Author Archives: dungntk

Cà rốt là một loại củ có nhiều chất đường, vitamin, muối khoáng, đặc biệt là vitamin C và caroten rất tốt cho cơ thể. Chính vì nghĩ công dụng của cà rốt tốt như vậy nên nhiều gia đình đã cho trẻ ăn quá nhiều, hậu quả là có trẻ phải nhập viện vì cà rốt.

Ngộ độc vì ăn nhiều cà rốt

Khoa Hồi sức cấp cứu Bệnh viện Nhi đồng 1, TP. HCM vừa tiếp nhận một bệnh nhi 29 tháng tuổi, tạm trú tại Bình Dương trong tình trạng tím môi, tím tay chân, toàn thân mệt mỏi. Trước đó, bệnh nhi bị sốt nhẹ, ho, sổ mũi. Gia đình cho bé đến khám tại phòng khám tư nhân ở gần nhà và được bác sĩ cho uống thuốc amoxicillin, acemol, vitamin C nhưng bệnh tình vẫn không thuyên giảm.

Nhập viện vì thích ăn... cà rốt 1Ăn cà rốt nhiều và thường xuyên có thể gây ngộ độc  Ảnh: MH

Đến ngày thứ 3, gia đình thấy bé có dấu hiệu chuyển bệnh nặng mới đưa con đến nhập viện địa phương, sơ cứu thở ôxy sau đó chuyển lên Bệnh viện Nhi đồng 1. Lúc này, bé đã trở nên lừ đừ, thở mệt, môi tím, đầu chi tím, nhịp tim nhanh. Qua thăm khám lâm sàng, làm các xét nghiệm, chụp X quang tim phổi, siêu âm… cho thấy bệnh nhi bị methemoglobin máu. Ngay lập tức cháu được cho thở ôxy và dùng thuốc giải độc xanh methylen tiêm mạch liều 1mg/kg. Sau 30 phút tiêm xanh methylen, bé đã bớt tím môi, tay chân và hồng hào trở lại sau 1 giờ.

Theo lời kể của người nhà, trẻ thích ăn cà rốt sống và thường xuyên ăn canh súp có cà rốt. Chính vì ăn kéo dài nên trẻ bị methemoglobin máu do nồng độ chất nitrate có nhiều trong cà rốt.

Ngộ độc vì ăn nhiều cà rốt

Cà rốt là một loại củ có nhiều chất đường, vitamin và muối khoáng, đặc biệt là vitamin C và caroten là chất tiền vitamin A, khi vào cơ thể sẽ chuyển thành vitamin A rất tốt cho cơ thể. Trong 100g cà rốt có 88g nước, 8g đường, 1.5g protid, 1.2g xenluloza, 43mg canxi, 39mg photpho, 0.8mg sắt, 0.06mg vitamin B1, 0.06mg vitamin B2, 0.4mg vitamin PP, 0.8mg vitamin C và từ 1 đến 9mg caroten…

Ngoài giá trị dinh dưỡng, cà rốt còn là một vị thuốc tốt chữa được nhiều bệnh. Chất sắt và vitamin A trong cà rốt có tác dụng phòng và chữa thiếu máu, tăng cường khả năng sinh trưởng đối với trẻ em. Đặc biệt tốt với những trường hợp tiêu chảy nhẹ làm mất các nguyên nhân gây rối loạn tiêu hóa, khiến nhu động ruột trở lại bình thường. Đối với phụ nữ, cà rốt còn có tác dụng làm da hồng hào và mịn.

Tuy cà rốt là một loại thức ăn ngon, bổ nhưng không nên ăn nhiều vì nếu ăn cà rốt nhiều và thường xuyên, cơ thể sẽ không chuyển hóa hết được beta-caroten. Chất này sẽ ứ đọng lại trong cơ thể gây vàng mắt, vàng da, chán ăn (nhiều người dễ nhầm tưởng là bị bệnh gan), chỉ cần ngừng ăn cà rốt thì các biểu hiện trên sẽ hết. Chỉ nên ăn hoặc uống nước ép cà rốt 2-3 lần/tuần. Người lớn ăn khoảng 100g cà rốt/lần, trẻ em ăn khoảng từ 30-50g cà rốt/lần.

Khi dùng cà rốt, nên chọn những củ còn tươi, non, màu đỏ da cam, rửa sạch, cạo vỏ chứ không gọt vỏ sâu vì các vitamin và muối khoáng tập trung nhiều ở lớp vỏ ngoài của cà rốt.

Lưu ý nên lựa chọn loại cà rốt ta củ nhỏ, đậm màu, hơi sần và có cuống to còn cà rốt Trung Quốc củ to và bóng bẩy, màu vỏ nhạt hơn.

Ngọc Anh

Theo y học cổ truyền, thịt ba ba có vị ngọt, tính bình, công dụng dưỡng âm, lương huyết, bổ hư nhuyễn kiên,… thích hợp làm món ăn bồi bổ cho người tạng nhiệt, nóng trong, mồ hôi ra nhiều; người già; người bệnh mạn tính,…

Một số món ăn chữa bệnh từ thịt ba ba

Hỗ trợ điều trị viêm thận mạn tính: Thịt ba ba 500g, tỏi 50g, một ít đường trắng và một chút rượu trắng. Cho tất cả vào nồi, thêm nước xâm xấp, hấp chín thịt ăn trong ngày. Ăn liền 3-4 ngày.

Trị đau nhức xương, người nóng hâm hấp: Lấy 1 con ba ba khoảng 1kg, làm sạch, bỏ nội tạng; địa cốt bì 25g; sinh địa 25g; mẫu đơn bì 15g. Tất cả cho vào nồi, hầm chín, nêm gia vị, ăn trong ngày. Ăn vài ngày.

Thịt ba ba dưỡng âm, lương huyết 1Thịt ba ba thích hợp với người tạng nhiệt, người bệnh mạn tính…

Người già thận hư, đau lưng: Ba ba 1 con khoảng 1kg, làm sạch, bỏ nội tạng; đỗ trọng 15g, cho vào nồi, thêm nước, đun nhỏ lửa hầm cho đến khi thịt ba ba chín nhừ. Khi chuẩn bị bắc ra cho thêm vài lát gừng, gia vị. Ăn 1 – 2 lần/tuần.

Phụ nữ kinh nguyệt không đều, ra huyết trắng: Ba ba 1 con khoảng 1kg; táo đỏ 20g; Nếu có  điều kiện thêm đông trùng hạ thảo (10g) càng tốt; Gia vị, một ít rượu trắng, vài lát gừng, tỏi, 1 lít nước. Tất cả cho vào nồi hấp chín ăn trong ngày. Ăn liền vài ngày.

Hỗ trợ điều trị viêm loét dạ dạ dày: Dùng 250g thịt ba ba, thái miếng nhỏ cho vào một cái dạ dày lợn đã làm sạch, hầm nhừ, chia ăn vài lần trong ngày. Ăn liền 5 – 7 ngày.

Hỗ trợ điều trị viêm họng, viêm phế quản mạn: Ba ba 1 con khoảng 1kg; bối mẫu, ngân sài hồ, hạnh nhân, mỗi vị 15g. Ba ba làm sạch, bỏ nội tạng, chặt miếng, cho vào nồi cùng các vị thuốc, thêm nước hầm nhừ. Khi ăn bỏ bã thuốc, nêm gia vị, chia ăn vài lần trong ngày. Món ăn này có tác dụng dưỡng âm, thanh nhiệt, nhuận phế, chỉ khái, dùng rất thích hợp cho các trường hợp bị bệnh trên. 

Lưu ý: Người hư hàn không nên ăn nhiều thịt ba ba, nếu muốn dùng cần phối hợp với các vị có tính ấm nóng, tác dụng kích thích tiêu hóa. Phụ nữ có thai, người có tỳ vị hư hàn khi có biểu hiện sắc mặt nhợt nhạt, mệt mỏi, đầy bụng chậm tiêu, đại tiện lỏng nát, phân sống,… không nên dùng thịt ba ba.

Bác sĩ  Thúy An

Thuật ngữ yoga có nghĩa là sự thống nhất và hòa nhập, sự cởi bỏ và giải thoát. Là một phương pháp tu luyện, nghĩa là tìm cách cải tạo toàn bộ con người, trong đó cải tạo phần tâm tư, tình cảm, tư tưởng, nhãn quan là chính. Ở đây cần phân biệt giữa các khái niệm tập luyện, rèn luyện và tu luyện.

Yoga có lợi cho sức khỏe như thế nào?

Qua hơn nửa thế kỷ nghiên cứu trên mọi phương diện, các nhà khoa học nhận thấy phương pháp tập luyện yoga có những tác dụng hữu ích cho sức khỏe như sau: 

Với hệ hô hấp: làm hưng phấn trung khu hô hấp, tăng thông khí phổi, giảm lượng khí cặn, cải thiện tuần hoàn phổi, tăng cường quá trình trao đổi khí ở phế nang, tăng sự hấp thu ôxy từ 10 – 70% tùy theo từng thế tập (asana), làm giảm lượng ôxy tiêu thụ, chỉ số thông khí/phút giảm 12 – 18%.

Với hệ tuần hoàn: yoga có khả năng điều chỉnh nhịp tim và huyết áp, tăng cường lưu lượng tuần hoàn vành, cải thiện sức co bóp cơ tim, nâng cao sức chịu đựng của cơ tim trong điều kiện thiếu ôxy, tập luyện đều đặn sẽ làm nhịp tim giảm khoảng 10%, huyết áp giảm từ 15 – 25%, phòng ngừa tích cực bệnh tăng huyết áp.

Tăng cường năng lực của hệ thống miễn dịch, ức chế sự phát triển của các tế bào ác tính, kéo dài và cải thiện cuộc sống cho các bệnh nhân bị bệnh ung thư.

Nâng cao năng lực hoạt động của hệ thống nội tiết. Làm giảm đường máu và điều chỉnh rối loạn lipid máu.

Với hệ tiêu hóa: yoga góp phần xoa bóp các nội tạng, cải thiện công năng tiêu hóa, kích thích cảm giác ngon miệng, điều chỉnh công năng co bóp, tiết dịch và hấp thu của dạ dày ruột, cải thiện năng lực hoạt động của hệ tiêu hóa.

Với hệ xương khớp: Tăng cường tính linh hoạt, khả năng co giãn của dây chằng, giúp cho các khớp hoạt động dẻo dai, đặc biệt là các khớp cột sống.

Với hệ thống thần kinh: yoga có tác dụng duy trì cân bằng giữa hưng phấn và ức chế, nâng cao khả năng kiểm soát của vỏ não, tăng cường lưu lượng tuần hoàn não, cải thiện trí nhớ và sức chú ý, phát triển phản xạ có điều kiện, khơi dậy những tiềm năng trí tuệ vốn có, kiểm soát được phương hướng, làm giảm căng thẳng, phòng chống tác hại của stress và ngăn ngừa chứng mất trí nhớ.

Ngoài ra, cải thiện chức năng giải độc của cơ thể; tiêu mỡ làm đẹp, cải tạo vóc dáng và khả năng dẻo dai của cơ thể, chống lão hóa; tăng cường khả năng thích nghi của cơ thể trước mọi biến đổi của môi trường tự nhiên và xã hội, giúp con người trở nên kiên nhẫn, suy nghĩ sâu sắc, dễ khép mình vào kỷ luật và giàu tính tự tin.

Khi tập yoga cần chú ý điều gì?  1
 Ảnh minh họa( Nguồn: internet)

Yoga có những đặc trưng gì?

