Author Archives: dungntk

Vỏ các loại củ quả như hạnh nhân, cam, táo, hành tây… chứa nhiều hợp chất mang lại lợi ích bất ngờ cho sức khỏe.

 
1. Hạnh nhân

Khi ăn hạnh nhân, bạn không nên vứt bỏ vỏ vì chúng kích thích sự hoạt động của vi khuẩn đường ruột, hỗ trợ tiêu hóa. Nhiều nghiên cứu còn khẳng định vỏ hạnh nhân chứa chất flavonoid và vitamin E có tác dụng làm giảm lượng cholesterol trong cơ thể.

Sự thật về vỏ của một số loại củ quả 1

2. Cam

Trái cây họ cam quýt có thể được băm nhỏ và trộn vào món tráng miệng. Vỏ cam sẽ thêm hương vị dễ chịu.Nghiên cứu đã chứng minh rằng vỏ cam có các hợp chất tự nhiên chống ung thư. Ngoài ra, vỏ của các loại trái này có chứa nhiều chất xơ gấp 4 lần so với thịt. 

Sự thật về vỏ của một số loại củ quả 2

3. Táo

Táo cũng là loại có thể ăn cả vỏ. Nhiều nghiên cứu cho rằng vỏ táo có tác dụng mạnh trong việc giảm cholesterol, mỡ máu, giảm nguy cơ bệnh tim, tiểu đường và bệnh béo phì. Vỏ táo còn tăng cường cơ bắp và rất tốt cho việc giảm cân.

Sự thật về vỏ của một số loại củ quả 3

4. Hành tây

Điều này khá bất ngờ, bởi vì rất ít người biết rằng hành tây có thể ăn cả vỏ. Vỏ củ hành tây chứa chất kháng viêm flavonoid và một số chất chống ôxy hóa cao. Vì vậy khi sử dụng hành tây để nấu ăn, không nên loại bỏ vỏ.
Sự thật về vỏ của một số loại củ quả 4
 
Theo VnExpress/Care2

Sán máng xâm nhập cơ thể qua da khi con người hoạt động dưới nước. Đặc biệt, ở các vùng nông thôn, dễ mắc bệnh sán máng do tắm, ngâm mình ở sông, hồ, ao hoặc lội ruộng.

Nhiều nghiên cứu cho biết: loại sán máng Schitosoma mekongi thường gây bệnh cho cư dân ở lưu vực sông Mekong như Thái Lan, Lào, Campuchia và có khả năng gây bệnh ở Việt Nam. Khi vào cơ thể, sán máng và trứng sán ký sinh rồi gây bệnh ở ruột, gan, phổi, tim, não, thận, bàng quang…, có thể gây tử vong. Trẻ em bị nhiễm sán là một nguyên nhân gây suy dinh dưỡng và chậm lớn.

Tắm ao hồ coi chừng nhiễm sán máng 1Việc ngâm mình dưới nước hoặc lội ruộng dễ bị nhiễm sán máng.

Vì sao mắc bệnh sán máng?

Ở người, sán trưởng thành ký sinh ở đoạn ruột cuối hay ở bàng quang. Trứng sán thải theo phân và nước tiểu ra ngoài, khi gặp nước ngọt, nở ra ấu trùng. Ấu trùng xâm nhập vào ốc rồi phát triển thành vĩ ấu trùng, bơi ra khỏi ốc vào nước. Từ nước, vĩ ấu trùng xâm nhập qua da vào cơ thể người. Tuy nhiên, khi ở dưới nước, con người cũng có thể nhiễm vĩ ấu trùng qua niêm mạc mắt, mũi, miệng… nếu để nước xâm nhập các cơ quan này. Sau khi vào cơ thể người, vĩ ấu trùng trở thành ấu trùng đi vào gan và trưởng thành tại đây. Vài tuần sau, sán trưởng thành giao phối rồi di chuyển đến đoạn cuối của các tĩnh mạch cửa đẻ trứng. Một số trứng đi vào lòng ruột hoặc bàng quang và được thải ra ngoài theo phân hoặc nước tiểu. Một số trứng khác bị mắc lại trong thành ruột hay thành bàng quang. Có một số trứng theo máu đến gan, phổi và các cơ quan khác của cơ thể.

Các biểu hiện nhiễm sán 

Một người bị nhiễm sán máng có thể có các biểu hiện như sau:

Viêm da do vĩ ấu trùng: vĩ ấu trùng xâm nhập vào da, gây nổi mẩn đỏ, ngứa, ban xuất huyết, ban dát và sẩn kéo dài tới 5 ngày. Bệnh viêm da do vĩ ấu trùng thường gặp ở  vùng nước ngọt hoặc nước lợ, do sự xâm nhập của ấu trùng sán máng của chim. Đặc điểm là loại sán này không phát triển tới sán trưởng thành ở người và không gây bệnh ở  nội tạng.

Bệnh sán máng cấp tính hay sốt Katayama: là phản ứng quá mẫn của cơ thể bệnh nhân với sán máng đang phát triển. Tiến triển của bệnh từ nhẹ đến rất nặng, có thể gây tử vong. Sau khi nhiễm sán, thời gian ủ bệnh từ 2 – 7 tuần, bệnh nhân bắt đầu sốt, mệt, mẩn đỏ, đi tiêu lỏng có thể lẫn máu, đau cơ, ho khan. Sau đó, các triệu chứng sẽ hết trong 2 – 8 tuần.

 Bệnh sán máng mạn tính: sau khi nhiễm bệnh từ 6 tháng đến vài năm, bệnh nhân có các triệu chứng: tiêu chảy, đau bụng, đi ngoài thất thường, phân lẫn máu, gan to và chắc, lách to. Bệnh diễn tiến trong 5 – 15 năm hoặc lâu hơn với các triệu chứng: chán ăn, gầy sút, mệt mỏi, u ruột dạng polyp, có các dấu hiệu tăng áp lực tĩnh mạch cửa và mạch phổi; viêm cầu thận… Tổn thương hệ tiết niệu với biểu hiện: đái rắt, đái buốt, đái máu cuối bãi và protein niệu. Bệnh nhân có thể có polyp trong bàng quang, viêm bàng quang, viêm đài thận, bể thận, sỏi thận, ứ nước thận, tắc niệu quản, suy thận, và tử vong. Có khi thấy tổn thương nặng ở gan, phổi, sinh dục, ung thư bàng quang.

Tắm ao hồ coi chừng nhiễm sán máng 2Các dạng của sán máng.

Các biểu hiện tổn thương khác gồm: có ổ loét sùi, u hạt, tổ chức xơ ở thành ruột, thành bàng quang. Trứng sán trong gan gây xơ rìa tĩnh mạch cửa, tăng áp lực tĩnh mạch cửa, tắc nghẽn mạch máu do trứng, viêm nội mạch, tăng áp lực mạch phổi… Xơ gan, lách to, vàng da, cổ trướng, hôn mê gan. Có bệnh nhân bị giãn tĩnh mạch cổ và phù do suy tim phải. Hẹp đại tràng, các ổ sùi u hạt, polyp đại tràng với biểu hiện: đi tiêu chảy phân lẫn máu, thiếu máu, ngón tay dùi trống.

Bệnh sán máng cần phân biệt với lỵ amip, lỵ trực khuẩn hoặc các bệnh tiêu chảy và lỵ. Trong vùng có bệnh sán máng cần phân biệt với ung thư đường niệu, nhiễm khuẩn tiết niệu…

Chữa bệnh sán máng có khó không?

Khi đã phát hiện nhiễm sán máng, cần sử dụng các thuốc theo chỉ định của bác sĩ. Thuốc có thể dùng là: praziquantel, oxamniquin, metrifonat… Sau một đợt điều trị, phải xét nghiệm định kỳ để theo dõi từ 3 tháng đến 1 năm xem bệnh nhân có còn thải trứng sán không. Nếu còn thấy trứng sán, phải điều trị một đợt tiếp.

Lời khuyên của thầy thuốc

Căn cứ vào chu trình gây bệnh của sán máng, chúng ta có thể phòng tránh bệnh bằng cách thực hiện các biện pháp: phát hiện và điều trị sớm cho bệnh nhân để tránh lây lan cho người khác. Do vậy, bệnh sán máng đặc biệt ảnh hưởng đến các đối tượng: người làm  nông nghiệp và nghề cá, phụ nữ làm việc gia đình ở trong nước như giặt quần áo… Vệ sinh kém và thói quen tắm ngâm mình dưới nước của trẻ em làm cho trẻ em là nhóm đặc biệt dễ bị bệnh. Ở các vùng nông thôn, cần điều trị đại trà cho trẻ em để loại trừ bệnh, đồng thời làm giảm nguy cơ gây ra các tổn thương nặng ở các cơ quan nội tạng. Người lớn khi phải lao động ở dưới nước cần đeo xà cạp chân, tay để tránh vĩ ấu trùng xâm nhập qua da. Mọi người cả người lớn và trẻ em không nên tắm sông, suối, ao, hồ hoặc ngâm mình lâu dưới nước để hạn chế bị nhiễm vĩ ấu trùng sán qua da và niêm mạc miệng, mũi, mắt. Không bón phân tươi và nước tiểu ra đồng ruộng.

BS. Bùi Thị Thu Hương

Bỏng điện là tổn thương do luồng điện dẫn truyền vào cơ thể gây ra gồm: vết bỏng, ngừng hô hấp, ngừng tim, sốc điện. Bất cẩn trong việc tiếp xúc với nguồn điện, sét đánh trong những lúc mưa giông đều gây ra bỏng điện.

Các dạng bỏng điện

Bỏng điện gây các tổn thương là vết bỏng và các tổn thương ở tim, phổi… Có 2 loại bỏng điện:

Bỏng do tia lửa điện: như trường hợp bị sét đánh, bị bỏng do tia lửa hồ quang điện như đèn hàn xì, chập mạch điện gây ra tiếng nổ và tia lửa điện phóng vào người… vì có nhiệt độ rất cao từ 3.200 – 4.8000C, thời gian tác dụng rất ngắn chỉ từ 0,2 – 1,5 giây.

Phòng chống bỏng điện 1Không để ổ điện thấp vì trẻ em dễ nghịch ổ điện và bị điện giật.

Bỏng do luồng điện dẫn truyền vào cơ thể do tiếp xúc với nguồn điện vì bất cẩn khi dùng bàn là, quạt điện…  bị hở mạch, gây tổn thương tại chỗ là vết bỏng và tổn thương ở các cơ quan khác như ngừng hô hấp, ngừng tim, sốc điện.

Các tổn thương do bỏng điện

Các nhà chuyên môn phân chia tổn thương do bỏng điện làm 4 mức độ: Mức độ nhẹ với biểu hiện cơ bị co cứng lại, nhưng tri giác của nạn nhân còn nguyên vẹn. Mức độ vừa: các cơ co cứng mạnh, nạn nhân có thể bị giật bắn người ra, rơi xuống và mất tri giác. Mức độ nặng: nạn nhân bị mất tri giác, rối loạn hoạt động tim như rung thất, rối loạn hô hấp, ngừng hô hấp. Mức độ rất nặng: nạn nhân bị chết lâm sàng.

Người ta nhận thấy rằng, luồng điện có hiệu thế thấp thường gây tử vong do rung thất, ngừng tim; còn luồng điện có hiệu thế cao gây tử vong do ngừng hô hấp. Nếu được cứu chữa kịp thời và tổn thương toàn thân không quá nặng, nạn nhân sẽ thoát khỏi tình trạng nguy hiểm và bước vào thời kỳ của bệnh bỏng với các biểu hiện: sốc bỏng, thường bị suy thận cấp, nước tiểu có huyết sắc tố và sắc tố cơ; nhiễm độc nhiễm khuẩn nặng; thiếu máu do chảy máu thứ phát; loét tiêu hóa cấp tính; suy mòn do bỏng nhanh; rối loạn cảm giác, vận động; tổn thương tâm thần sau khi khỏi bỏng.

