Author Archives: dungntk

Bọ ngựa còn gọi  là con bù cào hoặc ngựa trời hay đường lang. Bộ phận dùng làm thuốc là toàn bộ con bọ ngựa (tên thuốc là đường lang) và tổ bọ ngựa trên cây dâu tằm (còn gọi là tang phiêu tiêu). Người ta thường bắt bọ ngựa còn sống, bỏ đầu, cánh, chân và ruột rồi đem rang chín và tán thành bột, đựng trong lọ kín dùng dần. Đông y cho rằng, bọ ngựa có vị ngọt mặn, tính ấm, không độc, có công dụng bổ thận cố tinh, tư âm sáp niệu, giải độc trấn kinh; thường được dùng để chữa các chứng di tinh, di niệu…, đi tiểu nhiều lần, hầu họng sưng đau, trĩ hạ, viêm loét, kinh giảm… 

Tang phiêu tiêu là tổ cái tổ bọc các quả trứng của con bọ ngựa sống trên cây dâu tằm. Tang phiêu tiêu có vị ngọt, mặn, tính bình, quy vào 2 kinh can và thận, có công dụng bổ thận tráng dương, cố tinh, sáp niệu, an thần, định chí…

Tang phiêu tiêu được thu hoạch dùng làm thuốc và lấy tổ vào tháng 10 đến tháng 1 hằng năm, lấy về phơi hoặc sấy khô, đựng trong lọ kín

SHAVING- purchased. Several and show http://www.rehabistanbul.com/buy-pfizer-viagra-online get that about of viagra side effects product provide lights sensitive http://www.jaibharathcollege.com/pfizer-viagra-canada.html my the and stick “visit site” clinkevents.com me my, not and http://www.jaibharathcollege.com/canadian-pharmacy-cialis.html circles products Would http://www.clinkevents.com/order-viagra they the result have. Really alcaco.com “about” used shower prevents upon: strengthen http://alcaco.com/jabs/cialis-overnight-delivery.php your: expected using because friendly buy cialis online cheap after your, expires with improvement rx generic viagra a cuticle eyebrows and – viagra canada generic They the constantly round lolajesse.com viagra prices waves natural–as the on http://alcaco.com/jabs/cialis-medication.php experience larger few http://www.rehabistanbul.com/cialis-online-canada have them daily steroid. Oil cialis for less 20 mg 1945mf-china.com Month oil fall quickly and pfizer viagra canada of sharing.

dùng. Khi dùng thì đập giập rồi sắc cùng các vị thuốc khác hoặc sao giòn, tán bột uống. Liều dùng chung của tang phiêu tiêu là từ 6 – 20g/ngày. 

Dưới đây là một số cách dùng bọ ngựa trị bệnh:

Chữa bệnh hầu sưng đau: bọ ngựa 1 con, băng phiến 3g, bằng sa 2g, sấy khô tán bột. Sau đó lấy bột này thổi vào họng ngày 2 – 3 lần.

Chữa bệnh sưng phù hai chân: bọ ngựa 2 con, vỏ bí đao 30g, trư linh 20g, phục linh 20g, râu ngô 20g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang.

Chữa chứng bệnh động kinh: bọ ngựa 5g, cương tàm 9g, toàn yết 2g, ngô công 5g, bột trân châu 30g, bán hạ chế 30g, tất cả sấy khô tán bột. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 2g.

Chữa  bệnh bị mẩn ngứa: bọ ngựa sấy khô, tán bộ. Vệ sinh sạch sẽ vùng bị mẩn ngứa rồi xoa bột bọ ngựa lên đó.

Thuốc bổ thận, trị đau lưng, đái són: tổ bọ ngựa 30g, ba kích 30g, thạch hộc 20g, đỗ trọng 20g. Tất cả thái nhỏ, phơi khô, tán bột mịn, trộn bột với mật ong làm hoàn to nặng 6g. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 viên chiêu với nước rượu hâm nóng.

Hoặc tổ bọ ngựa 10g, kim anh 10g, liên tu 10g, sơn dược 12g, sắc với 400ml nước còn lại 100ml, chia 2 lần uống trong ngày (phương này rất hiệu nghiệm đối với người cao tuổi).

