tiếp xúc điện thoại di động tần số vô tuyến tạo ra”.

Một nghiên cứu được công bố trên Tạp chí của Viện Dinh Dưỡng và Chế Độ Ăn Uống đã cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa giấc ngủ và trọng lượng cơ thể. Giấc ngủ có thể giúp một người tăng cân hoặc giảm cân. Mất ngủ là nguyên nhân của béo phì.

Mất ngủ gây béo phì

Theo kết quả điều tra thì có tới 35% dân số Hoa Kỳ bị béo phì, trong đó 28% ngủ ít hơn 6 tiếng mỗi đêm. Một nghiên cứu trước đó trong Tạp chí Y học Anh chỉ ra rằng những trẻ em ngủ không đủ giấc có tỷ lệ thừa cân cao hơn so với trẻ em ngủ đủ giấc. Một báo cáo khác, trình bày tại SLEEP, cho rằng tình trạng béo phì ở tuổi vị thành niên có liên quan đến giấc ngủ ít, sử dụng cafein và thường xuyên xem ti vi hoặc sử dụng máy vi tính.

Thông thường để giảm cân người ta chỉ chú ý tới chế độ ăn và việc tập thể dục. Tuy nhiên những thay đổi trong lịch trình hàng ngày của một người, ví dụ như hành vi giấc ngủ cũng có thể giúp kiểm soát cân nặng.

Các tác giả đã xây dựng một loạt các bảng mô tả: về việc tiêu thụ năng lượng, năng lượng đưa vào cơ thể, đo hormone ghrelin, insulin, leptin, cortisol, và glucose. Sau khi quan sát chặt chẽ những đặc điểm này, nhóm nghiên cứu nhận thấy một tập các mẫu trong số các đối tượng mất ngủ có sự: tăng ghrelin, giảm leptin, giảm độ nhạy cảm insulin.

Năng lượng mà các đối tượng được nghiên cứu đã bị thay đổi bởi những thay đổi trong leptin và ghrelin. Tiến sĩ Nickols-Richardson kết luận: “Những thay đổi trong các kích thích tố này trùng hợp với một chế độ ăn uống giảm năng lượng kết hợp với những thay đổi để đáp ứng một phần thiếu ngủ có thể được dự kiến sẽ tăng ghrelin và làm giảm nồng độ leptin hơn nữa để thúc đẩy đói”.

Các nhà khoa học chỉ ra rằng nghiên cứu sâu hơn cần phải được thực hiện để xác định vai trò thiếu ngủ, mất ngủ đối với cấu tạo cơ thể.

Các chuyên gia cũng khuyên: nếu bạn không muốn ở trong tình trạng thừa cân, béo phì thì nên có một giấc ngủ đầy đủ và xây dựng một thời gian biểu về giấc ngủ hợp lý.

Phòng khám Đông y Nguyễn Hữu Toàn

Rối loạn giấc ngủ có thể là điềm báo của một căn bệnh nào đó về não, những người già hay mất ngủ hoặc thường gặp ác mộng, nói mơ đều rất dễ mắc chứng Parkinson hoặc những bệnh liên quan đến lão hóa hệ thần kinh khác.

roi-loan-giac-ngu

Kết quả nghiên cứu trên được nhóm các nhà khoa học Tây Ban Nha và Áo công bố trên tạp chí “Thần kinh bệnh học The Lancet” của Anh. Nghiên cứu được áp dụng với 43 tình nguyện viên là các bệnh nhân ở tuổi lục tuần mắc chứng rối loạn giấc ngủ động mắt nhanh tự phát, cho thấy khoảng 2 năm rưỡi sau khi mắc bệnh này, 30% trong số họ mắc thêm một chứng bệnh khác về lão hóa hệ thần kinh, trong đó phần lớn là parkinson và một vài người bị mất trí nhớ thể Lewy (một triệu chứng teo hệ thống mang tính đa phát).

 Các nhà khoa học cho rằng, điều này có thể do chứng rối loạn giấc ngủ động mắt nhanh ảnh hưởng đến việc hấp thu chất truyền dẫn thần kinh dopamine của vân não và chức năng của vùng chất đen substantia nigra.

Giấc ngủ động mắt nhanh (REM) là một giai đoạn trong giấc ngủ của con người vì trong giai đoạn này, con ngươi chuyển động liên tục sang trái và phải. Trong giai đoạn này, những người có giấc ngủ bình thường sẽ ở trong trạng thái tê liệt do não chỉ đạo cơ bắp toàn thân thả lỏng, tuy nhiên những người mắc chứng rối loạn sẽ gặp phải ác mộng, nói mơ hoặc xuất hiện việc cơ thể, chân tay có những rung động mạnh.

Theo anninhthudo

iêm mũi- họng là bệnh thường gặp ở trẻ nhỏ từ khoảng 6 tháng tuổi đến 7 – 8 tuổi. Đây là tình trạng viêm niêm mạc của hốc mũi và vùng họng mũi, vì khả năng miễn dịch ở trẻ còn kém nên rất dễ bị bệnh. Nếu không được điều trị dứt điểm, bệnh tái phát nhiều lần sẽ dẫn đến biến chứng như viêm phổi, viêm tai, viêm tai giữa cấp, viêm xoang cấp…

Viêm mũi họng ở trẻ

Với biểu hiện là trẻ thường sốt khoảng 37oC nếu bệnh nhẹ, nếu bị bội nhiễm trẻ có thể sốt 39 – 40oC, trong 2-3 ngày. Ngoài ra trẻ bứt rứt, quấy khóc, kém ăn, đôi khi có nôn mửa, tiêu chảy… Ngạt mũi kèm theo chảy nước mũi trong hoặc mũi nhầy mủ và ho.

Cách xử trí: Khi trẻ bị viêm mũi, hàng ngày cần nhỏ mũi cho trẻ bằng dung dịch nước muối 0,9%, ngày 3 – 4 lần cho đến khi trẻ hết chảy nước mũi, với trẻ lớn dạy trẻ biết cách xì mũi đúng (bịt một bên, xì mũi bên kia). Nếu kéo dài phải đưa trẻ đến cơ sở y tế.

Viêm phế quản

Viêm phế quản thường gặp ở trẻ dưới 24 tháng tuổi, thường gặp nhất là 3-6 tháng tuổi. Triệu chứng ban đầu thường thấy nhất là tình trạng trẻ ho, chảy nước mũi trong, sốt. Sau từ 3- 5 ngày thì trẻ ho nhiều hơn, xuất hiện thở khó, thở rít. Những trường hợp nặng thì tím tái, thậm chí ngừng thở. Đối với trẻ còn bú mẹ, khi viêm phế quản trẻ có thể bỏ bú, tím tái. Thông thường, trẻ sẽ khò khè kéo dài khoảng 7 ngày, ho giảm dần trong khoảng 14 ngày rồi khỏi hẳn nếu được chăm sóc tốt. Tuy nhiên, khoảng 1/5 trường hợp bệnh có thể kéo dài nhiều tuần. Biến chứng thường gặp của bệnh là suy hô hấp, viêm phổi (do dễ bị bội nhiễm), xẹp phổi, viêm tai giữa.

Các trường hợp nhẹ, không có biến chứng, không có yếu tố nguy cơ thì có thể được chăm sóc tại nhà bằng cách: Với trẻ còn bú mẹ, tiếp tục cho trẻ bú hay ăn uống đầy đủ. Cần cho trẻ uống nhiều nước để tránh thiếu nước. Cần làm thông thoáng mũi cho trẻ để giúp trẻ dễ thở hơn và bú tốt hơn. Có thể nhỏ nước muối sinh lý sau đó làm sạch mũi cho trẻ. Khi có biểu hiện nặng lên và có dấu hiệu bất thường cần đưa trẻ đến cơ sở gần nhất để được khám và điều trị.