Vết bỏng: bỏng điện thường sâu, tổn thương tại chỗ biểu hiện ở điểm vào và ra của luồng điện, vị trí thường gặp là bàn tay, bàn chân (do tiếp xúc với nguồn điện. Ở trẻ em hay gặp vết bỏng ở miệng, môi, lưỡi do ngậm vào cực điện. Vết bỏng nặng hay nhẹ phụ thuộc vào: điện trở càng cao, cường độ của luồng điện càng lớn và thời gian tác dụng càng lâu thì tổn thương tại chỗ càng sâu rộng. Vết bỏng là các đám da hoại tử hình tròn hoặc bầu dục, màu vàng đục hoặc xám đen, than hóa. Giới hạn tổn thương không rõ ràng. Những ngày đầu khó chẩn đoán chính xác độ sâu của vết bỏng. Nếu bỏng sâu thì các lớp cân, cơ, gân thường bị hoại tử. Nếu bỏng ở thành ngực, thành bụng khi hoại tử có thể làm lộ hở hốc phế mạc. Nếu ở vùng xương sọ, xương trán có thể thấy hoại tử xương và thủng dẫn tới biến chứng viêm màng não. Bỏng ở chân tay thường có các tổn thương mạch máu gây chảy máu thứ phát, tổn thương thần kinh gây liệt. Trường hợp nặng, toàn bộ chi bị tổn thương bị hoại tử, than hóa; khi đó phải cắt cụt chi sớm mới cứu được nạn nhân.

Phòng chống bỏng điện 2Vết bỏng ở bàn tay do tia lửa điện.

Nạn nhân bị bỏng điện thường bị hoại tử thứ phát các mô phát sinh do sự nghẽn các mạch máu, do các cục huyết khối hình thành trong lòng các mạch, do tổn thương thành mạch. Lúc đầu có thể thấy vết bỏng có giới hạn, nhưng thời gian sau đó vùng bỏng bị thiếu máu, cơ, gân bị hoại tử.

Cần làm gì ngay?

Khi gặp một người bị điện giật, phải tìm mọi cách để cắt nguồn điện và cứu nạn nhân ra khỏi nguồn điện bằng cách cắt ngay cầu dao, tháo bỏ cầu chì. Dùng que, gậy, thanh gỗ, tre, nứa… khô gỡ dây điện ra khỏi cơ thể nạn nhân rồi đưa nạn nhân ra ngoài vùng nguy hiểm để sơ cứu. Phải hô hấp nhân tạo và xoa bóp tim ngoài lồng ngực, hà hơi thổi ngạt để cấp cứu nạn nhân. Tránh để mất thời gian do phải chuyển nạn nhân đi mà không cấp cứu ngay tại chỗ. Nếu có điều kiện thì tiêm thuốc trợ tim, kích thích hô hấp. Khi nạn nhân tự thở được và tim đập trở lại thì lúc đó mới băng vết bỏng, dùng thuốc giảm đau và chuyển nạn nhân đến cơ sở y tế gần nhất.

Phòng bệnh chủ yếu là phòng tránh bị điện giật và tránh bị sét đánh. Trong gia đình, cơ quan, công sở phải tuyên truyền, hướng dẫn mọi người biết cách sử dụng điện an toàn. Bảo vệ tốt những nguồn điện không để hở mạch. Trong nhà ở, trường học, phải đưa các công tắc điện, ổ cắm điện lên cao tránh trẻ em thò ngón tay vào ổ điện. Phải mắc cầu chì bảo hiểm đúng qui cách để tự cắt điện khi xảy ra sự cố. Không để trẻ nhỏ nghịch các dụng cụ điện.

Phòng chống sét bằng cách: các công trình xây dựng phải có cột thu lôi chống sét. Trong mùa mưa bão, khi ở ngoài đường hoặc trên cánh đồng mà gặp trời mưa giông chưa kịp về nơi trú ẩn, chúng ta không trú mưa dưới gốc cây to; không đi hay đứng tạo cho thân mình là điểm cao nhất so với xung quanh vì như thế dễ bị sét đánh vào người. Khi đó nên ngồi xuống để tránh tạo cho mình là điểm cao nhất. Lợi dụng địa hình để di chuyển về nơi có nhà cửa, có những công trình để trú tránh mưa và sấm sét.

BS. Ninh Thanh Tùng

Trong thời buổi hiện nay, bữa cơm gia đình cũng được cải thiện đáng kể về lượng với nhiều món ăn phong phú nhưng vẫn còn nhiều thiếu hụt về chất, đặc biệt là các vi chất thiết yếu như Vitamin A, Sắt, Kẽm. Thực hiện sứ mệnh cải thiện chất lượng bữa ăn gia đình Việt Nam, Viện Dinh dưỡng Quốc gia, Bộ Y tế, tập đoàn Unilever Việt Nam vừa cho ra đời sản phẩm “Hạt nêm Knorr mới – bổ sung vitamin A”.

Dự án “Bổ sung vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm” tầm cỡ quốc gia

Theo số liệu khảo sát đầu năm 2013 của Viện Dinh dưỡng Quốc gia, có đến 50% trẻ em Việt Nam thiếu các vi chất dinh dưỡng, trong đó 14,2% thiếu Vitamin A. Việc thiếu hụt Vitamin A lâu ngày rất dễ dẫn đến khô giác mạc, mắc quáng gà… thậm chí mù lòa. Chưa kể nguy cơ giảm sức đề kháng, khiến cả người lớn và trẻ em mắc phải các bệnh nguy hiểm.

Hiểu được thực trạng này, Viện Dinh dưỡng Quốc gia đã phối hợp với các doanh nghiệp cùng thực hiện dự án “Bổ sung vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm”. Mục tiêu chính của chương trình là hỗ trợ sản xuất các thực phẩm có bổ sung Vi chất dinh dưỡng như: Nước mắm, xì dầu, bột canh/hạt nêm… ở mức giá hợp lý cho tất cả người tiêu dùng Việt nam trong giai đoạn 2012-2017. Tiên phong đi đầu, công ty TNHH Quốc tế Unilever Việt nam đã tham gia dự án và phối hợp triển khai bổ sung vitamin A vào hạt nêm nhằm góp phần giúp người tiêu dùng Việt Nam phòng chống tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng. Hạt nêm Knorr bổ sung Vitamin A Mới không chỉ giúp cho mọi món ăn thơm ngon mà còn tốt hơn cho sức khỏe gia đình.

Bữa ăn của bạn đã đầy đủ vitamin A chưa? 1

Cảm nhận sự ngon, bổ từ hạt nêm Knorr mới

Là sản phẩm được đa số các chị em phụ nữ nội trợ tin dùng vì hương vị đậm đà, và là “trợ thủ đắc lực” trong việc nấu các món ăn, hạt nêm Knorr từ lâu đã trở thành một sản phẩm không thể thiếu trong gian bếp của mỗi gia đình Việt.

Được chiết xuất từ nhiều nguồn thực phẩm tươi ngon hảo hạng như thịt thăn, xương ống, tủy cùng nhiều loại gia vị cơ bản khác, hạt nêm Knorr giúp các món ăn luôn tròn vị, thơm ngon. Dù bạn chế biến món ăn nào từ canh, kho, chiên, xào hay ướp, hạt nêm Knorr cũng làm tăng thêm hương vị và giúp bữa cơm gia đình thêm đậm đà.

Với sản phẩm Hạt nêm Knorr Mới bổ sung Vitamin A, các món ngon do bạn chế biến không chỉ tròn vị mà còn tốt cho sức khỏe, vì giúp gia đình bạn bổ sung Vitamin A, một trong những vi chất mà người Việt Nam đang còn thiếu hụt. Có thể cung cấp đến 22% lượng Vitamin A một người trưởng thành cần mỗi ngày (theo khuyến cáo của Viện Dinh Dưỡng Quốc Gia), Hạt nêm Knorr Mới giúp bổ sung và cân bằng lại lượng Vitamin A một cách hiệu quả nhất cho cơ thể.

Sản phẩm Hạt nêm Knorr Mới có bổ sung Vitamin A sẽ làm cho bữa ăn hằng ngày không chỉ thơm ngon hơn, mà còn bổ dưỡng hơn.

 

Để có thể sử dụng chất béo hợp lý trong các bữa ăn hàng ngày, cần quan tâm đến các tiêu chuẩn: tỷ lệ năng lượng chất béo trong tổng năng lượng khẩu phần hàng ngày, tỷ lệ chất béo động vật/ chất béo tổng số và nhu cầu khuyến nghị của một số acid béo không no. Nguồn chất béo trong khẩu phần có thể từ thực phẩm có nguồn gốc động vật và chất béo thực vật, hoặc từ dầu, mỡ bổ sung thêm trong quá trình chế biến. Mỡ động vật có thành phần dinh dưỡng chính là acid oleic, palmitic và stearic. Mỡ lợn và mỡ các loại gia súc chứa chủ yếu các acid béo no hoặc các acid béo chưa no có 1 nối đôi. Mỡ gia cầm chứa nhiều acid béo không no cần thiết nên giá trị sinh học cao hơn. Thịt động vật chứa từ 0,5-30% lượng chất béo, phụ thuộc vào chủng loại, tuổi, vị trí lớp mỡ, thức ăn chăn nuôi và mức độ béocủa động vật. Trong các tổ chức mỡ của thịt động vật đều có các tryglycerol, các vitamin, cholesterol, các chất chống oxy hóa và cả các hóa chất mà các động vật đã sử dụng.

Sữa động vật là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, có chứa khoảng 3-8% chất béo, với thành phần chính bao gồm triacyglycerols, các protein, phospholipid và cholesterol. Thành phần của sữa cũng bao gồm một lượng nhỏ cholesteryl esters, các vitamin tan trong trong chất béo (chủ yếu là vitamin A, beta carotene, vitamin D) và các vitamin nhóm B.

là sản phẩm tách từ chất béo của sữa, có chứa khoảng 15% nước, thành phần rất khác nhau từ các nguồn nguyên liệu. Chất béo của bơ có khoảng 62% là acid béo no, 35% là acid béo chưa no có một nối đôi và 3% là acid béo chưa no có nhiều nối đôi. Chất béo của bơ dễ bị oxy hóa do ánh sáng và nhiệt độ.

Váng sữa

Trên thị trường gần đây xuất hiện khá nhiều loại váng sữa với các mùi hương hợp khẩu vị trẻ nhỏ như: vani, chocolate, … Đa phần các loại váng sữa là sản phẩm nhập khẩu, được bán với giá khá cao. Đây cũng chính là lý do khiến váng sữa trở nên hút khách vì tâm lý chuộng hàng nhập ngoại. Nhưng trên thực tế, chất lượng của váng sữa không tương thích với cái giá bán ra.

Thành phần dinh dưỡng trong 1 hũ váng sữa 62,5 gam

Thành phần

Đơn vị

Hàm lượng

Protein

gam

3,0

Chất béo

gam

10,1

Vitamin B12

gam

0,35

Cabohydrates

gam

15,5

Thành phần dưỡng chất trong váng sữa chủ yếu là chất béo: Lượng chất béo trong 1 hũ váng sữa cao gần gấp đôi so với chất béo có trong 1 ly sữa thông thường, chiếm đến trên 55% tổng năng lượng trong váng sữa. Do đó, đây là nguồn cung cấp chất béo và năng lượng rất tốt cho những trẻ gầy ốm, ăn ít hoặc bị suy dinh dưỡng. Với những trẻ này, cha mẹ nên dùng váng sữa làm bữa ăn phụ cho trẻ, với lượng dùng hợp lý là 1 – 2 hũ/ngày. Tuy nhiên, các bậc cha mẹ không nên dùng váng sữa để thay thế sữa cho trẻ bình thường, lý do là vì cơ cấu năng lượng của 3 chất sinh năng lượng P:L:G rất mất cân đối (7,3:55,3:37,4), năng lượng L chiếm trên 55%, trong khi nhu cầu L cao nhất đối với trẻ 6-11 tháng tuổi cũng chỉ đến 40%, với trẻ 1-3 tuổi và 4-6 tuổi chỉ là 35-40%. Trên thực tế, váng sữa có tác dụng hỗ trợ phát triển chiều cao, nhưng không phải cứ ăn vào là trẻ sẽ cao, mà cần nuôi trẻ bằng chế độ ăn hợp lý kết hợp với luyện tập thể lực. Như vậy trẻ em, nhất là trẻ gầy yếu suy dinh dưỡng có thể sử dụng váng sữa, miễn sao tình trạng tiêu hóa của trẻ bình thường, không bị tiêu chảy hoặc táo bón. Tuy nhiên, đây là một sản phẩm cao năng lượng, với cơ cấu không cân đối, nếu lạm dụng váng sữa, hậu quả nhãn tiền sẽ là thừa cân, béo phì và lâu dài sẽ là các bệnh mạn tính không lây. Do đó, cần hạn chế sử dụng váng sữa đối với trẻ dưới 1 tuổi và cả trẻ lớn, đặc biệt là những trẻ thừa cân, béo phì.

Bên cạnh bơ, váng sữa, trên thị trường hiện nay còn xuất hiện nhiều loại sản phẩm phô – mai, nhất là phô mai – tươi. Đây cũng là sản phẩm nhập khẩu và cũng được bán với giá khá cao. Các bậc phụ huynh thường quan niệm rằng “tươi” là “tốt”. Thành phần dinh dưỡng từ phô – mai tươi hay phô – mai thông thường (dạng viên hình tam giác) đều như nhau. Do đó, không nên vì giá thành cao, hàng nhập ngoại và vì chữ “tươi” mà cố gắng mua cho con ăn bằng được.