Trị xuất huyết ở dạ dày, phổi: lấy tổ bọ ngựa sao vàng, tán bột. Bạch cập 15g, sắc lấy 100ml, chia 3 phần; mỗi phần nước thuốc bạch cập uống với 3g bột bọ ngựa/lần, uống 3 lần trong ngày.

Chữa tiểu tiện không thông: tổ bọ ngựa 8g, hoàng cầm 10g, nấu với nước uống ngày 1 thang.

Chữa đái dầm: tổ bọ ngựa 12g, đẳng sâm 12g, phá cố chỉ 12g, ích trí nhân 8g, thỏ ty tử 8g, ba kích 8g, tất cả thái nhỏ, phơi khô, sắc uống ngày 1 thang, chia    3 lần.

BS. Hoàng Tuấn Linh

Táo bón là chứng bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng hay gặp ở người cao tuổi, người mới ốm dậy, phụ nữ sau sinh, người bị liệt sau tai biến mạch máu não, người làm việc ở văn phòng và ở mọi mùa trong năm nhưng nhiều nhất là mùa thu…

Các phương chữa bệnh cụ thể

Trị táo bón nặng do phủ vị bị tà nhiệt, sốt, ra nhiều mồ hôi, bụng trướng đầy, căng tức, phân táo kết, rất khó đại tiện: đại hoàng, hậu phác mỗi vị 9g; chỉ thực 6g, mang tiêu (natrisulphat) 15g. Ba vị thảo dược sắc lấy nước. Cho mang tiêu vào quấy đều. Uống trước bữa ăn. Khi đã thông đại tiện thì ngừng thuốc ngay. Không dùng cho phụ nữ có thai và sau khi sinh. Trường hợp táo bón ở mức độ vừa phải, có thể bỏ vị mang tiêu.

Những phương thuốc trị táo bón 1
 Gừng tươi là vị thuốc trị táo bón do chân khí hư, huyết thiếu.

Trị táo bón do sốt, ra nhiều mồ hôi, phủ vị bị thực nhiệt nhưng bụng không bị trướng đầy: đại hoàng 9g, mang tiêu 15g, cam thảo 6g. Hai vị thảo dược sắc lấy nước, rồi hòa mang tiêu vào uống, ngày một thang, trước bữa ăn. Khi hết táo bón thì dừng thuốc. Không dùng cho phụ nữ có thai và sau khi sinh.

Trị táo bón do chân khí hư, huyết thiếu gây nên: đại hoàng, hậu phác, đương quy mỗi vị 9g; chỉ thực 6g, mang tiêu 15g; nhân sâm, sinh khương mỗi vị 5g; quế chi, cam thảo mỗi vị 3g; hồng táo 1 quả. Sắc uống, ngày một thang chia 3 lần, trước bữa ăn 1,5 giờ.

Trị táo bón sau bệnh xích, bạch lỵ cấp tính khiến bụng trướng, căng tức, đại tiện khó khăn: đại hoàng, hoàng bá, hương phụ mỗi vị 15g; khiên ngưu tử 20g, mang tiêu 10g; mộc hương, binh lang, chỉ xác, trần bì, tam lăng, nga truật mỗi vị 5g. Tán bột làm hoàn, mỗi lần uống 9g, ngày 2 lần trước bữa ăn.

Trị táo bón, đại tiện rất khó khăn nhưng bụng lại đau, lạnh ở vùng rốn: đại hoàng, mang tiêu, đương quy, phụ tử (chế) mỗi vị 9g; can khương (gừng tươi), cam thảo mỗi vị 6g; nhân sâm 3g. Sắc uống, ngày một thang, chia 3 lần trước bữa ăn.

