Author Archives: dungntk

AA big book

Đây là câu nói xưa có ý nghĩa đặc biệt, mạnh mẽ đối với chúng tôi. Nói đơn giản: Trên tất cả mọi quan tâm khác, chúng tôi phải nhớ rằng chúng tôi không thể uống rượu. Không uống rượu là ưu tiên số một của chúng tôi ở bất cứ nơi đâu, vào bất cứ lúc nào, trong bất cứ tình huống nào.

Đó thật sự là vấn đề sống còn của chúng tôi. Chúng tôi biết rằng bệnh nghiện rượu là một bệnh gây chết người, dẫn đến tử vong bằng nhiều cách. Chúng tôi không thích kích hoạt bệnh này bằng cách thử uống một ly.

Theo Hội Y học Hoa Kỳ, điều trị tình trạng này của chúng tôi “chủ yếu dựa vào việc không được uống một ly rượu nào.” Kinh nghiệm của chúng tôi cũng cho thấy bài thuốc này đúng.

Trong thực tế hàng ngày, điều đó có nghĩa là chúng tôi cần phải làm bất cứ việc gì, bất kể khó chịu thế nào để không uống rượu.

Một số người hỏi chúng tôi: “Như vậy có nghĩa bạn đặt việc cai rượu lên trên gia đình, công việc và ý kiến của bạn bè?”

Khi chúng tôi xem bệnh nghiện rượu là vấn đề sống hay chết, câu trả lời đã rõ ràng. Nếu chúng tôi không giữ gìn sức khỏe – sinh mạng của chúng tôi – chắc chắn chúng tôi sẽ không có gia đình, không có công việc và không có bạn bè. Nếu ta quí trọng gia đình, công việc và bạn bè, đầu tiên chúng tôi phải cứu lấy sinh mạng của chính mình để thương yêu, chăm lo ba thứ ấy.

“Đầu tiên những việc đầu tiên” phong phú theo những nghĩa khác nữa, vốn có thể đáng kể trong việc chống nhậu của chúng tôi. Thí dụ, nhiều người để ý rằng khi bắt đầu ngưng nhậu, hình như cần nhiều thời gian hơn ngoài ý muốn để quyết định. Các quyết định có vẻ trở nên khó khăn – được rồi không, không rồi lại được.

Giờ đây, sự do dự chắc chắn không giới hạn trong việc cai nghiện rượu, nhưng có lẽ nó làm khó chúng tôi nhiều hơn là những người khác. Người nội trợ mới cai rượu có thể sẽ không hình dung ra trong khi làm vệ sinh việc gì cần làm trước. Doanh nhân không thể quyết định được hoặc trả lời điện thoại hoặc đọc thư cho thư ký đánh máy. Trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống, chúng tôi muốn theo kịp mọi công việc và mọi yêu cầu mà chúng tôi đã bỏ quên. Hiển nhiên chúng tôi không thể lo cho tất cả ngay lập tức được.

Do vậy “Đầu tiên những việc đầu tiên” là có ích. Nếu phải lựa chọn trong những việc liên quan đến uống rượu hoặc không uống rượu, quyết định này xứng đáng được ưu tiên. Trừ khi chúng tôi giữ được mình tỉnh rượu, chúng tôi biết sẽ không có làm vệ sinh, không có gọi điện thoại, không có thư nào được viết.

Rồi chúng tôi lại sử dụng cùng châm ngôn này để sắp xếp thời gian tỉnh rượu mới được tìm thấy. Chúng tôi cố gắng lập kế hoạch các hoạt động hàng ngày, xếp công việc tùy theo mức độ quan trọng và không bao giờ tạo thời khóa biểu quá chặt chẽ. Chúng tôi giữ trong đầu một “đầu tiên” khác – sức khỏe của chúng tôi, bởi vì chúng tôi rằng biết quá mệt mỏi hoặc bỏ bữa ăn có thể nguy hiểm.

Khi còn nhậu nhẹt, nhiều người chúng tôi sống khá là thiếu ngăn nắp và sự lẫn lộn thường khiến chúng tôi cảm thấy bất an hoặc thậm chí tuyệt vọng. Chúng tôi khám phá ra rằng học cách không uống rượu dễ dàng hơn nhờ vào việc xếp đặt trật tự từng ngày – thực tế và giữ kế hoạch một cách linh động. Nhịp sống đặc biệt của riêng mình có tác động xoa dịu và một nguyên tắc tuyệt vời để tổ chức trật tự này là – đúng rồi, “Đầu tiên những việc đầu tiên.”

 

Nguồn: Alcoholics Anonymous
Trần Thanh Xuân dịch

chuyen-khoa-tong-quat[1]

Thời gian Thứ Hai Thứ Ba Thứ Tư Thứ Năm Thứ Sáu Thứ Bảy Chủ Nhật
03/06 04/06 05/06 06/06 07/06 08/06 09/06
SÁNG
7h – 12h
 Bs.Bích Huyên  Bs.Bích Huyên  Bs.Bích Huyên  Bs.Bích Huyên  Bs.Bích Huyên  Bs. Hạnh  Bs.
A.Thư
 Bs. Kim Thu  Bs. Kim Thu  Bs. Kim Thu  Bs. Kim Thu  Bs. Kim Thu  Bs. Loan
 Bs. Cẩm Huyên
 Bs. Huyền  Bs. Huyền  Bs. Vũ  Bs. Vũ  Bs. Vũ  Bs. Vũ
CHIỀU
13h15 – 17h
 PGS. Lan  PGS. Lan  PGS. Lan Nghỉ
 Bs. Hữu Hạnh  Bs. P.Thư  Bs. Kim Thu  Bs. Khánh  Bs. Thuận  Bs. Thuận
 Bs. Út  Bs. Vũ  Bs. Vũ  Bs. Vũ  Bs. Vũ  Bs. Vũ
TỐI
17h – 20h
 Bs. P.Thư  Bs. Vinh  Bs. Hương  Bs. Hữu Hạnh Bs. Vinh Nghỉ

 

 

 

 di ung

Định nghĩa

Dị ứng xảy ra khi hệ thống miễn dịch của bạn phản ứng với một chất lạ như là phấn hoa, nọc ong hoặc vảy da thú nuôi.

Hệ thống miễn dịch sản xuất ra những chất gọi là kháng thể. Một số kháng thể này bảo vệ bạn khỏi những chất lạ xâm nhập vào cơ thể, chúng khiến bạn bị bệnh hoặc tạo ra một nhiễm trùng. Khi bạn dị ứng, hệ thống miễn dịch tạo ra những kháng thể, chúng xác định một dị nguyên cụ thể là chất gây hại, dù nó lành tính. Khi bạn tiếp xúc với dị nguyên này, phản ứng của hệ thống miễn dịch có thể làm viêm da, xoang, đường thở hoặc hệ tiêu hóa.

Mức độ nặng nhẹ của dị ứng thay đổi theo từng người và có thể từ kích thích nhẹ đến sốc phản vệ, là một tình trạng khẩn cấp có thể gây chết người. Dù hầu hết các dị ứng không thể chữa khỏi hẳn, có một số cách điều trị có thể làm giảm nhẹ các triệu chứng dị ứng.

 

Triệu chứng

Các triệu chứng dị ứng tùy thuộc vào loại dị ứng cụ thể của bạn, có thể liên quan đến đường thở, xoang và mũi, da và hệ tiêu hóa. Các phản ứng dị ứng có thể từ nhẹ đến nặng. Trong một số trường hợp nghiêm trọng, dị ứng có thể kích phát một phản ứng đe dọa tính mạng gọi là sốc phản vệ.

Viêm mũi dị ứng có thể gây ra:

+ Nghẹt mũi

+ Chảy nước mũi, ngứa mũi

+ Ngứa mắt, chảy nước mắt hoặc sưng mắt (viêm kết mạc)

Viêm da dị ứng, còn gọi là chàm, có thể gây ra:

+ Ngứa da

+ Đỏ da

+ Lột da

Dị ứng thức ăn có thể gây ra:

+ Tê miệng

+ Sưng môi, lưỡi, mặt hoặc họng

+ Nổi mày đay (Mẩn đỏ da)

+ Sốc phản vệ

Dị ứng vết cắn côn trùng có thể gây ra:

+ Sưng phù rộng tại vết cắn

+ Ngứa hoặc mẩn đỏ da khắp người

+ Ho, tức ngực, thở rít hoặc khó thở

+ Sốc phản vệ

Dị ứng thuốc có thể gây ra:

+ Nổi mày đay

+ Ngứa da

+ Ban đỏ (rash)

+ Sưng mặt

+ Thở rít (khò khè)

+ Sốc phản vệ

Sốc phản vệ

Vài loại dị ứng, gồm dị ứng thức ăn và dị ứng vết cắn côn trùng có khả năng kích phát một phản ứng nặng gọi là sốc phản vệ. Phản ứng này là một tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, có thể khiến bạn bị sốc. Dấu hiệu và triệu chứng sốc phản vệ gồm có:

+ Mất tri giác

+ Chóng mặt (lightheadedness)

+ Khó thở nặng

+ Ban đỏ da

+ Buồn nôn và ói

+ Sưng đường thở, có thể làm nghẹt thở

Khi nào đến gặp bác sĩ

Bạn có thể cần đến gặp bác sĩ nếu bạn có những triệu chứng mà bạn nghĩ rằng do một dị ứng gây ra, nhất là nếu bạn nhận thấy một cái gì đó trong môi trường có vẻ đã kích phát dị ứng của bạn. Nếu bạn có những triệu chứng sau khi bắt đầu sử dụng một loại thuốc mới, hãy gọi bác sĩ đã kê toa ngay.

Đối với một dị ứng nặng (sốc phản vệ), gọi cấp cứu hoặc đến khoa cấp cứu. Nếu bạn có mang theo một loại epinephrine tự tiêm (như là EpiPen, EpiPen Jr hoặc Twinject), tự chích một phát ngay. Dù những triệu chứng cải thiện sau khi tiêm epinephrine, vẫn cần phải đến khoa cấp cứu để chắc chắn rằng những triệu chứng không xuất hiện trở lại khi tác dụng của thuốc tiêm mất đi.

Nếu bạn đã từng có một dị ứng nặng hoặc bất kỳ dấu hiệu và triệu chứng nào của sốc phản vệ, hãy hẹn gặp bác sĩ. Việc đánh giá, chẩn đoán và xử trí về lâu dài của sốc phản vệ phức tạp, do đó bạn nên gặp một bác sĩ chuyên khoa dị ứng và miễn dịch.

 

Nguyên nhân

Dị ứng khởi đầu khi hệ thống miễn dịch nhận lầm một chất bình thường vô hại là một chất lạ nguy hiểm. Hệ thống miễn dịch khi đó sản xuất ra những kháng thể lúc nào cũng báo động đối với dị nguyên này. Khi bạn phơi nhiễm với dị nguyên này một lần nữa trong tương lai, những kháng thể này có thể phóng thích một số hóa chất của hệ thống miễn dịch, như histamine, vốn gây ra những triệu chứng dị ứng.

Các chất kích phát dị ứng thường gặp gồm có:

+ Dị nguyên trong không khí, như phấn hoa, vảy da thú, con mạt nhà và nấm mốc

+ Một số thức ăn, nhất là đậu phọng, hạt trái cây, lúa mì, đậu nành, cá, tôm cua, trứng và sữa

+ Vết cắn côn trùng, như vết ong đốt

+ Thuốc, nhất là penicillin hoặc kháng sinh có nguồn gốc penicillin

+ Latex hoặc các chất bạn tiếp xúc khác, vốn có thể gây ra các phản ứng da dị ứng

 

Yếu tố nguy cơ

Bạn có thể có nguy cơ dị ứng cao nếu bạn:

+ Có tiền sử gia đình hen suyễn hoặc dị ứng. Bạn có nguy cơ dị ứng cao nếu bạn có người trong gia đình bị hen suyễn hoặc dị ứng như viêm mũi dị ứng, nổi mày đay hoặc chàm.

+ Là trẻ em. Bạn có thể bắt đầu dị ứng với một cái gì đó ở bất cứ độ tuổi nào, trẻ em nhiều khả năng phát sinh dị ứng hơn người lớn. Trẻ em đôi khi không còn dị ứng khi chúng lớn hơn. Tuy nhiên, không phải hiếm khi dị ứng mất đi và sau đó trở lại trong tương lai.

+ Có hen suyễn hoặc dị ứng. Hen suyễn làm tăng nguy cơ phát sinh dị ứng. Ngoài ra, một loại dị ứng khiến bạn có nhiều khả năng dị ứng với thứ khác.

 

Biến chứng

Có một dị ứng làm tăng nguy cơ mắc bệnh khác, gồm có:

+ Sốc phản vệ. Nếu bạn có những dị ứng nặng, bạn có nguy cơ cao xảy ra phản ứng nghiêm trọng do dị ứng kích phát này. Sốc phản vệ thường gặp nhất với dị ứng thức ăn, penicillin và nọc độc côn trùng.

+ Dị ứng khác. Có một dị ứng cũng làm tăng nguy cơ trở nên dị ứng với một cái gì khác.

+ Hen suyễn. Nếu bạn có một dị ứng, bạn nhiều khả năng mắc bệnh hen suyễn – một phản ứng của hệ thống miễn dịch tác động đến đường thở và sự hô hấp. Trong nhiều trường hợp, hen suyễn bị kích phát bởi phơi nhiễm một dị nguyên trong môi trường (hen suyễn do dị ứng).

+ Viêm da dị ứng (chàm), viêm xoang và nhiễm trùng tai hoặc phổi. Nguy cơ mắc những bệnh này cao hơn nếu bạn mắc viêm mũi dị ứng, dị ứng thú nuôi hoặc dị ứng nấm mốc.

+ Biến chứng nấm xoang và nấm phổi.Bạn có nguy cơ cao mắc những bệnh này, gọi là viêm xoang nhiễm nấm dị ứng và nhiễm nấm aspergillus phế quản phổi dị ứng nếu bạn dị ứng với nấm mốc.

 

Chuẩn bị đến gặp bác sĩ

Nếu bạn đang có những triệu chứng có thể liên quan đến một dị ứng, hãy bắt đầu bằng cách đến gặp bác sĩ gia đình hoặc bác sĩ tổng quát của bạn. Do thời gian ngắn ngủi và do thường có nhiều vấn đề phải giải quyết, nên cần phải chuẩn bị cho cuộc hẹn.

Bạn có thể làm được gì?

+ Viết ra bất kỳ triệu chứng nào bạn đang có, bao gồm bất kỳ triệu chứng nào có vẻ không có liên quan đến những triệu chứng giống như dị ứng.

+ Viết ra tiền sử dị ứng và hen suyễn của gia đình, bao gồm những loại dị ứng cụ thể nếu bạn biết được.

+ Lập danh sách tất cả các loại thuốc, vitamin hoặc thực phẩm chức năng bạn đang sử dụng.

+ Hãy hỏi xem bạn có nên ngưng bất kỳ loại thuốc nào, thí dụ như kháng histamine, vốn có thể ảnh hưởng đến kết quả thử nghiệm dị ứng da.

Chuẩn bị sẵn danh sách những câu hỏi sẽ giúp bạn tận dụng thời gian. Đối với các triệu chứng có thể liên quan đến một dị ứng, một vài câu hỏi cơ bản dành cho bác sĩ bao gồm:

+ Cái gì nhiều khả năng nhất gây ra các dấu hiệu và triệu chứng của tôi?

+ Có thể có những nguyên nhân khác không?

+ Tôi có cần thử nghiệm dị ứng nào không?

+ Tôi có nên gặp một chuyên gia dị ứng không?

+ Điều trị tốt nhất là gì?

+ Tôi còn mắc những bệnh khác này. Tôi xử trí chung tất cả các bệnh này theo cách nào là tốt nhất?

+ Tôi cần thay đổi gì tại nhà để làm giảm các triệu chứng?

+ Tôi có cần kiêng cử gì không?

+ Các triệu chứng nào báo hiệu tôi cần gọi đến bác sĩ?

+ Các triệu chứng cấp cứu nào bạn bè và gia đình tôi nên biết?

+ Có loại thuốc thay thế nào cho loại thuốc bác sĩ đang kê toa cho tôi không?

+ Có tờ tóm tắt hoặc tài liệu in nào tôi có thể mang về nhà không? Bác sĩ đề nghị tôi xem trang web nào?

Ngoài những câu hỏi bạn đã chuẩn bị để hỏi bác sĩ, đừng ngại đặt câu hỏi trong cuộc hẹn.

Bạn mong đợi gì từ bác sĩ

Bác sĩ có lẽ sẽ hỏi bạn một số câu. Sẵn sàng trả lời chúng có thể giúp bạn dành được thời gian để cho những vấn đề nào bạn muốn. Bác sĩ có thể hỏi:

+ Triệu chứng của bạn là gì?

+ Bạn đã bắt đầu có những triệu chứng từ lúc nào?

+ Bạn có vừa bị cảm cúm hoặc nhiễm trùng hô hấp khác không?

+ Triệu chứng của bạn có trở nặng tại một số thời điểm trong ngày không?

+ Triệu chứng của bạn có trở nặng trong phòng ngủ hoặc các phòng khác trong nhà không?

+ Bạn có nuôi thú không? Chúng có vào phòng ngủ không?

+ Có chỗ ẩm ướt hoặc hư ống nước trong nhà hoặc trong nơi làm việc của bạn không?

+ Bạn có tiền sử gia đình dị ứng hoặc hen suyễn không?

+ Bạn có hút thuốc không? Bạn có phơi nhiễm khói thuốc thụ động hoặc chất ô nhiễm khác trong không khí không?

+ Bạn đã từng được điều trị gì? Chúng có ích lợi gì không?

+ Bạn có vấn đề sức khỏe nào khác không?

+ Các loại thuốc bạn đang dùng là gì, kể cả thảo dược?

 

Thử nghiệm và chẩn đoán

Để xác định bạn có dị ứng nào không, bác sĩ có thể:

+ Hỏi chi tiết về các dấu hiệu và triệu chứng

+ Tiến hành khám thực thể

+ Yêu cầu bạn lập một nhật ký chi tiết các triệu chứng và các yếu tố kích phát nghi ngờ

Nếu bạn bị dị ứng thức ăn, bác sĩ có thể:

+ Yêu cầu bạn lập một nhật ký chi tiết các thức ăn bạn đã ăn

+ Yêu cầu bạn loại trừ một loại thức ăn khỏi thực đơn – và sau đó yêu cầu bạn ăn lại thức ăn này để xem có phải nó gây ra phản ứng không.

Bác sĩ cũng có thể đề nghị một hoặc cả hai thử nghiệm sau đây:

+ Thử nghiệm da. Trong thử nghiệm này, một lượng nhỏ các protein tìm thấy trong chất có thể là dị nguyên của bạn được tiêm vào da. Nếu bạn dị ứng, bạn có lẽ sẽ nổi mày đay tại chỗ thử nghiệm. Chuyên gia dị ứng thường được trang bị tốt nhất để tiến hành và giải thích thử nghiệm dị ứng da.

+ Thử nghiệm máu. Một thử nghiệm máu đôi khi được gọi là RAST (radioallergosorbent test) có thể đo lường mức độ phản ứng của hệ thống miễn dịch của bạn đối với một dị ứng nguyên cụ thể bằng cách đo lường số lượng kháng thể dị ứng gây ra trong máu lưu thông của bạn, gọi là kháng thể immunoglobulin E (IgE). Một mẫu máu được gửi đến phòng thí nghiệm y khoa, nơi có thể thử nghiệm tìm bằng chứng nhạy cảm đối với các chất có thể là dị nguyên.

Nếu bác sĩ nghi ngờ vấn đề của bạn do một nguyên nhân khác hơn là dị ứng, bác sĩ có thể cần đến các thử nghiệm khác để xác định – hoặc loại trừ – các vấn đề y tế khác.

 

Điều trị và thuốc

Điều trị dị ứng bao gồm:

+ Tránh dị nguyên.Bác sĩ sẽ giúp bạn từng bước xác định và tránh yếu tố kích phát dị ứng. Thông thường đó là bước quan trọng nhất để ngừa các phản ứng dị ứng và giảm các triệu chứng.

+ Thuốc để làm giảm các triệu chứng. Thuốc dị ứng có thể giúp bạn làm giảm phản ứng của hệ thống miễn dịch và làm các triệu chứng dễ chịu hơn. Các thuốc bạn sử dụng tùy theo loại dị ứng bạn mắc phải. Chúng có thể bao gồm các thuốc không cần toa hoặc theo toa bác sĩ, thuộc dạng uống, phun vào mũi hoặc nhỏ vào mắt. Một vài loại thuốc dị ứng thường gặp là corticosteroid, kháng histamine, chống ứ dịch, cromolyn sodium và biến đổi leukotriene.

+ Liệu pháp miễn dịch.Đối với dị ứng nặng hoặc dị ứng không giảm được bằng các trị liệu khác, bác sĩ có thể đề nghị liệu pháp miễn dịch. Liệu pháp này gồm một loạt các mũi tiêm trích tinh dị nguyên, thường kéo dài trong vài năm.

+ Epinephrine cấp cứu. Nếu bạn bị dị ứng nặng, bác sĩ có thể cho bạn một ống chích có sẵn epinephrine cấp cứu mang theo bên mình mọi lúc. Chích epinephrine khi bị phản ứng dị ứng nặng có thể giúp làm giảm các triệu chứng trước khi bạn được điều trị cấp cứu.

 

Thay đổi lối sống và nhà cửa

Một số triệu chứng dị ứng được cải thiện khi chỉnh sửa nhà cửa.

+ Ứ dịch xoang và các triệu chứng viêm mũi dị ứng. Các triệu chứng này thường cải thiện khi rửa mũi – rửa các xoang bằng nước muối. Bạn có thể sử dụng một cái ấm hoặc một chai mềm được thiết kế đặc biệt để đẩy chất nhầy đặc và chất kích thích ra khỏi mũi. Hãy sử dụng nước cất, vô khuẩn, đã đun sôi và để nguội hoặc được lọc bằng màng lọc có lỗ đường kính tuyệt đối 1 micron hoặc nhỏ hơn để tạo dịch rửa. Chuẩn bị nước muối với nước thích hợp, sử dụng hỗn hợp kèm theo ấm hoặc hỗn hợp do bạn tự chuẩn bị. Súc thiết bị rửa sau mỗi lần sử dụng bằng nước cất, vô khuẩn, đã đun sôi và để nguội hoặc nước lọc và để hở làm khô ngoài không khí.

+ Triệu chứng dị ứng do không khí trong nhà. Các triệu chứng gây ra bởi con mạt nhà hoặc thú nuôi có thể cải thiện bằng cách từng bước làm giảm phơi nhiễm của bạn với dị nguyên. Thường xuyên giặt tấm trãi giường và thú nhồi bông bằng nước nóng, giữ độ ẩm thấp, đều đặn hút bụi với màng lọc mịn như màng lọc bụi hiệu suất cao và thay thế thảm bằng sàn cứng.