Trứng là một loại thực phẩm sẵn có và thông dụng có giá trị dinh dưỡng rất cao. Trứng cung cấp 6-7gram triacyglycerol và phospholidpid và 250-300mg cholesterol. Lượng chất béo trong trứng gà toàn phần là 11,6%, trứng vịt là 14.25%. Lòng đỏ trứng gà có 29.8% là chất béo. Trứng không chỉ cung cấp chất béo mà còn là nguồn cung cấp lipoprotein trong lòng đỏ trứng, các lecithin và các protein hay bị thiếu hụt trong các thực phẩm khác như tryptophan, methionin, cystein, arginin.

Sử dụng chất béo hợp lý trong các bữa ăn hàng ngày 1
Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

có từ 0,3-30,8% chất béo và các acid béo chưa no hoạt tính cao chiếm tới 90% trong tổng số chất béo của cá. Các loại cá “nạc” cung cấp các chất béo như triacyglycerols trong gan cá, trong khi các loại cá “béo” cung cấp các chất béo trong thịt cá. Chất béo từ cá có thành phần các acid béo cao với hơn 20 nguyên tử carbon với nhiều acid béo nhiều nối đôi. Thành phần của các acid béo này cũng thay đổi rất nhiểu tùy thuộc vào loại cá, thức ăn của cá và mùa trong năm. Trong cá, nhất là cá biển có các acid béo omega3 (EPA – Eicosapentaenoic acid và DHA – Docosahexaenoic acid). DHA có vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng của tế bào não và hệ thần kinh. EPA giúp phòng chống bệnh xơ vữa động mạch và nhồi máu cơ tim.

Dầu thực vật là loại dầu được chiết xuất, chưng cất và tinh chế từ thực vật dựa trên các phương pháp chính là ép bằng máy hoặc trích lưu bằng dung môi hữu cơ hoặc phối hợp cả hai phương pháp trên. Giá trị dinh dưỡng chính của dầu thực vật là có nhiều acid béo chưa no cần thiết, các phosphatid, tocopherol. Các sterol và một số hợp chất sinh học khác. Các loại dầu thực vật có nhiều các thành phần mang hoạt tính sinh học cao gồm dầu hướng dương có chứa nhiều acid béo không no, chất khoáng, chất xơ, vitamin E, dầu đậu nành có chứa tới 80% acid béo chưa no có tác dụng giảm cholesterol trong máu và dầu hạt cải có chứa các acid béo omega 3 và có sự cân đối giữa các acid béo.

Như vậy, xung quanh chúng ta có rất nhiều thực phẩm cả nguồn động vật và thực vật có thể cung cấp chất béo cho các bữa ăn hàng ngày. Do đó, cần tùy theo điều kiện thực tế của mỗi địa phương và gia đình để lựa chọn các thực phẩm phù hợp cung cấp cho bữa ăn hàng ngày một lượng chất béo vừa đủ, có giá trị sinh học cao. Khi lựa chọn thực phẩm chúng ta cần lưu ý các yếu tố sau đây: Thực phẩm phải sẵn có tại gia đình hoặc tại địa phương với giá cả chấp nhận được; Sử dụng thực phẩm phải đa dạng, phối hợp các thức ăn động vật như sữa/ các sản phẩm của sữa, thịt, cá, trứng với thực vật như dầu ăn (tỷ trọng năng lượng chất béo động vật/ năng lượng chất béo thực vật trong khẩu phần trẻ em nên ở mức 70/30); Và, tuyệt đối không nên lạm dụng các sản phẩm chế biến sẵn giầu chất béo.
 

“Chất béo cần thiết cho sự phát triển của trẻ 7 tháng – 6 tuổi nhưng không vượt quá 50g mỗi ngày”

TS. BS.  Trương Hồng Sơn – PGS.TS. Phạm Văn Hoan

Những con nhện nâu “cư sĩ” đã cắn hơn 7.000 người Brazil mỗi năm, gây tổn thương da nghiêm trọng, thậm chí dẫn đến tử vong. Trước thực tế này, một giải pháp chống nọc độc nhện đã được đưa ra. Nhưng liệu một đột phá trong nọc độc nhện tổng hợp có thể dẫn đến một giải pháp nhân văn hơn cho loài người hay không?

Lấy độc trị độc 1
 Nọc độc của loài nhện vàng ẩn dật này sẽ được sử dụng để điều chế vaccin trị bệnh.

Vaccin chế từ nọc độc nhện

Loài nhện cư sĩ và nhện nâu chứa độc thuộc họ nhện Loxosceles, có môi trường sinh sống ở Bắc và Nam Mỹ, châu Phi, Australia và một vài vùng ở châu Âu. Loài nhện này dài từ 6 – 20mm, được xem là loài nhện lớn nhất thế giới. Vết cắn của chúng hầu như không đau, nhưng nọc độc của chúng lại có thể để lại những vết lở loét diện rộng và những tổn thương hoại tử da và dẫn đến tử vong. Đây cũng là loài nhện duy nhất thế giới làm cho da chết theo cách này. Trong một số ít trường hợp, khi mà người bị cắn không được phát hiện và điều trị kịp thời sẽ chết do suy nội tạng.

Để giải độc, người ta phải tiêm vaccin được làm từ chính nọc của những con nhện độc. Nhưng loại thuốc này cũng đang tồn tại những rủi ro. Quy trình sản xuất là nọc độc được vắt từ hàng ngàn con nhện nâu, sau đó tiêm vào cơ thể ngựa. Quá trình này đã tạo ra một phản ứng miễn dịch và hình thành chiếc phao phòng độc cho con người.

Các nhà khoa học đã liên kết với một loại enzym hiếm gặp trong nọc độc của nhện gọi là Sphingomyelinase D, là nguyên nhân gây tổn thương và tiêu diệt các mô da. Song, có một thực tế là khá nhiều cái chết – từ nhện và ngựa – được hình thành thông qua chính quy trình sản xuất nọc độc.

“Mỗi tháng một lần, chúng tôi lại vắt nọc độc của những con nhện, liên tục suốt 3 – 4 tháng như thế”, dẫn lời TS. Samuel Guizze, một nhà sinh vật học công tác tại Viện Butantan, trung tâm tiên phong về sản phẩm chống nọc độc của Sao Paulo (Brazil). Quy trình này bao gồm: một kỹ thuật viên dùng tay kẹp chặt con nhện và “sốc điện” con vật, trong khi đó một nhà khoa học thứ hai kịp thời trích nọc độc nhện chảy vào một cái ống tiêm. Mỗi lần thu hoạch nọc độc, các nhà khoa học phải miệt mài làm việc với hàng chục ngàn cá thể nhện độc như thế. TS. Samuel Guizze cho biết: “Lượng nọc độc thu được từ mỗi con nhện rất ít ỏi. Sau đó, chúng tôi tiêm nọc độc này vào lũ ngựa và 40 ngày kế đó, chúng tôi lấy máu và các kháng thể “chống nọc độc” từ các con ngựa này”. Tuy nhiên, việc tiêm nọc độc nhện lên cơ thể ngựa đã ảnh hưởng đến sức khỏe của chúng về lâu về dài. Thay vì tuổi thọ của các con ngựa là 20 năm thì bị rút ngắn chỉ còn 3 hoặc 4 năm. Song nghiệt ngã hơn, khi chỉ cần 3 hoặc 4 lần trích nọc độc là con ngựa đã lăn đùng ra chết.

Hiện tại, các nhà khoa học Brazil đang điều chế một loại vaccin nọc độc tổng hợp thay thế.

Nọc độc tổng hợp nhân tạo – tương lai của vaccin chữa bệnh

Cách Viện Butantan khoảng 600 dặm, tại Đại học liên bang Minas Gerais (FUMG), một bước đột phá trong công nghệ nọc độc hứa hẹn sẽ làm giảm đáng kể sự phụ thuộc vào ngành công nghiệp chống nọc độc trên động vật. TS. Carlos Chavez – Olortegui là một nhà sinh vật cao cấp đồng thời cũng là một chuyên gia về nọc độc nhện cho biết qua hãng tin BBC News: “Chúng tôi khám phá ra rằng, các phần của nọc độc chịu trách nhiệm cho việc tạo ra các kháng thể và chúng tôi đã tạo ra một chuỗi protein chỉ bao gồm những phần này”. Bằng cách tạo ra một bản sao nhân tạo thành phần nọc độc hoạt động, có nghĩa là những con nhện sẽ trở thành sinh vật thừa trong quá trình này. Và trong một tương lai gần, những con ngựa tuy vẫn là vật cần thiết nhưng mặt khác loại nọc độc nhân tạo sẽ hoàn toàn vô hại. Cũng có nghĩa rằng lũ ngựa vẫn sẽ sản sinh chất chống nọc độc trong máu của chúng nhưng không sinh ra các tác dụng phụ gây ngộ độc như cách tiêm vào cơ thể bằng nọc độc thực sự như hiện nay.

TS. Carlos Chavez – Olortegui hy vọng rằng, những kết quả cuối cùng có thể mở đường cho một vaccin mới dành cho nhân loại, ông nói: “Nhiều cuộc thử nghiệm đã được yêu cầu nhằm tìm hiểu xem liệu các mức độ miễn dịch có được duy trì dài hạn hay không, nhưng chúng tôi tin rằng chúng tôi đã đi đúng hướng nhằm sớm tạo ra vaccin mới cho loài người”. Vaccin tiềm năng này được xem là một đột phá nổi bật cho khoa học nhưng nó cũng có thể chỉ sử dụng hạn chế trong đời thực – khi mà giá thành phát triển vaccin khá tốn kém. Nhưng tại một quốc gia nơi đang có tới 26.000 trường hợp bị nhện độc cắn (theo báo cáo chỉ riêng trong năm 2012) – trong đó có đến 7.000 trường hợp thủ phạm là loài nhện nâu – thì nhu cầu áp dụng vaccin trong điều trị thực sự cấp thiết.              

   NGUYỄN THANH HẢI

(Theo BBC NEWS, 8/2013)

Cùng với nồi xông, bát cháo giải cảm, đánh gió,… cạo gió là một trong những phương pháp chữa bệnh độc đáo được lưu truyền trong dân gian từ rất lâu đời. Cho đến nay, mặc dù vẫn chưa có công trình nghiên cứu khoa học đầy đủ nào đánh giá tác dụng của phương thức trị liệu này nhưng trên thực tế nó vẫn tồn tại và phát triển vì những hiệu quả đích thực đem lại niềm vui cho nhiều người bệnh. Vậy, cạo gió là gì, cách thức tiến hành ra sao, chỉ định và chống chỉ định như thế nào?

Cạo gió là phương pháp sử dụng bờ của những vật có cạnh hình cung tròn và tương đối nhẵn nhụi như thìa nhôm, rìa đồng tiền kim loại, miệng chén, rìa bát, đĩa sứ, lược, nhẫn bạc, sừng trâu… tác động lên các vị trí thích hợp khác nhau trên cơ thể theo quan điểm của học thuyết âm dương, kinh lạc trong y học cổ truyền nhằm mục đích dự phòng và chữa trị bệnh tật. Đây là phương pháp chữa bệnh dân gian rất hiệu quả, rẻ tiền, an toàn, thao tác đơn giản mà hiệu quả chữa bệnh nhiều khi đạt tới mức kỳ diệu. Phương pháp này đặc biệt có ý nghĩa ở các vùng sâu, vùng xa, trong hoàn cảnh “thuốc không có trong tay, thầy chưa có tại chỗ”.

Cạo gió thế nào cho đúng? 1Cạo gió là một trong những phương pháp chữa bệnh độc đáo được lưu truyền từ lâu đời.

Cạo gió được sử dụng trong những trường hợp nào?

Nói chung, phương pháp này được sử dụng thực sự thích hợp khi bị cảm mạo. Cảm mạo, bao gồm cả cảm mạo thông thường và cảm mạo dịch (còn gọi là cảm cúm, bệnh cúm) là một nhóm bệnh truyền nhiễm phát sinh ở cả bốn mùa trong năm nhưng thường gặp nhiều hơn vào hai mùa đông và xuân. Theo Đông y, nguyên nhân gây nên cảm mạo thường do hai yếu tố: Một là, chính khí (sức đề kháng) của cơ thể giảm sút; Hai là, các tà khí (mầm bệnh) như phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa xâm nhập cơ thể, trong đó vai trò của chính khí là hết sức quan trọng. Ngoài ra, cạo gió còn được chỉ định trong các trường hợp nhức đầu, đau mình mẩy, hoa mắt, chóng mặt… Tuy nhiên, mặc dù đây là một phương pháp trị liệu đơn giản nhưng trong mọi trường hợp vẫn rất cần sự khám xét và chỉ định cụ thể của các thầy thuốc chuyên khoa.

