Author Archives: dungntk

Bồn rửa bát là nơi mật độ vi khuẩn tập trung vô cùng nhiều, hoàn toàn không thích hợp để bạn rửa hoa quả hay những đồ ăn tươi sống, đặc biệt là quả dâu tây.
1. Túi xách để trên bàn ăn
Túi xách thường được để tùy tiện ở bất cứ đâu có thể, như trên bàn học, xe bus, cốp xe… nên bản thân nó sẽ chứa hàng triệu vi khuẩn có hại. Nếu để nó trên bàn ăn sẽ làm tăng nguy cơ lây nhiễm vi khuẩn vào thức ăn, không tốt cho cơ thể. Túi xách tốt nhất nên được đặt trên ghế, treo tường hoặc cất trong ngăn kéo.
2. Giày thể thao, dép để trong tủ kín
Giày dép thường mang theo phấn hoa, bụi bẩn và vi khuẩn ở bất cứ nơi đâu chúng đặt chân tới. Thế nên, thay vì cất chúng trong tủ kín mít, dễ tạo mùi, gây bệnh, bạn hãy để giày dép ở nơi thoáng mát, khô ráo.
3. Cà phê để trong tủ lạnh
Bạn có biết kẻ thù của cà phê chính là không khí, hơi ẩm, hơi nóng và ánh sáng? Vì vậy, cách bảo quản cà phê tốt nhất là bạn hãy cất chúng vào trong túi buộc kỹ để nơi kín gió.
8 thói quen có hại cho sức khỏe 1

Ảnh minh họa: chorltoncoffeefestival

4. Để thuốc trong tủ phòng tắm
Phòng tắm là nơi có độ ẩm cao, không hợp để cất trữ thuốc. Thuốc trong gia đình nên để ở nơi có độ ẩm thấp, khô thoáng như phòng khách.
5. Hoa quả rửa trong bồn rửa bát
Bồn rửa bát là nơi mật độ vi khuẩn tập trung vô cùng nhiều, hoàn toàn không thích hợp để bạn rửa hoa quả hay những đồ ăn tươi sống, đặc biệt là quả dâu tây.
6. Khi ngủ đắp chăn quá dầy
Đắp chăn quá dày khiến nhiệt độ cơ thể tăng cao, khó chìm sâu vào giấc ngủ. Ngược lại, nhiệt độ cơ thể hạ thấp tự nhiên là cách tốt nhất giúp bạn có giấc ngủ sâu và ngon.
7. Đọc sách buổi tối, để bóng đèn sát đầu
Khi đọc sách, để bóng đèn trên đỉnh đầu sẽ ảnh hưởng đến việc tiết melatonin trong cơ thể, khiến bạn càng đọc sách càng tỉnh. Bạn nên chọn cách hạ thấp bóng đèn xuống, để ánh sáng ở mức độ dịu sẽ tốt hơn cho giấc ngủ.
8. Đeo tai nghe trên máy bay, tàu xe
Khi đi ra ngoài, dùng tai nghe là lựa chọn không tồi với nhiều người, đặc biệt là các bạn trẻ. Nhưng thời gian dài nghe nhạc ở môi trường nhiều tạp âm sẽ gây tổn thương tai rất lớn.
Theo VnExpress

Nước dừa tươi đã được sử dụng rộng rãi ở những quốc gia vùng nhiệt đới hàng bao thế kỷ nay. Không những giữ cân bằng dịch cơ thể, nước dừa còn khẳng định là một loại nước uống tốt nhất để tái tạo dịch cơ thể.

Dung dịch nước có trong quả dừa non là một trong những nguồn nước thuần khiết nhất. Không hề chứa cholesterol nhưng lại chứa nhiều chất điện giải hơn bất cứ dịch ép trái cây hoặc dịch ép rau cải nào. Nước dừa thuần khiết về mặt sinh học, chứa nhiều muối khoáng, các loại đường và những loại vitamin mà những vận động viên cần trong quá trình tập luyện. Trong nước dừa người ta cũng tìm thấy “hành tung” của những nguyên tố vi lượng như đồng, phosphorus, sulfur vốn  có vai trò quan trọng trong việc cân bằng  các chất điện giải trong cơ thể.

“Nước tăng lực” thiên nhiên 1

Cứ một trái dừa, lượng nước có trong ấy chứa một lượng vitamin C vừa đủ cho yêu cầu hằng ngày. Nước dừa cũng chứa các vitamin nhóm B như B3, B5, biotin, B2, acid folic, B1…

Nước dừa chứa chất béo không đáng kể, ít carbohydrates và ít calories, vì vậy có tác dụng hạ nhiệt và điều hòa thân nhiệt, duy trì dịch cơ thể ở mức bình thường, đồng thời vận chuyển những thành phần dinh dưỡng quan trọng và oxy đến nuôi các tế bào.

Nước dừa được cho là rất giống với huyết tương ở máu người. Trước đây, nước dừa được dùng như huyết tương thay thế việc truyền máu và được sử dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới.

Nước dừa cũng có tác dụng hỗ trợ tiêu hóa, giúp hấp thu dưỡng chất bao gồm vitamin, khoáng chất, amino acid… Nước dừa còn hỗ trợ quá trình hấp thụ canxi và manhê, nhờ đó giúp bộ xương trở nên mạnh khỏe, cứng cáp hơn. Nước dừa cũng giúp cải thiện sự tiết insulin và sử dụng đường. Đối với những vận động viên rèn luyện thể lực, nước dừa là một kho cung cấp nguồn năng lượng nhanh, giúp vận động viên hồi phục và tái tạo những mô bị tổn thương

Nước dừa cũng là một loại thuốc lợi tiểu thiên nhiên, hỗ trợ chức năng tuyến giáp. Giúp tăng chuyển hóa cơ thể, nhờ vậy có tác dụng giảm cân ở những bệnh nhân béo phì. Không như những loại thực phẩm khác vốn được cơ thể tồn trữ ở dạng mỡ, năng lượng từ nước dừa sẽ được cơ thể sử dụng ngay. Những thành phần acid béo có trong nước dừa không đi thẳng vào hệ thống tuần hoàn máu như những chất béo khác. Thay vào đó, nó sẽ đi tới gan, tại gan chúng sẽ được chuyển thành năng lượng.

DS. NGUYỄN BÁ HUY CƯỜNG

(ĐH Murdoch- Úc)

Sơn đậu căn là rễ cây sơn đậu, hay còn gọi là cây quảng đậu, khổ đậu, hòe Bắc Bộ. Ở nước ta, đậu căn có nhiều ở một số tỉnh như Cao Bằng, Hà Giang, Quảng Ninh… Vào mùa thu, người ta thu hoạch rễ, rửa sạch, phơi sấy khô. Trước khi dùng, đem cắt đoạn 3 – 5cm, sao vàng. Về mặt hóa học, rễ sơn đậu chứa alcaloid, flavonoid…; matrin, oxymatrin, anagynin, methylcytisin. Ngoài ra còn có pterocarpin, sophoranon,…

Theo YHCT, sơn đậu căn có vị đắng, tính hàn, hơi có độc (khi dùng cần sao vàng), nhập vào các kinh tâm, phế, vị, đại tràng. Có tác dụng thanh nhiệt giải độc, tiêu thũng, lợi hầu họng, dùng trị các bệnh sốt do viêm nhiễm đường hô hấp, viêm amidan, viêm họng, các bệnh mụn nhọt, đặc biệt nhọt độc, phù thũng, răng lợi sưng đau; còn dùng trị kiết lỵ, dùng ngoài trị côn trùng, rắn, rết cắn. Ngày dùng 4 – 12g rễ, hoặc 3 – 4,5g vỏ rễ dưới dạng bột hoặc nước sắc, thường phối hợp với một số các vị thuốc khác.

Sơn đậu căn trị viêm amidan 1
 Cây sơn đậu và vị thuốc sơn đậu căn.

Cách dùng sơn đậu căn làm thuốc

Trị viêm amidan cấp tính: sơn đậu căn, ngưu bàng tử, xạ can, kinh giới, mỗi vị 9g; kim ngân hoa 12g; phòng phong, cam thảo, mỗi vị 6g. Sắc uống, ngày một thang chia 3 lần trước bữa ăn 1,5 giờ. Uống liền 1 – 2 tuần. Hoặc: sơn đậu căn 12g, sinh cam thảo 4g, sắc uống, ngày một thang. Hoặc: sơn đậu căn, kinh giới, bạc hà, cát cánh, mỗi vị 8g, sắc uống ngày một thang. Hoặc phối hợp sơn đậu căn với hạ khô thảo, huyền sâm, bối mẫu, mỗi vị 8g dưới dạng thuốc sắc, ngày một thang chia 3 lần uống trước bữa ăn 1,5 giờ.

Trị viêm amidan mạn tính: sơn đậu căn 15g, kim liên hoa 5g, sinh cam thảo 10g. Sắc uống, ngày 1 thang, 3 lần trước bữa ăn 1,5 giờ. Uống liền 3 – 4 tuần.

Trị viêm amidan, viêm họng sưng thũng, sốt cao, nuốt đau: sơn đậu căn, kim ngân hoa, mỗi vị 12g; hoàng liên 4g, hoàng bá 8g. Có thể thay hoàng liên bằng hoàng bá 12g. Sắc uống ngày 1 thang chia 2 – 3 lần, trước bữa ăn 1,5 giờ. Uống liền 1 – 2 tuần.

Trị viêm họng cấp, đau họng: sơn đậu căn 3g; nhân sâm, xạ can, mỗi vị 10g; cát cánh 7g, cam thảo 2g. Sắc uống, ngày một thang, chia 3 lần trước bữa ăn 1,5 giờ. Uống liền 1 – 2 tuần.

Trị sưng lợi răng: sơn đậu căn, bạch cương tằm, chi tử, mỗi vị 12g; bạc hà, kinh giới, mỗi vị 6g; huyền sâm, cát cánh, cam thảo dây, mỗi vị 8g. Sắc uống, ngày một thang, chia 3 lần trước bữa ăn 1,5 giờ. Uống liền 1 – 2 tuần. Có thể dùng sơn đậu căn dưới dạng thuốc bột: sơn đậu căn 60g, cam thảo 10g. Tất cả tán bột mịn, mỗi lần uống 3 – 6g, ngày 2 lần, trước bữa ăn 1,5 giờ. Uống liền nhiều ngày.

Ngoài ra, sơn đậu căn còn được dùng ngoài để trị mụn ngứa, côn trùng, rắn, rết cắn: sơn đậu căn tán bột mịn, thêm nước đun sôi để nguội thành hồ nhão, bôi vào vết thương. Hoặc sơn đậu căn 12g, hàn the 4g, băng phiến 0,8g. Tất cả tán bột mịn, thêm nước sôi để nguội tạo bột nhão, bôi vào vết thương.        

  GS.TS. Phạm Xuân Sinh

Hiếp thống là tình trạng đau hai mạng sườn do can khí uất kết, khí cơ trở trệ, do căng thẳng thần kinh (stress) hoặc do can âm hư suy… gây nên. Theo Đông y, can chủ sơ tiết, chủ điều đạt, ưa thư thái bình yên. Giận dữ uất ức, căng thẳng thần kinh là những yếu tố để gan sinh bệnh.