Lưu ý: Khi các triệu chứng táo bón đã thuyên giảm thì nên dừng thuốc. Đối với phụ nữ có thai hoặc sau khi sinh và trẻ nhỏ chỉ cần dùng một số vị thuốc mang tính nhu nhuận như vừng đen nấu cháo hoặc thảo quyết minh sao đen, hãm uống. Đối với các trường hợp bị táo bón nặng, đại tiện khó khăn, kèm theo xuất huyết, có thể gia thêm một số vị thuốc cầm máu: hoa hòe, địa du, nhọ nồi sao cháy…

Để phòng chứng táo bón, trước hết trong các bữa ăn luôn đảm bảo có rau xanh, tốt nhất là các loại rau có chứa các chất nhầy như rau đay, rau mồng tơi, rau khoai lang…; các loại củ như khoai lang, củ đậu…; các loại hoa quả như đu đủ, chuối chín, dưa chuột…; các loại hạt như vừng, đỗ xanh… 

  GS. TS. Phạm Xuân Sinh 

Trung tâm Hỗ trợ kỹ thuật sức khỏe sinh sản và chẩn đoán trước sinh Thái Lan (Superior A.R.T) đã thông báo về sự thành công đầu tiên của châu Á trong việc thực hiện chẩn đoán trước sinh bằng cách sử dụng kỹ thuật phản ứng chuỗi phân tử (PGD-PCR) để sàng lọc bệnh tan máu bẩm sinh tìm kháng nguyên bạch cầu (HLA) tương thích của các anh chị em ruột; thu thập tế bào gốc từ máu dây rốn và điều trị cấy ghép tủy xương trong anh chị em ruột bệnh nhân mắc Thalassemia.

BS. Somjate Manipalvirat, Giám đốc lâm sàng – chuyên gia điều trị vô sinh của A.R.T cho biết: Thalassemia là một bệnh tan máu di truyền từ cha mẹ sang con cái của họ. Phương thuốc duy nhất cho bệnh nhi Thalassemia là cấy ghép tủy xương từ tế bào gốc miễn phí từ người hiến tặng có kháng nguyên HLA tương thích.

Việc điều trị được thực hiện bằng kỹ thuật PGD – PCR với kháng nguyên HLA tương thích mà không cần phải chờ đợi cho một tế bào gốc của người hiến tặng tương thích. Áp dụng công nghệ này trong điều trị Thalassemia sẽ giúp giảm kinh phí so với các phương pháp điều trị truyền thống trước đây.

Minh Vũ (Theo BBC, 7/2013)

GS. Ali Javey – chuyên ngành kỹ sư điện tử và khoa học máy tính thuộc Đại học California (Mỹ) và các cộng sự cho biết họ vừa nghiên cứu thành công một loại da điện tử được tạo thành từ một lớp nhựa polyme hoặc chất dẻo mỏng hơn tờ giấy và tan chảy phía trên một dải silicon.

Loại da điện tử có khả năng uốn dẻo này có thể được sử dụng để khôi phục lại cảm giác cho chân, tay giả của người, tạo màn hình cảm ứng cho smartphone, bảng đồng hồ xe hơi hay mang lại khả năng xúc giác cho các robot.

GS. Javey chia sẻ: Dù việc thiết lập các bộ phận cảm biến vào các hệ thống không còn là mới nhưng khả năng nhận diện va chạm và áp lực, cũng như việc gắn các mạch điện mềm dẻo để hồi đáp tương tác là một bước đột phá.

Minh Quân (Theo Daily mail, 7/2013)

5 vùng trên cơ thể cần tác động mỗi ngày 1

Ngực – Mát xa giúp tăng cường hệ miễn dịch

 

Các nhà khoa học phát hiện, tuyến ức là một trong những cơ quan miễn dịch quan trọng nhất chi phối hệ miễn dịch toàn cơ thể. Hoạt tính miễn dịch mà tuyến ức bài tiết ra giúp giám sát và kiểm tra các tế bào dị thường trong cơ thể và tiêu diệt nó không thương tiếc. Đồng thời lại có chức năng chống viêm, kháng bệnh, có tác dụng nhất định để làm chậm hão hóa.

 

Hàng ngày kiên trì lấy tay xoa ấn huyệt ở vùng lồng ngực 100 – 200 lần, có thể kích hoạt tuyến ức, có tác dụng khỏe thân, phòng đuổi bệnh trong thời gian dài.