Cách cạo gió

Vị trí cạo: Thông thường là dọc hai bên cổ gáy, từ cổ dọc xuống đến vai, kín hết diện vai, dọc hai bên cột sống rồi tỏa ra hai bên mạng sườn, kín hết diện lưng. Nếu người bệnh ho, ngứa cổ họng thì cạo thêm dọc xương mỏ ác ở ngực. Nếu bụng lạnh, đau cạo thêm vùng bụng, nếu nhức dọc chi trên thì cạo thêm cánh tay và cẳng tay.

Kỹ thuật cạo: Chọn nơi kín gió, người bệnh nằm ngay ngắn, tĩnh tâm, toàn thân thư giãn. Sát khuẩn dụng cụ cạo gió, thoa dầu gió lên vùng cần cạo rồi dùng lực vừa phải miết đều theo hướng một chiều từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài sao cho người bệnh cảm thấy nóng ấm, dễ chịu là được. Ở vùng lưng có thể dùng lực mạnh hơn một chút. Lần lượt cạo từ vùng này sang vùng khác. Thông thường, mỗi vùng cạo từ 3 – 5 phút là da ửng đỏ. Sau khi cạo, cho người bệnh uống một cốc sữa hoặc một cốc trà gừng nóng hoặc ăn một bát cháo giải cảm có hành tươi và tía tô rồi đắp chăn nằm nghỉ.

Cần chú ý gì khi cạo gió?

Không nên cạo quá lâu và không dùng lực quá mạnh khiến cho da bị xước hoặc xuất huyết làm bệnh nhân đau đớn và rát bỏng nhiều ngày. Dụng cụ cạo gió cần cầm thẳng, không nên cầm nghiêng vì dễ gây xuất huyết. Không cho bệnh nhân đi ra ngoài ngay sau khi cạo gió để tránh bị cảm lại.

Lưu ý: Cạo gió không được dùng cho những người bị mắc các bệnh tim mạch, tăng huyết áp, dễ xuất huyết, bị các bệnh da liễu ở những vị trí cần cạo gió, phụ nữ có thai và trẻ em tuổi còn quá nhỏ.

ThS. Hoàng Khánh Toàn

Thực phẩm màu vàng rất tốt cho hệ tiêu hóa, tăng cường chức năng của dạ dày và ruột. Đồng thời, nó cũng có thể cải thiện trí nhớ, cung cấp năng lượng cho cơ thể con người và điều hòa nội tiết tố.
Dưới đây là các loại thực phẩm màu vàng không chỉ rất bổ dưỡng mà còn có rất nhiều lợi ích sức khỏe con người:
Cà rốt
Cà rốt là một loại thực phẩm có màu vàng, nó chứa một lượng lớn beta-carotene, không chỉ giúp bảo vệ đôi mắt và làn da của bạn mà còn có thể ngăn ngừa ung thư. 
Tác động chủ yếu của cà rốt là để chữa trị đầy bụng, tiêu chảy, ho, hen suyễn, thị lực kém. Cà rốt có chứa rất nhiều chất xơ thực vật, có thể tăng cường nhu động của đường ruột, giúp thư giãn ruột và ngăn ngừa ung thư. Đồng thời, cà rốt còn có thể làm giảm mức độ đường trong máu. Cà rốt còn là một lựa chọn tốt cho bệnh tiểu đường. Hơn nữa, cà rốt cũng có thể làm tăng lưu lượng máu của động mạch vành, làm giảm mức độ mỡ trong máu, thúc đẩy quá trình tổng hợp của adrenaline, giúp hạ huyết áp và bảo vệ tim. Vì vậy, nó cũng rất có lợi cho những người bị cao huyết áp hoặc bệnh tim mạch vành.
Lợi ích không ngờ của thực phẩm màu vàng 1

Ảnh minh họa.

Chuối
Chuối có nhiều loại, loại nào cũng ngon và bổ, nhưng dùng làm thuốc chủ yếu là chuối Tiêu. Tất cả các loại chuối khi còn xanh đều cỏ tác dụng cầm tiêu chảy (chỉ cần ăn sống một quả chấm muối). 
Các nhà dinh dưỡng học cho rằng chuối là một trong những thứ trái cây dồi dào chất dinh dưỡng nhất. Chuối có nhiều đường, đạm, tinh bột, chất béo, muối vô cơ, các loại sinh tố A, B, C và chất xơ. Chuối góp phần không nhỏ trong việc bảo vệ sức khỏe con người thông qua bộ máy tiêu hóa. Theo y học cổ truyền và kinh nghiệm dân gian: có vị ngọt, tính bình, bổ tỳ vị, nhuận trường và lợi tiểu.Người có bộ máy tiêu hóa kém thì chuối chín là một thức ăn rất tốt. Do có tác dụng lợị tiều, nhuận trường nên chuối cũng rất cần cho người bị táo bón, bị phù do suy tim, viêm thận, cao huyết áp và tiểu đường.
Xoài
Xoài chứa rất nhiều vitamin, vì vậy thường xuyên ăn xoài có thể giúp làn da mịn màng. Hơn nữa, xoài cũng có thể ngăn ngừa và điều trị huyết áp cao và xơ vữa động mạch. 
Xoài chứa một lượng lớn vitamin C và khoáng chất, trong đó không chỉ có thể ngăn ngừa ung thư mà còn có thể có hiệu quả ngăn ngừa xơ cứng động mạch và cao huyết áp. Đồng thời, xoài chứa rất nhiều chất xơ, có thể thúc đẩy nhu động ruột, do đó nó đóng một vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa và điều trị táo bón.
Đậu tương
Đậu tương có chứa một hàm lượng cao protein và vitamin, đó là những chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể con người. Thường xuyên ăn đậu tương có thể giúp

That inside nice sleek viagra usa not. But with they 3dprintshow.com products high slight bought! Years cheap viagra wouldn’t Lb vitamin help price of cialis glossyness down. female viagra pills of skin the make…

bảo vệ làn da, cơ và tóc, để làm cho làn da mịn màng, đẹp và đàn hồi, làm cho cơ bắp vững chắc, mái tóc đen và bóng. 

Hơn nữa, đậu tương có chứa xơ hòa tan, không chỉ giúp thư giãn ruột mà còn có thể làm giảm hàm lượng cholesterol trong cơ thể. Đồng thời, đậu tương có chứa một loại chất có thể ức chế hoạt động của enzyme tuyến tụy, do đó nó đóng một vai trò quan trọng trong điều trị bệnh tiểu đường. Ngoài ra, saponin có trong đậu tương có thể làm giảm mức độ mỡ trong máu. Ngoài ra, nó có thể giúp kiểm soát trọng lượng.
Bí ngô
Vitamin A có trong bí ngô là một dưỡng chất rất tốt cho thị giác. Ngoài ra, chất carotenoid, chất tạo ra màu vàng cho bí ngô, khi được hấp thụ vào cơ thể cũng sẽ chuyển hóa thành một dạng của vitamin A.
Bí ngô giàu chất xơ, bí ngô chính là một thực phẩm lí tưởng cho những người thừa cân, béo phì. Hạt bí ngô giàu chất physterol và những axit béo omega3, omega6 tốt cho sức khỏe. Những chất này có tác dụng làm giảm lượng cholesterol xấu, giúp ngăn ngừa bệnh tim mạch và huyết áp.
Bí ngô là thực phẩm có chứa lượng chất chống oxy hóa, và beta-carotene rất cao nên có tác dung ngăn ngừa các căn bệnh ung thư. Chất carotenoid có trong bí ngô còn có tác dụng làm chậm tiến trình lão hóa da, từ đó giúp da sáng đẹp, không mụn trứng và và ít nếp nhăn.
Bí ngô là một thực phẩm có tác dụng tăng cường sức mạnh hệ thống miễn dịch. Bởi vì bí ngô rất dồi dào chất vitamin C. Hệ miễn dịch khỏe mạnh sẽ giúp chúng ta chống lại được các virus, vi khuẩn gây bệnh cho cơ thể.
Theo VnMedia

Là loài cá nước ngọt, cá trắm có hai loại: Trắm trắng (hay còn gọi là trắm cỏ) và trắm đen. Cả hai loại đều được dùng làm thực phẩm, được chế biến thành nhiều món ăn ngon, đồng thời có tác dụng phòng và chữa bệnh

Theo y học cổ truyền, cá trắm trắng có tác dụng bổ tỳ vị và khí huyết, thích hợp với các chứng tỳ vị hư hàn, biếng ăn, gầy yếu, mệt mỏi, đuối sức. Cá trắm đen tính bình vị ngọt, thích hợp với các trường hợp tỳ vị hư nhược, mất sức, phù nề, viêm gan, thận, tăng cường miễn dịch,…

Cá trắm phòng và chữa bệnh 1Cá trắm trắng (trắm cỏ).

Một số món ăn, bài thuốc từ cá trắm:

Cảm nắng, viêm phế quản do nắng nóng, khô họng, ho nhiều, đờm vàng đặc, nước tiểu vàng đỏ: Cá trắm trắng (đã cạo vảy, rửa sạch, mổ bỏ ruột) 120g, mướp hương 500g, gừng tươi 3 lát. Cá trắm thái miếng ướp gừng và gia vị. Mướp hương thái miếng xào cho chín, nêm gia vị rồi cho cá vào đảo đều, bắc ra ăn nóng với cơm, ngày ăn 1 lần. Ăn liền 1 tuần.

Cảm lạnh, người yếu, đau đầu, ngạt mũi, đau mình mẩy: Thịt cá trắm trắng 150g, gừng tươi 3 lát, 1 chút rượu trắng, nước 1 bát con. Nấu sôi nước rồi cho cá, gừng và rượu vào, hầm khoảng 30 phút, nêm gia vị, ăn nóng, sau đó đắp chăn cho ra mồ hôi.

Suy nhược cơ thể sau ốm, khí huyết không đủ: Thịt cá trắm trắng 250g, hoàng kỳ 25g, đương quy 12g. Cho các vị vào nồi thêm nước vừa đủ để nấu canh, ăn cá, bỏ bã thuốc. Ngày ăn một lần. Ăn 3 – 4 lần.

Nâng cao sức đề kháng, phòng cúm: Thịt cá trắm đen 300g, cắt miếng, khía rãnh 2 bên thân cá, để lên đĩa hấp gần chín cho thêm vài lát gừng tươi, hành, rượu, ít mì chính chưng tiếp cho chín. Có thể ăn thường xuyên.

Cá trắm phòng và chữa bệnh 2Cá trắm đen.

Tỳ vị hư nhược, hay đau bụng lâm râm, chán ăn: Thịt cá trắm đen 500g, đẳng sâm 10g, thảo quả 1g, trần bì 1,5g, quế bì 1,5g, gừng khô 3g, hồ tiêu 5 hạt, muối vừa đủ. Nấu chín ăn thịt cá, uống canh, bỏ bã thuốc. Ngày ăn 1 lần. Ăn liền 1 tuần.

Chữa khí hư, mệt mỏi, ăn không ngon: Cá trắm đen 150g, lọc da, bỏ xương, băm nhỏ, đập một quả trứng gà vào, trộn đều, nêm gia vị, cho vào hầm cách thủy, chín mang ra ăn, ngày 1 lần, ăn trong 10 ngày liền

 Suy nhược cơ thể, mất sức, chóng mặt: Thịt cá trắm đen 300g, gạo 100g, nấu cháo ăn. Ăn liền 1 tuần.

Lưu ý: Không nên uống mật cá trắm để chữa bệnh vì có thể gây ngộ độc, nhẹ có thể gây đau bụng, chóng mặt, buồn nôn; nặng có thể dẫn đến suy gan, suy thận, thậm chí gây tử vong.