Biểu hiện của chứng hiếp thống là người bệnh đau tức hạ sườn, can khí nghịch lên, hoa mắt váng đầu, khí huyết mất thông sướng, đau lan đến vùng thượng vị, người bệnh ăn uống kém, đêm ngủ không yên, miệng đắng, đi tiểu buốt, tiểu đục, phụ nữ thì rối loạn kinh nguyệt, nam giới xuất tinh không kiểm soát, khô miệng, ngủ hay mơ, giật mình, hoảng sợ… Sau đây là một số bài thuốc chữa trị chứng bệnh này theo từng thể.

Bài thuốc trị chứng hiếp thống 1
Bài thuốc trị chứng hiếp thống 2
 Lá vọng cách (trên) và lạc tiên (dưới) là hai vị thuốc trị chứng hiếp thống do căng thẳng thần kinh.

Hiếp thống do can khí uất kết: Người bệnh đau tức hạ sườn, đau đầu, ít ngủ, miệng đắng, ăn uống kém, da vàng, mắt vàng, tiểu đỏ, lượng ít, tinh thần không thư thái… Phép trị là hòa can, hạ khí, giải uất, an thần. Dùng một trong các bài:

Bài 1: bạch thược 12g, sài hồ 12g, rau má 20g, chi tử 12g, đan bì 8g, hoài sơn 12g, liên nhục 12g, mơ muối 12g, tang diệp 20g, lạc tiên 16g, sa sâm 12g, đinh lăng 16g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Công dụng: thư can, lợi mật, hạ khí, bình thần.

Bài 2: đương quy 12g, sài hồ 16g, cát cánh 10g, đan sâm 12g, kê nội kim 12g, bán hạ 10g, hậu phác 10g, chỉ xác 8g, trần bì 10g, cam thảo 10g, sơn tra 10g, rau má 20g, hạ liên châu 10g, lạc tiên 16g, lá vọng cách 12g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Công dụng: sơ can, giải uất, thanh nhiệt, bình thần.

Hiếp thống do huyết ứ: Người bệnh đau mạng sườn từng cơn, nhiều lúc đau tăng lên, hông sườn đầy ách, khi cơ nghịch lên làm cho nhịp thở không ổn định, đau lan ra những vùng lân cận, miệng đắng, da vàng sậm, lưỡi khô, có những điểm xuất huyết. Phép trị là sơ can trục ứ, thanh nhiệt, hoạt huyết, điều khí an thần. Dùng một trong các bài:

Bài 1: đào nhân 10g, đương quy 12g, kê huyết đằng 12g, hương phụ 10g, xuyên sơn giáp 2g, tô mộc 20g, thiên hoa phấn 10g, đinh lăng 16g, cúc hoa 10g, đại hoàng 8g, bán hạ 10g, hậu phác 10g, trần bì 10g, cam thảo 10g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Công dụng: hoạt huyết hóa ứ, hạ khí thông lạc.

Bài 2: sài hồ 16g, bạch thược 12g, đan bì 10g, cà gai leo 12g, hạ liên châu 12g, hồng hoa 8g, tô mộc 20g, đại hoàng 6g, đinh lăng 16g, xuyên sơn giáp 2g, cam thảo 10g, mía dò 16g, trần bì 10g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Công dụng: hoạt huyết tiêu ứ, thông lạc, thuận khí.

Hiếp thống do căng thẳng thần kinh (stress): Như đã nói, gan ưa thư thái điều đạt. Khi giận dữ tức tối, căng thẳng sẽ làm cho chức năng của gan bị trở trệ. Người bệnh có biểu hiện vùng hạ sườn phải căng cứng, đầy ách, khí dâng lên, cơ hoành cứng đơ… kèm theo khó thở, đau vùng hông sườn và đau tức cả vùng thượng vị, nhu động gan ruột bị rối loạn, nhịp tim có thể tăng… Phép trị là sơ can, điều khí, an thần, giảm đau. Dùng một trong các bài:

Bài 1: đan bì 10g, chi tử 10g, lá vọng cách 12g, bạch thược 12g, đương quy 10g, đan sâm 16g, đinh lăng 16g, cát căn 16g, tang diệp 18g, lạc tiên 16g, sài hồ 16g, bán hạ 8g, hậu phác 10g, cam thảo 12g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Công dụng: thư can hạ khí, an thần, chống co thắt.

Bài 2: đỗ trọng 10g, khởi tử 12g, lá đinh lăng 20g, tang diệp 20g, lá đắng 10g, rau má 20g, đương quy 16g, sa sâm 16g, lạc tiên 16g, tâm sen 10g, bán hạ 8g, hậu phác 10g, cam thảo 10g, phục thần 10g, mơ muối 12g, kê nội kim 12g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Công dụng: thư can, hạ khí, giảm đau, an thần.            

  Lương y Thanh Ngọc

Trong quá trình ăn uống, có những món chứa các chất dinh dưỡng được cho là tăng cơ hội đậu thai, tác dụng cải thiện khả năng sinh sản một cách đáng kể.
Đó là hải sản, cải xoăn, hạnh nhân, nấm… Những thực phẩm này chứa các dưỡng chất quan trọng cho quá trình sinh sản như vitamin D, E, A. Chúng cũng có các a xít béo omega 3 giúp tăng cường khả năng sinh sản của phụ nữ. Còn chất kẽm trong trứng và nấm giúp tăng số lượng tinh trùng. Cụ thể như sau:
Sinh tố lựu: Lựu chứa nhiều chất chống ô xy hóa tốt cho khả năng sinh sản ở nam giới. Bạn có thể làm sinh tố lựu với một ít sữa có hàm lượng chất béo thấp.

Thực phẩm cải thiện khả năng sinh sản 1

Hàu nướng giàu chất kẽm – Ảnh: Đ.N.Thạch

Cá hồi fillet nướng: Cá hồi là loại thực phẩm cần bổ sung nếu bạn muốn mau đậu thai. Cá hồi tươi phải được ướp với gừng, giấm và tiêu trong 20 phút. Sau đó đem nướng trong lò chừng 15 phút.


Món salad cải xoăn: Loại rau này chứa nhiều vitamin K giúp tăng khả năng mang thai. Sử dụng cải xoăn sống, trái cây họ cam quýt (tránh quả thơm) và sữa đông ít chất béo để làm thành món salad.
Bánh mì sandwich kẹp phô mai: Phô mai có hàm lượng canxi cao cần thiết cho khả năng sinh sản ở phụ nữ. Thêm nhiều loại rau như cà chua, hành tây, cà rốt… để làm món sandwich. Sau đó, quết phô mai ít chất béo vào bánh và nướng trong 2 phút.
Hàu nướng tỏi: Hàu là thực phẩm lý tưởng giúp tăng khả năng sinh sản cho nam giới vì có chứa kẽm. Ướp hàu với dầu ô liu và tỏi băm nhỏ. Bạn cũng có thể thêm một ít ớt cho món ăn này. Nướng hàu trong 10 phút.
Thực phẩm cải thiện khả năng sinh sản 2

Tôm giàu a xít béo omega 3 và kẽm – Ảnh: Minh Khôi

Nước ép rau củ: Nếu bạn đang cố gắng mang thai, hãy bỏ caffeine. Thay vào đó, dùng nước ép rau củ được làm từ cải bó xôi, cần tây và dưa leo.
Tôm: Chứa nhiều khoáng chất từ biển rất tốt. Tôm cũng giàu a xít béo omega 3 và kẽm. Ướp tôm với nước cốt chanh, tỏi và tinh dầu hương thảo (rosemary). Xào tôm 4 – 5 phút trên lửa nhỏ.
Theo Thanh Niên

Ngủ là nhu cầu của tất cả mọi người, bạn không thể tỉnh táo và khỏe mạnh nếu không ngủ dù ít hay nhiều. Không còn gì thoải mái hơn sau một ngày làm việc vất vả bạn được đặt lưng trên chiếc giường êm ái và ngủ một giấc. Nhưng không phải ai cũng có được một giấc ngủ ngon như vậy, nhiều người phải đối mặt với chứng rối loạn giấc ngủ kỳ lạ.

Hội chứng không ngủ 24 giờ

Đây là một trong những hội chứng hiếm gặp nhất trên thế giới các bác sĩ từng chứng kiến. Đối với người bình thường, vòng quay đồng hồ sinh học thường là 24 giờ/ngày trong đó thời gian dành cho giấc ngủ khoảng 8 giờ và tạo thành chu kỳ thức ngủ. Với người mắc hội chứng này, đồng hồ sinh học của họ kéo dài hơn 26 giờ hoặc thậm chí 72 giờ. Với người có đồng hồ sinh học 26 giờ, thời gian tỉnh táo của họ sẽ là 16 tiếng và người có đồng hồ sinh học 72 giờ, thời gian tỉnh táo của họ là 48 tiếng tức là trong vòng 48 tiếng họ sinh hoạt, làm việc bình thường và 48 tiếng còn lại dành cho việc ngủ. Người mù có tỷ lệ mắc hội chứng này cao hơn người bình thường.

Những chứng rối loạn giấc ngủ kỳ lạ 1
 Hội chứng thiếu ngủ do đồng hồ sinh học kéo dài hơn 26 giờ.

Chứng ngủ rũ

Chứng ngủ rũ là một rối loạn giấc ngủ mạn tính đặc trưng bởi trạng thái buồn ngủ ban ngày quá nhiều và các cuộc tấn công bất ngờ của giấc ngủ. Người mắc chứng ngủ rũ thường rơi vào giấc ngủ mà không có bất cứ cảnh báo nào, có thể ngủ ở bất cứ nơi nào, bất cứ lúc nào, có thể ngủ ngay trong lúc đang nói chuyện với bạn bè hoặc đang trong lúc làm việc. Có thể ngủ trong vài phút đến nửa giờ trước khi thức dậy. Chứng ngủ rũ vào ban ngày thường làm người bệnh gặp nhiều phiền toái, mệt mỏi. Các bác sĩ cho rằng, hóa chất trong não đặc biệt là hypocretin đóng một vai trò rất lớn trong việc gây chứng ngủ rũ. Trên thế giới, tỷ lệ mắc chứng bệnh này là 1/2.000 người.

Hội chứng chân không yên (RLS)

Hội chứng này là tình trạng đôi chân cảm thấy rất khó chịu khi đang ngồi hay nằm xuống. Chứng bệnh này có thể gặp ở bất cứ độ tuổi nào và thường nặng hơn khi về già, phụ nữ có nhiều khả năng mắc chứng RLS hơn nam giới. Hội chứng RLS có thể phá vỡ giấc ngủ dẫn đến buồn ngủ ban ngày và khiến việc đi lại trở nên khó khăn. Người mắc chứng bệnh này thường mô tả cảm giác như nhói đau, ngứa ran…

Hội chứng Hypersomnia

Hypersomnia là một rối loạn giấc ngủ rất hiếm gặp, trên thế giới chỉ ghi nhận 200 trường hợp mắc hội chứng này. Rối loạn Hypersomnia khiến giấc ngủ có thể kéo dài tới 18 tiếng/ngày và kéo dài từ ngày này sang ngày khác, thậm chí cả tuần. Trước khi mắc chứng bệnh này, người bệnh thường có triệu chứng như cúm, đau đầu kéo dài.

Rối loạn hành vi giấc ngủ (RBD)

40% người có biểu hiện rối loạn hành vi giấc ngủ ở giai đoạn REM là giai đoạn sâu nhất của giấc ngủ, người mắc chứng RBD có thể la hét, đấm đá hoặc nghiến răng trong khi ngủ. Nếu không được điều trị RBD có thể nghiêm trọng hơn và có xu hướng bạo lực nặng nề hơn. Rối loạn này chủ yếu thường gặp ở nam giới gắn liền với bệnh Parkinson.