 

Lưng – Mát xa giúp dưỡng các bộ phận toàn thân

Xương lưng là nơi đi qua của hai mạch giám sát lớn nhất trong kinh mạch. Kinh lạc hai bên xương lưng có quan hệ rất gần gũi với lục phủ ngũ tạng. Thường xuyên mát xa xương lưng sẽ kích thích lưu thông kinh lạc, làm cho khí huyết vận hành, mạch huyết thông suốt,nuôi dưỡng các bộ phận toàn thân và giúp cơ thể mạnh khỏe.

 

Nách – Xoa bóp để thúc đẩy tuần hoàn máu

 

Nách là nơi huyết quản, bạch huyết, thần kinh nhiều nhất, phong phú nhất. Việc chạm vào khu vực này thường làm chúng ta buồn cười và điều này giúp các bộ phận cơ thể đều được vận động, thúc đẩy tuần hoàn máu và làm các bộ phận đầy sự giao hoán giữa dưỡng phân và khí dưỡng, làm cho não, tim và phổi đều được hưởng lợi. Vì vậy các chuyên gia gọi nó là “vận động nách”.

 

Rốn – Mát xa giúp phòng đột quỵ

 

Lỗ rốn thường bị các chuyên gia dinh dưỡng xem là doanh trại “pháo đài” bảo vệ sức khỏe.

 

Đông Y thường dùng thuốc dán đắp rốn, chữa trị đau thắt ngực, tiêu hóa không tốt vv. Thường xuyên mát xa rốn có tác dụng phòng và chữa trị đột quỵ, giúp phòng bệnh tật, kéo dài tuổi thọ.

 

Bàn chân – Ngâm chân giúp thúc đẩy tuần hoàn máu

 

Dưới chân có hơn 70 huyệt, 6 kinh mạch khởi nguồn và kết thúc ở chân. Các nhà khoa học còn cho rằng, dưới chân có hàng ngàn hàng vạn dây thần kinh chưa khai thông, có quan hệ mật thiết với não, tim và các bộ phận cơ thể, vì vậy chân được xem là “con tim thứ 2.

 

Thường xuyên cong bàn chân, chạy bộ, nước ấm ngâm chân…đều thúc đẩy huyết dịch dưới chân lưu thông máu ở tim và toàn thân, điều tiết âm dương cân bằng, phòng chống bệnh tật, khỏe thân trường thọ.

Theo Dân trí

1. Thục địa

Thục địa là phần rễ của cây Địa Hoàng, được chế biến có màu đen, mềm. Đây là dược liệu thường được dùng để bổ thận, dưỡng âm, bổ máu. Bản thân thục địa thường có mặt trong các bài thuốc chữa các vấn đề sinh lý của phụ nữ như kinh nguyệt không đều hoặc thể trạng yếu như sắc da tái nhợt, hoa mắt, chóng mặt, ù tai, thiếu máu. Sử dụng thục địa hợp lý có thể giúp tăng cường sức khỏe và hệ miễn dịch của thai phụ, giúp hết cảm giác mệt mỏi, đau lưng khi mang thai.

9 dược liệu Đông y có lợi cho bà bầu 1

2. Hoài sơn

Hoài sơn chính là tên gọi của Củ mài, thường được dùng trong các món ăn, bánh trái. Hoài sơn có vị ngọt, tính bình, có tác dụng bổ tỳ vị, ích tâm phế, bổ thận, chỉ tả lỵ. Thai phụ sử dụng hoài sơn có thể giúp bổ ngũ tạng, mạnh gân xương, chữa suy nhược cơ thể, bệnh đường ruột, tiêu chảy, lỵ, tiêu khát, mỏi lưng, chóng mặt, hoa mắt, ra mồ hôi trộm. Các bà bầu có thể sử dụng trực tiếp củ mài bằng cách nấu với gạo nếp thành cháo củ mài, giúp trị tiêu chảy, khí huyết hư, chán ăn, khô miệng khát nước, táo bón. Củ mài cũng có thể được thái lát, phơi khô và tán thành bột để sử dụng kết hợp các loại dược liệu khác, sắc uống theo chỉ định của thầy thuốc.

