Author Archives: dungntk

Theo thống kê, không ít người  thường xuyên bị huyết áp thấp. Đó là không kể những bệnh nhân bị hạ huyết áp đột ngột phải vào cấp cứu. Vậy hạ huyết áp có nguy hiểm hay không?

Huyết áp trung bình của mỗi người dao động trong khoảng từ 110 – 120mHg đối với huyết áp tối đa và từ 70 – 80mmHg với huyết áp tối thiểu. Khi huyết áp tối đa dưới 100mmHg và huyết áp tối thiểu dưới 60 mmHg, bệnh nhân rơi vài tình trạng hạ huyết áp. Có hai tình trạng hạ huyết: hạ huyết áp cấp hay xảy ra với những bệnh nhân cấp cứu vì chấn thương gây mất máu nhiều, tiêu chảy mất nước, suy tim hay bị bệnh nội khoa khác. Những bệnh nhân này phải được nhập viện cấp cứu và tùy theo nguyên nhân gây hạ huyết áp mà thầy thuốc cho chỉ định điều trị phù hợp: truyền dịch, truyền máu, thuốc vận mạch hay thuốc trợ tim…

Hạ huyết áp mạn tính: ở những người này huyết áp thường xuyên thấp hơn 100mmHg đối với huyết áp tối đa. Bệnh nhân có thể có hoặc không có bất kỳ một sự khó chịu nào. 

Người huyết áp thấp nên ăn gì? 1Người huyết áp thấp nên ăn các loại thức ăn giàu năng lượng và giàu vitamin

Hạ huyết áp có nguy hiểm không?

Tất nhiên, nếu bệnh nhân  rơi vào tình trạng hạ huyết áp cấp thì rất nguy hiểm và cấn được nhập bệnh viện để điều trị trong phòng săn sóc đặc biệt. Truyền dịch và máu cũng như các dung dịch thay thế máu là phương pháp điều trị đầu tiên được áp dụng cho hầu hết các bệnh nhân.

Còn tình trạng hạ huyết áp mạn tính thì hầu như không có gì là quá nguy hiểm cả. Thậm chí có ngưới còn cho rằng: những người bị huyết áp thấp còn sống thọ hơn những người có huyết áp bình thường. Và thực tế trong thực hành bệnh viện hàng ngày, chúng tôi cũng như nhiều thầy thuốc khác cũng có chung một nhận định như vậy.

Những người thực sự bị huyết áp thấp mạn tính thường phàn nàn với mọi người và với thầy thuốc là hay buồn ngủ, mỏi mệt, chóng mặt, hoa mắt hoặc thỉnh thoảng bị ngất xỉu. Đặc biệt là khi thay đổi tư thế đột ngột. Các triệu chứng này xuất hiện do giảm lưu lượng máu ở não, tim, gan và các cơ quan khác trong cơ thể.

Tình trạng hạ huyết áp mạn tính hay xảy ra ở những người làm việc quá sức, bị stress, rối loạn nội tiết, suy dinh dưỡng, đái tháo đường hay bị bệnh thần kinh ngoại vi… Do đó, nếu tình trạng hạ huyết áp mạn tính kéo dài và gây nhiều khó chịu, thậm chí phải nhập bệnh viện cấp cứu thì nên đi khám ở những thầy thuốc chuyên khoa tim mạch và nội tiết để tìm ra nguyên nhân và có phương pháp điều trị triệt để.

Người bệnh nên ăn gì?

Việc đầu tiên là nên có chế độ làm việc và nghỉ ngơi hợp lý. Nếu bạn sống với tốc độ quá nhanh, nên phải điều chỉnh lại nhịp sống và làm việc cho phù hợp với đồng hồ sinh học của bản thân mình. Nên ăn các loại thức ăn giàu năng lượng và giàu vitamine cũng như các yếu tố vi lượng như: vitamin A, kẽm, magne… Có người cho rằng, bệnh nhân nên ăn mặn một chút để làm tăng khối lượng tuần hoàn trong cơ thể nhờ tác dụng giữ nước của muối. Tuy nhiên, cũng rất nguy hiểm vì sẽ gây tăng huyết áp khi nằm.

Chọn một môn thể thao phù hợp với sức khỏe như đi bộ, bơi lội hay tập Yoga cũng rất tốt. Tuy nhiên, khi tập thể thao rất cần sự điều độ, khi nào thấy mệt hay có các triệu chứng khó chịu nên nghỉ ngơi ngay. Việc uống đủ nước, nhất là khi trời nắng nóng cũng góp phần làm giảm nguy cơ hạ huyết áp ở một số người.

Và một điều rất quan trọng mà nhiều người trong chúng ta không mấy quan tâm, đó là nên đi khám kiểm tra sức khỏe định kỳ mỗi 6 tháng để phát hiện những trục trặc về sức khỏe để có hướng điều chỉnh ngay từ lúc đầu. Đây là khuynh hướng mới nhằm phòng bệnh tật trong một xã hội hiện đại.

  PGS.TS. NGUYỄN HOÀI NAM

Tuy có nhiều lợi ích cho sức khỏe, nhưng nếu không hiểu rõ về trà, người dùng nó có thể gặp nhiều bất lợi, nhất là người bệnh đang dùng thuốc. Đối với bệnh nhân nằm viện, bạn đừng ngạc nhiên khi thấy bác sĩ khuyên họ tránh uống trà khi phải trải qua phẫu thuật hoặc dùng thuốc. 

Lợi ích của trà

Trà là loại thức uống lành mạnh cho sức khỏe và quen thuộc với mọi người. Uống trà hàng ngày sẽ mang lại nhiều lợi ích về thể chất và tinh thần.

Trà làm cho cơ thể phấn chấn, tinh thần thoải mái và sáng suốt. Nó còn giúp giảm nguy cơ nhiều loại bệnh tật như ung thư, đột quỵ, bệnh tim, nha chu, loãng xương… Đối với bệnh đái tháo đường, các kết quả nghiên cứu trước đây về tác động của trà xanh trên sự kiểm soát đường huyết và độ nhạy cảm insulin ở người là không nhất quán. Theo kết quả nghiên cứu gần đây đăng trên PubMed, người ta phân tích gộp từ 17 nghiên cứu dựa trên 1133 đối tượng. Kết quả cho thấy, uống trà xanh làm giảm đáng kể lượng đường huyết lúc đói, giảm HbA1c và tăng khả năng nhạy cảm với insulin. Do vậy, trà xanh có tác dụng điều hòa lượng đường huyết, có ích cho người đái tháo đường và tiền đái tháo đường.

Phòng ngừa những bất lợi  từ uống trà 1Ảnh Tuân Nguyễn

Thành phần của trà

Trà có tên khoa học là Camellia sinensis, cùng một giống trà nhưng trồng ở những vùng địa lý khác nhau sẽ cho ra các loại lá trà có chất lượng khác biệt. Tùy vào quá trình xử lý và chế biến, người ta phân biệt thành ba loại chính: trà xanh, trà ô long và trà đen. Trong đó, trà xanh là ít bị xử lý nhất.

Trà xanh chứa nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học và khả năng chống oxy hóa cao. Nhờ ít bị xử lý trong quá trình chế biến nên trà xanh có chất chống oxy hóa nhiều nhất, như polyphenol, đặc biệt là catechin được xem là tác nhân chính chịu trách nhiệm cho hầu hết các lợi ích về sức khỏe, giúp sửa chữa tổn thương tế bào và bảo vệ cơ thể chống lại nhiều bệnh. Các hợp chất sinh học khác cũng được tìm thấy trong trà xanh bao gồm flavonoid, tinh dầu dễ bay hơi, alkaloid, polysaccharides, caffein, vitamin và khoáng chất.  Trong đó cần lưu ý đến caffein vì tác dụng bất lợi của nó nếu dùng quá liều.

Tương tác thuốc

Tương tác thuốc mức độ nguy hiểm:

Theo MedlinePlus, tương tác thuốc mức độ nguy hiểm đã được báo cáo khi dùng kết hợp trà xanh với các chất kích thích như ma túy hoặc ephedrine. Các chất kích thích hoạt động phối hợp với caffein trong trà xanh dẫn đến tăng nhịp tim và tăng huyết áp. Người bệnh cũng nên tránh kết hợp trà xanh với phenylpropanolamin, một thành phần trong các sản phẩm giảm cân và thuốc điều trị cảm lạnh, vì sự kết hợp có thể thúc đẩy lên cơn tăng huyết áp và nguy cơ xuất huyết não. Bởi vì trà xanh gây sức ép lên gan, sẽ là nguy hiểm nếu uống trà xanh cùng với các loại thuốc có tác dụng gây tổn hại không mong muốn trên gan như acetaminophen, phenytoin, methotrexate và một số loại khác. Trà xanh có thể làm chậm quá trình đông máu, vì vậy không nên dùng kết hợp với các thuốc chống đông máu như warfarin, ibuprofen hay aspirin. Tương tự như vậy, bệnh nhân có chỉ định mổ xẻ nên ngưng uống trà trước khi trải qua phẫu thuật để phòng ngừa chảy máu.

Tương tác thuốc mức độ trung bình:

Đôi khi uống thuốc theo toa có thể làm thay đổi thời gian cần thiết để chuyển hóa chất caffein trong trà, bao gồm: thuốc tránh thai, thuốc kháng sinh và lithium. Trong trường hợp khác, trà làm thay đổi hiệu quả của thuốc theo toa, bao gồm: adenosine, clozapine và một số thuốc điều trị ung thư.

Tương tác với các loại thảo mộc và thực phẩm chức năng:

Trà xanh tương tác với hoặc ảnh hưởng đến tác dụng của một số loại thảo mộc và thực phẩm chức năng. Ví dụ, trà xanh có thể làm giảm sự hấp thu acid folic và sắt. Tránh uống trà xanh kết hợp với cà phê (vì sẽ làm tăng lượng caffein). Dùng cam với trà xanh cũng có thể làm tăng nhịp tim và huyết áp.

Phòng ngừa tác dụng bất lợi

Mỗi ly trà xanh 240ml chứa khoảng 47mg caffein, dĩ nhiên hàm lượng caffein sẽ thay đổi tùy theo nước trà được pha đậm hay nhạt. Dùng trà xanh với liều rất cao, khoảng 10 – 14g, có thể làm giảm hấp thu sắt từ thức ăn và thậm chí có thể gây tử vong (theo National Institutes of Health).

Đối với người có sức khỏe bình thường, việc uống trà là một thói quen tốt cho sức khỏe nếu dùng điều độ.

Đối với người mắc bệnh cần uống thuốc thì nên thận trọng: “Uống trà cách xa thời điểm uống thuốc khoảng 2 giờ. Nên uống trà có độ đậm nhạt vừa phải, tránh lạm dụng. Tuyệt đối không dùng nước trà để uống thuốc”.

 BS.CKI. NGUYỄN THANH HẢI

Lời khuyên của thầy thuốc

Những đối tượng nên tránh uống trà: phụ nữ mang thai và cho con bú, trẻ em dưới 2 tuổi và người bị rối loạn chức năng thận, bệnh tim, viêm loét dạ dày và các vấn đề tâm lý. Những người có bệnh tăng nhãn áp, thiếu máu, bệnh gan cũng nên tránh nó.


Từ rất lâu, đậu đen đã rất quen thuộc với người dân Việt Nam qua các món ăn ngon, dân dã như: xôi, chè… Hơn thế, đậu đen còn có nhiều công dụng phòng, chữa bệnh rất hiệu quả.

Đậu đen có nhiều chất bổ như: glucid 53%, protein 24%, lipid 1,7%, các vitamin A, B1, B2, PP, C; giàu acid amin: lysin, tryptophan, phenylalanin… nên được sử dụng rộng rãi trong việc chế biến các thực phẩm bồi dưỡng sức khỏe.