Hội chứng nổ đầu

Hội chứng nổ đầu là một dạng rối loạn giấc ngủ khiến người bệnh nghe thấy một tiếng nổ lớn trong đầu mình. “Tiếng nổ” thường xảy ra ngay sau khi người mắc bệnh ngủ và nghe như một tiếng gầm, tiếng súng, tiếng la hét, tiếng chuông hay chập điện. Mặc dù người mắc triệu chứng này không bị tổn thương về thể chất nhưng họ phải trải qua cảm giác sợ hãi và lo lắng như bị tấn công. Hiện các nhà khoa học chưa tìm ra nguyên nhân và cách chữa trị triệu chứng này, mặc dù nó có liên hệ với sự căng thẳng và thường biến mất mà không cần điều trị.

Hội chứng cười là ngủ

Triệu chứng hiếm gặp này khiến người bị bệnh có thể ngủ gục bất kỳ lúc nào khi cười. Ngoài ra, người bệnh cũng bị kích thích mạnh với những cảm xúc khác như sợ hãi, tức giận hay ngạc nhiên. Điển hình của người gặp triệu chứng này là cô Claire Allen ở Anh. Nếu không được điều trị, Allen có thể gặp những cơn buồn ngủ 100 lần mỗi ngày, mỗi lần thường kéo dài từ 30 giây đến 5 phút. Ngay cả khi được ai đó vẫy chào trên phố cũng có thể khiến cô gặp vấn đề với cơn buồn ngủ bất ngờ ập đến.

Những chứng rối loạn giấc ngủ kỳ lạ 2
 Hội chứng cười là ngủ.

Chứng nghiến răng

Nghiến răng là hiện tượng siết chặt quá mức răng ở hai hàm trên và dưới và thường diễn ra khi ngủ. Thông thường, người bệnh không ý thức được hiện tượng này. Sự nghiến răng giữa hai hàm với nhau gây ra những âm thanh khó chịu. Hiện tượng này có thể không làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe nhưng nếu kéo dài, mức độ mạnh có thể làm gãy răng, nhức đầu, chóng mặt, rối loạn cơ, khớp thái dương hàm, gây khó khăn cho việc nhai hay nói chuyện.

Chứng nghiến răng khi ngủ là dạng rối loạn giấc ngủ thường gặp, đứng sau nói mơ và ngáy. Người ta tin rằng những người bị tật này lúc ngủ có nguy cơ ngáy và ngưng thở cao hơn bình thường. Theo các nhà nghiên cứu, nguyên nhân của chứng nghiến răng là do áp lực, công việc stress, các rối loạn chức năng ở hệ thần kinh trung ương, uống rượu và hút thuốc lá.

Chứng ngừng thở

Đây là một hội chứng thường gặp, gây nhiều biến chứng nguy hiểm và khó tự phát hiện vì dấu hiệu ngừng thở chỉ xảy ra khi ngủ. Hội chứng ngưng thở khi ngủ là rối loạn đặc trưng bởi sự ngưng thở hoàn toàn khoảng 10 – 30 giây trong khi ngủ và nhiều hơn 30 lần/đêm dẫn đến tình trạng thiếu ôxy máu. Nguyên nhân do ở vùng hầu họng có các tổ chức phần mềm xung quanh đường thở gồm: lưỡi, amidan, vòm miệng mềm, lưỡi gà. Các phần mềm này được các cơ vận động vùng hầu họng nâng đỡ. Khi ngủ say, các cơ này giãn ra làm hẹp đường thở gây ra tiếng ngáy, cũng có khi làm tắc đường thở gây ra chứng ngừng thở. Chứng ngừng thở khi ngủ có thể do thừa cân, tăng huyết áp, hút thuốc lá hoặc có tiền sử rối loạn.

Chứng mộng du

Có tới 40% trẻ em từ 3-7 tuổi mộng du vào một thời gian nào đó. Mộng du là hiện tượng người đang ngủ, ngồi dậy, mở mắt, đi vòng quanh phòng hoặc đi về phía có ánh sáng, trẻ đi về phòng ngủ của bố mẹ hoặc đi đến cửa sổ, trèo lên cửa sổ, mở cửa phòng đi ra ngoài hoặc tiến hành các hoạt động khác. Mộng du có thể đột ngột kết thúc, người bệnh có thể trở lại giường và tiếp tục ngủ. Mộng du thường xuất hiện 1-2 giờ sau khi ngủ, giai đoạn 3 và 4 của giấc ngủ sâu và kéo dài từ vài giây đến 30 phút. Khi ngủ dậy, người bệnh không nhớ gì về sự việc đã xảy ra. Nguyên nhân được xác định do tình trạng lo âu, mệt mỏi, mất ngủ, hoảng sợ, ốm, đau triền miên, thiếu magiê, trào ngược dạ dày thực quản.

                  Huệ Minh

(Tổng hợp theo Health, Wikipedia, TTz, 8/2013) 

Người phụ nữ 39 tuổi (Ma-rốc) trong chuyến bay từ Casablanca, Ma-rốc tới thành phố Bologna (Ý) ngay khi máy bay vừa cất cánh thì có biểu hiện đau bụng chuyển dạ và sau đó đã hạ sinh em bé ngay trong chuyến bay, trước khi hạ cánh xuống sân bay El Prat của Barcelona (Tây Ban Nha) sau khi các phi công được yêu cầu hạ cánh khẩn cấp.
Một bé trai được sinh ra khi máy bay đang vận hành 1
 Máy bay của hãng hàng không Royal Air Maroc. Ảnh: arabianbusiness

Tình cờ, một trong những hành khách trên chuyến bay của hãng Hàng không Hoàng gia Ma-rốc là một nữ hộ sinh. Bởi vậy, cô đã hỗ trợ phi hành đoàn để đón em bé chào đời.

Sức khỏe của người mẹ và em bé đều tốt sau khi họ được đưa đến Bệnh viện Sant Joan de Deu ở Barcelona. Bệnh viện từ chối tiết lộ danh tính của họ. Được biết, người phụ nữ này đang trên đường tới Ý du lịch, trước thời gian dự kiến sinh một vài tuần.    
 
Kim Lan (Theo Daily mail)

Giới khoa học Anh vừa công bố chiếc đồng hồ có thể tính toán tuổi thọ, đánh giá tình trạng sức khỏe con người bằng công nghệ quét laser. Đó là chiếc đồng hồ được chế tạo bởi giáo sư vật lý Aneta Stefanovska và Peter McClintock từ Đại học Lancaster (Anh). Khi đeo trên tay, chiếc đồng hồ phát ra các chùm laser sâu vào da con người để phân tích tình trạng các tế bào mao mạch nhỏ và xác định tình trạng lão hóa của cơ thể. Những dữ liệu thu thập được từ các chùm laser sẽ đánh giá các chức năng của tế bào trên thang điểm từ 0 – 100 và các nhà nghiên cứu dựa vào các con số đó để dự đoán thời gian tồn tại của một người.

GS. Aneta Stefanovska cho biết, việc sử dụng thiết bị trên có thể giúp các bác sĩ sớm nhận ra dấu hiệu một vài căn bệnh nguy hiểm như bệnh tim, bệnh mạch vành, ung thư hoặc mất trí nhớ.

Trong tương lai, thiết bị trên sẽ được thu nhỏ bằng với một đồng hồ đeo tay cho gọn gàng hơn. Dự kiến, thiết bị này đã sẵn sàng có mặt trên thị trường trong 3 năm tới với mức giá từ 310 – 464 USD.

Hồng Đức

 (Theo The Time, 8/2013)

Giáo sư Peter Gunning thuộc Trường đại học New South Wales (Australia) cho biết, ông đã tìm ra mối liên kết lỏng lẻo trong các tế bào ung thư và với sự hỗ trợ của thuốc, các tế bào ung thư sẽ bị tiêu diệt. Trên thực tế, ý tưởng của GS. Gunning đã xuất hiện từ những năm 70 của thế kỷ trước, khi giới khoa học hy vọng có thể phát triển một loại thuốc tấn công vào cấu trúc của tế bào ung thư. Tuy nhiên, các nghiên cứu và thử nghiệm không thu được kết quả do gây hại tới các bộ phận khác trên cơ thể.

Sau nhiều nghiên cứu và thí nghiệm, GS. Gunning và đồng nghiệp đã phát hiện có một phần chính trong cấu trúc tế bào ung thư có thể tác động vào mà không gây hại cho cơ thể. Ông còn cho biết thêm, phương pháp này đang được thử nghiệm ở động vật, hy vọng các thử nghiệm sẽ được áp dụng ở người trong 2 năm tới.

         Huy Hoàng

          (Theo Reuter, 8/2013)

Thấp tim hay còn gọi là thấp khớp cấp hoặc sốt thấp khớp (rheumatic fever) được coi là một trong những bệnh của hệ miễn dịch mô liên kết hay thuộc hệ thống tạo keo. Bệnh thường gặp ở trẻ từ 5 – 15 tuổi. Ðây là căn bệnh làm tổn thương khớp, tim, thần kinh, da và chỉ để lại di chứng ở tim. Những di chứng tại van tim là nguyên nhân chính của bệnh tim mắc phải, gây tử vong cho trẻ em 5 – 15 tuổi, làm mất sức lao động của những người trưởng thành.

Chẩn đoán xác định thấp tim khi nào?

Khi có bằng chứng của nhiễm liên cầu A đường hô hấp (biểu hiện lâm sàng của viêm đường hô hấp trên và/hoặc làm phản ứng ASLO dương tính và/hoặc cấy dịch họng tìm thấy liên cầu), kèm theo có ít nhất 2 tiêu chuẩn chính hoặc có 1 tiêu chuẩn chính kèm 2 tiêu chuẩn phụ. Sở dĩ là vậy vì trong màng tế bào liên cầu khuẩn nhóm A có một thành phần protein rất giống với protein màng tế bào cơ tim và một số tổ chức liên kết khác của cơ thể. Ngoài ra, cấu trúc cacbon hydrat màng tế bào liên cầu khuẩn nhóm A cũng giống mucoprotein ở van tim người. Khi bị nhiễm liên cầu khuẩn nhóm A, cơ thể sẽ sản xuất các kháng thể chống liên cầu khuẩn, vô tình các kháng thể này cũng tấn công luôn cả cơ tim và các tổ chức liên kết có thành phần protein tương tự. Ngoài có cấu tạo protein rất giống với protein màng tế bào cơ tim dẫn tới sự “nhầm lẫn” kể trên, màng tế bào liên cầu khuẩn còn mang nhiều chất có độc tính với tế bào cơ tim, thận, phá hủy hồng cầu, tiểu cầu…

Bệnh thấp tim - Làm sao biết và tránh?   1
 Hình ảnh hở van 2 lá do thấp tim.

Dấu hiệu nhận biết

Sau khi bị viêm họng từ 1 – 5 tuần, những trẻ bị nhiễm liên cầu khuẩn nhóm A sẽ thấy xuất hiện tình trạng đau ở khớp với đặc điểm là đau từ khớp này sang khớp khác. Các khớp lớn như khớp gối, khớp khuỷu, khớp cổ chân, cổ tay sẽ bị sưng, đau, nóng đỏ khiến bệnh nhân đi lại và cử động rất khó khăn (riêng khớp cột sống hoặc khớp ngón tay, ngón chân rất ít khi đau nhức). Điểm đặc biệt của bệnh này là khi khớp sau bị sưng đau thì các khớp bị sưng đau trước đó lại khỏi và trở lại hoạt động bình thường, không có biến dạng khớp và bị hạn chế cử động như các loại viêm khớp khác. Chính vì biểu hiện như vậy mà căn bệnh này còn được gọi là bệnh thấp khớp cấp.

