Author Archives: dungntk

Ung thư vú tăng triển (aggressive breast cancer) là căn bệnh chiếm tỷ trọng 20-25% số ca mắc ung thư vú. Thủ phạm là do đột biến gen có trong khối u làm cho nó tạo ra một loại protein có tên HER-2 (human epidermal growth factor receptor 2). Những khối u này tiến triển nhanh và kháng lại các loại thuốc với tần suất mạnh và nhanh hơn so với các loại ung thư vú khác. Để trị bệnh, Cơ quan Quản lý thuốc và thực phẩm Mỹ (FDA) mới đây đã phê duyệt loại thuốc nhắm vào khối u dương tính HER-2, có tên liệu pháp T- DM1. Liệu pháp này kết hợp giữa một loại thuốc hóa trị liệu có tên DM và một kháng thể có tên trastazmuab. Việc kết hợp nói trên cho phép nhắm thẳng vào các tế bào ung thư dương tính HER-2 nên mới có tên là “bom thông minh”. Để giúp dư luận hiểu thêm về liệu pháp mới nói trên, tạp chí Khoa học phổ thông (PMC) của Mỹ vừa phỏng vấn nữ bác sĩ chuyên khoa Kimberly Blackwell, người chủ trì dự án này.

Xin bà cho biết “bom thông minh” T- DM1 có tác dụng như thế nào với bệnh nhân ung thư tiến triển?

BS. Kimberly Blackwell: Cho đến nay hầu hết các liệu pháp hóa trị liệu thường gây rụng tóc, thiếu máu, suy giảm số lượng tế bào máu trắng và làm cho con người dễ bị viêm nhiễm. Tiêu diệt ung thư trong phòng thí nghiệm đơn giản còn trong chữa bệnh lại rất phức tạp. Đặc biệt là bảo tồn phần còn lại của cơ thể để không bị “xâm lấn”. Do phân tử T- DM1 chỉ đạo liệu pháp hóa trị liệu nên tủy xương ít bị tổn thương, tế bào máu đỏ ít bị suy giảm số lượng. Vì vậy, dùng “bom thông minh” T- DM1 đã giảm được nỗi lo cho người bệnh. Trung bình nếu được điều trị bằng phương pháp này thì bệnh nhân sẽ được hưởng một thời gian dài giám sát tới trên 6 tháng.

Sử dụng “bom thông minh” trong trị bệnh ung thư vú tăng triển 1Đột biến gen trong tế bào ung thư.

Hướng đi mới của liệu pháp bom T-DM1 trong tương lai?

BS. Kimberly Blackwell: Tháng 2/2013, liệu pháp nói trên đã được FDA phê duyệt và dự kiến sẽ được đưa vào thử nghiệm trên người vào đầu năm 2014. Theo tôi thì liệu pháp này sẽ tốt hơn hóa trị liệu truyền thống, bổ sung một phương pháp điều trị ung thư vú mới, tuy nhiên cũng phải mất 2-3 năm nữa mới có thể đưa vào sử dụng đại trà được và quan trọng hơn là nó giảm độc tố cho cơ thể người bệnh.

Bà có thể cho biết về quá trình phát triển loại thuốc chống ung thư mới?

BS. Kimberly Blackwell: Để tạo ra một loại thuốc mới nói chung và ung thư nói riêng, khoa học phải mất 15-20 năm trong đó có cả cái được lẫn cái mất. Riêng thuốc trị ung thư vú thì phải hiểu được cơ chế liên kết giữa hóa trị liệu và chất kháng thể, nếu nó liên kết quá mạnh hay quá yếu đều không tốt. Nghĩa là quá trình bài tiết của hóa trị liệu phải nằm trong tầm ngắm của con người. Ông Mark Sliwlcowski, hiện đang công tác tại hãng Genentech là người không chỉ tham gia phát minh thuốc T- DM1 mà còn tham gia nghiên cứu tìm ra thuốc trastuzumab và pertuzumab ngay từ những ngày đầu và là người có nhiều đóng góp trong nghiên cứu điều trị bệnh ung thư vú mang gen HER-2. Ví dụ, trong dự án điều trị bệnh ung thư vú tăng triển HER-2 của chúng tôi hiện có tới 4 phân ban đã được phê duyệt tham gia nhưng kết quả rất chậm bởi có những hạng mục cần phải có thời gian để kiểm chứng.

Xin bác sĩ cho biết vài nét về protein HER-2?

BS. Kimberly Blackwell: HER-2 là thụ thể trên màng tế bào thuộc nhóm thụ thể yếu tố tăng trưởng thượng bì EGF (Epidermal growth factor). Đây là một trong những yếu tố tăng trưởng được biết đến sớm nhất. Người có công tìm ra yếu tố này lần đầu tiên năm 1962 là Stanley Cohen (người Mỹ) và các cộng sự  của ông. Đây là gen có chức năng sinh lý trong tế bào, khi gen này đột biến gây ra sự tăng sinh tế bào không kiểm soát được. Năm 1998, một loại kháng thể đơn dòng được tạo ra bằng kỹ thuật nhân hóa (Humanized), có kháng nguyên đích là Her2/neu do Công ty Genetech tạo ra với tên thương mại là herceptin (trastuzumab) đã được FDA phê duyệt dùng cho việc điều trị ung thư vú di căn .

Bác sĩ đã từng được tạp chí Time Magazine bình chọn trong danh sách Top 100 người có ảnh hưởng nhất, xin bác sĩ chia sẻ về niềm vinh dự này?

BS. Kimberly Blackwell: Về phần mình tôi có suy nghĩ thế này, một khi cộng đồng nghiên cứu ung thư đạt được mục tiêu, thành tích thì niềm vui là của tất cả mọi người chứ không của riêng ai, trong đó có cá nhân tôi. Mặc dù phần thưởng được trao cho cá nhân, điều này đồng nghĩa nhắc nhở tôi hãy làm việc tốt hơn, sớm cho ra đời những loại thuốc mới, càng sớm ngày nào thì càng có nhiều sinh mạng con người được cứu sống.

(Theo Net/LV, 6/2013)

Khắc Hùng

Trong và sau bão lũ, nguồn nước bề mặt bị ô nhiễm nặng do đã tràn ngập qua các công trình vệ sinh trên mặt đất cuốn theo phân, rác, xác động – thực vật, nước cống rãnh… Vùng có lũ ống, lũ quét hoặc bị ngập lụt đều bị nguồn nước bẩn làm ô nhiễm vào đất, cây cỏ, vật nuôi, nền và tường vách các công trình xây dựng… Từ đó, vi khuẩn gây bệnh rất dễ lây nhiễm sang người và gây ra các bệnh dịch như: nhiễm khuẩn đường ruột, đau mắt, viêm da, sốt xuất huyết, sốt rét… Nhằm góp phần bảo vệ sức khỏe nhân dân, báo Sức khỏe&Đời sống giới thiệu bài viết về cách phòng bệnh trong và sau bão lũ.

Phòng các bệnh đường ruột

Trên thực tế, đồng bào vùng bão lũ thường bị mắc các bệnh như tiêu chảy, tả, lỵ, thương hàn… chủ yếu lây nhiễm do ăn uống không đảm bảo vệ sinh; tay bị nhiễm khuẩn trong quá trình lao động và sinh hoạt; do ruồi, nhặng, gián, thạch sùng, chuột làm nhiễm bẩn vào thực phẩm. Vì vậy, cần thực hiện các biện pháp phòng bệnh như sau:

Vệ sinh ăn uống: luôn luôn thực hiện “ăn chín, uống sôi ”, tất cả thức ăn, nước uống đều phải nấu chín kỹ, đun sôi rồi mới ăn uống và nên ăn uống khi thức ăn còn nóng, tránh để lâu. Mọi người sau khi tiếp xúc với môi trường, sau lao động, sau khi đi vệ sinh phải rửa tay sạch bằng xà phòng. Các dụng cụ nấu ăn, bát đũa, cốc chén phải rửa sạch, phơi  khô ráo mới sử dụng. Nếu bát đũa vừa rửa mà cần dùng ngay thi phải tráng dội bằng nước sôi. Thức ăn đã nấu chín phải đậy kín bằng lồng bàn để tránh ruồi, nhặng, gián, thạch sùng, mưa gió, bụi bặm làm nhiễm bẩn. Không ăn các loại rau sống, rau thơm. Không ăn tiết canh lợn hay tiết canh các loại vật nuôi khác vì tiết canh sống có nhiều loại vi khuẩn sẽ gây tiêu chảy, ngộ độc thức ăn…

Phòng bệnh trong và sau bão lũ 1Phun hóa chất xử lý môi trường kịp thời phòng ngừa nguy cơ bùng phát dịch bệnh trong và sau lũ lụt.

Vệ sinh nguồn nước sinh hoạt: nước dùng ăn, uống phải được xử lý vệ sinh sạch sẽ. Nếu trời mưa, tốt nhất là hứng nước mưa để nấu nước uống và nấu thức ăn. Trường hợp phải dùng nước sông, suối, ao, hồ, kênh rạch thì phải làm trong và khử khuẩn nước rồi mới dùng. Cách làm trong và khử khuẩn nước như sau:

Cách làm trong nước bằng phèn: dùng một miếng phèn chua khoảng nửa đốt ngón tay hòa tan vào một gáo nước, sau khi phèn tan hết, đổ gáo nước đó vào một xô đựng nước khoảng 20 – 25 lít và khuấy đều. Khoảng 30 phút sau, khi cặn đã lắng xuống đáy thì gạn lấy nước trong ở phía trên để khử khuẩn.

Cách khử khuẩn bằng viên aquatabs:  tiện nhất là dùng viên aquatabs 67mg để khử khuẩn nước. Cách dùng: cho 1 viên aquatabs loại 67mg vào 20 lít nước trong, đậy nắp lại, đợi sau 30 phút để thuốc diệt hết vi khuẩn là dùng được. Nước đã khử khuẩn bằng aquatabs 67mg có thể uống được ngay mà không cần đun sôi vẫn rất an toàn.

Cách khử trùng nước bằng viên cloramin B: hòa tan 1 viên khử khuẩn cloramin B 0,25g vào một gáo nước, đổ gáo nước đó vào xô nước đã được làm trong nói trên và khuấy đều. Đợi khoảng 30 phút sau mới sử dụng nước. Nước đã khử khuẩn bằng cloramin B vẫn phải đun sôi mới được uống.  

Chú ý: một viên khử khuẩn nước cloramin B 0,25g dùng để khử khuẩn cho 25 lít nước đã làm trong; 1/3 thìa canh bột cloramin B (tương đương 3g) dùng để khử khuẩn lượng nước là 300 lít.

Phòng bệnh trong và sau bão lũ 2Thau rửa đồ đựng nước để diệt lăng quăng giúp phòng ngừa dịch bệnh.

 Các bệnh khác

Bà con vùng bão lũ còn hay bị mắc các bệnh: đau mắt, viêm da, sốt xuất huyết, sốt rét. Biện pháp phòng tránh các bệnh này như sau:

Bệnh đau mắt và viêm da chủ yếu lây do tiếp xúc với nước bẩn. Vì vậy, phòng bệnh cần: thường xuyên tắm, rửa bằng nước đã được làm trong và khử khuẩn. Không tắm rửa bằng nước sông, suối, ao hồ đục bẩn vì rất dễ bị mắc bệnh. Nhỏ mắt và rửa mắt bằng nước muối sinh lý (NaCl 9%o) ngày 2 – 3 lần.

Bệnh sốt xuất huyết và sốt rét là do bị muỗi đốt truyền bệnh. Do đó, cách phòng bệnh tốt nhất là diệt muỗi, diệt bọ gậy (lăng quăng) và tránh muỗi đốt. Diệt muỗi bằng cách xịt thuốc muỗi, vợt điện. Diệt bọ gậy bằng cách: thả cá bảy màu, cá đuôi cờ vào các nơi chứa nước như: bể, giếng, chum, vại, lu, khạp… để cá ăn bọ gậy. Loại bỏ nơi muỗi đẻ bằng cách: thu gom, hủy bỏ các vật dụng phế thải xung quanh nhà là những nơi có thể chứa nước mưa tạo nơi đẻ trứng của muỗi như chai lọ vỡ, ống bơ, gáo dừa, lốp xe…; đậy kín các dụng cụ chứa nước như: bể nước, chum, vại, lu khạp; lật úp các dụng cụ chứa nước không dùng đến. Thay nước, rửa chum, vại, lu, khạp mỗi tuần 1 lần. Phun hóa chất diệt muỗi xung quanh nơi ở. Phòng tránh muỗi đốt bằng cách: mặc quần dài, áo dài tay, nhất là trẻ em. Ngủ trong màn, kể cả ban ngày. Dùng thuốc xịt diệt muỗi. Tẩm hóa chất diệt muỗi vào chăn màn, ri đô theo yêu cầu của cơ quan y tế. Bệnh nhân bị sốt xuất huyết hay sốt rét phải nằm trong màn, tránh muỗi đốt truyền bệnh sang người khác.

BS. Ninh Hồng

Sau khi ghép thận, nguy cơ tử vong của người béo phì trong năm tiếp theo giảm 66% so với những người béo phì vẫn chạy thận, nghiên cứu mới công bố.