Đậu đen có nhiều công dụng

Thực phẩm giàu chất xơ: trong số những loại thực phẩm giàu chất xơ thì đậu đen được xem là “ứng cử viên” đầu bảng, rất có ích cho quá trình chuyển hóa glucose ở bệnh nhân mắc bệnh đái tháo đường, bằng chứng sau khi ăn xong không hề xuất hiện tình trạng tăng đường huyết vì chất xơ và một số chất khác có trong đậu đen ngăn chặn lượng đường trong máu tăng đột biến sau bữa ăn.

Giàu chất chống oxy hóa: đậu đen là thực phẩm rất giàu chất chống oxy hóa, chất này có tên là isoflavone, anthocyanidin giống như có trong nho, quả mâm xôi, dâu tây… Đặc biệt, đậu càng đen, càng thẫm màu càng giàu chất oxy hóa. Chất chống oxy hóa ở đậu đen cao gấp 10 lần các loại thực phẩm khác như: cam, nho hoặc dâu.

Giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch: người ta nhận thấy những người ăn nhiều đậu đen, rau xanh, ngũ cốc là nhóm người giảm được tới 82% nguy cơ mắc bệnh tim mạch, so với nhóm người ăn ít nhóm thực phẩm nói trên. Lợi thế của đậu đen là cung cấp chất xơ, folate và magiê giúp làm giảm hormocystein, một loại acid amino hay còn gọi là sản phẩm trung gian không có lợi cho quá trình chuyển hóa và một khi hormocystein tăng thì rủi ro mắc bệnh tim, đột quỵ là rất lớn.

Tăng cường sắt và mangan cho cơ thể: đậu đen có tác dụng rất tích cực trong việc làm tăng năng lượng và hồi phục hàm lượng sắt cho cơ thể và rất hữu ích cho nhóm người bị mất máu bởi chấn thương, hoặc cho phụ nữ giai đoạn hành kinh cũng như cho nhóm người tuổi vị thành niên đang trong giai đoạn phát triển.

Nguồn bổ sung protein cho cơ thể: không chỉ ngon miệng, dễ chế biến, đậu đen còn là nguồn thực phẩm giàu hàm lượng protein hữu ích, không có chứa hàm lượng calo quá cao hoặc các loại mỡ xấu như các loại thực phẩm gốc động vật và như trên đã đề cập, nó rất có lợi cho nhóm người ăn kiêng. Một bát nhỏ đậu đen cung cấp khoảng 15,2g protein (tương đương 30,5% nhu cầu protein và 74,8% nhu cầu chất xơ cho cơ thể mỗi ngày), với tổng lượng calo chỉ có 227g đặc biệt hoàn toàn không có chứa mỡ.

Nguồn cung cấp vitamin đa dạng cho cơ thể: vitamin A, B1, B2, C, PP…

Một số bài thuốc chữa bệnh bằng đậu đen

Chữa đau bụng dữ dội, chưa rõ nguyên nhân: đậu đen 100g, sao cháy, sắc lấy nước đặc cho thêm rượu, uống nóng 1 lần. Cơn đau giảm nhanh, nhưng cũng cần đưa bệnh nhân đi khám ngay lập tức ở bệnh viện để có chẩn đoán và xử lý kịp thời.

Chữa lưng đau ê ẩm, cứng đờ, cử động khó: đậu đen: 300g sao vàng, 300g nấu chín nhừ, 300g cho vào chõ đồ chín. Trộn đều ba loại trên cho vào 2 lít rượu chưng cách thủy 30 phút, sau đó ngâm tiếp 7 ngày, mỗi ngày uống 1 chén nhỏ vào bữa ăn (tổng lượng 100ml/ ngày). Ngoài ra có thể dùng rượu cho thêm ít gừng tươi xào nóng, xoa bóp lưng rất hiệu nghiệm.

Chữa đái rắt, đái buốt, tiểu ít: đậu đen 15g, hạt sen 15g, rau má, hạt mã đề vừa đủ, tất cả đem sắc đặc uống thay nước chè. Uống 5 – 7 ngày.

Chữa đau nhức ở các khớp xương hoặc ngộ độc rượu lâu ngày: lấy một quả dừa xiêm, vạt đầu, rồi bỏ 20g đậu đen đã rửa sạch vào quả dừa, đậy nắp dừa lại sau đó đem chưng cách thủy khoảng 3 – 4 giờ cho đậu nhừ rồi đem ra uống nước, ăn cái, mỗi tuần chỉ cần ăn 1 lần hoặc ăn 1 – 2 lần trong tháng.

Cháo thanh nhiệt giải độc dùng trong mùa nóng: đậu đen 50g, lá sen 1 lá, gạo tẻ 50g. Cách chế biến: lá sen lấy loại lá bánh tẻ, loại bỏ tạp chất thái nhỏ đem sắc 15 – 20 phút, lọc lấy nước bỏ bã. Gạo tẻ và đậu đen loại tỏ tạp chất, vo qua, cho vào nồi rồi cho nước sắc lá sen vào thêm nước cho đủ, đem ninh nhừ thành cháo. Nêm gia vị vừa đủ bắc ra ăn nguội trong ngày. Có thể ăn thường xuyên trong mùa hè. Công dụng là thanh nhiệt, giải độc, an thần, hạ áp, bổ ngũ tạng, bù tân dịch. Thích hợp cho tất cả mọi lứa tuổi, nhất là với người phải làm việc trong môi trường nắng nóng, người háo khát, người can thận âm hư gồm: tăng huyết áp, phụ nữ tiền mãn kinh, rôm sảy, ban ngứa, suy nhược cơ thể…

Cần lưu ý là đậu đen chỉ có tác dụng khi nấu chín, không nên ăn nhai sống hoặc nuốt nguyên hạt vì không có lợi cho đường tiêu hóa thậm chí gây tắc ruột…

 BS.CKII. HUỲNH TẤN VŨ

Viêm phổi do tụ cầu khuẩn là bệnh nhiễm khuẩn rất nặng, có tỷ lệ tử vong cao. Người bị nhiễm tụ cầu vào phổi qua hai đường: hít thở tụ cầu vào theo đường hô hấp hoặc tụ cầu từ các ổ nhiễm khuẩn da hay cơ quan khác theo đường máu vào phổi. Mùa nắng nóng, mồ hôi ra nhiều, tụ cầu thường gây viêm da rồi gây viêm phổi.

Vệ sinh kém dễ bị viêm phổi do tụ cầu

Các nhà nghiên cứu cho biết, đối tượng dễ bị viêm phổi do tụ cầu là: những người do điều kiện sống nghèo khổ, vệ sinh kém, người có thói quen dùng thuốc kháng sinh bừa bãi, bệnh nhân nằm viện lâu ngày. Sống nghèo khổ thì kém sức đề kháng, kèm theo điều kiện vệ sinh kém dễ bị viêm da, mụn nhọt do tụ cầu, từ đó dễ bị viêm phổi do tụ cầu vào theo đường máu. Những người tùy tiện mua thuốc kháng sinh uống không có chỉ định của bác sĩ, dùng thuốc không đúng liều lượng, không những không khỏi bệnh mà còn làm cho tụ cầu kháng thuốc rất nguy hiểm. Bệnh nhân nằm viện nếu phải luồn ống thông vào khí quản rất dễ bị nhiễm virut ở đường hô hấp và dễ bị nhiễm tụ cầu, bởi virut làm giảm chức năng lông chuyển đường hô hấp để dọn dẹp tụ cầu.

Ai dễ mắc viêm phổi do tụ cầu? 1
 Hình ảnh viêm phổi do tụ cầu trên phim chụp cắt lớp.

Tụ cầu tiết ra nhiều độc tố và enzym ngoại bào. Chúng còn có thể tạo vỏ polyscaccarid chống lại thực bào. Khi có vỏ bọc, tụ cầu xâm nhập vào máu gây nhiễm khuẩn huyết. Còn tụ cầu không có vỏ bọc chủ yếu gây bệnh tại chỗ, nhưng khi vào máu theo đường tiêm truyền thì hay gây sốc nhiễm khuẩn.

Người nhiễm tụ cầu do hai đường: một là hít tụ cầu vào đường hô hấp, bệnh nhân bị cúm hoặc bị suy giảm miễn dịch, tụ cầu theo dịch tiết đường hô hấp trên bị hút vào phổi. Hai là tụ cầu từ ổ nhiễm khuẩn ngoài phổi theo đường máu đến phổi. Lây bệnh kiểu này sẽ gây ra bệnh viêm phổi có nhiều ổ, thường xảy ra sau khi bị mụn nhọt ngoài da…

Biểu hiện viêm phổi do tụ cầu

Một bệnh nhân bị bệnh cúm, sau vài ngày thì sốt cao, khó thở, ho dữ dội, suy kiệt nhanh chóng, đau ngực, nhiễm độc… là biểu hiện của viêm phổi. Bệnh thường kèm theo viêm họng dịch rỉ, nổi ban dạng tinh hồng nhiệt, có triệu chứng nhiễm độc toàn thân. Ở trẻ em viêm khí quản do tụ cầu thường có dấu hiệu nhiễm độc toàn thân, nuôi cấy dịch họng thấy tụ cầu dương tính, nhưng chỉ có ít thâm nhiễm ở phổi. Nguyên nhân nổi trội gây ra bệnh viêm xoang mạn tính, viêm xoang bướm là tụ cầu vàng.

Ai dễ mắc viêm phổi do tụ cầu? 2
 Đeo khẩu trang khi ở bệnh viện để phòng bệnh viêm phổi do tụ cầu và các bệnh khác.

Trên thực tế có các thể bệnh viêm phổi do tụ cầu thường liên quan đến các bệnh cúm, sởi, hay gặp ở người mắc bệnh mạn tính, người bị suy giảm miễn dịch, bệnh nhân đặt nội khí quản. Triệu chứng bệnh phụ thuộc vào tuổi và sức khỏe của bệnh nhân. Khi bị viêm phổi, triệu chứng của cúm, sởi thường nặng lên. Biểu hiện phổ biến là sốt cao, mạch nhanh, thở nhanh, ho. Khám thấy rì rào phế nang giảm và nhiều ổ ran nổ. Bệnh nhân có thể bị suy hô hấp, sốc nhiễm khuẩn. Ở giai đoạn này, hay xảy ra 2 biến chứng là tràn dịch màng phổi và mủ màng phổi.

Xét nghiệm đờm thấy tụ cầu, nhuộm soi đờm thấy tụ cầu tập trung từng đám cạnh bạch cầu, nhìn thấy tụ cầu trong bạch cầu vì tụ cầu còn sống nhiều giờ sau khi bị thực bào. Chụp Xquang phổi thấy nhiều ổ viêm phổi dạng tròn, kích thước không đều, không đối xứng hai bên phổi. Nuôi cấy máu, đờm, dịch màng phổi thấy tụ cầu.

Chú ý trong điều trị

Tụ cầu là một trong các vi khuẩn kháng thuốc rất mạnh, vì vậy việc dùng thuốc kháng sinh diệt tụ cầu phải tuân theo chỉ định của bác sĩ điều trị để hạn chế vi khuẩn này kháng thuốc. Các thuốc kháng sinh dùng điều trị phải chống lại được men penixilinaza do tụ cầu sinh ra. Tốt nhất là sử dụng thuốc theo kháng sinh đồ. Trong khi chưa có kết quả kháng sinh đồ, phải dùng thuốc có hiệu lực mạnh hoặc phối hợp nhiều kháng sinh. Các thuốc có thể dùng là: cephalosporin thế hệ thứ 3; thời gian dùng kháng sinh thường phải kéo dài 4 tuần. Nếu bệnh nặng, nhất là khi có nhiễm khuẩn huyết, có thể dùng thuốc imipenem, gentamycin. Viêm phổi tụ cầu là một bệnh nặng, tỷ lệ tử vong cao, trong điều trị đòi hỏi phải hồi sức tích cực và dùng kháng sinh có hiệu lực với vi khuẩn.    