Cùng với những cơn đau ở khớp thì ở tim cũng có tổn thương (cơ tim, các màng tim và các van tim) làm cho người bệnh mệt mỏi, đau tức ngực, khó thở, nhịp tim chậm hoặc nhanh, có thể không đều. Nếu viêm cơ tim nặng gây khó thở, tím tái, phù, gan to.

Tổn thương thường gặp khi bị thấp tim

Viêm tim: Viêm tim là một biểu hiện bệnh lý nặng của thấp tim và khá đặc hiệu. Có khoảng 41 – 83% số bệnh nhân thấp tim có biểu hiện viêm tim. Các biểu hiện của viêm tim có thể là viêm màng trong tim, viêm màng ngoài tim, viêm cơ tim. Viêm tim có thể biểu hiện từ thể không có triệu chứng gì đến các dấu hiệu suy tim cấp nặng hoặc tử vong. Các triệu chứng lâm sàng có thể gặp là: tăng nhịp tim, tiếng thổi tâm thu, tiếng thổi tâm trương, tiếng rung tâm trương, rối loạn nhịp, tiếng cọ màng tim, suy tim…

Một trong những biểu hiện phải chú ý và là biến chứng nặng của thấp tim là viêm van tim. Hở van hai lá là một trong những biểu hiện thường gặp nhất, trong khi hở van động mạch chủ ít gặp hơn và thường kèm theo hở van hai lá.

Viêm khớp: Viêm khớp là một biểu hiện hay gặp nhất trong thấp tim (80%) nhưng lại ít đặc hiệu. Biểu hiện của viêm khớp là sưng, nóng, đỏ, đau khớp, xuất hiện ở các khớp lớn (gối, cổ chân, cổ tay, khuỷu, vai…) và có tính chất di chuyển. Viêm khớp do thấp tim thường không bao giờ để lại di chứng ở khớp.

 Múa giật Sydenham:  Đây là biểu hiện của tổn thương ngoại tháp và khá đặc hiệu cho thấp tim. Các biểu hiện là những động tác vận động không mục đích và không tự chủ ở các cơ mặt, chi; giảm trương lực cơ, rối loạn cảm động. Các biểu hiện ban đầu có thể là khó viết, khó nói hoặc đi lại. Các biểu hiện này thường rõ khi bệnh nhân bị xúc động hoặc thức tỉnh và mất đi khi bệnh nhân ngủ.

Múa giật Sydenham là một trong những biểu hiện muộn của thấp tim, nó thường xuất hiện sau khi viêm đường hô hấp trên khoảng 3 tháng. Múa giật Sydenham thường biểu hiện đơn độc trong thấp tim và gặp ở khoảng 30%. Triệu chứng này thường mất đi sau 2 – 3 tháng.

Nốt dưới da: Đó là những nốt có đường kính khoảng 0,5 – 2cm, cứng, không đau, di động và thường xuất hiện ngay trên các khớp lớn hoặc quanh các khớp. Nốt dưới da có thể gặp ở khoảng 20% số bệnh nhân bị thấp tim và thường biến mất sau vài ngày. Da ở trên nốt này thường vẫn di động bình thường và không có biểu hiện viêm ở trên.

 Đây là một loại ban trên da, có màu hồng và khoảng nhạt màu ở giữa tạo thành ban vòng. Thường không hoại tử và có xu hướng mất đi sau vài ngày. Hồng ban vòng là một dấu hiệu khá đặc hiệu trong thấp tim và ít gặp (5%), thường chỉ gặp ở những bệnh nhân có da mịn và sáng màu. Hồng ban vòng thường xuất hiện ở thân mình, bụng, mặt trong cánh tay, đùi và không bao giờ ở mặt. Khi có hồng ban vòng thì thường có kèm theo viêm cơ tim.

Do các triệu chứng nói trên, bệnh thấp tim hay bị nhầm với một số bệnh khác nên dễ bị bỏ qua. Điều này rất nguy hiểm, bởi nếu không được điều trị, bệnh cũng sẽ khỏi, nhưng sau đó một thời gian lại tái phát. Mỗi lần tái phát như vậy các tổn thương ở tim càng nặng hơn dẫn đến các chứng hẹp hay hở van tim, hoặc hở hay hẹp các van động mạch tại tim.

Lời khuyên của thầy thuốc

Khi thấy đau khớp sau một đợt viêm họng, nên nghĩ tới thấp tim và cần sớm đi khám bệnh, làm các xét nghiệm cần thiết để và có liệu trình điều trị đúng đắn. Nếu đúng mắc bệnh thấp tim, trẻ nên tuân thủ chế độ điều trị dự phòng nghiêm ngặt cụ thể: tiêm kháng sinh dự phòng một tháng một lần theo chỉ dẫn của thầy thuốc. Thời gian dự phòng là 5 năm, tốt nhất đến 18 tuổi, với thể tổn thương nặng ở tim, phòng tái phát cho đến 25 tuổi.

Để phòng bệnh thấp tim, trẻ cần tránh không để bị cảm, bị viêm họng, viêm khí – phế quản, đồng thời gìn giữ vệ sinh răng miệng thật tốt. Cần chú trọng cải thiện các điều kiện ăn, ở, chú ý vấn đề vệ sinh môi trường, điều kiện dinh dưỡng đối với trẻ em.   

BS.  Lê Hưng

Là phụ nữ, ai cũng mong muốn mình có một làn da tươi tắn, mịn màng. Nhiều chị em thường tốn rất nhiều tiền để mua các loại mỹ phẩm mà quên rằng có một “phương thuốc dưỡng nhan” rất hiệu quả, lại an toàn và rẻ tiền, đó là các món ăn – bài thuốc theo kinh nghiệm dân gian. Xin giới thiệu để chị em tham khảo.

Cháo bổ huyết, dưỡng nhan: đương quy 10g, xuyên khung 3g, hoàng kỳ 3g, hồng hoa 2g, nước luộc gà 1 lít, gạo 100g. Xuyên khung, đương quy, hoàng kỳ rửa bằng rượu, thái lát mỏng. Tất các các vị thuốc cho vào túi vải, bỏ vào nồi, cho nước luộc gà và thêm nước lã vừa đủ, ninh thành nước thuốc, vớt túi thuốc ra, đổ gạo đã vo sạch vào, đun to lửa cho sôi rồi nhỏ lửa ninh thành cháo. Ngày 1 liều, chia ăn 2 lần.

Cháo gan lợn đậu xanh: gan lợn 100g, đậu xanh 50g, gạo 100g. Gạo, đậu  xanh vo sạch cho vào nồi, đổ 1 lít nước, đun sôi rồi nhỏ lửa, ninh nhừ thành cháo, cho gan lợn đã thái nhỏ vào đến chín là được. Chia 3 lần ăn trong ngày.

Cháo nhân táo chua, cùi nhãn: nhân táo chua 30g, cùi nhãn 15g, đường đỏ 10g, gạo 100g. Giã nát nhân táo chua bỏ vào túi vải buộc kỹ, cùi nhãn thái nhỏ cùng với gạo đã vo sạch cho vào nồi, nước vừa đủ, nấu thành cháo, bỏ đường vào là được. Ăn nóng vào sáng và tối.

Ăn để có làn da đẹp 1
 Cháo nhân táo chua cùi nhãn.

Mứt ngân nhĩ, hạch đào nhân: ngân nhĩ (mộc nhĩ trắng) 30g, vừng đen 50g, hạch đào nhân (quả óc chó) 50g, nước nho ép 50ml, mật ong 150g. Sao vừng và quả óc chó cho thơm, tán bột. Ngân nhĩ ngâm nở, rửa sạch bỏ cuống, cho vào nồi nước, đun sôi rồi chuyển nhỏ lửa, cho tiếp bột vừng và hạch đào nhân, nước nho, mật ong vào, khi thấy ngân nhĩ chín nhừ, đặc sệt là được. Ngày ăn 2 lần, có thể dùng liên tục.

Tim lợn nấu táo tàu: tim lợn 1 quả, táo tàu 25g. Tim rửa sạch, thái nhỏ, cho 2 thứ vào nồi đất, đổ nước vừa đủ, đun sôi rồi chuyển nhỏ lửa, thấy tim và táo chín nhừ là được. Ăn điểm tâm.

Ăn để có làn da đẹp 2
 Tim lợn nấu táo tàu là món ăn rất tốt cho chị em muốn có làn da đẹp.

Ích mẫu thảo nấu tang ký sinh: ích mẫu thảo 30g, tang ký sinh 30g, trứng gà 4 quả, đường phèn vừa đủ. Trứng luộc, bóc vỏ, cho vào nồi nấu cùng ích mẫu thảo và tang ký sinh, đổ nước vừa đủ, đun nhỏ lửa 30 phút, cho đường phèn khuấy tan rồi vớt bỏ ích mẫu thảo, tang ký sinh là được. Ăn trứng, uống nước trong ngày.

Mứt sơn dược nấu vừng: sơn dược 30g, vừng đen 15g, đường trắng 20g. Vừng sao chín tán bột mịn, sơn dược tán bột mịn, trộn với đường trắng, bắc nồi, đổ nước vừa đủ, đun to lửa cho sôi rồi nhỏ lửa, cho vừng, sơn dược, đường vào, khuấy đều, đun khoảng 3 phút là được. Ngày ăn 2 lần sáng và tối, mỗi lần 1 bát nhỏ.  

  Lương y Minh Chánh

Viêm cầu thận mạn là một căn bệnh được miêu tả trong phạm vi chứng thủy thũng (thể âm thủy) của y học cổ truyền. Nguyên nhân là do phong hàn tà thấp gây chứng phù thũng cấp tính (dương thủy) lâu ngày vì mệt nhọc, cảm nhiễm, ăn uống không điều độ, bệnh không khỏi hay tái phát làm giảm sút công năng vận hóa thủy thấp của tỳ và công nặng khí hóa thủy thấp của thận, gây ứ đọng nước thành chứng phù thũng mạn tính (âm thủy). Xin giới thiệu một số bài thuốc chữa theo từng thể.

Thể tỳ dương hư

Người bệnh phù ít, không rõ ràng, phù ở mi mắt, sắc mặt trắng xanh, tay chân mệt mỏi, ăn kém, hay đầy bụng, phân nát, tiểu tiện ít, chất lưỡi bệu, có vết răng, chân tay lạnh, mạch hoãn. Phép chữa là ôn bổ tỳ dương, lợi niệu. Dùng một trong các bài thuốc sau:

Bài 1: ý dĩ 30g, củ mài 20g, biển đậu 20g, mã đề 20g, nhục quế 4g, gừng khô 8g, đại hồi 8g, đăng tâm 4g, đậu đỏ 20g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài thuốc trị viêm cầu thận mạn 1Đại hồi.

Bài 2: quế chi 6g, thương truật 12g, hậu phác 6g, xuyên tiêu 4g, phục linh bì 12g, trạch tả 12g, ý dĩ 16g, sa tiền 20g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 3: phụ tử chế 8g, can khương 4g, bạch truật 12g, cam thảo 4g, hậu phác 8g, mộc hương 8g, thảo quả 8g, đại phúc bì 8g, mộc qua 8g, phục linh 16g. Sắc uống ngày 1 thang.