Trước hết, khác với thể dục hiện đại, yoga thiếu mặt vận động, không có chạy, nhảy, bơi lội, đấu đá… mà chủ yếu vạch ra con đường tập luyện phần nội, mặt tĩnh của con người. Nhưng thực ra, trong tĩnh có động, tĩnh có tốt thì động mới có hiệu quả cao. Yoga không làm cho người ta phát triển về cơ bắp, vai to, ngực nở… mà cái chính là làm khỏe về tinh thần và trí tuệ, nhưng cũng không vì thế mà cơ bắp kém dẻo dai.

Thứ hai, yoga lấy tập thở là chủ yếu và quan trọng. Người ta thường nghĩ là các thế tập (asana) là đặc trưng của yoga, nhưng đó là một sai lầm đáng tiếc. Nhiều người thường hay phô trương rằng mình tập được các động tác khó này, các thế đặc biệt nọ, nhưng thực ra, cũng như khí công dưỡng sinh, phép luyện thở hay luyện khí, còn gọi là prana-yama, là quan trọng hơn cả. Làm chủ hơi thở đi đôi với tập trung ý nghĩ là chủ yếu, tư thế là cần thiết nhưng không phải là trọng tâm.

Thứ ba, yoga là một phương pháp toàn diện, huy động toàn bộ con người, cả về sinh lý và tâm lý, làm cho con người ổn định cả hai mặt.

Cuối cùng, yoga không đồng nghĩa với sự tiếp thu và thể hiện sức mạnh siêu nhân. Người ta thường quen nhìn nhận yoga như một thuật lạ xa xưa, kết hợp một lô tín điều tôn giáo với một quy tắc thực hành kỳ bí lạ lùng.Thực chất, điều đó đã làm mất đi tính thực tiễn và khoa học của yoga.

Chú ý khi tập yoga

Trước hết, cũng như tập luyện khí công dưỡng sinh, yoga đòi hỏi người tập phải kiên trì và nhẫn nại. Yoga không có hiệu quả, thậm chí là phản tác dụng với những ai “ăn xổi ở thì”, phàm tục và lười biếng. Tập luyện yoga đòi hỏi người tập phải tự nguyện lựa chọn và có ý chí quyết tâm đi tới cùng.

Thứ hai, phải tập luyện đúng phương pháp và kỹ thuật, đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, mỗi động tác phải phân chia ra nhiều bước với thời gian thích hợp, tốt nhất là phải có thầy chính danh hướng dẫn một cách chu đáo và tỉ mỉ. Nếu không thực hiện chuẩn xác, yoga có thể đem lại những tai biến không đáng có về xương khớp, tiềm thức, hệ thần kinh, hệ tuần hoàn…Ví như tập luyện sai sẽ dẫn đến trầm cảm, ám ảnh hoặc rơi vào trạng thái phấn khích quá đà dẫn đến mất ngủ, tâm trạng bồn chồn, thay đổi tính nết…

Cuối cùng, khi tập luyện yoga phải thực hiện tốt 4 không: không vội vã (từ từ, thận trọng và tiệm tiến), không kỷ lục (không nên bị thúc ép hoặc gắng gượng), không quá sức (biết dừng lại ở khả năng vốn có của mình mà cố gắng) và không phân tán (tập trung cao độ và biết cách thư giãn).    

   ThS. Hoàng Khánh Toàn

Sử dụng cảm biến giấu bên trong tai của chuột, nhóm chuyên gia ở Ðại học Columbia (CU) đã khám phá ra nhiều điều độc đáo về cơ chế xử lý âm thanh của tai. Ðặc biệt là quy trình khuếch đại âm thanh trong ốc tai của chuột, một chi tiết xoắn ốc ở phía bên trong tai. Phát hiện trên sẽ giúp các nhà khoa học tạo ra thế hệ máy trợ thính mới có chất lượng tốt hơn hoặc giúp cho việc cấy ghép ốc tai trên người điếc đạt hiệu quả cao hơn. Phát hiện trên còn lý giải những điều lâu nay tranh luận, rằng các hoạt động bên trong tai làm việc thụ động với sóng âm thanh khi đi vào ốc tai, phong bế mô cảm giác và làm chậm quá trình xử lý âm thanh hoặc cũng có giả thiết cho rằng ốc tai khuếch đại sóng âm thanh theo cách chủ động… Ðể có kết luận, nhóm đề tài do kỹ sư y sinh học Elizabeth Olson chủ trì đã sử dụng các cảm biến đo đồng thời các áp lực biến động cực nhỏ và điện áp do tế bào tai tạo ra. Các cảm biến này cho phép các nhà khoa học phát hiện được những thay đổi theo chu kỳ các dao động của sóng âm thanh trong tai, đặc biệt phát hiện thấy âm thanh khi đi vào tai được khuếch đại. Những thay đổi mang tính chu kỳ này có chức năng quan trọng, nhất là hành trình của các tế bào lông đã phát huy vai trò của nó là định vị và làm sắc nét tần số âm thanh khi được khuếch đại.

KHẮC HÙNG (Theo HF, 8/2013)

Theo một nghiên cứu mới đăng trên tờ Journal of Pediatrics, các đồ uống có ga có thể khiến trẻ trở nên tăng động hơn. Các nhà khoa học ở Ðại học Columbia, Ðại học Vermont và Trường sức khỏe cộng đồng Harvard, Mỹ đã nghiên cứu 3.000 trẻ em 5 tuổi. Họ yêu cầu mẹ của các bé thông báo về lượng nước ngọt mà con họ tiêu thụ. Hành vi của những đứa trẻ 2 tháng trước khi tham gia nghiên cứu được ghi lại qua một danh sách kiểm tra hành vi trẻ em.

Kết quả cho thấy, bất cứ một mức độ tiêu thụ đồ uống có ga nào cũng đều dẫn đến mức độ hành vi hung hăng cao hơn, đi kèm với nhiều vấn đề về sự tập trung hơn. Khi so sánh với những trẻ không uống nước có ga, những trẻ uống 4 lần nước có ga/ngày hoặc nhiều hơn có xu hướng phá hoại đồ đạc của người khác, tấn công những đứa trẻ khác và tham gia vào các vụ đánh nhau cao gấp 2 lần.

Trước đó, các nghiên cứu đã chỉ ra những ảnh hưởng của thức uống có ga đối với cơ thể. Tiêu thụ nhiều hơn 1 lon nước ngọt mỗi ngày dẫn đến nguy cơ mắc các bệnh tim mạch,1 lon soda mỗi ngày làm tăng nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường.

Xuân Nguyên (Theo Medicalnewstoday.com, 8/2013)

Củ gừng cho ta nhiều vị thuốc quý: sinh khương (gừng tươi), can khương (gừng khô), bào khương (vỏ củ gừng). Các chất trong gừng có tác dụng hạ nhiệt, giảm đau và giảm ho, chống viêm, chống co thắt, chống nôn, chống loét và tăng kiện vận trong đường tiêu hóa, ức chế thần kinh trung ương… và có hoạt tính miễn dịch.

Một số cách dùng gừng tươi làm thuốc:

Tán hàn, giải biểu: gừng tươi 12g, tô diệp 8g, phòng phong 12g. Sắc uống. Có thể kết hợp thuốc hạ nhiệt giảm đau Tây y (paracetamol, decolgen, efferalgan, tiffy…). Trị các chứng ngoại cảm phong hàn, đau đầu ngạt mũi.

Ấm tỳ, cầm nôn, chỉ tả:

Bài 1: tiểu bán hạ thang: gừng tươi 12g,bán hạ 12g. Sắc uống. Chữa chứng dạ dày lạnh, nôn oẹ.

Bài 2: gừng nướng 60g, giã  nát, rang, bọc bằng vải đắp lên rốn (phủ trên huyệt đan điền), đặt trong 1 – 2 giờ. Chữa tiêu chảy vì tỳ hàn, phân loãng không thối, sôi bụng đau thắt.

Tiêu nước, dịu ho: nước gừng tươi 160g, trà du 160g, mật ong 160g. Tất cả trộn đều. Ngày uống 2 lần (sáng và tối); mỗi lần 1 thìa canh, uống với nước. Trị chứng viêm phế quản mạn tính, tức ngực, hen, ho lâu không dứt, miệng không khát, nôn ra dãi nhớt màu trắng và tim hồi hộp. 

Món ăn – bài thuốc có gừng tươi:

Mạch nha nước gừng: gừng tươi 30g, mạch nha 30g. Nấu lấy nước cho uống. Dùng cho trường hợp viêm khí phế quản do cảm lạnh.

Cháo gừng: gừng tươi 30g, gạo tẻ 150g. Gạo nấu cháo, gừng thái lát cho vào khi cháo, thêm đường trắng liều lượng thích hợp, khuấy đều, cho ăn nóng. Dùng cho trẻ em viêm khí phế quản do cảm lạnh, nôn ói đau bụng.

Ngũ thầm thang: gừng tươi 20g, kinh giới 20 – 30g, tử tô diệp 20 – 30g, trà 30g. Sắc lấy nước, thêm đường đỏ khuấy đều, cho uống. Dùng cho trường hợp ngoại cảm phong hàn (cảm cúm).

Nước gừng mật ong trộn bột hạnh nhân, đào nhân: Đào nhân 30g, hạnh nhân 15g. Nghiền nát đào, hạnh nhân, trộn với nước gừng mật ong liều lượng thích hợp cho ăn. Dùng cho trường hợp hen suyễn mạn tính.

Nước gừng cải củ: cải củ 250g (thái lát), gừng tươi 15 – 20g (thái lát), thêm ít đường đỏ. Sắc lấy nước cho uống. Dùng cho trường hợp viêm khí phế quản, viêm họng nhiều đờm.

Kiêng kỵ: Người phổi nhiệt, ho khan, dạ dày nhiệt, nôn oẹ không dùng.      

  TS. Nguyễn Đức Quang

Bệnh thận đa nang là một trong những bệnh hay gặp nhất ở các loại bệnh thận có nguyên nhân do di truyền. Ước tính, có khoảng 12,5 triệu người trên thế giới đang phải mang căn bệnh này.

Bệnh thận đa nang là một loại hình tổn thương của thận đặc trưng bởi sự xuất hiện của rất nhiều nang chứa đầy dịch trong nhu mô thận và đây là những nang dịch có tính chất lành tính. Trong phần lớn các trường hợp, những nang này chỉ xuất hiện ở thận. Tuy nhiên, cũng có một số bệnh nhân có thể có các nang dịch ở ngoài thận như nang gan, tụy và cá biệt ở não, tim.

Phát hiện sớm thận đa nang để tránh suy thận  1
 Vị trí và hình ảnh cắt dọc quả thận.

Các nang thận xuất hiện do đâu?

Nguyên nhân gây bệnh thận đa nang là do các bất thường về gen. Có hai týp bất thường về gen gây nên bệnh thận đa nang. Týp thứ nhất là do bất thường nhiễm sắc thể trội. Týp này chiếm xấp xỉ 90% tổng số bệnh thận đa nang và nếu một trong số bố hoặc mẹ bị mắc, 50% số trẻ sinh ra sẽ bị bệnh thận đa nang. Bệnh thận đa nang do nguyên nhân này thường xuất hiện ở người lớn, tuổi từ 30 – 40, tuy nhiên trẻ em cũng có thể bị thận đa nang thuộc týp này.

Týp thứ hai là týp bất thường ở nhiễm sắc thể lặn. Týp này rất ít gặp và thường biểu hiện ngay sau khi trẻ được sinh ra. Một phần nhỏ bệnh có thể xuất hiện muộn hơn ở trẻ lớn và ở tuổi thanh thiếu niên. Bệnh chỉ xuất hiện ở trẻ nếu cả bố và mẹ đều mang gen gây bệnh và sẽ có khoảng 25% trẻ bị mắc bệnh.