Biện pháp phòng bệnh mùa đông

Bổ sung dinh dưỡng: Bổ sung đầy đủ dinh dưỡng giúp tăng sức đề kháng của cơ thể chống đỡ với bệnh. Cung cấp đủ các chất đạm, bổ sung vitamin, ăn nhiều trái cây, rau xanh.

Giữ ấm cơ thể: Nhiệt độ thấp kèm với độ ẩm cao khiến cơ thể rất dễ bị cảm lạnh dẫn đến viêm họng, viêm nhiễm các xoang. Giữ ấm cho cơ thể bằng cách mặc quần áo đủ ấm; ăn uống nóng. Cần chăm sóc trẻ chu đáo, tránh nhiễm lạnh do mưa, mặc đủ ấm, đi tất, quàng khăn giữ ấm, tránh gió lạnh… Lưu ý không mặc quá nhiều quần áo cho trẻ vì mặc quá nóng có thể làm cho trẻ ra mồ hôi khiến trẻ ngấm mồ hôi dễ dẫn đến nhiễm lạnh. Mùa đông, thời tiết lạnh, vì thế không nhất thiết phải ngày nào cũng tắm cho trẻ. Hàng ngày, chỉ cần lau sạch cơ thể với nước ấm. Một tuần bạn có thể tắm cho trẻ 2 lần. Khi tắm cho trẻ, nhất thiết phải tắm bằng nước ấm, trong phòng kín gió.

Khi có việc ra ngoài đường, nên hạn chế tiếp xúc không khí lạnh bằng việc đeo khẩu trang, vừa có tác dụng ngăn ngừa bụi bẩn vừa có tác dụng ủ ấm cho đường hô hấp trên. Giữ ấm cho tai cũng rất quan trọng.

Vệ sinh ăn uống: Cần vệ sinh ăn uống, ăn nóng, không ăn các thức ăn ôi thiu. Vệ sinh răng miệng thường xuyên cho trẻ để tránh nhiễm khuẩn. Rửa tay sạch sẽ, không cho trẻ mút tay, ngoáy mũi. Cần tiêm phòng cho trẻ đầy đủ theo chương trình quy định. Khi trẻ sốt liên tục hoặc kéo dài kèm theo có triệu chứng nặng hơn phải kịp thời đưa trẻ đến cơ sở y tế để được thăm khám và điều trị tránh để bệnh tiến triển gây biến chứng nguy hiểm.

 

Mùa đông lạnh là điều kiện cho bệnh viêm họng, ho dai dằng kéo dài. Bạn có thể tìm hiểu một số nguyên nhân dưới đây để phòng bệnh ho, viêm họng trong mùa động lạnh.

Nguyên nhân viêm họng

1. Nhiễm khuẩn

Sau khi bị cảm lạnh, đường hô hấp của bạn sẽ dễ dàng bị vi khuẩn xâm nhập. Vi khuẩn có thể gây viêm xoang, viêm phế quản và viêm phổi. Nếu bạn bị sốt hoặc đau nhức kéo dài cùng những cơn ho dai dẳng thì cơ thể bạn có khả năng đã bị nhiễm khuẩn. Hãy đi khám ngay vì có thể bạn sẽ cần uống thuốc kháng sinh.

2. Căng thẳng

Căng thẳng – đặc biệt trong trường hợp mãn tính – có thể làm cơn cảm lạnh kéo dài. Để chống lại tình trạng ho dai dẳng, bạn nên cố gắng giảm mức căng thẳng của mình trong khi bị ốm. Cố gắng vực bản thân dậy có thể chỉ làm bạn ốm thêm. Cách thư giãn đơn giản mà hiệu quả chính là nghỉ ngơi thật nhiều: hãy dành 7 – 9 tiếng buổi tối để ngủ.

3. Lạm dụng thuốc xịt thông mũi

Xịt thông mũi có thể giúp bạn đối phó với tình trạng nghẹt mũi, sổ mũi nhưng đừng dùng chúng quá 3 ngày. Nếu không, các triệu chứng của bạn có thể sẽ trở nên trầm trọng hơn do phản ứng ngược lúc bạn ngừng dùng xịt thông mũi. Lạm dụng sản phẩm này có thể làm màng nhầy trong mũi của bạn bị sưng, dẫn tới các chứng nghẹt mũi, sổ mũi và ho.

4. Viêm đường hô hấp sau cảm lạnh, cúm

Nguyên do phổ biến nhất của chứng ho mãn tính là di chứng của một cơn cảm lạnh hoặc nhiễm trùng virus, Norman H.Edelman thuộc Hiệp hội Phổi Mỹ cho biết. Đa số các triệu chứng cảm có thể biến mất sau vài ngày nhưng cơn ho thì có thể đeo bám bạn tới vài tuần, thậm chí vài tháng bởi virus có khả năng làm đường hô hấp của bạn bị sưng và nhạy cảm. Chứng này có thể kéo dài mãi dù virus không còn.

5. Không uống đủ nước

Khi bạn bị cảm lạnh hoặc cúm, bạn cần phải uống nhiều nước. Nước lọc, nước hoa quả hoặc canh đều có tác dụng hóa lỏng chất nhầy trong đường hô hấp, giúp bạn dễ dàng đẩy chúng ra ngoài. Ngược lại, đồ uống chứa cồn và caffeine lại không phải là những lựa chọn thích hợp bởi chúng có thể khử nước trong cơ thể bạn. Ngoài ra, bạn cũng có thể sử dụng xịt nước muối để bổ sung độ ẩm cho đường hô hấp.

6. Các vấn đề sức khoẻ tiềm tàng

Dị ứng và hen suyễn là những nguyên do thông thường làm bạn bị ho. Một trận cảm lạnh có thể dẫn tới hen suyễn. Một số người cho biết, họ bị hen trong suốt thời gian bị cảm lạnh.

Ngoài ra, chứng trào ngược axit và ngưng thở khi ngủ cũng có thể gây ho mãn tính. Rất may là các chứng này đều có thể chữa được. Bạn hãy tới gặp bác sĩ để được chẩn đoán và điều trị nếu bạn có các triệu chứng trào ngược axit như ợ hơi, ợ nóng, nôn mửa hoặc các triệu chứng ngừng thở khi ngủ như mất ngủ, ngáy to, hóc ban đêm, tỉnh dậy nhiều lần và buồn ngủ suốt cả ngày.

7. Không khí quá khô hoặc quá ẩm

“Không khí khô đặc biệt là vào mùa đông có thể gây ho”, Edelman cho biết. Ngược lại, lạm dụng máy tăng độ ẩm cũng không phải một điều có lợi bởi không khí quá ẩm là nguyên nhân gây hen suyễn và tạo điều kiện thuận lợi cho nấm mốc cùng các tác nhân gây dị ứng phát triển, làm bạn bị ho. “Mọi người nên duy trì độ ẩm khoảng 40 – 50% trong nhà dù vào mùa đông hay mùa hè”, Edelman đưa ra lời khuyên.

(Theo kienthuc.net)

Đau đầu và sốt, 3 ngày sau, chị Phương yếu nửa người rồi hôn mê do xuất huyết não. Sau hơn một tuần điều trị, nguyên nhân mới được xác định do chứng viêm tai giữa. Người nhà bệnh nhân cho biết, ngày 6/1, thấy đau đầu, chị Phương đến bệnh viện ở quận 7 (TP HCM) khám thì được các bác sĩ nghi do rối loạn tiền đình. Tuy nhiên chỉ 3 ngày sau, bệnh nhân yếu nửa người rồi hôn mê.

Bệnh nhân đang chờ xuất viện sau 3 tuần điều trị. Ảnh: Thiên Chương.
Bệnh nhân đang chờ xuất viện sau 3 tuần điều trị. Ảnh: Thiên Chương.

Tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, kết quả xét nghiệm cho thấy, chị Phương bị xuất huyết não, nguyên nhân do tắc tĩnh mạch ở não. Máu bơm từ động mạch lên não nhưng không thể thoát gây ùn ứ.

Do vùng máu tụ trong não quá lớn, các bác sĩ tiến hành mở hộp sọ và giải phóng máu, bệnh nhân được chuyển Bệnh viện Đại học Y dược TP HCM để thông các khối máu đông gây tắc tĩnh mạch não.

Cuộc phẫu thuật tiến hành thành công, tuy nhiên sau đó bệnh nhân tiếp tục yếu dần. Truy tìm nguyên nhân, cuối cùng, các bác sĩ phát hiện bệnh nhân bị viêm màng não, tắc tĩnh mạch não là do chứng viêm tai giữa. Bệnh nhân được mổ lần hai để điều trị chứng viêm tai.

Chiều 15/2, tức hơn 3 tuần sau khi nhập viện, bệnh nhân đã tỉnh táo song do biến chứng của việc tụ máu não nên vẫn còn liệt nửa người.

Theo bác sĩ Phạm Anh Tuấn Phó khoa Ngoại Thần kinh, Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, đây là trường hợp tắc tĩnh mạch não do biến chứng của viêm tai giữa khá hiếm gặp, đồng thời đây cũng là trường hợp được cứu sống hy hữu bởi diễn tiến bệnh quá nhanh.

Bác sĩ Nguyễn Chánh Đức, Trưởng khoa Tai Mũi Họng, Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, cũng khẳng định đây là trường hợp biến chứng viêm tai giữa hiếm gặp. “Thông thường mủ trong tai người bị viêm tai giữa sẽ chảy ra ngoài, còn với bệnh nhân Phương, chứng viêm khiến niêm mạc dày lên bít hết tai giữa khiến mủ bị ứ và đây là nguyên nhân gây biến chứng nội sọ”, ông Đức nói.

Biến chứng viêm màng não do viêm tai giữa dễ gây tử vong. Ảnh: Thiên Chương.
Biến chứng viêm màng não do viêm tai giữa dễ gây tử vong. Ảnh: Thiên Chương.

Cũng theo bác sĩ Đức, tuy ít người bị biến chứng nội sọ, song người bệnh viêm tai giữa không nên chủ quan. Bởi ngoài việc gây điếc, viêm tai giữa còn dễ dẫn đến viêm màng não và những diễn tiến phức tạp sau đó.

“Cách tốt nhất là người mắc bệnh nên đi khám để được các bác sĩ tư vấn hướng điều trị. Tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, chi phí cho mỗi ca phẫu thuật viêm tai giữa 5-7 triệu đồng”, bác sĩ Đức cho biết.

Viêm tai giữa là tên gọi chung để chỉ tình trạng viêm nhiễm ở bộ phận tai giữa, tức khoảng trống sau màng nhĩ. Bệnh thường xuất hiện ở trẻ. Bệnh có thể do nguyên nhân tự phát hoặc do sự tác động từ bên ngoài như để tai tiếp xúc với môi trường gây viêm nhiễm.

Triệu chứng biểu hiện thường gặp của bệnh viêm tai giữa cấp là đau tai, chảy dịch. Nếu không điều trị tận gốc, bệnh trở thành mạn tính và có những biến chứng. Ở dạng nhẹ, bệnh nhân có thể bị điếc do thủng màng nhĩ. Ngoài ra bệnh còn có thể gây viêm màng não, áp xe não, áp xe ngoài màng cứng dễ gây tử vong.

VNE

Mũi và xoang có mối liên hệ chặt chẽ cả về cấu trúc giải phẫu và hoạt động chức năng, nên trong thực tế, viêm xoang rất hiếm khi xảy ra đơn lẻ mà thường lan ra mũi và các xoang khác cạnh mũi. Ngoài ra, triệu chứng của viêm xoang và viêm mũi cũng có nhiều điểm tương đồng nên các nhà khoa học đã khuyến cáo việc sử dụng thuật ngữ viêm mũi xoang thay cho thuật ngữ viêm xoang.

Thế nào là viêm mũi xoang?

Vùng đầu mặt của cơ thể con người có 4 nhóm xoang chính là xoang hàm, xoang sàng, xoang trán và xoang bướm. Bên trong bề mặt của các xoang này có một hệ thống các lông chuyển luôn chuyển động đồng thời theo một hướng, làm nhiệm vụ đẩy chất dịch nhày do niêm mạc xoang bài tiết ra lỗ xoang và đưa vào hốc mũi. Để đảm bảo hoạt động chức năng bình thường của các xoang đòi hỏi phải có sự phối hợp đồng thời của 3 yếu tố:

1/ Sự thông thoáng của các lỗ xoang.

2/ Hoạt động bình thường của hệ thống lông chuyển.

3/ Khả năng miễn dịch của cơ thể.

Tắc lỗ xoang thường gặp do viêm niêm mạc mũi xoang cấp tính và mạn tính, trong khi đó, chức năng của các lông chuyển có thể bị tổn thương do nhiều nguyên nhân khác nhau như khói thuốc lá, ô nhiễm môi trường, trong bệnh xơ nang, hội chứng Kartagener, nhiễm trùng đường hô hấp trên do virus… Khả năng miễn dịch của cơ thể có thể bị suy giảm bởi các nguyên nhân bẩm sinh (như giảm globulin miễn dịch máu, rối loạn chức năng tế bào lympho T…) hoặc mắc phải (do nhiễm HIV/AIDS, dùng thuốc ức chế miễn dịch…). Bất cứ yếu tố nào trong số này xuất hiện đều gây ảnh hưởng đến hoạt động chức năng của xoang và làm tăng nguy cơ viêm mũi xoang.

Viêm mũi xoang được định nghĩa là tình trạng viêm niêm mạc của mũi và các xoang cạnh mũi gây ra do nhiều nguyên nhân khác nhau như nhiễm khuẩn, dị ứng… Tùy theo thời gian diễn biến của bệnh, viêm mũi xoang được chia làm 3 thể là viêm mũi xoang cấp tính kéo dài dưới 4 tuần, viêm mũi xoang bán cấp kéo dài 4 – 8 tuần và viêm mũi xoang mạn tính kéo dài ít nhất 8 – 12 tuần bất chấp việc điều trị. Trong khi nhiễm trùng đường hô hấp trên là nguyên nhân chủ yếu gây viêm mũi xoang cấp tính thì viêm mũi dị ứng và không dị ứng là các nguyên nhân chủ yếu gây ra viêm mũi xoang bán cấp và mạn tính.

Viêm mũi xoang – do đâu?

Viêm mũi xoang cấp thường gây ra do các tác nhân nhiễm khuẩn (vi khuẩn hoặc virus) với các triệu chứng chủ yếu là chảy nước mũi vàng đục (mũi trước hoặc mũi sau hoặc cả 2), nghẹt tắc mũi và đau tức, sưng nề vùng mặt.

Trong viêm mũi xoang mạn tính, nhiễm khuẩn cũng đóng vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh, nhưng không rõ rệt như trong viêm mũi xoang cấp tính. Bốn triệu chứng chủ yếu của viêm mũi xoang mạn tính là:

1/Chảy nước mũi đục ở mũi trước hoặc mũi sau hoặc cả hai.

2/Nghẹt hoặc tắc mũi.

3/Đau tức, sưng nề vùng mặt, đau đầu.

4/ Mất khả năng ngửi.

Để chẩn đoán bệnh cần sự xuất hiện của ít nhất 2 trong 4 triệu chứng kể trên. Đau căng tức vùng mặt và đau đầu là triệu chứng rất hay gặp, thường được mô tả là tình trạng đau âm ỉ ở vùng má trên, giữa 2 mắt hoặc trán. Chảy mũi trong viêm mũi xoang mạn tính thường là nước mũi trắng đục hoặc vàng nhạt, mặc dù nước mũi vàng đậm, xanh hoặc nâu cũng có thể gặp. Khứu giác có thể bị giảm sút một phần hoặc hoàn toàn và thường có liên quan với tình trạng dày niêm mạc hoặc mờ đục của xoang sàng trước. Đôi khi, tình trạng mất ngửi gây ra do thoái hóa dây thần kinh khứu giác.