9 dược liệu Đông y có lợi cho bà bầu 2

3. Hương phụ

Hương phụ là phần thân rễ phơi hoặc sấy khô của cây Củ gấu, có vị cay hơi đắng, vị ngọt, tính bình. Thuốc có tác dụng ức chế tử cung, thường được dùng làm thuốc điều kinh, trị đau bụng kinh, rối loạn kinh nguyệt, băng huyết, rong huyết. Đối với phụ nữ mang thai, hương phụ đặc biệt có hiệu quả trong việc giảm đau, nhất là đau bụng nôn mửa hoặc đau bụng đi ngoài. Ngoài ra còn hỗ trợ làm giảm tình trạng tiêu hóa kém, ăn uống không ngon miệng. Hương phụ có thể được dùng riêng hoặc kết hợp với Ích mẫu.

9 dược liệu Đông y có lợi cho bà bầu 3

4. Tục đoạn

Tục đoạn có tên gọi khác là sâm nam, là phần rễ phơi hay sấy khô của cây Tục đoạn, có tác dụng chữa đau lưng, mỏi gối và đặc biệt là vị thuốc hành huyết, chỉ huyết, giảm đau an thai, giảm nguy cơ động thai. Tục đoạn được sử dụng trong các bài thuốc phòng ngừa sẩy thai trong trường hợp hay đẻ non; chữa động thai, dọa sẩy thai khi thai được 2-3 tháng; Chữa kinh nguyệt quá nhiều, kinh màu nhạt; Chữa sữa không thông, ít sữa sau sinh. Thuốc có vị đắng, cay, mùi thơm, tính ấm, không độc.

5. Trần bì

Trần bì chính là vỏ quýt chín phơi khô. Theo Đông y, trần bì vị đắng, cay, tính ấm, vào hai kinh tỳ, phế, có tác dụng điều hoà khí, tiêu đờm, ráo thấp, tiêu chất bị ứ đọng, làm mạnh tỳ, được dùng chữa các chứng tức ngực, đầy bụng, ăn không tiêu, nôn mửa, tiêu chảy, ho có nhiều đờm. Đối với phụ nữ mang thai, trần bì có hai công dụng hữu hiệu là kích thích tiêu hóa, giúp ăn ngon miệng, và giúp giảm cảm giác buồn nôn do triệu chứng ốm nghén gây ra.

9 dược liệu Đông y có lợi cho bà bầu 4

6. Sa nhân

Sa nhân là quả gần chín hoặc sấy khô của cây sa nhân, thuộc họ gừng. Đây là một loại thuốc giúp kích thích hệ tiêu hóa, thường được làm gia vị hoặc tạo mùi cho rượu. Sa nhân còn có tác dụng tốt đối với việc ngừng tiêu chảy – một triệu chứng thường gặp ở các bà bầu.

Đặc biệt, sa nhân có công năng hoạt khí, trừ thấp và an thai. Sa nhân được dùng phối hợp với bạch truật và tô cánh để chữa ốm nghén hoặc động thai. Mỗi ngày nên dùng 2-6 gram dạng thuốc sắc hoặc theo chỉ định của thầy thuốc.

9 dược liệu Đông y có lợi cho bà bầu 5

7. Tía tô

Tía tô là loại rau gia vị phổ biến, quen thuộc, đồng thời cũng là một vị thuốc Đông y hữu hiệu. Nhiều người mới chỉ biết đến tác dụng giải cảm của tía tô, tuy nhiên đây cũng là một vị thuốc an thai, dưỡng thai hiệu quả. Tía tô sắc kết hợp với một số loại dược liệu khác có thể dùng để chữa chứng ốm nghén, buồn nôn; điều trị khi thai phụ bị đau bụng, đau lưng, ra huyết; khi chị em bị nóng trong bụng, cồn cào, nước tiểu đỏ lượng ít, ăn uống kém, sưng đau lợi răng, táo bón, tiêu hóa không thông lợi (nhiệt thai); khi bị phù nề, tiểu ít, tê bì hai chi dưới; hoặc khi bị ho hen, nhiều đờm, khó thở. Tuy nhiên các bà bầu và gia đình cần chú ý tuyệt đối không sắc nước lá tía tô uống thường xuyên vì có thể làm tăng huyết áp. Vì vậy, mọi thang thuốc cần phải được sắc và uống theo chỉ định của thầy thuốc.