Phát hiện sớm thận đa nang để tránh suy thận  2
 Thận bình thường (trái) và thận đa nang.

Những biểu hiện của bệnh

Thông thường, các nang trong thận tiến triển thầm lặng và không được phát hiện cho đến khi gây các biến chứng như suy thận, tăng huyết áp (THA)… và một số trường hợp được tình cờ phát hiện khi siêu âm bụng khám sức khỏe định kỳ. Biểu hiện của bệnh thận đa nang có thể là THA, đau vùng hố thắt lưng với các tính chất như đau âm ỉ hoặc đau quặn dữ dội một hoặc hai bên, đau đầu mệt mỏi, tiểu nhiều hoặc tiểu ra máu, có thể kèm sỏi thận và nhiễm khuẩn tiết niệu. Có trường hợp bệnh nhân thấy bụng to ra và sờ thấy một khối bên cạnh rốn (do thận to nhiều). Giai đoạn muộn là giai đoạn suy thận do các nang phát triển gây chèn ép và tổn thương nặng nề nhu mô thận.

Tuy các nang có tính chất lành tính, nhưng chúng gây tổn thương thận từ đó dẫn đến rất nhiều biến chứng như THA. Huyết áp tăng cao có thể gây xuất huyết não, phồng động mạch chủ, nhồi máu cơ tim, tổn thương đáy mắt…  và tổn thương thận tạo vòng xoắn bệnh lý. Các nghiên cứu cho thấy có tới 50% số bệnh nhân thận đa nang có suy thận ở độ tuổi 60. Suy thận càng làm cho huyết áp tăng cao và tăng nguy cơ đột quị tim mạch cũng như đột quỵ não. Ở người bị bệnh thận đa nang, nguy cơ xuất hiện các nang gan cũng thường gặp và nguy cơ này tăng theo tuổi. Người ta cũng nhận thấy nguy cơ có nang gan ở người bệnh thận đa nang nam và nữ là như nhau nhưng ở nữ thì thường nang gan có kích thước lớn hơn và điều này được cho là có liên quan đến các hormon sinh dục nữ. Bệnh nhân thận đa nang cũng có nguy cơ cao bị các phình mạch trong não và đây thực sự rất nguy hiểm. Phụ nữ bị bệnh thận đa nang vẫn có thể có thai và sinh nở an toàn tuy vẫn phải cảnh giác với một số nguy cơ như THA, nhiễm độc thai nghén, tiền sản giật và sản giật có thể gia tăng do bệnh thận đa nang. Bên cạnh đó, một số các bất thường cũng có thể kèm với thận đa nang như túi thừa đại tràng, các tổn thương van tim… làm nặng thêm tình trạng bệnh.

Phát hiện bệnh thận đa nang không khó thông qua các phương tiện chẩn đoán hình ảnh như siêu âm bụng, chụp cắt lớp, chụp cộng hưởng từ ổ bụng. Cũng rất cần thiết làm thêm các xét nghiệm khác như máu, nước tiểu… để xác định thêm mức độ tổn thương và các biến chứng của thận đa nang.

Và hướng xử trí

Điều trị bệnh thận đa nang trước hết là điều trị triệu chứng như cho các thuốc hạ huyết áp, các thuốc giảm đau, các thuốc lợi tiểu khi có suy thận. Thuốc kháng sinh cũng có thể được sử dụng nếu có nhiễm khuẩn đường tiết niệu. Nếu nang thận quá lớn gây chèn ép trong ổ bụng có thể được mổ dẫn lưu. Bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối sẽ được lọc máu chu kỳ và ghép thận là chỉ định cuối cùng và cơ bản để giải quyết tình trạng suy thận.

Bệnh nhân bị thận đa nang cần hết sức chú ý dùng thuốc điều trị biến chứng (như THA) thường xuyên và đều đặn; duy trì một lối sống khỏe như ăn uống điều độ, bỏ rượu bia, thuốc lá, tập luyện hợp lý, tránh béo phì, ăn nhạt, ít đường, mỡ, muối, ăn ít thịt nạc khi đã có suy thận… Bệnh nhân cũng nên đến các cơ sở y tế để các thầy thuốc chuyên khoa thăm khám, kiểm tra định kỳ. Gia đình nếu bố hoặc mẹ bị bệnh thận đa nang thì rất nên đưa các con tới khám phát hiện bệnh thận đa nang càng sớm càng tốt.   

Khi bị bệnh thận đa nang, thông thường các nang xuất hiện ở cả hai thận nhưng người ta cũng thấy khoảng 17% số ca thận đa nang chỉ ở một bên. Trong lòng các nang chứa đầy dịch lỏng và các nang này cũng rất khác nhau về kích thước từ nhỏ đến lớn. Một số nang có thể phát triển rất nhanh với kích thước rất lớn. Trong lịch sử y văn đã ghi nhận có nang nặng tới 13,6kg!

 TS.BS. Vũ Đức Định
 

Theo tờ USA Today, một trong những thông tin mật được cựu nhân viên an ninh Mỹ Edward Snowden tiết lộ đã gây sốc dư luận không khác gì ngày tận thế. Theo nguồn tin này, vào tháng 9 năm nay sẽ có một loạt sóng năng lượng mặt trời hay bão mặt trời sẽ xuất hiện, có thể giết chết hàng triệu người. Thực hư ra sao chưa biết, song hiện tượng bão mặt trời là có thực, từng xuất hiện trong lịch sử, gây thiệt hại lớn cho nhân loại, trong đó có thiệt hại đối với ngành y.

Ðôi nét về bão mặt trời

Bão mặt trời (Solar Flare, Coronal Mass Ejections) hay gió mặt trời là một luồng điện thoát ra từ vùng thượng quyển của mặt trời. Tương tự, nếu gió được phát ra từ các ngôi sao khác ngoài mặt trời thì gọi là gió sao. Bão mặt trời mang theo các hạt electron và proton năng lượng cực lớn, khoảng 500KeV, nên được người ta giải thích, gió mặt trời đã tạo ra hàng loạt các hiện tượng lạ như cực quang, bão từ hay hiện tượng đuôi của các sao chổi luôn luôn hướng ra ngoài mặt trời vào ban đêm cho tới việc hình thành của các ngôi sao non trẻ. Một trong những hệ lụy nguy hiểm nhất của bão mặt trời là bão từ. Khi bão mặt trời có tốc độ từ 400 – 700km/s nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến từ quyển của trái đất.

Bão mặt trời Kẻ đánh cắp sức khỏe con người  1
 Hình ảnh cơn bão mặt trời.

Những gì liên quan đến bão mặt trời hiện đang tranh cãi trong cộng đồng khoa học thế giới. Người đầu tiên đưa ra dự báo về bão mặt trời là chuyên gia khí quyển học Kristian Birkeland, người Na Uy. Năm 1915, Birkeland lập luận, các luồng tia mặt trời không hoàn toàn chỉ có các hạt mang điện tích (cả âm lẫn dương) mà đôi khi nó chứa đồng thời cả hai điện tích này, tức cả ion âm lẫn ion dương. Từ đây, hàng loạt các tranh luận liên quan đến bão mặt trời xuất hiện, nhưng chưa có giả thuyết nào mang tính thuyết phục. Sang đến thập niên 90 thế kỷ trước, nhờ các thiết bị chuyên dụng trên phi thuyền quan sát mặt trời (SOHO) người ta đã phát hiện thấy các vùng tăng tốc của bão mặt trời có nguồn gốc từ các cực mặt trời, có mức độ gia tốc cao hơn so với giả định về sự giãn nở nhiệt động lực thông thường. Nhờ có các tàu vũ trụ, con người phát hiện gió mặt trời sau khi thoát khỏi biên giới của nó sẽ hòa trộn với gió của các ngôi sao, tạo thành bão và nếu ở tần suất cao sẽ hướng về trái đất, gây ảnh hưởng đến các hoạt động của con người như làm gián đoạn các tín hiệu thông tin, tín hiệu điện và gây ra những loại bệnh nan y.

Bão mặt trời trong lịch sử và dự báo

Cho đến nay, con người đã chứng kiến nhiều cơn bão mặt trời xuất hiện cũng như thiệt hại có liên quan. Một trong những cơn bão mặt trời mạnh nhất xuất hiện lần đầu vào ngày 1/9/1859, được hai nhà thiên văn học độc lập người Anh Richard Carrington và Richard Hodgson phát hiện thấy và được đặt tên là bão mặt trời 1859 hay sự kiện Carrington. Theo tài liệu còn ghi thì cơn bão này có thể nhìn rõ bằng mắt thường, tức là nhìn thấy ánh sáng trắng, kèm theo các cực quang tuyệt đẹp xuất hiện ở những vĩ độ nhiệt đới như Cuba hoặc Hawaii, nó làm cho hệ thống thông tin ở những vùng này bị ảnh hưởng, bị tê liệt. Sau khi đi qua, cơn bão này đã để lại những vết tích như nitrate và beryllium -10, thậm chí nồng độ của những hóa chất này ngày nay vẫn còn đo được. Những cơn bão mặt trời xuất hiện gần đây là cơn bão xuất hiện ngày 4/11/2003, tạo ra những bằng chứng đầu tiên rất rõ nét về thành phần một loại quang phổ mới ở trên mức 100GHz. Tại Trung Quốc, vào Ngày lễ tình yêu 2007, người ta đã chứng kiến một cơn bão từ nhẹ, làm cho hệ thống thông tin vô tuyến bị gián đoạn trong vòng vài phút. Năm 1989, một cơn bão từ nhỏ lướt qua Canada làm chập lưới điện Hydro Quebec, gây sự cố nghiêm trọng kéo dài nhiều ngày và gần đây nhất hôm 12/5/2013, một cơn bão mặt trời xuất hiện và kéo dài tới 48 tiếng được xếp ở mức X 1.8,

Theo các chuyên gia ở Viện Hàn lâm khoa học quốc gia Mỹ (NAS) thì vũ trụ bao la còn trái đất của chúng ta lại quá nhỏ nên mối nguy hiểm rất tiềm ẩn, một sự cố va đập cũng như ảnh hưởng từ bên ngoài là điều khó tránh, chưa kể tác động do chính con người gây ra đó là sức tàn phá của vũ khí nguyên tử, hay còn gọi là hiệu ứng xung điện từ (EMP), không khác gì bão mặt trời. Hiện nay, các phương pháp dự báo bão mặt trời không hề đơn giản bởi nó không có những “dấu hiệu” báo trước. Người ta mới chỉ dựa vào một số điều đã biết như vết đenta của mặt trời dựa trên trường từ tính. Đây là những vùng nguy cơ có bão mặt trời cao hoặc dùng phương pháp dự báo bão từ có tên Mctntoch để chẩn đoán khả năng xảy ra bão từ theo thang độ M hoặc X của cấp độ GOES trong vòng 24 hoặc 48 giờ.

Bão mặt trời Kẻ đánh cắp sức khỏe con người  2
 Cơn bão mặt trời chụp ngày 27/1/2012.

Làm gì để đối phó với bão mặt trời?

Một trong những hiện tượng dễ nhận biết nhất của bão từ là làm cho kim la bàn dao động mạnh. Quá trình tác động của bão từ có thể hiểu ngắn gọn là từ trường do mặt trời phát ra ép vào làm cho từ trường trái đất tăng vọt, sinh ra dòng điện cảm ứng chống lại từ trường trái đất, dòng điện này có cường độ lên tới hàng triệu ampe lởn vởn quanh bề mặt trái đất làm cho từ trường trái đất biến thiên liên tục. Các cơn bão mặt trời được tính theo 3 cấp C, M và X (yếu, trung bình và mạnh), còn bão từ được xếp từ cấp G1 đến G5. Ảnh hưởng của bão từ lên con người và động vật là tác động trực tiếp đến hệ tuần hoàn, nhất là tim mạch. Bằng chứng, khi có bão từ những con chim sống trong lồng đã dồn về phía Nam để lánh nạn mặc dù chúng không hề biết bão từ là gì.