TS. John Gill, trưởng nhóm nghiên cứu, Đại học British Columbia, Vancouver, Canada cùng các cộng sự đã tiến hành phân tích dữ liệu của 145.629 bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối trong thời gian từ tháng 4/1995 đến tháng 9/2000. Khoảng 60% trong số này có chỉ số BMI đạt mức bình thường, còn lại là những bệnh nhân béo phì. Các nhà nghiên cứu thấy rằng 12% bệnh nhân có BMI bình thường tử vong sau khi được cấy ghép, 34% chạy thận nhân tạo đã tử vong trong vòng 3 năm so với 14% bệnh nhân béo phì tử vong sau khi ghép thận và 28% tử vong khi chạy thận nhân tạo. Theo các nhà khoa học, tỷ lệ tử vong của người béo phì được ghép thận cũng ngang bằng với người có chỉ số BMI chuẩn được ghép thận. Do đó, thay vì chọn phương pháp chạy thận, những người béo phì cũng nên ghép thận nhân tạo để kéo dài sự sống.

Minh Huệ

(Theo Reuters, 7/2013)

Cơ quan Quản lý Thuốc và Thực phẩm Hoa Kỳ vừa có thông báo cảnh báo về nguy cơ gây ra tác dụng phụ về tâm thần và thần kinh nghiêm trọng của thuốc chống sốt rét mefloquine hydrochloride. Các tác dụng phụ thần kinh có thể bao gồm chóng mặt, mất thăng bằng hoặc ù tai. Các tác dụng phụ về tâm thần bao gồm cảm thấy lo lắng, nghi ngờ, chán nản hoặc có ảo giác… FDA yêu cầu phải ghi cảnh báo này lên nhãn thuốc.

Đặc biệt, đối với người sử dụng ma túy thì tác dụng phụ về thần kinh có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong quá trình sử dụng ma túy và có thể kéo dài nhiều tháng đến nhiều năm sau khi ngưng thuốc hoặc có thể là vĩnh viễn. Vì vậy, người bệnh, người chăm sóc và các chuyên gia chăm sóc sức khỏe cần lưu ý về những tác dụng phụ này.

Khi sử dụng thuốc để ngăn chặn bệnh sốt rét, nếu bệnh nhân có triệu chứng thần kinh hoặc tâm thần, cần ngừng thuốc và thay thế bằng một loại thuốc khác. Trong quá trình dùng thuốc, bệnh nhân cũng có thể tự phát hiện tác dụng phụ này và thông báo cho bác sĩ. Bệnh nhân không nên tự ngưng dùng mefloquin trước khi có ý kiến của thầy thuốc.

 FDA sẽ tiếp tục đánh giá sự an toàn của mefloquin và có những thông tin tiếp theo tới công chúng.

Dương Hải

(Theo FDA, 7/2013)

Theo Đông y, gan nhiễm mỡ thường gặp ở các trường hợp tích tụ (đàm tích), hiếp thống (đau hông sườn), hoàng đản (viêm gan  vàng da), can ngạnh hóa (xơ gan)… Đông y có những món ăn – trà – bài thuốc điều trị chứng này hiệu quả.

Tùy theo một số triệu chứng đi kèm với gan nhiễm mỡ mà Đông y phân ra 6 thể khác nhau với những triệu chứng đi kèm có khác nhau, nên các món ăn thích hợp với mỗi trường hợp cũng có khác nhau.

Sau đây là các món ăn dùng trong  chữa trị gan nhiễm mỡ theo Đông y:

Thể can khí uất: người bệnh thấy tức ngực, trướng bụng, đau tức vùng hạ sườn phải, ăn chậm tiêu, ợ hơi, người bực dọc, phiền muộn, dễ cáu gắt, giận dữ. Ở phụ nữ, thường có thống kinh (đau bụng kinh), bế kinh, kinh nguyệt không đều.

Phòng và chữa gan nhiễm mỡ 1Cháo gạo, trần bì chữa gan nhiễm mỡ thể can khí uất

Một vài món ăn thức uống thích hợp:

Cháo gạo, trần bì (vỏ quít khô):

Trần bì 15g, gạo tẻ 100g.

Trần bì rửa sạch, phơi sấy khô, tán nhỏ. Gạo vo sạch, cho vào nồi đất hoặc nồi thủy tinh, thêm nước vừa đủ, nấu thành cháo nhừ. Cho trần bì vào trộn đều, hạ lửa nhỏ nấu sôi lại là được. Chia 2 lần ăn lúc đói bụng.

Nước củ cải, quất:

Củ cải trắng 100g, rửa sạch, xắt nhỏ, ép lấy nước. Quất 5 trái, rửa sạch, bỏ hạt, giã nát. Trộn đều nước củ cải và quất, thêm mật ong 20g, hòa với 300ml nước sôi. Chia 2 lần uống trước bữa ăn.

Thể khí trệ huyết ứ: đau tức hạ sườn phải, gan sưng to có thể sờ thấy được, lưỡi đỏ tía, mạch căng như dây đàn (huyền).

Một vài món ăn thức uống thích hợp:

Trà tam thất:

Tam thất 3g rửa sạch, phơi sấy khô, tán vụn, trà xanh 3g. Hai thứ cho vào ấm sành, hãm với 200ml nước sôi, đậy kín 10 – 15 phút. Có thể ngâm 3 – 4 lần cho ra hết thuốc. Dùng uống thay trà trong ngày. Sau khi uống nước có thể ăn luôn cả xác thuốc tam thất.

Trà nghệ, trần bì:

Nghệ vàng 10g, trần bì 10g, hai thứ rửa sạch, phơi sấy khô, tán nhỏ cùng với trà xanh 3g. Chia làm 2 phần, mỗi lần dùng 1 phần, sắc uống như trên.

Thể đàm thấp: thường gặp ở người béo phì, bụng to, tay chân nặng nề, yếu mỏi không có sức, lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng dày.

Một vài món ăn thức uống thích hợp:

Trà sơn tra, lá sen:

Sơn tra 15g rửa sạch, xắt mỏng. Lá sen 15g rửa sạch, phơi sấy khô, bóp vụn. Nấu chung với 600ml nước, sắc còn 300ml, chia 2 lần uống trong ngày.

Cháo ý dĩ, lá sen:

Ý dĩ nhân 30g, lá sen tươi 50g. Hai thứ rửa sạch, lá sen xắt nhỏ. Nấu với 100g gạo tẻ thành cháo nhừ. Chia 2 lần ăn vào lúc đói bụng.

Thể tỳ khí suy: người bệnh suy nhược cơ thể, người mệt mỏi, không có sức, hơi thở ngắn, ăn uống kém, bụng đầy, đại tiện phân lỏng, lưỡi hồng nhạt.

Một vài món ăn thức uống thích hợp:

Cháo sơn tra, bột bắp:

Sơn tra 15g rửa sạch xắt mỏng, bột bắp 100g trộn đều với nước nóng. Nấu sơn tra với 1 lít nước, đun sôi mạnh rồi nhỏ lửa, khoảng 20 phút. Cho hồ bột bắp vào nồi thuốc, vừa đổ vừa quậy đều cho tan bột. Có thể thay thế sơn tra bằng hoài sơn 20g. Dùng ăn điểm tâm vào buổi sáng.

Cháo hoài sơn, cà rốt:

Hoài sơn (củ khoai mài) 20g, rửa sạch, ngâm nước cho mềm, xắt mỏng, cà rốt 50 – 80g, rửa sạch, bỏ vỏ, xắt lát mỏng. Hai thứ cho vào nồi nấu với 100g gạo tẻ thành cháo nhừ. Chia 2 lần vào lúc đói bụng.

Thể can thận âm hư: người bệnh đau tức vùng hạ sườn phải, chóng mặt, ù tai, đau lưng mỏi gối, lòng bàn tay, bàn chân và ngực đều nóng (ngũ tâm phiền nhiệt), người gầy, da khô, khát nước, tiểu tiện vàng, khó ngủ, lưỡi đỏ, rêu vàng mỏng.

Một vài món ăn thức uống thích hợp:

Cháo hà thủ ô, đại táo:

Hà thủ ô (đỏ) 30g rửa sạch, nấu với 1 lít nước, sắc còn 500ml, đại táo 4 – 6 trái rửa sạch, ngâm mềm, bỏ hạt. Dùng nước thuốc, thêm nước vửa đủ để nầu với gạo tẻ 100g + đại táo thành cháo nhừ. Cho ít đường phèn hoặc mật ong vào khuấy đều. Chia 2 lần ăn vào lúc đói bụng.

Cháo đậu đen, đại táo, rong biển:

Đậu đen 50g rửa sạch, phơi sấy khô, tán bột, rong biển 30g ngâm nước vo gạo 6-8 giờ, vớt ra, rửa sạch, xắt miếng nhỏ, đại táo 15 trái, rửa sạch, ngâm mềm, bỏ hạt. Nấu đại táo với lượng nước vừa đủ, sôi 30 phút, cho rong biển và bột đậu đen vào trộn đều. Nấu sôi lửa nhỏ thêm 20 phút là được. Chia 2 lần ăn vào lúc đói bụng.

Thể thấp nhiệt và đàm ứ: gan bị sưng to, đau tức, mắt vàng, da vàng, miệng khô, đắng, nước tiểu vàng, người buồn bực, dễ cáu gắt, rêu lưỡi vàng, dơ. Thường gặp ở người bị viêm gan vàng da, viêm gan siêu vi (B,C), người nghiện rượu.

Một vài món ăn thức uống thích hợp:

Trà sắn dây, lá sen: dùng cho người gan nhiễm mỡ do rượu.

Sắn dây 30g rửa sạch, xắt mỏng (hoặc cho hoa sắn dây 10g rửa sạch), lá sen 1/2 cái rửa sạch, xắt sợi. Hai thứ nấu với 1 lít nước, sắc còn 750ml, chia 2 – 3 lần uống trong ngày.

Trà cúc hoa, thảo quyết minh:

Cúc hoa 15g rửa sạch, thảo quyết minh 30g sao vàng, tán nhỏ. Hai thứ hãm với 200ml nước sôi trong 15 phút. Có thể ngâm nhiều lần, chia nhiều lần uống thay nước trà trong ngày.

 Lương y ĐINH CÔNG BẢY

Trùng lông chuyển động bằng lông, thường gặp là trùng lông Balantidium coli sống ký sinh ở đường tiêu hóa và gây bệnh cho người. Trùng lông có thể gây thủng ruột, xuất huyết tiêu hóa nguy hiểm đến tính mạng.

Ruột bị nhiễm khuẩn trùng lông sẽ gây bệnh

Trùng lông Balantidium coli sống chủ yếu ở manh tràng và ở đoạn cuối của hồi tràng. Thức ăn của chúng là vi khuẩn, tinh bột chưa tiêu hóa hết và ăn cả cá thể đồng loại. Chúng hình thành thể kén ở điều kiện bất lợi như gặp phân rắn, độ pH thay đổi… kén sẽ theo phân ra ngoài, từ môi trường kén xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa, di chuyển đến manh tràng và biến thành thể hoạt động. Trùng lông sống hội sinh, chúng chỉ tấn công vào thành ruột để gây bệnh khi niêm mạc ruột bị tổn thương do nhiễm khuẩn, nhiễm độc thức ăn, thương hàn, lỵ trực khuẩn… Người bị nhiễm Balantidium coli cấp tính hoặc mạn tính và người lành mang trùng là nguồn gây bệnh.

Bệnh hiểm do nhiễm trùng lông 1

 Chu trình lây nhiễm trùng lông.

Biểu hiện nhiễm trùng lông

Với đặc điểm của trùng lông Balantidium coli là có lối sống hội sinh, vì vậy nhiều trường hợp xét nghiệm phân người trong bệnh khác đã tình cờ phát hiện thấy thể kén của trùng lông, nhưng trên lâm sàng người đó không có biểu hiện triệu chứng bệnh lý gì. Khi trùng lông Balantidium coli chuyển sang dạng sống ký sinh, chúng sẽ gây hoại tử mô ở thành manh tràng. Tại chỗ tổn thương của ruột, Balantidium coli tiếp tục sinh sản, phá hủy mô thành ruột làm cho các thương tổn vết loét ngày càng rộng, càng sâu. Nhiều nghiên cứu cho biết, sự phá hủy thành ruột của trùng lông Balantidium coli mạnh hơn khi có thêm tác động của yếu tố cơ học, do đó trùng lông có thể xâm nhập sâu vào thành ruột và gây thủng ruột. Tổn thương thủng ruột chủ yếu chỉ xảy ra ở đại tràng.

Các dấu hiệu lâm sàng do loại trùng lông Balantidium coli gây ra ở những bệnh nhân có biểu hiện triệu chứng là: đau bụng, đi tiêu chảy có thể đến 15 lần mỗi ngày; mót rặn, phân có chất nhầy, máu. Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, bệnh  nhân có thể bị tử vong. Một vài nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ tử vong do bệnh trùng lông Balantidium coli gây ra có thể chiếm đến 29% các trường hợp bệnh nhân không được chẩn đoán và điều trị. Nguyên nhân bệnh nhân bị tử vong chủ yếu do biến chứng thủng ruột, xuất huyết đường tiêu hóa… Hội chứng lỵ do nhiễm trùng lông Balantidium coli gây ra cũng có thể diễn biến thành bệnh mạn tính. Nhiều bệnh nhân có thời gian mắc bệnh kéo dài đến 20 năm hoặc hơn. Trong khoảng thời gian mắc bệnh mạn tính, thỉnh thoảng xuất hiện các đợt tái phát cấp tính của bệnh lỵ và tiêu chảy.

Việc chẩn đoán bệnh nhiễm trùng lông Balantidium coli có thể dựa vào triệu chứng lâm sàng nêu trên. Tuy nhiên, các triệu chứng của hội chứng lỵ do trùng lông gây ra thường rất khó phân biệt với hội chứng lỵ do trực khuẩn lỵ hay amip gây ra. Do đó  trong những trường hợp này, bác sĩ phải thực hiện các xét nghiệm như soi trực tràng có thể thấy vết loét đặc trưng do trùng lông Balantidium coli gây nên,  với đặc điểm vết loét thường rộng, sâu, đáy có phủ mủ, mô bị hoại tử… Chẩn đoán chính xác nhất vẫn là xét nghiệm phân để tìm Balantidium coli.