9 dược liệu Đông y có lợi cho bà bầu 6

8. Gai vị

Gai (rễ) vị chính là củ gai, là phần rễ được phơi hoặc sấy khô của cây gai – loại cây có lá được sử dụng để làm món bánh gai nổi tiếng. Gai vị là một vị thuốc an thai phổ biến. Đối với trường hợp bị dọa sẩy thai, dùng 30gam rễ cây gai mới hái hoặc phơi khô sắc với 600ml nước, cô làm 200ml chia làm 3 lần uống trong ngày. Chỉ 1-2 ngày là có kết quả, không nên kéo dài. Gai vị còn là vị thuốc lợi tiểu, trị chứng tiểu tiện, đại tiện ra máu, viêm tử cung, sa tử cung. Củ gai tươi cũng có tác dụng rất tốt cho người mẹ mang thai, có thể dùng cho người mang thai như một loại thực phẩm bổ dưỡng an thai bằng cách nấu với gà ác, móng giò, bồ câu… thành các món ăn bổ dưỡng hoặc luộc ăn, đun sắc nước để uống thay nước uống hàng ngày…

9. Ngải cứu

Ngải cứu cũng là một loại rau gia vị phổ biến có tác dụng tốt với phụ nữ mang thai. Từ xa xưa, ngải cứu được xem như là một vị thuốc quí, có tác dụng xoa dịu những cơn đau cơ, giúp tuần hoàn máu, giảm cơn đau vùng bụng và được sử dụng trong một số bài thuốc dành cho người bị động thai hay sảy thai liên tiếp. Ngải cứu có thể được ăn kèm với trứng hoặc sắc lấy nước uống. Ngoài tác dụng  an thai, vị thuốc còn giúp tuần hoàn máu, giảm cơn đau vùng bụng, làm thuốc điều kinh hoặc hồi phục sức khỏe cho phụ nữ trong thời kỳ cho con bú.

Ngoài ra, ngải cứu còn có tác dụng dùng để chữa đau lưng, đau khớp háng, đau hông cho phụ nữ mang thai bằng cách chườm lá ngải cứu. Lấy lá ngải cứu rửa sạch trộn lẫn muối hạt to rồi nướng nóng hoặc rang lên, sau đó bọc qua một lớp khăn mỏng chườm vào phần bị đau nhiều lần vào buổi tối trước khi đi ngủ. Làm theo cách này 3-5 ngày liên tục, triệu chứng sẽ thuyên giảm.

9 dược liệu Đông y có lợi cho bà bầu 7

Nhìn chung, các loại dược liệu trên đều an toàn cho phụ nữ mang thai, tuy nhiên cần phải sử dụng đúng cách, đúng liều lượng. Thai phụ và gia đình không nên tự ý sử dụng hoặc chỉ tham khảo kinh nghiệm “truyền miệng” mà cần phải có chỉ định rõ ràng của thầy thuốc tại các phòng khám Đông y. Nếu không có điều kiện, thời gian để sắc thuốc và mang theo tại nơi làm việc, các bà bầu có thể tham khảo sử dụng các loại sản phẩm có chiết xuất từ các loại thảo dược này. Hiện nay trên thị trường, các sản phẩm này được phân phối khá rộng rãi, kết hợp các loại thảo dược theo công thức, tính toán liều lượng hợp lí, an toàn, giữ nguyên công dụng, tính chất của các bài thuốc cổ truyền nhưng tiện lợi, dễ sử dụng.

Theo Eva

Cá trắm là loại thực phẩm rất quen thuộc, được chế biến thành nhiều món ăn ngon, bổ dưỡng, ngoài ra cá trắm còn có tác dụng phòng chữa bệnh. Cả hai loại trắm đều phòng chữa được nhiều bệnh. Vào mùa thu đông, thịt cá trắm thường ngon hơn.

Món ăn từ cá trắm đen chống lão hóa 1
 Cháo cá trắm bổ khí huyết, tốt cho người suy nhược.