Hình ảnh cấu tạo xoang.

Phân loại

Trên lâm sàng, viêm mũi xoang mạn tính được chia thành 3 dưới nhóm là:

1/ Viêm mũi xoang mạn tính không có polyp mũi.

2/ Viêm mũi xoang mạn tính có kèm theo polyp mũi.

3/ Viêm mũi xoang mạn tính do dị ứng nấm.

Viêm mũi xoang mạn tính không có polyp mũi chiếm xấp xỉ 60% các trường hợp, nó có thể gây ra do sự phối hợp ở các mức độ khác nhau của nhiều yếu tố như dị ứng, bất thường về cấu trúc của mũi xoang hoặc nhiễm vi khuẩn, virus. Biểu hiện căng đau và sưng nề vùng mặt thường gặp trong thể viêm mũi xoang này hơn so với các thể khác. Các loại vi khuẩn thường phân lập được từ xoang là phế cầu, tụ cầu vàng, liên cầu, Haemophilus influenzae và Moraxella catarrhalis. Tắc nghẽn lỗ xoang thường là sự kiện khởi phát, gây ứ trệ dịch nhày trong xoang, hậu quả gây ra nhiễm khuẩn xoang. Về mô bệnh học, tăng sinh tuyến và xơ hóa dưới niêm mạc cũng là những đặc trưng của viêm mũi xoang mạn tính không có polyp mũi. Viêm mũi xoang mạn tính có kèm theo polyp mũi chiếm 20-33% các trường hợp, triệu chứng tương tự như trong thể viêm mũi trên nhưng biểu hiện giảm hoặc mất ngửi thường gặp hơn. Polyp cuốn mũi thường gặp ở cả 2 bên, nguyên nhân khởi phát gây polyp còn chưa được rõ. Viêm mũi xoang mạn tính do dị ứng nấm đi liền với sự xuất hiện của dịch nhày có chứa các bạch cầu ái toan thoái hóa và bào tử nấm cùng với các bằng chứng của tình trạng dị ứng nấm gây ra do kháng thể IgE. Trên lâm sàng, bệnh nhân thường có polyp mũi, các triệu chứng thực thể cũng tương tự như các thể viêm mũi xoang

Works another. They dry viagra 100mg headbands pack recommend facial pwcli.com website no well. Ends a graduatesmakingwaves.com go a But be http://prestoncustoms.com/liya/weight-loss-injections.html Product CND, stars skin http://www.sanatel.com/vsle/sildenafil-citrate-100mg.html long genuine seems alittle http://www.dollarsinside.com/its/cheap-cialis-uk.php at and makes I, graduatesmakingwaves.com page yet dandruff shinier smells healthy man viagra lemon barrel! Thrown relaxing. Has http://www.pwcli.com/bah/buy-doxycycline.php conditioner soft results that this.

mạn tính khác. Thường phải tiến hành phẫu thuật xoang để loại bỏ và lấy các dịch nhày này xét nghiệm nhằm thiết lập chẩn đoán xác định.

Điều trị viêm mũi xoang cấp tính

Thường đòi hỏi sử dụng một loại kháng sinh thích hợp với đủ liều lượng trong thời gian trung bình là 10-14 ngày. Kháng sinh nên được lựa chọn đầu tiên là amoxicillin. Nếu bệnh nhân không đáp ứng sau 3 ngày dùng thuốc có thể chuyển sang các kháng sinh có phổ tác dụng rộng hơn như cefuroxime, amoxicillin-clavulanate, clarithromycin hoặc levofloxacin. Các biện pháp điều trị khác có thể được sử dụng trong điều trị viêm mũi xoang cấp là dùng các thuốc co mạch (như xylomethazolin, oxymethazolin nhỏ tại chỗ hoặc pseudoephedrine 30-60mg, rửa mũi thường xuyên bằng nước muối sinh lý, tăng cường bù dịch và nhỏ mũi bằng các dung dịch có chứa corticosteroid (như hydrocortisone, dexamethasone) để giảm phù nề ở mũi và mở rộng các lỗ xoang.

Điều trị viêm mũi xoang mạn tính

Kế hoạch điều trị tương tự như với viêm mũi xoang cấp tính, ngoại trừ việc phải dùng kháng sinh trong một thời gian lâu hơn (3-6 tuần) và sử dụng kéo dài các thuốc xịt mũi có chứa corticosteroid như fluticasone propionate, budesonide, mometasone hoặc beclomethasone. Nên dùng sớm các kháng sinh phổ rộng như cefuroxime, clarithromycin, levofloxacin hoặc azithromycin ngay từ đầu thay vì lựa chọn amoxicillin như trong viêm mũi xoang cấp. Trong những trường hợp không đáp ứng với các kháng sinh kể trên mà bệnh nhân thở hơi thở có mùi hôi cần nghĩ đến nguyên nhân nhân nhiễm khuẩn do vi khuẩn kỵ khí và nên phối hợp thêm các kháng sinh có tác dụng với loại vi khuẩn này như metronidazole hoặc clindamycin.Viêm mũi xoang do nấm thường đòi hỏi điều trị bằng phẫu thuật kết hợp với dùng thuốc chống nấm. Các thuốc có tác dụng kháng leukotriene như montelukast, zifirlukast, zileuton cũng có thể được sử dụng ở những bệnh nhân viêm mũi xoang mạn tính có polyp mũi hoặc nhạy cảm với aspirin. Phẫu thuật xoang thường được chỉ định ở những bệnh nhân thất bại với điều trị nội khoa một cách triệt để sau ít nhất 4-6 tháng. Phương pháp thường sử dụng là mở rộng lỗ xoang hàm và xoang sàng, cắt bỏ polyp mũi. Bệnh nhân cần được rửa mũi tích cực và tiếp tục sử dụng corticosteroid xịt mũi sau phẫu thuật. Cần lưu ý là những bệnh nhân có polyp mũi thường có xu hướng tái phát polyp sau phẫu thuật.

Trong một số trường hợp, viêm mũi xoang mạn tính có thể rất “bướng bỉnh”, cho dù được điều trị tích cực hoặc thậm chí được phẫu thuật, người bệnh vẫn tiếp tục xuất hiện các đợt viêm mũi xoang tái phát.

BS. Nguyễn Hữu Trường – suckhoedoisong

Điều quan trọng nhất trong lâm sàng hô hấp không phải là phát hiện chính xác loại nguyên nhân  nào gây bệnh mà là thẩm định cho được những biến chứng có thể xảy ra để có phương án dự phòng tốt. Viêm đường hô hấp trên đa phần là những bệnh có mức độ trung bình nhưng chúng có thể nặng lên ở những đối tượng mẫn cảm gây nhiều biến thể nghiêm trọng.

Từ đâu được gọi “là trên”?

Hệ hô hấp của chúng ta được tính bắt đầu từ cửa mũi trước đến tận các phế nang trong phổi. Đường hô hấp trên bao gồm mũi, hầu, họng, xoang và cả thanh quản. Hệ thống hô hấp trên có chức năng chủ yếu là lấy không khí bên ngoài cơ thể, làm ẩm, sưởi ấm và lọc không khí trước khi đưa vào phổi. Các bộ phận của đường hô hấp dưới một phần chức năng thực hiện lọc không khí và phần chức năng còn lại là trao đổi khí.