Việc điều trị bệnh nhân bị nhiễm trùng lông Balantidium được thực hiện theo nguyên tắc điều trị giống như điều trị bệnh lỵ amip. Nhiều loại thuốc điều trị đặc hiệu có hiệu lực tốt với amip cũng có tác dụng tốt đối với trùng lông, đó là: các dẫn chất của emetine như emetine chlohydrate, dehydroemetine…; các dẫn chất của iode như yatren, mixiode…; các dẫn chất của asen như carbazole, bemarsal…; hay thuốc metronidazole với các biệt dược như flagyl, klion…

Lời khuyên của bác sĩ

Bệnh do trùng lông Balantidium coli phân bố rộng rãi ở khắp nơi trên thế giới, trong đó ở Việt Nam. Điều cần lưu ý:  đây là một loại bệnh ký sinh trùng đường ruột có thể gây nên hội chứng lỵ với các biến chứng nặng như thủng ruột, xuất huyết đường tiêu hóa với nguy cơ tử vong khá cao nếu bệnh không được phát hiện và điều trị kịp thời. Vì vậy, mọi người cần nắm vững các triệu chứng bệnh cũng như đường lây nhiễm để có biện pháp phòng tránh hiệu quả. Cụ thể, bảo đảm vệ sinh ăn uống, vệ sinh nguồn nước sử dụng và xử lý tốt phân nước rác. Chúng ta biết rằng, trùng lông chỉ tấn công vào thành ruột để gây bệnh khi niêm mạc ruột bị tổn thương do nhiễm khuẩn, nhiễm độc thức ăn… Vì vậy, việc phòng tránh các bệnh gây nhiễm khuẩn đường ruột là rất quan trọng. Muốn thế cần thực hiện ăn chín uống sôi. Không ăn rau sống, không uống nước đá vì nước đá thường bị nhiễm bẩn. Không ăn tiết canh, không ăn mắm tôm, mắm tép sống, không ăn nem chạo, nem chua. Thường xuyên rửa tay sạch bằng xà phòng diệt khuẩn, sau khi đi vệ sinh hay tiếp xúc với đồ vật. Thức ăn đã chế biến chín cần đậy lồng bàn tránh ruồi nhặng bu vào làm nhiễm bẩn. Khi phát hiện các triệu chứng bệnh nói trên, cần đi khám ở bệnh viện để được xét nghiệm chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời. Trong khi điều trị, cần uống thuốc đúng theo chỉ định của bác sĩ để diệt trùng lông nhanh, triệt để, phòng biến chứng thủng ruột hay xuất huyết nguy hiểm. 

ThS. Bùi Quỳnh Nga

Đau bụng là một danh từ chung chung vì đau bất kỳ một cơ quan nào nằm trong ổ bụng đều có triệu chứng đau nên được gọi là đau bụng. Tuy vậy, mỗi một cơ quan khi bị bệnh đều có đau nhưng tính chất đau có khi giống nhau nhưng đôi khi cũng có tính riêng của nó.

Đau bụng thượng vị

Đau thượng vị (dưới mũi ức) thường là đau do hội chứng dạ dày (viêm loét dạ dày hay viêm loét dạ dày tá tràng), có khi là triệu chứng của viêm tuỵ cấp, mạn tính.

Nếu đau thượng vị lệch sang phải là vùng gan,đường dẫn mật và túi mật. Nếu vị trí đau dịch xuống có thể là vị trí của thận, niệu quản.

Nên làm gì khi bị đau bụng? 1Khi đau bụng cần đi khám bệnh càng sớm càng tốt, nhất là đau nhiều, đau dữ dội

Cơn đau dạ dày cấp, viêm tuỵ cấp hay cơn đau do sỏi niệu quản thường dễ bị nhầm lẫn, bởi tính chất đau na ná như nhau. Đau bụng do dạ dày tá tràng còn tùy theo tình trạng của bệnh. Đau âm ỉ, liên tục cả khi đói lẫn khi no hoặc đau nhiều khi đói có thể do loét dạ dày – tá tràng, đau khi ăn no do viêm dạ dày, đau như dao đâm có thể thủng dạ dày. Đau bụng quằn quại sau khi vận động nhiều hay sau khi đi xe bị xóc nhiều có thể cơn đau của sỏi thận, niệu quản. Cơn đau bụng do hệ thống gan mật thường xảy ra sau bữa ăn. Hay gặp nhất là đau do sỏi mật, viêm túi mật. Đau do sỏi mật ngoài đau còn sốt và vàng da.

Đau dạ dày, sỏi thận hay gan mật còn có thể thấy nôn, buồn nôn, đau lan ra sau lưng, lên vai, ngực.

Đau thượng vị lệch phải còn có thể gặp giun chui ống  mật chủ, đau lăn lộn, vã mồ hôi, người bệnh thường nằm sấp và chổng mông thì có vẻ dễ chịu hơn. Đây là loại đau bụng đột ngột, cấp tính.

Đau thượng vị lệch sang trái có thể là lá lách, cũng là vị trí của thận và niệu quản trái, đau vị trí bên trái nếu có chấn thương (tai nạn chẳnh hạn) cần lưu ý đến lách bị tổn thương (sưng lách, dập lách…).

Cơn đau do sỏi thận, niệu quản cũng dữ dội, lan tỏa, có thể kèm theo đái buốt, đái rắt, đái máu. Đau bụng dữ dội có thể viêm phuc mạc do tiết dịch mật, dịch tuỵ chảy vào ổ bụng hoặc do thủng dạ dày dịch vị, thức ăn làm viêm phúc mạc…

Để chẩn đoán xác định đau thượng vị không thể không dựa vào các kết quả xét nghiệm, siêu âm, X-quang. Đó là những kết quả của cận lâm sàng rất có giá trị giúp chẩn đoán chính xác.

Đau hạ vị

Vùng hạ vị cũng rất hay bị đau do nhiều cơ quan định vị trong đó. Đau hạ vị đáng quan tâm nhất là viêm ruột thừa. Cơn đau của viêm ruột thừa ở phía bên phải (hố chậu phải). Đau có khi âm ỉ nhưng cũng có khi thành từng cơn, kèm theo đau còn có sốt nhẹ, buồn nôn, nôn, bí trung tiện… Đối với bệnh viêm ruột thừa thì người ta khuyên rằng thà chẩn đoán nhầm (không bị viêm ruột thừa mà chẩn đoán là viêm ruột thừa) còn hơn là bỏ sót.

Đau bụng dưới do viêm đại tràng cũng là bệnh thường hay gặp, đặc biệt là viêm đại tràng mạn tính căn nguyên do ký sinh trùng amip. Viêm bàng quang cấp tính nhiều khi cũng gây đau bụng dưới kèm theo đái buốt, đái rắt, đái máu mà hay gặp nhất là nữ giới.

Đối với nữ giới viêm phần phụ như viêm tử cung, buồng trứng, vòi trứng cũng gây đau bụng dưới, đặc biệt là đau bụng dưới do u nang buồng trứng xoắn, nếu ở bên hố chậu phải thì rất dễ nhầm với viêm ruột thừa cấp tính. Cũng như đau thượng vị, để chẩn đoán chính xác đau hạ vị rất cần có sự hỗ trợ của cận lâm sàng, vì vậy ở cơ sở y tế nào còn hệ thống cận lâm sàng yếu cả về trang thiết bị cả về trình độ chuyên môn thì ảnh hưởng không nhỏ đến việc chẩn đoán bệnh nói chung và các bệnh về đau bụng nói riêng.

Ngoài đau bụng khu trú ở thượng vị hay hạ vị thì có thể gặp đau bụng không thấy khu trú ở vùng nào nhất định như xoắn ruột, tắc ruột, viêm phúc mạc…

Khi bị đau bụng nên làm gì?

Khi bị đau bụng cần đi khám bệnh ngay, đi càng sớm càng tốt, nhất là đau nhiều, dữ dội, liên tục, có tiền sử bệnh dạ dày, bệnh gan, mật. Riêng đau hố chậu phải cần hết sức thận trọng, đôi khi chỉ đau âm ỉ nhưng lại là viêm ruột thừa, đối với nữ giới khi đau hố chậu phải ngoài việc cảnh giác với bệnh ruột thừa cũng cần lưu ý thêm rất có thể là dấu hiệu của u nang buồng trứng xoắn. Càng thận trọng khi trẻ em kêu đau bụng vì viêm ruột thừa ở trẻ em phức tạp và rất khó chẩn đoán nếu không phải là nhà chuyên khoa ngoại.

Những người mắc bệnh thuộc về ổ bụng mới bị lần đầu nên điều trị dứt điểm, triệt để và nên đi khám bệnh định kỳ để được bác sĩ tư vấn và có những lời khuyên hữu ích. Hầu hết các bệnh đau bụng người thầy thuốc kết hợp với cận lâm sàng có thể chẩn đoán được và có chỉ định điều trị thích hợp do đó người bệnh cần tuân theo y lệnh của thầy thuốc.

PGS.TS.BS. BÙI KHẮC HẬU

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có triệu chứng nổi bật là bệnh nhân bị khó thở. Vì vậy, để sống chung với bệnh, người bệnh cần phải biết cách thở mới đảm bảo ôxy cho cơ thể để duy trì sức khỏe, cải thiện tình trạng bệnh và ngăn chặn tốc độ bệnh tiến triển nặng.

Phương pháp thở

Đối với bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, biết cách thở sâu là một phần thiết yếu trong kỹ năng sống chung với bệnh. Một hơi thở sâu rất cần để cung cấp đầy đủ oxy cho cơ thể, đồng thời giúp loại bỏ khí thải là carbon dioxide, còn giúp kích thích tủy sống và cơ quan nội tạng hoạt động tốt. Bước đầu tiên trong việc học thở là học cách hít thở sâu bằng cơ hoành. Cơ hoành là một cơ hình vòm ngăn cách khoang ngực và ổ bụng. Khi hít vào, cơ hoành hạ xuống tạo ra lực hút chân không hút không khí vào phổi. Khi thở ra, cơ hoành trở lại trạng thái ban đầu, đẩy không khí ra khỏi phổi.

Cách thở trong bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 1Tổn thương phổi tắc nghẽn mạn tính trên phim Xquang.

Thở cơ hoành và thở chúm môi: có 2 nhóm cơ chủ yếu tham gia trong quá trình thở  là cơ hoành và các cơ liên sườn. Ở người mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, do tình trạng ứ khí trong phổi nên lồng ngực bị căng phồng làm hạn chế hoạt động của cơ hoành. Khi cơ hoành bị yếu, người bệnh hít thở phải sử dụng cơ hô hấp phụ là các cơ cổ, vai, cơ liên sườn để thở. Việc thở bằng cơ hoành là một cách giúp tăng cường cơ hoành và các cơ bụng, hít thở được nhiều không khí vào và ra khỏi phổi mà không mệt mỏi các cơ hô hấp ngực. Nếu kết hợp với chúm môi thở và thực hành thở thường xuyên sẽ giúp tăng cường hiệu quả của hô hấp và tiết kiệm năng lượng.

Cách thở cơ hoành: bệnh nhân nằm ngửa trên giường, chân hơi co, thả lỏng cổ và vai. Đặt một bàn tay lên bụng và đặt bàn tay kia lên ngực. Hít vào chậm qua mũi, đến khi bàn tay trên bụng có cảm giác bụng phình lên, lồng ngực không di chuyển. Hóp bụng lại và thở chậm qua miệng với thời gian thở ra gấp đôi thời gian hít vào và bàn tay trên bụng có cảm giác bụng lõm xuống. Tập thở cơ hoành nhiều lần trong ngày cho đến khi trở thành thói quen. Bệnh nhân có thể tập thở ở tư thế ngồi hoặc đứng ở tư thế thẳng đầu. Sau một thời gian đã nhuần nhuyễn kỹ thuật thì nên tập thở cơ hoành cả khi đi bộ và làm việc nhà.

Cách thở chúm môi: bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính bị ứ khí trong phổi nên rất khó thở. Thở chúm môi là phương pháp giúp cho đường thở không bị xẹp lại khi thở ra giúp không khí thoát ra ngoài dễ dàng hơn. Bệnh nhân ở tư thế ngồi thoải mái. Thả lỏng cổ và vai. Hít vào chậm qua mũi, trong khi môi chúm lại như đang huýt sáo, thở ra bằng miệng chậm với thời gian thở ra gấp đôi thời gian hít vào. Bệnh nhân nên dùng kỹ thuật thở chúm môi bất cứ lúc nào cảm thấy khó thở như: leo cầu thang, tập thể dục, làm việc nhà… Bệnh nhân nên tập thở chúm môi kết hợp tập thở cơ hoành. Tập lặp đi lặp lại nhiều lần thật thuần thục, thành thói quen.

Phương pháp thông đờm

Bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính bị tăng tiết chất nhầy trong đường hô hấp gây khó khăn cho việc thở ra hít vào. Chất nhầy cũng là nơi sinh sản thuận lợi của vi khuẩn gây bệnh dẫn đến viêm phổi. Vì vậy, việc thông đàm là một phần quan trọng trong điều trị bệnh giúp bệnh nhân thở tốt hơn, giảm nguy cơ viêm phổi.

Bệnh nhân cần tập các phương pháp thông đàm như ho có kiểm soát, thở ra mạnh.

Ho có kiểm soát: người bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính thường gặp khó khăn khi ho khạc đàm. Vì vậy, biết cách kỹ thuật ho có kiểm soát sẽ giúp bệnh nhân tống đàm ra ngoài, làm sạch đường thở mà không làm người bệnh mệt và khó thở.