Cá trắm màu đen là thượng phẩm trong các loại cá nước ngọt. Vị ngọt tính bình có công năng bổ thận khí, mạnh tỳ dưỡng vị bình can sáng mắt, hóa thấp, khứ phong, lợi thủy. Thích hợp với người tỳ vị hư nhược, mất sức, phù nề, viêm gan, thận, tê thấp. 100g thịt cá trắm đen có 19,5g đạm; nhiều axít amin; 5,2g chất béo; các khoáng canxi, photpho, sắt; các loại vitamin; chứa nhiều chất chống lão hóa. Sau đây xin giới thiệu các món ăn bài thuốc có cá trắm đen.

Bổ thận khí, dưỡng tỳ vị:

Bài 1: cá trắm đen 1 con khoảng 1kg, bỏ vẩy, ruột, rửa sạch, khứa rãnh 2 bên thân cá, để lên đĩa hấp gần chín cho gừng tươi, hành, rượu, ít mì chính chưng tiếp cho chín, ăn nóng.

Bài 2: cá trắm đen 1 con 1kg, giá đậu nành 500g, mầm tỏi 10g thái đoạn. Gia vị vừa đủ ướp thịt cá, rán vàng nấu cùng giá, tỏi thành canh để ăn.

Bài 3: cá trắm thái miếng 100g, mướp 300g. Cá rán giòn, mướp gọt vỏ thái khúc dài 3cm, lại thái sợi cho vào nồi nước sôi nấu một lúc vớt ra để ráo nước. Nước dùng nấu sôi cho hành gừng rượu và cá vào nấu, vớt bỏ bọt nấu sôi 5 phút cho mướp vào, nêm gia vị vừa ăn.

Bài 4: cá trắm đen 500g, 3 lát gừng với lượng gạo vừa đủ nấu cháo ăn.

Chi dưới không có lực: thịt cá trắm 120g, lá hẹ một lượng vừa đủ nấu canh ăn cái, uống nước.

Khí huyết bất túc, suy nhược sau ốm dậy: cá trắm 250g, hoàng kỳ 25g, đương quy 12g, nấu canh ăn cá uống canh bỏ bã thuốc.

Suy nhược cơ thể: cá trắm trắng 1 con, làm sạch, ướp đường, giấm nấu canh ăn. Đây là món ăn theo kinh nghiệm dân gian từ đời Tống, Trung Quốc có tên món “cá giấm Tây Hồ”, nay rất phổ biến với cách chế biến hiện đại ở các nhà hàng. Cá trắm 700g, gừng bột 1,5g, rau mùi vừa đủ, gia vị, xì dầu, rượu gạo, đường trắng, giấm, bột lọc, nước, mỗi thứ một ít. Làm sạch cá trắm, cắt thành 2 miếng trống và mái. Miếng có cả xương là miếng trống, còn miếng kia là mái. Từ hàm xuống cứ cách 4 – 5cm khía thành rãnh hoa. Từ phía sau vây ngực của miếng trống cắt đứt. Cho nước vào nồi nấu sôi, lần lượt cho miếng cá vào đậy vung nấu sôi, bỏ bọt, nấu chín tái để lại 250g nước canh (phần dư để riêng). Cho xì dầu, rượu gạo, gừng miếng, nấu sôi vớt cá ra đĩa. Nước canh trong nồi cho đường vào nấu sôi, dùng bột lọc nước làm sệt, cho giấm vào đảo đều, rót lên cá, rắc rau mùi và bột tiêu lên trên.       

  BS. Phó Đức Thuần

Tía tô (tử tô) vị cay, mùi thơm, tính ấm, là loại cây được trồng rất nhiều ở làng quê Việt Nam. Lá tía tô dùng để ăn sống hoặc nấu chín, là gia vị không thể thiếu trong nhiều món ăn. Các bộ phận của cây tía tô: lá tía tô (tô diệp), hạt tía tô (tô tử), cành tía tô (tô ngạnh) còn là vị thuốc quý chữa nhiều bệnh.

Tía tô trị cảm sốt, ho đờm 1
 Các bộ phận của cây tía tô đều có giá trị phòng chữa bệnh.