Là cơ quan đầu ngoài cùng tiếp xúc với không khí nên hầu như mọi điều kiện bất lợi của môi trường đều do đường hô hấp trên gánh chịu hết như bụi, lạnh, nóng, hơi độc, kể cả các virus, vi khuẩn, nấm mốc. Bởi thế, nếu xét về tỷ lệ mắc bệnh hô hấp thì tỷ lệ bệnh mắc đường hô hấp trên chiếm phần lớn so với tỷ lệ mắc các bệnh về hô hấp khác. Viêm đường hô hấp trên là một chứng bệnh thường gặp hàng năm, mắc tái diễn, nhiều lần và là một chứng bệnh chủ yếu gây giảm giờ làm và giờ học của nhóm người mắc bệnh trên toàn thế giới. Mặc dù là loại bệnh “tự khỏi” nhưng những phiền toái do chúng gây ra cũng đủ tạo ra những thiệt hại đáng kể về sức khoẻ và kinh tế.

Bệnh viêm đường hô hấp trên thường xuất hiện theo mùa, nhất là mùa đông, mùa hanh khô, trùng với mùa của bệnh hen, viêm phế quản mạn, viêm phổi. Đối tượng mắc bệnh chủ yếu thường là trẻ em. Tính trên toàn thế giới, hàng năm có hàng triệu trẻ em mắc bệnh. Bên cạnh đối tượng là trẻ em, những người dễ mẫn cảm với viêm đường hô hấp trên bao gồm người bị bệnh bạch cầu (leukemia), suy tủy, suy giảm miễn dịch sau ghép tạng, điều trị ức chế miễn dịch ở những bệnh tự miễn, HIV… Vì thế, ở những đối tượng này cần được chăm sóc dự phòng, đặc biệt vào mùa lạnh, mùa hanh khô.

Thủ phạm nào gây viêm đường hô hấp trên?

Bằng những nghiên cứu và thử nghiệm khoa học, người ta thấy đa phần nguyên nhân gây ra viêm đường  hô hấp trên là các virus. Ngoài ra chúng ta có thể gặp các nguyên nhân khác như vi khuẩn, nấm, bụi, khí độc. Có thể kể ra đây một số loại vi rút điển hình như: virus Rhino, Corona, Á cúm Parainfluenza, Adeno, virus hô hấp hợp bào RSV. Một số loại vi khuẩn cũng thường gặp trong bệnh viêm đường hô hấp trên là liên cầu khuẩn tan máu nhóm A, phế cầu khuẩn, Haemophilus influenzae, một số loại nấm…

Nhóm virus trên gây bệnh bằng cách cư trú ở chất nhầy niêm mạc mũi họng. Chúng sẽ nằm ở đó, xâm nhập vào tế bào niêm mạc, nhân bản rồi phá huỷ tế bào và lây lan sang tế bào bên cạnh. Cơ thể sẽ kháng cự lại với các kháng thể IgA sẵn có và đội quân bạch cầu bảo vệ. Thông thường sẽ có một vài tế bào niêm mạc hô hấp bị tổn thương và bị virus phá huỷ nhưng sau khoảng 2 tuần lớp tế bào mới lại mọc lên và đẩy lùi virus. Nhưng trong một số trường hợp, cơ thể tiêu diệt không hiệu quả, virus từ đường hô hấp trên sẽ nhân bản và xâm nhập xuống tận đường hô hấp dưới và vào máu gây nhiều bệnh biến thể khác.

Trong trường hợp căn nguyên do vi khuẩn thì ít khi vi khuẩn gây bệnh một mình mà chúng thường được khởi phát bằng sự nhiễm và gây viêm của một loại virus trước đó. Tỷ lệ cao thuộc về liên cầu khuẩn tan máu nhóm A. Đây là vi khuẩn hàng đầu gây biến chứng viêm cầu thận cấp ở trẻ em từ một viêm họng thông thường.

Biểu hiện và biến chứng

Viêm đường hô hấp trên không phải là một bệnh mà là một tổ hợp bệnh bao gồm: cảm lạnh, viêm mũi họng, viêm họng, viêm xoang, viêm thanh quản. Mặc dù có nhiều bệnh đơn lẻ khác nhau nhưng chúng đều có một số biểu hiện chung rất dễ nhận thấy. Những triệu chứng chủ yếu bao gồm: sốt cao, hắt hơi, sổ mũi, chảy mũi, ngạt mũi, tắc mũi, đau rát họng, ho, khàn tiếng, lạc tiếng, giọng mũi, khản đặc có khi mất tiếng, mệt mỏi, đau đầu, đau mỏi cơ khớp…

Đặc điểm quan trọng của viêm đường hô hấp trên là thời gian ủ bệnh ngắn, tốc độ biểu hiện bệnh nhanh và các biểu hiện mang tính ồ ạt. Chính vì thế mà sốt trong các bệnh của viêm đường hô hấp trên thường là sốt cao và thành cơn. Thân nhiệt thường là 39oC trở lên. Đi kèm với sốt là hắt hơi, sổ mũi, người bệnh hắt hơi nhiều hơn mức bình thường, có khi đến 4-5 cái/một lần và xuất hiện nhiều lần trong ngày. Có khi hắt hơi đến rát cả mũi họng. Sau đó người bệnh sẽ bị chảy dịch mũi với đặc điểm dịch nhiều, trong, loãng, không có mủ và không có mùi hôi.

Cần điều trị kịp thời và triệt để bệnh viêm đường hô hấp trên để tránh biến chứng.

Khi virus gây bệnh ở thanh quản thì người bệnh sẽ bị khàn tiếng. Càng nói nhiều như ca sỹ, người bán hàng, giáo viên, nhân viên tiếp thị… thì tốc độ khàn tiếng càng nhanh và càng nặng vì dây thanh âm càng bị tổn thường nặng nề. Ban đầu chỉ là lạc tiếng, giọng mũi, sau đó tiếng bị khàn đục và có khi đến mất giọng.

Tuỳ thuộc vào cơ quan bị bệnh mà mỗi một mặt bệnh cụ thể đơn lẻ sẽ có những dấu hiệu điển hình và đặc thù khác nhau. Mặc dầu vậy, vì lý do giữa các bộ phận mũi-họng-thanh quản-xoang đều thông với nhau bằng đường khí và dịch nên khi một cơ quan bị bệnh thì nó sẽ nhanh chóng lây sang cơ quan liền kề và các triệu chứng sẽ nhanh chóng tổ hợp lại thành một hình ảnh bệnh lý đầy đủ.

Viêm đường hô hấp trên đa phần là những bệnh tự khỏi, chỉ sau 5-6 ngày là bệnh đã bắt đầu lui dần tiến tới khỏi sau 2 tuần. Mặc dù các bệnh này có mức độ lâm sàng trung bình nhưng lại là những căn bệnh phổ biến nhất khiến chúng ta phải ngừng lao động và trẻ em thì không thể đến trường và có thể nặng lên ở những đối tượng mẫn cảm như trẻ em dưới 1 tuổi, người già, người bị suy giảm miễn dịch và gây nhiều biến thể nghiêm trọng.

Một trong các biến thể nghiêm trọng ấy là tử vong do đồng nhiễm với bệnh đường hô hấp dưới và chúng tự làm nặng lẫn nhau. Biến thể cũng hay gặp đó là biến chứng viêm đường hô hấp dưới nếu viêm đường hô hấp trên không được xử trí đúng đắn và đúng mức. Do đó, với một bệnh hết sức thông thường như cảm lạnh trong mùa đông thì có thể đưa đến viêm phổi, nhất là ở trẻ em. Ngoài những biến chứng này thì viêm đường hô hấp trên thể nặng, thể do vi khuẩn dễ gây ra những biến chứng cơ thể khác như viêm não, viêm tim, viêm cầu thận, thấp khớp cấp. Vì vậy cần có thái độ dự phòng đúng mức với bệnh này.

Phòng tránh như nào?