Cách ho có kiểm soát: bệnh nhân ngồi ở tư thế thoải mái; hít vào chậm và sâu; nín thở trong vài giây; ho mạnh 2 lần giúp đẩy đàm ra ngoài, khạc đàm; hít vào chậm và nhẹ nhàng. Nên thở chúm môi vài lần trước khi lập lại động tác ho. Bệnh nhân phải tập để có lực ho đủ mạnh mới đẩy được đàm ra.

Những trường hợp người bệnh không đủ sức ho nên thay thế bằng kỹ thuật thở ra mạnh như sau:

Cách thở ra mạnh: bệnh nhân hít vào chậm và sâu; nín thở trong vài giây; thở ra mạnh và kéo dài; hít vào nhẹ nhàng bằng cách hít thở chúm môi đều vài lần trước khi lập lại.

Bệnh nhân cần tập luyện các phương pháp và kỹ thuật nói trên cho đến khi đạt kết quả. Người bệnh cần chọn một nơi yên tĩnh để tập các kỹ thuật nói trên. Người bệnh cũng cần xây dựng quyết tâm là tập bằng được các kỹ thuật này. Muốn thế, phải thật kiên nhẫn trong tập luyện.

ThS. Nguyễn Xuân Lục

Trong Đông y, sắc thuốc đã là một công việc khá phức tạp và công phu, nhưng khi sắc xong rồi, uống như thế nào cho đúng cũng là một vấn đề rất quan trọng.

Nên uống nóng, uống ấm hay uống lạnh?

Thường thì khi sắc thuốc xong, chắt nước thuốc ra bát, đợi một lát để thuốc nguội đến độ vừa phải, không nóng không lạnh rồi uống như vậy gọi là uống ấm. Cách uống này hay được sử dụng hơn cả vì rất hợp sinh lý. Nhưng với những bệnh nhân bị chứng hàn như cảm mạo phong hàn, đau bụng đi ngoài do lạnh… muốn nâng cao tác dụng tán hàn của thuốc thì phải uống nóng. Ngược lại, với những bệnh nhân bị chứng nhiệt như sốt sao, môi khô họng khát, miệng lưỡi lở loét, đại tiện táo, tiểu tiện sẻn đỏ… thì phải đợi cho thuốc thật nguội mới uống nhằm mục đích tăng cường hiệu quả thanh nhiệt của dược liệu. Các vị thuốc cần phải uống ấm thường có dược tính tương đối ôn hòa lấy công dụng tư bổ điều lý làm trọng, khi sắc hay dùng lửa nhỏ (văn hỏa). Các vị thuốc cần phải uống nóng thường có dược tính ôn nhiệt, khi sắc phải dùng lửa to (vũ hỏa), sắc nhanh. Các vị thuốc cần phải uống lạnh thường có dược tính hàn lương, khi sắc thời gian kéo dài hơn một chút.

Ðiều cần biết khi dùng thuốc sắc Ðông y 1Sắc thuốc.

Nên uống vào lúc nào?

Thuốc có hiệu quả hay không ngoài việc dùng đúng bệnh và sắc đúng cách còn phụ thuộc vào thời gian uống thuốc có hợp lý hay không. Để hấp thu tốt và phát huy tác dụng cao nhất, các thuốc tư bổ nên uống vào sáng sớm khi chưa ăn sáng; các thuốc có công dụng kiện tỳ, tả hạ (tẩy xổ), khu trùng (trừ giun) nên uống khi bụng đói, trước khi ăn; các thuốc tiêu thực và có phản ứng kích thích dạ dày, ruột nên uống sau bữa ăn; các thuốc thăng đề (đưa lên trên) và ôn lương bổ khí nên uống vào khoảng thời gian từ sáng sớm đến trước giữa trưa; các thuốc tư âm dương huyết, thuốc thanh tả phục hỏa ở âm phận nên uống vào buổi tối; các thuốc trừ tà ở khí phận và dương phận nên uống vào sáng sớm…

Làm gì để hạn chế cảm giác buồn nôn khi uống thuốc?

Những người uống thuốc sắc Đông y lần đầu thường có cảm giác buồn nôn, thậm chí có thể nôn ngay lập tức, đặc biệt là khi uống các thuốc thanh nhiệt giải độc có vị đắng. Thêm nữa, trong khi thần kinh đang căng thẳng lại nhắm mắt, bịt mũi cố uống một hơi cho hết bát nước thuốc, kết quả là nôn ra toàn bộ vừa mệt sức vừa phí thuốc. Để hạn chế tình trạng này, trước tiên phải hết sức bình tĩnh, thư giãn thần kinh, không nóng vội, chú ý độ ấm của thuốc và cách uống trước hay sau bữa ăn rồi uống một ngụm nhỏ, ngậm trong miệng một lát để tạo cảm giác thích ứng, sau đó từ từ nuốt xuống họng. Khi uống hết, nên dùng một chút nước ấm tráng miệng. Ngoài ra, hòa thêm vào bát thuốc một ít nước gừng tươi cũng có thể đem lại hiệu quả chống nôn và buồn nôn ở một mức độ nhất định.

Có nên uống đông dược và tân dược cùng một lúc?

Tốt nhất là nên uống cách xa nhau vì rằng nhiều loại thuốc tây và thuốc ta không thể cùng uống một lúc. Ví như các vị thuốc như đào nhân, hạnh nhân có chứa nitriglycoside thì không nên uống cùng các tân dược thuộc nhóm an thần, gây mê, gây tê vì có thể gây ức chế trung tâm hô hấp và rối loạn chức năng gan. Các thuốc cường tim thuộc nhóm digitalis không được uống cùng với các dược liệu như trúc đào, vạn niên thanh, vì có thể gây rối loạn nhịp tim. Các thuốc thuộc nhóm sulfanilamide không nên uống cùng các dược liệu có chứa acid hữu cơ  như bồ công anh, xuyên khung, ngũ vị tử, ô mai… vì có thể gây nên sỏi đường tiết niệu và chứng đái ra máu. Kháng sinh thuộc nhóm tetracyclin không nên uống cùng một lúc với các vị thuốc có chứa nhiều canxi, magiê và nhộm nhôm như thạch cao, mẫu lệ… vì sẽ làm giảm hiệu lực của tetracyclin, hình thành các hợp chất kim loại bền vững ở đường ruột làm ảnh hưởng đến quá trình hấp thu và tiêu hóa thức ăn.

Khi uống nên kiêng cữ ăn uống như thế nào?

Kiêng cữ về ăn uống khi dùng thuốc đông y là một điều rất cần thiết. Bởi lẽ, theo quan niệm của y học cổ truyền, thức ăn cũng là những vị thuốc, cho nên nếu ăn uống không hợp lý thì có thể làm ảnh hưởng đến hiệu lực của đơn thuốc và sức khỏe của người bệnh. Tuy nhiên, do hạn chế về kiến thức, nhiều thầy thuốc bắt bệnh nhân kiêng quá nhiều thứ, kể cả những thức rất cần thiết cho cơ thể hoặc giả tạo nên thói quen cứ khi dùng thuốc Đông y là phải kiêng tôm, cua, ốc, thịt gà, rau muống… một cách cứng nhắc. Trên thực tế, việc kiêng cữ về ăn uống phải tùy thuộc vào 2 yếu tố: một là các món ăn kị với các vị thuốc đang dùng, ví dụ bạch linh kị giấm, miết giáp kị thịt gà…; hai là các thức ăn chống lại tác dụng của thuốc, ví dụ đang uống thuốc trị chứng hàn thì phải kiêng các thức ăn mát lạnh… Như vậy, về vấn đề này, việc tuân thủ theo chỉ dẫn của thầy thuốc có chuyên khoa là hết sức quan trọng.

ThS. Hoàng Khánh Toàn

Các nghiên cứu gần đây cho thấy bữa ăn ngày nay thiếu hụt trầm trọng các vitamin thiết yếu, đặc biệt là vitamin A. Cuộc sống bận rộn khiến cho việc chuẩn bị bữa ăn trở nên vội vàng, nhiều người phải sử dụng thức ăn nhanh để tiết kiệm thời gian. Chính vì thế, việc cân nhắc bổ sung vitamin A đã bị bỏ qua một cách đáng lo ngại. Nhiều loại rau củ quả giàu sinh tố nhóm A như cà chua, cà rốt, củ dền… thường không ăn sống mà phải qua chế biến cũng làm mất đi một lượng Vitamin A đáng kể.

Các chuyên gia dinh dưỡng cho rằng việc thiếu hụt vitamin A và các vi chất xuất phát từ việc lựa chọn thực phẩm chưa hợp lý. Ngoài ra bữa ăn của người Việt ngày nay không đáp ứng được tiêu chuẩn sau: phải có ít nhất 15 loại thực phẩm khác nhau đến từ 4 nhóm thực phẩm.

Vì sao bữa ăn ngày nay thiếu hụt vi chất 1

Mối lo ngại với nhiều nguy cơ tiềm ẩn từ việc thiếu hụt Vitamin A

Thiếu hụt Vitamin A sẽ dẫn đến nhiều biến chứng, ảnh hưởng trầm trọng đến sức khỏe. Đây thực sự là một vấn đề cần phải quan tâm, đặc biệt đối với trẻ em và người lớn tuổi.

Nghiên cứu của viện dinh dưỡng quốc gia vào đầu năm 2013 còn cho biết có hơn 50% trẻ đang bị thiếu hụt các vitamin thiết yếu, trong đó có vitamin A. Rất nhiều trường hợp trẻ chưa đến tuổi đi học đã bị cận thị hay mắc phải một số vấn đề bệnh lý về mắt vì thiếu Vitamin A. Ngoài ra, việc thiếu hụt Vitamin A lâu ngày rất dễ dẫn đến khô giác mạc, mắc quáng gà… nhiều trường hợp trầm trọng có thể gây ra mù lòa. Nếu không bổ sung đầy đủ nguồn vitamin này,trẻ cũng dễ mắc các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như bệnh tay chân miệng, thủy đậu… Vì đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát triển thể chất và trí não, nếu không bổ sung vitamin A đầy đủ trong khẩu phần ăn, trẻ có thể bị ù lì.

Bên cạnh đó, nếu cơ thể không được cung cấp đủ vitamin A sẽ dẫn đến việc làm giảm sức đề kháng, khiến người lớn và trẻ em đều có thể mắc phải các bệnh nguy hiểm.

Dự án bổ sung vi chất dinh dưỡng cho người Việt

Nhận thức được tầm quan trọng và tình trạng thiếu hụt đáng báo động của vitamin A, ngành y tế đã tổ chức chương trình uống vitamin A liều cao 2 lần/ năm để hạn chế các trường hợp bệnh tật do thiếu hụt vitamin A gây ra. Tuy nhiên, việc bổ sung Vitamin A cần phải được thực hiện mỗi ngày, trong các bữa ăn, nhằm hạn chế việc thiếu hụt lâm sàng có thể dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng.

Vì sao bữa ăn ngày nay thiếu hụt vi chất 2

Cuối tháng 5 vừa qua, Viện dinh dưỡng quốc gia – Bộ Y tế cũng đã tổ chức chương trình “Lễ Phát Động Ngày Vi Chất Dinh Dưỡng” vào ngày 28/05 tại Thành phố Thái Nguyên. Chương trình với ý nghĩa quan trọng, kêu gọi việc bổ sung các vi chất thiết yếu và vitamin A trong mỗi bữa ăn hàng ngày, góp phần nâng cao thể trạng và thể chất của người dân Việt Nam.

Viện dinh dưỡng quốc gia cũng đang phối hợp cùng các doanh nghiệp triển khai dự án bổ sung vi chất dinh dưỡng cho người Việt Nam. Chương trình được Bộ Y tế phê duyệt, với mục tiêu sản xuất các thực phẩm bổ sung nhiều vitamin, làm giàu vi chất cho bữa ăn của người Việt. Viện dinh dưỡng sẽ cùng với các doanh nghiệp tuyên truyền phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng để người tiêu dùng nhận thức rõ tầm quan trọng của việc bổ sung các vi chất quan trọng như vitamin A trong khẩu phần ăn. Việc tăng cường Vitamin A vào các thực phẩm đảm bảo cung cấp những vi chất quan trọng cho cơ thể trong mỗi bữa ăn hàng ngày đã được Viện dinh dưỡng quốc gia đánh giá cao. 

10 triệu chứng đột quỵ nên biết 1
Đau đầu- một triệu chứng đột quỵ.

 

Khó nhìn hoặc nhìn mờ dần

 

Đột quỵ có thể gây ra nhìn mờ ở hai mắt hoặc có thể mất thị lực một mắt, nhưng biểu hiện này không dễ được người bên cạnh nhận ra như các triệu chứng yếu tay chân, tái mặt hay không thể nói.

 

Khi đươc hỏi về các triệu chứng xảy ra trong một cơn đột quỵ, chỉ có 44% trong số 1.300 người Anh biết rằng mờ mắt là triệu chứng của đột quỵ.

 

Khó nói hoặc nhầm lẫn

 

Đột quỵ làm giảm khả năng thể hiện bản thân hoặc hiểu được lời nói.

 

Bị yếu cánh tay hoặc chân

 

Khi ai đó đang trong cơn đột quỵ thì một triệu chứng khá phổ biến là một cánh tay hoặc một chân sẽ dần yếu đi và bị tê liệt. Thường thì các chi bị liệt nằm ở phía đối diện của vùng não bị đột quỵ.

 

Kiểm tra bằng cách mở rộng hai cánh tay trong vòng 10 giây. Nếu một cánh tay trôi xuống, cho biết bạn đang bị yếu cơ và chính là một dấu hiệu của cơn đột quỵ.