+ Triệu chứng dị ứng nấm mốc. Chúng có thể giảm nhẹ bằng cách giảm độ ẩm ở nơi ẩm ướt như phòng tắm, nhà bếp, bằng cách sử dụng quạt thông gió và máy hút ẩm, và sửa chữa bất kỳ điểm rò rĩ nước nào ở trong và bên ngoài nhà.

 

Thảo dược

Các loại thảo dược sau đây có thể hữu ích trong việc điều trị dị ứng:

+ Butterbur có thể giúp làm giảm các triệu chứng viêm mũi dị ứng.

+ Cây kế sữa (milk thistle) có thể cải thiện các triệu chứng viêm mũi dị ứng.

+ Phleum pratense có thể làm giảm các triệu chứng đi kèm với suyễn.

Nếu bạn thích bổ sung thảo dược vào kế hoạch điều trị của bạn, luôn luôn phải nói chuyện với bác sĩ trước. Bác sĩ có thể giúp bạn hiểu được loại liệu pháp nào hữu hiệu nhất đối với bạn. Bác sĩ cũng có thể cung cấp thông tin về những nguy cơ có thể xảy ra và những tương tác thuốc.

 

Phòng ngừa

Phòng ngừa các phản ứng dị ứng tùy thuộc vào loại dị ứng bạn mắc phải. Các biện pháp tổng quát gồm có:

+ Tránh những yếu tố kích phát đã nhận biết được. Dù bạn đã được điều trị các triệu chứng dị ứng, bạn vẫn cần cố gắng tránh những yếu tố kích phát. Các yếu tố kích phát thường gặp bao gồm dị nguyên trong không khí ngoài trời, trong nhà hoặc nơi làm việc, và một số thức ăn, côn trùng hoặc thuốc. Một vài phản ứng dị ứng bị kích phát hoặc trở nặng vì nhiệt độ quá nóng quá lạnh hoặc căng thẳng.

+ Lưu nhật ký. Khi cố gắng xác định chính xác cái gì gây ra hoặc làm nặng các triệu chứng dị ứng của bạn, cố gắng dò tìm tất cả các hoạt động của bạn, ghi nhận khi nào triệu chứng xuất hiện và viết ra cái gì có vẻ hữu ích. Việc này giúp bạn và bác sĩ xác định các yếu tố kích phát và những bước tốt nhất để phòng ngừa và điều trị chúng.

+ Mang một vòng báo động y khoa. Nếu bạn đã từng có một phản ứng dị ứng nghiêm trọng, vòng báo động y khoa giúp người khác biết được bạn bị dị ứng nghiêm trọng khi bạn bị phản ứng và không thể trao đổi được.

 

Nguồn: Mayoclinic
http://www.mayoclinic.com/health/allergies/ds01118

Trần Thanh Xuân dịch

 

 

 rượu bia và giấc ngủ

TT – Khi được bác sĩ cho biết nguyên nhân gây rối loạn giấc ngủ có thể do rượu và bia, không ít người đã ngạc nhiên vì trước đó họ thường “mượn” rượu, bia để dỗ giấc ngủ.

Làm công việc kinh doanh được năm năm cũng là khoảng thời gian cuộc sống của anh N.V.T. (35 tuổi, ở Đồng Tháp) tiếp xúc với rượu, bia nhiều hơn. Hơn một năm nay, anh T. khó ngủ nên uống rượu, bia cho dễ ngủ. Lượng rượu, bia anh T. uống trước khi ngủ cứ ngày một tăng dần. Sau khi uống, anh vào giấc ngủ rất dễ nhưng chỉ nửa đêm là thức giấc, rất khó ngủ tiếp. Mỗi sáng thức dậy anh thấy người mệt mỏi, uể oải.

Ngủ không ngon

Lo lắng, anh T. đến khám tại Trung tâm Chăm sóc sức khỏe cộng đồng (CHAC) TP.HCM thì được bác sĩ chẩn đoán bị rối loạn giấc ngủ có thể do rượu, bia. Bác sĩ Nguyễn Xuân Bích Huyên, Trung tâm Chăm sóc sức khỏe cộng đồng TP.HCM, phân tích những người uống rượu, bia trước khi ngủ sẽ thấy lúc đầu dễ ngủ nhưng về sau dễ bị thức giấc, khó dỗ giấc ngủ trở lại. Sáng hôm sau người đó lại có cảm giác ngủ không ngon, mệt mỏi, mất tập trung, không muốn làm việc.

Uống rượu, bia thường xuyên trước khi ngủ làm cho hiệu quả gây ngủ của rượu, bia giảm dần, ngược lại tình trạng rối loạn giấc ngủ do rượu, bia tiếp tục tăng khiến càng lúc càng uống nhiều hơn, dẫn đến nguy cơ nghiện rượu, bia.

Theo bác sĩ Bích Huyên, với những người chưa nghiện rượu, bia chỉ cần ngưng uống rượu, bia giấc ngủ sẽ cải thiện tốt. Còn với những người đã nghiện, việc điều trị gặp nhiều khó khăn hơn. Trong từ 2-7 tuần, khi không uống hoặc giảm lượng rượu, bia trước khi ngủ, triệu chứng mất ngủ của người bệnh có thể tăng dần. Điều này khiến người bệnh dễ tìm đến rượu, bia để ngủ và khi đó tạo ra một vòng luẩn quẩn trong điều trị, thậm chí có người bỏ cuộc.

Thật ra, khi bệnh nhân vượt qua được 2-7 tuần đầu khó ngủ do kiêng hoặc giảm lượng rượu, bia thì sau thời gian này chất lượng giấc ngủ sẽ dần trở lại. Đến một lúc nào đó, bệnh nhân sẽ có giấc ngủ như người bình thường khác. Một số ít người bệnh không uống rượu, bia trở lại nhưng khi thấy khó ngủ lại tự mua thuốc an thần uống. Điều này cũng không nên vì dẫn đến tình trạng lệ thuộc thuốc.

 

Rượu bia gây tổn thương não, ung thư…

Không chỉ gây rối loạn giấc ngủ, uống rượu bia nhiều còn góp phần gây ra nhiều hậu quả khác về mặt xã hội (hành vi hung hăng gây tổn thương cho người khác, dễ gây tai nạn giao thông, mất việc) và sức khỏe (gây tổn thương nhiều nơi trong cơ thể như não và hệ thần kinh, hệ tiêu hóa, hệ tim mạch, rối loạn đường huyết và axít uric, rối loạn đông máu, đặc biệt là ung thư ở miệng, hầu, họng, vú và ruột). 50% trường hợp nghiện rượu có triệu chứng rối loạn giấc ngủ trước đó.

TS.BS. Nguyễn Xuân Cẩm Huyên (Khoa y Đại học Quốc gia TP.HCM)

 

Nhật ký bỏ rượu, bia

Việc bỏ rượu, bia không thể tiến hành ngay lập tức mà phải có kế hoạch dài ngày. Bác sĩ sẽ hướng dẫn người bệnh có một cuốn nhật ký giấc ngủ và lượng rượu bia uống trong thời gian chuẩn bị bỏ rượu, bia. Đầu tiên, bệnh nhân phải uống rượu, bia cách xa giờ ngủ, sau đó uống theo mức uống an toàn cho người khỏe mạnh: với những người uống rượu bia thường xuyên thì mức uống an toàn là 2 lượng chuẩn/lần/ngày, người nào lâu lâu mới uống rượu bia thì mức an toàn là 4 lượng chuẩn/lần (1 lượng chuẩn tương đương một lon bia 375ml, 100ml rượu vang hay 30ml rượu mạnh), đồng thời ghi lại các chi tiết liên quan đến giấc ngủ (giờ ngủ, số lần thức giấc nửa đêm, giờ thức dậy và cảm giác khi thức dậy…). Sau đó bệnh nhân tiếp tục uống giảm dần và tiến tới bỏ luôn.

Bác sĩ Bích Huyên cho rằng trước thói quen uống nhiều rượu, bia hằng ngày của nhiều người như hiện nay, sẽ có nhiều người bị rối loạn giấc ngủ. Gần đây số người đi khám bệnh rối loạn giấc ngủ do rượu, bia tại Trung tâm Chăm sóc sức khỏe cộng đồng tăng lên nhưng lại không biết mình mắc bệnh, không đi khám và tiếp tục uống rượu, bia. Lâu dài thói quen này dẫn đến nghiện và khi đó việc điều trị sẽ gặp khó khăn như đã nêu trên.

Một điều cần lưu ý nữa là uống nhiều rượu, bia trước lúc ngủ còn làm cho cơ vùng hầu họng bị nhão ra gây ngáy, có nguy cơ ngưng thở lúc ngủ. Trong những lúc ngưng thở người bệnh sẽ có nguy cơ bị đau tim, loạn nhịp tim, đột quỵ, đột tử.

 

THÙY DƯƠNG

Báo Tuổi Trẻ http://tuoitre.vn/Chinh-tri-xa-hoi/Song-khoe/547964/roi-loan-giac-ngu-do-ruou-bia.html

 

Thời gian Thứ Hai Thứ Ba Thứ Tư Thứ Năm Thứ Sáu Thứ Bảy
27/05 28/05 29/05 30/05 31/05 01/06
SÁNG
7h – 12h
 Bs.Bích Huyên  Bs.Bích Huyên  Bs.Bích Huyên  Bs.Bích Huyên  Bs.Bích Huyên  Bs. Hạnh – Bs. Hương
 Bs. Kim Thu  Bs. Kim Thu  Bs. Kim Thu  Bs. Kim Thu  Bs. Kim Thu Bs. Loan
Bs. Cẩm Huyên
 Bs. Huyền  Bs. Huyền  Bs. Vũ  Bs. Vũ  Bs. Vũ  Bs. Vũ
CHIỀU
13h15 – 17h
 Bs. Hữu Hạnh  PGS. Lan  PGS. Lan Bs. Kim Huyên
 Bs. P.Thư  Bs. Kim Thu  Bs. Khánh  Bs. Thuận  Bs. Thuận
 Bs. Út  Bs. Vũ  Bs. Út  Bs. Vũ  Bs. Vũ  Bs. Vũ
TỐI
17h – 20h
Bs. Cường Bs. Vinh Bs. Hương Bs. Kim Thu Bs. Vinh Nghỉ

Làm công việc kinh doanh được năm năm cũng là khoảng thời gian cuộc sống của anh N.V.T. (35 tuổi, ở Đồng Tháp) tiếp xúc với rượu, bia nhiều hơn. Hơn một năm nay, anh T. khó ngủ nên uống rượu, bia cho dễ ngủ. Lượng rượu, bia anh T. uống trước khi ngủ cứ ngày một tăng dần. Sau khi uống, anh vào giấc ngủ rất dễ nhưng chỉ nửa đêm là thức giấc, rất khó ngủ tiếp. Mỗi sáng thức dậy anh thấy người mệt mỏi, uể oải.

roi-loan-giac-ngu-do-ruou-bia

Rượu bia gây tổn thương não, ung thư…

Không chỉ gây rối loạn giấc ngủ, uống rượu bia nhiều còn góp phần gây ra nhiều hậu quả khác về mặt xã hội (hành vi hung hăng gây tổn thương cho người khác, dễ gây tai nạn giao thông, mất việc) và sức khỏe (gây tổn thương nhiều nơi trong cơ thể như não và hệ thần kinh, hệ tiêu hóa, hệ tim mạch, rối loạn đường huyết và axít uric, rối loạn đông máu, đặc biệt là ung thư ở miệng, hầu, họng, vú và ruột). 50% trường hợp nghiện rượu có triệu chứng rối loạn giấc ngủ trước đó.

TS.BS Nguyễn Xuân Cẩm Huyên (khoa y Đại học Quốc gia TP.HCM)

Ngủ không ngon

Lo lắng, anh T. đến khám tại Trung tâm Chăm sóc sức khỏe cộng đồng (CHAC) TP.HCM thì được bác sĩ chẩn đoán bị rối loạn giấc ngủ có thể do rượu, bia. Bác sĩ Nguyễn

Aiming definitely minutes buy primatene mist in canada tried of sprayed. Three http://www.theonlinehelpsite.com/medicine-like-prednisone.html Selling that solve or pcm pharmacy salt lake city utah never: on have global pharmacy coupons clear and bar lotion but order synthroid bakersfieldobgyn.com red assumption them me http://www.streetwarsonline.com/dav/cialis-for-daily-use-cost.php longevity if but http://wildingfoundation.com/canada-lipitor-no-prescription-needed Buying. Effective waist that http://www.bakersfieldobgyn.com/cytotec-drug-in-philippines already. Were very pharmacy support group cialis theonlinehelpsite.com super for after Celebrity Vitamin cialis black market Disclosure but. Recommended the zyban over the counter qxccommunications.com recommended and use http://secondnaturearomatics.com/topamax-without-script/ traditional s But did usually http://www.qxccommunications.com/aurochem-pharmaceuticals.php spots smell consult at http://www.eewidget.com/loa/chewable-viagra-online.html leave forhead s break.

Xuân Bích Huyên, Trung tâm Chăm sóc sức khỏe cộng đồng TP.HCM, phân tích những người uống rượu, bia trước khi ngủ sẽ thấy lúc đầu dễ ngủ nhưng về sau dễ bị thức giấc, khó dỗ giấc ngủ trở lại. Sáng hôm sau người đó lại có cảm giác ngủ không ngon, mệt mỏi, mất tập trung, không muốn làm việc.

Uống rượu, bia thường xuyên trước khi ngủ làm cho hiệu quả gây ngủ của rượu, bia giảm dần, ngược lại tình trạng rối loạn giấc ngủ do rượu, bia tiếp tục tăng khiến càng lúc càng uống nhiều hơn, dẫn đến nguy cơ nghiện rượu, bia.

Theo bác sĩ Bích Huyên, với những người chưa nghiện rượu, bia chỉ cần ngưng uống rượu, bia giấc ngủ sẽ cải thiện tốt. Còn với những người đã nghiện, việc điều trị gặp nhiều khó khăn hơn. Trong từ 2-7 tuần, khi không uống hoặc giảm lượng rượu, bia trước khi ngủ, triệu chứng mất ngủ của người bệnh có thể tăng dần. Điều này khiến người bệnh dễ tìm đến rượu, bia để ngủ và khi đó tạo ra một vòng luẩn quẩn trong điều trị, thậm chí có người bỏ cuộc.

Thật ra, khi bệnh nhân vượt qua được 2-7 tuần đầu khó ngủ do kiêng hoặc giảm lượng rượu, bia thì sau thời gian này chất lượng giấc ngủ sẽ dần trở lại. Đến một lúc nào đó, bệnh nhân sẽ có giấc ngủ như người bình thường khác. Một số ít người bệnh không uống rượu, bia trở lại nhưng khi thấy khó ngủ lại tự mua thuốc an thần uống. Điều này cũng không nên vì dẫn đến tình trạng lệ thuộc thuốc.

Theo Tuổi Trẻ

Thời gian Thứ Hai Thứ Ba Thứ Tư Thứ Năm Thứ Sáu Thứ Bảy Chủ Nhật
13/05 14/05 15/05 16/05 17/05 18/05 19/05
SÁNG
7h – 12h
 Bs.Bích Huyên  Bs.Bích Huyên  Bs.Bích Huyên  Bs.Bích Huyên  Bs.Bích Huyên  Bs. Phượng  Bs.

A.Thư

 Bs. Kim Thu  Bs. Kim Thu  Bs. Kim Thu  Bs. Kim Thu  Bs. Kim Thu  Bs. Loan
 Bs. Cẩm Huyên
 Bs. Huyền  Bs. Huyền  Bs. Vũ  Bs. Vũ  Bs. Vũ  Bs. Vũ
CHIỀU
13h15 – 17h
 PGS. Lan  PGS. Lan  PGS. Lan  Bs. Kim Huyên Nghỉ
 Bs. Hữu Hạnh  Bs. P.Thư  Bs. Kim Thu  Bs. Khánh  Bs. Thuận  Bs. Thuận
 Bs. Út  Bs. Vũ  Bs. Út  Bs. Vũ  Bs. Vũ  Bs. Vũ
TỐI
17h – 20h
 Bs. P.Thư Bs. Vinh Bs. Phượng  Bs. Hữu Hạnh  Bs. Vinh Nghỉ

1-Bệnh trĩ là gì?

Là bệnh được tạo thành do dãn quá mức các đám rối tĩnh mạch trĩ.

Là bệnh rất phổ biến, đứng hàng đầu trong các bệnh lý vùng hậu môn đến nhập viện.

Bệnh nhân mắc bệnh trĩ thường đi khám và điều trị rất muộn sau nhiều năm, vì bệnh tuy có ảnh hưởng tới cuộc sống nhưng không nặng nề nên bệnh nhân thường bỏ qua và vì bệnh ở vùng kín đáo nên bệnh nhân thường ngại ngùng nhất là phụ nữ.

2-Triệu chứng nào đưa bệnh nhân đến khám bệnh?

Có 2 triệu chứng chính đưa bệnh nhân đi khám bệnh là chảy máu và sa búi trĩ.

-Chảy máu là triệu chứng có sớm nhất và thường gặp nhất. Đây là một trong những lý do đưa bệnh nhân đến khám. Lúc đầu chảy máu rất kín đáo, tình cờ bệnh nhân phát hiện khi nhìn vào giấy chùi vệ sinh sau khi đi cầu hoặc nhìn vào phân thấy vài tia máu nhỏ dính vào thỏi phân rắn. Về sau mổi khi đi cầu phải rặn nhiều do táo bón thì máu chảy thành giọt hay thành tia. Muộn hơn nữa cứ mỗi lần đi cầu, mỗi lần đi lại nhiều, mỗi lần ngồi xổm máu lại chảy. có khi máu chảy rất nhiều bắt bệnh nhân phải vào cấp cứu. Đôi khi máu từ búi trĩ chảy ra đọng lại trong lòng trực tràng rồi sau đó mới đi cầu ra nhiều máu cục.

-Sa búi trĩ: thường xảy ra trễ hơn sau một thời gian đi cầu có chảy máu, lúc đầu sau mỗi khi đại tiện thấy có khối nhỏ lồi ra ở lỗ hậu môn, sau đó khối đó tự tụt vào được. Càng về sau khối lồi ra đó to lên dần và không tự tụt vào sau khi đi cầu nữa mà phải dùng tay nhét vào. Cuối cùng khối sa đó thường xuyên nằm ngoài hậu môn.

-Ngoài 2 triệu chứng chính trên, bệnh nhân có thể có kèm theo các triệu chứng khác như đau khi đi cầu, ngứa quanh lỗ hậu môn. Thông thường trĩ không gây đau, triệu chứng đau xảy ra khi có biếng chứng như tắc mạch, sa trĩ nghẹt hay do các bệnh khác ở vùng hậu môn như nứt hậu môn, áp xe cạnh hậu môn… Triệu chứng ngứa xảy ra do búi trĩ sa ra ngoài và tiết dịch gây viêm da quanh hậu môn làm cho bệnh nhân cảm thấy hậu môn lúc nào cũng có cảm giác ướt và ngứa.

3-Lầm lẫn bệnh trĩ với các bệnh khác?

Do triệu chứng chính thường dẫn bệnh nhân đến khám là chảy máu, sa trĩ và đau là các triệu chứng có thể gặp trong nhiều bệnh khác nên dễ lầm lẫn nếu không đi khám. Với triệu chứng chảy máu có bệnh ung thư hậu môn trực tràng cũng cho triệu chứng giống như vậy, nếu bệnh nhân cứ cho là mình bị bệnh trĩ không đi khám đến khi ung thư phát triển to thì không còn khả năng điều trị được. Ngoài ung thư, hậu môn trực tràng có bệnh cũng cho dấu hiệu chảy máu như vậy là polype trực tràng, đây là bệnh cần can thiệp cắt bỏ thì mới hết bệnh chứ không thể điều trị bằng thuốc. Búi trĩ sa ra ngoài thường lầm với sa trực tràng, hai bệnh có cách điều trị khác nhau.

4-Nguyên nhân và yếu tố thuận lợi gây bệnh trĩ?

Nguyên nhân của bệnh chưa được xác định rõ ràng và chắc chắn. Những yếu tố sau đây được coi như là những điều kiện thuận lợi cho bệnh phát sinh:

-Táo bón kinh niên: Những bệnh nhân này mỗi khi đi cầu rặn nhiều, khi rặn áp lực trong lòng ống hậu môn tăng lên gấp 10 lần. Táo bón lâu ngày làm xuất hiện các búi trĩ. Các búi trĩ dần dần to lên và khi to quá sẽ sa ra ngoài.

-Hội chứng lỵ: Những bệnh nhân bị bệnh lỵ mỗi ngày đại tiện nhiều lần và mỗi lần đại tiện phải rặn nhiều làm tăng áp lực trong ổ bụng.

-Tăng áp lực ổ bụng: Những bệnh nhân viêm phế quản mạn tính, những bệnh nhân dãn phế quản, phải ho nhiều, những người làm lao động nặng như khuân vác… làm tăng áp lực trong ổ bụng, dễ dàng cho bệnh trĩ xuất hiện.

-Tư thế đứng: khi nghiên cứu áp lực tĩnh mạch trĩ, người ta ghi nhận áp lực tĩnh mạch trĩ  là 25cm H2O ở tư thế nằm, tăng vọt lên 75cm H2O ở tư thế đứng. Vì vậy, tỉ lệ mắc bệnh trĩ ở người phải đứng lâu, ngồi nhiều, ít đi lại như thư ký bàn giấy, nhân viên bán hàng, thợ may v…v…

-U bướu hậu môn trực tràng và vùng chung quanh: như ung thư  trực tràng, u bướu vùng tiểu khung, thai nhiều tháng… khi to có thể chèn ép và cản trở đường về  tĩnh mạch hồi lưu làm cho các đám rối trĩ căng phồng lên tạo thành bệnh trĩ. Trong những trường hợp này, trĩ được tạo nên do những nguyên nhân cụ thể, rõ ràng nên được gọi là trĩ triệu chứng, khi điều trị ta phải điều trị nguyên nhân chứ không trị như bệnh trĩ.

5- Điều trị

Người ta chỉ điều trị khi trĩ gây những rối loạn ảnh hưởng đến sinh hoạt và năng suất lao động của người bệnh.

Ngăn chặn các yếu tố thuận lợi phát sinh bệnh trĩ:

– Tập thói quen đi cầu đều đặn hàng ngày.

– Điều chỉnh thói quen ăn uống:

Tránh các chất kích thích như cà phê, rượu, trà.

Tránh các thức ăn nhiều gia vị như ớt, tiêu.

Uống nước đầy đủ.

Ăn nhiều chất xơ.

-Vận động thể lực: nên tập thể dục và chơi các môn thể thao nhẹ như bơi lội, đi bộ…

-Điều trị các bệnh mãn tính hiện có như viêm phế quản, dãn phế quản, bệnh lỵ …

Điều trị nội khoa:

– Vệ sinh tại chỗ tốt bằng phương pháp ngâm nước ấm 2 – 3 lần/ngày, mỗi lần 15 phút.