Kế hợp châm cứu các huyệt tỳ du, túc tam lý, tam tiêu du.

Thể thận tỳ dương hư

Người bệnh phù không rõ ràng, phù ít, kéo dài (nhất là ở hai mắt cá chân), bụng trướng, nước tiểu ít, sắc mặt trắng xanh, lưỡi bệu, mệt mỏi, sợ lạnh, lưng mỏi lạnh, chân tay lạnh, mạch trầm tế. Phép chữa là ôn thận tỳ dương. Dùng một trong các bài:

Bài 1: thổ phục linh 16g, củ mài 16g, tỳ giải 16g, đại hồi 10g, nhục quế 8g, tiểu hồi 12g, mã đề 12g, đậu đỏ 20g, cỏ xước 20g, đậu đen 20g, gừng khô 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2: bạch truật 12g, bạch thược 12g, bạch linh 12g, phụ tử (chế) 8g, sinh khương 6g, trạch tả 12g, sa tiền 12g, trư linh 8g, nhục quế 4g. Sắc uống ngày 1 thang.

Kết hợp châm cứu các huyệt quan nguyên, khí hải, tỳ du, túc tam lý, tam âm giao.

Bài thuốc trị viêm cầu thận mạn 2Đậu đỏ là vị thuốc trị viêm cầu thận mạn thể tỳ dương hư.

Thể âm hư dương xung

Hay gặp ở viêm cầu thận mạn có tăng huyết áp. Người bệnh biểu hiện phù không nhiều hoặc đã hết phù, nhức đầu chóng mặt, hồi hộp đánh trống ngực, miệng khát, môi đỏ, họng khô, chất lưỡi đỏ, mạch huyền sác. Phép chữa là bình can tư âm lợi thủy. Dùng bài: câu đằng 16g, tang ký sinh 16g, cúc hoa 12g, sa sâm 12g, ngưu tất 12g, đan sâm 12g, quy bản 12g, trạch tả 12g, sa tiền tử 16g. Sắc uống ngày 1 thang.

Kết hợp châm cứu các huyệt tam âm giao, thái xung, can du, nội quan, thần môn và các huyệt tại chỗ theo chứng.

Thể viêm cầu thận mạn có tăng urê máu

Do công năng của tỳ dương và thận dương giảm sút quá nhiều nên trọc âm nghịch lên, gây chứng urê huyết cao gọi là dương hư âm nghịch. Người bệnh biểu hiện lợm giọng, buồn nôn, sắc mặt đen, đau tức ngực, bụng trướng, đại tiện lỏng, tiểu tiện ngắn, ít, chất lưỡi bệu, rêu trắng dày, mạch huyền tế, nhu tế. Phép chữa là ôn dương giáng nghịch. Dùng bài: phụ tử chế 12 – 16g, đại hoàng 12 – 16g, trần bì 8g, phục linh 12g, bạch truật 12g, hậu phác 6g, bán hạ chế 12g, sinh khương 8g, đẳng sâm 20g. Sắc uống ngày 1 thang.

Nếu đại tiện phân nát, nước tiểu trong, đau bụng, rêu lưỡi trắng trơn (trọc khí hóa hàn) thêm can khương 8g, ngô thù 8g.

Nếu nước tiểu ít, đại tiện táo, miệng hôi lở loét (trọc khí hóa nhiệt) thêm hoàng liên 12g, trúc nhự 12g, chỉ thực 12g, can khương 4g, đẳng sâm 16g, cam thảo 4g, đại táo 12g.

Nếu có hiện tượng trụy mạch, dùng Độc sâm thang hoặc bài Sinh mạch tán gồm (nhân sâm 8g, ngũ vị tử 8g, mạch môn 8g) kết hợp các vị thuốc hồi dương như phụ tử (chế) 12g, nhục quế 6g, can khương 6g.  Sắc uống.

Lương y Thái Hòe

Tử hoa địa đinh còn gọi là cỏ tím, rau cẩm, lý đầu thảo… Bộ phận dùng làm thuốc là cả cây, thu hái quanh năm; dùng tươi hay phơi khô. Theo Đông y, tử hoa địa đinh vị đắng nhạt, hơi mát; vào kinh phế, tâm và can. Tác dụng làm mát máu, giải nhiệt, giải độc, tiêu sưng. Chữa viêm họng, viêm amidan, viêm quanh răng, quai bị, mụn mủ sưng lở, đau mắt, cảm mạo… Xin giới thiệu một số bài thuốc chữa bệnh có dùng vị tử hoa địa đinh.

Tử hoa địa đinh giải độc, tiêu sưng 1Tử hoa địa đinh.

Phòng và chữa cảm mạo, cúm và nhiễm khuẩn đường hô hấp: tử hoa địa đinh 30g, dã cúc hoa 30g. Sắc uống.

Chữa trẻ em viêm phổi, viêm phế quản cấp tính: trần bì 12g, hoàng cầm 8g, ma hoàng 3g, sinh thạch cao 16g, đình lịch tử (sắc bao) 8g, khổ hạnh nhân 8g, tử hoa địa đinh 12g. Sắc uống 3 lần trong ngày.

Chữa trẻ em viêm khoang miệng, viêm amidan: sạ can 12g, huyền sâm 12g, tử hoa địa đinh 12g, bồ công anh 12g, thanh đại (sắc bao) 4g. Sắc lấy100 – 150ml. Uống tùy theo tuổi, ngày chia 2 – 4 lần. 

Chữa nha chu viêm có mủ, sưng viêm lợi cấp tính: hoàng cầm 20g, huyền sâm 20g, tử hoa địa đinh 20g, sinh địa 15g, đại hoàng 8g, sinh thạch cao 40g. Sắc uống 2 – 3 lần trong ngày; uống thuốc trong  2 ngày.

Chữa quai bị: tử hoa địa đinh tươi 40g, phèn chua 4g. Giã nhỏ đắp.

Chữa viêm tắc mạch máu loại âm hư nhiệt độc: kim ngân hoa 40g, liên kiều 20g, thạch hộc 20g, thiên hoa phấn 20g, huyền sâm 20g , dã cúc hoa 40g, ngưu tất 10g, hoàng cầm 10g, đương quy 20g, thiên quỳ tử 20g, xích thược 20g, tử hoa địa đinh 20g, dạ minh sa 20g, sinh hoàng kỳ 20g, sinh cam thảo 20g. Sắc uống ngày 2 lần, uống thuốc sau bữa ăn 2 giờ.

Thanh nhiệt độc, giải uất kết ở hạ tiêu: tử hoa địa đinh 12g, bạch chỉ 12g, thấu cốt thảo 12g, sơn từ cô 12g, qua lâu nhân 12g, nhũ hương 4g, một dược 4g, nhị tiêm đầu 4g, trần bì 8g, thất diệp nhất chi hoa 12g, bạch hoa xà thiệt thảo 12g, thổ phục linh 12g, hạ khô thảo 8g, kim ngân hoa 12g, liên kiều 6g, bồ công anh 12g, lậu lô 8g, quất diệp 10g, cúc hoa 8g. Sắc uống ngày 1 thang.  

BS. Tiểu Lan

Thời tiết “mưa xuống, nắng lên” như hiện nay dễ khiến cho nhiều người bị cảm. lúc này, mọi người có thể nhớ đến tía tô, vị thuốc thích hợp trị chứng cảm mạo thường xảy trong những ngày oi bức bởi nó rất giàu dược tính, trị được nhiều bệnh.

Tía tô, còn gọi là tử tô, tô tử, tử tô ngạnh, é tía. Sách“Bản thảo cương mục”gọi tử tô là xích tô, cần phân (Dao), phằn cưa (Tày), hom tô (Thái), tên khoa học là Perilla frutescens (L.) Briton, thuộc họ Hoa môi (Lamaiaceae).

Đây là loại cây cỏ cao từ 0,5 – 1,0m, được trồng khắp nơi làm rau thơm gia vị ăn sống cùng các thức ăn khác như đậu phụ, rau trong món bún đậu mắm tôm chanh.

Bộ phận chế biến và sử dụng làm thuốc được thu hoạch về phơi khô trong râm mát (âm can), tử tô là cành non có mang lá của cây tía tô.

Đông y cho rằng tía tô có vị cay, mùi thơm, tính ấm. Lá có tác dụng làm ra mồ hôi, lợi tiêu hóa, trừ cảm lạnh. Thân cành lợi tiêu hóa. Hạt trừ hen, trị ho, làm long đàm.

Dưới đây là một số cách sử dụng tía tô trong trị một số bệnh chứng.

Chữa cảm các loại:

– Cảm lạnh: lá tía tô tươi một nắm, xắt nhỏ ăn với cháo nóng.

– Cảm cúm không có mồ hôi và ho tức ngực; nôn đầy: dùng 20g lá tươi giã nhỏ, chế thêm nước sôi, quấy đều gạn lấy nước nóng; hoặc dùng 10 lá xắt nhỏ trộn với cháo nóng, ăn rồi nằm nghỉ cho ra mồ hôi.

– Cảm mưa ướt gió lạnh, nóng rét, thân thể đau mỏi, nhức đầu sổ mũi, nôn đầy: dùng lá tía tô 15g, vỏ quít cũ, củ gấu (hương phụ), gừng sống, hành trắng cả cây đều 10g xắt uống lúc thuốc còn nóng.

Cháo giải cảm: lá tía tô xắt nhỏ 10g, hành sống giã nhỏ 5g, gừng tươi giã nhỏ ba lát, gạo tẻ 30g, muối vừa đủ. Nấu cháo nhừ, cho tía tô, hành, gừng, muối khuấy đều, ăn khi còn nóng. Ra mồ hôi sẽ nhẹ người.

Cảm cúm gai rét không ra mồ hôi: tía tô, lá chanh, bạc hà, lá sả, mỗi thứ một nắm nấu nước xông.

Cảm cúm có ho và nhức đầu: tía tô, kinh giới, lá lốt: một nắm, củ ném 50 củ, nghệ tươi, gừng tươi: 3 lát. Đổ 3 chén nước đun sôi kỹ, xông cho ra mồ hôi rồi uống thêm một chén nước nóng.

– Cảm cúm bốn mùa: tía tô, kinh giới: 20g, sắn dây, bạc hà: 10g, nghệ, gừng: 8g và sài hồ 15g. Trừ gừng là dùng tươi, còn lại đều khô. Đổ 3 chén nước sắc còn 1 chén uống khi nóng, uống xong đắp chăn nằm cho ra mồ hôi.

Cảm sốt khi mang thai: đang có mang thai mà cảm sốt, không nền dùng kháng sinh, tốt nhất là dùng tía tô, kinh giới, mỗi thứ 1 nắm, đổ 2 chén sắc còn 1 chén để nguội uống, tiếp đó ăn 1 chén cháo nóng có đập 1 quả trứng gà lấy lòng đỏ quậy đều.

Tía tô  trị cảm cúm 1

 Tía tô vắt nước uống chữa dị ứng, mề đay

Trị ngộ độc cua, cá, dị ứng, nổi mẩn ngứa:

– Giã lá tía tô vắt lấy nước cho uống, bã thì xát vào chỗ ngứa.

– Lá tía tô 10g, gừng tươi 10g, cam thảo 4g, nước 600ml, sắc còn 200ml chia 3 lần uống trong ngày khi thuốc đang nóng; hoặc lá tía tô khô 10g, sắc uống nóng.

Tức ngực muốn mửa: nhai sống một nắm lá tía tô với vài lát gừng.