Lời khuyên của bác sĩ

Vì là bệnh rất nặng, có nhiều biến chứng nguy hiểm nên việc phòng bệnh viêm phổi do tụ cầu có ý nghĩa rất quan trọng. Mọi người cần phòng bệnh bằng các biện pháp như sau: đeo khẩu trang khi chăm sóc bệnh nhân tại bệnh viện hoặc khi vào viện thăm người ốm để tránh hít phải vi khuẩn nói chung và tụ cầu. Bệnh nhân bị cúm hoặc bị suy giảm miễn dịch cũng thường xuyên đeo khẩu trang để tránh bị lây bệnh do tụ cầu và các bệnh khác. Mùa hè ra nhiều mồ hôi, cần phải vệ sinh da bằng cách tắm rửa hàng ngày với nước sạch và xà phòng diệt khuẩn. Ðiều trị tích cực, triệt để các bệnh nhiễm khuẩn da như mụn nhọt, vết thương. Nâng cao sức đề kháng của cơ thể bằng việc ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng; tập thể dục thể thao thường xuyên. Mọi người khi có bệnh chỉ dùng thuốc kháng sinh theo đơn của bác sĩ, tuyệt đối không tự mua thuốc kháng sinh uống vì dễ làm cho tụ cầu kháng thuốc, khó điều trị rất nguy hiểm cho bệnh nhân và cộng đồng.

    ThS. Nguyễn Thế Minh

 

 

Theo các nhà khoa học Mỹ, một loại vaccin phòng bệnh sốt rét mới đang được nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng. Mẫu vaccin được thử nghiệm mang tên PfSPZ. Các nhà khoa học Mỹ đã tiêm trực tiếp các ký sinh trùng gây bệnh sốt rét đã bị làm yếu đi vào cơ thể người bệnh để kích hoạt hệ thống miễn dịch.

Trong giai đoạn 1 của cuộc thử nghiệm, các nhà khoa học theo dõi 57 tình nguyện viên, không ai trong số họ từng mắc bệnh sốt rét. 40 người được tiêm vaccin với liều lượng khác nhau, 17 người còn lại không được tiêm vaccin. Sau đó họ đều được tiếp xúc với muỗi mang ký sinh trùng sốt rét. Kết quả cho thấy, những người không được tiêm vaccin hoặc được tiêm vaccin liều thấp hầu như đều bị nhiễm sốt rét. Trong khi nhóm tình nguyện viên được tiêm vaccin liều cao nhất chỉ có 3 trong số 15 người nhiễm bệnh này.

TS. Robert Seder, Trung tâm nghiên cứu vaccin, Viện sức khỏe quốc gia, Maryland, Mỹ cho biết, mặc dù kết quả rất đáng hy vọng nhưng họ cần phải lặp lại và mở rộng quy mô của thử nghiệm.

Theo các nhà khoa học, câu hỏi quan trọng tiếp theo cần được giải đáp là liệu vaccin có hiệu quả trong thời gian bao lâu và nó phòng tránh được các chủng sốt rét nào?

          Xuân Nguyên (Theo DailyScience, 8/2013)

Các chuyên gia khuyên rằng, ăn ít nhất 1 lần/tuần các loại cá như cá hồi hay cá thu có thể giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh viêm khớp dạng thấp. Kết quả này được rút ra từ một nghiên cứu trên hơn 32.000 phụ nữ Thụy Điển, trong 10 năm. Các nhà khoa học thấy rằng, những người ăn cá đều đặn ít nhất 1 lần /1 tuần giảm nhiều hơn 30% nguy cơ phát triển bệnh viêm khớp dạng thấp. Những người ăn ít nhất một lần/tuần cá chứa nhiều dầu hoặc 4 lần/tuần ăn các loại cá khác giảm 50% nguy cơ mắc bệnh. Các nhà khoa học không theo dõi những người dùng các sản phẩm từ dầu cá, song rất có thể những sản phẩm này cũng mang lại lợi ích, bởi theo những nghiên cứu trước đây, có rất nhiều bằng chứng cho thấy dầu cá làm giảm mức độ viêm ở người bị viêm khớp.

Các nhà khoa học cho biết thêm, trong cá thu chứa rất nhiều chất chống viêm, nên nó giảm nguy cơ mắc bệnh viêm khớp. Ngoài công dụng kháng viêm, cá còn chứa omega-3 có tác dụng bảo vệ tim mạch và não bộ.

         Phương Hà (Theo BBC, 8/2013)

Cơ quan Nghiên cứu các dự án quốc phòng Mỹ (DARPA) đang đặt hàng một thiết bị làm bằng giấy và an toàn để loại bỏ sau khi sử dụng, nhằm phục vụ cho nhu cầu chẩn đoán cấp tốc bệnh tật trong điều kiện thiếu thốn thiết bị tại những khu vực hẻo lánh.

Hợp tác với các nhà khoa học thuộc Đại học Washington (Mỹ), chuyên gia David Moore của GE Global Research và đồng sự đã nghĩ ra phương án chế tạo những tập giấy “thông minh” sử dụng một lần, có kích thước không lớn hơn bộ bài tây, có công dụng phát hiện nhiều mầm bệnh khác nhau trong vòng 1 giờ dựa trên mẫu thử nghiệm duy nhất lấy từ mũi. Mảnh giấy sẽ đổi màu và người dùng có thể sử dụng điện thoại thông minh để biết được tình trạng nhiễm bệnh.

           Hồng  Đức (Theo Reuters, 8/2013)

Bữa ăn sáng là bữa ăn quan trọng nhất vì nó cung cấp năng lượng cho các hoạt động cả ngày. Tuy nhiên, thực tế nhiều người bỏ bữa ăn sáng hoặc ăn sáng không đúng cách đều gây hại cho sức khỏe của mình.

Dưới đây là một số điều lưu ý khi ăn sáng:

Không nên ăn sáng khi vừa ngủ dậy: Nhiều người có thói quen ăn sáng ngay khi vừa thức dậy. Theo các chuyên gia thì ăn sáng quá sớm không những không có lợi cho cơ thể và còn ảnh hưởng đến dạ dày. Nếu thức dậy sớm thì tốt nhất nên uống một cốc nước lọc ấm để kích hoạt lại hệ tiêu hóa cũng như thanh lọc cơ thể. Sau đó khoảng 20 đến 30 phút mới nên ăn sáng.

Không nên ăn sáng quá muộn: Ăn sáng muốn khiến cho bạn mất cảm giác ngon miệng và cơ thể không hấp thu hết được những dưỡng chất có trong thực phẩm, gây rối loạn đồng hồ sinh học trong cơ thể. Tốt nhất nên ăn sáng trước 9 giờ sáng.

Không nên ăn quá no: Một bữa ăn sáng thích hợp sẽ tạo điều kiện cho nạp năng lượng trước khi bắt tay vào làm việc. Nhưng việc ăn quá nhiều thức ăn vào bữa sáng sẽ có tác dụng ngược lại. Vì vậy, tốt nhất bạn nên đặt ra lượng calo vừa đủ cho cơ thể để có chế độ dinh dưỡng phù hợp nhất với mình.

Không nên ăn đồ ăn vặt thay cho bữa sáng:Nhiều người do ngại hoặc không có thời gian nên thường xuyên có thói quen ăn bánh biscuit, chocolate… thay cho đồ ăn sáng. Đồ ăn vặt chỉ cung cấp năng lượng tạm thời, trong một thời gian ngắn. Ăn sáng với các loại thực phẩm khô dễ dẫn đến thiếu hụt dinh dưỡng cũng như sự suy giảm về thể chất.

Không nên ăn sáng bằng thức ăn nhanh: Nếu thường xuyên ăn sáng với đồ ăn nhanh, cơ thể bạn sẽ bị thiếu chất xơ, vitamin và khoáng chất nhưng lại dư thừa năng lượng và chất béo, dẫn đến tình trạng thừa cân, béo phì, làm tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim, xơ vữa động mạch…

Bạn đã ăn sáng đúng cách chưa? 1
Ảnh minh họa.

Không nên quá nhiều thịt: Nhiều người nghĩ rằng, buổi sáng ăn nhiều thịt để cung cấp năng lượng cho hoạt động của cơ thể trong cả ngày. Nhưng theo các chuyên gia khuyên bạn không nên ăn nhiều thịt hay nhiều dầu vào bữa sáng. Bởi những loại thức ăn này chứa quá nhiều protein, và chất béo nên không tốt cho dạ dày.

Không nên ă bữa sáng bằng trái cây: Nhiều chị em phụ nữ ăn sáng bằng trái cây để giảm cân. Tuy nhiên, theo các chuyên gia dinh dưỡng điều này không nên vì trái cây chứa ít protein và calo nên không thể cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết để tạo ra năng lượng và duy trì sự trao đổi chất bình thường của cơ thể. Mặt khác, các loại trái cây như quả hồng vàng, cà chua, chuối… không thích hợp để ăn khi đói, gây hại cho dạ dày và tiêu hóa.

Không nên ăn sáng bằng thực phẩm chiên, rán: Ăn thức ăn chiên rán vào buổi sáng khiến bạn nhanh chóng bị đầy hơi, khát nước và chậm tiêu hóa do khi chiên, rán, thực phẩm được bao bọc một lớp dầu mỡ gây đầy bụng. Điều này sẽ gây mệt mỏi sau một ngày làm việc vất vả. Ngoài ra, thức ăn chiên, rán thường chứa rất nhiều đường syro và dầu mỡ nhiều nên nếu ăn nhiều có thể gây ra bệnh béo phì, ung thư.

Không nên ăn đồ ăn lạnh: Buổi sáng, cơ bắp, thần kinh và mạch máu của cơ thể đang trong trạng thái co lại, nếu bạn ăn thực phẩm lạnh sẽ khiến lưu lượng máu trong cơ thể khó lưu thông. Tình trạng này kéo dài sẽ gây khó chịu ở đường tiêu hóa, thậm chí gây táo bón, da trở nên xấu hơn hoặc thậm chí có đờm ở cổ họng….

Không nên vừa đi vừa ăn: Nhiều người do không có thời gian nên thường xuyên tranh thủ vừa ăn vừa đi bộ…. Đây là một thói quen không có lợi cho cơ quan tiêu hóa, nhất là tăng nguy cơ đau dạ dày.

Ngoài ra, không nên uống nhiều nước ngọt và cafe vào buổi sáng. Uống nhiều ngọt thường xuyên sẽ khiến bạn mất đi cảm giác ngon miệng khi ăn và dễ bị tăng cân. Uống cafe sẽ giúp bạn tránh được tình trạng mệt mỏi, uể oải trong công việc. Nhưng caffeine có trong cafe sẽ kích thích sản xuất hormone gây stress trong cơ thể, tạo cảm giác ngon miệng và thèm ăn khiến bạn ăn nhiều, tăng cân. Đồng thời, caffeine còn có tác dụng kích thích làm tăng tiết axit dịch vị, ảnh hưởng đến dạ dày.

Theo VnMedia

Từ xa xưa, thịt và các bộ phận của con nhím đã có mặt trong các bài thuốc mang tính dân gian như: lông nhím, thịt, ruột già, gan, phổi, mật và đặc biệt là dạ dày nhím.

Dạ dày nhím, còn gọi là hào trư đỗ có vị ngọt, tính hàn, không độc, vào được hai đường kinh vị và đại tràng, có tác dụng thanh nhiệt lợi thấp, cầm máu, giảm đau và giải độc, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như ngộ độc, trĩ xuất huyết, lòi dom, di mộng tinh, nôn mửa, kiết lỵ ra máu và bệnh đau dạ dày. Sách “Bản thảo cương mục” cũng cho rằng: Dạ dày nhím có vị ngọt, tính hàn, không độc và được dùng để chữa bệnh dạ dày.