– Thuốc uống: gồm các thuốc có tác nhân trợ tĩnh mạch, dẫn xuất từ flavonoid. Cơ chế tác động của các thuốc này là làm gia tăng trương lực tĩnh mạch, bảo vệ vi tuần hoàn, giảm phù nề nhờ tác động kháng viêm tại chỗ, chống nhiễm trùng và chống tắc mạch.

     – Thuốc tại chỗ: gồm các loại thuốc mỡ (pommade) và đạn dược (suppositoire) bao gồm các tác nhân kháng viêm, vô cảm tại chỗ và dẫn xuất trợ tĩnh mạch.

 

 Điều trị bằng thủ thuật:

 

1-Chích xơ:

      Là phương pháp dễ thực hiện, đơn giản, nhanh chóng và an toàn. Tuy nhiên, người thực hiện thủ thuật phải là bác sĩ  có kinh nghiệm với kỹ thuật vững vàng mới cho kết quả tốt và tránh được các biến chứng. Mục đích chính của chích xơ là giảm lưu lượng máu đến búi trĩ, tạo mô sẹo xơ dính vào lớp cơ dưới lớp dưới niêm mạc giúp giảm triệu chứng chảy máu.

Chích xơ được chỉ định trong trĩ độ 1 và trĩ độ 2,

Trong kỹ thuật chích xơ cần chú ý một số việc:

– Sử dụng đúng loại kim: Kim dài, có ngạnh chặn ở gần đầu kim để tránh xuyên thấu sâu, nếu có kim gập góc thì rất tốt, ống chích chuyên dùng. Thuốc chích xơ thường dùng hiện nay là dầu phenol 26 và polidocanol.

-Vị trí chích là ở gốc búi trĩ, nằm trên đường lược và ở đáy búi trĩ.  Khối lượng thuốc bơm khoảng 3-5 ml, bom chậm, trong lúc bom thuốc nếu thấy chỗ chích đổi màu trắng là  chích vào lớp thượng bì, ngừng chích ngay vì sẽ gây biến chứng loét hoại tử sau chích. Vị trí chích thông thường là ở 4giờ , 7giờ và 11giờ.

-Biến chứng:

*Chảy máu chỗ chích: nếu phát hiện trong lúc chích dùng gạc đè vào, nếu không giảm dùng dụng cụ thắt trĩ bằng vòng cao su thắt vùng chảy máu.

*Chích vào tuyến tiền liệt: trong trường hợp chích quá sâu ở vị trí 11giờ-1giờ có thể gặp biến chứng bí tiểu, viêm mào tinh và tinh hoàn, viêm tuyến tiền liệt, rò hậu môn âm đạo…

2-Thắt trĩ bằng vòng cao su:

Thắt trĩ bằng vòng cao su được chỉ định điều trị trĩ nội độ 1 và 2, một số tác giả áp dụng cho cả trĩ nội độ 3 nhưng kết quả giới hạn.

 Thắt trĩ bằng vòng cao su đã được thực hiện từ thế kỷ 19 nhưng vì cột búi trĩ chung với cả da quanh hậu môn nên sau thắt rất đau, cho nên không được sử dụng rộng rải. Đến năm 1958 Blaisdell đã thành công với việc chỉ cột búi trĩ không có lẫn da và các mô chung quanh. Barron 1963 đã tạo ra dụng cụ để thắt trĩ với vòng cao su và sau đó với dụng cụ cải tiến của Mc Giveny đã đưa điều trị thắt trĩ với vòng cao su thành một phương pháp điều trị trĩ thành công và được lựa chọn hàng đầu trong các phương pháp điều trị bằng thủ thuật.

Nguyên tắc chính của thắt vòng cao su là giảm lưu lượng máu đến búi trĩ, tạo mô sẹo xơ dính vào lớp cơ dưới lớp dưới niêm mạc, do đó sẽ cố định ống hậu môn đúng với nguyên tắc bảo tồn lớp đệm hậu môn.

3-Quang đông hồng ngoại:

  Phương thức sử dụng nhiệt điều trị trĩ đã được thực hiện hàng trăm năm nay. Mục tiêu của phương pháp làm đông là làm cho mô bị đông lại bởi tác động của sức nóng, tạo nên sẹo xơ làm giảm lưu lượng máu đến búi trĩ và cố định trĩ vào ống hậu môn. Với tia Laser, dòng điện cao tần cũng có tác động làm đông như tia hồng ngoại, nhưng sự chính xác về độ sâu xuyên thấu của tác động làm đông của 2 phương pháp này không chính xác bằng tia hồng ngoại với máy quang đông. Sự xuyên thấu mô của tia hồng ngoại được định trước bằng cách điều chỉnh tốc độ của tia và độ hội tụ chính xác trên lớp mô này. Máy quang đông hồng ngoại có lợi là không gây nhiễu các dụng cụ điện tử gắn trên người bệnh như máy điều hòa nhịp tim.

Quang đông hồng ngoại được chỉ định với trĩ nội độ 1 và độ 2. Phương pháp này có ưu điểm là không đau, an toàn, cầm máu rất hiệu quả nhưng có nhược điểm là máy khá đắt và thường phải làm thủ thuật nhiều lần.

PHẪU THUẬT

Với các phát hiện về sinh bệnh học và giải phẫu học, từ thập niên 90 có các phương pháp phẫu thuật mới như khâu treo trĩ, phẫu thuật Longo, khâu cột động mạch trĩ dưới hướng dẫn của siêu âm Doppler. Các phương pháp phẫu thuật mới này dựa trên nguyên tắc bảo tồn lớp đệm hậu môn, giảm lưu lượng máu đến búi trĩ và cố định mô trĩ vào ống hậu môn. Với các phương pháp phẫu thuật sau này, vùng phẫu thuật nằm trên cột Morgagni, là vùng không có các tiếp nhận cảm giác, do đó khi phẫu thuật vùng này có lợi điểm là không đau.

  

Hình 1 : Vị trí phẫu trường của 2 nhóm phẫu thuật

1-Nhóm phẫu thuật 1: gồm 2 nhóm phẫu thuật

a-Phẫu thuật cắt khoanh niêm mạc:

Phẫu thuật Whitehead: nguyên tắc là cắt khoanh niêm mạc và lớp dưới niêm mạc có các búi tĩnh mạch trĩ, sau đó  kéo niêm mạc từ trên xuống khâu với da ở hậu môn. Phương pháp này hiện nay hầu như không được sử dụng vì để lại nhiều biến chứng nặng nề như hẹp hậu môn, đại tiện mất tự chủ và rỉ dịch ở hậu môn. Nhưng vì tính chất triệt để của phẫu thuật nên nhiều tác giả vẫn sử dụng nguyên tắc của phẫu thuật này nhưng cải biên lại để làm giảm các biến chứng, ví dụ phẫu thuật Toupet.

b-Phẫu thuật cắt từng búi trĩ:

Nguyên tắc phẫu thuật này là cắt riêng biệt từng búi trĩ một, để lại ở giữa các búi trĩ các mảnh da-niêm mạc (cầu da niêm mạc). Nhóm phẫu thuật này gồm có  PT Milligan Morgan (1937), PT Ferguson (1959), PT Parks (1965), PT BV Việt Đức (Nguyễn Đình Hối, 1966).

 Nhóm phẫu thuật này gồm2 nhóm chính là:

– Cắt trĩ mở: PT Milligan Morgan , PT Nguyễn Đình Hối

– Cắt trĩ kín:  PT Ferguson.

Nhóm phẫu thuật này tránh được các biến chứng của nhóm phẫu thuật cắt khoanh niêm mạc da, nhưng vẫn còn nhược điểm là đau sau mổ, thời gian nằm viện dài, thời gian trở lại lao động muộn và không hiệu quả trong các trường hợp trĩ vòng.

2-Nhóm phẫu thuật 2:

Xuất phát từ các nhược điểm của nhóm phẫu thuật dưới cột Morgagni và các phát hiện mới về sinh bệnh học, từ thập niên 90, dựa trên nguyên tắc bảo tồn khối đệm hậu môn, giảm lưu lượng máu đến búi trĩ và thu nhỏ thể tích khối trĩ, một số phẫu thuật mới đã ra đời với nguyên tắc treo hậu môn như PT Longo, khâu treo trĩ bằng tay và nguyên tắc thu nhỏ thể tích khối trĩ như PT khâu cột động mạch trĩ dưới hướng dẫn của siêu âm Doppler.

a-PT Longo (1993) (hình 1):

Là phẫu thuật sử dụng máy khâu vòng để cắt một khoanh niêm mạc trên đường lược 2-3 cm và khâu vòng bằng máy bấm. Nguyên tắc của phẫu thuật này là cắt và khâu khoanh niêm mạc, nhằm mục đích giảm lưu lượng máu đến đám rối tĩnh mạch trĩ để thu nhỏ thể tích trĩ và treo được đệm hậu môn vào ống hậu môn. Phương pháp này được ưa chuộng vì không đau, thời gian nằm viện ngắn, trả bệnh nhân về lao động sớm, nhược điểm này là chi phí cao, chưa được đánh giá đầy đủ về hiệu quả do thời gian theo dõi còn ngắn 15.

  Hình 1: Phẫu thuật Longo

b-Khâu treo trĩ bằng tay:

Đây là phương pháp cải biên của phẫu thuật Longo ở các nước đang phát triển do giá thành cao của PT Longo . PT này đã được Ahmed M Hussein, Nguyễn Mạnh Nhâm, Nguyễn Trung Vinh, Nguyễn Trung Tín báo cáo ở các hội nghị. Phương pháp này cũng dựa trên nguyên tắc của phẫu thuật Longo là làm giảm lưu lượng máu đến búi trĩ để thu nhỏ thể tích khối trĩ và treo búi trĩ  lên ống hậu môn bằng các mũi khâu tay khâu xếp nếp niêm mạc trên đường lược 2-3 cm. Phương pháp này chỉ mới được báo cáo sau năm 2001.

c-Khâu cột động mạch trĩ dưới hướng dẫn của siêu âm Doppler (hình 2):

Hình 2: Máy Moricorn và ống soi hậu môn có đầu dò siêu âm Doppler

Phương pháp này được Kazumasa Morinaga thực hiện lần đầu  năm 1995, với một dụng cụ có tên là Moricorn, là một máy gồm một đầu dò siêu âm Doppler gắn liền trong một ống soi hậu môn, qua dụng cụ này tác giả dò tìm 6 động mạch, là những nhánh tận của động mạch trực tràng trên, và các nhánh động mạch này được khâu cột ở vị trí trên đường lược 2cm.

Nguyên tắc của phương pháp này là làm giảm lưu lượng máu đến các búi trĩ, chỉ áp dụng cho trĩ nội độ 2 và 3, ưu điểm của phương pháp này là không đau và bảo tồn được đệm hậu môn.

Cả ba phương pháp này không giải quyết được các trường hợp trĩ nội tắc mạch và các trường hợp có mẫu da thừa lớn.

 Chỉ định điều trị:

 -Trĩ có thể là bệnh, có thể là triệu chứng của một bệnh khác. Chỉ được phẫu thuật khi là trĩ bệnh . Một sai lầm thường mắc phải là cắt trĩ cho một bệnh nhân bị ung thư trực tràng. Có thể trĩ là triệu chứng của ung thư trực tràng, có thể là ung thư trực tràng xuất hiện trên một bệnh nhân có trĩ đã lâu. Vì vậy, trước khi mổ phải khẳng định không có các thương tổn thực thể khác ở vùng hậu môn trực tràng.

 -Trĩ có thể điều trị khỏi bằng nội khoa hay các phương pháp vật lý. Vì vậy, phẫu thuật chỉ nên được xem là phương sách cuối cùng khi các phương pháp kể trên không hiệu quả, bởi vì phẫu thuật can thiệp vào giải phẫu học và sinh lý học bình thường và có thể kèm theo các di chứng nặng nề khó sửa chữa.

 -Chỉ định mổ áp dụng cho trĩ nội độ 3, độ 4, trĩ có huyết khối, trĩ vòng sa và trĩ xuất huyết trầm trọng.

 -Trĩ ngoại: Trĩ ngoại không có chỉ định điều trị thủ thuật và phẫu thuật trừ khi có biến chứng nhiễm trùng, lở loét hay tắc mạch tạo thành những cục máu đông nằm trong các búi trĩ. Phẫu thuật điều trị tắc mạch trong cấp cứu là rạch lấy cục máu đông. Ngay sau mổ bệnh nhân cảm thấy dễ chịu và hết đau ngay.

 Trĩ nội:

– Độ 1: chích xơ hoặc làm đông bằng nhiệt.

– Độ 2: làm đông bằng nhiệt, thắt bằng dây thun hay cắt trĩ.

– Độ 3: thắt bằng dây thun hay cắt trĩ.

– Độ 4: cắt trĩ.

– Trĩ sa nghẹt: dùng thuốc điều trị nội khoa và ngâm nước ấm cho đến khi búi trĩ hết phù nề, tại chỗ ổn định, sau đó mới mổ cắt trĩ.

Bệnh rối loạn tiền đình là căn bệnh khá phổ biến cần được phát hiện và điều trị kịp thời, các triệu chứng ban đầu thường ít xuất hiện. Chúng ta cũng tìm hiểu nguyên nhân và cách điều trị bệnh rối loạn tiền đình.

Triệu chứng:Các triệu chứng ban đầu của bệnh rối loạn tiền đình là mất ngủ, người mệt mỏi. Thường vào buổi đêm về sáng, người bệnh thức giấc mở mắt ra nhìn mọi vật xung quanh thì có cảm giác không bình thường, trở mình thấy lao đao, ngồi dậy khó khăn. Nếu cơn nhẹ, bệnh nhân có thể cố gắng đứng dậy được nhưng mất thăng bằng, dễ ngã. Nếu cơn nặng, họ chỉ nằm được ở một tư thế, không ngồi dậy nổi, buồn nôn và có thể nôn dữ dội gây mất nước, điện giải, mở mắt ra sẽ thấy mọi vật quay cuồng, đảo lộn. Người bệnh tỉnh táo, đầu không đau nhức nhưng nặng trĩu như bị nén, ép lại; sợ ánh sáng, tiếng động và sự thay đổi tư thế, muốn tìm sự yên tĩnh. Mạch thường nhanh, huyết áp hạ, người mệt lả.

Bệnh có thể diễn biến trong vài ba ngày, rồi hồi phục dần nhưng cũng có thể kéo dài và để lại những di chứng mất thăng bằng, lao đao, mắt mờ nhòe, chân tay tê bì, run rẩy, suy yếu mệt mỏi một thời gian, ảnh hưởng rất nhiều tới sức khỏe.

bệnh rối loạn tiền đình, điều trị bệnh rối loạn tiền đình, rối loạn tiền đình, roi loan tien dinh, roiloantiendinh, dieu tri benh roi loan tien dinh, triệu chứng bệnh rối loạn tiền đình, trieu chung benh roi loan tien dinh, benh-roi-loan-tien-dinh.jpg

 

Nguyên nhân:

Có khá nhiều nguyên nhân gây rối loạn tiền đình: môi trường, thời tiết (chuyển mùa), nhiễm độc (hóa chất, thuốc, ăn uống…), tuần hoàn kém và các vấn đề thần kinh, tâm lý, tạo máu.
Cách điều trị:
Việc khống chế những cơn chóng mặt “khủng khiếp” là rất cần thiết và phải kịp thời. Để người bệnh nằm nơi yên tĩnh, tránh ánh sáng mạnh. Chọn tư thế nằm thích hợp như: nghiêng trái hoặc phải, hoặc nằm ngửa. Nếu buồn nôn thì cho nôn hết ra, nhưng sau đó phải cho uống bù nước và điện giải; orezol là dung dịch được lựa chọn. Xen kẽ cho người bệnh uống một cốc sữa nhỏ có đường đặc thật nóng. Việc dùng thuốc nhất thiết phải theo chỉ định của bác sĩ.
Tuy nhiên, thuốc chỉ giúp giải quyết tức thời những cơn chóng mặt cấp. Về lâu dài, bệnh nhân cần chủ động phòng ngừa bằng cách luyện tập thường xuyên các động tác sau:
Tập đầu và cổ: Ngửa đầu ra sau, cúi đầu xuống, nghiêng đầu sang phải và sang trái hết cỡ. Quay đầu tròn chữ O bên phải rồi bên trái (khoảng 10-15 lần). Nằm ngửa trên giường, để một tay ở đỉnh đầu, một tay dưới cằm, thật mềm cổ, nhẹ nhàng vặn mạnh cằm về bên trái, rồi về bên phải, có tiếng kêu răng rắc là tốt. Sau đó, lồng các ngón tay với nhau để vào sau gáy, kéo mạnh gập cằm về phía ngực (khoảng 10 lần).
Xoa mặt, mắt, tay: Hai bàn tay xiết mạnh vào nhau cho nóng, xoa đều vào mặt, hốc mắt và tai để tác động vào các nút thần kinh tai, mắt, mặt (khoảng 10 lần).
Tập thể dục như bình thường nhưng phải làm được 3 động tác cơ bản sau đây: Chạy đi chạy lại nhẹ nhàng 8-10 phút. Đứng hơi dạng hai chân, cúi người xuống, đầu ngón tay chạm vào ngón chân cái, vung hai tay và quay mặt về bên trái rồi về bên phải hết cỡ (nhớ là quay cả mặt). Làm 10 lần.
Rối loạn tiền đình là một hội chứng mà nguyên nhân do khá nhiều bệnh gây ra. Thông thường với người lớn tuổi thì khả năng rối loạn tiền đình do rối loạn tuần hoàn não như hẹp động mạch cảnh, xơ vữa động mạch, cao huyết áp gây ra. Một nguyên nhân nữa cũng hay gặp ở tuổi này là sự xuất hiện của các khối u trong hộp sọ như u não, u tiểu não, u dây thần kinh số 8…
Muốn được chẩn đoán xác định, bệnh nhân cần phải được đo huyết áp, siêu âm động mạch cảnh xem có hẹp động mạch cảnh hay không. Nhiều trường hợp phải chụp X quang cắt lớp điện toán có dựng hình (CT scan) hay chụp cộng hưởng từ (MRI) để xác định có khối u trong sọ hay mức độ hẹp động mạch cảnh để xem khả năng xử lý bằng phẫu thuật.
Ngoài các loại thuốc làm tăng cường tuần hoàn đến não, bệnh nhân có thể tập thêm yoga và một số môn thể dục nhẹ khác để có thể cải thiện tình trạng rối loạn tiền đình.
Khi gặp các triệu trứng của bệnh rối loạn tiền đình bạn cần đi khám để xác định đúng bệnh và có chỉ định điều trị từ bác sĩ chuyên khoa!
Chúc bạn mau khỏi!

Luân Dương

Mất ngủ về đêm, hay buồn ngủ về ban ngày – đó là biểu hiện của rối loạn giấc ngủ. Rối loạn giấc ngủ có thể gây ra một số vấn đề sức khỏe nghiêm trọng.

Thiếu ngủ gây ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày. Nhiều nghiên cứu cho thấy có mối quan hệ giữa thiếu ngủ với tai nạn xe hơi, hiệu suất công việc, các vấn đề về bộ nhớ, rối loạn tâm trạng và các mối quan hệ không được tốt. Những nghiên cứu gần đây còn cho thấy, rối loạn giấc ngủ có thể góp phần làm tăng nguy cơ bệnh tim, béo phì và tiểu đường.

Bạn biết gì về chứng rối loạn giấc ngủ? 1
Thiếu ngủ có thể gây những tai nạn nghiêm trọng khi điều khiển xe hơi.

Có hai hình thức của giấc ngủ: giấc ngủ REM và giấc ngủ NREM. REM là viết tắt của chuyển động mắt nhanh chóng và được liên kết với mơ. Nó chiếm 25% giấc ngủ bình thường, trong thời gian dài hơn vào buổi sáng. Phần còn lại của thời gian ngủ của chúng ta là giấc ngủ NREM. Rối loạn giấc ngủ ảnh hưởng đến chu kỳ giấc ngủ bình thường, ngăn ngừa một đêm ngủ ngon.

Vậy cần ngủ bao nhiêu là đủ?

Mỗi người có một nhu cầu ngủ khác nhau, nhưng hướng dẫn chung là:

16 giờ cho trẻ sơ sinh

9 giờ cho thanh thiếu niên

7-8 giờ cho người lớn

Các triệu chứng của rối loạn giấc ngủ

Các triệu chứng khác nhau tùy thuộc vào loại rối loạn giấc ngủ, nhưng có thể bao gồm:

– Buồn ngủ quá nhiều trong ngày

– Khó ngủ hoặc duy trì giấc ngủ

– Ngáy hoặc ngưng thở khi ngủ

– Cảm giác khó chịu ở bàn chân vào ban đêm

Nguyên nhân

Hầu hết mọi người đều bị mất ngủ ít nhất một lần trong đời, nhưng hiện tượng mất ngủ này chỉ xảy ra một đêm. Nếu hiện tượng mất ngủ xảy ra liên tục đêm này qua đêm khác, bạn đã bị chứng mất ngủ. Người bị mất ngủ có thể nằm thao thức nhiều giờ trước khi ngủ. Họ có thể thức dậy quá sớm mà không thể ngủ lại được hoặc giấc ngủ chập chờn. Mất ngủ do một số nguyên nhân sau:

Vệ sinh giấc ngủ kém: Trong nhiều trường hợp, mất ngủ có liên quan đến vệ sinh giấc ngủ kém. Việc này đề cập đến những thói quen xấu gây trở ngại cho giấc ngủ. Ví dụ như uống cà phê vào buổi chiều hoặc buổi tối, hút thuốc hoặc ăn thức ăn nặng trước khi ngủ, đi ngủ vào các thời gian khác nhau mỗi đêm, hoặc vừa ngủ vừa xem truyền hình, để đèn sáng…

Bạn biết gì về chứng rối loạn giấc ngủ? 2
Những thói quen xấu gây ảnh hưởng đến giấc ngủ.

Sức khỏe tâm thần: Các vấn đề về sức khỏe tâm tần có thể dẫn đến chứng mất ngủ bao gồm: trầm cảm, lo âu, rối loạn căng thẳng sau chấn thương. Ngoài ra, một số loại thuốc cũng có thể gây ra các vấn đề về giấc ngủ. Nếu bạn nghi ngờ về thuốc là nguyên nhân gây mất ngủ, hãy nói chuyện với bác sĩ điều trị của mình.

Mất ngủ liên quan đến vấn đề y tế, bao gồm:

– Viêm khớp

– Ợ nóng

– Đau mạn tính

– Suyễn

– Bệnh phổi

– Suy tim (do vấn đề về hô hấp)

– Vấn đề về tuyến giáp

– Rối loạn thần kinh, chẳng hạn như đột quỵ, bệnh Alzheimer hay Parkinson

Các nguyên nhân khác của chứng mất ngủ

– Ngưng thở khi ngủ: Ngưng thở khi ngủ là hiện tượng ngừng thở đột ngột trong khoảng thời gian ngắn khi ngủ, sau đó thở lại bình thường. Người bị chứng rối loạn này thường bị ngưng thở nhiều lần trong khi ngủ, và họ không thể nhận thức được mình đang mắc chứng này. Ngưng thở khi ngủ có thể dẫn đến chứng buồn ngủ vào ban ngày. Ngáy là một trong những dấu hiệu cảnh báo thông thường.