Trị sưng vú: lá tía tô giã nát đắp lên vú, lại lấy một nắm nửa sắc uống.

Trị đau bụng động thai: cành và lá tía tô sắc đặc uống dần.

Có thai gần sinh bị phù thũng toàn thân: vỏ gừng tươi 40g, lá và cành tía tô 80g. Đổ 3 chén nước đun sôi kỹ (khi đun nhớ đậy nắp kín), xông cho ra mồ hôi và và uống thêm 1 chén nước nóng, bài thuốc này vừa có tác dụng an thai.

An thai: cành tía tô sắc uống thường xuyên có tác dụng an thai chữa hen suyễn và người già ho đàm mạn tính: dùng hạt tía tô và hạt cải bẹ, mỗi thứ 10g, tán bột, uống hàng ngày với nước sắc lá táo chua và dây tơ hồng sao, làm thang.

Chữa mụn cóc: dùng lá tía tô tươi vò xát vào, ngày 4 – 5 lần, xát liên tục mụn sẽ khô hết ngứa rồi bị rụng.

Trị chứng dương vật bị lở: nếu trẻ nhỏ bị chứng lở dương vật nước mủ chảy ra thì phải lập tức lấy 1 nắm lá tía tô rửa bằng nước muối rồi giã nát đắp rịt vào chỗ đau, rất hiệu nghiệm.

Trị chứng đầy bụng bí tiểu: nếu như bị chứng tiểu tiện không thông, bụng dưới đầy trướng thì lấy khoảng 2kg cả cây (cành, lá, hoa, hạt) cho vào nấu sôi, xông vào phần bụng dưới thấy nguội thì đổ thêm nước sôi, sau đó dùng vải bọc muối rang nóng chườm vào những chỗ trướng cứng và rốn thì sẽ thông tiểu ngay, đầy trướng cũng xẹp dần xuống.

Trị chứng táo bón: người cao tuổi và người suy yếu mà bị chứng táo bón thì lấy hạt tía tô và hạt hẹ, mỗi thứ khoảng 15g, cho cả hai thứ vào giã nhỏ, chế thêm vào 1 bát nước, khuấy đều lên rồi chắt lọc lấy nước cốt nấu cháo ăn rất công hiệu.

Người bị hen suyễn do bị yếu phổi (chủ yếu thấy ở người cao tuổi) thì lấy khoảng 50g hạt tía tô, sao qua, tán thành bột mịn rồi đổ nước vào gạn lấy nước cốt (1 bát nước) đem nấu cháo với gạo tẻ, ăn vào lúc đói rất công hiệu.

Lưu ý: không ăn cá chép chung với tía tô, dễ bị sinh độc thành mụn nhọt.

Xông: lấy lá tía tô cùng các lá khác như chanh, cúc tần, lá tre, lá bưởi… tạo thành nồi xông. Có thể sau xông lấy một bát nước uống. Khi mồ hôi ra cần dùng khăn khô lau sạch và đắp chăn mỏng nằm nghỉ một chốc bệnh cảm sẽ khỏi. Lưu ý: khi nấu nước sôi mới bắt đầu cho các lá xông vào và đậy vung kín; đối với trẻ hay người già yếu cần có người lớn ngồi bên giúp đỡ và hướng dẫn trong suốt quá trình xông để phòng tai nạn.

 BS. HOÀNG XUÂN ĐẠI

Đối với bệnh nhân sau phẫu thuật, việc ăn uống rất quan trọng để phục hồi sức khỏe và làm nhanh liền vết mổ. Ăn uống khoa học sau phẫu thuật như thế nào? Câu trả lời có trong bài viết  sau đây.

Ăn nhiều chất đạm, đủ chất béo

Để nhanh lành vết mổ, điều quan trọng là bệnh nhân phải ăn uống đầy đủ chất đạm (protein). Chất đạm tốt có nhiều trong các loại thịt nạc như thịt gà, thịt lợn, thịt bò, trứng gà vịt, chim cút. Hải sản bao gồm cá, tôm, cua… là một nguồn tuyệt vời cung cấp chất đạm tốt và dễ tiêu. Nếu bệnh nhân không ăn thịt hoặc không thích thịt, phải dùng protein có nguồn gốc thực vật như đậu phụ, các loại đậu, nhất là đậu nành. Các sản phẩm từ sữa là một nguồn protein tốt nhưng chúng có thể gây táo bón nên chỉ cho bệnh nhân sử dụng ở mức độ vừa phải. Một số nghiên cứu cho biết: các sản phẩm từ sữa có thể làm tăng tiết dịch trong phổi, vì vậy, nếu bệnh nhân bị ho, nên hạn chế dùng các sản phẩm từ sữa. Nếu bệnh nhân sử dụng các sản phẩm từ sữa mà không bị táo bón, nên dùng các sản phẩm có hàm lượng chất béo thấp như sữa lấy hết chất béo, sữa chua, phô mai.

Sau phẫu thuật nên ăn uống thế nào? 1Hải sản là nguồn cung cấp chất đạm tốt cho bệnh nhân sau phẫu thuật.

Trường hợp bệnh nhân đang gặp khó khăn trong việc ăn uống, phải xem xét bổ sung chất đạm bằng truyền đạm, uống viên thuốc đạm.

Chất béo: chỉ nên ăn dầu thực vật bằng cách dùng chúng chế biến món ăn. Các chất béo trong cá hay thủy hải sản là chất béo tốt mà bệnh nhân nên ăn. Không ăn hoặc rất hạn chế ăn chất béo từ động vật như lợn, chó, gà, vịt… Tránh ăn nước béo trong nước dùng phở, bún; tránh ăn da gà, vịt.

Vitamin và khoáng chất

Trái cây và rau quả tươi chứa cả chất dinh dưỡng và chất xơ, rất cần thiết để giúp lành vết mổ. Ở những nơi có điều kiện, bệnh nhân nên dùng rau, củ quả tươi là tốt nhất, trường hợp không sẵn đồ tươi, có thể dùng các loại rau, quả tươi đông lạnh hoặc đóng hộp cũng tốt. Một tác dụng phụ của việc ăn nhiều trái cây và rau quả hơn bình thường là nhiều hơi trong đường tiêu hóa, khiến bệnh nhân phải trung tiện nhiều. Nếu lượng hơi nhiều đến mức bệnh nhân cảm thấy có áp lực dạ dày hoặc đau quặn bụng, khi đó cần giảm ăn trái cây và rau củ, đồng thời sử dụng thuốc giảm khí.

Vitamin C là một chất chống ôxy hóa, giúp nhanh lành vết mổ và nâng cao sức đề kháng, làm giảm nguy cơ nhiễm khuẩn vết mổ. Những thực phẩm giàu vitamin C là cam, bưởi, chanh, rau ngót, dâu tây, kiwi, rau xanh các loại. Beta-caroten là chất có ở thức ăn, mà cơ thể sẽ biến thành vitamin A, rất quan trọng cho việc hình thành mô sẹo, làm nhanh lành vết thương. Các thực phẩm chứa nhiều beta-caroten mà bệnh nhân nên ăn là cà rốt, đu đủ, gấc, khoai lang, bí đỏ…

Cần ăn đủ chất đường và nhiều chất xơ

Chất đường nên ăn là các loại ngũ cốc, chế biến thông thường như cơm, cháo, xôi, chè đậu đen, đậu xanh, bánh mì… Hạn chế tối đa ăn đường kính, bánh kẹo ngọt vì dễ tạo môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển gây nhiễm khuẩn vết mổ. Nên dùng ngũ cốc thô thay cho ngũ cốc tinh chế: chọn gạo lức, đậu còn nguyên hạt để nấu món ăn. Đối với ngũ cốc chế biến sẵn, khi mua cần kiểm tra nhãn để tránh dùng các loại ngũ cốc có nhiều đường hoặc chất xơ thấp.

Thức ăn chứa chất xơ không những lành mạnh hơn so với thức ăn không có chất xơ mà còn đóng vai trò quan trọng trong ngăn ngừa bệnh táo bón, một biến chứng thường gặp sau phẫu thuật, nhất là phẫu thuật ổ bụng. Thức ăn chứa nhiều chất xơ là: bánh mì nâu và bánh mì đen làm từ ngũ cốc. Bánh mì trắng thường được tinh chế kỹ quá nên không cung cấp nhiều chất xơ. Trái cây: trái cây tươi là một nguồn cung cấp vitamin và chất xơ tuyệt vời cho bệnh nhân sau mổ. Rau củ quả cũng là nguồn chất xơ dồi dào, nhưng cần nấu chín mới ăn. Ngũ cốc: gạo, ngô, khoai, sắn, đậu đều có hàm lượng chất xơ cao.

Giải pháp cho bệnh nhân khó khăn ăn uống sau mổ

Trên thực tế, có nhiều bệnh nhân gặp khó khăn ăn uống sau khi phẫu thuật. Nếu bị táo bón có thể gây ra thiếu cảm giác ngon miệng. Khi đó, bệnh nhân cần báo với bác sĩ phẫu thuật để được hướng dẫn cách làm giảm táo bón. Nếu bệnh nhân không táo bón mà vẫn gặp khó khăn vì không thèm ăn, nên dùng các thức ăn giàu calo như uống sinh tố có sữa và trái cây; ăn bột đậu trộn lẫn bột protein. Nghĩa là tuy bệnh nhân ăn ít, nhưng với thực phẩm giàu calo vẫn có thể cung cấp đủ calo cần thiết cho cơ thể.

Cách làm tăng calo trong khẩu phần ăn là: sử dụng kem nguyên chất thay vì kem đã tách chất béo. Dùng bơ nguyên chất, không dùng bơ ít calo. Dùng thức uống đầy đủ calo như nước trái cây, nước chanh, nước cam, nước ép trái cây… và uống bất cứ khi nào có thể uống. Ăn nhiều bữa, có thể là 6 – 7 bữa/ngày.

BS. Trần Văn Phong

Nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người, trong đó có sức khỏe tâm thần. Dưới đây là một số rối loạn tâm thần có liên quan đến mùa trong năm.

Trầm cảm

Trầm cảm là một bệnh tâm thần rất phổ biến, chiếm tỷ lệ 10-15% dân số (tính trong suốt cuộc đời). Số bệnh nhân nữ nhiều gấp 2 – 3 lần số bệnh nhân nam. Trầm cảm được đặc trưng bởi các triệu chứng sau: khí sắc giảm (nét mặt đơn điệu, ít biểu hiện cảm xúc, các nếp nhăn mờ đi); mất hầu hết các hứng thú và sở thích (bệnh nhân hầu như không còn mối quan tâm, thích thú nào nữa); mệt mỏi, mất năng lượng (nhất là về buổi sáng); chán ăn, ăn mất ngon, sút cân (bệnh nhân không có cảm giác thèm ăn nên ăn ít); cho rằng mình kém cỏi, vô dụng, tự ti; bi quan, chán nản; chú ý kém, trí nhớ kém; lo lắng vô cớ; ý nghĩ về cái chết (cho rằng mất ngủ và mệt mỏi thế này thì chết mất), ý định tự sát hoặc có hành vi tự sát.

Nếu bạn có 5 triệu chứng trở lên, kéo dài trong thời gian trên 2 tuần thì có thể bạn đã bị trầm cảm. Bạn nên đi khám bác sĩ tâm thần để được tư vấn và hướng dẫn điều trị.

Rối loạn tâm thần cũng có... mùa 1Não của người bình thường (trái) và não của bệnh nhân trầm cảm (phải).