Như đề cập, khi tốc độ lớn, bão mặt trời sẽ đổ bộ lên trái đất tạo ra những cơn bão từ tác động đến các hoạt động truyền thông, thông tin liên lạc bằng sóng radio bị nhiễu, hủy hoại các thiết bị này, gây tê liệt hệ thống phát điện. Đối với con người, tia X từ bão mặt trời tác động lên hệ thống hô hấp, miễn dịch, gây lo âu căng thẳng, cáu gắt, khó thở, buồn nôn, đau đầu, kiệt sức. Những người mắc bệnh tăng huyết áp, tim mạch dễ bị biến chứng nguy hiểm, gia tăng bệnh ung thư do nồng độ tia cực tím tăng cao. Làm cho động vật chết hàng loạt, nhất là động vật nhỏ và côn trùng.

Để hạn chế rủi ro do bão mặt trời gây ra, mọi người nên ăn uống cân bằng, hạn chế ra ngoài trời, nên chuẩn bị nguồn lương thực, thực phẩm, thuốc men… phòng tránh trường hợp mất điện, mất nước kéo dài. Riêng nhóm người mắc bệnh tim mạch cần dự phòng thuốc, uống đều đặn, tăng cường nước uống và thực hiện tốt các khuyến cáo của bác sĩ. Nếu có điều kiện nên mua một máy phát điện để tạo nguồn năng lượng dự trữ. Và cuối cùng cũng giống như những gì đồn thổi về ngày tận thế, mọi chuyện sẽ diễn ra bình thường, nếu quá lo lắng sẽ gây bệnh và gây hoang mang trong dư luận vì những tin đồn thổi phồng quá mức.

KHẮC NAM

(Theo UT/HP/Sun, 8/2013)

Nhóm chuyên gia ở ÐH Rochester, Mỹ (UOR) vừa kết thúc nghiên cứu và phát hiện thấy phơi nhiễm đồng là thủ phạm làm tăng bệnh Alzheimer. Ðồng rất đa dạng có trong thức ăn, nước uống và các loại thuốc chữa bệnh…

Theo nghiên cứu, kim loại đóng vai trò quan trọng trong quá trình tăng trưởng hệ thần kinh, phát triển xương, các tiếp hợp mô, bài tiết hormon nhưng qua nghiên cứu của UOR thì tuy ở mức rất nhỏ nhưng đồng cũng gây bất lợi, gây tích lũy protein độc tố hay còn gọi là protein amyloid beta (PAB) trong não. Theo thời gian, hiệu ứng tích lũy của đồng trong não ngày càng lớn dần, làm cho protein PAB tích tụ ngày càng nhiều, ngăn cản sự lưu thông của máu và cuối cùng dẫn đến suy giảm trí nhớ. Kết luận trên được dựa vào nghiên cứu tế bào của não chuột và người, các nhà khoa học phát hiện thấy ở điều kiện bình thường PAB được khử khỏi não bởi một loại protein có tên LRP1 (lipoprotein receptor-related protein 1) nhưng sau 3 tháng phơi nhiễm vi lượng kim loại đi vào máu, sau đó đưa thẳng lên não và đến lượt nó làm gián đoạn chức năng của LRP1 thông qua quá trình ôxy hóa, ức chế việc khử anyloid beta ra khỏi não và phát sinh bệnh Alzheimer hay còn gọi là bệnh sa sút trí tuệ.

     Duy Hùng (Theo FC, 20/8/2013)

Nước ép củ cải, nước mía, nước chanh, dứa, quýt, lá húng quế, lúa mạch, nước ép cà chua… là những loại thực phẩm hữu hiệu chữa trị chứng vàng da.
Vàng da không phải là bệnh, nó chỉ là một triệu chứng. Tuy vậy khi có dấu hiệu vàng da có thể liên quan đến nhiều loại bệnh khác nhau và ảnh hưởng nghiêm trọng tới gan. Vàng da có thể gặp ở mọi lứa tuổi, do sự cản trở bài tiết sắc tố mật (bilirubin), làm cho lượng sắc tố mật trong máu tăng lên. Vàng da không thể chỉ chữa bằng thuốc mà còn phải kết hợp với chế độ ăn uống phù hợp.
Nếu bạn bị chứng vàng da, đặc biệt phải tránh những loại thực phẩm nhiều dầu mỡ. Vì khi gan bạn yếu đi, chức năng gan giảm, gan sẽ không có khả năng tiêu hóa dầu mỡ. Tuy nhiên, tránh ăn những thực phẩm nhiều giàu mỡ là chưa đủ. Mà bạn cần phải ăn đúng loại thực phẩm để chữa vàng da. Đây là những loại thực phẩm giúp gan giải độc. Những thực phẩm này giúp trẻ hóa các tế bào gan, loại bỏ sự nhiễm trùng.
Thực phẩm tốt nhất cho người bị vàng da 1

Ảnh: Boldsky.

Nước trái cây là một trong số các loại thực phẩm hiệu quả nhất chữa chứng vàng da. Và nước mía đặc biệt tốt cho gan của bạn. Dưới đây là những thực phẩm hữu ích nhất cho người mắc chứng vàng da:
Nước ép củ cải
Mỗi ngày uống 2-3 ly nước ép củ cải sẽ giúp bạn giảm đáng kể triệu chứng vàng da. Bởi nước ép củ cải giúp thanh lọc và loại bỏ lượng bilirubin ra khỏi gan và máu. Ngoài ra, củ cải chứa nhiều canxi, sắt, vitamin A, B6 và C, acid folic và là nguồn cung cấp dồi dào của mangan, chất xơ và kali, rất tốt cho cơ thể và chống oxy hóa tốt.
Hạt rau mùi
Hạt mùi có tác dụng rất tốt trong việc thông đại tiểu tiện, trị phong tà, phá mụn độc và làm lành các chứng mụn lở. Với chứng vàng da, bạn ngâm hạt rau mùi trong nước qua đêm và uống vào buổi sáng. Nước hạt rau mùi sẽ giúp loại bỏ ra ngoài độc tố từ gan.
Lúa mạch
Lúa mạch là nguồn phong phú chất xơ không hòa tan, có tác dụng làm giảm nguy cơ ung thư ruột kết, bệnh sỏi mật và rất tốt cho hệ tiêu hóa. Trong lúa mạch có một chất tên là “lignans”, là một chất chống oxi hóa, bảo vệ các tế bào khỏi các vi khuẩn gây bệnh. Bên cạnh đó, lúa mạch có đặc tính rất tốt, giúp lợi tiểu, mát gan, giúp rửa trôi các bilirubin dư thừa ra khỏi cơ thể.
Nước ép cà chua
Cà chua là một loại quả cung cấp nguồn vitamin C dồi dào. Đó là lý do tại sao nó rất giàu lycopene, một chất chống oxy hóa rất mạnh. Vì vậy, nước ép cà chua giúp trẻ hóa các tế bào gan, giúp bạn khắc phục chứng vàng da.
Lá húng quế
Lá húng quế là một phương thuốc tự nhiên giúp gan phục hồi chức năng. Theo một nghiên cứu tiến hành tại Đại học Mansoura, Ai Cập, các nhà khoa học lấy 6 hợp chất trong rau húng quế được trích xuất và thử nghiệm khả năng bảo vệ chống lại tình trạng oxy hóa gan. Kết quả là, tất cả các hợp chất này đều có tác dụng bảo vệ gan.
Nước ép chanh
Chanh là một trong những loại quả giải độc tốt nhất có sẵn trong thiên nhiên, vừa rẻ, vừa an toàn. Chanh là loại quả giúp lợi tiểu, hỗ trợ tiêu hóa, chống viêm, khử trùng và tiêu diệt vi khuẩn có hại trong cơ thể. Vì thế, mỗi buổi sáng, hãy vắt một quả chanh vào nước và uống để làm sạch dạ dày, hệ tiêu hóa và gan của bạn.
Thực phẩm tốt nhất cho người bị vàng da 2

Ảnh: Boldsky.

Dứa
Dứa là loại quả giúp thanh nhiệt.  Nước ép dứa cũng giúp hệ tiêu hóa tốt, mau lành bao tử bị viêm, loét. Tái tạo tủy và canxi giúp xương chắc khỏe. Ngoài ra, nó còn là loại quả giải độc tốt, giúp làm sạch các tế bào gan. Nó cũng giúp chữa chứng vàng da một cách hiệu quả.
Nước mía
Nước mía là loại nước bắt buộc phải uống đối với những người mắc chứng vàng da. Ngoài tác dụng giải nhiệt, chống viêm, tiêu sưng, giảm đau, trị viêm họng… nước mía chứa nhiều năng lượng giúp gan phục hồi nhanh chóng.
Sữa đông tụ (sữa chua)
Sữa đông chứa nhiều vitamin, protein giúp cơ thể dễ tiêu hóa, tăng lượng vi khuẩn có lợi cho dạ dày, tiệt trùng đường ruột và tiêu diệt các tác nhân gây hại.
Theo VnExpress

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học Trường đại học Indiana, Mỹ, hành vi tự tử ở thanh thiếu niên đang có xu hướng gia tăng. Nguyên nhân của hiện tượng này không đơn thuần liên quan đến yếu tố tâm lý mà còn có liên quan đến yếu tố di truyền, lỗi gen hoặc do những bất thường tiềm ẩn trong thể chất. Những nghiên cứu này cũng cho biết, khoa học có thể giúp dự báo nguy cơ một người có xu hướng tự tử hay không thông qua việc xét nghiệm máu của họ.

Thông thường, những người mang trong mình loại enzym có tên SAT1 dễ có xu hướng tự tử hơn so với bình thường. Xét nghiệm máu có thể xác định tương đối chính xác lượng enzym SAT1 trong các tế bào của cơ thể.

Lý giải được các nhà khoa học đưa ra là do mối liên quan giữa SAT1 với polyamine – một hóa chất liên quan đến việc tế bào tự lập trình hay tự hủy diệt bằng cách làm tổn thương chính mình. Khi SAT1 tồn tại trong tế bào, nó kích thích polyamin được sản sinh ra nhiều hơn, khi đó, những diễn biến bất thường trong tâm, sinh lý người bệnh bắt đầu biểu hiện ra bên ngoài: người bệnh có xu hướng tự làm đau bản thân, tự làm tổn thương hoặc tự tử là điều khó tránh khỏi.

Hà Xuyên

          (Theo Daily News)

Công trình nghiên cứu thử nghiệm gần đây cho thấy, các nơ – ron của hệ thần kinh ruột có chứa các tế bào gốc có khả năng biệt hóa để trở thành các nơ-ron của hệ tiêu hóa.

Kết quả thử nghiệm trên chuột cho thấy, không những tế bào gốc được ghép đã nằm đúng chỗ trong ruột non mà còn tạo ra tất cả các dạng nơ-ron của hệ tiêu hóa. Hơn nữa, sự kết nối giữa các nơ-ron và các cơ của thành ruột được thiết lập. TS. Heather Young thuộc Viện đại học Melbourne, Australia cho biết, còn cần phải xác định sự ghép nơ-ron này có thể tạo ra nhu động ruột tốt và như vậy sẽ mở ra hướng thử nghiệm trên người để có thể chữa trị các chứng bệnh liên quan sự thiếu hụt hoặc thoái hóa một phần của các nơ-ron này. Từ đó, các nhà nghiên cứu có thể lấy tế bào gốc ở phần ruột bình thường và ghép chúng vào nơi ruột tổn thương.