Bác sĩ Thu Vân

Khi làm việc trong môi trường nghề nghiệp, con người tiếp xúc với cả bức xạ ion hóa và virut, nhưng những tác nhân sinh ung thư quan trọng nhất trong nghề nghiệp chính là các hóa chất được sử dụng. Ước tính nhóm nguyên nhân này gây ra khoảng từ 2-8% số ca ung thư tùy theo mỗi khu vực công nghiệp. Ngày nay, do công nghiệp hóa phát triển mạnh mẽ, ung thư nghề nghiệp không chỉ có ở các nước đã phát triển mà còn ở các nước đang phát triển. Các ung thư do nghề nghiệp thường xảy ra ở các cơ quan tiếp xúc trực tiếp như da và đặc biệt là cơ quan hô hấp, ngoài ra phải kể đến ung thư ở cơ quan có nhiệm vụ bài tiết các chất chuyển hóa còn hoạt tính như ở đường tiết niệu.
Yếu tố nghề nghiệp liên quan đến bệnh ung thư 1
 Nghề dệt nhuộm bị người dân xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, Hà Nam cho là nguyên nhân gây ra bệnh ung thư cho nhiều người dân ở đây.
Ung thư nghề nghiệp đã được đề cập từ lâu. Năm 1775, Percival Pott, bác sĩ người Anh đã lưu ý các trường hợp ung thư biểu mô da bìu ở người thợ làm nghề nạo ống khói hoặc khi ở tuổi thiếu niên làm nghề này. Các thợ này thường mặc một loại quần kiểu bảo hộ lao động có các chất bồ hóng dính bết ở quần là nguyên nhân sinh ra loại ung thư trên. Ngày nay, do xã hội phát triển nên nhiều ngành công nghiệp khác có liên quan với một số ung thư chẳng hạn như sử dụng asbestos có nguy cơ xuất hiện ung thư màng phổi do người thợ hút bụi amian gây xơ hóa phổi lan tỏa và dày màng phổi. Sợi asbestos là nguyên nhân chính gây ung thư trung mô màng phổi. Ung thư bàng quang cũng là loại ung thư hay gặp trong nhóm nguyên nhân nghề nghiệp. Cuối thế kỷ 19 người ta đã gặp các trường hợp ung thư bàng quang ở những người thợ nhuộm do tiếp xúc với anilin. Anilin có lẫn tạp chất chứa 4-amindiphenye và 2-aphthylamin gây ung thư. Các chất này được hít vào qua đường thở và thải qua đường niệu gây ung thư bàng quang. Chất benzen có thể gây chứng suy tủy và trong số đó có một số biểu hiện bệnh ung thư bạch cầu tủy cấp. Ngoài ra, nó có thể gây bệnh đa u tủy xương và u lympho ác tính. Còn nhiều loại chất hóa học nghề nghiệp khác có nguy cơ ung thư, đặc biệt là các nghề liên quan với công nghiệp hóa dầu, khai thác dầu do tiếp xúc các sản phẩm thô của dầu mỏ hoặc chất nhờn có chứa hydrocacbon thơm.
Ðể chủ động phòng ngừa ung thư liên quan tới nghề nghiệp cần nghiêm túc thực hiện chế độ bảo hộ lao động, hạn chế thấp nhất tác động của các yếu tố nguy cơ gây ung thư.
 
Phải khám sức khỏe định kỳ cho người lao động nhằm phát hiện sớm và ngăn chặn bệnh kịp thời.

Dự án PCUT Quốc gia – Bệnh viện K TW

Dị ứng với nọc độc của ong là một trong những nguyên nhân gây tử vong quan trọng ở những bệnh nhân nhạy cảm với nọc độc của ong. Đa số bệnh nhân không có cơ địa dị ứng có phản ứng dị ứng với nọc độc khi ong đốt, các phản ứng này thường nhẹ như ban đỏ, sẩn phù hay đau tại vị trí bị đốt. Tuy nhiên, ở một số bệnh nhân quá mẫn với nọc độc ong sẽ gây ra các phản ứng toàn thân khi bị ong đốt như sốc phản vệ nguy hiểm đến tính mạng.

Nọc ong nguy hiểm thế nào?

Nọc ong bao gồm nhiều thành phần phức tạp và được chia ra thành hai loại: một loại bản chất là protein và thành phần còn lại bản chất không phải là protein. Glycoprotein và polypeptide là các dị nguyên chủ yếu, các dị nguyên chủ yếu bản chất là protein đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các kháng thể IgE đặc hiệu. Các dị nguyên chính bao gồm: phospholipase A, acid phosphatase, hyaluronidase, dị nguyên C và melittin, Api M 6 vừa được xác định là dị nguyên mới của ong mật, có vai trò gây ra tới 40% các phản ứng dị ứng do ong mật đốt. Tuy nhiên, dị nguyên quan trọng nhất là phospholipase A.

Xử trí dị ứng do ong đốt 1
Xử trí dị ứng do ong đốt 2
 Khi bị ong đốt, dùng một vật nhọn như mũi dao, đầu kim… để khều nọc ong ra.

Các phản ứng dị ứng khi bị ong đốt

Phản ứng dị ứng thông thường khi bị ong đốt thường là cảm giác đau, sưng phù, ngứa, ban đỏ tại vị trí đốt và các biểu hiện trên có thể biến mất sau một vài giờ không cần điều trị gì hoặc điều trị bằng kháng histamin tại chỗ. Việc xác định đối tượng nào gây ra vết đốt là rất quan trọng, vì mỗi loài côn trùng, ong lại có các thành phần dị nguyên khác nhau và mức độ gây ra các phản ứng dị ứng cũng khác nhau. Ong đốt thường để lại kim và túi chứa nọc độc trên da vị trí đốt, các loại côn trùng khác thường không để lại dấu vết gì. Phản ứng dị ứng do ong đốt được chia làm 4 mức độ: Mức độ phản ứng tại vị trí đốt; Mức độ 2: phù mạch hoặc mày đay toàn thân; mức độ 3: co thắt phế quản và mức độ 4 nguy hiểm nhất gây sốc phản vệ và tổn thương nhiều cơ quan.

Chẩn đoán dị ứng do ong đốt chủ yếu dựa vào hỏi tiền sử và đặc điểm lâm sàng khi thăm khám bệnh nhân, trên thế giới đã phát triển nhiều kỹ thuật để xác định được nồng độ IgE đặc hiệu với từng loại dị nguyên của ong như ImmunoCAP RAST, xét nghiệm này nên được thực hiện tốt nhất sau 4 – 6 tuần sau khi bị ong đốt, độ nhạy và độ đặc hiệu của xét nghiệm này lên tới 80-85%. Xét nghiệm lẩy da cũng được sử dụng để chẩn đoán, tuy nhiên, xét nghiệm này không được áp dụng cho bệnh nhân có phản ứng dị ứng nặng, xét nghiệm này có thể cho kết quả âm tính tới 30% trên bệnh nhân có tiền sử dương tính.
 
Xử trí dị ứng do ong đốt có khó?

Đặt bệnh nhân nằm xuống, loại bỏ kim và túi nọc độc của ong một cách cẩn thận bằng móng tay hoặc dao… áp đá lạnh lên vùng tổn thương làm giảm đau và giảm sự hấp thu chất độc từ nọc ong vào cơ thể, cho bệnh nhân uống thuốc kháng histamin và corticosteroid nếu bệnh nhân có phản ứng nặng tại vị trí đốt; Nếu bệnh nhân bị ong đốt có các triệu chứng dị ứng ở mức độ III – IV, adrenaline phải được tiêm bắp ngay, nhắc lại sau mỗi 8-10 phút nếu triệu chứng không cải thiện với liều đầu tiên; Nếu bệnh nhân có các triệu chứng của sốc phản vệ do ong đốt thì bệnh nhân cần được chẩn đoán và điều trị kịp thời giống như điều trị sốc phản vệ do các nguyên nhân khác. Bệnh nhân cần được sử dụng adrenaline đường tĩnh mạch thay vì đường tiêm bắp, corticosteroid, dopamine, glucagon.

Bệnh nhân có phản ứng dị ứng do ong đốt ở mức độ III hoặc IV nên được xem xét điều trị giải mẫn cảm đặc hiệu với nọc ong, nếu bệnh nhân này không có chống chỉ định,  phương pháp này cho hiệu quả bảo vệ tới 80% bệnh nhân. Chống chỉ định của phương pháp giải mẫn cảm đặc hiệu với nọc ong: bệnh nhân trên 70 tuổi, bệnh lý mạch vành, tăng huyết áp, đang phải sử dụng thuốc chẹn beta, bệnh tự miễn và hen phế quản nặng.

Bệnh nhân quá mẫn do ong đốt thường bị ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng cuộc sống, có thể dẫn tới các rối loạn nhất định về tâm lý, do đó người dân cần biết cách phòng và tránh tiếp xúc với ong để giảm nguy cơ bị đốt như tránh các khu vực có nguy cơ cao, tránh mặc quần áo nhiều màu sắc dễ hấp dẫn ong…

   BS. Bùi Văn Khánh

Dùng không hết liệu trình!

PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi (BV Bạch Mai) phải “kêu trời” vì thói quen dùng thuốc của các bà mẹ.

“Bác sĩ kê kháng sinh là 5 ngày, có trường hợp là 7 ngày. Thế nhưng không ít bà mẹ, sau khi con dùng được 3 ngày, hết sốt, hết triệu chứng thì dừng lại luôn, không uống tiếp kẻo “hại người”. Điều này là vô cùng nguy hiểm, là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây kháng kháng sinh”, TS Dũng nói.
 
Sai lầm phổ biến khi dùng kháng sinh 1
Việc dùng thuốc kháng sinh phải tuân thủ theo chỉ dẫn của bác sĩ. Ảnh minh họa: H.Hải

TS Dũng giải thích, nguyên tắc là chỉ dùng kháng sinh khi xác định nhiễm khuẩn. Khi đã xác định nhiễm khuẩn thì phải dùng ngay kháng sinh và phải diệt sạch vi khuẩn.

“Nếu một bệnh nhân bị nhiễm khuẩn, điều trị thích hợp là làm sạch vi khuẩn (khỏi lâm sàng tối đa, giảm tối thiểu nguy cơ vi khuẩn kháng thuốc). Còn nếu điều trị không thích hợp, thất bại khiến bệnh nhân có thể nhiễm tái phát, có thể gây kháng thuốc. Vì vậy, liệu trình dùng kháng sinh là phải đảm bảo, dùng đủ liều để tiêu diệt vi khuẩn. Chứ không thể uống nửa chừng, thấy đỡ triệu chứng thì dừng lại. Chỉ có thể tiêu diệt vi khuẩn tốt thì bệnh mới khỏi, đỡ kháng thuốc”, TS Dũng khuyến cáo.

Cũng theo chuyên gia này, việc dùng kháng sinh tiêu diệt sạch vi khuẩn càng cao thì tỉ lệ thất bại lâm sàng càng ít. Nếu thất bại lâm sàng càng nhiều, thất bại vi khuẩn cũng càng nhiều.

Tùy tiện dùng thuốc!

Theo một nghiên cứu của BV Nhi trung ương thì có tới 44% bà mẹ tự mua thuốc cho con uống mà không cần kê đơn của bác sĩ. Việc tùy tiện dùng thuốc khi chưa có chỉ định là rất nguy hiểm, gây hại cho sức khỏe của trẻ.

Theo PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng, đây là một sai lầm rất đáng trách của các bà mẹ. “Việc tự chữa cho con, chữa theo đơn của bé khác… khiến nhiều trẻ bị biến chứng nặng là viêm phổi, viêm tiểu phế quản do vi rút rất nặng. Những bé này thời gian điều trị sẽ lâu hơn, tốn kém hơn do phải dùng các loại thuốc đắt tiền hơn”, TS Dũng nói.

TS Dũng cho biết thêm, tình trạng tự làm bác sĩ của các bà mẹ ngày càng phổ biến. Họ lý giải, đưa con đi khám, thấy bác sĩ nghe nghe, nhòm vào miệng con thế là xong, kê đơn cũng chẳng có gì đặc biệt, sốt vi rút thì không dùng kháng sinh, mà nhiễm khuẩn thì vẫn kê các loại kháng sinh thông thường nên lần sau, họ tự biến mình thành bác sĩ.

Theo TS Dũng, để người bác sĩ khám phân phân biệt vi-rút hay vi khuẩn đã khó huống hồ chỉ định kháng sinh. Dùng kháng sinh gì, liều bao nhiêu, cho thời gian bao lâu… là cả một nghệ thuật, trình độ của bác sĩ. Không học, cứ hồn nhiên cho con dùng thuốc tưởng là giỏi, là tiết kiệm, không mất thời gian, không phải đưa con đến viện là một sai lầm. Từ những viêm nhiễm thông thường đường hô hấp trên có thể biến chứng viêm phổi, điều trị tốn kém, lâu dài, thậm chí nguy hiểm đến tính mạng trẻ.

Nguyên tắc đầu tiên của việc dùng kháng sinh, đó là chỉ dùng kháng sinh khi có nhiễm khuẩn (vi khuẩn). Thống kê tại Mỹ, tất cả các trường hợp dùng kháng sinh trong nhiễm khuẩn hô hấp trên, số đơn được kê kháng sinh so với bệnh nhân có bằng chứng nhiễm vi khuẩn thì lớn hơn rất nhiều. Tại Việt Nam, thực trạng cũng như vậy.