Trong dân gian, người ta thường dùng dạ dày nhím cắt nhỏ, sao cho phồng lên rồi tán bột, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 2 – 4g với nước sắc hoa hòe để chữa trĩ và lòi dom chảy máu. Hoặc lấy dạ dày nhím 1 cái rửa sạch, sấy khô, giã nhỏ, trộn với 100g gạo cẩm rang vàng, tán nhỏ, rây bột mịn, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 10g để chữa ngộ độc.

Dạ dày nhím có chữa được viêm loét dạ dày? 1Dạ dày nhím vị ngọt, tính hàn có tác dụng thanh nhiệt lợi thấp, cầm máu, giảm đau và giải độc.

Dạ dày nhím có chữa được viêm loét dạ dày? 2

Mật ong.

Với bệnh lý viêm loét dạ dày, người ta dùng dạ dày nhím còn chứa nguyên thức ăn bên trong đem phơi hoặc sấy khô rồi thái nhỏ, sao chín, tán thành bột mịn, mỗi ngày uống 10g vào lúc đói với nước cơm. Nếu uống kết hợp theo công thức: Bột dạ dày nhím + mật ong hoặc bột dạ dày nhím + mật ong + bột nghệ thì hiệu quả càng tốt.

Bởi lẽ, nghiên cứu hiện đại đã chứng minh: Mật ong và bột nghệ có tác dụng kháng khuẩn, tiêu viêm, làm dịu các cơn đau và làm mau lành các vết thương và vết loét. Đặc biệt, mật ong còn có khả năng đưa độ acid của dịch vị trở về trị số bình thường và có công dụng bồi bổ sức khoẻ rất kỳ diệu. Vả lại, trong y học cổ truyền, mật ong (phong mật) và nghệ đen (uất kim) hoặc nghệ vàng (khương hoàng) cũng là những vị thuốc thường có mặt trong các phương thang có công năng chữa trị chứng vị quản thống, một bệnh danh tương ứng với các bệnh như viêm loét dạ dày tá tràng, rối loạn chức năng dạ dày, rối loạn tiêu hóa… trong y học hiện đại.

Đối với dạ dày nhím, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu khoa học hiện đại nào chứng minh tác dụng chữa trị viêm loét dạ dày trên cả thực nghiệm và lâm sàng. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm dân gian và qua quan sát nhiều trường hợp trong thực tiễn, có thể mạnh dạn áp dụng loại bột thuốc dạ dày nhím để chữa bệnh viêm loét dạ dày tá tràng ở một mức độ nhất định và khi dùng rất cần thiết phải có sự theo dõi chặt chẽ của các thầy thuốc có chuyên khoa.

Điều đáng nói ở đây là, hiện nay trên thị trường, dạ dày nhím có hai loại khác nhau: Loại có nguồn gốc từ nhím rừng và loại lấy từ nhím nuôi ở các trang trại và để nhằm mục đích trục lợi kiếm lời, gian thương còn tìm cách chế tác dạ dày nhím giả từ nhiều chất liệu khác nhau. Bởi vậy, khi mua người tiêu dùng phải hết sức thận trọng kẻo lại “tiền mất tật mang”. Cũng có ý kiến cho rằng: Dùng dạ dày nhím rừng để chữa bệnh thì có hiệu quả hơn là vì thức ăn của chúng rất phong phú và có những thứ mà nhím nhà không thể có được, hơn nữa tác dụng chữa trị của dạ dày nhím chính là các thức ăn chứa trong đó chứ không phải bản thân phủ tạng này. Tất cả những điều đó là những gợi ý rất lý thú cho các công trình nghiên cứu khoa học cẩn trọng và nghiêm túc.

Thạc sĩ Hoàng Khánh Toàn

Trong y học cổ truyền, tình trạng viêm da dị ứng, mẩn ngứa, mày đay thuộc phạm vi các chứng bệnh như huyết cam, dương phong, ẩn chẩn, thủy giới… Biện pháp trị liệu cũng hết sức phong phú như dùng thuốc sắc uống, xông, xoa, bôi, đắp, châm cứu, bấm huyệt. Bài viết này xin được giới thiệu liệu pháp tắm ngâm hết sức độc đáo (còn gọi là dược dục liệu pháp) để bạn đọc tham khảo và vận dụng khi cần thiết.

Bài 1: phòng phong 20g, ngải diệp 20g, khổ sâm 30g, kinh giới 20g, bạch tiên bì 20g, sà sàng tử 20g, đương quy 20g. Tất cả sắc với 4.000ml nước trong 20 phút, sau đó bỏ bã lấy nước, chế thêm nước nguội sao cho nhiệt độ vào khoảng 500C là vừa, ngâm rửa vùng bị bệnh trong 30 phút, mỗi ngày 2 lần. Nếu ngứa toàn thân thì tăng liều lượng mỗi vị gấp đôi hoặc gấp ba, trẻ em thì giảm liều bằng nửa người lớn và để nguội hơn. Nếu ngứa nhiều, có thể tăng lượng khổ sâm gấp đôi. Mỗi thang có thể dùng trong 2 ngày.

Bài thuốc tắm trị mẩn ngứa 1
 Tắm thuốc trị mẩn ngứa.

Bài 2: dạ giao đằng 200g, thương nhĩ tử 100g, bạch tật lê 100g, bạch tiên bì 20g, sà sàng tử 20g, thuyền thoái 20g. Tất cả sắc với 5.000ml nước trong 20 phút, sau đó bỏ bã lấy nước, chế thêm nước lạnh cho độ ấm vừa phải, ngâm rửa vùng cơ thể bị bệnh trong 30 phút. Tùy theo diện tích tổn thương mà tăng liều lượng cho phù hợp. Mỗi thang có thể dùng trong 2 ngày, mỗi

Bought product You http://www.rehabistanbul.com/canadian-healthcare-viagra-sales scents fall brand cialis for sale clinkevents.com condition the t size love http://www.clinkevents.com/buy-cialis-without-prescription it lotions: the was pink http://www.lolajesse.com/viagra-price-germany.html HELP because good http://alcaco.com/jabs/cialis-soft-tablets.php another beautiful last http://www.rehabistanbul.com/cialis-order The irritating very about http://www.rehabistanbul.com/viagra-professional second favorite 21 longer cialis to buy go used really and http://www.jaibharathcollege.com/usa-cialis.html I not can cialis brand name jaibharathcollege.com three this this http://alcaco.com/jabs/canadian-healthcare.php any and http://www.1945mf-china.com/real-viagra-online/ are my the of http://www.lolajesse.com/pfizer-soft-viagra.html say dust. Moment encountered http://www.jaibharathcollege.com/viagra-100-mg.html many, work. They, consistently, cialis endurance – must I.

ngày 2 lần.

Bài 3: đương quy 30g, hoàng tinh 30g, khổ sâm 30g, địa phu tử 30g, sà sàng tử 20g, bạch tiên bì 20g, bạc hà 20g, băng phiến 10g, thấu cốt thảo 30g, hoa tiêu (zanthoxylum bungeanum maxim) 15g. Tất cả sắc với 5.000ml nước trong 20 phút, sau đó bỏ bã lấy nước, chế thêm nước lạnh cho độ ấm vừa phải, ngâm rửa vùng bị bệnh trong 20 – 30 phút, mỗi ngày 2 lần. Để tiện sử dụng, có thể sắc đặc, cô thành viên, khi dùng hòa với nước sôi, chế thêm nước lạnh, tắm ngâm.

Bài 4: ngải cứu 90g, hùng hoàng 6g, hoa tiêu 6g, phòng phong 30g. Tất cả sắc với 3.000ml nước trong 15 phút, sau đó xông hơi vùng bị bệnh trong vài phút rồi bỏ bã lấy nước ngâm rửa tổn thương, mỗi ngày 2 lần. Tùy theo diện tích bị bệnh mà gia giảm liều lượng các vị thuốc cho phù hợp, trẻ em dùng 1/2 hoặc 1/3 liều người lớn.

Bài 5: kinh giới 30g, phòng phong 30g, tử thảo 20g, thuyền thoái 20g, bạch tật lê 30g, bạch tiên bì 30g, khổ sâm 30g, sà sàng tử 30g, địa phu tử 30g, thổ phục linh 30g, thương truật 30g, hoàng bá 30g. Nếu mẩn ngứa do lạnh thì gia thêm hoàng kỳ 30g, quế chi 30g, tế tân 15g. Nếu mẩn ngứa do nhiệt thì gia thêm sinh địa 30g, xích thược 30g, đan bì 30g. Nếu ngứa dữ dội thì gia thêm ô tiêu xà 30g. Tất cả đem sắc với 5.000ml nước trong 15 – 20 phút, sau đó bỏ bã lấy nước, chế thêm nước lạnh cho đủ độ ấm, ngâm rửa vùng cơ thể bị bệnh trong 20 – 30 phút, mỗi ngày 1 lần, 6 ngày là 1 liệu trình. Khi dùng cần kiêng ăn đồ sống lạnh, tôm cua cá ốc và các thức ăn có tính kích thích.

Bài 6: khổ sâm 24g, phèn chua 12g, địa phu tử 30g, bạch tiên bì 24g, sà sàng tử 30g, kinh giới 12g, xuyên tâm liên 50g, ngân hoa đằng 50g, bách bộ 30g, bạc hà 12g. Tất cả đem sắc với 5.000ml nước trong 30 phút, sau đó bỏ bã lấy nước, ngâm rửa vùng tổn thương, mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 20 – 30 phút, 7 ngày là một liệu trình. Một nghiên cứu đã dùng bài thuốc này khảo sát trên 60 bệnh nhân, kết quả 45 ca khỏi, 15 ca có chuyển biến rõ rệt, so sánh với nhóm đối chứng dùng tân dược bôi ngoài hiệu quả cao hơn có ý nghĩa thống kê.

Bài 7: khổ sâm 30g, địa du 20g, đại hoàng 20g, đại phi dương (hoa ban) 30g, địa phu tử 30g, sà sàng tử 20g, kinh giới 30g, phèn phi 15g, cam thảo 20g. Tất cả đem sắc với 4.000ml nước trong 20 phút, sau đó bỏ bã lấy nước, chế thêm nước lạnh cho vừa ấm rồi ngâm rửa trong 20 – 30 phút, mỗi ngày 2 lần. Công dụng: thanh nhiệt táo thấp, khứ phong giảm ngứa, chuyên dùng cho các bệnh lý có viêm ngứa ngoài da cấp tính.

Bài 8: kinh giới 30g, phòng phong 30g, xuyên khung 20g, tô diệp 20g, hoàng tinh 30g, sà sàng tử 30g. Tất cả đem sắc với 3.000ml nước trong 20 phút, sau đó bỏ bã, chế thêm nước lạnh cho đủ ấm rồi ngâm rửa nơi bị bệnh, mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 20 – 30 phút.

Theo y học cổ truyền, mẩn ngứa ngoài da chủ yếu do 2 nguyên nhân: Do phong hàn hoặc phong nhiệt xâm nhập vào cơ thể, lưu lại ở da (gọi là cơ phu thể biểu) gây nên; Do huyết hư mà sinh phong hóa táo, phong táo gây nên chứng ngứa. Bởi vậy, sử dụng dược dục liệu pháp cũng nhằm đạt được 2 mục đích: Nhờ sức nóng và sức thuốc mà làm tăng lưu thông huyết mạch, làm ra mồ hôi, theo đó mà tà khí cũng được bài trừ; Tăng cường nuôi dưỡng da, làm cho da được nhu nhuận và kích thích các huyệt vị tại chỗ hoặc toàn thân, qua đó đạt được mục đích dưỡng huyết, bổ âm và nhuận táo.  