 

Chóng mặt hoặc mất thăng bằng

 

Nếu bạn chóng mặt, buồn nôn hoặc gặp khó khăn khi đi bộ, nhiều người có thể nghĩ rằng bạn đang say nhưng thực tế là bạn đang trong một cơn đột quỵ

 

TS. Chaturvedi, giám đốc chương trình Wayne State University/Detroi của Trung tâm Y tế đột quỵ, lưu ý rằng triệu chứng chóng mặt đột ngột là do hội chứng virus và có thể là dấu hiệu của một cơn đột quỵ, tuy nhiên, nó rất dễ nhầm lẫn và khó phân biệt trong nhiều trường hợp.

 

Đau

 

Đau không phải là triệu chứng đột quỵ điển hình. Nhưng nếu bạn thấy đau đột ngột ở cánh tay, một chân, một bên mặt hay một bên ngực, bạn không nên chủ quan mà bỏ qua nó. Một nghiên cứu cho thấy phụ nữ có những triệu chứng đột quỵ bất thường hơn nam giới, và phổ biến nhất là chứng đau.

 

Nhức đầu dự dội

 

Một cơn đau đầu dữ dội và đột ngột có lẽ là triệu chứng nặng nhất và cũng khá phổ biến ở những người bị đột quỵ.

 

Một nghiên cứu được thực hiện trên 588 người cho thấy những người đã từng có triệu chứng đau đầu khi bị đột quỵ thường là những người trẻ và có tiền sử đau nửa đầu. Phụ nữ có khả năng có triệu chứng đau đầu khi đột quỵ nhiều hơn nam giới.

 

Khuôn mặt ủ rũ

 

Đột nhiên khuôn mặt yếu dần và da nhợt nhạt chính là biểu hiện của một cơn đột quỵ. Để xác minh rõ ràng, nhân viên y tế sẽ thường yêu cầu bệnh nhân mỉm cười nếu khuôn mặt yếu dần, da chùng xuống, có nghĩa người đó đang ở trong cơn đột quỵ.

 

Thay đổi trạng thái tinh thần và mệt mỏi

 

Thiếu máu cục bộ trong não gây ra sự mệt mỏi tinh thần. Tuy nhiên, một nghiên cứu đã cho thấy sự khác biệt về giới tính ở triệu chứng này. 23,2% phụ nữ thay đổi trạng thái tinh thần và cảm thấy mệt mỏi khi bị đột quỵ, trong khi đó, con số này ở đàn ông chỉ là 15,2%.

 

Cảm thấy bất ổn

 

Thông thường, thì đây chỉ là một biểu hiện nhỏ. Nhưng khi đột quỵ ảnh hưởng đến trung tâm não nó có thể gây ra những bất ngờ khôn lường.

 

Khó thở hay tim đập nhanh

 

Ở người bị đột quỵ , tim thường đập nhanh hoặc loạn nhịp, và dấu hiệu này thường xảy ra ở nữ giới nhiều hơn.


Theo Dân trí

Ở nhiều quốc gia phương Đông, các loại đậu như đậu tương, đậu đen, đậu xanh, đậu đỏ, bạch biển đậu… không chỉ là những thực phẩm thông dụng mà còn được coi là các vị thuốc quý trong thực tiễn phòng chống bệnh tật, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho con người. Ngoài việc cung cấp một lượng tinh bột khá cao, các loại đậu còn hàm chứa khá nhiều chất đạm và chất béo rất cần thiết cho cơ thể mà lại dễ tiêu và rẻ tiền. Theo tính toán của các nhà dinh dưỡng học, trong 100g hạt (kể cả phần thải bỏ), các loại đậu đen, đậu tương, đậu xanh, đậu trắng, bạch biển đậu có tới 21 – 33g protid, trong khi đó tỷ lệ này ở thịt lợn nạc, thịt bò loại I chỉ là 17 – 20g. Ngoài ra, trong đậu còn hàm chứa khá nhiều các sinh tố và nguyên tố vi lượng quý giá mà khó có loại thực phẩm nào sánh được.

Bởi vậy, trong y học cổ truyền, các thầy thuốc đời xưa đã rất chú trọng dùng đậu và các sản phẩm từ đậu đơn thuần hoặc phối hợp với một số vị thuốc khác nhằm mục đích vừa bồi bổ sức khỏe vừa trị liệu bệnh tật. Sau đây là một số phương thuốc bổ dưỡng bằng đậu tương để bạn đọc tham khảo.

Phương 1: đậu tương, vừng đen, lạc, đậu xanh, đậu đen, đậu đỏ lượng bằng nhau, đường trắng lượng vừa đủ. Các vị sao thơm tán bột, trộn đều, mỗi ngày ăn 2 lần, mỗi lần 30g với nước đường hoặc sữa tươi. Công dụng: tư bổ can thận, cường thận đen tóc, dùng thích hợp cho những người thể chất suy nhược, sắc mặt không tươi, tóc bạc sớm hoặc rụng nhiều, có thể dùng làm bột ăn dưỡng sinh hàng ngày.

Phương 2: bột đậu tương 100g, bột mì 100g, bột ngô 200g, trứng gà 4 quả, đường đỏ 150g, sữa bò 150g. Ba thứ bột trộn đều cùng đường đỏ, đập trứng và đổ sữa bò vào rồi chế thêm nước vừa đủ, trộn kỹ, nặn thành những chiếc bánh nhỏ, nướng chín, mỗi ngày ăn 30 – 50g. Công dụng: kiện tỳ ích vị, tư âm bổ huyết, chuyên dùng cho sản phụ suy nhược, thiếu máu do thiếu sắt.

Phương 3: đậu phụ 200g, đầu cá chép 1 cái, khiếm thực 25g, rau cần, hành, gừng tươi, dầu vừng và gia vị vừa đủ. Đầu cá làm sạch bổ đôi, ướp với gừng và gia vị rồi nấu sôi. Khiếm thực ngâm nước ấm cho mềm rồi xát bỏ vỏ, đậu phụ thái miếng rán vàng. Cho khiếm thực, đậu rán, rau cần và hành vào nồi nấu cùng đầu cá cho chín, dùng làm canh ăn trong ngày. Công dụng: bổ dưỡng não tủy, dùng cho người bị suy nhược thần kinh, suy nhược cơ thể.

Phương 4: đậu tương 1.000g, đan sâm 500g, mật ong 250g, đường phèn 30g. Đậu tương rửa sạch, ngâm nước lạnh trong 1 giờ, sau đó đổ vào nồi ninh nhỏ lửa với 3.000ml nước cho nhừ rồi tán nhuyễn. Đan sâm rửa sạch, ngâm nước 1 giờ rồi sắc kỹ 2 lần lấy dịch chiết, bỏ bã. Trộn dịch đậu tương và dịch đan sâm với nhau, hòa mật ong và đường phèn rồi đem chưng cách thủy trong 2 giờ, để thật nguội rồi cho vào lọ, đậy kín dùng dần. Mỗi ngày ăn 2 lần, mỗi lần chừng 15g. Công dụng: tư âm nhuận táo, bổ ích ngũ tạng, thông kinh hoạt lạc, dùng rất tốt cho những người suy nhược cơ thể có vữa xơ động mạch, tăng huyết áp, viêm gan mạn tính.

   Hoàng Khánh Toàn

Cuộc sống bận rộn, thói quen ăn uống bừa bãi và ít vận động không chỉ làm cho nhiều người thừa cân, béo phì mà còn gây ra nhiều bệnh nguy hiểm cho sức khỏe, trong đó có bệnh gan nhiễm mỡ? Vậy làm gì khi bạn bị gan nhiễm mỡ?
Gan nhiễm mỡ thực chất là một biểu hiện của việc tích lũy quá nhiều lượng mỡ ở gan. Gọi gan nhiễm mỡ hay thoái hóa mỡ gan khi sự tích lũy chất béo trong gan vượt quá 5% trọng lượng của gan. Gan nhiễm mỡ diễn tiến âm thầm, đôi khi không có triệu chứng và bệnh thường được phát hiện rất tình cờ. Người bệnh gan nhiễm mỡ có nguy cơ xơ cứng gan, ung thư gan cao gấp 150 lần bình thường. 
Thực tế, gan nhiễm mỡ là bệnh mà nhiều người mắc phải đặc biệt là những người béo phì, uống rượu nhiều,…tuy nhiên không phải ai cũng hiểu đúng về bệnh.
Làm gì khi mắc bệnh gan nhiễm mỡ? 1

Ảnh minh họa.

Người mắc bệnh gan nhiễm mỡ ngày càng gia tăng
Trước đây, các nhà nghiên cứu phát hiện ra bệnh gan nhiễm mỡ ở người uống nhiều rượu bia, người thừa cân béo phì và xếp những người này vào nhóm nguy cơ cao. Chính vì thế, rất nhiều người lầm tưởng rằng cơ thể gầy thì không mắc các loại bệnh nhiễm mỡ như gan nhiễm mỡ, máu nhiễm mỡ.
Nhiều người nghĩ rằng người béo thì thừa nhiều mỡ nên mỡ lan vào gan gây ra bệnh. Thực chất mỡ thừa ở người béo chỉ tích tụ vào xung quanh lá gan, bám vào bề mặt gan. Gần đây những trường hợp mắc bệnh ở người gầy càng nhiều. Bệnh gan nhiễm mỡ chủ yếu do rối loạn chuyển hóa tế bào gan gây ra.
Một số người phòng ngừa bệnh gan nhiễm mỡ bằng cách ăn chay. Tuy nhiên, thực tế thực phẩm chay sẽ làm cho cơ thể dung nạp quá ít chất béo, chất béo trong cơ thể phân giải quá nhiều không những không thể chữa trị gan nhiễm mỡ mà còn làm bệnh nặng thêm. Ngoài ra, người ăn chay dung nạp không đủ protein còn hợp thành protein chất béo chậm, chất béo vận chuyển trở ngại, gan nhiễm mỡ còn nặng thêm.
Một số người lại cho rằng, các loại hoa quả giàu vitamin, chất khoáng và chất xơ, những chất này đều thúc đẩy chất béo trao đổi. Tuy nhiên, lượng đường trong hoa quả khá cao, nếu ăn quá nhiều sẽ gây rối loạn trao đổi của đường, gây ảnh hưởng không tốt cho đường huyết. Trong khi đó, nhiều loại đường trong cơ thể có thể chuyển hóa thành chất béo, làm nặng thêm gan nhiễm mỡ. Do vậy, người bị gan nhiễm mỡ có được ăn nhiều hoa quả hay không, ăn loại hoa quả nào, ăn bao nhiêu, ăn như thế nào thì tùy thuộc vào tình trạng cơ thể.
Những người bị thiếu chất dinh dưỡng, thiếu các vi chất cần thiết sẽ làm hoạt động chuyển hóa mỡ không hiệu quả và gan bị nhiễm mỡ. Cụ thể là ăn ít hay ăn kiêng quá mức sẽ dẫn đến lượng đường trong máu quá thấp làm tăng phân giải mỡ thành năng lượng cung cấp trong cơ thể. Trong quá trình phân giải mỡ, lượng axit béo đi vào máu quá nhiều làm axit béo tự do trong máu tăng, dẫn đến tích trữ mỡ trong gan. Những người gầy, thiếu protein trong thời gian dài sẽ làm mỡ trong máu không thể chuyển hóa nên sinh ra gan nhiễm mỡ. Ngoài ra, những người gầy nhưng bị nhiêm virus viêm gan B, C hoặc dùng thuốc hại cho gan đều có nguy cơ mắc bệnh gan nhiễm mỡ.
Làm gì khi gan nhiễm mỡ?
Khám sức khỏe định kỳ: Khi phát hiện mình bị gan nhiễm mỡ, người bệnh cần được khám sức khỏe định kỳ để theo dõi tiến triển của bệnh, kịp thời điều trị, đề phòng biến chứng. Đặc biệt là những người bị béo phì, người nghiện rượu, người bị tiểu đường tuýp 2 và những người bị suy dinh dưỡng thì việc khám sức khỏe định kỳ là vô cùng cần thiết. Ngoài ra, những người bị viêm gan C mãn tính, người bị tăng mỡ máu, người dùng liều cao một số thuốc như corticoides, tetracycline, estrogen cũng nên đi khám sức khỏe định kỳ.
– Giảm ăn các thực phẩm giàu cholesterol như các loại phủ tạng động vật, da động vật, lòng đỏ trứng.
– Hạn chế chất béo, ưu tiên chọn dầu thực vật (trừ dầu dừa), hạn chế mỡ động vật (trừ mỡ cá). Nên ăn các món ăn luộc, hạn chế các món rán, chiên mỡ, chiên bơ.
– Cân đối bữa ăn, nên tăng cường ăn cá tôm, cua, đậu.
– Nên uống sữa, và chỉ nên sử dụng các loại sữa không đường ít béo và tốt nhất là nên ăn sữa chua.
– Ăn uống điều độ, ăn đúng bữa, đúng giờ. Không nên ăn bữa tối quá muộn và nên ăn ít trước khi đi ngủ.
– Hạn chế rượu bia 
– Tập luyện thể thao hợp lý kiểm soát cân nặng. Các chuyên gia khuyến cáo, bạn nên dành khoảng 30 phút để tập aerobic mỗi ngày, đi bộ hoặc đi xe đạp.
– Khi dùng thuốc người bệnh cần hỏi bác sĩ về tác dụng gây độc gan của thuốc, và hạn chế tối đa sử dụng các thuốc gây độc cho gan.
Biểu hiện của bệnh gan nhiễm mỡ
Thông thường gan nhiễm mỡ không gây ra triệu chứng gì đáng kể. Khi bệnh trở nên trầm trọng hơn có thể có một số triệu chứng: Mệt mỏi, yếu ớt, khó chịu, buồn nôn và bụng nôn nao khó chịu; Lá gan có thể bị sưng to; Một số ít người có thể bị vàng da.
Nếu gan chỉ bị nhiễm mỡ thôi, bệnh không nguy hiểm cho lắm. Tuy nhiên, nếu hệ thống miễn nhiễm phát hiện có sự bất thường và hoạt động loại bỏ những tế bào gan hư hỏng này, bạch huyết cầu sẽ xuất hiện khắp nơi gây ra viêm gan. Viêm lâu ngày sẽ đưa đến xơ rồi chai gan.
Nguyên nhân của bệnh gan nhiễm mỡ 
– Do dinh dưỡng: ăn nhiều thực phẩm có nhiều chất béo, hấp thu quá nhiều đường, uống nhiều rượu bia, thói quenngồi nhiều, ít vận động, căng thẳng, di truyền nếu trong gia đình có nhiều người bị béo phì.
– Do chất hóa học như uống quá nhiều bia rượu, nhiễm độc phospho, Arsenic, chì…
– Do nội tiết, do bệnh tiểu đường…
-Do miễn dịch.
– Do dùng một số loại thuốc có thể dẫn đến bệnh như các loại corticide, Tetracyclin, các thuốc kháng ung thư, thuốc hocmon sinh dục nữ…
– Do vi khuẩn, virus trong quá trình bị viêm gan siêu vi B, C thường có biến chứng gan nhiễm mỡ đặc biệt là viêm gan siêu vi C (nhiều khi còn gọi là hậu viêm gan siêu vi là gan nhiễm mỡ).
Theo VnMedia