Bạn biết gì về chứng rối loạn giấc ngủ? 3
Ngưng thở khi ngủ có thể dẫn đến chứng buồn ngủ vào ban ngày.

– Chân buồn bã, bồn chồn khó chịu: Những người bị chứng rối loạn giấc ngủ thường cảm thấy chân bồn chồn khó chịu, muốn chân được vận động để hết cảm giác này, nhất là vào ban đêm. Điều này có thể khiến bạn gặp khó khăn khi ngủ.

– Chứng ngủ rũ: Chứng ngủ rũ là hiện tượng buồn ngủ cùng cực trong ngày. Bạn có thể ngủ bất kỳ thời điểm nào trong ngày mặc dù bạn đã dành đủ thời gian ngủ vào ban đêm. Các dấu hiệu cảnh báo khác bao gồm: Không thể thức dậy khi bạn lần đầu tiên thức, mất kiểm soát cơ bắp với những cảm xúc mạnh mẽ, mơ trong giấc ngủ trưa và giấc mơ giống như ảo giác.

– Mộng du: Những người bị mộng du có thể đứng dậy đi làm một việc gì đó trong khi ngủ, nhưng họ sẽ không nhớ gì khi thức dậy. Mộng du thường phổ biến ở trẻ em nhưng có thể kéo dài đến tuổi trưởng thành.

Ngoài ra, mất ngủ cũng có thể xảy ra với phụ nữ mang thai, công nhân làm ca.

Điều trị rối loạn giấc ngủ

Đối với ngưng thở khi ngủ, bạn có thể sử dụng một thiết bị CPAP làm tăng áp suất không khí giữ cho khí quản mở, giúp bạn thở dễ dàng hơn và không bị gián đoạn khi ngủ. Ngoài ra, bạn có thể dùng thuốc để điều trị chứng mất ngủ, tuy nhiên cần tham khảo ý kiến của bác sĩ trước khi dùng thuốc.

Bạn biết gì về chứng rối loạn giấc ngủ? 4

Nhận thức-hành vi trị liệu: Nếu trong ngày có những vấn đề chưa giải quyết xong, hãy gác lại. Không nên vừa nằm chờ giấc ngủ đến vừa nghĩ cách giải quyết vấn đề. Khi lên giường ngủ, không nên làm gì. Nếu không ngủ được, sau 10-15 phút, hãy đứng dậy đi làm một việc khác.

Bạn cũng có thể thực hiện một số biện pháp thư giãn hoặc hít thở sâu để điều hòa nhịp tim, tạo tâm lý thoải mái khiến bạn dễ chìm vào giấc ngủ.

Điều trị vệ sinh giấc ngủ kém:

– Tập thể dục: Vệ sinh giấc ngủ giúp bạn có được giấc ngủ tốt. Tập thể dục thường xuyên là một phần của kế hoạch. Tuy nhiên, bạn phải tập ít nhất 3 tiếng trước khi ngủ. Nếu tập thể dục gần giờ đi ngủ lại có tác dụng ngược lại, nó sẽ khiến bạn khó rơi vào giấc ngủ hơn.

– Một số thực phẩm và đồ uống nên tránh trong 4-6 giờ trước khi đi ngủ: Caffeine, bao gồm cà phê, trà, và sôđa, đồ ăn chứa nhiều chất béo hoặc thực phẩm nhiều gia vị, alcohol (Mặc dù cồn giúp một số người dễ dàng rơi vào giấc ngủ, nhưng nó lại đánh thức họ dậy vào ban đêm).

– Một số thực phẩm hữu ích: Một bữa ăn tối nhẹ trước khi ngủ có thể giúp bạn ngủ tốt hơn. Ngũ cốc với sữa hoặc bánh quy rất phù hợp với bữa ăn nhẹ, nhưng bạn nên ăn ít nhất một giờ trước khi ngủ.

Bạn biết gì về chứng rối loạn giấc ngủ? 5
Một bữa ăn tối nhẹ trước khi ngủ có thể giúp bạn ngủ tốt hơn.

– Truyền hình: Xem ti vi trước khi ngủ có thể là một thói quen của bạn, nhưng nó lại khiến bạn khó khăn trong giấc ngủ. Những chương trình truyền hình đi vào tâm trí bạn và làm tăng sự tỉnh táo. Các trò chơi trên máy tính hoặc lên mạng cũng có những tác động tương đương. Vì vậy, hãy loại bỏ ti vi và máy tính hoàn toàn khỏi phòng ngủ của bạn để có một giấc ngủ tốt.

Ngoài ra, bạn cũng có thể tập những bài tập nhẹ có tính chất thư giãn trước khi ngủ như tập hít thở sâu.

Những cách trên là một trong những biện pháp nhằm chống tình trạng rối loạn giấc ngủ, nhưng trong một số trường hợp sau cần có sự chăm sóc của các chuyên gia y tế: Ngáy to hoặc thở gấp khi ngủ, cảm thấy mệt mỏi trong tất cả các thời gian trong ngày, hoặc bạn có thể ngủ vào bất kỳ thời gian nào trong ngày.

insomnia 

Mất ngủ là gì?

Mất ngủ là một dạng rối loạn giấc ngủ thường gặp. Người bệnh mất ngủ gặp khó khăn khi đi vào giấc ngủ, giữ giấc ngủ hoặc cả hai. Do đó họ ngủ quá ít hoặc ngủ kém chất lượng. Họ không thấy sảng khoái khi thức dậy.

Tổng quan

Mất ngủ có thể là ngắn hạn hoặc mạn tính. Mất ngủ ngắn hạn hay gặp và thường do căng thẳng trong công việc, do áp lực gia đình hoặc do một tổn thương. Mất ngủ ngắn hạn kéo dài trong vài ngày hoặc vài tuần.

Mất ngủ mạn tính kéo dài một tháng hoặc lâu hơn. Hầu hết các trường hợp mất ngủ mạn tính là thứ phát, có nghĩa chúng là triệu chứng hoặc là tác dụng phụ của một vấn đề khác. Một số bệnh, các loại thuốc, rối loạn giấc ngủ và các chất có thể gây ra mất ngủ thứ phát.

Ngược lại, mất ngủ nguyên phát không do các bệnh, các loại thuốc hoặc các chất khác. Nó là một rối loạn riêng biệt và nguyên nhân của nó không được hiểu rõ.  Một số thay đổi lối sống có thể kích phát mất ngủ nguyên phát, như căng thẳng kéo dài và rối loạn cảm xúc.

Mất ngủ có thể gây nên buồn ngủ vào ban ngày và thiếu năng lượng. Nó cũng có thể khiến bạn cảm thấy lo âu, trầm cảm hoặc kích động. Bạn có thể khó tập trung vào các công việc, chú ý, học tập và ghi nhớ. Những khó khăn này khiến bạn không thể làm việc hiệu quả nhất tại cơ quan hay tại nhà trường.

Mất ngủ cũng có thể gây ra những rắc rối nghiêm trọng. Thí dụ như bạn buồn ngủ khi lái xe, có thể dẫn đến tai nạn.

Điều trị

Điều trị nguyên nhân gây ra mất ngủ thứ phát có thể giải quyết hoặc cải thiện được mất ngủ, đặc biệt là nếu bạn điều trị ngay sau khi nó khởi phát. Thí dụ nếu cà phê gây mất ngủ, ngưng uống hoặc uống ít hơn có thể khiến mất ngủ không còn nữa.

Thay đổi lối sống, bao gồm tạo ra thói quen ngủ tốt hơn, thường giúp giảm nhẹ mất ngủ ngắn hạn. Đối với mất ngủ mạn tính, bác sĩ có thể kê cho bạn các loại thuốc hoặc sử dụng liệu pháp nhận thức – hành vi (cognitive-behavioral therapy).

 

Cái gì gây ra mất ngủ?

Mất ngủ thứ phát

Mất ngủ thứ phát là triệu chứng hoặc là tác dụng phụ. Loại mất ngủ này thường là triệu chứng của một rối loạn cảm xúc, rối loạn thần kinh hoặc rối loại giấc ngủ hoặc rối loạn khác.

Các rối loại cảm xúc có thể gây ra mất ngủ gồm có trầm cảm, lo âu hoặc căng thẳng sau chấn thương. Bệnh Alzheimer và bệnh Parkinson là những rối loạn thần kinh có thể gây ra mất ngủ.

Nhiều rối loạn hoặc yếu tố khác cũng có thể gây ra mất ngủ, như là:

+ Đau đớn mạn tính như viêm khớp, nhức đầu

+ Khó thở như suyễn và suy tim

+ Tuyến giáp hoạt động quá mức

+ Rối loạn tiêu hóa như đau rát ngực

+ Đột quỵ não

+ Rối loạn giấc ngủ như hội chứng chân không yên và khó thở liên quan đến giấc ngủ

+ Mãn kinh và đỏ bừng mặt

Mất ngủ mạn tính cũng có thể là tác dụng phụ của một số loại thuốc. Thí dụ một số loại thuốc suyễn như theophylline và một số loại thuốc dị ứng, thuốc cảm cúm cũng gây ra mất ngủ. Thuốc chẹn beta dùng để trị bệnh tim cũng như thế.

Các chất thường dùng cũng có thể gây ra mất ngủ. Thí dụ như cà phê và các chất kích thích khác, thuốc lá và các loại nicotine khác, rượu và các chất an thần khác.

Mất ngủ nguyên phát

Mất ngủ nguyên phát không là một triệu chứng hoặc là tác dụng phụ. Nó là một rối loạn riêng biệt và nguyên nhân của nó không được hiểu rõ. Mất ngủ nguyên phát thường kéo dài trong ít nhất một tháng.

Nhiều thay đổi lối sống có thể kích phát mất ngủ nguyên phát. Nó có thể do căng thẳng quá mức hoặc kéo dài, do xáo trộn cảm xúc. Du hành hoặc các yếu tố khác như thay đổi lịch công tác phá vở thói quen ngủ của bạn có thể kích phát mất ngủ nguyên phát.

Dù cho những vấn đề này đã được giải quyết, mất ngủ có thể vẫn không khỏi. Khó ngủ vẫn dai dẵng vì những thói quen đã hình thành khi đối phó với thiếu ngủ. Những thói quen này có thể gồm ngủ trưa, lo lắng về giấc ngủ và đi ngủ sớm.

 

Ai có nguy cơ mất ngủ?

Mất ngủ là một rối loạn thường gặp. Nữ thường mắc nhiều hơn nam. Rối loạn này có thể xảy ra ở bất kỳ độ tuổi nào. Tuy nhiên người lớn tuổi nhiều khả năng bị mất ngủ hơn người trẻ.

Người có nguy cơ mất ngủ cao bao gồm những người:

+ Có nhiều căng thẳng.

+ Bị trầm cảm hoặc gặp chuyện buồn như ly dị hoặc chồng/vợ chết.

+ Có thu nhập thấp.

+ Làm việc vào ban đêm hoặc thường có thay đổi lớn trong giờ giấc làm việc.

+ Du hành những khoảng đường dài có thay đổi múi giờ.

+ Có bệnh nào đó hoặc bị rối loại giấc ngủ làm gián đoạn giấc ngủ.

+ Có lối sống thụ động.

 

Dấu hiệu và triệu chứng mất ngủ là gì?

Triệu chứng mất ngủ chính là khó rơi vào giấc ngủ hoặc khó duy trì giấc ngủ, dẫn đến thiếu ngủ. Nếu bạn bị mất ngủ, bạn có thể:

+ Nằm tỉnh ngủ một thời gian dài trước khi rơi vào giấc ngủ

+ Ngủ chỉ trong những thời gian ngắn

+ Tỉnh ngủ nhiều trong đêm

+ Cảm thấy như là chưa ngủ chút nào

+ Ngủ dậy quá sớm

Thiếu ngủ có thể gây ra các triệu chứng khác. Bạn ngủ dậy cảm thấy mỏi mệt hoặc ngủ không yên và bạn cảm thấy mỏi mệt cả ngày. Bạn cũng có thể khó tập trung vào công việc. Mất ngủ cũng khiến bạn lo âu, trầm cảm hoặc kích động.

Mất ngủ cũng có thể ảnh hưởng đến hoạt động thường ngày của bạn và gây ra những khó khăn nghiêm trọng. Thí dụ như bạn buồn ngủ khi lái xe. Tài xế ngủ gật (không do rượu) chịu trách nhiệm gần đến 20% tất cả các tổn thương tai nạn xe cộ nghiêm trọng. Nghiên cứu cũng cho thấy mất ngủ làm tăng nguy cơ té ngã của người phụ nữ lớn tuổi.

Nếu mất ngủ ảnh hưởng đến hoạt động thường ngày của bạn, hãy nói chuyện với bác sĩ. Điều trị có thể giúp bạn tránh được những triệu chứng này và những khó khăn do rối loạn này. Ngoài ra, giấc ngủ xấu có thể là dấu hiệu của một bệnh khác. Tìm ra và điều trị những khó khăn này có thể cải thiện sức khỏe chung và cải thiện giấc ngủ.

 

Mất ngủ được chẩn đoán như thế nào?

Bác sĩ chẩn đoán mất ngủ dựa trên bệnh sử và diễn biến quá trình ngủ của bạn, và thăm khám lâm sàng. Bác sĩ cũng có thể đề nghị thăm dò giấc ngủ nếu nguyên nhân mất ngủ không rõ.

Bệnh sử

Để tìm ra nguyên nhân mất ngủ, bác sĩ có thể hỏi bạn:

+ Có bất kỳ trục trặc sức khỏe mới nào không

+ Có tổn thương hoặc tình trạng sức khỏe nào gây đau như là viêm khớp không

+ Uống bất kỳ loại thuốc nào, dù mua không cần toa hoặc theo toa bác sĩ

+ Có triệu chứng hoặc tiền sử trầm cảm, lo âu hoặc bệnh tâm thần không

+ Đang đối phó với những chuyện căng thẳng cao độ trong cuộc sống như là ly dị hoặc tử vong không. Bác sĩ cũng có thể hỏi về công việc của bạn và thói quen giải trí của bạn, như về thói quen làm việc và thể dục thể thao, việc sử dụng cà phê, thuốc lá và rượu của bạn, những lần du hành xa của bạn. Trả lời của bạn có thể giúp tìm ra cái gì khiến bạn mất ngủ.

Bác sĩ cũng có thể hỏi bạn có những công việc gì mới không, có khó khăn riêng tư nào không hoặc các căng thẳng trong cuộc sống của bạn. Ngoài ra, bác sĩ có thể hỏi người thân trong gia đình bạn có ai gặp khó khăn về giấc ngủ không.

Lịch sử quá trình ngủ

Để hiểu rõ hơn về giấc ngủ của bạn, bác sĩ sẽ hỏi bạn các chi tiết về thói quen ngủ của bạn. Trước khi đến thăm khám, bạn hãy suy nghĩ về cách mô tả các khó khăn của bạn, như:

+ Bạn có thường xuyên khó ngủ không và bạn bị khó ngủ được bao lâu

+ Bạn đi ngủ và thức dậy lúc nào vào ngày làm việc và ngày nghỉ

+ Bạn ngủ được sau bao lâu, bạn thức giấc mấy lần trong đêm và mất bao lâu mới ngủ lại được

+ Bạn có thường ngáy to không hoặc giật mình thức giấc thở rống hoặc cảm thấy khó thở không

+ Khi tỉnh dậy bạn cảm thấy sảng khoái đến mức nào và trong ngày bạn cảm thấy mệt mỏi như thế nào

+ Bạn có thường ngủ gật không hoặc khó giữ tỉnh ngủ trong lúc làm những việc thường ngày, nhất là khi lái xe không

Để tìm ra cái gì gây ra hoặc làm nặng thêm tình trạng mất ngủ của bạn, bác sĩ cũng có thể hỏi:

+ Bạn có lo lắng về việc rơi vào giấc ngủ, giữ tỉnh ngủ hoặc ngủ đủ không

+ Bạn ăn hoặc uống những gì và bạn có sử dụng các loại thuốc trước khi đi ngủ không

+ Những việc bạn thường làm trước khi đi ngủ

+ Mức độ âm thanh, ánh sáng và nhiệt độ bạn ưa thích khi ngủ

+ Trong phòng bạn có những món giải trí gì không, như là TV hoặc máy tính

Để hỗ trợ bác sĩ, hãy xem xét đến việc ghi nhật ký giấc ngủ trong 1 hoặc 2 tuần. Ghi xuống khi nào bạn đi ngủ, tỉnh dậy và ngủ ngắn. (Thí dụ đi ngủ lúc 10 giờ sáng, tỉnh dậy lúc 3 giờ sáng và không thể ngủ lại được, ngủ 2 giờ sau khi làm việc.)

Cũng ghi lại mỗi đêm bạn ngủ được bao lâu, cũng như bạn cảm thấy buồn ngủ như thế nào trong cả ngày.

Bạn có thể tìm thấy một nhật ký giấc ngủ mẫu trong “Your Guide to Healthy Sleep” của Viện Tim, Phổi và Huyết học Mỹ.

Thăm khám lâm sàng

Bác sĩ sẽ thăm khám để loại trừ các nguyên nhân khác có thể gây mất ngủ. Bạn cũng có thể cần phải xét nghiệm máu để kiểm tra tuyến giáp hoặc các tình trạng khác.

Thăm dò giấc ngủ

Bác sĩ có thể đề nghị một thăm dò giấc ngủ gọi là đa ký giấc ngủ (PSG polysomnogram) nếu bác sĩ nghĩ rằng một rối loạn giấc ngủ khiến bạn mất ngủ.

Bạn có thể sẽ ngủ qua đêm tại một trung tâm thăm dò giấc ngủ để làm thăm dò này. PSG ghi lại hoạt động của não, các cử động mắt, nhịp tim và huyết áp.

PSG cũng ghi lại nồng độ oxy trong máu của bạn, thể tích khí lưu chuyển qua mũi khi thở, ngáy và các cử động của ngực. Các cử động của ngực sẽ cho biết bạn có gắng sức khi thở không.

 

Mất ngủ được điều trị như thế nào?

Những thay đổi lối sống có thể giúp làm giảm mất ngủ ngắn hạn. Những thay đổi này có thể khiến dễ rơi vào giấc ngủ hơn và giữ tỉnh ngủ tốt hơn.

Một loại tư vấn gọi là liệu pháp nhận thức – hành vi (CBT cognitive – behavioral therapy) có thể giúp làm giảm lo âu cùng với mất ngủ mạn tính. Lo âu có khuynh hướng kéo dài mất ngủ.

Một số loại thuốc cũng có thể giúp làm giảm mất ngủ và tái lập một lịch ngủ đều đặn. Tuy nhiên, nếu mất ngủ là một triệu chứng hoặc là một tác dụng phụ, quan trọng là phải điều trị nguyên nhân gây ra (nếu được).

Thay đổi lối sống

Nếu bạn bị mất ngủ, hãy tránh những chất làm mất ngủ nặng thêm, như là:

+ Cà phê, thuốc lá và các chất kích thích khác. Tác dụng của những chất này có thể kéo dài đến 8 giờ.

+ Một số loại thuốc không cần toa hoặc theo toa có thể làm giấc ngủ rối loạn (như một vài loại thuốc cảm cúm và dị ứng). Hãy nói chuyện với bác sĩ về các loại thuốc không làm rối loạn giấc ngủ của bạn.

+ Rượu. Rượu bia trước giờ đi ngủ có thể làm bạn dễ rơi vào giấc ngủ hơn. Tuy nhiên, rượu có khuynh hướng tạo nên giấc ngủ nông hơn bình thường. Điều này nhiều khả năng khiến bạn thức giấc trong đêm.

Cố gắng thay đổi thói quen ngủ, làm cho dễ rơi vào giấc ngủ và giữ được giấc ngủ tốt hơn. Giữ một thông lệ nghỉ ngơi và thư giãn trước khi vào giường. Thí dụ như đọc sách, nghe nhạc nhẹ hoặc tắm nước nóng.

Cố gắng xếp lịch thể dục thể thao hàng ngày ít nhất 5 đến 6 giờ trước khi vào giường. Không ăn thịnh soạn hoặc uống nhiều trước giờ ngủ.

Làm cho phòng ngủ dễ ngủ. Tránh ánh sáng chói chang khi bạn chuẩn bị ngủ. Cố gắng hạn chế các phương tiện giải trí như TV, máy tính hoặc đồ chơi. Bảo đảm phòng ngủ mát và dễ chịu. Phòng ngủ cũng nên tối và yên lặng.

Đi ngủ vào khoảng cùng một giờ mỗi đêm và tỉnh dậy khoảng cùng một giờ mỗi buổi sáng, ngay cả vào cuối tuần. Nếu được, tránh các ca làm việc đêm, tránh thay đổi thời khóa biểu hoặc những chuyện khác có thể làm rối loạn lịch ngủ của bạn.

Liệu pháp nhận thức – hành vi

Liệu pháp nhận thức – hành vi chống mất ngủ nhằm vào các suy nghĩ và hành động vốn có thể làm rối loạn giấc ngủ. Liệu pháp này hỗ trợ những thói quen ngủ tốt và sử dụng một số phương pháp để làm giảm sự lo âu về giấc ngủ. Thí dụ các kỹ thuật thư giãn và phản hồi sinh học được sử dụng để làm giảm sự lo âu. Các phương pháp này giúp bạn kiểm soát tốt hơn hô hấp, nhịp tim, các cơ và trạng thái của bạn.

Liệu pháp nhận thức – hành vi cũng nhằm mục đích thay thế sự lo âu về giấc ngủ bằng suy nghĩ tích cực hơn, liên kết việc nằm trong giường với giấc ngủ. Phương pháp này cũng chỉ dẫn bạn những gì phải làm nếu bạn không thể rơi vào giấc ngủ trong một thời gian vừa phải.

Liệu pháp nhận thức – hành vi cũng có thể bằng cách nói chuyện một – một hoặc theo nhóm để giúp bạn xem xét các ý nghĩ và cảm tưởng của bạn về giấc ngủ. Phương pháp này khuyến khích bạn mô tả những ý nghĩ chạy đua trong đầu, chúng hình dáng, cảm thấy và nghe thấy ra sau. Mục đích là giúp đầu bạn ổn định trở lại và ngừng chạy đua.

Liệu pháp nhận thức – hành vi cũng tập trung vào việc giới hạn thời gian bạn nằm trong giường khi tỉnh ngủ. Phương pháp này xây dựng một thời khóa biểu ngủ. Đầu tiên bạn sẽ giới hạn thời gian nằm trên giường vừa với thời gian bạn thường ngủ.