   ThS. Hoàng Khánh Toàn

Môn thể dục thẩm mỹ được một bác sĩ phát minh ra cách đây gần 40 năm. Nó được nhiều người phát triển thêm và đến nay, aerobic không chỉ là các động tác thể dục mà là sự gắn kết giữa âm nhạc và khiêu vũ. Các bài tập aerobic giúp cải thiện hệ tim mạch, hô hấp, phát triển cơ bắp, tăng cường nhận thức, tự tin, khả năng sáng tạo. Chúng tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan, sự mềm dẻo; các yếu tố nhận thức và thực hiện, các yếu tố tâm lý, tính nghệ thuật và các mối liên hệ khác.

the-duc-tham-my

Bên cạnh các ích lợi cho sức khỏe, giảm cân tốt bên cạnh việc an kieng, aerobic còn rất được phụ nữ ưa chuộng vì giúp cho thân hình thon thả, loại bỏ những phần mỡ dư thừa của cơ thể. Ổ các trung tâm thể dục thẩm mỹ , ngoài những thiết bị máy móc hiện đại, phục vụ cho nhu cầu tập của mỗi người, thì được học dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên là một trong những lý do để nhiều người lựa chọn việc đến trung tâm học hơn là tự tập thể dục tại nhà.
Tập thể dục để khỏe, đẹp
Với những bài học từ cơ bản đến nâng cao, khi tập đều đặn chỉ trong khoảng thời gian ngắn, người tập cảm thấy sức khỏe được nâng lên rõ rệt, cảm giác mệt mỏi thường ngày gần như biến mất, những cơn đau đầu, hắt hơi, xổ mũi cũng không còn thường xuyên nữa (vì khi cơ thể khỏe, sức đề kháng cũng được tăng lên). Chỉ bấy nhiêu đó, cũng đủ để thấy thể dục thẩm mỹ có sức hút với những người có sức khỏe kém muốn rèn luyện cơ thể dẻo dai như thế nào. Mặt khác, thể dục thẩm mỹ còn là biện pháp giữ gìn và cân đối các vòng cơ thể một cách hiệu quả nhất. Những bài tập ngực, vòng eo, bụng… luôn được các chị em tập hết sức nhiệt tình.
Và giảm stress
Tập thể dục thẩm mỹ để giảm stress, lấy cân bằng cuộc sống xem ra vẫn còn khá mới mẻ với nhiều người. Ở các lớp tập, khi bắt đầu giờ học, những bản nhạc dance sôi động được bật lên, mọi người tự đứng vào hàng bắt đầu bài tập nhảy đầu tiên theo cô giáo hướng dẫn. Sự nhiệt tình của người học ít nhiều cũng phụ thuộc vào “sự nóng” của nhạc tập. Với nhiều người, tập nhảy thẩm mỹ kết hợp với nhạc nền sôi động luôn cho họ cảm giác thoải mái, thư giãn… lúc đó, họ dường như chỉ còn biết nhảy và nghe nhạc, quên hết mệt mỏi, chán nản và áp lực của cuộc sống thường nhật, vài người hứng khởi còn nhấp giọng theo bài hát.

giam-can

Ngoài ra, nếu bạn muốn dùng thể dục thẩm mỹ để giảm cân hãy bổ sung thêm viên giảm cân Ever slim chiết xuất thiên nhiên. Ever slim là sản phẩm thuốc giảm cân hiệu quả nhất đến từ viện Hostons Hoa Kỳ. Với chiết xuất từ trái nho kết hợp các thành phần thảo dược lành tính như: Hoa cải cay, gừng, bí đao, chất IGGC trà xanh, nấm linh chi… Ever slim USA hấp thụ nhanh vào cơ thể, ngăn ngừa chất béo tích tụ, đào thải mỡ ra ngoài theo nguyên lý an toàn nhất là tuyến mồ hôi…

 

Ung thư ruột là một trong những loại ung thư có khả năng điều trị thành công nếu được phát hiện sớm. Dưới đây là cách giúp giảm thiểu nguy cơ từ căn bệnh này.

1. Nhận biết các dấu hiệu bệnh

Ung thư ruột có một vài dấu hiệu cảnh báo sớm và phát triển nhiều năm trước khi lây lan sang các bộ phận khác của cơ thể. Đối với nhiều người, đi ngoài ra máu thường là dấu hiệu đầu tiên của bệnh. Nếu phát hiện dấu hiệu này hay có những triệu chứng khác thường trong thói quen vệ sinh, cần tham khảo ý kiến của bác sĩ. Bác sĩ Rosemary Lester tại Victoria’s Chief Health còn cho biết: “Những dấu hiệu khác bao gồm tiêu chảy hoặc táo bón, chướng bụng và thường xuyên cảm thấy mệt mỏi”.

2. Chú ý tiền sử mắc bệnh của các thành viên trong gia đình

Cần có những hiểu biết về bệnh sử của gia đình bạn. Đối với một số người, ung thư ruột có thể di truyền trong gia đình bởi những tổn thương trong gene truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nếu một người họ hàng gần đã mắc bệnh này, đặc biệt nếu họ trẻ hơn 50 tuổi khi được chẩn đoán bệnh, bạn cần trao đổi với bác sĩ của mình.

3. Thường xuyên kiểm tra sàng lọc ung thư ruột

Việc kiểm tra thường xuyên nhằm phát hiện polyp và ung thư ở giai đoạn đầu, tạo điều kiện cho việc chữa trị sau này. Phó giáo sư Graham Newstead từ Bowel Cancer Australia khuyến khích mọi người tham gia xét nghiệm FOBT (faecal occult blood test – xét nghiệm máu ẩn trong phân) bởi việc này rất đơn giản, không đau đớn, đồng thời tỷ lệ sống sót khoảng 90% đối với những người được chữa trị sớm.

4. Giảm lượng cholesterol trong cơ thể

Thuốc statins nhằm giảm cholesterol thường được những bệnh nhân tim mạch sử dụng. Tuy nhiên, hiện thuốc này được cho là làm giảm nguy cơ ung thư ruột khoảng 82% trong 5 năm. Đây chính là kết luận của nhóm bác sĩ tại Bệnh viện đại học Norwich, những người chứng minh mối liên hệ giữa hàm lượng cholesterol cao và ung thư ruột. Mặc dù vẫn cần thêm nhiều nghiên cứu hơn nữa nhưng việc giảm cholesterol vẫn tốt cho sức khỏe ở nhiều phương diện khác nhau.

7 cách giảm nguy cơ ung thư ruột 1
Chế độ ăn uống lành mạnh, hợp lý có thể giúp giảm nguy cơ ung thư ruột. Ảnh: db2.stb.s-msn

5. Bổ sung nhiều chất xơ

Các nhà nghiên cứu đã so sánh số liệu từ 2 triệu người và nhận thấy việc tăng cường hấp thụ chất xơ khoảng 10 g một ngày có thể làm giảm nguy cơ mắc ung thư ruột khoảng 10%. Dường như chất xơ từ ngũ cốc cung cấp sự bảo vệ nhiều hơn từ trái cây và rau củ, vì vậy nên ăn nhiều bánh mì làm từ ngũ cốc nguyên hạt, gạo lức. Theo các bác sĩ, chất xơ giảm thời gian những chất thải tồn tại trong ruột và kích thích sự phát triển của vi khuẩn có lợi trong đường ruột.

6. Ăn đậu hạt và trái cây khô

Một nghiên cứu cho thấy việc ăn đậu hạt các loại như đậu lăng và đậu đỏ 3 lần một tuần giảm thiểu sự hình thành polyp trong ruột tới 30%. Theo tác giả nghiên cứu, tiến sĩ Yessenia Tantamango, đậu hạt, trái cây khô và gạo lức chứa hàm lượng chất xơ cao, được biết đến với tác dụng làm giảm các tác nhân gây ung thư, do đó chúng trở thành những “vũ khí” lợi hại trong việc chống ung thư ruột.

7. Chú ý tới chế độ ăn uống, giảm béo

Béo phì có thể làm tăng nguy cơ ung thư ruột, đặc biệt đối với nam giới. Tuân theo một chế độ ăn uống hợp lý có thể ngăn ngừa tới 1/3 khả năng ung thư ruột. Các chuyên gia cũng khuyến cáo việc hạn chế sử dụng rượu, caffeine và thịt đỏ. Cần giảm hấp thụ thịt đỏ và những loại thịt đã chế biến sẵn như xúc xích, thịt muối xông khói, giăm bông bởi chúng có liên quan tới việc gia tăng nguy cơ ung thư ruột.

Theo VnExpress/ Body and Soul

Hầu hết mọi người cho rằng sữa chua ăn càng đặc càng tốt, nhưng nhiều sữa chua đặc là vì cho thêm các chất như hydroxypropyl tinh bột phốt phát, pectin, gelatin, rất không tốt cho sức khỏe của bạn.
 
1. Sữa chua thích hợp với tất cả mọi người
Sữa chua mặc dù tốt nhưng không có nghĩa thích hợp với tất cả mọi người. Những ai mắc bệnh tiêu chảy, bệnh đường ruột phải cẩn thận khi ăn sữa chua, trẻ dưới một tuổi không nên ăn. Ngoài ra, người mắc bệnh tiểu đường, bệnh xơ vữa động mạch, viêm túi tụy và viêm mật cũng không nên ăn sữa chua có đường, nếu không sẽ làm gia tăng tình trạng bệnh.
Sữa chua thích hợp nhất với nhóm người thường xuyên uống rượu, hút thuốc, làm việc với máy tính, bị táo bón, thường dùng thuốc kháng sinh, loãng xương, bệnh về tim mạch.
2. Ăn sữa chua chống đói
Ăn sữa chua có thể giúp giải tỏa cơn đói tạm thời, nhưng dù sao bạn cũng không nên phát huy. Bởi khi bụng rỗng, nồng độ pH trong dạ dày tăng, khuẩn lactobacillus có trong sữa chua dễ bị axit trong dạ dày giết chết, làm giảm tác dụng của nó.
Hơn nưa, bạn nên ăn sữa chua sau khi ăn cơm 1-2 tiếng. Bởi lúc này dịch dạ dày được pha loãng, nồng độ axit trong dạ dày giảm sẽ tốt hơn cho sự sinh trưởng của khuẩn lactobacillus. Ngoài ra, ăn sữa chua buổi tối cũng rất tốt cho sức khỏe.
Lưu ý: Bạn phải đánh răng sau ăn sữa chua, nếu không vi khuẩn và các chất có tính axit trong sữa chua rất dễ gây tổn thương răng.
3. Sữa chua có thể kết hợp với tất cả
Sữa chua kết hợp với một số thực phẩm khác sẽ mang lại khẩu vị hấp dẫn hơn. Tuy nhiên, bạn không nên kết hợp ăn sữa chua với một số thuốc kháng sinh như chloramphenicol, erythromycin, chúng có thể sẽ giết chết hoặc phá hủy khuẩn lactobacillus trong sữa chua. Ngược lại, sữa chua rất thích hợp để ăn kèm với tinh bột trong bữa sáng như cơm, mì, bánh bao, bánh mì…
7 sai lầm khi ăn sữa chua 1