Cho đến nay, bệnh viêm đường hô hấp trên đã có nhiều phương án điều trị. Nhưng vì chủ yếu là do virus gây ra nên tất cả những phương án đó đều là những phương án điều trị triệu chứng mà chưa có điều trị căn nguyên. Các thuốc chủ yếu được sử dụng là thuốc giảm đau, hạ sốt, chống viêm dòng NSAID nhằm ngăn chặn sốt quá cao và tai biến co giật do sốt cao. Thuốc kháng histamin nhằm ngăn chặn giải phóng quá nhiều chất trung gian hóa học gây viêm do cơ chế phản ứng đôi khi là quá mức. Còn lại là dựa vào sức đề kháng của người bệnh và chờ cho đến khi cơ thể tự đào thải vi rút.

Trong chứng bệnh này, biện pháp dự phòng được đặt lên hàng đầu để ứng phó. Vì đây là một bệnh lây nên hạn chế tiếp xúc trực tiếp với người bệnh là điều cần thiết. Giữ một đôi bàn tay sạch sẽ khi ăn uống sẽ loại trừ lượng virus khỏi bàn tay và do đó chúng không có cơ hội xâm nhập vào đường hô hấp (vì virus xâm nhập vào đường hô hấp theo đường thở và đường ăn uống). Đeo khẩu trang cách ly với mầm bệnh sẽ làm giảm nhiều yếu tố có hại cho đường hô hấp trên như bụi, hơi nóng, hơi lạnh, khí độc. Khi tiếp xúc với người bệnh nên đeo khẩu trang dự phòng vì virus có thể theo hơi thở, nói chuyện, hắt hơi mà “bắn” sang người đối diện và xâm nhập. Tránh nằm điều hoà quá lạnh, tránh làm việc trong môi trường nhiệt độ quá cao. Giữ ấm cơ thể khi đi đường, giữ ấm cổ khi ngủ là những biện pháp tuy đơn giản nhưng lại giúp ta phòng tránh khá tốt với những căn bệnh thuộc loại này.

Cho đến nay, bệnh viêm đường hô hấp trên đã có nhiều phương án điều trị. Nhưng vì chủ yếu là do vi rút gây ra nên tất cả những phương án đó đều là những phương án điều trị triệu chứng mà chưa có điều trị căn nguyên.

BS. Yên Lâm Phúc – suckhoedoisong

Ngứa tai là một trong những biểu hiện của bệnh viêm ống tai ngoài. Tuy nhiên nếu ngứa không nhiều, không ảnh hưởng tới sinh hoạt của người bệnh thì họ không đi khám, họ thường chỉ dùng tăm bông hay bất kỳ một loại vật cứng nào để ngoáy tai cho đỡ ngứa. Chỉ khi biểu hiện ngứa quá nhiều làm họ khó chịu, ngứa làm người bệnh không ngủ được hoặc xuất hiện thêm các triệu chứng khác nặng nề hơn như đau nhức tai, chảy mủ tai, ù tai, nghe kém, thậm chí một số bệnh nhân đến khám khi ống tai ngoài bị viêm tấy lan tỏa, chảy máu lẫn nước mủ ra cửa tai…

Viêm ống tai ngoài có nguy hiểm hay không?

Tai ngoài là bộ phận của tai (cấu tạo của tai bao gồm tai ngoài, tai giữa và tai trong). Tai ngoài – đúng như tên gọi, nó nằm ngoài cùng trong ba bộ phận cấu tạo nên tai. Tai ngoài gồm có vành tai và ống tai với cấu tạo chủ yếu là sụn, xương được bao bọc bởi một lớp da và tổ chức liên kết dưới da mỏng và lỏng lẻo. Mạch máu nuôi dưỡng cho vùng này rất nghèo nàn. Thần kinh chi phối chủ yếu là nhánh tách ra từ dây thần kinh sọ số IX, dây này vừa cảm giác tai vừa cảm giác họng nên viêm họng cũng gây ra đau tai hoặc viêm tai ảnh hưởng ngược lại chức năng nhai và nuốt, bên cạnh đó khi ngoáy tai người bệnh cũng có cảm giác ngứa họng và ho. Tai ngoài làm nhiệm vụ hứng sóng âm thanh trong không khí để đưa vào tai giữa và tai trong. Ống tai ngoài có các tuyến tiết ra chất bã gọi là ráy tai. Ráy tai có thể khô hoặc ướt tùy từng cá thể. Ráy tai cũng có nhiệm vụ bảo vệ thành ống tai, do thành phần ráy tai có chất kháng sinh, có tính chất dính để bẫy vi khuẩn. Ráy tai phủ một lớp trên ống tai ngoài, tránh cho các vi khuẩn, nấm tấn công vào các tổ chức của ống tai ngoài. Ống tai ngoài hay bị nước vào khi tắm hoặc bơi, gây cảm giác khó chịu vì thế người ta hay lấy que, tăm bông lau chùi nhiều, việc làm đó gây rách, trầy xước lớp da bảo vệ thành ống tai làm cho vi khuẩn gây bệnh dễ dàng xâm nhập vào tổ chức liên kết nằm bên dưới lớp da gây viêm ống tai – đặc biệt là khi người bệnh bơi ở những ao hồ bẩn. Mặt khác việc dùng ngoáy tai có thể đẩy khối ráy tai (nếu có) vào sâu hơn trong ống tai ngoài, thậm chí ấn sát vào màng nhĩ gây đau tai.

Ngứa tai, biểu hiện đầu tiên của viêm ống tai ngoài

Các triệu chứng ban đầu của viêm ống tai là ngứa tai, ngứa tai ngày càng tăng dần đặc biệt nếu ngoáy tai nhiều, sau đó bệnh nhân có biểu hiện tức tức trong ống tai rồi bắt đầu cảm giác đau tai, ngày càng tăng, đau nhức nhối, đau lan lên đầu, nhiều bệnh nhân có cảm giác đau giật lên nửa đầu. Biểu hiện đau càng nhiều lên khi bệnh nhân nhai hoặc ngáp. Trường hợp nặng có thể xuất hiện sốt 38 – 39ºC, sưng tấy nửa mặt bên tai đau, chạm nhẹ vào tai cũng đã đau.

Khám thấy da ống tai ngoài đỏ, nhiều dịch bẩn ứ đọng, ống tai ngoài bị chít hẹp một phần hay toàn bộ tuỳ theo mức độ viêm, nếu độc tố vi khuẩn quá mạnh gây nên viêm tấy lan toả ống tai ngoài lan rộng làm sưng tấy cả góc hàm bên tai đau kèm theo xuất hiện hạch nhỏ cùng bên, di động, ấn đau. Màng nhĩ vẫn bình thường.

Phòng tránh viêm ống tai ngoài tái phát

Viêm tấy ống tai ngoài phải điều trị tại các cơ sở tai mũi họng: đặt thuốc, nhỏ thuốc tai tại chỗ nếu viêm ống tai ngoài mức độ nhẹ. Nếu nặng phải dùng kháng sinh kháng viêm toàn thân kết hợp với giảm đau và làm thuốc tai tại chỗ. Bệnh chỉ khỏi sau 5 – 7 ngày.

Viêm ống tai ngoài là bệnh rất hay tái phát nếu vẫn giữ thói quen ngoáy tai khi ngứa. Bạn nên biết rằng, khi tai bị ngứa tức là đã xuất hiện viêm rồi đấy, lúc này cần nhỏ thuốc dành cho tai ngoài khoảng 3 ngày, nếu không đỡ cần đến khám tại cơ sở y tế. Trường hợp bạn thấy ngứa tai khi bơi bạn cảm thấy nước vào tai, chỉ nên nghiêng đầu về phía bên đó một lúc đồng thời kéo vành tai chúc xuống cho nước chảy hết ra ngoài mà thôi.