            BS. NGUYỄN VĂN THÔNG

 (Theo Science & Vie, 2013)

Khi bạn khát, một cốc nước trong lành mát rượi sẽ làm tan hết mọi mệt mỏi trong người, nhưng có một điều bạn không biết đó là sự hiện diện của những vi sinh vật ẩn chứa trong nguồn nước tưởng chừng trong lành ấy sẽ gây nhiều triệu chứng nguy hiểm: tiêu chảy, nôn, sốt cao…

Khuẩn Cryptosporidium

Tại hầu hết các thành phố, người dân đều đã có nguồn nước sạch phục vụ nhu cầu sinh hoạt, ăn uống. Nguồn nước lấy từ hồ và sông sẽ được lọc, khử khuẩn trước khi đến từng hộ gia đình. Tuy nhiên, ngay cả những kỹ thuật lọc tiên tiến nhất cũng không thể diệt 100% vi khuẩn, vi sinh vật tồn tại trong nước. Điển hình là Cryptosporidium, đây là nguyên sinh động vật đơn bào và là nguyên nhân chính gây ra bệnh tiêu chảy ở người. Suốt giai đoạn phát triển, Cryptosporidium được bao bọc bởi một lớp vỏ cứng gọi là nang bào, nang này có sức kháng chịu cao đối với quá trình khử khuẩn và các phương pháp xử lý nước truyền thống.

Căn bệnh do nhiễm Cryptosporidium có triệu chứng giống như các vấn đề về ruột và các triệu chứng thông thường là tiêu chảy, sụt cân, chuột rút, buồn nôn, mất nước… Trên thế giới, ước tính có khoảng 0,6 – 4,3% dân số nhiễm Cryptosporidium, ở các nước đang phát triển có tỷ lệ người nhiễm căn bệnh này cao hơn.

Những vi sinh vật có hại ẩn chứa trong nước uống 1
 Khuẩn Cryptosporidium.

Vi khuẩn lam Anabaena circinalis

Anabaena circinalis là vi khuẩn lam sống trong các hồ nước ngọt trên thế giới, đặc biệt là Australia, châu Âu, châu Á, New Zealand và Bắc Mỹ. Vi khuẩn lam Anabaena circinalis được coi là sinh vật đa bào đầu tiên trên trái đất. Vi khuẩn lam này được dùng để sản xuất anatoxin – một chất độc thần kinh. Năm 1950, các nhà khoa học đã tìm ra nguyên nhân gây nên cái chết của hàng loạt gia súc trên khắp nước Mỹ chính là Anabaena circinalis trong nguồn nước.

Khuẩn Copepods

Khuẩn Copepods hay còn gọi là khuẩn chân kiếm. Kích thước của chân kiếm có thể phát triển đến 2mm và nó là một giáp xác, giống như một con tôm thu nhỏ. Bạn có thể tìm thấy chúng ở khắp mọi nơi.

Vào năm 2009, một sự kiện xảy ra tại Connecticut Mỹ, người dân tìm thấy hàng ngàn mẫu chân kiếm trong nguồn nước gia đình họ sử dụng. Nhiều người cảm thấy rất kinh sợ và không dám sử dụng nước sinh hoạt, nhưng theo các nhà khoa học, loại chân kiếm này là loại khuẩn có lợi vì chúng thường ăn các chất độc và tiêu hủy các vi khuẩn có hại trong nước.

Khuẩn E.coli

Vi khuẩn E.coli có tên tiếng Anh là Escherichia coli, hay còn gọi là vi khuẩn đại tràng, là một trong những loài vi khuẩn chính ký sinh trong đường ruột vật chủ. Có nhiều loại E.coli, nhưng may mắn là phần lớn chúng vô hại. Tuy nhiên, có một số E.coli có thể gây tiêu chảy và loại phổ biến nhất trong nhóm có hại này là E.coli 0157:H7. Có một số trường hợp, vi khuẩn này gây rối loạn máu và suy thận, thậm chí dẫn đến tử vong.

Khuẩn E.coli xâm nhập cơ thể người thông qua nguồn nước và thức ăn bị ô nhiễm bởi phân người và phân động vật. Chúng ta cũng có thể bị nhiễm E.coli qua tắm sông mà nước bị nhiễm khuẩn hay nước chưa được khử khuẩn.

Ðộc tố nấm mốc

Độc tố nấm mốc hay còn gọi là Mycotoxic, loại này thường được tìm thấy trong lương thực, thực phẩm, các loại hạt ngũ cốc. Tuy nhiên, các nhà khoa học cũng tìm thấy Mycotoxic trong nguồn nước hằng ngày. Nấm mốc sinh sản như phấn hoa trôi nổi trong không khí. Năm 2006, một nghiên cứu đã tiến hành xem xét nồng độ của Mycotoxic trong nước máy và phát hiện tỷ lệ 2,9% độc tố nấm mốc. Tuy nhiên, theo các nhà khoa học, tỷ lệ này khá thấp để có thể dẫn đến tình trạng ô nhiễm và con người bị nhiễm độc do hấp thụ Mycotoxic từ nước máy. Loại độc tố nấm mốc này có hại cho con người ở nồng độ cao hơn.

Naegleria fowleri

Đây là một loại sinh vật đơn bào, sống tự do, thường tìm thấy trong các khu vực nước ngọt, ấm, chẳng hạn như ao, hồ, sông, suối nước nóng. Nó cũng được tìm thấy trong bể bơi không xử lý bằng clo. Mặc dù, Naegleria fowleri không phải là một loại amíp ăn não hoàn toàn nhưng những vi sinh vật này thường được quen gọi là amíp. Theo cảnh báo của các nhà khoa học, amíp sẽ tấn công hệ thống thần kinh của người bằng cách chui qua niêm mạc mũi, phá hủy não. Tuy nhiên, việc nhiễm Naegleria fowleri là rất hiếm, nó không có tác hại nếu bạn hấp thụ qua đường miệng. Thông thường, con đường gây bệnh chủ yếu do bạn bơi qua sông, hồ, bể bơi nhiễm khuẩn và những Naegleria fowleri này xâm nhập cơ thể do bạn hít phải nước.

Vi khuẩn Legionella

Đây là một loại vi khuẩn gây ra 34 ca tử vong ở Mỹ và 221 ca nhiễm khuẩn vào năm 1976. Mỗi năm trên thế giới, loại vi khuẩn này là nguyên nhân gây ra 1.800 trường hợp nhiễm khuẩn vì uống phải nguồn nước ô nhiễm. Các triệu chứng bệnh do vi khuẩn Legionella gây nên: sốt cao (trên 41,50C), mệt mỏi, nôn, tiêu chảy và đau cơ. Tuy nhiên, các nhà khoa học vẫn cho rằng nồng độ Legionella thông thường trong nước vẫn ở dưới mức cảnh báo.

Những vi sinh vật có hại ẩn chứa trong nước uống 2
 Vi khuẩn Legionella.

Nấm mốc Chaetomium

Loại nấm mốc này khá phổ biến trong cuộc sống hàng ngày, nó trôi nổi trong không khí tại những nơi ẩm ướt: sàn nhà, phòng tắm, bếp, nơi rửa bát. Loại Chaetomium này hiếm khi xuất hiện trong nước máy nhưng khi có thêm thành phần này, bạn sẽ cảm thấy nước có vị ngọt hơn. Bào tử Chaetomium không nguy hiểm đến mức các nhà khoa học phải khuyến cáo biện pháp phòng tránh khi bạn uống nước.

Khuẩn Salmonella

Năm 2008, tại Mỹ, nước máy chịu trách nhiệm về 79 ca ngộ độc Salmonella gây sốt và nôn mửa. Những người có hệ miễn dịch yếu như người già rất dễ bị nhiễm khuẩn Salmonella. Loại vi khuẩn này thường xuất hiện trong các thực phẩm như thịt bò, rau bina, thịt gà. Ít khi tìm thấy Salmonella trong nguồn nước uống nhưng thực tế cho thấy bạn nên cẩn trọng khi uống trực tiếp từ nguồn nước sạch tại nhà hay nước máy mà bạn vẫn hoàn toàn tin tưởng là vô trùng.            

Minh Huệ

Bệnh ung thư cho đến nay kết quả điều trị vẫn chưa thực sự khả quan. Trên con đường đi tìm phương pháp điều trị căn bệnh nan y này, các nhà khoa học cũng tìm hiểu xem những nguyên nhân nào đã dẫn tới sự biến đổi phân chia các tế bào bất thường như vậy. Câu trả lời là, ngoài các tác nhân vật lý, hóa chất, môi trường, vi sinh vật, căng thẳng, cảm xúc… thì chế độ dinh dưỡng cũng là một trong những thủ phạm hàng đầu dẫn tới căn bệnh chết người này.

Từ những nghiên cứu, các nhà khoa học đã đưa ra khuyến cáo về việc cần hạn chế các thực phẩm sau đây:

Chất béo: Người dùng quá nhiều chất béo dễ bị ung thư vú, ruột già hơn. Sự liên quan giữa ung thư ruột già với thực phẩm nhiều chất béo đã được giải thích như sau: acid mật (bile acid) có nhiệm vụ tiêu hóa chất béo. Acid này được vi sinh vật clostridia ở ruột tách ra làm nhiều chất, trong đó có 3-methylchola-threne được coi như có khả năng gây ung thư ruột già. Nếu càng ăn nhiều chất béo thì lượng acid mật tiết ra càng cao, lượng 3 – methylchola – threne càng nhiều, nguy cơ ung thư ruột già rất cao. Còn với bệnh ung thư vú thì ăn nhiều chất béo làm tăng prolactin – những chất được coi như “bạn đồng hành” của ung thư vú. 

Những người cùng lúc ăn nhiều chất béo và chất đạm thì nguy cơ ung thư lại càng cao hơn, nhất là ung thư vú, dạ con, thận, ruột già, tụy tạng. 

Rượu: Người nghiện rượu, uống rượu nhiều trong thời gian dài rất dễ bị ung thư miệng, thanh quản, thực quản, cuống họng. Xơ cứng gan vì rượu cũng là một trong nhiều nguyên nhân gây ung thư gan. Ở phụ nữ thường xuyên uống rượu, tỉ lệ mắc ung thư vú cao gấp nhiều lần so với người không uống.

Thuốc lá: Dù không là thực phẩm nhưng thuốc lá gắn liền với thói quen sinh hoạt và được dùng với lượng lớn không kém gì thực phẩm. Đã có nhiều dẫn chứng khoa học về việc thuốc lá là nguyên nhân của nhiều loại ung thư ở cả nam và nữ, nhất là ung thư phổi. Có tới 85% tử vong ung thư phổi là do hút thuốc lá. Hút thuốc lá cũng là nguy cơ ung thư miệng, bọng đái, thận, tụy tạng. Người hít khói thuốc dư cũng chịu nhiều rủi ro cho sức khỏe.

Thực phẩm dư hóa chất diệt sâu bọ: Nhiều nghiên cứu cho thấy, một số thuốc diệt sâu bọ là nguy cơ gây ung thư khi con người tiếp xúc lâu với phân lượng cao, như là hít qua phổi, ngấm qua da hoặc lẫn trong thực phẩm.

Gia vị: Hiện nay có cả vài ba ngàn gia vị thực phẩm được sử dụng để bảo quản, tăng mùi vị và màu sắc cho thực phẩm. Theo quy định thì các gia vị này phải đảm bảo an toàn cho người sử dụng, nhưng trên thực tế không ít cơ sở đã dùng các gia vị rất độc hại cho sức khỏe. Chẳng hạn, đường hóa học cyclamate và saccharin đã được cho là làm tăng nguy cơ ung thư bàng quang vẫn được dùng trên 40 quốc gia. Chất nitrit và nitrat (có trong thực phẩm hun khói) nếu dùng nhiều sẽ gây ung thư gan, ruột già…

7 loại thực phẩm tăng nguy cơ ung thư 1
 Ăn nhiều đồ nướng dễ gây ung thư.