Bạn mong muốn điều gì khi chẳng may bị mất đi một bộ phận nào đó của cơ thể? Hẳn là bạn rất mong được sống trong thế giới cổ tích, với sự biến hóa có thể giúp bạn lành lặn trở lại. Với các công trình nghiên cứu xuất sắc mang tính đột phá khoa học của PGS.TSKH. Nguyễn Thế Hoàng – Phó Viện trưởng Viện Chấn thương Chỉnh hình – giấc mơ đó giờ đây không chỉ có trong thế giới thần tiên, mà nó đang dần trở thành hiện thực qua việc ứng dụng thành công những kết quả nghiên cứu trong điều trị lâm sàng tại Bệnh viện TWQĐ 108.

Hành trình giành lại đôi chân

Bệnh nhân (BN) Trần Đức L. (ở Hải Phòng) chẳng may bị tai nạn xe hơi năm 8 tuổi. Tai nạn kinh hoàng đã làm cho hầu như toàn bộ phần mềm ở cẳng chân và khớp cổ chân trái của BN bị giập nát. Các bác sĩ ở Bệnh viện Việt – Tiệp đã sơ cứu thành công bước đầu để giúp cho L. giữ lại được phần chi thể của mình cho dù nó không còn lành lặn nữa. L. cứ lớn dần lên với cẳng chân trái teo nhỏ và không còn có thể phát triển giống như chân lành. Đoạn xương và cơ ở chân trái bị mất quá lớn kèm theo các vết sẹo co kéo đã làm cho chi dưới của L. bị méo mó, biến dạng hoàn toàn. Do không thể sử dụng được cẳng chân, khớp cổ chân và bàn chân trái nên cuộc sống của L. gắn liền với đôi nạng ngay từ sau tai nạn. Suốt 12 năm sau đó, mặc dù đã được các bác sĩ tiến hành phẫu thuật bổ sung nhiều lần tại các bệnh viện lớn trong cả nước, nhưng đôi chân của chàng trai chất phác vẫn không thể lành. Do tổn thương quá phức tạp và nặng nề nên việc điều trị sẽ vô cùng khó khăn tốn kém, mất rất nhiều thời gian, tiền bạc nhưng cơ hội thành công lại hầu như không có, do vậy các bác sĩ đều tư vấn cho L. nên cắt cụt đùi và lắp chân giả để hy vọng tránh được biến dạng khớp háng sau này. Mang sự tuyệt vọng tới Bệnh viện TƯQĐ 108, L. coi đây là lần khám bệnh cuối cùng trước khi phải chấp nhận quyết định hết sức khó khăn nói trên.

Chuyện thần thoại của y học Việt Nam 1
 Tai người được tạo ra bằng phương pháp tân tạo tuần hoàn và nuôi cấy tế bào.

Tại Viện Chấn thương Chỉnh hình (CT-CH) thuộc BVTƯQĐ 108, L. đã được gặp các giáo sư bác sĩ đầu ngành về CT-CH trong quân đội. Sau khi cân nhắc và hội chẩn kỹ càng với các đồng nghiệp trong Viện, được sự ủng hộ và giúp đỡ nhiệt tình của GS.TSHK Nguyễn Văn Nhân, GS.TS. Nguyễn Tiến Bình, PGS.TSKH. Nguyễn Thế Hoàng nhận thấy có thể ứng dụng đề tài nghiên cứu khoa học mới được thực hiện thành công của ông về tân tạo tuần hoàn (TTTH) – đề tài nghiên cứu đã được cộng đồng khoa học quốc tế công nhận – để chữa trị cho trường hợp khó khăn này. Sau khi L. được tư vấn kỹ về những khó khăn có thể xảy ra trong quá trình phẫu thuật và điều trị, L. đã đồng ý trở thành người đầu tiên trên thế giới được áp dụng những tiến bộ kỹ thuật mới nhất trong phẫu thuật tạo hình để điều trị tổn thương phức tạp này. Và thế là hành trình gian nan của L. để giành lại đôi chân lành lặn được bắt đầu…

Trong suốt quá trình điều trị kéo dài gần 3 năm, PGS.TSKH. Nguyễn Thế Hoàng cùng các đồng nghiệp trong Viện CT-CH đã áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới nhất trên thế giới, dựa theo những kết quả thu được từ đề tài nghiên cứu. Bằng phương pháp tạo vạt vi phẫu chủ động với kích thước rất lớn dựa trên nguyên lý về TTTH, toàn bộ phần mềm xơ sẹo và không có chức năng ở mặt sau của cẳng chân đã được thay thế hoàn hảo bởi một vạt tổ chức nhân tạo tự thân phức hợp được tưới máu tốt. Tiếp đó, các bác sĩ trong Viện CT-CH đã tiến hành kéo dài xương rồi chỉnh lại khớp cổ chân, chỉnh lại trục của chi dưới, kết hợp đồng thời với việc cân bằng lại lực co kéo của các gân và cơ ở vùng cổ chân và bàn chân. Vượt qua thách thức phẫu thuật, nay L. đã hoàn toàn mãn nguyện với đôi chân mới được phục hồi của mình.

Một đề tài nghiên cứu mang tính đột phá trong y học thế giới

Vậy tân tạo tuần hoàn và nuôi cấy tế bào (NCTB) là gì mà chúng lại có thể làm nên những điều kỳ diệu đến như vậy?

Trở về Việt Nam sau khi nhận Giải thưởng khoa học Friedrich Wilhelm Bessel-Forschungspreis do quỹ học bổng Alexander von Humboldt (CHLB Đức) trao tặng cho đề tài nghiên cứu khoa học “Tân tạo tuần hoàn và nuôi cấy tế bào để tạo các tổ chức sống mới tự thân có cấu trúc không gian ba chiều”, PGS.TSKH. Nguyễn Thế Hoàng trở thành người Việt Nam đầu tiên và là người châu Á thứ tư được nhận được giải thưởng nghiên cứu khoa học cao quý này (trước đó là 3 nhà khoa học của Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc). Khi trao đổi với PGS.TSKH. Nguyễn Thế Hoàng về đề tài nghiên cứu khoa học nói trên, ông vui vẻ cho biết: Trần Đức L. chính là BN đầu tiên trên thế giới được điều trị thành công theo phương pháp sử dụng vạt vi phẫu chủ động với cuống tĩnh mạch đơn độc được động mạch hóa.

Chuyện thần thoại của y học Việt Nam 2
 Sau phẫu thuật, chi của bệnh nhân L. đã được kéo dài và phục hồi.

Về ý nghĩa và giá trị của đề tài nghiên cứu khoa học nói trên, trong một hội nghị quốc tế lớn ở Berlin, GS.TSKH E. Biemer – nguyên Chủ tịch Hội Vi phẫu thuật và phẫu thuật tạo hình của Đức, cho rằng: “Vi tuần hoàn và nuôi cấy tế bào chính là tương lai của y học hiện đại”.

Kết hợp tân tạo tuần hoàn với nuôi cấy tế bào trên khuôn vật liệu sinh học, phương pháp đề xuất của PGS.TSKH. Nguyễn Thế Hoàng cho phép tạo ra được các cơ quan hoặc tổ chức sống mới nhân tạo tự thân có cấu trúc không gian ba chiều được nuôi dưỡng dạng trục mạch dùng để thay thế các cơ quan bị khuyết tật hoặc bị hư hỏng trên cơ thể. Những ý tưởng nghiên cứu mang tính đột phá trong lĩnh vực y học này của ông đã được cộng đồng khoa học trên thế giới công nhận và đề cử cho những giải thưởng khoa học lớn trên thế giới.

Theo PGS.TSKH. Nguyễn Thế Hoàng, có thể hiểu một cách nôm na về toàn bộ ý tưởng và giá trị của công trình khoa học này như sau: khi sử dụng nguyên lý của phương pháp này, người ta có thể chủ động tạo ra được các cơ quan mới từ chính các tế bào lành lặn trên cơ thể của mình qua việc lấy ra những tế bào khỏe mạnh, nhân giống chúng để tạo ra các cơ quan tương ứng, rồi dùng chính những cơ quan mới được chủ động tạo ra này để cấy ghép nhằm thay thế cho các cơ quan, các tổ chức trong cơ thể đã bị bệnh tật hoặc đã bị hư hỏng từ trước đó. Nguyên lý của phương pháp chính vì thế cho phép tối ưu hóa kết quả điều trị cả về mặt chức năng, thẩm mỹ cũng như hình thể giải phẫu.

Phương pháp TTTH và nuôi cấy tế bào là một kỹ thuật hết sức phức tạp và cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa nhiều chuyên ngành khác nhau. Mặc dù hiện tại còn có những thách thức về mặt công nghệ, tuy nhiên, theo PGS.TSKH. Nguyễn Thế Hoàng, người ta hoàn toàn có thể tin tưởng rằng, giấc mơ của thầy thuốc và của bệnh nhân trong việc tạo ra các bộ phận thay thế trên cơ thể con người bằng chính tổ chức tự thân như: tạo ra tai, mũi, một đoạn xương, đoạn khớp hay thậm chí là cả 1 quả tim, quả thận, một đoạn ruột, một cánh tay, hay một bàn tay, bàn chân… sẽ có thể trở thành hiện thực trong một tương lai không xa.

Hy vọng rằng, với công trình nghiên cứu độc đáo này của PGS.TSKH. Nguyễn Thế Hoàng, một trang sử mới cho y học nước nhà sẽ được mở ra và Việt Nam có thể được đánh dấu bởi một mốc son trong bản đồ y học thế giới.          

   Thu Hà

Bỏng đường hô hấp là loại bỏng đặc biệt do tác nhân gây tổn thương đường hô hấp hoặc nạn nhân hít thở khí nóng và các sản phẩm hóa học tạo ra từ các chất bị cháy. Tỷ lệ tử vong cao, đặc biệt trong 24-48 giờ sau bỏng đường hô hấp có thể tử vong trên 50%.

Nguyên nhân gây bỏng đường hô hấp

Bỏng đường hô hấp thường do các yếu tố sau: Mặc dù trong thời gian ngắn nhưng với nhiệt độ càng cao thì mức độ bỏng càng nặng; Do tác dụng của các chất trong không khí nóng: khói nóng gây tổn thương nặng hơn so với không khí nóng; hơi nước nóng thường gây bỏng nặng hơn không khí nóng vì gây bỏng toàn bộ đường hô hấp, trong đó tổn thương nặng nhất là ở đường hô hấp trên. Thời gian nạn nhân tiếp xúc với nguồn nhiệt càng lâu thì bỏng càng nặng. Ngoài ra, khí thải động cơ ôtô, xe máy, máy phát điện, khí ga, khói than, củi cháy dở… cũng là nguyên nhân gây bỏng và ngộ độc rất nặng dễ dẫn đến tử vong.

Xử trí cấp cứu bỏng đường hô hấp 1
 Nạn nhân bỏng cần được điều trị tại bệnh viện.

Biểu hiện thế nào?

Thông thường sau các vụ cháy, bệnh nhân bị bỏng mặt, môi, lông mũi bị cháy, bị hóa chất hoặc chất lỏng nóng ngấm vào niêm mạc mũi, miệng, họng thường có kèm theo bỏng hô hấp. Khi bị bỏng đường hô hấp thường có các biểu hiện: đã hít thở phải nhiều khí khói của đám cháy, khó nuốt, khó nói, cảm giác khó chịu ở cổ họng, nền lưỡi. Nói khàn nhưng không mất giọng nói hoàn toàn, biến đổi giọng nói. Ho khàn trong những ngày đầu, những ngày sau ho có đờm, có thể thấy đờm đen màu bồ hóng, có bọt lẫn các tia máu. Khó thở, có thể tím tái, co kéo vùng nền xương ức và các khoang liên sườn. Thở nhanh, nông, nhịp thở tới 32-56 lần/phút. Nghe phổi, tiếng thở yếu, thô, có thể thấy ran rít, ran ướt, tiếng lép bép… Sốt cao 39-400C. Huyết áp động mạch thấp. Nước tiểu ít , dưới 20-30ml/h. Thầy thuốc khám thấy: niêm mạc miệng, hầu họng, thanh quản có các đám sung huyết, ở trên các mảng màu đỏ khô có các màng tơ huyết trắng xám. Phù lưỡi, phù nề dây thanh âm, dây thanh âm đỏ, chuyển động kém.