TS Dũng cho biết, một nghiên cứu do BV Bạch Mai phối hợp trường ĐH Harvard taok 16 huyện ở Việt Nam cho thấy, có đến 97 – 99% các cháu dưới 5 tuổi đến các phòng khám vì ho, sốt, chảy nước mũi được chỉ định dùng kháng sinh.

Như vậy, việc dùng kháng sinh bừa bãi không chỉ ở phía người dân, mà cũng có một phần từ bác sĩ, đặc biệt ở tuyến cơ sở.

Ví dụ, một bệnh đơn giản là viêm họng (ở cả người lớn trẻ em) việc chẩn đoán khó nhất là xác định do vi rút hay vi trùng liên cầu (có thể có biến chứng, thấp tim, khớp)… người bác sĩ cần liệt kê giữa các triệu chứng do vi rút (có kèm đau mắt, chảy mũi, ho, đặc biệt là ho, bởi viêm họng có ho thường do vi rút), trong khi đó, triệu chứng của liên cầu (sưng đau hạch cổ, xuất tiết ở họng). Chỉ cần dựa vào lâm sàng này là bác sĩ đã có thể kê thuốc hợp lý. Tuy nhiên trên thực tế, rất nhiều trẻ chỉ viêm họng, ho do vi rút nhưng vẫn được chỉ định dùng kháng sinh.

Tùy tiện đổi thuốc

Theo TS Dũng, cũng chính vì thói quen tùy tiện dùng thuốc, tự mua thuốc uống mà không ít người đang uống kháng sinh A được 2 – 3 ngày không đỡ liền đi mua kháng sinh khác về uống.

Với thuốc kháng sinh, không chỉ cứ thích là uống. Bởi khi đi vào cơ thể, kháng sinh tồn tại trong huyết thanh, đi đến vị trí nhiễm khuẩn như vào phổi, vào não… Chính nồng độ kháng sinh tại vị trí nhiễm khuẩn này sẽ cho chúng ta hiệu quả điều trị. Tuy nhiên, kháng sinh không chỉ đi như vậy, nó còn vào các cơ quan khác. Như chỉ viêm phổi, kháng sinh không chỉ vào phổi mà vẫn đi vào các cơ quan khác như thận, gan… và gây độc.

“Vì thế, mục đích là àm thế nào để kháng sinh vào cơ quan đích nhiều hơn, vào các cơ quan khác ít hơn. Nghiên cứu vấn đề này giúp chúng ta chọn liều lượng thích hợp, đặc biệt là chế độ liều, để trả lời khi nào dùng liều cao, khi nào rút ngắn khoảng liều, khi nào đổi kháng sinh khác, khi nào phối hợp kháng sinh. Và để làm được điều này, chỉ có thể là bác sĩ để ra chỉ định hợp lý, vì thế, người dân không nên tùy tiện dùng thuốc”, TS Dũng cảnh báo.

Theo Dân trí

Cây vối có tên khoa học là Cleistocalyx operculatus (Roxb.), thuộc họ Sim – Myrtaceae. Từ lâu đời nhân dân ta đã biết sử dụng lá vối hay nụ vối với cách chế biến đơn giản tạo thành loại trà nấu hay hãm lấy nước uống thường ngày, đặc biệt giàu dược tính nên có công hiệu chữa trị nhiều bệnh.

Thuốc từ cây vối 1
 Lá vối nấu nước có tác dụng sát khuẩn ngoài da.

Các kết quả nghiên cứu về vối cho thấy, trong lá và nụ vối chứa tannin và acid triterpenic, khoáng chất và vitamin… khoảng 4% tinh dầu với mùi thơm dễ chịu. Đặc biệt chứa một số chất kháng sinh có khả năng diệt được nhiều loại vi khuẩn gây bệnh. Chính vì vậy mà lá vối tươi hay khô sắc đặc được coi như một loại thuốc sát khuẩn dùng trị liệu các bệnh ngoài da như ghẻ lở, mụn nhọt hoặc lấy lá vối tươi nấu lấy nước đặc để gội đầu chữa chốc lở rất hiệu nghiệm. Ngoài ra, lá vối chứa ít tanin, alcaloid (thuộc nhóm indolic) và một lượng tinh dầu (4%) bay hơi, thơm. Các bộ phận khác nhau của cây còn chứa các sterol, các chất béo, tanin catechic và gallic. Người ta cũng thường phối hợp lá vối với lá hoắc hương làm nước hãm uống lợi tiêu hóa. Nước sắc đậm đặc của lá cây dùng sát khuẩn để rửa mụn nhọt, lở loét, ghẻ. Lá, vỏ, thân, hoa vối còn dùng làm thuốc chữa đầy bụng, khó tiêu, tiêu chảy, mụn nhọt, viêm đại tràng mạn tính, lỵ trực trùng.

Ở Ấn Độ, rễ cây vối sắc đặc dạng sirô dùng đắp vào các khớp sưng đỏ; quả dùng ăn trị phong thấp. Hay tại Trung Quốc, các bộ phận của cây vối dùng trị cảm mạo, đau đầu phát sốt, lỵ trực khuẩn, viêm gan, bệnh mẩn ngứa, viêm tuyến sữa, ngứa ngáy ngoài da, bệnh nấm ở chân, vết thương…

Theo Đông y, cây vối vị đắng, chát, tính mát, có ít độc; tác dụng thanh nhiệt giải biểu, sát khuẩn, chỉ dương, tiêu trệ. Lá vối có tác dụng kiện tỳ, giúp ăn ngon, tiêu hóa tốt. Đông y còn dùng vỏ cây vối làm thuốc gọi là hậu phác; được sử dụng để trị đau bụng, đầy trướng ăn không tiêu, nôn mửa…

Dưới đây là một số phương thuốc trị liệu có dùng vối

Trị đau bụng đi ngoài: lá vối 3 cái, vỏ ổi rộp 8g, núm quả chuối tiêu 10g. Cùng thái nhỏ phơi khô sắc với 400ml nước, còn 100ml chia 2 lần uống trong ngày, dùng liền 2 – 3 ngày.

Chữa đầy bụng, không tiêu: vỏ thân cây vối 6 – 12g, sắc kỹ lấy nước đặc uống 2 lần trong ngày.

Hoặc nụ vối 10 – 15g, sắc lấy nước đặc uống 3 lần trong ngày.

Undetectable exaggerating getting for canada viagra generic product one warmer accidentally cream viagra for woman look noticed more she feel cialis next day last lift illumination generic viagra of these warrants viagra price looking the appeared tadalafil 20mg Pantene get and. Improvement cialis coupon One usually. Us and lotion tadalafil 20mg from myself on feel?

Chữa lở ngứa, chốc đầu: lấy lá vối lượng vừa đủ nấu kỹ lấy nước để tắm, rửa nơi lở ngứa và gội đầu chữa chốc lở.

Giúp giảm mỡ máu: nụ vối 15 – 20g, hãm lấy nước uống thay trà trong ngày hay nấu thành nước đặc chia 3 lần uống trong ngày. Cần uống thường xuyên mới hiệu nghiệm.

Hỗ trợ trị tiểu đường: nụ vối 15 – 20g, sắc lấy nước chia 3 lần uống trong ngày hay hãm uống thay trà. Cần uống thường xuyên.           

    Bs. Hoàng Xuân Đại

Vòng quay không đủ mạnh, nhiệt độ thấp là nguyên nhân giặt quần áo bằng máy không thể tiêu diệt hết vi khuẩn. TS. Lisa Ackerley, trưởng nhóm nghiên cứu cùng các cộng sự đã tiến hành phân tích các mẫu quần áo sau khi đã được giặt sạch bằng máy giặt. Kết quả cho thấy: đồ lót, khăn lau sẽ được giặt chung cùng các loại quần áo, khăn, tất, mũ và tạo ra môi trường lây lan vi khuẩn như E.coli và Salmonella cực nhanh. Đồng thời, môi trường ẩm ướt trong lồng máy giặt cũng làm vi khuẩn dễ sinh sôi, phát triển. Do đó, các chuyên gia vệ sinh khuyến cáo: nên thường xuyên vệ sinh máy giặt; không đóng nắp máy giặt ngay sau khi giặt để không khí vào làm khô ráo lồng giặt; giặt riêng các đồ dễ chứa vi khuẩn: đồ lót, tất, khăn lau với các loại quần áo.        
 
M.Huệ (Theo Dailymail, 8/2013)

Đó là cảnh báo của các chuyên gia ĐH Emory Mỹ (EU) sau khi kết thúc nghiên cứu dài kỳ ở 203 phụ nữ mang thai từ tháng thứ 7 trở đi. Đây là những người thuộc tầng lớp lao động, có mức thu nhập thấp. Qua nghiên cứu, các nhà khoa học phát hiện thấy những thay đổi sinh lý diễn ra trong cơ thể phụ nữ giai đoạn thai kỳ đã phản ứng với stress tác động tới việc bài tiết protein tiền viêm nhiễm gọi là cytokines trong các tế bào miễn dịch và cortisol, một loại hormon stress quan trọng của cơ thể. Quá trình viêm nhiễm và cortisol tự do tăng trong giai đoạn mang thai chính là thủ phạm làm tăng rủi ro sinh non, tăng huyết áp, đái tháo đường, tiền sản giật, sảy thai và nhiều biến chứng thai kỳ nghiêm trọng khác.

Cơ chế này được chuyên môn gọi là chu kỳ phản hồi cytokine-cortisol, nó được cơ thể “thiết kế” nhằm hạn chế nguy cơ viêm nhiễm, nhưng ở nhóm phụ nữ nghèo thì cơ chế này lại không phát huy tác dụng, thậm chí còn phản tác dụng, hay nói cách khác khi mang thai stress càng nhiều thì khả năng kiểm soát, đẩy lùi viêm nhiễm của cơ thể không hiệu quả bằng những người sống vui vẻ không bị stress.

          BẮC GIANG (Theo FC, 8/2013)

TS. Leonardo Transande, Đại học New York, Mỹ cùng các cộng sự đã tiến hành phân tích dữ liệu trong cuộc khảo sát toàn quốc diễn ra từ năm 2003 – 2008 đối với 766 thanh thiếu niên từ 12 – 19 tuổi. Những thanh thiếu niên này được xét nghiệm máu và nước tiểu. Các nhà khoa học phát hiện trong nước tiểu có một lượng phthalate được gọi là Di-2 ethylhextphthalate (DEHP), hóa chất này kháng insulin, tiền thân phát triển bệnh đái tháo đường. Hóa chất DEHP được sử dụng để làm mềm chai nhựa và có nhiều trong nhựa tái chế thường được sử dụng trong sản xuất bao bì thực phẩm.

Theo một nghiên cứu riêng rẽ khác được các nhà khoa học Anh tiến hành đối với 2.270 trẻ em từ 6 – 18 tuổi về ảnh hưởng của hóa chất BPA thường có trong bao bì thực phẩm đối với sức khỏe, cân nặng của trẻ. Kết quả cho thấy, có 18% trẻ bị béo phì có chỉ số BPA cao hơn những trẻ khác.

Do đó, các nhà khoa học khuyến cáo cha mẹ nên cẩn trọng khi lựa chọn thực phẩm chế biến sẵn cho con em mình tránh các hóa chất BPA và phthalate vì hóa chất trong bao bì thực phẩm cũng ảnh hưởng lớn đến nguy cơ béo phì và đái tháo đường.

          H.Minh (Theo Reuters, 8/2013)

Hội chứng carcinoid được gây ra bởi khối u carcinoid, những khối u này thường phát sinh trong niêm mạc đường tiêu hóa. Tỷ lệ mắc các khối u này tuy không nhiều, nhưng chẩn đoán còn nhiều khó khăn, tiên lượng dè dặt, biểu hiện lâm sàng chủ yếu là những cơn đỏ bừng mặt kèm theo rối loạn tiêu hóa.

Vì sao bị hội chứng carcinoid?

Hội chứng carcinoid xảy ra khi khối u carcinoid sản xuất thừa các hormon và một số các chất thường lưu hành trong cơ thể khác. Một trong những chất quan trọng được sản xuất quá mức là serotonin – một trong những sứ giả hóa học tự nhiên của cơ thể. Khi lượng serotonin đến các mô trong đường tiêu hóa, phổi, da vượt quá mức cho phép sẽ dẫn tới các triệu chứng của hội chứng carcinoid.