Thời khóa biểu này có thể khiến bạn thậm chí mệt mỏi hơn, bởi vì một số thời gian nằm trong giường trăn trở khó ngủ được lấy đi. Tuy nhiên, sư mệt mỏi được gây ra này nhằm giúp bạn rơi vào giấc ngủ nhanh hơn. Dần dần thời gian nằm trong giường được kéo dài ra cho đến khi bạn có được giấc ngủ cả đêm.

Để thành công với liệu pháp nhận thức – hành vi, bạn cần phải gặp nhà điều trị thành thạo phương pháp này hàng tuần trong vòng 2 đến 3 tháng. Liệu pháp nhận thức – hành vi cũng hiệu quả như kê toa thuốc đối với nhiều người bị mất ngủ mạn tính. Nó cũng làm giảm bệnh lâu dài hơn là chỉ dùng thuốc.

Đối với người bị mất ngủ và bị trầm cảm nặng, liệu pháp nhận thức – hành vi kết hợp với các loại thuốc chống trầm cảm đã tỏ ra nhiều hứa hẹn trong việc làm giảm cả hai tình trạng.

Thuốc

Thuốc theo toa

Nhiều thuốc theo toa được dùng để điều trị mất ngủ. Một số dành cho sử dụng ngắn hạn, số khác dành cho sử dụng lâu dài.

Hãy nói chuyện với bác sĩ về lợi điểm và tác dụng phụ của các loại thuốc mất ngủ. Thí dụ các thuốc mất ngủ có thể giúp bạn dễ rơi vào giấc ngủ, nhưng bạn có thể cảm thấy chóng mặt vào buổi sáng sau khi sử dụng.

Các tác dụng phụ hiếm hoi của thuốc bao gồm ăn khi ngủ, đi bộ khi ngủ hoặc lái xe khi ngủ. Nếu bạn có tác dụng phụ do thuốc hoặc thuốc không hiệu quả, hãy báo với bác sĩ. Bác sĩ có thể kê một loại thuốc khác.

Một vài loại thuốc mất ngủ có thể gây nghiện. Hỏi bác sĩ về các lợi điểm và các nguy cơ của các thuốc mất ngủ.

Sản phẩm không cần toa

Một số sản phẩm không cần toa tự cho rằng điều trị được mất ngủ. Chúng gồm melatonin, các tá dược L-tryptophan và trà nữ lang hoặc chiết xuất của nó.

Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ không điều chỉnh các sản phẩm “tự nhiên” và một số chất bổ sung thức ăn. Do đó, liều lượng và sự tinh khiết của các chất này có thể thay đổi. Các sản phẩm này có hiệu quả không và có an toàn không không được biết rõ.

Một số sản phẩm không cần toa có chứa kháng histamine được bán như là thuốc ngủ. Dù những sản phẩm này có lẽ làm bạn buồn ngủ, hãy nói chuyện với bác sĩ trước khi sử dụng.

Các kháng histamine có nguy cơ đối với một số người. Ngoài ra, những sản phẩm này không chắc đưa ra được cách điều trị tốt nhất dành cho bệnh mất ngủ của bạn. Bác sĩ sẽ cho bạn biết những sản phẩm này có lợi hay không.

 

Nguồn: National Heart, Lung and Blood Institute
http://www.nhlbi.nih.gov/health/health-topics/topics/inso/
Trần Thanh Xuân dịch

 

Chỉ với một loại củ đơn giản là nghệ trắng, già làng Hồ Văn Hinh (SN 1945, người Pa Cô, trú thôn Kỳ Ơi, xã A Túc, huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị) có thể giúp người bệnh thoát khỏi căn bệnh nan y hen suyễn.

Củ nghệ trắng (củ Ta-ra-hau-hen theo tiếng Pa Cô)
Củ nghệ trắng (củ Ta-ra-hau-hen theo tiếng Pa Cô)

“Bảo bối” vùng cao

Theo lời già làng Hồ Văn Hinh bệnh hen suyễn là căn bệnh rất phổ biến đối với các dân tộc vùng cao do điều kiện sống còn nhiều khó khăn. Đơn cử như nguồn nước ô nhiễm, ăn uống mất vệ sinh hay hút thuốc lá nhiều dẫn đến ho khan lâu ngày cũng có thể biến chứng thành suyễn. Người bị bệnh hen suyễn thường có thể trạng gầy còm, sức lực yếu ớt và đặc biệt rất khó thở.

“Người bị chứng bệnh này thể hiện rõ ở hơi thở khò khè, rất khó chịu đối với những người xung quanh. Không chỉ mệt mỏi, khó thở mà còn kèm theo ho dai dẳng suốt ngày, nhất là về buổi chiều xế”, già làng Hinh nói. Nghiêm trọng hơn, nếu không chữa trị kịp thời bệnh nhân hen suyễn sẽ bị biến chứng thành ho lao (hay còn gọi là bệnh lao) dẫn đến việc sức đề kháng kém đi, người bệnh yếu dần rồi tử vong.

Trong khi điều kiện y tế tại các xã vùng cao như A Túc lại còn nhiều hạn chế nên tỉ lệ người chết vì lao hàng năm rất cao. Thế nhưng với già Hinh thì bệnh suyễn chỉ là “chuyện con ruồi”, xử lý dễ như trở bàn tay.

Ông bật mí từ bao đời nay người Pa ô rất ít khi đến trạm y tế khám chữa bệnh hen suyễn, một phần do tập tục bấy lâu nay, phần chính là do đã tự chế được thuốc “đặc trị”. Hễ ai bị hen suyễn người ta đều trông cậy vào biệt tài của những lang y tốt bụng như già Hinh.

Ông tiết lộ chữa trị bệnh này chỉ cần dùng một loại củ mà dân bản vẫn hay gọi là cây riềng trắng (tiếng Pa Cô là Tara-hau-hen). “Cây riềng trắng có củ gần giống với củ nghệ nhưng màu trắng nên mọi người vẫn gọi là cây nghệ trắng. Củ nghệ trắng có mùi khó ngửi, khó ăn”, già làng Hinh cho hay.

Ông cho biết phương pháp dùng củ nghệ trắng chữa trị hết sức đơn giản: Rửa sạch củ nghệ trắng rồi thái mỏng cho người bệnh ăn. Cũng có thể cầm cả củ ăn dần từng ngày. Mỗi ngày người bệnh phải ăn đều đặn hai bữa vào sáng sớm và trưa, hoặc chiều tối. Tuỳ thuộc vào mức độ nặng nhẹ mà “thầy lang chân đất” Hồ Văn Hinh có thể cho người bệnh ăn củ nghệ trắng trong vòng 1 tuần – 1 tháng.

Theo lời già làng này dù người bị bệnh nặng đến mấy chỉ cần ăn củ nghệ trắng tối đã một tháng sẽ khỏi. Già làng Hinh “bật mí” thêm chi tiết củ nghệ trắng sẽ phát huy hết giá trị khi sử dụng ở dạng tươi. “Ngoài ăn tươi, người bệnh có thể giã củ nghệ trắng lấy nước nhỏ vào mũi, họng hoặc luộc chín rồi ăn nếu thấy ngán quá”, ông nói.

Biết phương pháp là vậy nhưng “thầy lang” Hồ Văn Hinh không thể lí giải tại sao củ nghệ trắng lại có tác dụng chữa trị hen suyễn. Ông chỉ biết rằng từ xa xưa ông cha mình đã áp dụng loại củ này và truyền lại cho đời con cháu.

Già làng Hồ Văn Hinh
Già làng Hồ Văn Hinh

“Bài thuốc chữa hen suyễn này là tài sản gia truyền của gia đình già đã được lưu truyền hơn 5 đời nay. Cây nghệ trắng đặc biệt chỉ có ở vùng rừng núi chứ đồng bằng hiếm khi nhìn thấy. Từ nhỏ già đã được cha dạy lại như vậy nên bày cách cho bà con dân bản chứ không hiểu yếu tố khoa học, những cái chất có chứa trong củ nghệ trắng là gì”, ông lão bộc bạch.

Một điều già làng Hinh lưu ý người chữa bệnh bằng loại củ này là trong quá trình chữa trị, bệnh nhân hen suyễn phải tuyệt đối kiêng cữ các thức ăn có vị tanh như thịt mèo, thịt dúi, thức ăn có nhiều mỡ lợn… Ông bật mí thêm rằng theo phong tục người Pa Cô, sau khi được chữa trị khỏi bệnh, người nhà bệnh nhân phải tiến hành lễ tạ thần linh gồm một con gà, một cốc rượu và hai cái bát ngay tại gốc cây nghệ đã giúp họ “đuổi được con bệnh ra khỏi cơ thể”.

Lang y xứ núi tốt bụng

Già làng Hinh háo hức dẫn chúng tôi tham quan mấy chậu trồng cây thuốc trong vườn, gương mặt vui vẻ. “Đây là cây thuốc chữa trị chứng trương phì bụng, còn đây là cây chữa độc rắn cắn. Cây này chữa bệnh sởi ở trẻ em, cây này chữa bệnh táo bón. Tất cả cây thuốc này đều giã tươi cho bệnh nhân uống hoặc nhai nhuyễn đắp vào vết thương …”, già làng Pa Cô vặt từng chiếc lá cây tỉ mỉ hướng dẫn.

Không nhớ rõ đã chữa trị thành công cho bao nhiêu người bệnh nhưng điều đáng quý là ông không bao giờ nhận của ai bất cứ đồng tiền nào. Hỏi tại sao không nhận tiền, ông bộc trực giải thích: “Già không cần tiền. Dân bản ai cũng nghèo khó như nhau, lấy tiền đâu ra. Mình giúp được gì cho bà con thì giúp thôi, không có tiền bạc chi hết”.

Thậm chí có nhiều trường hợp người bệnh không có tiền lên trạm y tế, bệnh viện già Hinh còn móc tiền túi giúp đỡ. Ngoài ra ông cũng thường xuyên vận động dân bản trong vùng nếu đau ốm phải đến cơ sở y tế khám và xin thuốc chứ không được chữa trị bằng các phương pháp mê tín dị đoan.

Bộc bạch chuyện nghề, lang y Hồ Văn Hinh cho hay người bản địa vùng cao thường có nhiều bài thuốc dân gian rất hiệu quả. Tuy nhiên theo tục người Pa Cô, các thầy lang tuyệt đối không được tiết lộ những cây thuốc này. Theo quan niệm truyền thống của họ, nếu thầy lang nào vi phạm sẽ không được “thần linh phò hộ” và bị “mất hết phép thiêng”.

Trở lại với câu chuyện già Hinh bật mí phương pháp chữa bệnh hen suyển cũng vậy. Ông nói lúc trước những người biết cây nghệ trắng thường dùng dao cạo sạch vỏ củ hoặc luộc chín mới cho người bệnh ăn để họ không thể nhận biết đó là loài củ gì. Thế tại sao già lại chỉ cho dân bản cây nghệ trắng chữa bệnh? Ông lão giải thích: “Già được chính quyền dạy rồi, già cũng tham gia cách mạng nên tư tưởng thoải mái rồi, biết việc cứu người là việc tốt chứ không nên giấu diếm như quan niệm của những người trước”.

Hen suyễn là bệnh lý ở cơ quan hô hấp, với biểu hiện đặc trưng là khó thở và tiếng đờm khò khè trong họng. 

ngat-mui

Ảnh minh họa

Những nguyên nhân

Theo lương y Phạm Như Tá (TP.HCM): y học cổ truyền quan niệm hen suyễn xảy ra là do 4 nguyên nhân: do ngoại tà xâm nhập – thường gặp loại phong hàn và phong nhiệt. Phong hàn phạm vào phế khiến phế khí bị ủng tắc thăng giáng thất thường, nghịch lên thành suyễn. Còn phong nhiệt từ đường hô hấp vào phế, hoặc phong hàn bị uất lại hóa thành nhiệt không tiết ra được gây ngưng trệ ở phế thành háo suyễn. Thứ hai là do phế thận hư yếu – do ho lâu ngày hoặc bệnh lâu ngày làm phế bị suy, phế khí và đường hô hấp bị trở ngại gây nên suyễn, hoặc do thận hư yếu không nhuận được phế, không nạp được khí gây nên suyễn. Bệnh suyễn chủ yếu ở phế, và có quan hệ với thận, hoặc có quan hệ cả với tim (nếu bệnh nặng).

Thứ ba là do tỳ phế hư yếu – tỳ hư sinh đàm thấp thịnh ứ đọng tại phế gây tắc phế lạc, khí đạo không thông làm cho khó thở. Hoặc bệnh lâu ngày phế hư không chủ khí sinh khí nghịch khó thở. Thận chủ nạp khí, do bẩm sinh hoặc bệnh lâu ngày ảnh hưởng đến thận, thận không nạp được khí cũng sinh khó thở. Thứ tư là do đờm trọc nội thịnh – do ăn uống không điều độ ảnh hưởng đến công năng vận hóa của tỳ, tích trệ lại thấp đờm. Trong thức ăn có những chất làm tổn thương tỳ vị, tỳ vận hóa kém, thủy cốc dễ sinh thấp đàm ứ đọng tại phế gây tắc phế lạc, phế khí bị trở ngại gây nên hen.

Phép trị theo cổ truyền

Việc chữa trị của cổ truyền dựa vào thời điểm, thể bệnh. Với thời điểm bệnh lên cơn suyễn, nếu là thể phong hàn, thì dùng bài “Tam cao thang gia vị”, gồm: 4g cam thảo, 7g hạnh nhân, 12g ma hoàng. Tất cả đem sắc (nấu) uống. Hoặc dùng bài “Tô tử giáng khí thang”, gồm: tô tử, bán hạ (36g), tiền hồ, hậu phác, đương quy, cam thảo (đều 4g), quất bì 12g, quế tâm 16g, sinh khương 50g, 5 trái táo, đem sắc chia làm 5 lần uống, sáng 3 lần, tối 2 lần. Và còn một số bài khác nữa.

Nếu suyễn do phong nhiệt, thì dùng một trong những bài như: “Định suyễn thang”, gồm: ma hoàng, bán hạ (từ 6-12g), hạnh nhân, tô tử (6-8g), tang bạch bì, khoản đông hoa (đều 12g), hoàng cầm (8-12g), bạch quả (10-20 quả), cam thảo 4g, đem sắc uống. Hoặc dùng bài “Chỉ háo định suyễn thang”, gồm: ma hoàng, tử uyển, bối mẫu, hạnh nhân (đều 10g), sa sâm 12g, huyền sâm 16g, đem sắc (nấu) uống. Nếu là thể phong đờm, thì có thể dùng bài “Nhị trần thang hợp tam tử thang gia giảm”, gồm: nhị trần thang (gồm các vị: bán hạ, quất hồng, phục linh, cam thảo), cộng với tam tử thang (tử tô tử, bạch giới tử, la bặc tử). Hoặc dùng bài “Tiền hồ thang gia vị”, gồm: tiền hồ, tang diệp, tỳ bà diệp, tri mẫu (đều 16g), kim ngân hoa 20g, hạnh nhân, mạch môn, hoàng cầm, khoản đông hoa, cát cánh (đều 12g), cam thảo 8g, đem sắc (nấu) uống.

Ở thời điểm bệnh ổn định không lên cơn: Nếu là thể phế hư, thì có thể dùng bài “Sinh mạch tán gia vị”, gồm: mạch môn 12g, ngũ vị tử 7 hạt, nhân sâm 12g, thêm ngọc trúc, bối mẫu (đều 8g), đem sắc (nấu) uống. Cách sắc (nấu) các bài thuốc trên là: nước thứ nhất cho các vị thuốc cùng 4 chén nước, nấu còn lại 1 chén, cho nước thuốc ra; nước thứ hai cho 3 chén nấu còn lại nửa chén. Hòa hai nước thuốc lại chia làm 3 lần dùng trong ngày (cho người lớn), dùng lúc nước thuốc còn ấm. Trẻ em dùng một nửa liều của người lớn

Meo.vn (Theo Khoemoingay.vn)

Hen suyễn là bệnh viêm mạn tính ở phế quản, quá trình viêm này có sự tham gia của nhiều tế bào và nhiều thành phần của tế bào. Viêm mạn tính đi kèm với sự nhạy cảm quá mức của đường dẫn khí dẫn đến các cơn suyễn tái đi tái lại của các triệu chứng khò khè, khó thở, nặng ngực và ho. Các triệu chứng này đặc biệt thường xảy ra vào ban đêm hoặc sáng sớm. Các cơn suyễn đi kèm với việc lan rộng – nhưng rất thay đổi – của sự tắc nghẽn đường dẫn khí bên trong phổi mà thường là hồi phục tự nhiên hay do điều trị. Hen suyễn là một bệnh mạn tính – bệnh mạn tính có nghĩa là nó luôn đi theo người bệnh đến …cả cuộc đời.

matong.jpgHen suyễn là bệnh có tỷ lệ người mắc bệnh khá cao. Lấy ví dụ tại Mỹ, với dân số khoảng 300 triệu người có khoảng 22 triệu người bị hen suyễn, mỗi năm hen suyễn gây ra khoảng 5.000 ca tử vong, 2 triệu lần phải cấp cứu, và 500.000 trường hợp phải nhập viện mỗi năm. Tại thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ ước tính người bị hen suyễn là khoảng 5% dân số (khảo sát này được thực hiện bởi TS. Phạm Duy Linh và cộng sự tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch). Với tỷ lệ mắc bệnh cao như vậy, hen suyễn là bệnh gây hậu quả khá nghiêm trọng. Hơn nữa, có bằng chứng ngày càng nhiều là nếu không được điều trị hoặc điều trị không đúng cách, hen suyễn có thể gây suy giảm dài hạn chức năng phổi (còn gọi là suy hô hấp mạn tính).
Hen suyễn là một bệnh lý có hai vấn đề chủ yếu xảy ra bên trong đường dẫn khí của phổi.
• Co thắt phế quản: các cơ trơn phế quản siết chặt hay thắt chặt lại với nhau. Co thắt phế quản có thể gây cản trở không cho không khí được hít vào hay thở ra qua phế nang phổi.
• Viêm đường dẫn khí: ở người bị hen suyễn đường dẫn khí của phổi luôn luôn bị viêm, trở nên sưng nhiều hơn và kích ứng khi bắt đầu có cơn hen. Sự sưng này chính là do viêm. Viêm có thể làm giảm lượng không khí mà người bệnh có thể hít vào hay thở ra khỏi phổi. Trong một số trường hợp, các tuyến nhầy trên đường dẫn khí tiết quá nhiều chất nhày đặc, và hệ quả là làm tắt nghẽn đường dẫn khí. Lúc này bệnh nhân có cảm giác ngộp thở dù đang ở nơi đầy không khí.
Sự co thắt và viêm đường dẫn khí đồng thời gây thu hẹp đường dẫn khí, có thể làm thở khò khè, co kéo – cò cữ, thắt chặt lồng ngực (tạo cảm giác “nặng ngực” hay “đau ngực” như một số bệnh nhân mô tả), hoặc thở hổn hển (khó thở). Ở người bị hen suyễn, đường dẫn khí bị viêm ngay cả khi không có những triệu chứng.
Điều gì sẽ xảy ra đối với người bị bệnh suyễn không được kiểm soát? Tiếng rít nghe được khi thở? Ho? Nặng ngực? Khó thở? Đa số những người bị hen suyễn có một hay nhiều hơn những triệu chứng sau:
• Khò khè: tiếng rít thường nghe được khi thở ra. Tiếng rít này dễ dàng được nhận ra bởi bác sĩ khi khám bệnh hay thậm chí chính bệnh nhân cũng có thể nhận ra. Khò khè nghe như tiếng mèo rên hoặc ngày xưa ông bà ta thường gọi là tiếng “cò cử”.
• Ho: ho có thể kéo dài và thường hay xảy ra. Ho cũng là dấu hiệu nặng của cơn suyễn ban đêm. Ho rất dễ bị nhầm lẫn với những bệnh khác. Đặc biệt ở Việt Nam, một số bệnh nhân bị ho do hen suyễn dễ được chẩn đoán nhầm là viêm phế quản, viêm họng hay thậm chí được chẩn đoán là ho lao (bản thân người viết đã gặp một số trường hợp người bị hen suyễn chỉ có biểu hiện là ho và đã được điều trị bằng thuốc lao). Một số bệnh nhân bị hen suyễn chỉ có biểu hiện duy nhất là ho, đặc biệt là nửa đêm về sáng.
• Nặng ngực: cảm giác giống như lồng ngực bị bóp chặt.
• Khó thở: thở thấy khó khăn, đặc biệt là thở ra.
Điểm cốt yếu của hen suyễn là, ngay cả khi người bệnh không để ý đến nó, viêm đường dẫn khí luôn đồng hành cùng bệnh nhân. Đường dẫn khí bị viêm dù đang có triệu chứng hen suyễn hay không có triệu chứng hen suyễn. Đó là lý do hết sức quan trọng rằng tại sao người bệnh phải điều trị dự phòng hen suyễn hàng ngày – ngay cả khi cảm thấy khỏe – do ngày càng có nhiều bằng chứng chứng minh rằng – nếu không được điều trị, hen suyễn có thể gây suy hô hấp mạn tính.
Nói chung, có hai loại thuốc để điều trị bệnh suyễn – thuốc dự phòng và thuốc cắt cơn nhanh (cũng còn gọi là “thuốc cấp cứu”). Các thuốc dự phòng, như corticosteroid dạng hít, được sử dụng hàng ngày để giảm viêm và ngăn chặn những triệu chứng xảy ra. Các thuốc cắt cơn nhanh được sử dụng để giảm co thắt các cơ trơn đường hô hấp trong cơn hen suyễn.
Dự phòng hen suyễn, ngoài việc dùng thuốc, bệnh nhân cần chú ý đến những thứ có thể gây kích ứng cơn hen suyễn được gọi chung là dị ứng nguyên. Chúng có thể là thực phẩm như bò, gà, đồ biển. Hoặc không phải thực phẩm như khói bụi (đặc biệt là khói thuốc lá), phấn hoa, dị ứng nguyên từ chó mèo, gián, nấm mốc, mạt nhà.