Có thể phân ra ba mức độ bỏng đường hô hấp: Bỏng nhẹ: giọng nói bình thường, rối loạn hô hấp nhẹ, không có tím tái, ít bị biến chứng phế viêm hoặc nếu có cũng diễn biến không nặng và khỏi; Bỏng vừa: giọng nói khàn, rối loạn hô hấp nặng, tím tái, nghe phổi có tiếng thở thô, có ran rít, ran khô; thường có biến chứng viêm phổi với diễn biến khá nặng; suy hô hấp và suy tim độ I, II; Bỏng nặng: giọng nói khàn nặng, khó thở nặng, có thể tắc thở, tím tái, tĩnh mạch cổ nổi, ho khàn hoặc có đờm đặc, suy hô hấp và suy tim cấp nặng; khí phế thũng, xẹp phân thùy phổi, hoại tử; Giai đoạn cuối  thường gặp phù phổi cấp dễ dẫn đến tử vong. Thường thì tử vong gặp nhiều nhất trong những ngày đầu sau bỏng; còn tử vong do biến chứng viêm phổi, do biến chứng nhiễm khuẩn toàn thân thường sau từ 3-20 ngày.

Cần phải làm gì?

Bỏng đường hô hấp đơn thuần chỉ xảy ra do hít phải khí, khói độc. Khi gặp nạn nhân bị bỏng đường hô hấp cần bình tĩnh nhanh chóng mở cửa, bật quạt thổi khói tản ra, tắt mọi động cơ xe máy đang nổ, dập tắt các chất đang cháy, nhanh chóng đưa nạn nhân ra khỏi vùng khói và nhiệt. Đặt nạn nhân nằm ở chỗ thoáng khí để sơ cứu theo tư thế Fowler (nửa nằm, nửa ngồi – đầu cao). Cho nạn nhân thở không khí trong lành ngay tức thì hoặc chuyển nhanh tới phòng cấp cứu. Dùng khăn mùi xoa hay vải mỏng lót tay để móc hết đờm dãi, dị vật, khai thông đường thở cho nạn nhân. Nếu nạn nhân bị ngừng thở, ngừng tim phải tiến hành ngay việc hà hơi thổi ngạt, hô hấp nhân tạo, xoa bóp tim ngoài lồng ngực.

Tại phòng cấp cứu: Cần hút loại bỏ hết dị vật, dịch tiết ở mũi miệng, đường thở. Cho bệnh nhân thở ôxy. Thông khí nhân tạo là một biện pháp bắt buộc trong điều trị bỏng hô hấp. Cho thuốc an thần, trấn tĩnh, giảm đau, loại không ức chế hô hấp. Truyền dịch với khối lượng truyền trong 24 giờ đầu nhiều gấp 1,3-1,4 lần so với những trường hợp chỉ bỏng da đơn thuần có cùng diện tích và độ sâu bỏng mà không có bỏng hô hấp. Đảm bảo số lượng nước tiểu của nạn nhân từ 30-50ml/h trở lên ở người lớn và 0,5-1ml/kg/h ở trẻ em dưới 30kg. Cần theo dõi chặt chẽ và đặt ống nội khí quản và mở khí quản sớm khi bệnh nhân có dấu hiệu khó thở. Phòng tránh nhiễm khuẩn bằng kháng sinh theo kháng sinh đồ. Khi đã ổn định, bệnh nhân cần được hướng dẫn tập thở hàng ngày, vỗ rung, tập vận động sớm để phục hồi.

Lời khuyên của thầy thuốc

Cần nghiêm chỉnh thực hiện quy chế phòng chống cháy nổ tại nơi ở và nơi làm việc. Tuyệt đối không nổ máy xe hơi, xe máy trong gara, trong nhà  ngay cả khi mở cửa. Không bao giờ đặt máy phát điện trong nhà hay ở gầm sàn nhà, gần cửa sổ hay cửa ra vào. Nên nhớ rằng, dù mở các cửa chính và cửa sổ hoặc dùng quạt vẫn không ngăn ngừa khí CO tích tụ trong nhà và có thể gây tai nạn chết người bất cứ lúc nào. Máy phát điện bao giờ cũng để cách xa cửa sổ và cửa chính đang mở. Tuyệt đối không đốt than, đốt củi trong nhà, trong phòng đóng kín cửa. Không bao giờ sử dụng thiết bị đốt khí gas không có thông hơi trong phòng kín hoặc trong phòng ngủ đề phòng tai nạn có thể xảy ra.             

Tổn thương do bỏng đường hô hấp thường để lại những hậu quả rất nặng nề: nếu nhiệt độ khí nóng ở miệng là 350-5000C thì nhiệt độ ở thanh quản sẽ là 150-3500C, ở phần trên của khí quản là 80-1000C, ở chỗ phân đôi của khí quản là 65-950C; nhiệt độ máu ở tâm thất trái tới 440C, gây tổn thương cơ quan hô hấp như bỏng nặng, phù nề, bít tắc đường hô hấp, khí phế thũng, xẹp phân thùy phổi… Các tai nạn chết người do bỏng đường hô hấp và ngộ độc khí CO thường xảy ra do bất cẩn khi hàn xì ở nhà xưởng hầm lò, nổ máy xe hơi và xe máy trong phòng kín; đốt bếp than, bếp gas khi ngủ ở phòng kín…

    BS. Ngọc Hương

 

Cục An toàn Thực phẩm (Bộ Y tế) vừa có khuyến cáo, người tiêu dùng chỉ nên sử dụng màng bọc thực phẩm đã được cơ quan chức năng chứng nhận phù hợp quy chuẩn kỹ thuật, quy định an toàn thực phẩm. Theo đó, người tiêu dùng nên chọn màng bọc thực phẩm được chế tạo từ vật liệu PE (polyethylene) vì không có nguy cơ sử dụng hóa chất phụ gia độc hại (DEHA)… Màng bọc thực phẩm phải có nguồn gốc rõ ràng (có tên, địa chỉ của nhà sản xuất), sản phẩm đã được cơ quan chức năng chứng nhận phù hợp quy chuẩn kỹ thuật, quy định an toàn thực phẩm.
 
Thực phẩm phải được làm sạch, để khô ráo trước khi sử dụng màng bọc bao phủ. Không sử dụng màng bọc đối với thực phẩm ăn ngay, lỏng, có tính kiềm hoặc acid (dưa muối, sa lát trộn giấm…), nhiều dầu, mỡ hoặc thức ăn nóng trên 70oC. Cục An toàn thực phẩm cũng khuyến cáo người tiêu dùng tuyệt đối không rã đông, chế biến bằng lò vi sóng hoặc các phương pháp gia nhiệt khác (nướng, áp chảo, rán…) đối với thực phẩm khi vẫn đang sử dụng màng bọc.  
 
 T. bình

Mạch môn đông còn gọi là mạch môn, củ tóc tiên. Mạch môn đông là rễ phình ra thành củ phơi hay sấy khô của cây tóc tiên (Ophiopogon japonicus Wall.), họ Thiên môn (Asparagaceae). Mạch môn đông có chứa các hợp chất saponin steroid, bêta-sitosterol, acidamin, glucose, sinh tố A. Theo Đông y, mạch môn vị ngọt, hơi đắng, tính hàn; vào phế, vị, tâm. Có tác dụng dưỡng âm nhuận phế, ích vị sinh tân, thanh tâm trừ phiền. Dùng cho các trường hợp phế âm hư, vị âm hư, tâm hỏa vượng với các triệu chứng ho khan, thổ huyết, khái huyết (lao, áp-xe phổi…), họng miệng khô, táo bón, lòng bàn tay bàn chân nóng; đái tháo đường, đái ít, nước tiểu đỏ sẫm. Dùng dưới dạng nấu, sắc, hãm…

Mạch môn đông được dùng làm thuốc trong các trường hợp:

Nhuận phế dịu ho:

Bài 1: mạch môn 20g, thạch cao 20g, tang diệp 12g, cam thảo 4g, hồ ma nhân 12g, a giao 12g, hạnh nhân 12g, đảng sâm 12g, tỳ bà diệp 12g. Sắc uống. Trị táo nhiệt tổn thương đến phổi, ho nặng thành suyễn, đau họng.

Bài 2: mạch môn 20g, bán hạ 6g, đảng sâm 12g, cam thảo 4g, gạo tẻ 20g, đại táo 4 quả. Sắc uống. Trị chứng phế nhiệt tổn thương phần âm, họng khô, miệng khát, lưỡi đỏ, phổi yếu, ho ra nước bọt.

Mạch môn đông - Vị thuốc nhuận phế 1
 Mạch môn đông.

Thanh tâm trừ phiền:

Bài 1: mạch môn đông 20g, sinh địa 20g, huyền sâm 12g. Sắc uống. Trị chứng tân dịch kém, táo bón.

Bài 2: mạch môn 9g, kim ngân hoa 9g, cát cánh 6g, cam thảo 6g. Cho trong ấm, đổ nước sôi hãm như pha trà. Dùng cho các trường hợp đau sưng họng, họng khô miệng khát.

Món ăn bài thuốc có mạch môn:

Bài 1. Cháo mạch môn: mạch môn tươi 50g, sinh địa tươi 50g, gừng tươi 20g. Cả ba thứ này ép lấy nước; gạo tẻ 100g, ý dĩ 50g cùng nấu cháo. Khi gần được cháo cho 3 thứ nước ép trên vào khuấy đều thành dạng cháo loãng. Dùng cho các trường hợp nhiễm độc thai nghén nôn oẹ không ăn uống được.

Bài 2. Mạch môn hầm tim lợn: mạch môn 20g, hạt sen 15g, tim lợn 1 quả. Tim lợn rửa sạch thái lát; tất cả cùng được nấu nhừ, thêm gia vị. Dùng cho người cao tuổi kích ứng mất ngủ.

Bài 3. Sữa mạch môn ô mai: mạch môn 20g, ô mai 12g, sữa bò 30ml. Mạch môn, ô mai cùng sắc lấy nước bỏ bã, thêm sữa, khuấy đều. Dùng cho các trường hợp đái tháo đường, khô miệng khó nuốt, nuốt đau, khát nước.

Kiêng kỵ: Ho do ngoại cảm phong hàn, đàm thấp, đầy trướng bụng, tiêu chảy không dùng.                 

     TS. Nguyễn Đức Quang

 

Nhiệt miệng là chứng bệnh thường phát về mùa hè với biểu hiện viêm loét ở đầu lưỡi hoặc ở niêm mạc trong khoang miệng, kèm theo viêm lợi, ngứa lợi, sưng nề, dễ chảy máu, gây đau đớn, khó chịu, sốt, mất ngủ, tâm phiền,… Phương pháp chữa trị nhiệt miệng theo Đông y là thanh nhiệt giải độc, dưỡng âm, chống viêm, lương huyết.

Đông y trị  nhiệt miệng 1
Đông y trị  nhiệt miệng 2
Đông y trị  nhiệt miệng 3Cháo bí ngô, đậu đen, hạt sen,… có công dụng thanh nhiệt, chống viêm, dưỡng âm.

Bài 1: Lá cỏ mực 1 nắm, rửa sạch, giã nát, ép lấy nước cốt, hòa với ít mật ong. Dùng bông thấm thuốc bôi vào chỗ viêm loét. Ngày bôi 2 – 3 lần.

Hoặc: Hoàng liên 10g, hoàng bá 10g, cỏ mực 20g, rau má 20g, tang diệp 16g, sài hồ 12g, cam thảo đất 16g, thục địa 12g, trúc diệp 10g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần. Công dụng: Thanh nhiệt, chống viêm, thích hợp khi bị nhiệt miệng, có những nốt loét ở đầu hoặc thân lưỡi, gây đau rát, xót, sốt, đại tiện táo, tiểu tiện đỏ lượng ít,…

Bài 2: Ngân hoa 10g, liên kiều 12g, tri mẫu 10g, hoàng bá 12g, bạch thược 12g, hồng hoa 10g, cỏ mực 20g, cát căn 20g, sinh địa 12g, trần bì 10g, đại táo 10g, trúc diệp 10g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần.

Hoặc: Cát căn 20g, chi tử 12g, liên kiều 12g, đinh lăng 20g, sinh địa 12g, huyền sâm 12g, sâm đại hành 16g, đào nhân 10g, hồng hoa 10g, sài hồ 12g, mạch môn 16g, thiên môn 16g, trần bì 10g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần. Công dụng: Thanh nhiệt, lương huyết, chống viêm, thích hợp cho người bệnh có biểu hiện lợi sưng đau, dễ chảy máu, lưỡi đỏ, có những nốt loét trong khoang miệng, đau đớn, đại tiện táo, bụng đầy trướng,…

Bài 3: Gạo tẻ 100g nấu thành cháo, sau cho bột cát căn 50g vào nấu chín thành cháo ăn trong ngày. Dùng 3-5 ngày. Công dụng: Thanh nhiệt, nhuận táo, thích hợp cho trường hợp nhiệt miệng, nướu răng bị sưng chảy máu, táo bón,…

Bài 4: Bí ngô 150g, đậu đen 30g, hạt sen 25g, gạo tẻ 50g, gạo nếp 20g, đường kính vừa đủ. Bí ngô gọt bỏ vỏ thái miếng. Đậu đen và hạt sen rửa sạch. Gạo nếp, gạo tẻ đãi sạch. Cho tất cả vào nồi, đổ nước hầm cho chín kỹ, đậu đen và hạt sen chín mềm, cho đường vào, thêm 2 – 3 lát gừng đập giập vào quấy đều là được. Múc ra bát ăn nguội. Công dụng: Thanh nhiệt chống viêm, dưỡng âm, phù hợp với người bị nhiệt miệng, tâm phiền, ngủ không yên, nước tiểu đỏ, người nóng,… 

Bác sĩ Thu Vân

Nhân kỷ niệm lần thứ  ba Ngày phòng chống viêm gan virut toàn thế giới và kỷ niệm 1 năm Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khu vực Tây Thái Bình Dương cam kết “đánh gục” viêm gan virut đối với 9 quốc gia trong khu vực Tây Thái Bình Dương trong đó có nước ta, WHO đã báo động cho tất cả các quốc gia về tác hại vô cùng lớn của viêm gan virut đối với sức khỏe của toàn thể nhân loại.