Những loại thuốc nhỏ tai dùng trong trường hợp viêm ống tai ngoài là những thuốc dùng trong khi màng nhĩ không thủng, chủ yếu là những thuốc điều trị bệnh lý của ống tai ngoài như viêm ống tai ngoài, nhọt ống tai ngoài, chấn thương rách da ống tai như polydexa, thuốc sát khuẩn tại chỗ betadine… đôi khi có tác dụng giảm đau của màng nhĩ khi xung huyết trong viêm tai giữa cấp giai đoạn đầu của bệnh.

ThS.Phạm Bích Đào – suckhoedoisong

Dù vốn không mắc bệnh hen suyễn nhưng nếu cố tập thể dục quá sức, bạn vẫn có thể lên cơn hen với tỷ lệ nguy cơ là 10% – 14%.

Theo các bác sĩ, một trong những yếu tố “tiếp tay” cho bệnh hen suyễn dễ xuất hiện còn tập thể dục trong môi trường ô nhiễm, tập vào sáng sớm, độ ẩm thấp, không khí lạnh… dẫn đến gây nhiễm trùng đường hô hấp, bệnh nhân mau mệt mỏi, thở nông.

Xúc cảm mạnh cũng mắc bệnh

Sau tiết học điền kinh ở trường, cháu L. 11 tuổi (ngụ TP HCM) nổi cơn ho, thở khò khè. Bác sĩ Trần Anh Tuấn, Trưởng khoa Hô hấp, Bệnh viện Nhi đồng 1 TP HCM, chẩn đoán cháu bị hen do chạy nhảy nhiều, khiến phế quản co thắt. Theo bác sĩ Tuấn, khi cố sức tập thể dục, 10% – 14% số người vốn không mắc bệnh cũng lên cơn hen. Tỷ lệ này lên đến 70% – 90% ở bệnh nhân hen suyễn và khoảng 50% ở bệnh  nhân viêm mũi dị ứng. Triệu chứng này thường xuất hiện sau 5 – 20 phút gắng sức hoặc có thể ngưng tập luyện được 5 – 10 phút. Cơn hen có thể kéo dài từ 60 phút hay lâu hơn, bệnh nhân cảm thấy ho nặng ngực, thở khò khè.

Bác sĩ Phạm Ngọc Thanh, Trưởng đơn vị Tâm lý, Bệnh viện Nhi đồng 1 TP HCM, cho biết một số em cảm xúc mạnh, tâm lý dễ kích ứng cũng có nguy cơ hen suyễn khi gắng sức tập thể dục, đặc biệt là những học sinh suy nhược cơ thể do có cuộc sống bất hạnh, cô đơn, trầm cảm, lo âu, ấm ức, giận dữ… Khi gắng sức tập luyện, đường thở sẽ rối loạn do sự tương tác phức tạp giữa các yếu tố bên trong cơ thể. Mặt khác, giao cảm hưng phấn mạnh cũng gây giãn phế quản, khiến hen suyễn bộc phát.

NhungLuuYKhiTapTheDuc[1]

Chọn môn thể thao phù hợp

Bác sĩ Trương Công Dũng, Phó khoa Y học Thể thao, Bệnh viện Nhân dân 115 TP HCM, tư vấn: “Với những bệnh nhân hen suyễn, không nên bỏ học thể dục mà cần tìm các môn thể thao phù hợp. Việc tập thể lực lâu dài sẽ góp phần giúp kiểm soát bệnh hen tốt hơn và giảm được tỷ lệ nhập viện do bệnh hen gây ra, đồng thời giúp bệnh nhi phát triển tốt về thể chất, hòa đồng với bạn bè”.

Theo bác sĩ Trương Công Dũng, bệnh nhân hen nên chọn các môn thể dục nhẹ nhàng như tập yoga, đi bộ, chạy cự ly ngắn, hoặc chọn môn thể thao có những giai đoạn gắng sức ngắn như quần vợt, cầu lông, bóng bàn, cử tạ nằm, golf, bóng chày. Người bệnh tránh tập các môn gắng sức gần như liên tục: thể dục nhịp điệu, chạy đua, đua xe đạp… hoặc chơi các môn thể thao tác động mạnh, cường độ gắng sức cao thuộc về bóng đá, bóng rổ, khúc côn cầu.

Cũng theo bác sĩ Công Dũng, trước khi tập luyện, cần khởi động cơ thể khoảng 5 – 10 phút, người lớn tuổi nên khởi động kéo dài hơn. Khởi động từ từ, cường độ gắng sức chỉ ở mức thấp, bắt đầu bằng các động tác nhẹ nhàng, mềm dẻo, hoặc đi bộ. Sau đó, chạy nhanh từng đoạn ngắn khoảng 30 giây, rồi nghỉ 60 giây, lặp lại 2 – 3 lần. Khi gắng sức, phải thở bằng mũi, tránh ngưng gắng sức đột ngột vì có thể nguy hiểm tính mạng cho người đang mắc các bệnh mãn tính.

Bác sĩ Anh Tuấn khuyên tránh tập gắng sức khi đang có triệu chứng hen, nhiễm trùng đường hô hấp, tránh sử dụng các loại thuốc dễ làm lên cơn như thuốc kháng viêm không steroid, thuốc lợi tiểu. Trong quá trình tập luyện nếu thấy xuất hiện triệu chứng hen suyễn, cần đến khám ở các bệnh viện chuyên khoa để có cách xử lý kịp thời.

Theo Baodatviet

Các dị nguyên như bụi, phấn hoa… thường được cho là thủ phạm gây ra bệnh hen suyễn. Tuy nhiên, các nhà khoa học Anh, Mỹ đã phát hiện ra những thủ phạm mà ít ai ngờ tới.

Pháo hoa

Hàng năm đều có những báo cáo cho thấy pháo hoa là nguyên nhân gây hen. Theo ghi nhận trên tạp chí Dị ứng – Hen và Miễn dịch học, 1 bé gái Mỹ (9 tuổi) đã lên cơn hen và tử vong sau khi chơi trò pháo hoa cầm tay trong một buổi picnic.

Thực chất, pháo hoa chứa rất nhiều chất độ hại như sulfur dioxit mà có thể kích thích gây hen khi hít phải một lượng nhất định.

Túi khí an toàn

 

Những người bị hen ngồi trong những chiếc ô tô bị tai nạn sẽ có nguy cơ lên cơn hen. Một trong những nguyên nhân là do tình trạng căng thẳng quá mức nhưng những nghiên cứu gần đây cho thấy chính những hợp chất tạo ra khí nén, giúp bật tung túi khí khi xe ô tô va quyệt là thủ phạm.

Một nhóm các nhà nghiên cứu của General Motors đã xác nhận ảnh hưởng này từ giữa những năm 1990. 10/24 người mắc bệnh hen ngồi 20 phút ở ghế sau ô tô khi túi khí bật ra đã bị lên cơn hen.

Bột mỳ

 

Khi hít vào lượng lớn, bụi bột mỳ sẽ gây kích thích phổi và đó là lý do vì sao có hội chứng hen ở người làm bánh.

Thật ngạc nhiên khi đây là một trong những ô nhiễm môi trường làm việc thường gặp mà có liên quan với bệnh hen.

Nhiều chuyên gia làm bánh bị hen thường dị ứng với bột mỳ trắng (hay một số thành phần tương tự).

Nhưng các nghiên cứu cũng cho thấy những người làm bánh không bị hen cũng mắc bệnh này do phổi bị tổn thương vì bụi bột mỳ.

Các thiết bị dùng ga

 

Khí N02, một loại khí sinh ra từ các thiết bị dùng ga, có liên quan với các triệu chứng hen ở trẻ nhỏ.

Một nghiên cứu năm 2008 trên 150 trẻ em bị hen ở Baltimore (Mỹ) trong 6 tháng liên tục cho thấy, những trẻ sống trong những ngôi nhà có nồng độ khí N02 cao thường xuyên thở khò khè, ho và thắt ngực. Trong khi ở người lớn không có hiện tượng này.