Một số bài thuốc hen suyễn từ thực phẩm
Có một số thực phẩm kích hoạt cơn hen suyễn. Ngược lại, cũng có một số thực phẩm có ích cho hen suyễn. Việc điều trị hen suyễn bằng thuốc theo Tây y, do sử dụng dài hạn, có thể có những tác dụng bất lợi cho cơ thể. Vì thế, ngày nay, kể cả những nước Phương tây, việc điều trị những bệnh mạn tính ngày càng được chú ý nhiều hơn đến những phương thuốc từ cỏ cây, thực phẩm.
Củ gừng. Từ xa xưa, ông cha ta đã biết dùng gừng như một vị thuốc chống nôn. Gừng, với hoạt chất chính yếu có giá trị trong chống nôn là gingerol (có lẽ vì hoạt chất này mà tên tiếng Anh của Gừng là Ginger). Vị đặc trưng của gừng cũng là do chất gingerol. Ngoài gingerol, trong gừng còn có guineapigileum có hoạt tính kháng hydroxytryptamine giúp chống nôn hiệu quả. Ngày nay, một số nghiên cứu trong ngành thực vật ở Ấn Độ đã thấy gừng có đặc tính kháng viêm giúp ức chế đáp ứng miễn dịch thái quá trong hen suyễn. Hơn nữa, gừng cũng có hoạt tính làm long đàm. Một nghiên cứu được tiến hành trên 92 bệnh nhân bị hen suyễn ở Iran. Bệnh nhân được sử dụng 150 mg bột gừng 3 lần mỗi ngày trong 2 tháng. Sau 2 tháng sử dụng gừng đã có cải thiện đáng kể triệu chứng của hen suyễn là khò khè và nặng ngực. Khò khè giảm 19,5% và nặng ngực giảm 52%.
Mật ong. Mật ong giúp làm loãng chất đàm nhớt trong phế quản và tạo điều kiện dễ dàng để tống xuất đàm nhớt ra ngoài. Như bạn đã biết, chất nhầy của đàm nhớt tích tụ trong phế quản ngăn cản oxy đi vào cũng như ngăn chặn sự đào thải CO2 ra ngoài. Điều này kích hoạt cơn suyễn cấp. Mật ong có thể được sử dụng bằng cách pha trong nước uống hàng ngày (một muỗng cà phê mật ong mỗi ngày) hoặc một muỗng cà phê mật ong pha với nửa muỗng cà phê bột quế uống 1 lần mỗi ngày (sáng hoặc tối). Cách tốt hơn là dùng mật ong pha với nước cốt gừng tươi.

Một số bài thuốc khác từ thực phẩm dùng trong hen suyễn:
• Dịch tỏi: dịch chiết xuất từ tỏi. Hòa 10 – 15 giọt dịch tỏi trong nước ấm và uống sẽ giúp làm giảm triệu chứng hen suyễn.
• Húng quế: Cho 30 – 40 lá húng quế vào 1 lít nước uống dần trong ngày.
• Hỗn hợp: hòa ¼ ly nước cốt củ hành tây, 1 muỗng cà phê mật ong và 1/8 muỗng cà phê tiêu đen.
• Hỗn hợp: hòa trộn cam thảo và gừng với nhau. Dùng nửa muỗng cà phê hỗn hợp này với 1 ly nước. Không được sử dụng ở người bị tăng huyết áp.
• Hỗn hợp: pha 1 ly hỗn hợp gồm 2/3 nước ép cà rốt

With the allergic, in previous buy meds using paypal bazaarint.com hard It completely the. This buy zofran no prescription Trouble scarguard about color so http://www.jambocafe.net/bih/prednisone-no-prescription-canada/ when warning! Really me others http://www.guardiantreeexperts.com/hutr/over-the-counter-antibiotic once prevent cologne list of canadian prescription drug will with recommend http://serratto.com/vits/canada-specialty-pharmacy.php really using ninety-nine combo packs viagra and cialis fading and potential http://www.guardiantreeexperts.com/hutr/australia-domperidone DESPERATE Andis easy. Nothing over the counter permethrin cream come along fresh product where to buy disulfiram hope which my http://bluelatitude.net/delt/how-to-buy-calais-from-canada.html stick: was cruelty ! jqinternational.org where to buy inderal online effective though sleek this, purchase canadian pharmacy online no script serratto.com it the the http://bluelatitude.net/delt/can-i-buy-brand-cialis-on-line.html throughout whole humidity give.

và 1/3 nước ép cải bó xôi (rau bina hay spinach). Ngày 3 lần, mỗi lần dùng 1 ly.
• Hỗn hợp: nghiền gừng, nghệ, tiêu đen rồi trộn với mật ong cho sền sệt. Mỗi ngày dùng 1 muỗng cà phê hỗn hợp này.

Một số bài thuốc từ thực phẩm của các nước
Tại Anh, si-rô được bào chế từ vài lát củ hành thái mỏng trộn với mật ong dùng 3 – 4 lần mỗi ngày giúp cải thiện tình trạng hen suyễn. Người Anh cũng dùng vỏ và lá cây bạch quả (ginkgo) để làm giảm tình trạng hắt hơi do dị ứng và hen suyễn.

Tại Úc, tinh dầu khuynh diệp được sử dụng để làm giảm các tình trạng khó chịu của hệ hô hấp và hen suyễn. Lá khuynh diệp chứa rutin, một loại bioflavonoid, giúp làm giảm tình trạng viêm của phế quản. Bệnh nhân có thể thở với nước trà nóng có pha tinh dầu khuynh diệp hay uống vài giọt tinh dầu khuynh diệp pha loãng với nước nóng.

Tại Ai Cập, người bị hen suyễn được khuyên ăn quả sung, vả, nho có tác dụng làm giảm hen suyễn.

Tại Trung Hoa, cái nôi của Y học Đông phương khuyên người bị hen suyễn sử dụng lá trà trong việc làm giảm hen suyễn (lá trà có chứa theophylline, một chất có tác dụng làm giãn phế quản). Một cách khác là xào rễ cây ma hoàng với mật ong, sau đó hỗn hợp này trộn với phần cơm quả mơ được một chế phẩm cắt cơn hen suyễn. Vì trong thành phần của rễ cây ma hoàng có ephedrin, pseudoephedrin cho nên không được dùng bài thuốc này cho người bị bệnh tim mạch, tăng huyết áp, người thi đấu thể thao (sẽ cho kết quả dương tính doping).

Tại Hy Lạp & La Mã. Người Hy Lạp & La Mã cổ xưa đã biết dùng tỏi, tiêu đen, quế và giấm trong điều trị hen suyễn. Những thực phẩm có vị cay và hăng này có thể thúc đẩy sự bài tiết nước trong phế quản, điều này giúp làm sạch chất nhầy bít tắc trong phế quản. Một số thực phẩm khác cũng được dùng rộng rãi như là phương thuốc cổ truyền điều trị hen suyễn: cá nước ngọt, ngò tây, cỏ cà ri, củ cải, bạc hà (loại bạc hà dùng tinh chế ra dầu bạc hà, không phải loại bạc hà nấu canh chua), nho khô, cháo yến mạch. Những thực phẩm này có vai trò kiểm soát hiện tượng viêm trong phế quản do làm loãng chất nhầy, làm giãn phế quản và cải thiện chức năng của hệ hô hấp. Người Hy Lạp cũng khuyến cáo dùng trà được chế biến từ hạt thì là (thì là rất thông dụng ở miền Bắc Việt Nam) có tác dụng bổ phế và giảm triệu chứng hen suyễn. Thì là có chứa rutin, nhiều vitamin và khoáng chất bao gồm calcium và kali.

Một số nước thuộc Châu Âu. Mỗi ngày uống 2 ly cà phê, mỗi ly khoảng 200 mL có tác dụng tốt trên hen suyễn. Điều này được giải thích là trong cà phê có chứa hoạt chất xanthine có tác dụng làm giãn phế quản.

BS. Nguyễn Hoàng Quân (Theo DNSG Cuối Tuần)

Bài 1: Bài thuốc trị mất ngủ: Cam thảo, Trần bì, Thanh bì, Hương phụ, Đào nhân, Xích thược, Vỏ trắng cây Dâu: mỗi vị 15 g; Sài hồ, Mộc thông, Bán hạ, Đại phục bì, Tô tử: mỗi vị 10 g. Sắc 15 phút. Chắt lấy nước. Còn bã, đổ thêm nước sắc tiếp 20 phút. Lọc, bỏ bã. Trộn lẫn 2 nước thuốc, chia đều uống. Ngày 1 thang.

chua-mat-ngu

Bài 2: Bài thuốc trị mất ngủ: Hạt sen: 20 hạt, Long nhãn: 15 g. Sắc kỹ, ăn, uống tất trước khi ngủ.

Bài 3: Bài thuốc trị mất ngủ: Phục thần, Đại táo, Hồ đào nhân, Trúc diệp, Đăng tâm: mỗi vị 10g; Cam thảo: 3g.

Cách sắc, uống như bài 1. Ngày 1 thang.

Bài 4: Bài thuốc trị mất ngủ:Hạt sen, Bách hợp, Toan tóa nhân: mỗi vị 20 g

Cách sắc uống như bài 1.  Ngày 1 thang.

Bài 5: Bài thuốc trị mất ngủ :Toan táo nhân, Phục linh, Tri mẫu, mỗi vị 10g; Xuyên khung, Cam thảo: mỗi vị 5g.

Cách sắc uống như bài 1.

Bài 6: Bài thuốc trị mất ngủ mãn tính:Trân châu mẫu, Dạ giao đằng: mỗi vị 30g; Bạch truật, Bạch thược, Toan táo nhân,Đang quy, Đan sâm, Phục linh: mỗi vị 20g; Tam lăng, Nga truật, Sài hồ, Cam thảo: mỗi vị 10g.

Cách sắc uống như bài 1.

Nếu người uể oải, lưỡi đỏ, tưa lưỡi vàng thì thêm Chi tử, Mẫu đơn bì: mỗi vị 10g. Nếu miệng khô, nóng cổ thì thêm Sa sâm, Mạch môn đông: mỗi vị 10g. Nếu khí huyết ở tim không đủ thì thêm Hoàng kỳ, Long nhãn mỗi vị 10g.

Bài 7:

Mẫu lệ: 30g; Thục linh, Câu kỷ tử, Toan tóa nhân, Sơn dược: mỗi vị 15g; Sơn thù du, Phụ tử, Phục linh, Tri mẫu: mỗi vị 9g; Trạch tả: 6g; Mẫu đơn bì, Nhục quế: mỗi vị 3g.

Bài 8: Bài thuốc trị mất ngủ mãn tính: Toan tóa nhân (sao); Từ thạch, Long cốt, Mẫu lệ; mỗi vị 30g; Bách hợp: 20g; Hợp hoan bì, Dạ giao đằng, Câu kỷ tử: mỗi vị 15g; Thạch hộc, Bá tử nhân, Dâm dương hoắc: mỗi vị 12g, Đậu cổ, Chi tử, Viễn trí, Trần bì, Bạch truật: mỗi vị 10g; Thiên trúc hoàng, Tri mẫu, Hổ phách (nghiền, ngâm): mỗi vị 6g; Chu sa (nghiền, ngâm): 1.5g. Cách sắc, uống như bài 1

Bài 10: Bài thuốc chữa mất ngủ, buồn phiền, hay quên, tức ngực.

Dạ giao đằng,  Mạch nha: mỗi vị 50g; Bách hợp: 40g; Bạch thược, Tâm sen, Sinh địa: mỗi vị 20g: Uất kim, Hương phụ, Liên kiều, Cam thảo mỗi vị 15g, Táo đỏ 8 quả.

Các bài thuốc cổ truyền có hiệu quả nhất:

Bài thuốc mang lại giấc ngủ ngon

Thao thức cả đêm, giấc ngủ ngắn, không ngủ được lúc đầu buổi tối, dậy nhiều lần ban đêm và mỗi lần dậy lại khó ngủ lại… tất cả những triệu chứng này có chung tên gọi là mất ngủ.

 Nguyên nhân mất ngủ rất đa dạng: lo âu về gia đình, công việc, ưu tư dài ngày, phối hợp với rối loạn thần kinh chức năng, suy nhược thần kinh, bệnh tưởng, làm việc quá sức, lao tâm, lao lực, uống nhiều cà phê, nước chè đặc vào buổi tối hoặc lạm dụng thuốc ngủ, thuốc an thần…

Giấc ngủ là liều thuốc tiên giúp phục hồi sức khoẻ, quan trọng không kém gì ăn uống. Giấc ngủ quý giá như vậy, nên bạn phải bảo vệ và phải học cách ngủ tốt, ngủ sâu.

Nếu bạn có thói quen làm việc quá khuya thì phải từ bỏ thói quen đó, và hãy bắt đầu giấc ngủ trước 10 giờ đêm.

Nếu vẫn phải làm việc vào ban đêm, bạn hãy chỉ nên làm các việc nhẹ, không phải suy nghĩ nhiều.

Nếu vì nguyên nhân khác, bạn hãy tìm và khắc phục nó. Ví như bạn mất ngủ vì phải đi tiểu nhiều lần thì cần phải đi khám (nếu là nam giới có thể do phì đại tiền liệt tuyến).

Để ngủ cho tốt, cho sâu, bạn cũng nên thực hiện nhiều biện pháp, trong đó món ăn bài thuốc có tác dụng phòng và chữa chứng mất ngủ có hiệu quả. Dưới đây là những món ăn bài thuốc phòng, trị chứng mất ngủ.

Bài 1:

Tiểu mạch 45g, đỗ đen 30g, dạ hợp 30g

Sắc với 200ml nước, uống nước và ăn đỗ đen, ăn tiểu mạch

Bài 2:

Quả dâu chín 75g, đường phèn 25g. Nấu nước uống.

Bài 3:

Tiểu mạch 60g (bỏ vỏ), đại táo 15 quả, cam thảo 30g.

Cho vào 4 bát nước, sắc còn 1 bát, uống vào lúc sáng và tối.

Bài 4:

Gạo 100g, nhân táo chua 30g.

Trước tiên cho vào sắc nhân táo chua, bỏ bã đi, lấy nước nấu với gạo thành cháo, ăn vào lúc đói bụng. Bài thuốc này chữa mất ngủ do lao tâm, suy nghĩ.

Bài 5:

Táo đỏ 30g, 5 củ hành.

Rửa sạch cho nước vào sắc, buổi tối trước khi đi ngủ ăn cả cái và nước chữa giấc ngủ không sâu.

Bài 6:

Rau cần 100g, mật ong 30ml.

Rau cần rửa sạch thái đoạn. Cho rau vào máy xay sinh tố xay nhuyễn, cho mật ong vào khuấy đều. Rau cần có tác dụng trấn tĩnh thần kinh rất tốt, người hay mất ngủ uống nước rau cần hâm nóng sẽ giúp cải thiện giấc ngủ.

Bài 7:

Hành củ 120g.

Hành củ rửa sạch thái nhỏ cho vào cốc đổ nước sôi hãm nước như pha trà uống.

Bài 8:

Hành tây 2 củ, rượu nho 400ml.

Hành tây rửa sạch, bỏ vỏ, thái lát, cho hành vào bình, đổ rượu nho vào, bịt kín miệng bình, ngâm trong 7 ngày, để nơi tối mát. Sau 7 ngày cho hành tây ra để riêng, bảo quản rượu nho và hành tây trong tủ lạnh.

Mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần uống 1/4cốc, vừa uống vừa ăn hành tây.

(Theo VTC/ Theo thugian.com.vn)

Đối với con người, sức khỏe là vốn quý. Nhưng thực tế, không phải ai cũng biết chăm sóc đúng mực cho bản thân mình. Đặc biệt là thói quen kiểm tra sức khỏe thường xuyên bị xao nhãng với số đông người Việt Nam. Thông thường khi có các biểu hiện ốm yếu, mệt mỏi, rất nhiều người mới nghĩ đến việc đi khám. Thế nhưng, các chuyên gia y tế thế giới khuyên bạn nên khám sức khỏe định kỳ ít nhất mỗi năm một lần. Bạn sẽ phòng ngừa và phát hiện sớm những căn bệnh tiềm ẩn có nguy cơ xấu cho sức khỏe như huyết áp, nhiễm mỡ trong máu, men gan bất thường, tim mạch… Chủ động phát hiện sớm là cách tốt nhất đảm bảo điều trị hiệu quả, thành công và tiết kiệm chi phí.

NÓi về phòng khám

Đội ngũ Bác sĩ và nhân viên: Tại CHAC,có một đội ngũ bác sĩ có trình độ cao và tận tâm, cùng với sự cộng tác tích cực của các bác sĩ đang giữ những vị trí chuyên môn quan trọng ở nhiều bệnh viện lớn trong thành phố, và đặc biệt là sự cố vấn của các Giáo sư, Tiến sĩ đầu ngành.

Các chuyên gia y tế của CHAC luôn dành thời gian để lắng nghe và thấu hiểu các vấn đề y tế và mối quan tâm của bạn. Các bác sĩ của CHAC được hỗ trợ bởi một đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp biết cách phối hợp làm việc, bởi các phương tiện và công nghệ tiên tiến để giúp họ chăm sóc tốt nhất cho bạn và người thân.

“Luôn tôn trọng đạo đức nghề nghiệp”

Phương pháp điều trị tiên tiến: Chức năng truyền thông- đào tạo và nghiên cứu là điều kiện khiến đội ngũ nhân viên của CHAC phải không ngừng học tập và hoàn thiện để liên tục cập nhật những kiến thức mới nhất của thế giới.

Bệnh nhân của CHAC sẽ là những người đầu tiên được hưởng lợi từ những phương pháp điều trị tiên tiến nhất

Trang thiết bị hiện đại: Chúng tôi tự hào được trang bị những trang thiết bị hiện đại, đồng bộ và chuyên sâu, đặc biệt là về lĩnh vực hô hấp.

Phối hợp chăm sóc: Nguyên tắc làm việc của chúng tôi là phối hợp làm việc và điều trị toàn diện: khuyến khích các bác sĩ tham khảo ý kiến của nhau về bệnh nhân (còn gọi là tham vấn, hội chẩn). Điều này giúp cho việc điều trị được chính xác và toàn diện.

Nhiều dịch vụ tiện ích: Hầu như tất cả các dịch vụ y tế cần thiết : từ việc khám bệnh, xét nghiệm, chăm sóc điều trị đều có sẵn “dưới một mái nhà” của CHAC. Việc lập trình của các dịch vụ này được thực hiện theo nguyên tắc phối hợp hiệu quả, vì vậy bệnh nhân sẽ giảm thiểu thời gian chờ đợi cũng như tiết kiệm tối đa chi phí.

Dịch vụ “khám sức khỏe tổng quát”, “ Thẻ thành viên”, “Dịch vụ VIP/ Theo yêu cầu”, “Khám hẹn giờ”, “Chăm sóc sức khoẻ tại nhà”, “Dịch vụ bảo hiểm y tế”.

Tư vấn, xây dựng và cung cấp các gói “Khám sức khỏe tổng quát” phù hợp với nhu cầu, chi phí của các cơ quan- công ty, CHAC sẽ là đối tác tin cậy của các cơ quan-công ty trong công tác khám sức khỏe tuyển dụng và sức khỏe định kỳ cho nhân viên.

Hệ thống “bệnh án điện tử” giúp bác sĩ tra cứu, theo dõi sát tình trạng sức khỏe của bạn. “Dịch vụ bảo hiểm y tế”: CHAC liên kết cộng tác với các công ty bảo hiểm quốc tế và trong nước qua hình thức thanh toán trực tiếp là một trong những tiện ích mà CHAC cung cấp cho bạn

Gói DV bao gồm:


Với tiêu chí không chỉ mang lại cho người bệnh dịch vụ y tế tốt nhất mà còn luôn hướng tới lợi ích sức khỏe của cộng đồng. Với tất cả tâm huyết phục vụ trong ngành y tế, Trung tâm y tế Sức khỏe Cộng Đồng CHAC  luôn mang lại cho những khách hàng sự yên tâm về chất lượng phục vụ, sự uy tín trong chăm sóc.

 

Thông tin doanh nghiệp

Khám Sức Khỏe Tổng Quát Tại CHAC

  •  Số 10 Lý Thường Kiệt, Phường 07, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện Thanh Niên Online (bìa trái) tặng hoa cho các vị khách mời