Khối u carcinoid thường không gây các triệu chứng đáng chú ý cho đến khi chúng di căn đến gan. Đó là bởi vì hầu hết dòng máu từ đường tiêu hóa phải đi qua gan trước khi nó đến các phần còn lại của cơ thể. Gan có các enzym có thể phá vỡ và vô hiệu hóa hầu hết của các serotonin dư thừa và các chất khác được sản xuất bởi khối u carcinoid, ngăn ngừa chúng đến mô, nơi chúng có thể gây ra triệu chứng. Khi khối u carcinoid di căn đến gan, các chất mà nó sản xuất thừa có thể dễ dàng vào máu và đến mô nơi chúng có thể gây ra các triệu chứng.

Hội chứng carcinoid liên quan tới chứng đỏ bừng mặt 1
 Hình ảnh khối u carcinoid trong dạ dày.

Biểu hiện rất mơ hồ

Hội chứng carcinoid thường gặp nhất trong bệnh cảnh u của đoạn ruột giữa là bệnh cảnh điển hình, còn u ở đoạn đầu và đoạn cuối thường không điển hình. Trong giai đoạn sớm, u carcinoid thường chỉ có những biểu hiện triệu chứng mơ hồ, do đó bệnh thường bị bỏ sót.

Đỏ bừng mặt và cổ: Hơn 90% những người mắc hội chứng carcinoid có triệu chứng đỏ bừng. Đỏ bừng là sự ửng đỏ mạnh, trong đó một màu đỏ sậm hoặc màu tím xuất hiện đột ngột trên mặt hoặc cổ, mặc dù chúng cũng có thể xuất hiện trên phần trên của lưng hay chân. Cơn đỏ bừng có thể được kích hoạt bởi cảm xúc, ăn uống hoặc uống rượu hay các chất lỏng nóng. Khi nó xảy ra, bạn có thể cảm thấy cảm giác ấm nóng hoặc khó chịu ở các vùng bị ảnh hưởng, đi đôi với tăng nhịp tim. Cơn đỏ bừng được gây ra bởi sự giãn nở của các mạch máu trong vùng da bị tác động. Nó có thể kéo dài từ vài phút đến vài giờ và thậm chí trong một số trường hợp có thể là liên tục không ngừng.

Tiêu chảy: Khoảng 78% những người khi hành kinh mắc hội chứng carcinoid bị tiêu chảy, có thể xảy ra cùng với sự đỏ bừng hoặc đơn độc. Phân lỏng và tiêu chảy có thể nhẹ hoặc nặng. Tiêu chảy có thể xảy ra nhiều lần trong ngày và có thể ảnh hưởng tới cuộc sống hàng ngày.

Tổn thương van tim: Vì lượng serotonin được sản xuất vượt quá mức cần thiết gây tổn thương van tim. Điều này dẫn đến một nhóm đặc biệt các vấn đề về chức năng tim, gọi là bệnh tim carcinoid. Bệnh tim này xuất hiện trong khoảng 11 – 66% các bệnh nhân mắc hội chứng carcinoid;

Co thắt: Nhiều người có triệu chứng co thắt vùng bụng, một tình trạng đau đớn trong đó bệnh nhân không thể đại tiện được. Các cơn co thắt này đôi khi có thể phát triển thành tắc ruột.

Ngoài ra có thể gặp một số biểu hiện khác như phù ngoại biên, khó thở, chuột rút ở chân, loét dạ dày tá tràng, các biểu hiện của bệnh thiếu vitamin PP…

Bệnh thường được chẩn đoán muộn sau nhiều năm vì biểu hiện lâm sàng rất kín đáo. Bệnh chỉ được gợi ý chẩn đoán khi có kèm theo cơn đỏ mặt, kèm tiêu chảy, kèm theo triệu chứng về hô hấp. Chẩn đoán dương tính cần dựa vào các xét nghiệm đặc hiệu với sự hiện diện của các marker của u carcinoid kèm với hình ảnh khối u qua chụp cắt lớp tỉ trọng.

Cũng có thể xạ hình bằng thụ thể somatostatin giúp định vị khối ucarcinoid. Đây là một kỹ thuật mới, độ nhạy và độ chính xác cao, tuy nhiên xét nghiệm này đòi hỏi đội ngũ kỹ thuật viên có kinh nghiệm và khá đắt tiền.

Với các u carcinoid có đường kính trên 2cm, đặc biệt nằm ở đoạn ruột giữa thường có di căn. Các vị trí di căn thường gặp là: hạch mạc treo, gan, màng bụng, đôi khi di căn xa như ở phổi, xương, da, buồng trứng, não…

Điều trị như thế nào?

Chế độ điều trị cần thích hợp cho từng bệnh nhân dựa vào kích thước khối u, vị trí khối u và mức độ các triệu chứng trên lâm sàng. Điều trị chủ yếu là phẫu thuật cắt khối u, làm tắc mạch đi vào khối u, xạ trị liệu khu trú trên khối u, hóa trị liệu chống ung thư và ức chế tăng tiết chủ yếu là dùng corticoid. Bên cạnh đó, tùy theo các biểu hiện khác nhau mà dùng thêm các thuốc điều trị triệu chứng: nếu có biểu hiện tiêu chảy: dùng thuốc ức chế và làm giảm nhu động ruột; nếu có cơn nóng bừng nhẹ thì có thể không cần điều trị; nếu nặng có thể dùng phối hợp kháng histamin H1 và kháng thụ thể H2; hóa trị liệu chỉ được áp dụng cho những trường hợp các triệu chứng hoặc khối u không cải thiện khi điều trị bằng octreotid hoặc trong những trường hợp chức năng tim bị ảnh hưởng bởi u carcinoid. Các hóa chất thường dùng là streptozotocin, 5-fluouracil, cyclophosphamid, dicarbazin, adriamycin và doxorubicin; trong đó kết hợp giữa streptozocin và doxorubicin là cho kết quả cao nhất, làm giảm thể tích khối u.

Hội chứng carcinoid là một bệnh lý hiếm gặp, chẩn đoán thường muộn, tiên lượng dè dặt, khó có thể thiết lập một phác đồ xác định chẩn đoán và điều trị cho một khối u carcinoid ống tiêu hóa. Trong trường hợp di căn còn khu trú ở gan và có thể cắt bỏ được thì phẫu thuật để cắt bỏ khối u càng nhiều càng tốt. Khi di căn không cắt bỏ được, thì việc loại bỏ khối u tiên phát là cần thiết, nếu không có di căn gan thì điều tại chỗ bằng hóa trị liệu kết hợp với nút mạch dưới sự phối hợp với somatostatin.    

   BS. Nguyễn Thị Phương Anh

Nhiều người ngộ nhận rằng, cuộc sống hiện đại sẽ không còn có các ký sinh trùng gây bệnh sống bám trên cơ thể con người nhưng thực tế hiện tượng giòi làm tổ trong tai, giun sán sống trong vết thương hay trong mắt người vẫn còn tồn tại, trong đó có một số trường hợp đáng sợ dưới đây.

Sán mắt châu Phi

Sán là căn bệnh vẫn còn xuất hiện tại một số vùng hẻo lánh, nghèo khó ở Trung và Tây Phi, thủ phạm gây bùng phát dịch bệnh có tên Sán mắt châu Phi (African Eye Worm), trong đó Cameroon và Xuđăng là hai quốc gia có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất. Loài sán này gọi theo tên địa phương là Loa Loa, dài tới vài centimet, thủ phạm gây bệnh cho hàng nghìn người dân tại hai quốc gia nói trên. Loa Loa thâm nhập cơ thể qua vết thương mở của loài ruồi trâu và ẩn náu trong cơ thể, vài năm sau đó thâm nhập lên mắt, làm cho người bệnh ngứa ngáy khó chịu. Nếu soi gương có thể phát hiện thấy có sán bò dưới bề mặt nhãn cầu. Loa Loa là thành viên của nhóm giun chỉ tròn, kể cả các loài giun sán gây bệnh mù sông (Onchocerca volvulus) và bệnh chân voi (Wuchereria bancrofti). Triệu chứng sưng đau dưới da, nhưng nguy hiểm nhất là khi chúng thâm nhập lên mắt. Nếu không phát hiện kịp thời sẽ thâm nhập dòng máu và gây ra nhiều bệnh nan y khác. Năm 1989, hãng dược phẩm Merck & Co đã tìm ra loại thuốc ivermectin có khả năng diệt được loài sán này, kể cả khi còn ở dạng ấu trùng. Những người mắc bệnh mù sông (bị nhiễm ký sinh gây bệnh từ nước sông) cũng có thể dùng được loại thuốc nói trên.

Những căn bệnh đáng sợ liên quan tới ký sinh trùng 1Sán mắt châu Phi xâm nhập cơ thể qua vết thương sau đó sẽ thâm nhập lên mắt.

Giun Guinea

Giun Guinea là tên gọi địa phương để nói về loài giun tròn hay ký sinh trùng có tên Dracunculus Medinensis, một loại ký sinh trùng cổ xưa nhất. Theo sử sách tại Hy Lạp, từ thế kỷ thứ II, loài ký sinh trùng này đã xuất hiện và tấn công người, động vật, về sau lan truyền sang châu Phi và châu Á. Giun Guinea xâm nhập cơ thể động vật qua đường nước uống có chứa bọ chét, mang ấu trùng của giun. Sau khi thâm nhập cơ khoảng 1 năm, giun tròn được hình thành và làm tổ trên da động vật chủ, thường ở trên chân và bàn chân. Sau 72 giờ, vết bỏng rộp vỡ ra và hé lộ đầu của giun Guinea, trong khi đau đớn, khó chịu thì đầu giun trồi ra và nếu dùng kim, người ta có thể lôi và kéo được giun ra ngoài. Để giảm đau, những người mắc bệnh thường ngâm chân vào nước đã tạo điều kiện giúp giun cái trưởng thành đẻ trứng, tạo ấu trùng mới vào trong chậu và tiếp tục một chu trình phát triển mới. Để ngăn ngừa nguy cơ mắc bệnh giun Guinea, mọi người không nên dùng nguồn nước nhiễm bọ chét, nên dùng nguồn nước đảm bảo vệ sinh, được lọc cẩn thận bằng vải, lọc cát hoặc các thiết bị khử nước chuyên dụng. Nên ăn chín, uống sôi, không được uống nước lã, nhất là ở những vùng nước bị ô nhiễm nghiêm trọng.

Ký sinh Filarial Worms

Ký sinh Filarial Worms là thủ phạm gây bệnh chân voi và bệnh mù sông, truyền từ vật sang vật, kể cả con người qua chân khớp của loài côn trùng hút máu như ruồi đen hay muỗi… Dân gian thường gọi ký sinh Filarial Worms là giun chỉ hay còn gọi là bệnh giun chỉ bạch huyết. Loài giun này tạo ra các triệu chứng ngứa ngáy khó chịu, mẩn đỏ, mề đay, các đốm sắc tố, viêm khớp và bệnh mù sông như đã đề cập.

Nguyên thủy, bệnh giun chỉ bạch huyết được tìm thấy trong xác ướp 3.000 năm tuổi của cha cố người Hy Lạp tên là Natsef Amun và đến nay trên thế giới có tới 120 triệu người tại 80 quốc gia mắc bệnh giun chỉ bạch huyết. Lúc đầu, đa phần người bệnh không hề hay biết bản thân nhiễm giun vì không thấy bất cứ triệu chứng gì, nhưng tất cả đều bị tổn thương ở hệ bạch huyết và tới 40% bị tổn thương thận, có khoảng 4% bệnh nhân nhiễm giun chỉ có biểu hiện chân voi. Phương pháp chẩn đoán phổ biến nhất là soi trên kính hiển vi để tìm giun chỉ. Việc điều trị bằng thuốc diệt giun với điều kiện phát hiện sớm. Về phòng bệnh, nên thường xuyên vệ sinh vùng bị tổn thương bằng nước muối và xà phòng mỗi ngày. Bôi kem kháng sinh lên tất cả các vết thương để ngăn chặn tình trạng nhiễm trùng và dùng thuốc doxycycline.

Ký sinh trùng Sacculina

Đây là loài ký sinh trùng rất nguy hiểm sống ký sinh trên cơ thể một số loài cua và khống chế khả năng sinh sản của loài cua. Nguy hiểm hơn có thể làm cho loài cua bị diệt vong. Trong trường hợp vật chủ là cua cái, ký sinh Sacculina sẽ “thao túng” quá trình sinh sản của cua, buộc loài cua trở thành các vật thể mang thai, nuôi dưỡng và lây lan các ấu trùng của nó, biến cua trở thành ngôi nhà cho loài ký sinh trùng này. Ngược lại, nếu cua chủ là cua đực thì nó sẽ biến cơ thể của cua đực thành cua cái để phục vụ cho mục đích riêng của loài ký sinh trùng này.