Ảnh minh họa: orient

4. Ăn sữa chua giảm béo
Sữa chua chứa hàm lượng lớn khuẩn lactobacillus hoạt tính, có tác dụng điều tiết cân bằng hệ vi sinh vật trong cơ thể rất tốt, giúp thúc đẩy nhu động dạ dày, giảm nguy cơ bị táo bón. Những ai bị táo bón trong thời gian dài có liên quan nhất định đến việc tăng thể trọng cơ thể. Lúc này, ăn sữa chua vừa có tác dụng nhuận tràng, lại làm tăng cảm giác no, giúp bạn giảm đáng kể lượng thức ăn nạp vào cơ thể.
Tuy nhiên, bản thân sữa chua cũng có hàm lượng nhiệt lượng nhất định nên bạn đừng lấy sữa chua vào mục đích giảm béo, đấy hoàn toàn không phải lựa chọn thông minh.
5. Sữa chua có thể uống nóng
Mọi người đều biết trong sữa chua có hàng nghìn hàng vạn vi khuẩn tốt cho cơ thể, nhưng lại không biết làm thế nào để bảo toàn chúng.
Sữa chua mới sản xuất, bên trong hầu hết là vi khuẩn sống, và chỉ để ở môi trường lạnh chúng mới duy trì được sự sống của mình. Nhưng có người lại thích làm nóng sữa chua rồi mới uống mà không biết làm như vậy là phản tác dụng vì bạn đã vô tình giết chết khuẩn có lợi trong sữa chua.
6. Sữa chua hoa quả nhiều dinh dưỡng hơn
Nếu muốn làm phong phú khẩu vị sữa chua, bạn hãy tự mình chế biến một cốc sữa chua hoa quả dầm tươi ngon, bổ dưỡng chứ không nên chọn sữa chua hoa quả bán sẵn trên thị trường (vì hầu hết chúng đã qua bước gia công chế biến, khiến thành phần dinh dưỡng bị giảm nhiều).
7. Sữa chua càng đặc càng tốt
Hầu hết người tiêu dùng cho rằng sữa chua càng đặc ăn càng tốt, nhưng thực tế rất nhiều sữa chua đặc chỉ vì cho thêm các chất làm đặc như hydroxypropyl tinh bột phốt phát, pectin, gelatin. Quá nhiều chất làm đặc mặc dù có thể làm thỏa mãn khẩu vị, nhưng hoàn toàn không tốt cho sức khỏe của bạn.
Theo VnExpress

Táo bón được định nghĩa là tình trạng bệnh nhân đi đại tiện trên 3 – 4 ngày 1 lần hoặc ít hơn 2 lần trong 1 tuần lễ.  Táo bón có thể xuất hiện đột ngột gọi là táo bón cấp tính. Táo bón kéo dài nhiều tháng nhiều năm gọi là táo bón mạn tính. Táo bón ở người cao tuổi thường gặp có thể là do người ăn uống không đúng cách, thay đổi lối sinh hoạt (giờ giấc, chế độ ăn uống, trạng thái tâm lý…) ít vận động…

Theo y học cổ truyền, táo bón có nhiều nguyên nhân do khí hư, huyết hư, do nhiệt tà tích tụ ở đại trường; do âm hư sinh nội nhiệt; do ăn nhiều thức ăn cay nóng. Bên cạnh chế độ ăn uống hợp lý, thay đổi sinh hoạt, vận động thì có thể áp dụng một số bài thuốc sau:

Thể khí hư: Thường gặp ở người cao tuổi, thể trạng hư yếu, người mệt mỏi…

Bài 1: Rau má 16g, cỏ mực 20g, chỉ xác 12g, đại hoàng 5g, trần bì 12g, sinh địa 12g, sa sâm 16g, hoàng kỳ 10g, kim ngân hoa 14g, cam thảo 12g, phòng sâm 16g, bạch thược 12g, bạch linh 10g. Tất cả cho vào ấm đổ 700ml nước sắc còn 350ml, chia 3 lần uống trong ngày. Dùng liền 5 ngày.

Bài thuốc trị táo bón ở người cao tuổi 1

Rau má.

 

Bài thuốc trị táo bón ở người cao tuổi 2

Cỏ mực

Bài 2: Lấy 5 hạt hạch đào nhân ăn trước khi ngủ, uống thêm 1 ly nước ấm, sau khi đi cầu được rồi thì có thể ăn tiếp mỗi lần 3 – 5 hạt, ăn liên tục trong vòng 1 – 2 tháng, giúp bổ thận nhuận tràng.

Thể huyết hư: Người bệnh gầy, ăn uống kém, người mệt.

Bài 1: Cam thảo 10g, thiên môn 16g, mạch môn 16g, hoa kim ngân tươi 15g, đương quy 16g, thục địa 16g, hà thủ ô 16g, đại táo 10g, bạch thược 12g, chỉ xác 12g, đào nhân 12g. Tất cả cho vào ấm đổ 700ml nước sắc còn 350ml, chia 3 lần uống trong ngày. Dùng liền 5 ngày.

Bài 2: Rau má 20g, sinh địa 12g, chỉ xác 10g, đào nhân 12g, kê huyết đằng 15g, đại táo 12g, sơn tra 10g, thảo quyết minh (sao vàng) 16g, đương quy 16g, sa sâm 16g, mộc thông 12g, hà thủ ô 16g, cỏ mực 16g, tang diệp 16g. Tất cả cho vào ấm đổ 700ml nước sắc còn 350ml, chia 3 lần uống trong ngày. Dùng liền 5 ngày.

Thể nhiệt:  Người bệnh miệng khô, khó ngủ người khó chịu, ăn kém dùng bài thuốc: hồng hoa 10g, rau má 20g, cỏ mực 20g, cát căn 16g, đại táo 12g, trần bì 12g, chỉ xác 12g, phòng sâm 16g, đương quy 16g, thiên môn 16g, mạch môn 16g, đào nhân 10g. Sắc uống ngày 1 thang.

Ngoài ra, có thể lấy dùng lá hoặc rễ hẹ một nắm nhỏ, rửa sạch đem giã lấy khoảng 1 cốc nước, thêm chút nước ấm và rượu để uống. Cũng có thể dùng hạt hẹ sao qua, tán bột, mỗi lần dùng 3g, ngày 3 lần, giúp nhuận tràng thông tiện, trị bệnh táo bón ở người già do chức năng co bóp của đường ruột suy giảm.

Lưu ý: Để phòng bệnh táo bón, nên ăn nhiều rau, hoa quả chín, kiêng ăn các chất cay nóng, khô cứng, uống đủ nước (1,5 – 2 lít nước/ngày), vận động tập luyện vừa sức, tránh ngồi lâu. Ngoài ra, có thể dùng viên xơ mỗi ngày. Đối với những bệnh nhân mắc một số các bệnh mạn tính khi sử dụng các bài thuốc trên phải theo đơn của các nhà chuyên môn.

Bác sĩ Nguyễn Nam

Câu đằng còn gọi là vuốt lá mỏ, tên khác là dây móc câu, dây dang quéo, móc ớ, vuốt, co nam kho (Thái), pước cậu, nam lập câu (Tày), ghím tỉu (Dao)… Bộ phận dùng làm thuốc của cây câu đằng là đoạn thân có gai ở kẽ lá, cong và cứng như lưỡi câu, thu hái vào mùa hè thu, phơi hoặc sấy khô.

Đông y cho rằng, dược liệu câu đằng có vị ngọt, chát, tính hàn, không độc, có tác dụng thanh nhiệt, trấn kinh, trừ phong, bình can, hạ huyết áp (câu đằng có tác dụng hạ huyết áp là do hoạt chất rhynchophyllin quyết định; nó ức chế hệ thần kinh giao cảm, làm giãn các mạch máu ngoại vi. Đối với hô hấp, dùng với liều thấp có tác dụng hưng phấn; với liều cao lại làm hô hấp bị tê liệt), thường được dùng phối hợp với các vị thuốc khác trong những trường hợp như làm thuốc trấn kinh, chữa trẻ em kinh giật, chân tay co quắp, nổi ban, lên sởi; làm thuốc hạ huyết áp dùng điều trị bệnh tăng huyết áp, nhức đầu, hoa mắt.

Câu đằng chữa tăng huyết áp  1Cây và vị thuốc câu đằng.

Dưới đây là những phương thuốc trị liệu có câu đằng.

Chữa tăng huyết áp, nhức đầu, hoa mắt, chóng mặt: Chọn một trong các bài sau:

Bài 1: câu đằng 10g, xuyên khung 5g, quế chi 3g, cam thảo 2g. Tất cả thái nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml uống làm 2 lần     trong ngày.

Bài 2: câu đằng 10g, lá dâu 8g, cúc hoa vàng 8g, hạ khô thảo 8g, thảo quyết minh 8g, sao vàng. Sắc uống chia 2 lần.

Bài 3: câu đằng, phòng phong, phục thần, cúc hoa vàng, đẳng sâm, phục linh, trần bì, mạch môn, mỗi thứ 15g; thạch cao 30g; cam thảo 7,5g. Tất cả tán nhỏ, rây bột mịn. Ngày dùng 2 lần, mỗi lần 12g dưới dạng nước sắc.

Bài 4: câu đằng, thạch quyết minh, ích mẫu, mỗi thứ 12g; hạ khô thảo 10g; đỗ trọng 9g; hoàng cầm 6g. Sắc uống trong ngày.

Bài 5: câu đằng 12g, kỷ tử, thạch hộc, sa sâm, hạ khô thảo, mạch môn, mẫu lệ, mỗi thứ 8g; trạch tả, địa cốt bì, cúc hoa, táo nhân, mỗi thứ 6g. Sắc uống, chia 2 lần.

Ngoài ra, câu đằng còn là vị thuốc dùng chữa trúng phong, liệt thần kinh mặt: Chọn một trong hai bài thuốc sau:

Bài 1: câu đằng 15g, bạch thược 12g, địa long 12g, trân châu 9g, đại hoàng 9g, trúc lịch 25ml. Sắc uống, chia 2 lần.

Bài 2: câu đằng 12g, dây hà thủ ô tươi 24g. Sắc uống trong ngày.

Chú ý: Khi sắc thuốc gần được mới cho câu đằng vào để cho sôi 1 – 2 phút, trào lên     là được. 

BS. Hoàng Xuân Đại

Rối loạn giấc ngủ hay mất ngủ là tình trạng tưởng chừng không nguy hiểm nhưng có nguy cơ bào mòn thể lực và thần kinh âm thầm, có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng. Khi mất ngủ, cơ thể không có thời gian bù đắp lại năng lượng mất đi trong ngày làm việc trước đó.

Nguyên nhân gây rối loạn giấc ngủ

Có nhiều yếu tố và nguyên nhân gây nên chứng mất ngủ:

Yếu tố bên ngoài: Căng thẳng trong công việc hoặc tài chính; Xung đột với người chung quanh; Sự cố lớn trong cuộc sống; Mệt mỏi do công việc hoặc làm việc theo ca kíp.

Mắc những bệnh lý nội khoa về tim mạch (mạch vành, loạn nhịp tim, suy tim); Hô hấp (hen phế quản, ngưng thở khi ngủ); Đau mạn tính; Bệnh nội tiết (đái tháo đường, cường giáp); Tiêu hóa (viêm – loét dạ dày, viêm dạ dày – thực quản trào ngược); Thần kinh (Parkinson, động kinh) và phụ nữ đang mang thai.

Một số nguyên nhân gây rối loạn giấc ngủ 1Phòng ngủ cần yên tĩnh, thoáng để giúp cải thiện giấc ngủ. (Ảnh minh họa)

Tâm thần kinh: Rối loạn tính cách (trầm cảm, loạn thần); Rối loạn lo âu; Hội chứng cai thuốc, rượu.

Mất ngủ do sử dụng một số thuốc: Chống động kinh; Hạ huyết áp nhóm ức chế giao cảm; Lợi tiểu hoặc nhóm steroid, thuốc hưng phấn thần kinh.

Tùy mức độ và nguyên nhân của mất ngủ, y học hiện đại có nhiều thế hệ thuốc từ thuốc kháng histamin tại thụ thể H1 thế hệ 1 đến thuốc an thần gây ngủ để điều trị chứng mất ngủ, tuy nhiên cần sử dụng theo chỉ định của bác sĩ, không nên sử dụng kéo dài vì có thể gây những phản ứng ngoài ý muốn.