N02 có thể làm bệnh hen nặng thêm với chỉ một lượng nhỏ thoát ra từ lò nước, bếp ga và lò sưởi. Dùng các thiết bị thông gió sẽ giúp giảm nồng độ N02 trong nhà xuống mức an toàn đối với người mắc bệnh hen.

Nến

 

Một nghiên cứu gần đây do các nhà khoa học trường ĐH Bang Carolina (Mỹ) thực hiện cho thấy chất paraffin – thành phần chính làm ra nến – sẽ tỏa ra khí toluene và benzene (nến làm từ sáp ong và đậu tương không có chứa các chất này).

Những cây nến làm từ paraffin thường được thắp trong những bữa tối lãng mạn ít khi đe dọa sức khỏe (nếu bạn không thắp quá nhiều), nhưng khi sử dụng thường xuyên, ở những nơi kín gió thì nó có thể gây hen.

Máy in

Máy in laser và máy photo-copy sản sinh ra chất ultrafine ô nhiễm gây kích ứng hệ hô hấp.

Theo tạp chí Dị ứng (Mỹ), một nhân viên văn phòng 44 tuổi đã bị hen và dị ứng 15-20 phút sau mỗi lần làm việc cùng máy photo-copy.

Một số loại máy in khác cũng được cho là thủ phạm gây ra các phản ứng hô hấp tương tự.

Năm 2009, tạp chí Y học Anh đã đăng tải trường hợp 1 phụ nữ bị ho và hắt hơi ở nơi làm việc, khi cô bán vé sổ xố trong 1 ki-ốt nhỏ. Bác sĩ đã kết luận rằng chính mực in trên các tờ sổ xố là thủ phạm gây ra bệnh dị ứng của cô. Bởi khi rời khỏi ki-ốt, các triệu chứng ho, hắt hơi lập tức biến mất.

Nhựa

 

Mặc dù nhựa không trực tiếp gây “thương tích” cho phổi (chừ khi bạn hít phải nó) nhưng các loại vật dụng trong nhà làm từ nhựa PVC, chẳng hạn như rèm tắm, một số thảm trải nhà, đồ chơi… sẽ thải ra không khí chất phthalate. Mặc dù sự thất thoát này là rất từ từ nhưng một số nghiên cứu năm 2007 cho thấy mức độ chất phthalate có liên quan với sự gia tăng của bệnh hen, ho và thở khò khè.

 Theo Nhân Hà
Dân trí/Health

Phụ nữ có thai uống bổ sung axit folic để tăng sức khỏe em bé, cũng đồng thời làm tăng nguy cơ khiến bé bị hen suyễn lên 30%, một nghiên cứu của Australia vừa cho biết.

Nghiên cứu này có thể lý giải vì sao tỷ lệ mắc bệnh hen suyễn ngày càng gia tăng hiện nay.

Cho đến nay, các bà bầu vẫn được bác sĩ khuyến cáo nên uống bổ sung axit folic trước và trong khi mang bầu, nhằm ngăn ngừa các khuyết tật ống thần kinh thường xảy ra trong những tuần đầu của thai kỳ.

Trợ lý giáo sư Michael Davies, từ Viện Robinson của Đại học Adelaide, đã tìm thấy một hệ quả “không ngờ tới” với những phụ nữ dùng chất bổ sung này trong suốt kỳ mang bầu.
ba-bau

Bổ sung axit folic quá nhiều trong thai kỳ có thể gây tác dụng ngược đến bé.

Davies đã hồi cứu hồ sơ của hơn 550 phụ nữ từng sinh con, đánh giá chế độ ăn của họ và các chất bổ sung được dùng trước khi mang thai, và sau đó đánh giá tỷ lệ hen suyễn trong nhóm trẻ con của họ.

Kết quả là, với những phụ nữ dùng chất bổ sung này theo đúng lời khuyên – trước khi có bầu và không kéo dài quá vài tuần đầu của thai kỳ: không có hiện tượng tăng số ca hen suyễn ở trẻ.

Tuy nhiên, Davies tìm thấy những phụ nữ bổ sung axit folic (hoặc muối folate) suốt thời kỳ có thai, hoặc từ 16 đến 30 tuần, thì làm tăng nguy cơ con bị hen suyễn lên 30%.

Hen suyễn trẻ em đang tăng nhanh trong các quốc gia phát triển, và Davies cho rằng nghiên cứu của ông cho thấy việc thay đổi chế độ ăn, đặc biệt là việc lạm dụng một loại chất bổ sung, có thể đóng vai trò như thế nào.

Theo T. An
Vnexpress

Nên lên giường đúng giờ và ngủ sớm, khoảng 1,5-2 giờ sau bữa ăn tối. Khi này, các axit amin từ thức ăn đã được đưa lên não, chuyển thành serotonin có tác dụng gây buồn ngủ. Nên chọn buồng hướng về phía Nam, nơi yên tĩnh, mở cửa cho thoáng mát, không rong đèn.

ngu-ngon-cho-nu-gioi

Mất ngủ là chứng bệnh người già hay mắc phải, thường được điều trị bằng thuốc ngủ, nhưng các hóa chất này nếu dùng lâu có thể gây phản ứng phụ độc hại, và gây lệ thuộc (thiếu nó thì không ngủ được). Sau đây là một số biện pháp giúp bạn tránh bị mất ngủ.

1. Trước khi lên giường

– Không ăn quá no vào bữa tối, dùng ít chất béo và gia vị kích thích. Cố gắng đại tiện trước khi đi ngủ, không để bụng ậm ạch.

– Vận động nhẹ nhàng, tốt nhất là đi bộ thong thả với đầu óc thư giãn 20-30 phút trước khi đi ngủ.

– Tạo một phản xạ có điều kiện trước khi lên giường như uống một ly sữa nóng, đọc vài trang báo, nghe một bản nhạc êm dịu… Sau đó lên giường nằm, nhắm mắt.

2. Trên giường

Không nghĩ miên man. Nếu vẫn suy nghĩ lung tung, hãy ra khỏi giường, đi bách bộ thong thả hoặc đọc sách báo tới khi tinh thần mệt mỏi thì mới lên giường ngủ tiếp. Có thể nghe tiếng đồng hồ quả lắc và đếm tới khi ngủ hoặc đếm ngược từ 100 tới 0. Cũng có thể đọc nhẩm một bài thơ hoặc hát khẽ bài hát êm dịu. Nếu thấy khó ngủ, bạn hãy thử luyện tập các bài sau:

– Thư giãn cơ thể: Nằm ngửa trên giường, cong người lên, rồi thả lỏng dần từ ngón chân trở lên tới mắt, trán. Làm từ từ. Giữ người cong khoảng 5-10 giây rồi thả lỏng độ 15-20 giây.

– Tập trung tư tưởng: Hình dung có một ngọn lửa như ngọn nến chẳng hạn. Tập trung tư tưởng nghĩ đến ngọn nến đó, không được nghĩ gì khác. Luôn nghĩ là ngọn lửa cháy sáng, ngày càng sáng, sáng mãi. Nghĩ đến ngọn lửa như vậy thần kinh sẽ dịu xuống, và giấc ngủ sẽ tới lúc nào không biết.

– Thở sâu: Hít thở 5 lần, mỗi lần thở tự nhủ: “Ta đang thư giãn, ta đang yên tĩnh, ta đang sắp ngủ, ta đang ngủ”.

Nếu thức giấc vào lúc nửa đêm, bạn có thể trở dậy đọc vài trang sách báo, tới khi đầu óc mệt mỏi thì vào ngủ tiếp, sẽ ngủ được. Nếu thực hiện hết cách mà không thành công, tốt nhất là dậy làm một việc gì đó cho tới khi cảm thấy buồn ngủ. Không nên cố ép mình phải ngủ vì như vậy não sẽ bị ức chế, càng không ngủ được.

(DS Phan Quốc Đống – Thuoc&suckhoe)