Thực phẩm nướng hoặc chiên: Quá trình chiên kỹ hoặc chiên đi chiên lại nhiều lần sẽ tạo ra sản phẩm phụ gọi là acrylamide. Acrylamide là một khối u chứa chất độc thần kinh mạnh, có tác dụng phụ không chỉ trên não mà cả đối với hệ thống sinh sản, tiêu hóa. Do đó, tốt nhất là hạn chế ăn các món nướng và chiên. 

Thực phẩm bị mốc: Nhiều người thường cho rằng nấm mốc trong thực phẩm khô đơn giản chỉ là một dạng vi sinh vật vô hại, có thể lau rửa sạch mà không ảnh hưởng gì đến chất lượng thực phẩm. Tuy nhiên, theo cảnh báo của các chuyên gia, chính những nấm mốc này lại mang mầm bệnh ung thư nguy hiểm đến tính mạng con người. Gạo, lúa mỳ, đậu, ngô, đậu phộng và các loại thực phẩm khác rất dễ ẩm mốc khi bị ô nhiễm, mốc sẽ sản sinh ra chất độc hại gây ung thư là streptozotocin aflatoxin.        

Ðể hạn chế ung thư, các nhà khoa học đưa ra những lời khuyên hữu ích:

– Ăn nhiều rau quả tươi và các  thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật bởi đây là nguồn cung cấp cho cơ thể các vitamin, khoáng chất và chất xơ cần thiết sẽ giúp cơ thể có được sức đề kháng tốt để chống lại các yếu tố gây ung thư. Mỗi người mỗi ngày nên ăn ít nhất 500g rau tươi và quả chín, nên ăn đa dạng các loại rau xanh, quả tươi để thay đổi khẩu vị và tạo nên sự dồi dào của các vitamin, khoáng chất tự nhiên do chúng mang lại.

– Hạn chế ăn thịt màu đỏ, chất béo và muối trong bữa ăn hằng ngày. Nên chọn lọc thực phẩm ít chất béo, có thể sử dụng các loại sữa đã tách bơ, ăn ít các món chiên, xào, hạn chế ăn mặn tối đa.

– Chất lượng thực phẩm phải được đảm bảo tươi sống, sạch sẽ, hợp vệ sinh. Ăn chín uống sôi. Không chế biến thức ăn ở nhiệt độ cao, nướng rán thực phẩm quá cháy.

– Ðảm bảo cân nặng cơ thể hợp lý: đừng để quá gầy hay quá béo. Thường xuyên rèn luyện thân thể bằng các môn thể thao phù hợp với cân nặng và sức khỏe của mình.

– Không uống rượu bia và các chất kích thích.

BS. Cẩm Nga

Theo hãng tin ITAR-Tass của Nga, ngày 17/8 vừa qua, cụ bà Aida Mendes, 103 tuổi, người ở Macapa, tỉnh Amap, miền Trung Brazil đã lập kỷ lục “xưa nay hiếm”, thực hiện thành công pha nhảy dù ở độ cao gần 3.000m tại khu vực ngã ba biên giới 3 nước Brazil – Argentina – Paraguay cùng với một hướng dẫn viên và một chuyên gia quay camera với thời gian dài 6 phút. Đây là cú nhảy lần thứ hai của cụ Mendes, lần nhảy trước vào dịp sinh nhật thứ 100 của cụ, cách đây gần 3 năm. Trước khi công việc được bắt đầu, cụ Mendes đã được kiểm tra sức khỏe tổng thể, đo huyết áp và xét nghiệm một số thông số kỹ thuật cần thiết. Sau khi thực hiện thành công cú nhảy đặc biệt này, cụ Aida Mendes đã được tư vấn thủ tục để được công nhận Kỷ lục Guinness cho nội dung nhảy dù ở tuổi cao niên nhất. Nghe nói, sau khi thực hiện thành công cú nhảy dù và ngay sau khi chạm đất, cụ Aida Mendes hóm hỉnh: “Trong cuộc sống, mọi người cần dũng cảm, sự can đảm luôn hữu dụng giúp mọi người vượt qua mọi khó khăn, trở ngại”.

KHẮC HÙNG

(Theo ITAR-TASS, 8/2013)

Liệt dây thần kinh VII Ðông y gọi là “khẩu nhãn oa tà”. Ðây là tình trạng trúng phong ở kinh lạc. Nguyên nhân do phong hàn xâm nhập kinh lạc, làm cho khí huyết trở trệ, kinh lạc bế tắc mà gây ra…

Nguyên tắc chữa trị là ôn kinh tán hàn, dẹp phong dưỡng huyết. Bệnh nhân nếu được điều trị sớm, kết hợp các phương pháp trị liệu sẽ đem lại hiệu quả cao.

Thuốc uống: dùng một trong các bài.

Bài 1: phòng phong 10g, kinh giới 12g, lá lốt 12g, nam tục đoạn 16g, đơn đại hoàng 12g, tang ký sinh 16g, quế chi 8g, thiên niên kiện 10g, phòng sâm 12g, hoàng kỳ 12g, bạch truật 16g, sinh khương 4g, kê huyết đằng 12g, trần bì 10g. Sắc uống ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần. Công dụng: ôn kinh tán hàn, thông hoạt kinh lạc.

Bài 2: nam tục đoạn 16g, đơn hoa 12g, thổ phục linh 16g, lá đơn mặt trời (sao vàng hạ thổ) 16g, rễ bưởi bung 12g, rễ cây xấu hổ 16g, ngũ gia bì 16g, cát căn 16g, cẩu tích 10g, thạch xương bồ 12g, độc lực 12g, quế chi 8g, thiên niên kiện 10g, sinh khương 4g, trần bì 10g. Sắc uống ngày 1 thang, sắc 3 lần, uống 3 lần. Gia giảm: Nếu đau ngực, khó thở, gia: đan sâm 16g, đinh lăng 16g, tang diệp 16g. Nếu trằn trọc khó ngủ, gia: tâm sen, phục thần, mỗi vị 10g. Công dụng: khu phong, tán hàn, thông kinh hoạt lạc, bổ thần kinh.

Bài thuốc hỗ trợ chữa liệt dây thần kinh VII 1
 Nét mặt của người bị liệt dây thần kinh VII.
Bài thuốc hỗ trợ chữa liệt dây thần kinh VII 2
 Day bấm huyệt giáp xa.

Thuốc xoa bóp gồm các vị: xuyên khung, bạch chỉ, tế tân, quế chi, thiên niên kiện, kê huyết đằng, trần bì, phá cố chỉ, rễ cây độc lực, hoa hồi, mỗi vị 15g. Các vị thái nhỏ, cho vào chai thủy tinh, đổ ngập rượu để ngâm, sau 10 ngày là dùng được. Cách dùng: lấy bông tẩm thuốc xoa vào nơi bị tổn thương.

Bài thuốc chườm: lá đơn đại hoàng, lá kinh giới, lượng bằng nhau. Hai thứ giã nhỏ, sao rượu. Gói thuốc vào miếng vải, chườm vào vùng đầu mặt, thái dương, cổ gáy…

Bài thuốc hỗ trợ chữa liệt dây thần kinh VII 3
 Bấm huyệt hợp cốc.
Bài thuốc hỗ trợ chữa liệt dây thần kinh VII 4
 Day bấm huyệt thái xung.

Bấm huyệt xoa bóp: tiến hành các thủ thuật:

Xoa, miết, day vùng trán, thái dương, vùng mặt, cổ, gáy, vùng xung quanh tai.

Bấm các huyệt: hạ quan, giáp xa, địa thương, thái xung, hợp cốc. Bấm bên đối diện bên đau. Kỹ thuật bấm: ngón cái tay phải để đúng huyệt vuông góc với mặt da, các ngón khác tỳ trên da làm điểm tựa. Ngón cái bấm thẳng xuống, lúc đầu nhẹ, rồi ấn mạnh dần, tới mức bệnh nhân chịu đựng được, cố gắng giữ nguyên lực bấm, xoay và di đầu ngón tay. Có thể dùng ngón cái và ngón trỏ tay trái cầm ôm lấy thân ngón cái tay phải để làm nhiệm vụ hỗ trợ điều chỉnh lực bấm. Tác dụng của bấm huyệt: nạp khí, ôn ấm kinh lạc, chống co cứng, lập lại trạng thái sinh lý bình thường. Phương pháp này làm đúng kỹ thuật là rất quan trọng.   

Vị trí huyệt

Hạ quan: khi ngậm miệng lại, huyệt ở chỗ lõm phía trước tai, dưới xương gò má, nơi góc phía trước của mỏm tiếp xương thái dương và lồi cầu xương hàm dưới.

Giáp xa: cắn chặt răng lại, huyệt ở trước góc hàm và ở trên bờ dưới xương hàm

Ðịa thương: cách khóe miệng 0,4 tấc, hoặc trên đường ngang qua mép và rãnh mép mũi, nơi đan chéo của cơ vòng môi, cơ gò má lớn.

Thái xung: dùng đầu ngón tay cái miết từ kẽ ngón chân cái và ngón chân thứ hai lên trên, khi ngón tay mắc lại cho vướng vào kẽ của hai xương bàn chân thì đấy chính là huyệt

Hợp cốc: khép ngón trỏ và ngón cái sát nhau, huyệt ở điểm cao nhất của cơ bắp ngón trỏ ngón cái.

Lương y Thanh Ngọc

Trong y học có những ngộ nhận bắt nguồn từ những nhận xét ngẫu nhiên, sau đó trở thành niềm tin của nhiều người. Xóa bỏ những ngộ nhận, niềm tin cũ ấy không dễ nhưng chân lý khoa học cuối cùng sẽ thắng, nếu không như vậy thì y học không tiến lên được.

Sự cáo chung của liệu pháp vi lượng đồng căn

Xa xưa, một số thầy thuốc dùng liệu pháp vi lượng đồng căn, nghĩa là chỉ cần đưa vào cơ thể một số lượng bằng nhau các chất vi lượng thì sẽ chữa khỏi bệnh. Trong số các vi lượng đưa vào cơ thể, cũng có vi lượng trùng với vi lương cơ thể đang thiếu nên cho hiệu quả, song cũng có khi tuy có trùng nhưng chưa đạt ngưỡng cần thiết thì chưa chắc có hiệu lực. Có lẽ vậy, sau này người ta thấy liệu pháp này không cho kết quả chắc chắn. Ngày nay chúng ta áp dụng liệu pháp vi lượng một cách có khoa học: Vi lượng tham gia quá trình chuyển hóa trong cơ thể bằng cách cấu thành hay tác động lên các enzym chuyển hóa. Khi vi lượng ấy bị thiếu hụt, không đạt được nồng độ ở ngưỡng sinh lý, thì các hoạt động chuyển hóa bị rối loạn; khi cung cấp cho cơ thể số vi lượng bị thiếu hụt đó, sẽ lặp lại cân bằng chuyển hóa, chữa khỏi bệnh.

Ngộ nhận, niềm tin và cơ sở khoa học 1

 Với tiến bộ y học, việc điều trị cho bệnh nhân tai biến mạch máu não có nhiều triển vọng phục hồi tốt.