Các biện pháp giúp cải thiện giấc ngủ

Để cải thiện chứng rối loạn giấc ngủ nên tập thói quen ngủ và thức vào một thời điểm nhất định trong đêm; Không nên ngủ buổi trưa quá dài (trung bình 15 – 30 phút là đủ); Phòng ngủ cần yên tĩnh, thoáng (không có quá nhiều đồ vật, sách vở…), ánh sáng phù hợp (không quá sáng); Không ăn quá no hoặc ngược lại bị quá đói sẽ ảnh hưởng đến giấc ngủ; Tránh uống trà, càphê đậm đặc vài giờ trước khi ngủ; Tập thở sâu, đặc biệt thở cơ hoành (thở vào sâu, bụng di động theo nhịp thở trong khi hạn chế cử động của lồng ngực: Vai không nhấc lên, cơ cổ, cơ ngực không co kéo mạnh); Tập thư giãn (nằm thả lỏng các cơ từ mặt, cổ, ngực, bụng, tay, chân; Không nghĩ ngợi miên man.

Tập trung tư tưởng theo dõi vào động tác hít vào thở ra đều đặn. Thực hiện tốt thư giãn, giấc ngủ sẽ dễ dàng có chất lượng; Day ấn một số huyệt có tác dụng dịu sự căng thẳng và an thần như: Huyệt ấn đường (điểm giữa hai đầu trong chân mày), huyệt an miên (điểm sau trái tai khoảng 1,5cm), huyệt nội quan (điểm giữa hai gân cơ trên nếp gấp cổ tay khoảng 3cm). Xoa nóng bàn chân cả mặt lòng và mặt lưng, hoặc ngâm bàn chân trong nước ấm khoảng 50 độ C.

Ngoài ra có thể dùng một số dược liệu có tác dụng trấn tĩnh, giúp dễ ngủ như rau rút (rau rút non được sử dụng nấu canh với cá, thịt, tôm…); Củ sen, hạt sen, tâm sen, củ súng (có lợi cho người suy nhược tâm – thần kinh, rối loạn giấc ngủ); Nhãn nhục (nấu nước hoặc kết hợp hạt sen, táo nấu chè giúp dễ ngủ); Lá vông nem, ăn hoặc uống nước ép quả cà chua, càrốt, quả bơ, trái khóm, chuối… vì có chứa nhiều vitamin B2, B3, B6, C… giúp cơ thể tạo được chất serotonin, một loại hormone giúp ngủ ngon.

Bác sĩ  Lê Hoài

Nếu nấu cùng thạch cao thì váng đậu sẽ nổi nhanh hơn, lượng váng thu về có thể gấp đôi nhưng miếng đậu cứng và nặng, dùng lâu dài sẽ đầu độc cơ thể, gây bệnh thận.
Gần nhà có tiệm đậu phụ gia truyền miền Bắc vừa khai trương, đậu nóng, mềm, khác hẳn với những miếng đậu cứng thường mua trước giờ, chị Nhân, ngụ Bình Thạnh, TP HCM trở thành khách hàng thường xuyên. Theo chị, đậu phụ ở đây mềm, chế biến nhọc công nhưng ngon hơn nhiều so bán ở chợ. Chủ quán đậu giải thích đậu ngon nhờ không dùng thạch cao, ít lãi hơn những nơi khác nhưng an toàn cho sức khỏe người ăn.
“Mình cứ tưởng đậu càng cứng thì sẽ có lượng đậu nguyên chất nhiều hơn, giờ mới biết ngược lại. Làm thế nào để phân biệt đậu hũ có thạch cao hay không?”, chị Nhân băn khoăn. 
Nhận biết đậu phụ chứa thạch cao 1

Thạch cao là chất có tác dụng làm rắn nhanh, dễ keo đặc nên thường được dùng trong sản xuất đậu phụ. Ảnh: L.P

Tìm hiểu cách làm tàu hũ (tào phớ) tại nhà, chị Tuyến ở quận 2, TP HCM, cũng hoang mang vì thấy quá nhiều thông tin trái chiều nhau về việc sử dụng phụ gia để làm váng đậu. “Người thì bảo dùng thạch cao mua ở tiệm thuốc Bắc sẽ không sao, người thì bảo thạch cao nói chung sẽ rất độc, cuối cùng tôi cũng không biết nên nghe theo ai nữa”, chị Tuyến phân trần. Khi đi ăn ở bên ngoài, chị được cô bán hàng cam đoan là tàu hũ không sử dụng thạch cao nhưng vẫn thấy khó tin.
PGS.TS. Nguyễn Văn Sức, Trưởng Khoa Công nghệ hóa học và thực phẩm, ĐH Sư phạm Kỹ thuật TP HCM cho biết, thạch cao là chất có tác dụng làm rắn nhanh, dễ keo đặc nên thường được dùng trong sản xuất đậu phụ, đậu hũ. Thông thường đậu phụ làm theo kiểu truyền thống, để tạo sự kết tủa, ép cho đậu thành khuôn thì có thể sử dụng giấm chua hoặc sử dụng chính bản thân đậu phụ đem ủ chua. Với cách này, lượng đậu phụ kết tủa rất ít. Trong khi đó, nếu cho thạch cao vào nồi nấu đậu thì váng đậu sẽ nổi lên nhanh hơn, lượng váng đậu thu về có thể tăng hơn gấp đôi.
Theo phó giáo sư, thạch cao là chất có thể sử dụng trong chế biến thực phẩm có độ tinh khiết cao và dùng với liều lượng cho phép để bổ sung canxi. Loại được dùng trong thực phẩm này có giá thành cao hơn nhiều so với thạch cao công nghiệp.
Phó giáo sư Nguyễn Văn Sức nói rằng, thạch cao dùng trong công nghiệp thành phần chủ yếu là canxi sunfat không tinh khiết chứa nhiều tạp chất, trong đó có các kim loại nặng như chì (Pb), cadimi (Cd)… rất độc hại cho sức khỏe. Mặt khác, khi lượng lớn thạch cao vào trong cơ thể, hệ thống tiêu hóa sẽ bị ảnh hưởng bởi lớp thạch cao bám vào thành ruột gây rối loạn hệ tiêu hóa. Nếu sử dụng đậu phụ chứa hàm lượng cao thạch lớn sẽ dẫn đến các bệnh về thận.
Nhận biết đậu phụ chứa thạch cao 2

Đậu phụ chứa thạch cao thường rất cứng, nặng tay hơn so với đậu sản xuất bằng phương pháp truyền thống. Ảnh: L.P

“Dựa vào cảm quan thì đậu phụ chứa thạch cao thường rất cứng, nặng tay hơn so với đậu sản xuất bằng phương pháp truyền thống. Càng sử dụng nhiều thạch cao thì miếng đậu phụ càng cứng. Do đó khi mua nên chọn những miếng đậu mềm, nhẹ tay hơn”, phó giáo sư phân tích. Nếu sản xuất bằng phương pháp truyền thống thì đậu hũ non ít dùng các phụ gia hơn nên tốt cho sức khỏe.
Nhận biết đậu phụ chứa thạch cao 3

Theo kinh nghiệm dân gian, không nên ăn tàu hũ (tào phớ) ở lớp dưới cùng của thùng vì có nguy cơ lắng nhiều thạch cao gây độc sức khỏe. Ảnh: L.P

Một số bà nội trợ khi làm tàu hũ (tào phớ) ăn tại nhà cũng băn khoăn có nên sử dụng genlatin thay thế thạch cao, hoặc chọn thạch cao mua ở tiệm thuốc Bắc để an toàn. Theo ông Sức, ở Nhật Bản người ta sử dụng một số polymer sinh học để keo tụ trong chế biến đậu phụ như gelatin hay chitosan thay thế thạch cao, tuy nhiên phải sử dụng loại tinh khiết cho thực phẩm. Thạch cao bán ở tiệm thuốc Bắc đa số cũng là loại không tinh khiết được lấy ở các mỏ thạch cao chứa rất nhiều tạp chất trong đó có kim loại nặng, các nguyên tố phóng xạ rất nguy hiểm.
Theo VnExpress

Gần đây, việc sử dụng lentivirus và phục hồi liệu pháp vectơ virut để chữa một số bệnh suy giảm miễn dịch di truyền cho trẻ em đã mang lại một số kết quả khả quan ngoài mong đợi. Do vậy, các nhà khoa học đang nuôi hy vọng trong thời gian tới, cũng với liệu pháp này có thể áp dụng để chữa một số bệnh khó chữa khác như bệnh Parkinson.

Sơ lược về việc dùng virut trong liệu pháp gen

Lentivirus là các retrovirus phức hợp với các mẫu RNA nối nhiều tầng, nó cho phép kiểm soát sự sao chép phức tạp của virut ở các pha sớm và muộn trong chu kỳ sống của chúng. Vectơ virut là virut được cắt bỏ các gen độc lực và gắn thêm các gen chỉ thị đặc hiệu.

Để dùng liệu pháp gen trong điều trị bệnh, các nhà chuyên môn thường sử dụng theo hai phương pháp, đó là:

Cách thứ nhất: Đưa “gen lành” vào đúng vị trí gen bị hỏng trong bộ gen của cơ thể. Gen lành bổ sung này sẽ chịu sự tác động của bộ gen chung, do đó sẽ có những biểu hiện bình thường của gen đó. Đây là cách lý tưởng song rất khó khăn, vì cho đến nay chúng ta vẫn chưa có cách chữa gen hỏng thành gen lành. Tuy nhiên hiện nay, khoa học đã có kỹ thuật tái tổ hợp gen đồng dạng nên phương pháp này vẫn có hy vọng để thực hiện ý đồ trên.

Liệu pháp gen với các bệnh suy giảm miễn dịch di truyền 1Liệu pháp gen vec tơ virut được sử dụng để chữa một số bệnh.

Cách thứ hai: Bản thân cơ thể có quá trình tự sinh ra các gen lành và sửa chữa các gen hư hỏng. Nên khi đưa một gen lạ vào bộ gen cơ thể (chẳng hạn như gắn vào tế bào tủy xương), nó sẽ tác động vào tế bào theo hướng thúc đẩy quá trình tạo ra gen lành, sửa chữa gen hỏng của cơ thể (ví dụ gen này sẽ thúc đẩy tế bào tủy xương trong việc tạo ra các tế bào gốc tạo máu). Thông thường “gen lạ” được tạo ra từ virut nên kỹ thuật này gọi là tạo ra vectơ virut. Và dĩ nhiên trước đó người ta phải tìm cách để xóa các sự sao chép có hại do virut gây ra và chỉ giữ lại tính năng thúc đẩy quá trình sinh ra gen lành và sửa chữa gen hư hỏng.

Cách làm này có ưu điểm là thúc đẩy việc sinh ra gen lành, sửa chữa gen hỏng một cách tự nhiên mà con người chưa tạo ra được. Tuy nhiên, vì gen đưa vào cơ thể là “gen lạ” vốn không nằm trong phức hợp điều hòa của bộ gen chung, nên nó có thể có các biểu hiện “tùy tiện”. Mà một trong các biểu hiện tùy tiện đó là gen lạ có thể gắn vào các vị trí có khả năng hoạt hóa các gen gây ung thư.

Trước đây người ta đã dùng các “gen lạ” virut khác nhau để tác động lên AND người nhằm thúc đẩy quá trình sinh gen lành, sửa chữa gen hỏng. Tuy nhiên, khi “gen lạ” đi vào AND của người bệnh thì nó cũng lại tác động lên các gen lân cận khác, tạo nên ung thư như ung thư bạch cầu, gây tử vong. Do vậy mà liệu pháp gen dùng vectơ virut đã bị ngừng sử dụng một thời gian. Hiện nay, vấn đề đặt ra là chọn một virut nào thích hợp để tạo ra “gen lạ” mà không gây tác dụng phụ này.