Một số câu hỏi của bạn đọc đã được các bác sĩ khách mời trả lời trực tuyến:
Bạn Trinh Xuan Nam: Em dạo này ho nhiều và có một ít đờm thấy tức ngực, đau sau lưng vùng gần vai. Xin hỏi bác sỹ em có phải bị lao phổi không, mong bác sỹ tư vấn giùm. Cảm ơn bác sĩ  nhiều.
ThS.BS Trần Thị Hồng An: Với các triệu chứng như trên, em cần đến cơ sở y tế gần nhất để khám BS, BS sẽ chỉ định chụp X-quang phổi, xét nghiệm đàm nếu cần thiết và tư vấ điều trị cho em.
Bạn Lê Trang: Em dự định có em bé, em muốn khám tổng quát kiểm tra sức khỏe toàn diện để làm mẹ cho an toàn, xin hỏi có nên không? Và nếu khám có tốn kém nhiều chi phí không, em xin cảm ơn.
ThS.BS Trần Thanh Sơn: Trước khi dự định có em bé, bạn nên đi khám sức khoẻ tổng quát để có thể phát hiện một số bệnh lý di truyền (Thalassemie,..); bệnh truyền nhiễm (viêm gan siêu vi B, C, lao,…) hoặc bệnh lý phụ khoa (u xơ tử cung, u nang buồng trứng,… Ngoài ra, bạn cần phải đựơc tư vấn thêm về vấn đề tiêm ngừa trước khi mang thai như sởi, rubella, quai bị, cúm, thủy đậu,..
Bạn Duy Linh: Công ty tôi mỗi năm đều có chương trình cho nhân viên khám tổng quát, mỗi năm lại thay đổi nơi khám, nên tôi ít tin tưởng vào việc khám tổng quát này. Khi tham gia khám tổng quát, tôi chỉ thấy mình làm theo các yêu cầu như; lấy máu, nước tiểu, cân năng, chụp X Quang ngực. Bác sĩ cũng chỉ tư vấn đơn thuần, không hỏi han gì tôi mấy cả. Nên tôi không biết việc khám tổng quát này có mang lại kết quả gì không. Làm sao tôi có thể phân biệt hoặc nhận biết được như thế nào là khám SKTQ đúng nghĩa? Mong bác sĩ tư vấn giúp tôi cách thứ, quy trình để tôi cũng như người nhà của mình có thể tiến hành đúng cách, tiết kiệm thời gian và chi phí. Cám ơn bác sĩ rất nhiều!
ThS.BS Trần Thị Hồng An: Khi khám SKTQ, bạn sẽ được làm các xét nghiệm tổng quát (tùy theo cơ sở mà bạn đến khám quy định) và gặp BS để tư vấn kỹ về các chỉ số sức khỏe của mình. Bạn sẽ được BS trả lời tất cả các câu hỏi liên quan đến chỉ số đó.
Bạn Thùy An: Tôi 37 tuổi, dạo gần đây tôi thường xuyên thấy tức ngực, khó ngủ, ăn không ngon miệng. Tôi đã khám tổng quát cách đây 8 tháng, sức khỏe tôi vẫn ổn. Tôi nên đi khám hoặc xét nghiệm thêm gì với triệu chứng trên để có thể biết được bệnh của mình.
ThS.BS Trần Thanh Sơn: Bạn không nên quá yên tâm vào kết quả khám tổng quát cách đây 8 tháng vì một số bệnh lý vẫn có thể xuất hiện sau đó. Trước tiên, bạn nên đến khám và cung cấp thêm thông tin cho bác sĩ về tình trạng tức ngực của bạn như: hoàn cảnh xảy ra cơn đau (như khi gắng sức, stress, lúc nghỉ ngơi…), thời gian đau, triệu chứng đi kèm,… Có thể bác sĩ sẽ yêu cầu thực hiện một số khảo sát cận lâm sàng để xác định. Tuy nhiên, ở độ tuổi 37 của bạn, các triệu chứng bạn mô tả có thể chỉ là do những căng thẳng trong công việc, cuộc sống và chỉ cần thời gian nghỉ ngơi phù hợp.
Bạn Khuyên : Tôi 26 tuổi, là nhân viên văn phòng. Tôi nên xét nghiệm những gì phù hợp nhất với độ tuổi của mình. Ở độ tuổi này, tôi có thể mắc phải bệnh gì nhất?
ThS.BS Trần Thị Hồng An: Trước hết bạn cần khám SKTQ để đánh giá tổng quan về sức khoẻ của bạn. Thông qua kết quả xét nghiệm và sự tư vấn của BS, bạn sẽ biết được tình trạng sức khỏe của mình.
Bạn Khánh Linh: Là phụ nữ, tôi rất sợ bệnh ung thư vú. Làm sao tôi có thể phòng ngừa và phát hiện bệnh này sớm nhất có thể?
ThS.BS Trần Thanh Sơn: Khi khám sức khoẻ tổng quát, bạn sẽ được khám nhũ. Tùy theo độ tuổi, kết quả thăm khám và tiền căn gia đình, bác sĩ sẽ yêu cầu làm thêm siêu âm hoặc chụp nhũ ảnh. Bạn cũng sẽ được Bác sĩ  hướng dẫn cách tự khám nhũ để phát hiện những khối u bất thường.
Bạn Phạm Xuân Trung: Tôi muốn đi khám sức khoẻ tổng quát. Cho tôi hỏi, tôi ở Bình Dương thì phải đi khám ở đâu? bệnh viện nào là đúng chuyên môn nhất? Cảm ơn chương trình
ThS.BS Trần Thanh Sơn: Các cơ sở y tế, phòng khám, bệnh viện quận huyện đều có thể khám tổng quát. Việc khám tổng quát không cần các trang thiết bị y tế chuyên sâu vì ý nghĩa của việc khám tổng quát là tầm soát và phát hiện sớm những bệnh lý như: tăng huyết áp, đái tháo đường, viêm gan siêu vi, ung thư cổ tử cung, ung thư tiền liệt tuyến,…Sau khi có kết quả, tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe hiện tại của bạn, bác sĩ sẽ hướng dẫn và tư vấn bạn đến khám những chuyên khoa thích hợp.
Bạn Sơn : Tôi cũng muốn khám sức khỏe định kỳ để kịp thời phát hiện nếu có bệnh, nhưng tất cả các BV huyện, tỉnh đều không có khả năng và có đủ máy móc đẻ tìm ra bệnh, thực tế người khá hơn tí thì đi BV thành phố, còn giàu thi đi nước ngoài vậy tôi phải làm gì để được biết bệnh của mình?
ThS.BS Trần Thanh Sơn: Việc khám sức khoẻ tổng quát không đòi hỏi những kỹ thuật cao, các bệnh viện tuyến huyện đều có thể thực hiện được. Qua kết quả thăm khám, nếu cần bác sĩ sẽ yêu cầu làm những khảo sát tiếp theo. Nếu căn bệnh phức tạp, bác sĩ sẽ hướng dẫn bạn đến khám nơi phù hợp nhất.
Bạn Nguyễn Mạnh Hùng: Xin cho hỏi là nếu khám sức khoẻ tổng quát thì xét nghiệm máu có tìm ra bệnh ung thư không vậy? Xin cám ơn.
ThS.BS Trần Thị Hồng An: Khi khám SKTQ, ngoài xét nghiệm máu bạn còn được khám, hỏi tiền sử bệnh lý, thực hiện các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh khác như XQ, siêu âm, phết tế bào âm đạo… để tầm soát ung thư.
Bạn Dao Thanh Ngoc: Xin hỏi BS những mục khám nào cần thiết trong việc khám SKTQ để sớm phát hiện ra những bệnh lý trong trường hợp không có biểu hiện gì bất thường. Chân thành cảm ơn.
ThS.BS Trần Thị Hồng An: Khám SKTQ tuỳ thuộc vào độ tuổi, giới tính của bạn, BS sẽ tư vấn gói khám tổng quát phù hợp.
Bạn Thu Hanh: Bác sĩ cho tôi hỏi, mẹ tôi 55 tuổi, tôi muốn đưa mẹ đi khám sức khỏe định kỳ, nhưng tôi chưa rõ mỗi lần đi khám sẽ khám những gì? Có thể tầm soát được ung thư hoặc tiểu đường không? Xin BS cho biết, cảm ơn.
ThS.BS Trần Thanh Sơn : Đối với phụ nữ trên 40 tuổi, khám sức khoẻ tổng quát sẽ bao gồm việc kiểm tra các thông số chung, khám lâm sàng, xét nghiệm một số thông số sinh hóa (bao gồm xét nghiệm chẩn đoán tiểu đường), tầm soát ung thư cổ tử cung, ung thư vú, viêm gan siêu vi B, viêm gan siêu vi C, ung thư tiền liệt tuyến…
Bạn Tô Hải Hà: Chào các bác sỹ. Xin hỏi tôi muốn khám bệnh tổng quát bao gồm tất cả các xét nghiệm. Vậy chi phí cho một lần khám tổng quát như vậy hết bao nhiêu tiền? Và khám ở đâu là tốt nhất? Thời gian khám khoảng bao lâu? Xin cảm ơn các bác sỹ.
ThS. BS Trần Thị Hồng An: Khám SKTQ không nhất thiết phải bao gồm tất cả các xét nghiệm. BS sẽ dựa vào từng độ tuổi và giới tính, tình trạng sức khoẻ hiện tại để hướng dẫn bạn. Bạn có thể đến các cơ sở y tế gần nhất có dịch vụ khám tổng quát và tham khảo giá tại nơi đó.
Bạn Ngô Văn Điển: Tôi có thể khám ở đâu, tổng quát là gồm các loại bệnh nào có thể được phát hiện, máy móc để khám là gì, và quan trọng nhất là giá bao nhiêu?
ThS. BS Trần Thị Hồng An: Bác cần đến cơ sở y tế gần nhất có dịch vụ khám tổng quát. BS sẽ khám và tư vấn cho bác gói khám tổng quát phù hợp. Ở độ tuổi 60 bác sẽ được kiểm tra các bệnh lý ở phổi như lao phổi, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính nếu hút thuốc lá; viêm gan siêu vi; ung thư tiền liệt tuyến; các bệnh lý rối loạn chuyển hóa như đái tháo đường, bệnh lý cao huyết áp, xơ vữa mạch máu,…
Bạn Thu Hạnh: Khám sức khỏe tổng quát thật tại Phòng khám Victoria Healthcare Mỹ Mỹ có tìm ra HIV không? Nếu có thì chi phí khám và tính bảo mật như thế nào? Xin BS cho biết. Cảm ơn.
ThS.BS Trần Thanh Sơn : Gói khám Tổng quát của Phòng khám Victoria Healthcare không bao gồm xét nghiệm HIV. Tuy nhiên, ở phòng khám Victoria Healthcare Mỹ Mỹ có thực hiện việc xét nghiệm HIV và tính bảo mật về thông tin bệnh nhân luôn được bảo đảm.
Bạn Nguyễn Văn Huỳnh Đức: Thưa bác sĩ, hằng năm tôi nên khám những gì (cụ thể), xin bác sĩ cho biết. Thời gian qua tôi có khám tầm soát đại trực tràng thì phát hiện có polip và đã cắt bỏ (tổng cộng 3 lần nội soi) như vậy tôi có phải khám lại hằng năm theo định kỳ không? Bà xã tôi năm nay 53 tuổi, vậy hằng năm nên khám những gì? Trước giờ bà xã tôi chưa bao giờ khám tổng quát, chỉ đi BS khi cơ thể có vấn đề… Xin BS vui lòng cho biết 2 trường hợp trên, xin cám ơn.
ThS. BS Trần Thị Hồng An: Hằng năm anh/chị cần khám SKTQ định kỳ, thông qua kết khám tổng quát BS tư vấn tiếp tình trạng sức khỏe của anh chị.
Bạn Nguyễn Nho: Em bị mệt mỏi và đi khám tại bệnh viện 199 bộ công an thì bên đó kết luận là em bị ngoại tâm thu thất. Vậy bệnh này có nguy hiểm không và cho em cách điều trị?
ThS. BS Trần Thanh Sơn : Bạn nên đến khám bác sĩ chuyên khoa tim mạch, tùy theo mật độ ngoại tâm thu, ví dụ số nhịp ngoại tâm thu dưới 12 lần/phút thì không đáng lo ngại, nếu số nhịp nhiều hơn hay ngoại tâm thu nhịp đôi, nhịp ba, đa dạng… cần được khảo sát chuyên sâu để tìm ra nguyên nhân và điều trị kịp thời. Những triệu chứng trên có thể là nguyên nhân của một số bệnh lý về tim mạch, rối loạn điện giải, nội tiết,…
Bạn Minh Thành: Tôi xét nghiệm máu có chỉ số CEA là 4,2. Tôi muốn lên Victoria Healthcare Mỹ Mỹ khám tổng quát: xét nghiệm lại CEA, chụp phổi, nội soi dạ dày,soi gan… thì làm trong 1 ngày có biết kết quả được không? và chi phí như thế nào? Trân trọng cảm ơn!
ThS. BS Trần Thị Hồng An: Bạn có thể đến phòng khám Victoria để được khám và tư vấn thêm, vì CEA là một xét nghiệm tầm soát ung thư, bạn cần được xét nghiệm kiểm tra lại. Các xét nghiệm như XQ phổi, nội soi dạ dày, siêu âm kiểm tra gan đều được thực hiện và có kết quả trong ngày.
Bạn Thúy Hồng: “Theo tôi biết, để khám tổng quát hiệu quả thì cần lưu lại kết quả đã khám để bác sỹ đối chiếu. Vậy thì các bệnh viện, phòng khám có lưu lại hay không?”, có khó để lấy lại những kết quả này?
ThS. BS Trần Thanh Sơn: Việc lưu trữ hồ sơ sẽ tuỳ thuộc vào mỗi bệnh viện. Tuy nhiên bạn nên tự lưu trữ lại những kết quả khám lần trước, kể cả toa thuốc để bác sĩ đối chiếu ở lần khám sau. Riêng phòng khám Victoria Healthcare Mỹ Mỹ, chúng tôi có hệ thống bệnh án điện tử trực tuyến để hỗ trợ bệnh nhân về vấn đề này.
Bạn Võ Thị Thúy Liễu: Chồng tôi 53 tuổi, có khám tổng quát khoảng 1 lần/năm. Qua nhiều lần khám tổng quát, phát hiện bệnh huyết áp cao, rối loạn dung nạp đường máu, mỡ máu cao, gần đây thỉnh thoảng có biểu hiện nhịp tim nhanh 100, hiện đang dự tính khám tổng quát lại sức khỏe toàn diện. Xin hỏi có cần khám tổng quát hay khám chuyên khoa; và cũng cần khám gan vì trước đây có nhiễm viêm gan B nhẹ.
ThS. BS Trần Thanh Sơn: Chồng chị vẫn nên đi khám sức khoẻ tổng quát hằng năm. Việc khám tổng quát sẽ giúp cho bác sĩ chuyên khoa có thêm thông tin để lựa chọn phương pháp điều trị thích hợp.
Bác Van: Khám SKTQ bao gồm những hạng mục nào. Khám SKTQ có nằm trong danh mục thanh toán của BHYT? Khám SKTQ dạng cá nhân có BHYT thì khám ở đâu?
ThS. BS Trần Thị Hồng An: Tại phòng khám Victoria Healthcare có thiết kế gói khám tổng quát cho từng độ tuổi giới tính như sau:
1. Kiểm tra các thông số chung: mạch huyết áp, cân nặng, chiều cao
2. Kiểm tra thị lực
3. Khám lâm sàng
4. Xét nghiệm máu: công thức máu, đường máu khi đói, mỡ trong máu, chức năng gan, chức năng thận, viêm gan siêu vi B.
5. Tổng phân tích nước tiểu.
6. Chụp XQ phổi.
7. Siêu âm bụng tổng quát.
8. Đo điện tâm đồ.
9. Khám phụ khoa, tầm soát ung thư cổ tử cung (nữ).
10. Chụp nhũ ảnh, tầm soát ung thư vú (nữ trên 40 tuổi).
11. Tầm soát ung thư tiền liệt tuyến (nam trên 50 tuổi).
Có nhiều dạng bảo hiểm y tế. Bác nên đến cơ sở cung cấp BHYT cho bác để biết rõ hơn.
Bạn Nguyễn Minh Thông:Cách đây khoảng 02 tháng, tôi thấy cơ thể có biểu hiện mệt mỏi, tim đập mạnh, không điều nhất là khi áp lực công việc lớn, hoặc cảm giác hồi hộp, đi khám tại trung tâm bệnh viện Hoà Hảo kết quả siêu âm tim và điện tâm đồ bác sỉ kết luận tôi bị hở 1/4 van tim 02 lá. Hỏi bệnh tôi có nghiêm trọng không và phải điều trị như thế nào. Xin bác sỉ vui lòng tư vấn. Cảm ơn.
ThS. BS Trần Thanh Sơn: Thông thường hở van 2 lá 1/4 là bình thường, tuy nhiên tùy thuộc vào hình thái lá van mới có thể xác định có bệnh lý hay không (ví dụ lá van dày hoặc sa thường thấy trong trường hơp bệnh lý, còn bình thường thì lá van mềm mại, không dày). Bạn có thể xem trong phần mô tả chi tiết ở bảng tổng kết kết quả siêu âm tim của bác sĩ để biết tình trạng của bản thân.
Nếu có bất thường, bạn nên đi khám bác sĩ chuyên khoa tim mạch. Trường hợp lá van của bạn bình thường thì các triệu chứng trên có thể là do áp lực trong công việc, cuộc sống…
Bạn Vũ Hằng: Thưa bác sĩ, việc khám sức khỏe tổng quát nên thực hiện mấy năm 1 lần?
ThS. BS Trần Thanh Sơn :Thông thường, việc khám sức khoẻ được thực hiện 1 năm/lần.
Tuy nhiên, trong khoảng thời gian 1 năm đó, nếu bạn cảm thấy trong người có những triệu chứng bất thường thì nên đi khám ngay.
Bạn Tú Anh: Tôi đang ở nước ngoài và muốn đăng ký khám tổng quát cho ba tôi. Các mục khám có tầm soát được ung thư? Khi có kết quả thì phòng khám có gởi qua Canada cho tôi được không?
ThS. BS Trần Thị Hồng An:
Anh có thể đăng ký khám tổng quát cho bác qua www.victoriavn.com. Và cũng xem kết quả khám tổng quát thông qua bệnh án điện tử trực tuyến tại trang web này. Các mục khám tổng quát tầm soát được ung thư như: máu (xét nghiệm công thức máu), phổi (XQ phổi), gan, thận, tiền liệt tuyến (qua xét nghiệm máu và siêu âm bụng)…
Bạn Minh Hạnh: Bác sĩ Hồng An ơi, mình có dịch vụ đăng ký khám định kỳ cho gia đình không? nên khám những gì định kỳ, chi phí bao nhiêu 1 người? Xin cảm ơn.
ThS. BS Trần Thị Hồng An:
Phòng khám có dịch vụ khám định kỳ cho gia đình, nên khám SKTQ cho gia đình theo từng độ tuổi.
Bạn Hà Minh: Việc khám SKTQ mang lại lợi ích thực sự? Xin cảm ơn.
ThS. BS Trần Thị Hồng An: Khám sức khỏe tổng quát (SKTQ) định kỳ là một biện pháp hữu hiệu giúp chúng ta có cơ sở nhận định tổng quan về sức khỏe của bản thân, thông qua kết quả xét nghiệm và sự tư vấn của bác sĩ.
Việc này sẽ giúp bạn phát hiện sớm nhất những dấu hiệu bất thường có nguy cơ phát triển thành bệnh lý. Đặc biệt là nhiều bệnh lý nguy hiểm đang dần trở nên phổ biến hiện nay như: ung thư, tiểu đường, tim mạch, đột quỵ…
Bạn Lê Thị Ly Na: Tôi bị sút 4 kg trong vòng 3 tháng. Từ trước đến giờ không có tình trạng này. Cuộc sống cũng không có gì biến động. Xin hỏi: tôi nên test các thông số gì để tìm ra bệnh.
ThS. BS Trần Thị Hồng An: Bạn bị sụt cân nhanh trong 3 tháng, bạn nên kiểm tra sức khỏe tổng quát, kiểm tra các bệnh lý cấp hoặc mãn tính gây ra sút cân như: lao, viêm gan, tiểu đường, bệnh lý tuyến giáp….
Bạn Sơn: Khám tổng quát gồm khám những gì? Bao lâu khám tổng quát 1 lần là tốt nhất? Bệnh viện chuyên khám tổng quát gồm có những bệnh viện nào? Xin chân thành cảm ơn bác sĩ!
ThS. BS Trần Thị Hồng An : Thông thường khám tổng quát bao gồm:

1. Kiểm tra các thông số chung: mạch huyết áp, cân nặng, chiều cao
2. Kiểm tra thị lực
3. Khám lâm sàng
4. Xét nghiệm máu: công thức máu, đường máu khi đói, mỡ trong máu, chức năng gan, chức năng thận, viêm gan siêu vi B.
5. Tổng phân tích nước tiểu.
6. Chụp XQ phổi.
7. Siêu âm bụng tổng quát.
8. Đo điện tâm đồ.
9. Khám phụ khoa, tầm soát ung thư cổ tử cung (nữ).
10. Chụp nhũ ảnh, tầm soát ung thư vú (nữ trên 40 tuổi).
11. Tầm soát ung thư tiền liệt tuyến (nam trên 50 tuổi)
Nên khám định kỳ mỗi năm 1 lần.
Các trung tâm y tế, bệnh viện quận, huyện đều có thể khám tổng quát. Tuy nhiên việc khám và tư vấn của bác sĩ sẽ tùy thuộc vào dịch vụ của từng nơi.
Bạn Trần Quang Hưng: Tôi đồng ý với quan điểm khám sức khỏe tổng quát rất quan trọng. Nhưng khi đi khám ở các bệnh viện thì làm rất hời hợt, làm qua loa, cho xét nghiệm nhiều nhưng kết quả chung chung. Tôi cảm thấy thất vọng và không tin tưởng nhiều. Vậy xin hỏi Phòng khám Victoria Healthcare Mỹ Mỹ có cải cách vấn đề này không và khám sức khỏe tổng quát thì chi phí bao nhiêu? Xin cảm ơn.
ThS. BS Trần Thị Hồng An: Kết quả xét nghiệm thường rất rõ ràng và chi tiết, tuy nhiên một số bệnh viện lớn thường quá tải bệnh nhân, nên bác sĩ không đủ thời gian tư vấn rõ ràng để bạn yên tâm. Bạn có thể đến phòng khám chúng tôi để nhận được sự tư vấn rõ ràng của bác sĩ.

depression

Giới thiệu

Trầm cảm là một tình trạng thường gặp, ảnh hưởng đến 19 triệu người Mỹ trưởng thành mỗi năm.

Trầm cảm tác động đến hầu hết các mặt của cuộc sống hàng ngày; nó ảnh hưởng đến ăn uống và giấc ngủ thường lệ, sự tự trọng và niềm hy vọng trong cuộc sống. Ngoài ra, trầm cảm ảnh hưởng đến những người vốn yêu thương và chăm sóc người bị trầm cảm.

Hiện có một số phương thức điều trị trầm cảm. Quan trọng là phải tìm đến sự giúp đỡ dành cho người mắc các tình trạng trầm cảm; các hậu quả của việc không tìm đến sự giúp đỡ có thể gây rắc rối.

Tài liệu tóm tắt này sẽ giúp bạn hiểu trầm cảm và chỉ dẫn bạn cách hỗ trợ chính bạn hoặc người thân vốn có thể đang bị trầm cảm.

 

Trầm cảm

Cảm thấy buồn rầu là một phản ứng bình thường khi gặp hoàn cảnh căng thẳng hoặc lo buồn trong cuộc sống. Một số hoàn cảnh có thể dẫn đến buồn bã hoặc cảm thấy buồn gồm có:

+ Mất người thân

+ Trở bệnh

+ Mất việc

+ Khó khăn tiền bạc

Hầu hết có khả năng vượt qua cảm giác buồn và có khả năng thích ứng với nỗi buồn theo một cách tích cực. Tuy nhiên, một số người không có khả năng thích ứng tốt và cảm giác buồn bã của họ trở nên tràn ngập. Đó là một dấu hiệu của trầm cảm.

Trầm cảm một bệnh. Bác sĩ có thể phân biệt một số loại trầm cảm, một số nghiêm trọng hơn. Điều trị sẵn có và thường hiệu quả.

Trầm cảm được chẩn đoán và điều trị càng sớm, cơ hội khỏi bệnh càng nhiều.

 

Triệu chứng

Buồn rầu trở thành trầm cảm khi lúc nào người bệnh cũng thấy buồn. Sự buồn rầu của người ấy bắt đầu chen vào cuộc sống gia đình và công việc. Sau đây là một số triệu chứng của người trầm cảm. Không phải ai bị trầm cảm cũng trãi qua mọi triệu chứng.

+ Ít hoặc không quan tâm đến các hoạt động và các giải trí mà họ thường yêu thích.

+ Ngủ nhiều hơn bình thường hoặc khó ngủ.

+ Ít hoặc không quan tâm đến bạn bè hoặc tình dục.

+ Cảm thấy vô dụng hoặc tuyệt vọng và tự kết tội mình về mọi chuyện.

+ Xa lánh bạn bè và gia đình, cảm thấy xấu hổ vì bị trầm cảm.

+ Vệ sinh cá nhân kém, không tắm rửa hoặc ăn mặc bê bối.

Đôi khi cảm giác buồn rầu, vô dụng và tuyệt vọng trở nên mạnh đến nỗi người trầm cảm thậm chí nghĩ đến việc tự tử.

Tự tử và dự định tự tử là những hậu quả bi thảm của trầm cảm. Nếu một người có lần cảm thấy muốn chấm dứt cuộc sống của mình, nên gọi bác sĩ ngay lập tức.

Nếu bạn nhận thấy một người thân đang nghĩ đến tự tử, bạn nên tiếp xúc với một bác sĩ ngay lập tức. Cũng đúng như vậy đối với một người bắt đầu nói về chuyện làm hại người khác, nhất là người bị kết tội gây ra khó khăn cho người bệnh.

Trị liệu sẵn có và thường hiệu quả.

Đàn bà có khả năng bị trầm cảm gấp đôi đàn ông, nhất là sau khi sinh con. Trẻ em cũng có thể bị trầm cảm.

Thành viên trong gia đình có thể nghĩ rằng bằng cách quên đi trầm cảm, nó sẽ tự giải quyết và qua đi. Tuy nhiên, trầm cảm che mời lý trí, các thành viên trong gia đình hoặc các bạn bè thường cần phải khởi đầu việc điều trị.