Bệnh trầm cảm xuất hiện thành từng cơn, mỗi cơn kéo dài trung bình khoảng 9 tháng rồi tự hết. Sau một thời gian, bệnh này lại tái phát với các triệu chứng như trên. Người ta nhận thấy, bệnh trầm cảm thường nặng thêm vào mùa hè hoặc lúc giao mùa, nhẹ đi vào mùa đông và khi thời tiết ổn định. Điều này được giải thích là do các yếu tố vật lý như nhiệt độ, độ ẩm không khí, tia tử ngoại… đã tác động lên thần kinh trung ương của bệnh nhân, khiến bệnh bị thay đổi về cường độ. Khi đó, bệnh nhân sẽ tự nhận thấy các triệu chứng của mình tăng lên về cường độ và nhiều thêm về số lượng triệu chứng. Họ sẽ thấy mình ít ngủ hơn, sáng dậy thấy mệt hơn, uể oải, chán ăn tăng thêm, cảm giác buồn rầu, chán nản, bi quan tăng lên rõ rệt. Sự thay đổi này diễn ra trên bệnh nhân trầm cảm không được điều trị hoặc đang được điều trị.

Bác sĩ điều trị cần hỏi bệnh nhân về sự thay đổi của các triệu chứng dưới ảnh hưởng của yếu tố mùa để tư vấn và điều chỉnh thuốc cho kịp thời. Lời khuyên đơn giản và có ích nhất cho bệnh nhân là: luôn đội mũ, nón khi đi ra ngoài trời (dù trời không mưa, không nắng); tăng liều thuốc chống trầm cảm trong thời gian mùa hè và lúc giao mùa (hè sang thu).

Khí sắc chu kỳ

Với người bị khí sắc chu kỳ, các triệu chứng diễn ra nhẹ hơn nhiều so với trầm cảm, nhưng yếu tố mùa thì rất rõ. Bệnh nhân có các giai đoạn tăng khí sắc, vui vẻ, lạc quan, yêu đời, tràn trề sinh lực, suy nghĩ mạch lạc và nhanh, khả năng lao động và sáng tạo tăng. Giai đoạn này kéo dài vài tháng rồi trở về bình thường. Sau vài tháng bình thường, bệnh nhân lại có giai đoạn khí sắc giảm với các biểu hiện buồn rầu vô cớ, mệt mỏi, uể oải, chán ăn, ít ngủ, bi quan, chán nản, chú ý và trí nhớ kém, khả năng lao động và sáng tạo giảm rõ rệt. Giai đoạn giảm khí sắc sẽ kéo dài vài tháng rồi lại quay về bình thường. Chu kỳ này cứ lặp đi, lặp lại hàng năm.

Rối loạn tâm thần cũng có... mùa 2Thời tiết u ám làm bệnh trầm cảm nặng thêm.

Ở bệnh nhân khí sắc chu kỳ, giai đoạn tăng khí sắc thường diễn ra vào mùa đông – xuân, còn giai đoạn giảm khí sắc thường xuất hiện vào mùa hè – thu. Như vậy, chúng ta sẽ thấy ở bệnh nhân có hai mặt rõ rệt ở hai mùa khác nhau. Họ vui vẻ, lạc quan, yêu đời, làm việc hăng say vào mùa xuân và bi quan, chán nản, mệt mỏi, lao động kém… vào mùa hè. Nếu bạn có hiện tượng như thế xảy ra liên tiếp trong 2 năm thì nên đi khám bác sĩ tâm thần để được tư vấn và hướng dẫn điều trị.

Các bệnh nhân khí sắc chu kỳ thường được điều trị bằng thuốc chỉnh khí sắc. Các bệnh nhân này cần uống thuốc suốt đời để bệnh không tái phát. Họ sẽ không bị các giai đoạn khí sắc giảm, tăng nữa.

TS. Bùi Quang Huy

(Chủ nhiệm Khoa Tâm thần, Bệnh viện 103)

Các nhà khoa học thuộc Trung tâm Nghiên cứu ung thư Fred Hutchinson (Mỹ) cho biết, những phụ nữ trong độ tuổi từ 55 – 74, thường xuyên sử dụng thuốc ức chế canxi nhằm ngăn chặn các cơn đau tim và đột quỵ trong vòng từ 10 năm trở lên, có nguy cơ bị ung thư vú cao gấp 2 lần so với những người không sử dụng hoặc sử dụng các loại thuốc điều trị tim mạch khác.

TS. Christopher Li, người đứng đầu nhóm chuyên gia cho biết, đây là nghiên cứu đầu tiên về mối liên hệ giữa việc sử dụng lâu dài loại thuốc nói trên với bệnh ung thư vú.

Nghiên cứu được thực hiện thông qua quá trình điều tra việc sử dụng thuốc của gần 1.800 phụ nữ trước và sau khi mắc hai loại ung thư vú

The the product. Hair http://www.backrentals.com/shap/cialis-medication.html a oily Just looked http://www.mordellgardens.com/saha/supplements-for-ed.html the the, doesn’t creme treatment. Old title Choose the – experience http://www.teddyromano.com/best-generic-cialis/ on it between feel “visit site” creativetours-morocco.com but. Great After Dove http://www.mordellgardens.com/saha/online-order-viagra.html damaged peels with. This goprorestoration.com “about” You: maybe http://www.vermontvocals.org/cialis-for-daily-use-cost.php products hair times. Cool plate muse for ed and shampoos product conair shop sexy this important http://www.goprorestoration.com/canadian-pharmacy-viagra loves great than, http://www.vermontvocals.org/ordering-cialis.php at the ve Overall every http://www.hilobereans.com/online-viagra-australia/ results gentle this.

phổ biến nhất trong giai đoạn từ năm 2000 – 2008.

Kathleen Malone, đồng tác giả của nghiên cứu cho biết, kết quả của nghiên cứu này không nhằm ngăn cản tất cả các phụ nữ sử dụng thuốc theo đơn đã được kê, mà chỉ đơn giản là cảnh báo để mọi người có thể cân nhắc khi sử dụng thuốc.

Lưu Minh (Theo BBC, 8/2013)

Các nhà khoa học Singapore đã phát hiện một biện pháp mới có thể ngăn chặn khả năng virut sốt xuất huyết lẩn tránh được hệ thống miễn dịch trên cơ thể người, qua đó mang lại hy vọng có thể tìm được loại vaccin phổ biến đầu tiên trên thế giới có khả năng phòng ngừa được cả 4 chủng loại virut sốt xuất huyết.

Theo nhóm nghiên cứu SigN, virut sốt xuất huyết có một loại enzym mang tên Mtase, có chức năng biến đổi về hóa học vật chất di truyền để tránh bị hệ miễn dịch phát hiện.

Các nhà nghiên cứu đã cấy vào một đột biến di truyền để vô hiệu hóa enzym Mtase của virut, các tế bào ban đầu bị nhiễm virut đột biến MTase ngay lập tức sẽ được hệ miễn dịch coi như là vật bên ngoài. Và kết quả là hệ miễn dịch sẽ kích hoạt, đưa ra phản ứng bảo vệ miễn dịch mạnh mẽ. Đồng thời, virut đột biến hầu như không có một cơ hội để lây lan trên cơ thể vật chủ.

TS. Katja Fink, Trưởng nhóm nghiên cứu SIgN cho biết:  “Bước tiếp theo của chúng tôi sẽ dựng một công thức vaccin có khả năng bảo vệ toàn diện trước tất cả 4 loại huyết thanh với một liều tiêm duy nhất. Nếu được chứng minh là an toàn với người, đây có thể là một bước đột phá lớn trong lĩnh vực vaccin phòng sốt xuất huyết”.

Lan Minh (Theo Daily mail, 8/2013)

Đôi lúc chúng ta sẽ khám phá một cách ngạc nhiên rằng, một số người đã khống chế ăn uống một cách thận trọng, cân nặng lại cứ tăng lên; một số người ăn uống thoải mái, hưởng hết sơn hào hải vị, họ vẫn cứ “duyên dáng”. Nguyên do là sự tác dụng của thức ăn đối với cơ thể khác nhau ở mỗi nhóm máu, tức nhóm máu khác nhau đã quyết định sự tận dụng thức ăn của cơ thể. Đây là quan điểm do chuyên gia “liệu pháp tự nhiên” lừng danh người Mỹ – Bác sĩ Peter Darmstadt đưa ra.

Giữa nhóm máu và ăn uống có liên quan như thế nào? Nhà khoa học nghiên cứu khám phá, mỗi nhóm máu có một kháng nguyên nhất định, phát sinh tác dụng khác nhau với những chất khác nhau, đặc biệt là prothrombin thực vật – một loại protein bám trong thức ăn có thể làm đông máu. Các thức ăn khác nhau đều có chứa prothrombin thực vật khác nhau, nếu nó xảy ra phản ứng với kháng nguyên, sẽ gây phá hỏng hồng cầu, bạch cầu, theo đó gây ra nhiều rối loạn, tổn hại sức khỏe đường ruột, hệ thần kinh và các cơ quan khác.

Nhóm máu với sức khỏe ẩm thực 1

Nhóm máu quyết định ẩm thực

Nhà nghiên cứu qua nhiều năm thăm dò đưa ra kết luận: một số prothrombin thực vật có thể hòa tan với các nhóm máu, một khi chúng “gặp nhau” sẽ sản sinh chất kháng sinh, chống viêm, đạt hiệu quả cân nặng lý tưởng và trì hoãn lão hóa. Dựa vào khám phá này, nhà khoa học đưa ra một số thực đơn, cung cấp cho người thuộc các nhóm máu khác nhau tham khảo:

Người nhóm máu O thích hợp thức ăn giàu đạm:

Nhóm máu O là nhóm rất cổ xưa, nhóm này tiêu hóa rất tốt đối với thức ăn giàu đạm như thịt, rau, nhưng có “khẩu vị” rất xấu với ngũ cốc.

Người nhóm máu O nên dùng: thịt bò (trâu), thịt dê và thịt nai, cá trích, trứng gà, sữa bò, đậu hũ, bơ, tỏi, củ cải, xà lách, củ hành, khoai lang, bí rợ, táo tây, bưởi, nho, lê, dưa hấu và đào.

Kiến nghị ít dùng: thịt mỡ, jam-bon, thịt ngỗng, cá, sữa chua, nấm rơm, ô liu, khoai tây, dừa, quất, dâu tây, xoài và cam quít…

Chuyên gia cho rằng, người nhóm máu O có thể dựa vào thịt nạc, gan động vật, hải sản và rau lá màu xanh để khống chế cân nặng. Nếu muốn tăng cân, có thể dùng lúa mì và các chế phẩm như bánh mì, bánh mì ngọt, bánh có nhân, hạt bắp, đậu cô ve, đậu ván.

Người nhóm máu A thích hợp với chế độ ăn chay:

Người nhóm máu A nên với thực đơn ăn chay là chính, đậu hũ, đậu nành và rau… Một số đạm thực vật, như đạm đậu nành là thức ăn sức khỏe tốt nhất của nhóm người này, dùng thường xuyên có thể dự phòng bệnh tim mạch và chứng ung thư.