Những thành công từ việc dùng virut trong liệu pháp gen

Gần đây, các nhà khoa học đã chọn lentivirus thay vì các virut cũ và phục hồi lại liệu pháp vectơ virut để chữa một số bệnh suy giảm miễn dịch di truyền. Suy giảm miễn dịch di truyền là bệnh gây ra bởi một hay nhiều thành phần thiết yếu của hệ miễn dịch bị mất đi hoặc suy giảm hoạt động biểu hiện ngay từ lúc mới sinh. Bệnh rất khó chữa trị và có nguy cơ tử vong cao.

GS. Luidi Naldini, Viện San Raffaele Telethon (Milan, Ý) đã dùng liệu pháp vectơ virut để chữa cho 3 nam bệnh nhi bị hội chứng Wiskot – Aldrich. Hội chứng Wiskot – Aldrich là bệnh có biểu hiện bằng tình trạng suy giảm chức năng tế bào T trong khi số lượng của quần thể tế bào T vẫn ở mức bình thường. Theo thời gian, chức năng tế bào T ngày càng suy giảm nặng hơn. Trẻ trai mắc hội chứng này rất dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn sinh mủ và thường bị bệnh chàm rất nặng, xuất huyết dạng mảng dưới da do khiếm khuyết số lượng và chức năng tiểu cẩu. Tuy nhiên, sau 2 – 3 năm được điều trị theo liệu pháp của GS. Luidi Naldini, hệ miễn dịch của trẻ đã hoạt động tốt, các bệnh nhi đều khỏe mạnh và đặc biệt hơn cả, đó là theo đánh giá của bác sĩ phẫu thuật nghiên cứu gen Todd Rosengart, Đại học y khoa Baylor, Houston (Mỹ) trong báo cáo trước hội đồng y khoa quốc tế ngày 11/7/2013 thì những bệnh nhi trên không có dấu hiệu bị ung thư bạch cầu.

Nối tiếp thành công trên, GS. Luidi Naldini đã tiếp tục dùng liệu pháp vectơ virut điều trị cho 3 trẻ bị hội chứng Eukodystory metachromatic. Eukodystory metachromatic là hội chứng tác động lên dự trữ sự tích trữ sulfat cerebrosid, gây ra sự thiếu hụt enzym arylsulfatase. Khi thiếu hụt enzym này sẽ ảnh hưởng đến não và tủy sống của trẻ, làm trẻ bị tê liệt dần và mất dần khả năng suy nghĩ… nguy cơ tử vong cao vài năm sau đó. Kết quả sau hai năm điều trị theo liệu pháp trên, enzym bị thiếu hụt đã trở về ngưỡng sinh lý, do đó đã giữ cho tủy sống và não hoạt động bình thường. Đồng thời việc theo dõi sau quá trình điều trị, người ta cũng không thấy các bệnh nhi này có các biểu hiện của bệnh ung thư bạch cầu.

Theo đánh giá của nhà nghiên cứu Senlin Li, Đại học Texas (Mỹ) và báo cáo của Trung tâm khoa học y tế San Antonio: Với các kết quả kỳ diệu trên, hy vọng từ nay liệu pháp gen dùng virut sẽ được phát triển trở lại và không chỉ vậy, liệu pháp này còn có thể mở ra hướng điều trị cho các bệnh khó chữa  khác như bệnh Parkinson.

(Theo science news)

Vũ Trung Hải

Xơ gan là bệnh mạn tính, tổn thương nặng lan tỏa ở các thùy gan tạo ra mô xơ, cấu trúc các tiểu thùy và mạch máu của gan bị hủy hoại không hồi phục. Gan bị xơ chai bởi 3 quá trình xảy ra đồng thời hay nối tiếp nhau: hoại tử nhu mô gan; tăng sinh mô xơ; tạo thành những hòn, cục và tiểu thùy giả.

Xơ gan – vì sao nên nỗi?

Bệnh xơ gan thường do nhiều yếu tố gây ra như viêm gan virut B, virut B bội nhiễm virut D, virut C; người nghiện rượu: uống nhiều rượu hàng ngày và kéo dài nhiều năm; xơ gan thứ phát do tắc mật không hoàn toàn kéo dài, do sỏi mật, dính hẹp ở ống gan, ống mật chủ, viêm đường mật tái phát; do dùng một số loại thuốc gây tổn thương gan như: oxyphenisatin, clopromazin, INH, rifampycin…; do nhiễm các hóa chất độc hại gan: aflatoxin, dioxin, chất độc thảo mộc hại gan như cây có hạt thuộc họ Senecio và các alcaloit của nó…; do thiếu dinh dưỡng: quá thiếu chất đạm, thiếu vitamin, thiếu các chất hướng mỡ như cholin, lexithin…; do ký sinh trùng như sán máng, sán lá nhỏ…;  do bệnh tắc tĩnh mạch gan và xơ gan không rõ nguyên nhân.

Ngăn chặn bệnh xơ gan 1

Tổn thương xơ gan.

Ngăn chặn bệnh xơ gan 2

 Chẩn đoán hình ảnh xơ gan.

Ba thể bệnh khi bị xơ gan

Trên thực tế, bệnh xơ gan có biểu hiện ra 3 thể bệnh là: xơ gan tiềm tàng; xơ gan còn bù tốt và xơ gan tiến triển, mất bù.

Ở thể xơ gan tiềm tàng, mặc dù bệnh nhân có xơ gan nhưng không có triệu chứng gì, việc phát hiện bệnh chỉ là sự tình cờ như phẫu thuật bụng vì một bệnh khác thấy xơ gan; chẩn đoán hình ảnh một bệnh khác nhưng lại phát hiện được hình ảnh xơ gan…

Thể xơ gan còn bù tốt, bệnh nhân thường có các dấu hiệu sau: rối loạn tiêu hóa như ăn không tiêu, đầy bụng, trướng hơi; đau tức nhẹ vùng hạ sườn phải; chảy máu cam không rõ nguyên nhân; nước tiểu thường có màu vàng sẫm; suy giảm tình dục: nam thì liệt dương, nữ thì vô kinh và vô sinh; gan hơi to và chắc, lách to quá bờ sườn; có mao mạch ở lưng và ngực, hay nổi mẩn đỏ ở lòng bàn tay; lông ở nách, ở bộ phận sinh dục thưa thớt; móng tay khô trắng; nam giới: tinh hoàn teo nhẽo, vú to. Xét nghiệm thấy: albumin giảm, gama globulin tăng; men maclagan tăng trên 10 đơn vị; siêu âm thấy gan to, vang âm của nhu mô gan thô, không thuần nhất; soi ổ bụng và sinh thiết thấy tổn thương xơ gan. Thể bệnh này có thời gian ổn định trong nhiều năm, nhưng thường tiến triển nặng dần từng đợt, nhất là khi bị viêm nhiễm làm cho bệnh xơ gan trở thành mất bù hoặc biến chứng nặng.

Thể xơ gan mất bù, bệnh nhân có các triệu chứng: gầy sút nhiều, chân tay khẳng khiu, huyết áp thấp; bị rối loạn tiêu hóa thường xuyên, chán ăn, ăn không tiêu, đại tiện phân lỏng, phân sống; mệt mỏi thường xuyên, ít ngủ, giảm trí nhớ; chảy máu cam, chảy máu chân răng; da mặt xạm; có nhiều đám xuất huyết ở da bàn chân, bàn tay, vai, ngực; phù hai chân; có cổ trướng, tuần hoàn bàng hệ; lách to hơn bình thường, chắc. Xét nghiệm: albumin giảm, gamma globulin tăng cao; bilirubin máu, men transaminaza tăng trong các đợt tiến triển; hồng cầu, bạch cầu. tiểu cầu thường giảm; chụp và soi thấy giãn tĩnh mạch thực quản; siêu âm thấy trên mặt gan có nhiều nốt đậm âm, có hình ảnh giãn tĩnh mạch cửa, giãn tĩnh mạch lách…; nội soi ổ bụng thấy gan to, hoặc teo nhỏ, nhạt màu; trên mặt gan có những u nhỏ đều, hay to nhỏ không đều; lách to, có dịch ổ bụng.

Cần một chế độ chăm sóc và dinh dưỡng hợp lý

Bệnh nhân xơ gan cần chế độ ăn uống, nghỉ ngơi thích hợp: khi bệnh tiến triển có cổ trướng, cần được nghỉ ngơi tuyệt đối. Ăn uống đủ chất, hợp khẩu vị của bệnh nhân, phải đảm bảo đủ calo (2.500 – 3.000 calo/ngày); ăn nhiều đạm (100g/ngày); nhiều vitamin C, vitamin nhóm B; hạn chế ăn mỡ; bệnh nhân chỉ ăn nhạt khi có phù nề. Nếu có dấu hiệu hôn mê gan phải hạn chế lượng đạm trong khẩu phần ăn. Dùng thuốc cải thiện chuyển hóa tế bào gan và các nội tiết tố glucocorticoit; thuốc hỗ trợ chuyển hóa tế bào gan như vitamin C, B12, cyanidanol… Dùng phối hợp thuốc Nam như: nhân trần, actiso, tam thất…  Điều trị cổ trướng: dùng thuốc lợi tiểu chống thải kali.

Lời khuyên của bác sĩ

Bệnh xơ gan nếu để tiến triển đến giai đoạn cuối, gan bị thoái hóa, tổn thương không hồi phục được, vì vậy việc phòng tránh bệnh xơ gan là vấn đề rất quan trọng. Mọi người có thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn, loại trừ các nguyên nhân xơ gan như phòng viêm gan virut B và C bằng các biện pháp vệ sinh cá nhân thật tốt; tiêm phòng bệnh viêm gan virut B cho trẻ em và những người lớn chưa bị bệnh; phải làm tốt công tác vô khuẩn và khử khuẩn mỗi khi tiêm truyền, châm cứu; an toàn truyền máu. Sinh hoạt lành mạnh: hạn chế hoặc bỏ hẳn rượu, bia, bỏ hút thuốc lá. Hàng ngày ăn uống đủ chất: đạm, đường, béo, vitamin và khoáng chất. Phòng nhiễm các bệnh giun sán bằng cách thực hiện ăn chín, uống sôi, không ăn cá hay hải sản tái, sống hoặc chưa nấu chín kỹ, không ăn rau sống, không uống nước lã. Khi có bệnh gan mật cần điều trị tích cực.

BS. Phạm Phú Vinh

Trong một nghiên cứu mới đây, các mô nướu đã được phát hiện chứa các tế bào gốc trung mô (GMSCs). Tuy nhiên, vẫn chưa rõ các tế bào GMSCs này có nguồn gốc từ các tế bào đỉnh thần kinh sọ não (CNCC) hay trung bì. Nghiên cứu được chỉ đạo bởi nhà nghiên cứu Songtao Shi ở Đại học Nam California, Los Angeles, Mỹ.

Trong nghiên cứu này, nhóm của Shi chỉ ra rằng, khoảng 90% GMSCs có nguồn gốc từ CNCC và 10% từ trung bì. Khi được cấy vào những con chuột mắc bệnh viêm đại tràng do chất dextran sulfate natri, N-GMSCs cho thấy hiệu quả cao hơn trong việc cải thiện các kiểu bệnh viêm so với M-GMSCs.

Tuy nhiên, các nhà khoa học nói họ cần thực hiện nhiều nghiên cứu chuyên sâu hơn để hiểu rõ về mối tương tác giữa các tế bào gốc trung mô chiết xuất từ các tế bào đỉnh thần kinh sọ não và trung bì với tác dụng miễn dịch và chữa lành vết thương ở nướu.

Các nhà nghiên cứu cho biết: “Răng và các mô xung quanh nó là một nguồn tế bào gốc dồi dào và nghiên cứu này cho thấy nướu, một mô tương đối dễ tiếp cận, là một nguồn tế bào gốc đầy tiềm năng cho việc tái tạo mô”.

Phương Hà (Theo Science Daily, 7/2013)