Rút lại lời khuyên cho trẻ ngủ nằm sấp để tránh đột tử

Trước đây, một số thầy thuốc đưa ra lời khuyên cho trẻ dưới 2 tuổi ngủ trong tư thế nằm sấp sẽ tránh được đột tử. Có thể điều này xuất phát từ một số nhận xét có thật trên một số nhỏ trẻ nhưng không có ý nghĩa thống kê, chỉ là sự ngẫu nhiên, chưa có cơ sở khoa học. Sau này, các nhà y học tổng kết lâm sàng nhận thấy: làm theo lời khuyên này không những không hề giảm mà còn có nguy cơ cao gây đột tử.

Các nhà khoa học đã chỉ ra nhiều nguyên nhân gây suy hô hấp dẫn tới đột tử lúc ngủ và chỉ ra cách đề phòng cho trẻ theo từng nguyên nhân. Một trong những nguyên nhân gây suy hô hấp đó là cho trẻ em dưới 2 tuổi dùng phenothiazin (siro phenergan, siro alimimerazin). Chất này có tác dụng phụ rất nguy hiểm, làm suy hô hấp, ngừng thở, có thể gây đột tử cho trẻ em lúc ngủ.

Không thể chữa viêm loét dạ dày chỉ bằng thay đổi chế độ ăn, lối sống

Sau Thế chiến lần thứ nhất (1914 – 1918), tỷ lệ viêm loét dạ dày tăng lên. Nhiều thầy thuốc cho rằng vì trong chiến tranh, việc ăn uống kham khổ (nhất là ăn lương thực khô), và tinh thần luôn luôn bị căng thẳng khiến cho nhiều người bị viêm loét dạ dày. Từ đó, ngoài liệu pháp trung hòa acid ở dạ dày, các thầy thuốc khuyên người bệnh phải ăn cơm nát, không ăn các chất khô cứng, chất chua, tạo ra chế độ làm việc nghỉ ngơi thoải mái. Song, nhiều người bệnh làm như vậy mà chứng viêm loét dạ dày vẫn không thuyên giảm.

Năm 1982, các nhà nghiên cứu bệnh học người Úc là J Robin Waren, Barry  Marsall đã phát hiện ra vi khuẩn H. Pylori gây viêm loét dạ dày. Theo đó, H.Pylory xâm nhập cơ thể chủ yếu bằng đường ăn uống, gắn vào biểu mô trong lớp chất nhầy, sản sinh ra enzym urease, biến urê thành ammoniac, carbonic tạo ra môi trường gần trung tính, né tránh môi trường acid khá cao trong dạ dày, né tránh sự đáp ứng miễn dịch để tồn tại khi có điều kiện thì gây ra bệnh. Kể từ khi có phát minh này, nhất là khi hai ông  được  giải Nobel y học (2005), việc dùng kháng sinh chữa bệnh viêm loét dạ dày trở thành phổ biến.

Từ bỏ quan niệm tuyệt vọng khi bị tai biến mạch máu não

Trước năm 1960, người ta cho rằng sự sinh thần kinh bắt đầu từ tuần thứ 3 của thai kỳ, các tế bào thần kinh phát triển rất nhanh (250.000 tế bào mỗi phút) và sau vài năm thì chấm dứt. Theo đó, tế bào thần kinh không có khả năng bị phân chia, nếu bị tổn thương sẽ không thể có tế bào thay thế. Do vậy, khi bị tai biến mạch máu não, dùng cách tưới bù máu hay dùng cerebrolysin trong vòng 72 giờ kể từ khi xảy ra tai biến chỉ nhằm cứu vãn những tế bào thần kinh ở vùng nửa tối (đã ngừng hoạt động nhưng chưa chết), sau 72 giờ, các tế bào đó chết, việc dùng cerebrolysin sẽ vô ích!

Trước đây, người ta cũng cho rằng não như một cỗ máy hoạt động theo cơ chế có sẵn từ trước và khi tổn thương là không thể hồi phục. Sau này, các nhà y học thấy rằng, não có khả năng thay đổi về mặt giải phẫu (sinh ra tế bào thần kinh mới, tạo các đường nối tiếp mới) và thay đổi về mặt sinh lý (tế bào mới sinh ra đảm nhận các chức năng của tế bào thần kinh). Hiện tượng này gọi là tính khả biến thần kinh (neuroplasticity) tức là sự sửa chữa và học lại (repairing and learning).

Ngộ nhận, niềm tin và cơ sở khoa học 2Trẻ nằm sấp có nguy cơ bị đột tử.

Theo quan niệm cũ, tai biến mạch máu não là cách kết thúc cuộc đời không có cách nào cải thiện, đảo ngược. Còn theo quan niệm mới, việc điều trị có tính lạc quan hơn, có thể phục hồi hoạt động não sau tổn thương bằng cách dùng các thuốc kích thích quá trình sinh thần kinh, khả biến thần kinh. Một trong những thuốc có tính năng này là cerebrolysin.

Lời kết

Ngày nay, một số nghiên cứu của các nhà khoa học đã xét lại một cách nghiêm túc những ngộ nhận về niềm tin chữa bệnh ở trên và vạch ra các cơ sở khoa học, từ đó đưa ra các cách điều trị mới, dùng thuốc mới. Những nghiên cứu mới này thường được đăng tải trong các tập san nghiên cứu y học nổi tiếng (như JAMA, NEJM, AJMJ) và phần lớn đều được dịch đăng trong các tập san thông tin y học của nước ta. Cần tiếp cận những thông tin này để khỏi bỡ ngỡ, dĩ nhiên việc áp dụng thế nào cho phù hợp sẽ do Bộ Y tế và các hội y học, dược học, các hội chuyên khoa hướng dẫn.

DSCKII. Bùi Văn Uy

Dư luận thế giới hiện vẫn đang nóng bỏng bởi cuộc điều tra vụ sử dụng vũ khí hóa học ở Syria. Với sức mạnh hủy diệt không thương tiếc, vũ khí hóa học được liệt vào vũ khí chiến tranh hủy diệt hàng loạt. Bằng những cuộc họp bàn cương quyết, loại vũ khí này đang dần được chấm dứt. Nhưng nó vẫn len lỏi đâu đó đe dọa nhân loại. Để giúp bạn đọc hiểu sâu hơn về vấn đề này, chúng tôi giới thiệu bài viết của BS. Châu Văn Tú.

Vũ khí hóa học là một loại vũ khí chiến tranh trong đó nó không trực tiếp gây sát thương cho lực lượng đối địch. Thay vào đó, chúng giải phóng ra một lượng lớn chất độc hóa học, làm tê liệt hoặc tiêu diệt toàn bộ các sinh thể sống, trong đó có con người.

Bạn biết gì về vũ khí hóa học? 1Một đầu đạn tên lửa mang chất độc thần kinh.

Vũ khí hóa học, với sức mạnh của nó được xếp vào vũ khí hủy diệt hàng loạt. Sánh ngang hàng về mức tàn sát với vũ khí sinh học và vũ khí hạt nhân. Đây là các loại vũ khí luôn đe dọa tới sinh mạng sống của con người. Chỉ cần một phản ứng thái quá, có thể phá hủy toàn bộ một quốc gia, một nhóm quốc gia, một châu lục hoặc mang tính toàn cầu.

Cứ độc là khai thác

Tính cho đến nay, số chất độc hóa học được sử dụng trong chiến tranh lên tới 15 chất. Chúng là các chất khác nhau, được phân chia khác nhau. Có nhiều cách phân chia như sau:

Cách thứ nhất, phân chia dựa theo khả năng gây mất sức chiến đấu. Trong đó, người ta chia vũ khí hóa học làm mất sức chiến đấu tạm thời và vũ khí hóa học đầu độc.

Cách thứ hai, phân chia theo cấu trúc hóa học của chất độc hóa học. Người ta chia thành vũ khí có chứa chất độc phospho hữu cơ, chất độc CS, chất độc cyanua, clo, chất độc dòng G, chất độc dòng V…

Ngoài ra, vũ khí hóa học còn được phân chia theo dạng thức tổn thương là cách phân chia khá cơ bản. Đây là cách phân chia của y học quân sự. Vì nó liên quan trực tiếp đến nhận diện chất độc đó là gì, có chất kháng độc là gì nhằm cứu sống nạn nhân. Khi đó người ta chia ra vũ khí hóa học gây cười, gây cay mắt, gây độc thần kinh (tabun, sarin, soman, cyclosarin, VX), độc hô hấp (phosgen, diphosgen), độc máu (clorua cyanit, hydrua cyanit), phỏng rộp da (phosgen, lơ-vi-sit, Y perit, nitơ mù tạt)…

Chứng tích hủy diệt loài người

Lịch sử đã chứng kiến hàng loạt vụ thảm sát bằng vũ khí hóa học. Tất cả chúng đều là các vụ thảm sát hủy diệt lớn. Những cái chết thương tâm.

Nhân dân của nước Bỉ chắc hẳn không thể nào quên được trận tấn công đầy đau thương diễn ra vào tháng 4/1915. Đây là cuộc tấn công của phát xít Đức tấn công vào Bỉ tại thành phố Ypres. Cuộc tấn công này là cuộc tấn công quy mô lớn đầu tiên được tiến hành bằng vũ khí hóa học có mang hơi clo. Bằng việc sử dụng khí clo tấn công vào Bỉ trong thế chiến thứ hai, phát xít Đức đã giành thắng lợi hoàn toàn và giành lại thế chủ động trên chiến trường. Nhưng đánh đổi với cái đó là hàng ngàn sinh mạng bị hy sinh vô tội. Với con số 90.000 người chết và trên 1 triệu người bị thương tật, cuộc tấn công vào Bỉ bằng clo đã làm hoảng loạn lịch sử của quốc gia châu Âu.

Gần đây hơn, cuộc tấn công kinh hoàng năm 1988 sẽ không thể nào quên được với nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Cuộc tấn công xảy ra ở miền Bắc Iraq. Nó được mang tên là cuộc thảm sát ngàn người. Hàng ngàn người đã phải nằm xuống. Dã man hơn, các nhà độc tài chiến tranh không chỉ sử dụng một mà nhiều loại chất độc hóa học khác nhau bao gồm: khí mù tạt, chất độc thần kinh sarin, tabun, VX và có thể có chất độc toàn thân cyanua. Cuộc chiến diễn ra tại thành phố Halabja của Iraq và đó là một cuộc nội chiến tranh giành quyền lực tại quốc gia gắn với giếng dầu này. Kết quả, có khoảng 5.000 người chết và rớt nước mắt vì 75% là phụ nữ và trẻ em.

Chiến tranh, mục tiêu của nó là thảm sát lẫn nhau để giành chiến thắng cho các bên tham chiến. Nhưng các hiệp ước nhân đạo đã nói rõ, chiến tranh chỉ được phép tấn công và tiêu diệt vào các lực lượng quân sự đối đầu. Hay nói một cách khác, nó không được phép tiến công vào thường dân vô tội. Nhưng tiếc thay, vũ khí hóa học sử dụng lại không phân biệt được đâu mới là đối tượng tác chiến. Vì thế, hàng nghìn người dân, trong đó có cả người già, trẻ em, phụ nữ, những cá thể không có khả năng chống đỡ trên thế giới đã phải bỏ mạng và nằm xuống vì những cuộc chiến đẫm máu. Đó là các cuộc chiến thực sự phi nghĩa.

Hiệp ước Cấm phổ biến vũ khí hóa học đã được thực thi thông qua năm 1993 trên toàn thế giới. Nhưng dường như người ta cố tình bỏ qua quyền sống của con người. Vì thế gần đây, trong những ngày tháng 8 này, tại quốc gia Syria bé nhỏ, sự hiện diện của một loại vũ khí được cho là vũ khí hóa học làm 1.300 người thiệt mạng tại phía Đông thành phố Damascus của Syria đã dấy lên sự lo ngại của cộng đồng thế giới. Những người yêu chuộng hòa bình thế giới đang lo sợ về một viễn cảnh màu xám nhuốm màu đỏ của máu và màu xám của chiến tranh tàn sát mang tên vũ khí hóa học.