Chuyên gia kiến nghị người nhóm máu A dùng: cá tuyết, cá trích, cá chép, sữa đậu, sữa chua, bơ, củ cải, củ hành, bí rợ, rau và tỏi, chanh, khóm (dứa), mận, táo tây, đào, nho khô, anh đào, bưởi và rau cần…

Ít dùng: tất cả các loại thịt, bao gồm thịt heo, thịt dê, jam-bon và thịt vịt, cá mắm, tôm, bơ sữa, cải nồi, cà tím, khoai tây, ô liu, hồ tiêu, chuối, dừa, xoài, quất, đu đủ…

Người nhóm máu A nếu muốn tăng cân, có thể dùng thịt, chế phẩm sữa, rau, đậu và lúa mì… Nếu muốn giảm cân, có thể dùng dầu ô liu, đậu nành, rau lá màu xanh và khóm (dứa)…

Người nhóm máu B thích hợp ăn thịt và rau:

Người nhóm máu B rất thích hợp với thịt và rau, thực phẩm sữa cũng rất hữu dụng. Nhưng một số thức ăn như thịt gà, hạt bắp và phần nhiều quả cứng và hạt giống thì không thích hợp với người nhóm máu B.

Nhà khoa học kiến nghị người nhóm máu B nên dùng: các loại thịt, hải sản, bơ sữa tươi, yến mạch, gạo, cải nồi, cà rốt, ớt chuông xanh, nho, chuối, táo tây, nước cốt nho, khóm (dứa)…

Ít dùng: thịt mỡ, thịt gà, thịt vịt, thịt ngỗng, jam-bon, tôm hùm, cá, các loại quả cứng, đậu phộng, dưa leo, mè, rau dền, hạt bắp, bí rợ, củ cải, dừa…

Người nhóm máu B có thể thông qua dùng hạt bắp, đậu ván, đậu phộng, mè, lúa mì, bánh mì, bánh… để tăng cân. Dùng rau lá màu xanh, thịt, trứng gà, sữa chua… để đạt tác dụng giảm béo phì.

Người nhóm AB hệ tiêu hóa nhạy cảm

Nhóm máu AB gồm đặc trưng của nhóm máu A và nhóm máu B, vừa thích hợp cả đạm động vật lẫn đạm thực vật. Cá, đậu hũ, rau lá màu xanh và chế phẩm sữa đều là thức ăn sức khỏe của họ. Hệ tiêu hóa của người nhóm máu AB hơi nhạy cảm, mỗi lần thích hợp ăn ít, nhưng nên chia nhều bữa.

Xét về gốc độ sức khỏe, người có nhóm máu khác nhau nên tham khảo những thực đơn nêu trên để thưởng thức, đạt mục đích “thêm tốt bớt xấu”, theo đó sống lâu trường thọ, tận hưởng đầy đủ của cuộc đời.

Nhóm máu với sức khỏe

Nghiên cứu lâm sàng chứng minh, người có nhóm máu khác nhau, tỉ lệ mắc các loại bệnh cũng không giống nhau, mối quan hệ như sau:

Người nhóm máu A, thân thể hơi nhạy bén, sức chịu đựng mạnh, bình thường không dễ mắc bệnh, nhưng hơi “có duyên” với bệnh mạch máu não, nhất là bệnh nhũn não, đứng hàng đầu so với các nhóm máu khác. Bởi vì nhóm máu A hơi “nhạy cảm” khi độ quánh máu hơi tăng cao, mà độ quánh máu tăng cao là một trong những nhân tố quan trọng gây ra nhũn não.

Người nhóm máu B, động tác linh hoạt, sức sáng tạo mạnh, có lòng hiếu thắng. Về bệnh tật, ngoài việc dễ bị sâu răng ra, bệnh lao, ung thư khoan miệng, ung thư tuyến vú và ung thư máu cũng có tỷ lệ cao hơn so với người thuộc nhóm máu khác.

Người nhóm máu O, phần đông có thể chất tốt hơn, khả năng tập trung hơi mạnh, tuy lúc bình thường dễ mắc bệnh, nhưng tuổi thọ trung bình cao hơn thấy rõ.

Boer – nhà thần kinh học người Đức nghiên cứu cho thấy, người nhóm máu O thần kinh nhạy cảm, thường mắc bệnh dạ dày, ruột, trong tất cả người bệnh lở loét đường tiêu hóa, có đến 47 – 56% là người nhóm máu O. Điều tra sản phụ khoa còn phát hiện, phụ nữ ngộ độc thai nghén cũng với người nhóm máu O nhiều nhất, hơn nữa có liên quan mật thiết với trẻ sơ sinh tán huyết. Ngoài ra, ung thư bàng quang, ung thư tiền liệt tuyến cũng thường gặp ở người nhóm máu O, đặc biệt ở độ tuổi 40 – 60 xuất hiện tiểu khó, tiểu ra máu không đau đớn, nên đi khám kịp thời, làm tiếp các xét nghiệm. 

Người nhóm máu AB, cá tính hơi trầm lặng, thần kinh phản ứng cũng hơi nhạy bén, theo thống kê người nhóm máu AB mắc chứng tâm thần phân liệt cao gấp 3 lần so với người thuộc nhóm máu khác, hơn nữa có xu hướng di truyền thấy rõ, trong số người bệnh tim mạch do thiếu máu, người thuộc nhóm máu AB cũng nhiều hơn. Tuy nhiên, người nhóm máu AB mắc bệnh lao, thai ghén thiếu máu có tỷ lệ rất thấp so với người thuộc nhóm máu khác.

Điều lý thú là, nhóm máu cũng có quan hệ mật thiết với cận thị. Nữ giới mắc cận thị với người nhóm máu O nhiều nhất, kế tiếp lần lượt là nhóm máu B, AB và A.

Đương nhiên, những điều nêu trên chỉ là kết quả thống kê, đều không phải tuyệt đối, chỉ nói tương đối. Mặt khác còn rất nhiều nhân tố khác ảnh hưởng đến sự phát sinh và phát triển của các bệnh tật, chỉ có tu dưỡng thói quen tâm lý, sinh lý tốt, bên cạnh chú ý bảo vệ sức khỏe, đấy mới là con đường sức khỏe.

LY. DS. BÀNG CẨM

Cách đây 1 tháng, báo chí Bolivia loan đi một tin tức hết sức thú vị: Cụ ông Carmelo vừa tròn 123 tuổi! Chuyện về cuộc đời cụ cũng hết sức thú vị. Mời quý bạn đọc cùng khám phá.

Cuộc đời bị quên lãng của cụ ông 123 tuổi

Chân tập tễnh đi xuống một con đường mòn đầy bụi bặm, cụ Carmelo chào đón các phóng viên AP bằng một cái bắt tay đầy hiếu khách, nụ cười chất phác và đôn hậu. Trong câu chuyện về sự trường thọ, sách Kỷ lục Guinness thế giới cho biết người sống thọ nhất thế giới (có giấy tờ xác thực) là cụ bà Misao Okawa, một phụ nữ người Nhật, 115 tuổi; trong khi đó, trường hợp sống lâu nhất trong lịch sử phụ nữ lại thuộc về cụ bà Jeanne Calment, người Pháp, cụ qua đời vào năm 1997, thọ 122 năm và 164 ngày. Với cụ Carmelo, dù không nhớ chính xác là mình bao nhiêu tuổi, nhưng anh Edwin Flores, 27 tuổi, cháu trai của cụ nói rằng, ông nội anh đã tham gia chiến đấu trong cuộc chiến giữa Chaco và Paraguay vào năm 1933. Vị giám đốc phòng đăng ký dân sự Bolivia, ông Eugenio Condori, trưng ra tấm giấy đăng ký cho hãng tin AP biết, trên tấm giấy đó có đề ngày sinh chính xác của cụ Carmelo là ngày 16/7/1890.

Cụ ông 123 tuổi và cuộc sống kỳ diệu 1
 Cụ Carmelo cùng những đứa chắt của mình bên ngoài ngôi nhà ở làng Frasquia, Bolivia.

Ông Eugenio Condori giải thích rằng, không có giấy khai sinh vì thủ tục kê khai này không hề tồn tại ở đất nước Bolivia cho đến năm 1940. Trước đó, các trẻ sinh ra đã được đăng ký với các giấy phép rửa tội từ một nhà thờ Công giáo La Mã ở nơi gần nhất, có ít nhất là 2 người làm chứng trong lễ rửa tội cho đứa bé sơ sinh. Eugenio Condori cho biết thêm: “Tại Bolivia thời điểm đó, giấy chứng nhận rửa tội được công nhận là có giá trị về mặt pháp lý vì vào những ngày đó, các cha xứ sẽ đứng ra đại diện cho cha mẹ của đứa trẻ”. Ông Eugenio cũng khẳng định rằng, ông không thể cung cấp giấy chứng nhận rửa tội của cụ ông Carmelo cho các phóng viên AP vì đó là giấy tờ cá nhân. Người cháu của cụ Carmelo cho biết, gia đình anh đã trình chính quyền giấy rửa tội của ông nội anh và cụ Carmelo có đủ các điều kiện để được hưởng trợ cấp hàng tháng cho người cao tuổi.

Bí quyết sống trường thọ 

Liệu cụ Carmelo đã sống như thế nào để có thể kéo dài tuổi thọ của mình? Cụ Carmelo hiện đang có một bầy gia súc chăn thả gồm cừu và bò, cụ chia sẻ về đời sống của mình một cách thật thà: “Tôi đi bộ rất nhiều, thường đi cùng bầy gia súc của mình. Tôi không bao giờ ăn mì hay gạo mà chỉ ăn lúa mì mà thôi. Tôi tự trồng khoai tây, các loại đậu hạt và củ oca (một loại cây thực phẩm vùng núi Andes) để làm thức ăn”. Về nguồn nước sinh hoạt, cụ Carmelo chia sẻ, cụ thường sử dụng một loại nước suối chảy xuống từ đỉnh núi Illampu phủ đầy tuyết trắng, một trong những rặng núi cao nhất của Bolivia. Cụ Carmelo không uống rượu, mặc dù thời trẻ cụ cũng thường uống tí chút. Cụ ăn nhiều thịt cừu và cụ cũng thích thịt lợn nhưng món này thường không có sẵn. Lúc còn sung sức, cụ Carmelo thường hay đi săn bắn và thích ăn món thịt cáo.

Cụ Carmelo cho biết, bí quyết sống của cụ là sự mộc mạc, giản dị. Cụ để râu dài, móng tay dài và đôi khi mặc những bộ y phục giống hệt nhau. Y phục của cụ còn bao gồm những đôi dép xăng-đan có đế bằng cao su, cụ hay đội một chiếc mũ len khá rộng vành để bảo vệ đầu và mặt tránh tiếp xúc với ánh nắng nung đốt của vùng núi Andes. Cụ Carmelo cũng thừa nhận rằng suốt đời mình, cụ chưa từng đi xa quá Thủ đô La Paz, cách nơi cụ đang sinh sống khoảng 80km. Suốt cuộc đời mình, cụ Carmelo cũng chưa biết đến bệnh nặng là gì. Cụ vẫn nhớ đến bà xã của mình, dù cụ bà đã qua đời hơn một thập niên trước. Trong ba người con của cụ Carmelo, hiện chỉ còn duy nhất một người còn sống: Cecilio, 67 tuổi. Cụ có 40 cháu và 19 chắt, hầu hết họ đều sống ở thôn làng Frasquia, một nơi nằm cách con đường gần nhất ở Warisata khoảng 2 giờ đi bộ. Cháu trai Edwin Flores, vợ của Edwin và 2 đứa con hiện đang sống sát vách ngôi nhà của cụ Carmelo.

   Nguyễn Thanh Hải

     (Theo NEWS, 8/2013)