Thống kê trên toàn cầu hiện có 2 tỷ người nhiễm virut viêm gan B, 200 triệu người nhiễm virut viêm gan C, hàng năm chết trên 1 triệu người do các loại virut viêm gan. Trên thế giới, bình quân cứ 12 người có 1 người bị viêm gan virut, bệnh lây lan ở tất cả các độ tuổi, không phân biệt bất kỳ ai.
Mối hiểm họa từ viêm gan virut 1
 Virut viêm gan B.

Nước ta là 1 trong 9 quốc gia ở khu vực Tây Thái Bình Dương đang phải đối mặt với loại dịch bệnh rất  âm thầm nhưng tác hại vô cùng nghiêm trọng không những đối với sức khỏe  mà còn đối với đời sống xã hội. Đảng và Nhà nước, Bộ Y tế đã quan tâm phòng chống loại dịch bệnh này, những năm gần đây, chúng ta đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ; 10 năm trở lại đây, trên 50% trẻ sơ sinh được tiêm vaccin phòng viêm gan B, do vậy, tỷ lệ nhiễm virut viêm gan ở trẻ em 5 tuổi đã giảm rõ rệt. Phong trào vệ sinh yêu nước đã thực sự đi vào cuộc sống từ thành thị đến nông thôn, vì vậy, dịch viêm gan A và viêm gan E trên 30 năm nay đã bị dập tắt. Ngày 17/8/2012, đồng chí Nguyễn Thị Doan – Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam thay mặt Đảng, Nhà nước đã phát động phong trào toàn dân chung tay “đánh gục” virut viêm gan.

Phối hợp với lời cam kết của Tổ chức Y tế Thế giới vùng Tây Thái Bình Dương “đánh gục” virut viêm gan B, hạ thấp tỷ lệ nhiễm virut B ở trẻ em xuống dưới 2%, chúng ta cần sự chung tay góp sức của toàn thể xã hội bằng những việc làm cụ thể sau đây:

– Các cơ quan truyền thông thường xuyên tuyên truyền, giáo dục để mọi người nhận thức được sự nguy hiểm của đại dịch viêm gan virut để mọi người tự nguyện tham gia phong trào toàn dân chung tay “đánh gục” virut viêm gan.

– Phấn đấu tiêm phòng vaccin viêm gan B cho tất cả các trẻ sơ sinh và những người có yếu tố nguy cơ cao.

– Sử dụng các kỹ thuật tiên tiến nhất để phục vụ an toàn trong truyền máu và các sản phẩm máu.

– Phát hiện và điều trị theo phác đồ chuẩn tất cả các bà mẹ đang mang thai bị viêm gan virut để giảm tỷ lệ lây truyền từ mẹ sang con trong khi sinh.

– Cần đảm bảo vô trùng các dụng cụ y tế trong sử dụng điều trị cho bệnh nhân.

– Nâng cao nhận thức để mọi người phòng tránh lây lan qua các dịch tiết cơ thể của người bệnh hoặc những người đến các dịch vụ săm mình, xỏ lỗ tai, cạo râu, cắt tóc, xăm lông mày…

– An toàn trong tình dục với những người có nhiễm virut viêm gan.

– Thực hiện ăn chín uống sôi đảm bảo vệ sinh thực phẩm để phòng bệnh viêm gan A và viêm gan E.

– Sử dụng phác đồ chuẩn trong điều trị viêm gan virut B và C từ trung ương đến địa phương.

Để đẩy mạnh việc chăm sóc và điều trị cho các bệnh nhân bị viêm gan virut B và C, Hội Gan Mật Việt Nam đã họp toàn thể các chuyên gia gan mật trong cả nước xây dựng bản hướng dẫn điều trị giúp cho các hội viên, các bác sĩ từ trung ương đến địa phương. Hội Gan Mật Việt Nam phối hợp với Trung ương Hội Nông dân Việt Nam phát động cuộc thi tìm hiểu bệnh viêm gan virut trong cả nước, cuộc thi đã được Đài truyền hình Việt Nam, Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam, kênh truyền hình VOV, kênh truyền hình O2TV, Báo Sức khỏe&Đời sống… hợp tác giúp đỡ, tạo điều kiện cho cuộc thi thực sự đi vào cuộc sống.

Chúng ta đã cố gắng ngăn chặn đại dịch viêm gan virut, song hiện nay, loại dịch bệnh này vẫn đang diễn biến phức tạp, gây nhiều hậu quả nghiêm trọng, còn nhiều tồn tại bất cập chưa thể khống chế sự lây lan, tiến triển bệnh dẫn đến tử vong. Bệnh ung thư gan nguyên phát do virut B, C ngày càng gia tăng, đa số bệnh nhân khi phát hiện bệnh thì đã muộn, do vậy, việc điều trị kể cả nội khoa và ngoại khoa đều gặp khó khăn, vì vậy, năm 2008, số người chết vì ung thư gan là 21.748 người, gấp 2 lần so với chết do tai nạn giao thông. Số người viêm gan virut là trên 8 triệu người so với số bệnh nhân HIV – AIDS 59.839 người (năm 2012).

Tình trạng bệnh nhân viêm gan virút cấp, mạn tính dẫn đến xơ gan ngày một gia tăng. Do tình trạng lây nhiễm có gia đình cả vợ, cả chồng, cả con đều bị viêm gan virut; số bệnh nhân ở nông thôn, ở vùng sâu vùng xa, phần đông không có điều kiện chữa bệnh, vì bệnh kéo dài hết năm này đến năm khác, tiền chi phí chữa bệnh có trường hợp đến 200 triệu đồng mỗi năm; một số loại thuốc chữa bệnh cho đến nay vẫn chưa được đưa vào danh mục bảo hiểm y tế, đồng thời nhiều bệnh nhân chưa nhận thức đầy đủ những biến chứng nguy hiểm của bệnh này, do đó không tuân thủ đầy đủ hướng dẫn điều trị của các bác sĩ; nhiều địa phương, các bác sĩ chưa được cập nhật đầy đủ phác đồ điều trị chuẩn đối với viêm gan virut; từ nhiều lý do đã nêu trên dẫn đến tình trạng xơ gan ngày một gia tăng. Hậu quả của viêm gan virut dẫn đến ung thư gan, xơ gan, các thể xơ gan cấp và mạn tính phối hợp với những bệnh nhân đái đường, tăng huyết áp, suy thận, lao phổi, HIV/AIDS dẫn tới tử vong hàng năm trên 10 vạn người. Đây là một loại dịch bệnh gây hậu quả nghiêm trọng, tiến triển hết thập kỷ này đến thập kỷ khác gây thiệt hại cho toàn thể loài người. Tổ chức Y tế Thế giới  kêu gọi tất cả các quốc gia cùng hành động ngăn chặn đại dịch này trước khi quá muộn. Với phương châm phòng bệnh hơn chữa bệnh, có sự chung tay góp sức của tất cả các cấp, các ngành và toàn thể cộng đồng, nhất định chúng ta có thể đẩy lùi từng bước loại dịch viêm gan virut mà Tổ chức Y tế Thế giới đã quy kết “viêm gan virut là kẻ giết người thầm lặng”.  

    TS. Đinh Quý Lan (Chủ tịch Hội Gan Mật Việt Nam)

Tiêm chủng cho trẻ bằng vắc-xin (còn gọi là thuốc chủng ngừa) là một trong những biện pháp phòng bệnh chủ động, hiệu quả và thiết thực nhất trước những tác nhân gây bệnh nguy hiểm đối với sức khỏe của trẻ. 

Những phản ứng phụ có thể xảy ra sau tiêm chủng

Bất kỳ loại thuốc chủng ngừa nào sau khi tiêm cho trẻ cũng có thể xảy ra những phản ứng phụ không mong muốn, những phản ứng này chính là những biểu hiện của cơ thể trẻ đang đáp ứng với thuốc chủng ngừa. Những phản ứng phụ có thể xảy ra bao gồm:

Sốt: sau khi tiêm trẻ có thể bị sốt nhẹ, và có thể hoàn toàn tự khỏi sau 1 – 2 ngày. Một số trẻ có thể bị sốt cao từ 39oC trở lên khi đó phụ huynh cần hạ sốt tích cực cho trẻ bằng thuốc hạ sốt và lau mát bằng nước ấm. Phụ huynh không nên cho trẻ uống thuốc hạ sốt dự phòng ngay sau khi trẻ vừa được tiêm ngừa.

Thực hiện tiêm chủng an toàn cho trẻ 1Cần tuân thủ nghiêm ngặt quy trình an toàn trong tiêm chủng của Bộ Y tế

Chỗ tiêm bị sưng đỏ, đau… vấn đề này có thể tồn tại 1 ngày đến vài ngày nhưng đây hoàn toàn là phản ứng bình thường và sẽ tự khỏi, không đáng ngại.

Dị ứng: có thể là ban mề đay, ngứa toàn thân… phản ứng này thường xảy ra ở trẻ có tiền căn, tiền sử bị dị ứng, các biểu hiện dị ứng này thường tự khỏi sau một vài ngày, nhưng nếu trẻ thấy khó chịu nhiều thì phụ huynh nên hỏi ý kiến của bác sĩ.

Một số phản ứng khác: hiếm gặp hơn như tai biến thần kinh, viêm hạch, viêm não… và nghiêm trọng nhất là tình trạng sốc phản vệ do thuốc chủng ngừa, chiếm một tỉ lệ rất thấp khoảng 1/1 triệu liều vắc-xin.

Quy trình an toàn

Quy trình này theo những nguyên tắc sau đây:

Trước khi cho trẻ đi tiêm chủng phụ huynh cần chú ý:

– Mang theo phiếu tiêm chủng (hoặc sổ sức khỏe) đầy đủ.

– Thông báo cho bác sĩ về tình trạng sức khỏe hiện tại của trẻ nếu trẻ đang bệnh cấp tính, trẻ bị sốt hoặc đang sử dụng thuốc điều trị bệnh.

– Thông báo rõ cho bác sĩ về tiền sử dị ứng với thuốc chủng hoặc trẻ có biểu hiện phản ứng mạnh đối với những lần tiêm chủng trước đây.

– Đối chiếu với các quy định về tiêm chủng để đảm bảo trẻ được tiêm chủng đúng theo qui định của Bộ Y tế như: trẻ cần được khám kiểm tra sức khỏe thật kỹ trước khi quyết định cho trẻ tiêm chủng; trẻ cần được tiêm đủ mũi, đúng loại vắc-xin theo lịch tiêm chủng phù hợp theo lứa tuổi của từng trẻ.

Trong thời gian trẻ được tiêm:

– Những thông tin liên quan đến vắc-xin tiêm cho trẻ như: kiểm tra vắc-xin sử dụng cho trẻ có đúng theo chỉ định của bác sĩ không, sử dụng lọ vắc xin phải còn nguyên nhãn, còn hạn sử dụng, được bảo quản lạnh hay được giữ an toàn trong phích vắc-xin.

– Theo dõi việc tiêm chủng như: tiêm đúng vị trí, trong buổi tiêm chủng các vắc xin khác nhau phải được tiêm ở những vị trí khác nhau; Sử dụng 1 bơm kim tiêm còn nguyên trong bao, còn hạn sử dụng cho mỗi mũi tiêm.

Chăm sóc và theo dõi kỹ sau tiêm chủng nhằm phát hiện sớm những phản ứng nghiêm trọng

– Sau tiêm chủng trẻ cần được theo dõi ít nhất là 30 phút tại điểm tiêm chủng và ít nhất một ngày (24 giờ) sau khi trẻ tiêm chủng được cho về nhà.

– Sau tiêm chủng trẻ có thể có phản ứng thông thường như sốt, đau hoặc sưng tấy tại chỗ tiêm, quấy khóc…Các bà mẹ cần cho trẻ bú nhiều hơn hoặc uống nhiều nước, chườm mát và theo dõi trẻ thật kỹ lưỡng. Có thể cho trẻ dùng thuốc hạ sốt nhưng phải có chỉ định và hướng dẫn của cán bộ y tế. Sau tiêm chủng trẻ có thể quấy khóc nhiều hơn, các bà mẹ nên chú ý đến trẻ hơn nhất là khi cho trẻ bú khi và ẵm trẻ. Đưa trẻ tới cơ sở y tế nếu thấy các phản ứng nêu trên đã kéo dài trên 1 ngày.

– Cần đưa ngay trẻ tới cơ sở y tế hoặc bệnh viện gần nhất khi thấy trẻ có một trong các dấu hiệu bất thường như sau: sốt cao 39oC liên tục, quấy khóc kéo dài trên 3 giờ mẹ dỗ dành nhưng không nín, trẻ bú kém, trẻ bị tím tái, bị co giật hoặc khó thở.

ThS.BS. ĐINH THẠC