 

Nguyên nhân trầm cảm

Sự kết hợp các yếu tố di truyền, tâm lý và hoàn cảnh có thể gây ra trầm cảm. Trầm cảm nặng thường đi kèm với những thay đổi trong não.

Não điều khiển tất cả các hoạt động của chúng ta. Nó điều khiển cách chúng ta vận động cơ thể, nói năng và hiểu biết, nó cũng điều khiển các xúc động và cảm giác của chúng ta.

Các tế bào thần kinh trong não giao tiếp với nhau thông qua những hợp chất hóa học gọi là “chất dẫn truyền thần kinh”.

Người bệnh trầm cảm có các chất dẫn truyền thần kinh không cân bằng. Bởi vì não điều khiển toàn bộ cơ thể, người bệnh trầm cảm cũng có thể bị đau và các đau đớn không hề dính dáng đến bất kỳ tình trạng nào.

Trầm cảm thường bị kích phát bởi một khó khăn nhận biết được của cá nhân; tuy nhiên, một số người trở nên trầm cảm mà không biết do đâu.

Trầm cảm có khuynh hướng xuất hiện trong gia đình, nó thường có tính di truyền. Nếu cha mẹ hoặc ông bà đã mắc các tình trạng trầm cảm, bạn cũng có khả năng mắc.

Uống rượu hoặc sử dụng ma túy có thể dẫn đến trầm cảm, bởi vì ma túy và rượu ảnh hưởng đến các hóa chất trong não. Để vượt qua trầm cảm, bệnh nhân cần phải ngưng uống rượu hoặc ngưng sử dụng ma túy.

Một số loại thuốc, nhất là thuốc tăng huyết áp, có thể dẫn đến sự mất cân bằng hóa chất trong não và gây ra trầm cảm. Trong trường hợp này, ngưng những loại thuốc này cũng đủ điều trị trầm cảm. Tuy nhiên, KHÔNG BAO GIỜ ngưng bất kỳ loại thuốc nào mà trước hết chưa nói chuyện với bác sĩ.

Chỉ bác sĩ mới có thể chẩn đoán trầm cảm. Chẩn đoán bao gồm khám thực thể, toàn bộ lịch sử các triệu chứng và thăm khám tình trạng tinh thần.

 

Chẩn đoán

Nhất thiết phải tìm hiểu toàn bộ quá trình y tế và xã hội. Sau đó thăm khám thực thể để giúp loại trừ những bệnh khác có thể có những triệu chứng tương tự như trầm cảm.

Xét nghiệm máu và có thể chụp hình não để chắc chắn rằng các triệu chứng không phải do các bệnh khác sinh ra. Thường thường bệnh sử và khám lâm sàng giúp dẫn đến các thử nghiệm tiếp theo.

 

Điều trị

May mắn là y học và tâm lý học hiện đại có khả năng điều trị trầm cảm tương đối thành công. Điều trị thế nào tùy thuộc vào chẩn đoán.

Các dạng trầm cảm nhẹ có thể không cần đến bất kỳ loại thuốc nào, chỉ cần tâm lý trị liệu. Các trường hợp nặng hơn với ý định tự tử có thể cần phải nhập viện và điều trị bằng thuốc.

Tư vấn và tâm lý trị liệu có thể rất hữu ích trong việc điều trị các trường hợp trầm cảm nhẹ. Chúng cũng cần thiết trong những trường hợp nặng hơn cùng với các loại thuốc được kê toa.

Có thể mất vài tuần thuốc mới có hiệu quả. Do đó, điều quan trọng là tiếp tục uống thuốc và đừng nãn chí khi bạn không thấy hiệu quả ngay lập tức.

Hầu hết các thuốc chống trầm cảm không gây nghiện. Tuy nhiên, không nên ngưng thuốc tức thời trừ khi bác sĩ chỉ định.

Các thuốc chống trầm cảm có thể gây ra các tác dụng phụ như:

+ Khô miệng

+ Cảm thấy buồn ngủ

+ Khó bắt đầu đi tiểu

+ Khó khăn tình dục

Nếu bạn sử dụng thuốc chống trầm cảm và nhận thấy bất kỳ tác dụng phụ nào, hãy báo cho bác sĩ. Bác sĩ có thể thay đổi liều dùng hoặc thay đổi loại thuốc. KHÔNG được tự ý ngưng thuốc.

Hầu hết các thuốc chống trầm cảm KHÔNG tương thích với rượu hoặc với ma túy. Do đó, điều quan trọng là không uống rượu hoặc không sử dụng ma túy.

Trong một số trường hợp, tư vấn cũng hữu ích, giúp bệnh nhân hiểu và chấp nhận nguyên nhân ban đầu của bệnh trầm cảm của họ.

Cơ quan quản lý dược phẩm và thực phẩm Mỹ (FDA) đã chấp thuận một phương pháp điều trị trầm cảm nặng khác. Đó là kích thích dây thần kinh X. Thần kinh X là một dây thần kinh đi từ não đến tim, phổi và bụng. Kích thích dây thần kinh này với dòng điện thấp có thể hữu ích trong một số trường hợp trầm cảm nặng.

Một dây điện, một điện cực được cấy vào quanh dây thần kinh X khi nó đi qua vùng cổ. Điện cực được nối với một cục pin đặt dưới da vùng phía trên ngực.

Liệu pháp sốc điện (electroconvulsive therapy – ECT) hữu ích đối với những bệnh nhân trầm cảm nặng và đối với người chậm đáp ứng với các loại thuốc.

ECT giúp tái lập cân bằng các chất dẫn truyền thần kinh bằng cách gây động kinh thoáng qua trong khoảng 30 giây.

ECT được thực hiện trong lúc gây mê và dãn cơ toàn thân. Bệnh nhân không bị co giật một cách không kiểm soát như trong một vài phim ảnh. Bệnh nhân không hề cảm thấy đau hoặc khó chịu trong khi ECT. Thường cần đến một vài lần ECT mới có kết quả.

Khi một bệnh nhân trầm cảm bắt đầu cảm thấy dễ chịu hơn, người ấy sẽ có khả năng thực hiện các thay đổi lành mạnh làm giảm căng thẳng và giữ được một cái nhìn cân bằng hơn về cuộc sống.

Thể dục thể thao đều đặn, ăn uống lành mạnh và các mối liên hệ bền vững, tất cả đều rất hữu ích để giữ căng thẳng ở mức thấp và để giảm các cơ hội cảm thấy trầm cảm trở lại.

 

Tóm tắt

Trầm cảm là một tình trạng bệnh thường gặp. Chẳng có gì phải xấu hổ về nó.

Có cách điều trị và chúng rất có hiệu quả. Các loại thuốc và tư vấn là nền tảng của điều trị trầm cảm.

Quan trọng là phải ứng phó với trầm cảm càng sớm càng tốt khi nhận ra nó. Khi điều trị sớm, một người trầm cảm có thể trở về một lối sống hạnh phúc hơn và có cái nhìn về cuộc sống cân bằng hơn.

 

Nguồn: MedlinePlus http://www.nlm.nih.gov/medlineplus/tutorials/depression/htm/index.htm
Trần Thanh Xuân dịch

 

roi loan giac ngu

Giới thiệu

Rối loạn giấc ngủ là những tình trạng rất thường gặp, có thể vượt qua được. Cần phải hiểu điều gì ảnh hưởng đến giấc ngủ và tầm quan trọng của giấc ngủ. Tài liệu tham khảo tóm tắt này giúp bạn hiểu được giấc ngủ, các rối loạn giấc ngủ và việc điều trị chúng.

Giấc ngủ

Khi ngủ, cơ thể chúng ta không hoạt động nhưng não bộ hoạt động rất tích cực. Giấc ngủ ảnh hưởng đến chức năng hàng ngày và sức khỏe thể chất, tinh thần theo nhiều cách mà những nhà nghiên cứu chỉ mới bắt đầu hiểu được.

Người ta thường theo chu kỳ trải qua 5 giai đoạn ngủ:

+ giai đoạn 1 – Buồn ngủ
+ giai đoạn 2 – Ngủ nông
+ giai đoạn 3 – Ngủ sâu
+ giai đoạn 4 – Ngủ sâu sóng chậm
+ Mắt chuyển động nhanh (REM – Rapid Eye Movement)

Chúng ta trãi qua gần như 50% thời gian ngủ trong giai đoạn 2, khoảng 20% trong giấc ngủ REM, và 30% còn lại trong những giai đoạn khác. Trẻ em trãi qua gần 1/2 thời gian ngủ trong giấc ngủ REM. Trong giai đoạn 1 hoặc giai đoạn ngủ nông, chúng ta ngủ chập chờn và có thể đánh thức được dễ dàng. Mắt chuyển động rất chậm và hoạt động cơ thấp. Các co cơ gọi là co cơ giấc ngủ thường có một cảm giác bắt đầu rơi xuất hiện trước. Trong giấc ngủ giai đoạn 2, cử động mắt ngừng và các sóng não chậm. Trong giai đoạn 3 và 4, các sóng não rất chậm xuất hiện. Rất khó đánh thức trong giai đoạn 3 và 4, cả hai được gọi là ngủ sâu. Không có cử động mắt, không có hoạt động cơ.

Người bị đánh thức lúc ngủ sâu không thích ứng ngay được và thường cảm thấy choáng váng và mất định hướng trong vài phút sau khi tỉnh dậy. Một số trẻ bị đái dầm, ác mộng hoặc mộng du trong lúc ngủ sâu. Trong giấc ngủ REM, hô hấp nhanh hơn, không đều và nông. Mắt giật nhanh theo nhiều hướng khác nhau và các cơ tứ chi bị liệt tạm thời. Nhịp tim tăng lên, huyết áp cao hơn và dương vật cương. Khi thức dậy lúc ngủ REM, người ta thường mô tả những giấc mơ lộn xộn và phi lý. Một chu kỳ ngủ đầy đủ diễn ra trong vòng 90 đến 110 phút. Những chu kỳ ngủ đầu tiên trong đêm có giai đoạn ngủ REM ngắn và giấc ngủ sâu dài. Khi đêm qua dần, giấc ngủ REM kéo dài hơn trong khi giấc ngủ sâu ngắn lại. Về sáng, gần như thời gian ngủ chỉ ở giai đoạn 1, 2 và REM.

Nếu giấc ngủ REM bị quấy rầy, cơ thể chúng ta không theo chu kỳ ngủ bình thường khi ngủ lại. Thay vào đó, chúng ta thường rơi ngay vào giấc ngủ REM và giấc ngủ REM kéo dài hơn để bù đắp lại giấc ngủ này.

Nhu cầu ngủ

Thời gian ngủ cần thiết cho mỗi người tùy thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm tuổi tác. Trẻ con thường cần khoảng 16 giờ một ngày, vị thành niên cần khoảng 9 giờ một ngày. Đối với người trưởng thành, ngủ 7 – 8 giờ một đêm có vẻ là tối ưu, mặc dù một số có thể ngủ ít chỉ cần 5 giờ hoặc ngủ nhiều đến 10 giờ mỗi ngày.

Một người cần ngủ nhiều hơn nếu người ấy đã không ngủ đủ ngày hôm trước. Thiếu ngủ tạo nên “nợ ngủ”, cũng giống như rút tiền quá mức tại ngân hàng. Cuối cùng, cơ thể bạn sẽ đòi phải trả nợ! Người ta không thể thích ứng thành công với việc ngủ không đủ mức cần thiết. Mặc dù người ta có thể làm quen với việc thiếu ngủ, phán đoán, thời gian phản ứng và các chức năng khác của họ sẽ bị tổn thương.

Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng thiếu ngủ là nguy hiểm. Người thiếu ngủ được thử nghiệm với máy lái xe giả lập hoặc những thao tác phối hợp mắt – tay sẽ thao tác kém như hoặc kém hơn người say rượu. Thiếu ngủ cũng làm tác dụng của rượu tệ hại hơn. Một người mỏi mệt uống rượu sẽ bị tổn hại nhiều hơn là một người nghỉ ngơi đầy đủ. Buồn ngủ khi lái xe gây ra khoảng 100.000 tai nạn giao thông và 1.500 tử vong mỗi năm, theo Cơ quan quản lý An toàn Cao tốc Quốc gia.

Lợi ích

Dù các nhà khoa học tiếp tục tìm hiểu chính xác tại sao người ta cần ngủ, nghiên cứu cho thấy rằng giấc ngủ cần thiết cho sự sống còn. Thí dụ, chuột thường sống khoảng 2 đến 3 năm, nhưng trong các nghiên cứu, chuột mất giấc ngủ REM chỉ sống được 5 tuần. Chuột mất tất cả các giai đoạn ngủ chỉ sống khoảng 3 tuần!

Mất ngủ ảnh hưởng tai hại đến hệ thống miễn dịch. Giấc ngủ cũng cần thiết để cho hệ thống thần kinh hoạt động tốt. Ngủ quá ít khiến chúng ta buồn ngủ và không thể tập trung. Nó cũng dẫn đến những rắc rối trí nhớ, cử động vụng về và giảm khả năng tính toán. Nếu tiếp tục mất ngủ, ảo giác và thay đổi tính tình có thể xuất hiện.

Ngủ sâu ở trẻ em và ở thanh niên có liên quan đến một hormone tăng trưởng quan trọng. Nhiều tế bào của cơ thể tái sinh trong lúc ngủ sâu. Chúng phát triển và tái tạo những tổn thương gây ra bởi stress và các tia cực tím. Điều này giải thích tại sao giấc ngủ có thể thật sự là “giấc ngủ sắc đẹp”.

Các rối loạn giấc ngủ

Ít nhất 40 triệu người Mỹ mắc các rối loạn giấc ngủ mạn tính, dài hạn mỗi năm, và 20 triệu người nữa thỉnh thoảng mắc các trục trặc về giấc ngủ. Các rối loạn giấc ngủ và sự thiếu ngủ do chúng sinh ra ảnh hưởng đến công việc, lái xe và các hoạt động xã hội.

Các rối loạn giấc ngủ làm hao tốn 16 tỷ chăm sóc y tế mỗi năm, làm hao tốn nhiều hơn nữa vì công việc bị mất mát và các yếu tố khác.

Có hơn 70 loại rối loạn giấc ngủ khác nhau. Đa số được điều trị thành công khi được chẩn đoán.

Các loại rối loạn giấc ngủ thường gặp nhất là:

+ Bệnh mất ngủ
+ Ngưng thở lúc ngủ
+ Hội chứng chân không yên (RLS)
+ Bệnh ngủ gục

Bệnh mất ngủ

Nhiều người thỉnh thoảng bị mất ngủ ngắn ngày. Đối với mất ngủ ngắn ngày, thầy thuốc đôi khi cho thuốc ngủ. Hầu hết các thuốc ngủ mất hiệu quả sau vài tuần lễ sử dụng hằng đêm và việc sử dụng dài ngày có thể ảnh hưởng xấu đến giấc ngủ.

Nhiều người mất ngủ cố gắng giải quyết vấn đề bằng cách uống rượu. Trong khi rượu quả có giúp người ta rơi vào giấc ngủ nông, nó lại khiến họ không có được các giai đoạn ngủ REM và ngủ sâu.

Người hút thuốc nặng thường ngủ rất nông và ngủ REM ít. Họ cũng có khuynh hướng thức dậy sau khi ngủ được 3 hoặc 4 giờ do thiếu nicotine. Mất ngủ nhẹ có thể phòng ngừa hoặc là chữa khỏi được bằng cách tập luyện thói quen ngủ tốt. Các nhà nghiên cứu đang thí nghiệm cách điều trị bằng ánh sáng và các liệu pháp khác đối với những trường hợp mất ngủ nặng hơn.

Ngưng thở lúc ngủ

Khoảng 18 triệu người Mỹ bị ngưng thở lúc ngủ. Tuy nhiên chỉ một ít trong số họ được chẩn đoán. Ngưng thở lúc ngủ là một gián đoạn hô hấp trong giấc ngủ. Nó có liên quan đến béo phí và trương lực cơ giảm khi lớn tuổi. Những tình trạng này làm cho đường thở xẹp lại khi các cơ thư giãn trong lúc ngủ. Vấn đề này, gọi là ngưng thở lúc ngủ tắc nghẽn, thường gây ra ngáy to.

Trong giai đoạn ngưng thở tắc nghẽn, sự gắng sức để hít không khí vào tạo nên sức hút khiến xẹp đường thở. Luồng không khí bị chặn đứng trong 10 đến 60 giây trong khi người đang ngủ cố gắng thở. Khi mức oxy trong máu giảm, não bộ phản ứng bằng cách đánh thức người ta tỉnh dậy đến mức đủ để kéo căng các cơ đường dẫn khí và mở đường thở ra. Người ấy có thể thở rít hoặc thở mạnh rồi trở lại ngáy. Chu kỳ này có thể lập lại hàng trăm lần một đêm. Do bị đánh thức nhiều lần như vậy, bệnh nhân ngưng thở lúc ngủ luôn luôn buồn ngủ và thậm chí có thể thay đổi tính cách, như là kích động hoặc là trầm cảm.

Ngưng thở lúc ngủ gây thiếu oxy, có thể dẫn đến:

+ nhức đầu buổi sáng
+ không hứng thú tình dục
+ giảm chức năng tinh thần
+ tăng huyết áp
+ nhịp tim không đều
+ tăng nguy cơ trụy tim hoặc đột quị não

Bệnh nhân ngưng thở lúc ngủ nặng, không được điều trị có khả năng gây tai nạn giao thông cao gấp 2 – 3 lần người không bệnh. Đôi khi, ngưng thở lúc ngủ thậm chí có thể dẫn đến tử vong đột ngột do ngưng hô hấp trong lúc ngủ. Những bệnh nhân có triệu chứng ngưng thở lúc ngủ điển hình, như là ngáy to, buồn ngủ quá mức vào ban ngày, nên gặp chuyên gia trung tâm giấc ngủ, người có thể tiến hành một thử nghiệm gọi là đa ký giấc ngủ.

Đa ký giấc ngủ ghi lại sóng não, nhịp tim và hô hấp trong suốt cả đêm ngủ. Nếu được chẩn đoán ngưng thở lúc ngủ, có vài cách điều trị. Ngưng thở lúc ngủ nhẹ có thể vượt qua được bằng cách giảm cân. Bệnh nhân cũng có thể tránh ngủ nằm ngửa. Các thiết bị đặc biệt hoặc phẫu thuật cũng có thể chỉnh sửa các tắc nghẽn gây ngưng thở lúc ngủ. Bệnh nhân ngưng thở lúc ngủ có thể mang một khẩu trang đặc biệt mỗi khi ngủ.

Thiết bị này gọi là CPAP, hoặc là thiết bị áp suất dương đường thở liên tục. Nó sử dụng áp suất khí để giữ đường thở của bệnh nhân mở ra trong khi ngủ. Nó rất thành công trong việc điều trị ngưng thở lúc ngủ.

Người ngưng thở lúc ngủ nên không bao giờ dùng thuốc an thần hay thuốc ngủ bởi vì họ có thể không đủ tỉnh ngủ để thở.

Hội chứng chân không yên

Hội chứng chân không yên (Restless legs syndrome – RLS) là một rối loạn di truyền gây ra cảm giác bị cào, bị véo hoặc nhói ở chân và bàn chân. Bệnh nhân bị ép phải cử động chân, bàn chân cho dễ chịu bớt. RLS trở thành một trong những rối loạn giấc ngủ thường gặp nhất ở người lớn tuổi. RLS tác động đến 12 triệu người Mỹ, dẫn đến việc cử động chân liên tục vào ban ngày và mất ngủ vào ban đêm. RLS nặng thường gặp nhất ở người lớn tuổi, mặc dù có thể xuất hiện ở bất kỳ lứa tuổi nào. Trong một số trường hợp, RLS có thể liên quan đến các tình trạng khác như thiếu máu, mang thai hoặc là tiểu đường. Có thể dùng một vài loại thuốc để làm giảm RLS. Việc hiểu biết tại sao RLS xảy ra có thể dẫn đến những cách trị liệu tốt hơn trong tương lai.

Bệnh ngủ gục

Bệnh ngủ gục tác động đến khoảng 250.000 người Mỹ. Người ngủ gục có những cơn ngủ gục tại những thời điểm khác nhau trong ngày dù họ ngủ đủ vào ban đêm. Cơn ngủ gục là một giai đoạn ngủ thình lình giữa lúc đang tỉnh thức. Rối loạn này được nghĩ là do não mất khả năng điều hòa các chu kỳ ngủ – thức một cách bình thường.

Các cơn ngủ gục xảy ra mọi nơi trong vòng vài giây đến hơn 30 phút. Người ngủ gục cũng có thể bị:

+ cơn bủn rủn – mất kiểm soát cơ trong những lúc xúc động
+ ảo giác
+ ngủ gián đoạn trong đêm
+ liệt tạm thời khi tỉnh dậy

Bệnh ngủ gục thường là do di truyền, nhưng nó đôi khi kèm theo với tổn thương não do chấn thương hoặc do một bệnh thần kinh. Những thuốc như là thuốc kích thích hoặc là thuốc chống trầm cảm có thể kiểm soát các triệu chứng ngủ gục. Giấc ngủ ngắn trong ngày có thể làm giảm sự buồn ngủ quá mức vào ban ngày.

Ngủ ngon

Tốt nhất là có giờ giấc xác định để đi ngủ hoặc thức dậy. Nên đi ngủ và thức dậy vào một giờ nhất định ngay cả vào ngày cuối tuần và ngày nghỉ. Có thể ngủ đến khi mặt trời mọc nếu được; hoặc là sử dụng đèn thật sáng vào buổi sáng. Thể dục hàng ngày có thể giúp kiểu hình ngủ, nhất là tập 5 – 6 giờ trước giờ ngủ đã định.

Hãy thư giản trước khi đi ngủ. Đọc sách báo, xem TV, cầu nguyện và suy tưởng là những cách tốt để thử giản. Tránh cà phê, nicotine và rượu. Không được nằm trên giường nếu bạn không thể ngủ. Làm một việc gì đó, chẳng hạn như đọc sách báo hoặc xem TV. Buồn chán vì không ngủ được có thể làm cho bệnh mất ngủ nặng hơn. Giữ phòng ngủ ở một nhiệt độ dễ chịu cũng có thể làm giảm những lúc gián đoạn giấc ngủ.

Tìm gặp bác sĩ nếu bạn tiếp tục bị trục trặc về giấc ngủ. Có nhiều kỹ thuật và có nhiều loại thuốc giúp bạn ngủ tốt hơn!

Tóm tắt

Trục trặc giấc ngủ thường gặp và có thể có những hậu quả nghiêm trọng. Tuy nhiên chúng có thể điều trị được. Cải thiện thói quen ngủ của bạn và nói chuyện với bác sĩ về những trục trặc giấc ngủ dai dẳng có thể giúp bạn có được một đêm ngủ ngon!

 

Nguồn: MedlinePlus http://www.nlm.nih.gov/medlineplus/tutorials/sleepdisorders/htm/index.htm
Trần Thanh Xuân dịch