(Theo Organization For The Prohibition of Chemical Weapons)     

BS. Châu Văn Tú

Chất béo (Lipid) trong khẩu phần ăn hàng ngày của con người giữ một vai trò quan trọn. Vì vậy hiểu biết về chất béo để sử dụng hợp lý là rất cần thiết nhằm đảm bảo sức khỏe và tránh cho cơ thể gặp những “rắc rối” do chất béo mang lại. 
 
Chất béo có vai trò tham gia vào cấu trúc cơ thể. Ở người trưởng thành, có khoảng 18-24% trọng lượng cơ thể là chất béo. Chất béo là chất thiết yếu, có mặt ở màng tế bào và các màng nội quan của tế bào như nhân và ti thể, vì vậy đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động sống của tế bào. Chất béo cũng có vai trò trong dự trữ năng lượng, điều hòa hoạt động, bảo vệ cơ thể trước những thay đổi về nhiệt độ…
Các nghiên cứu về dinh dưỡng cơ bản khẳng định chất béo trong khẩu phần ăn của con người có 2 vai trò chính là cung cấp năng lượng và hấp thu vận chuyển các vitamin tan trong dầu mỡ. Đậm độ năng lượng của chất béo cao nhất trong các chất sinh năng lượng. 1 gram chất béo khi đốt cháy trong cơ thể cung cấp 38kj, tương ứng với 9kcal, gấp hơn 2 lần so với chất đạm (Protein) và chất đường bột (Glucid). Chất béo là dung môi vận chuyển (carrier) các vitamin tan trong dầu mỡ (như vitamin A, D, E và K). Các vitamin này vào cơ thể một phần lớn phụ thuộc vào hàm lượng của chất béo trong thực phẩm. Điều đó có nghĩa là khi lượng chất béo trong khẩu phần ăn thấp sẽ dẫn đến giảm hấp thu các vitamin này. Điều này làm cho chất béo trở nên quan trọng hơn vì các vitamin tan trong dầu có vai trò quan trọng đối với các chức năng thị giác, khả năng đáp ứng miễn dịch, tạo máu, tăng trưởng và chống lão hóa,… Trong chế biến thực phẩm, chất béo có vai trò tạo hương vị thơm ngon, cảm giác no lâu.
Vai trò của chất béo đối với cơ thể người 1

 

Đơn vị cơ bản của chất béo là các acid béo. Về mặt cấu trúc, các acid béo được chia thành hai nhóm là acid béo no và acid béo chưa no. Các loại acid béo no thường gặp gồm acid palmitic, acid stearic, acid caprilic, chủ yếu nằm trong thành phần các mỡ động vật, có giá trị sinh học thấp hơn so với các acid béo chưa no. Các acid béo chưa no thường gặp gồm oleic, elaidic (1 nối đôi), linoleic (2 nối đôi), alpha linolenic (3 nối đôi) hoặc arachidonic (4 nối đôi). Các acid béo chưa no có 2, 3 hoặc nhiều hơn số mạch kép có hoạt tính sinh học mạnh nhất, như acid arachidonic có hoạt tính sinh học cao gấp 2-3 lần acid linoleic. Tuy nhiên, acid linoleic có thể chuyển thành acid arachidonic, vì vậy hàm lượng acid linoleic là tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá giá trị sinh học của chất béo. Vai trò của các acid béo chưa no rất quan trọng và đa dạng, đặc biệt là đối với các tổ chức não, tim, gan, các tuyến sinh dục. Hơn nữa, các nghiên cứu cũng cho thấy cơ thể có thể chuyển glucid và protein thành các acid béo no, nhưng lại không tổng hợp được các các acid béo chưa no mà chỉ được cung cấp qua các thức ăn như linoleic, linolenic và arachidonic.
Người ta thường dựa vào giá trị dinh dưỡng của chất béo để lựa chọn các chất béo có trong thực phẩm: hàm lượng các acid béo chưa no cần thiết (linoleic..), các vitamin (Vitamin A, D và E), các phosphatid (lecithin..), sterol (nhất là cytosterin), khả năng dễ tiêu hóa và tính chất cảm quan tốt. Trên thực tế, không có chất béo nào đáp ứng được đầy đủ các tiêu chí trên, chẳng hạn mỡ động vật giầu vitamin A, vitamin D nhưng lại nghèo về các acid béo chưa no, ngược lại, dầu thực vật có nhiều acid linoleic, phosphatid, tocopherol và cytosterol nhưng lại không có các vitamin A và D. Chính vì vậy sử dụng phối hợp chất béo động vật và dầu thực vật sẽ tạo ra sự cân bằng và đầy đủ các chất béo có giá trị sinh học cao.
Khả năng hấp thu và đồng hóa chất béo cũng là một điểm quan trọng cần chú ý khi lựa chọn chất béo. Quá trình này bắt đầu từ miệng với men lipase tham gia thủy phân triglycerid thành các acid béo và glycerol, sau đó dạ dày và ruột non thực hiện quá trình nhũ tương và phân giải với sự tham gia của các men, phân cắt các acid béo thành những phân tử có cấu trúc nhỏ để hấp thu vào máu và một phần được sử dụng như một nguồn năng lượng, một phần được đưa đến các mô mỡ để dự trữ, đến các tế bào để thay thế các acid béo của màng tế bào… Hiệu quả của quá trình đồng hóa và hấp thu phụ thuộc vào tính chất, đặc điểm của acid béo. Các chất béo dễ tan chảy thường sẽ hấp thu tốt, chất béo có nhiệt độ tan chảy thấp hơn thân nhiệt có độ đồng hóa 97%, trong khi đó các chất béo có độ tan chảy trên 400C thường sẽ được hấp thu kém hơn, các chất béo có độ tan chảy trên 500C chỉ hấp thu được khoảng 70-80%. Hấp thu chất béo cũng phụ thuộc vào tính cân đối và đặc điểm của acid béo có trong khẩu phần, ví dụ acid béo chưa no có nhiều mạch kép sẽ có hoạt tính sinh học cao, tuy nhiên tỷ lệ acid béo chưa no có nhiều mạch kép tốt nhất cũng chỉ là 10% trong tổng số acid béo thì khả năng hấp thu chất béo mới cao, vì khi tỷ lệ này vượt quá 15% thì quá trình đồng hóa sẽ giảm đi.

“Chất béo cần thiết cho sự phát triển của trẻ 7 tháng – 6 tuổi nhưng không vượt quá 50g mỗi ngày”.

Ở nước ta, Viện Dinh dưỡng Bộ Y tế đã khuyến nghị mức tiêu thụ chất béo hàng ngày cho người trưởng thành (chung cho cả nữ và nam) từ 18-25% tổng năng lượng khẩu phần. Có 3 nhóm đối tượng cần tiêu thụ nhiều chất béo hơn là trẻ em, phụ nữ có thai và cho con bú. Ở trẻ đang bú mẹ, vì 50-60% năng lượng ăn vào là do chất béo do sữa mẹ cung cấp, nên trẻ dưới 6 tháng được bú sữa mẹ hoàn toàn là đảm bảo đủ nhu câu chất béo. Nhưng nếu vì một lý do đặc biệt phải nuôi trẻ bằng thức ăn thay thế sữa mẹ, cần đảm bảo năng lượng chất béo tối thiểu đạt 40% tổng năng lượng cho lứa tuổi này. Với trẻ 6-11 tháng tuổi, tỷ lệ năng lượng chất béo cần đạt 40% và trẻ 1-3 tuổi cần đạt 35-40% năng lượng tổng số. Nếu tính theo trọng lượng chất béo nói chung, trong một ngày trẻ 7-11 tháng tuổi cần khoảng 35g, trẻ 12-36 tháng khoảng 55g và trẻ 4-6 tuổi khoảng 40g. Ở nhóm tuổi 12-36 tháng nhu cầu chất béo tăng lên cùng với việc không có hoặc giảm nguồn cung cấp từ sữa mẹ và chưa ăn được số lượng như trẻ lớn có thể làm tăng nguy cơ bị suy dinh dưỡng.

Xem thêm khám sức khoẻ định kỳ tại trung tâm CHAC.

TS.BS. Trương Hồng Sơn

Chó là một vật nuôi quen thuộc và gần gũi trong mỗi gia đình, trẻ có nhiều cơ hội để tiếp xúc, đùa giỡn với chúng nên nguy cơ bị chó cắn rất dễ xảy ra. Khi đó người lớn cần biết cách xử trí đúng cách, phù hợp vì trẻ rất dễ bị hoảng loạn khi bị chó cắn.

Cách xử trí khi trẻ bị chó cắn

– Đầu tiên, người lớn nên an ủi trẻ, nhẹ nhàng trấn an trẻ nhằm tránh cho trẻ bị hoảng loạn.

– Sau khi trẻ trấn tĩnh, cần phải xem xét ngay vết thương của trẻ (Vết thương xước da hay chảy máu? Vết thương có sâu và rộng hay không? Có bao nhiêu vết thương? Vết thương ở vị trí nào trên cơ thể của bé…) rồi tiến hành rửa vết thương bằng xà phòng dưới vòi nước mạnh ít nhất là 5 phút, kể cả vết thương chỉ trầy xước da. Chú ý rửa tay thật sạch trước và sau khi sơ cứu cho trẻ.

Làm gì khi trẻ bị chó cắn? 1

Rửa vết thương bằng xà phòng dưới vòi nước mạnh ít nhất là 5 phút

 

– Dùng dung dịch sát khuẩn (có thể là cồn 70o hoặc dung dịch iod) để sát trùng vết thương.

– Dùng miếng vải sạch phủ lên vết thương và băng hờ lại. Tránh băng kín vết thương.

Sau khi đã thực hiện các bước trên, cần đưa trẻ đến cơ sở y tế để được các bác sĩ kiểm tra và có chỉ định thích hợp.

Lưu ý: Nếu vết thương chảy máu nhiều, trẻ xanh tái, mệt,… phải đưa trẻ đến bệnh viện cấp cứu ngay.

Tiêm phòng cho trẻ

Nói chung, mọi trẻ bị chó cắn đều nên được tiêm phòng càng sớm càng tốt. Trẻ sẽ được tiêm vắc-xin phòng dại và tùy theo tình trạng vết thương cùng với tiền sử tiêm phòng uốn ván trước đây mà bác sĩ sẽ chỉ định tiêm phòng uốn ván cho trẻ. Ngoài ra, trẻ có thể được tiêm huyết thanh kháng dại nếu vết cắn nằm ở đầu, mặt, cổ, vết thương ở các vị trí có nhiều dây thần kinh như đầu ngón tay, đầu ngón chân, bộ phận sinh dục, vết thương sâu và nhiều.

 Phòng ngừa trẻ bị chó cắn

Để đề phòng trường hợp bị chó cắn, cha mẹ cần để mắt trông chừng trẻ, nhất là những bé ở độ tuổi chập chững biết đi. Không để trẻ đùa giỡn, kéo đuôi chó mèo. Đối với trẻ lớn, nên giáo dục trẻ biết cách tự bảo vệ bản thân, không đến gần súc vật lạ, không chọc phá súc vật nhất là khi chúng đang ăn hoặc đang ngủ. Cần tiêm phòng bệnh dại cho những vật nuôi thường tiếp xúc với trẻ như chó, mèo.

Xem thêm khám sức khoẻ định kỳ tại trung tâm CHAC.

Việt An

(Theo tài liệu của Bệnh viện Nhi đồng I)