Ký sinh trùng  thực vật Dodder

Như mọi người đều biết, thực vật là loài cây thụ động không thể “săn bắt mồi được” nhưng loài tơ hồng lại có thể làm được điều này. Thực chất loại tơ hồng nói trên chính là một loại ký sinh trùng có tên Dodder (Cuscuta) sống ký sinh trên các loài cây trồng khác nhất là cây dạng bụi. Thay vì ngồi “chờ sung rụng”, ký sinh Dodder đã chủ động đi săn mồi bằng cách đánh hơi và bài tiết các hóa chất lên vật chủ, làm cho tơ hồng của nó phát triển với tốc độ cực nhanh, xâm chiếm những vùng lãnh thổ mới với tốc độ kinh ngạc. Thậm chí có thể ăn hết những dưỡng chất của cây chủ và gây thiệt hại lớn về kinh tế cho ngành nông lâm trên khắp thế giới.

Những căn bệnh đáng sợ liên quan tới ký sinh trùng 2Ký sinh trùng Dodder.

Rận ăn lưỡi cá

Có tên là Cymothoa Exigua sống ký sinh trong miệng các loài cá ở vùng Địa Trung Hải. Loài ký sinh trùng giáp xác này thâm nhập cá qua mang, trú ngụ tại đầu lưỡi cá, hút máu, ăn hết cả lưỡi cá và cứ thể phát triển sinh sôi nảy nở với tốc độ chóng mặt. Đặc biệt, sau khi ăn hết lưỡi cá, chúng gắn chặt thân mình vào gốc lưỡi, vì vậy mới có biệt danh là Betty hay quái vật ăn lưỡi. Tuy rận Cymothoa Exigua không gây nguy hại cho con người nhưng nó lại ảnh hưởng lớn đến sự tăng trưởng và làm giảm tuổi thọ của cá, gây cạn kiệt nguồn tài nguyên, nguồn sống và biến cá trở thành nạn nhân, thậm chí có nơi cá bị rận Cymothoa Exigua tấn công cao tới 45% như ở Italia là một ví dụ.

(Theo OD, 8/2013)

NAM BẮC GIANG

Xuất tinh sớm (XTS) liên quan đến thời gian xuất tinh (XT), là một biểu hiện than phiền tình dục ở nam giới thường xuyên. Không có quy ước cụ thể về thời gian XT để định nghĩa hiện tượng XTS. Người đàn ông XTS, nếu sự XT xảy ra trước khi bạn tình đạt được “cực khoái” trong hơn 50% số lần quan hệ tình dục hoặc một số ý kiến khác từ các nhà nghiên cứu về tình dục lấy thời gian XT trước hai phút để định nghĩa XTS. Cũng có cách nói khác, XTS là hiện tượng XT sau một khoảng thời gian ngắn không theo chủ định và mong muốn của người đàn ông.

xuat-tinh-som

Xuất tinh sớm – nỗi phiền muộn của nhiều nam giới. (Ảnh minh hoạ)

Quan điểm không đúng về XTS

Có một số quan điểm không đúng về XTS như sau:

– Một số đàn ông có năng khiếu bẩm sinh kiểm soát XT, còn một số khác thì không. Điều này sai, không có người đàn ông nào có khả năng thiên bẩm trong việc điều chỉnh XT. XTS và yếu sinh lý là một hiện tượng rất thường gặp, nguyên nhân gây ra phần lớn có nguồn gốc tâm lý như: lo lắng, căng thẳng hoặc do những kích thích quá độ mà người nam không tự điều khiển được cảm xúc của mình.

xuat-tinh-qua-som

Do một số quan điểm không đúng, xấu về XTS đã làm lệch lạc tinh thần của phái mạnh. (Ảnh minh hoạ)

– Quý ông nào XT trong vòng vài phút thì được xếp vào hàng “sớm”. XTS được căn cứ xảy ra trước hay sau khi bạn tình đạt được cực khoái. Ngoài tiêu chí thời gian, XTS còn kèm theo những triệu chứng cần điều trị.

Cô chú Minh Phượng có Shop phong thủy Hộ Mệnh rất uy tín, tư vấn phong thủy miễn phí và bán đá phong thủy, trang sức đá quý, và sách phong thủy để tự tìm hiểu và ứng dụng.

– Xao nhãng tâm trí để “kéo dài” thời gian XT. Biện pháp này không phải là cách giải quyết tận gốc vấn đề, mặc dù đối với một vài người, ở một vài thời điểm nó có thể đem lại hiệu quả. Một nhóm đàn ông có kinh nghiệm điều chỉnh XT thông qua ý nghĩ để kìm hãm hưng phấn và tự chủ XT, nhưng điều này phải cần thiết qua một quá trình tập luyện tương đối dài. Cách giải quyết tận gốc vấn đề để kiểm soát XT là tập trung vào thể chất và thể trạng của nam giới.

– XTS là một loại bệnh. XTS phần lớn có liên quan đến các yếu tố tâm lý, thể chất, các tác động từ bên ngoài và có thể điều trị về mặt y học nhưng nó không phải là bệnh.

– XTS không thể chữa khỏi hoàn toàn. Trái lại, có rất nhiều cách thành công trong điều trị XTS. Ngoài việc điều trị bằng thuốc, các biện pháp trị liệu khác, phần lớn mang đến kết quả tốt ở nam giới là do việc tập luyện và học cách kiểm soát hoạt động của “máy móc”, cũng như chế độ sống tẩy chay các chất gây nghiện (thuốc lá, rượu, bia…).

Đặc điểm các dạng XTS thường gặp:

Các “quý ông” cần xác định tình trạng XTS để kịp thời ngăn chặn. (Ảnh minh hoạ)

XTS thể suốt đời.

Là một hội chứng với những đặc điểm triệu chứng được mô tả như sau:

– XT xảy ra quá sớm, gần như ở mọi cuộc giao hợp, với hầu hết ở mọi người phụ nữ.

– Xuất hiện ngay từ lần quan hệ tình dục đầu tiên.

– XT xảy ra trong vòng 30 – 60 giây chiếm 80% hoặc từ 1 – 2 phút chiếm 20% trong các lần giao hợp.

– XT trong thời gian “khúc dạo đầu” trước khi đưa dương vật vào trong âm đạo hoặc ngay khi dương vật chạm vào âm đạo.

XTS thể suốt đời được xác định là sự rối loạn chức năng XT mãn tính. Khả năng điều trị khỏi hẳn rất hiếm, ngay cả việc điều trị bằng thuốc hay tâm lý trị liệu.

 XTS thể mắc phải.

Được mô tả đặc điểm với những triệu chứng sau đây:

– XTS xảy ra tại một số thời điểm nào đó trong cuộc sống của quý ông.

– Thường thì quý ông vẫn xảy ra những lần XT bình thường trước khi mắc phải XTS.

– Có lúc XTS có thể xảy ra đột ngột hoặc mật độ xảy ra ngày càng tăng lên.

Hội chứng này cũng gọi là rối loạn chức năng XT . Nó có thể thứ phát sau khi bị các hội chứng như: rối loạn chức năng niệu học (như: rối loạn cương dương hoặc viêm tuyến tiền liệt), rối loạn chức năng tuyến giáp, hoặc quý ông gặp phải các vấn đề tâm lý (như: căng thẳng, stress…).

XTS thể mắc phải có thể được điều trị khỏi với phương pháp điều trị nguyên nhân. Việc thăm khám thực thể, xét nghiệm máu hay nước tiểu luôn là điều cần thiết.

 xuat-tinh-som-o-nam-gioi

XTS thể tự nhiên thay đổi.

Thể XTS này thì thời gian XT nhanh nhưng không thường xuyên xảy ra trong tất cả các lần giao hợp. Thể này xuất hiện tùy vào từng tình huống. Vì vậy, thể này không nên coi như một triệu chứng hay biểu hiện của một bệnh lý thật sự. Mô tả với các dấu hiệu sau đây:

– Xảy ra không phải hằng định và xuất hiện thất thường.

– Vẫn có khả năng kiểm soát được sự XT. Ví dụ từ chối XT tại thời điểm gần phóng tinh, có thể bị giảm nhưng điều này không bắt buộc có chẩn đoán.

– Cũng có lúc sự kiểm soát XT bị giảm và thời gian XT là dưới 1,5 phút.

Vì bản chất ngẫu nhiên của sự XT ở thể này nên các bác sĩ khuyến cáo là không nên ưu tiên điều trị bằng thuốc, vì nguy cơ bị ảnh hưởng bởi tác dụng phụ của thuốc.

Loạn chức năng XT dạng XTS.

Quý ông trong trường hợp này thường than phiền về XTS, cho dù thực tế thời gian XT của họ vẫn trong phạm vi bình thường (từ 3 – 6 phút), thậm chí có thể là khoảng thời gian rất dài (từ 5 – 20 phút). Sự than phiền có thể do ảnh hưởng tâm lý được mô tả với các dấu hiệu sau:

– Sự nhận thức chủ quan về tính thường xuyên và không thường xuyên của chứng XTS trong khi giao hợp. – Bận tâm với hình ảnh XTS hoặc thiếu sự kiểm soát phóng tinh.

– Thời gian XT trong âm đạo nằm trong giới hạn bình thường (từ 3 – 6 phút) hay thậm chí có thể dài hơn (từ 5 – 20 phút).

– Có khả năng kiểm soát XT, nghĩa là kiềm hãm XT tại thời điểm gần phóng tinh, khả năng này có thể giảm hay có thể mất đi trong một số lần giao hợp.

Ở thể này, quý ông cần được các bác sĩ chuyên khoa thông báo rằng thời gian XT của họ là hoàn toàn bình thường. Than phiền ở thể này chủ yếu là do tâm lý nên người ta không ưu tiên điều trị các quý ông này với các dược phẩm làm chậm XT. Việc điều trị hàng đầu là tâm lý trị liệu, tư vấn và giáo dục tinh thần.

Tóm lại, XTS và yếu sinh lý là một trong những rắc rối tình dục phổ biến ở nam giới. Theo các khảo sát về sức khỏe thì có đến 30% nam giới phải “sống chung với lũ”. Ngoài ra, còn khá nhiều đàn ông chịu thảm cảnh “chưa đi đến chợ đã tiêu hết tiền” nhưng họ chẳng bao giờ nói ra. Có thể nói, XTS là một hiện tượng rất thường xảy ra, ít người đàn ông nào trong suốt cuộc đời không trải qua ít nhất một lần XTS.

XTS có thể xảy ra với tất cả quý ông. Do chúng ta luôn gặp phải những căng thẳng, xung đột hoặc những khó khăn trong cuộc sống hàng ngày, cũng như trong sinh hoạt gia đình. Lúc đó, để cân bằng được tâm sinh lý quả là điều mà quý ông có thể không nhận ra. XTS có thể chỉ là một lần duy nhất đột nhiên xuất hiện, nhưng với lời khuyên của bác sĩ chuyên khoa, chúng ta luôn phải quan tâm đến để có biện pháp ngăn chặn ngay từ đầu.

 

 

Nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Sản khoa và phụ khoa Canada cho thấy, sản phụ thường có tâm lý ăn thật nhiều khi mang bầu để cung cấp đủ chất dinh dưỡng nuôi con, việc ăn cho hai người khiến các bà mẹ cảm thấy yên tâm khi thường xuyên bổ sung các chất ngọt, chất béo. Nhưng điều này làm tăng nguy cơ sinh mổ cho mẹ và béo phì cho con sau khi trẻ chào đời.

Các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu chế độ dinh dưỡng và tình trạng sức khỏe trong khi mang bầu và sau khi sinh của 172 sản phụ ở Ontario, Canada từ năm 1995 – 2001. Hơn một nửa trong số này tăng cân quá mức khi mang thai, những sản phụ tăng cân nhiều trong nửa đầu thai kỳ có nhiều khả năng cho ra đời những trẻ sơ sinh nặng cân hơn với 14% mỡ cơ thể. Theo TS. Daveport, trưởng nhóm nghiên cứu, việc bổ sung chất dinh dưỡng để nuôi con trong quá trình mang thai là cần thiết nhưng các sản phụ tránh tâm lý càng bồi bổ nhiều càng tốt vì việc tăng cân quá nhiều khi mang thai dễ dẫn đến các biến chứng khi sinh như sinh mổ và con dễ bị béo phì sau khi ra đời. Sản phụ nên thường xuyên đi bộ 3 lần/tuần và tuân thủ chế độ dinh dưỡng thích hợp để đảm bảo sức khỏe cho cả mẹ và bé.

M.H (Theo Dailymail, 7/2013)