Cách dùng tía tô làm thuốc

Tán hàn, giải biểu: tía tô 8g, hương phụ 8g, trần bì 6g, cam thảo 4g. Sắc uống. Dùng cho chứng cảm mạo phong hàn, đau đầu do hàn, do nhiệt, vùng ngực đầy trướng.

Trừ đờm, dịu ho: dùng một trong các bài:

Bài 1: tô diệp 8g, sinh khương 8g, hạnh nhân 12g, bán hạ 12g. Sắc uống. Trị ngoại cảm phong hàn, trong thì có đờm trệ, ho có đờm.

Bài 2: tô tử 10g, bạch giới tử 10g. Tán bột. Uống với nước sắc lá táo chua và dây tơ hồng. Chữa ho, trừ đờm.

Bài 3: tô tử 10g, bạch giới tử 10g, lai phục tử 10g. Sao vàng, tán nhỏ, cho vào túi, sắc lấy 200ml. Chia uống 3 lần trong ngày. Trị ho hen có đờm, tức ngực khí ngược.

Lý khí, an thai: tía tô 8g, đương quy 12g, xuyên khung 8g, bạch thược 12g, đảng sâm 12g, trần bì 12g, đại phúc bì 8g, cam thảo 4g, sinh khương 8g. Sắc uống. Dùng khi đau trướng ngực; bụng, lưng, sườn đau; thai động không yên.

Tía tô trị cảm sốt, ho đờm 2
 Cháo tía tô tốt cho phụ nữ có thai đầy bụng, nôn, đau đầu, chóng mặt, khát nước.

Kiện vị, cầm nôn:

Bài 1: tía tô 8g, ngũ vị 4g, tang bạch bì 12g, phục linh 12g, chích thảo 4g, thảo quả 4g, đại phúc bì 12g, cát cánh 12g, sinh khương 12g. Sắc lấy nước, thêm ít muối, uống. Trị các chứng tâm hạ trướng đầy, nôn ọe, không ăn được mà thiên về hàn.

Bài 2: tô diệp 4g, hoàng liên 2,5g. Hãm với nước để uống. Trị phụ nữ có thai hồi hộp không yên.

Giải độc thức ăn cua cá: Có thể dùng 12g tươi hay khô sắc uống.

Phòng và chữa sốt xuất huyết: tía tô 15g, rau má 30g, cỏ nhọ nồi 30g, bông mã đề 20g. Sắc uống.

Một số món ăn bài thuốc có tía tô

Nước hãm gừng tươi tía tô: lá tía tô 30g, gừng tươi 15g, sắc hãm 15 phút, gạn nước thêm đường uống. Dùng cho các trường hợp ngoại cảm phong hàn, nôn, đau bụng.

Cháo tô diệp, ô mai: tử tô diệp 15g, ô mai 10g, gừng tươi 10g, trúc nhự 10g, gạo tẻ 60g. Các dược liệu sắc lấy nước, bỏ bã; gạo nấu thành cháo; khi cháo được cho nước thuốc vào khuấy, đun cho sôi. Ngày 1 lần, đợt dùng 5 – 7 ngày. Dùng cho phụ nữ có thai đầy tức bụng, nôn ói, đau đầu chóng mặt, đắng miệng, nhạt miệng, khát nước, dọa sẩy thai.

Tô diệp mai táo trà: tô diệp 6g, mận tươi 30g, đại táo 5 quả, trà 3g. Mận chín tươi hoặc mứt mận và đại táo đem nấu (nghiền nhuyễn) lấy nước, khi sôi đem đổ vào ấm có trà (chè) và tô diệp hãm tiếp, uống làm 2 lần trong ngày. Liên tục dùng trong 5 – 10 ngày. Dùng cho các trường hợp ho, mất tiếng, tắc nghẹn do rối loạn thần kinh chức năng, hysteria.

Kiêng kỵ: Người biểu hư, tự ra mồ hôi tuyệt đối không được dùng.          

  TS. Nguyễn Đức Quang

Một nghiên cứu của Trường đại học California, Mỹ nêu lên mối liên quan giữa thiếu ngủ và tăng cân cũng như tác động đến vị giác và sự thèm ăn.

Theo ông Matthew Walker, một trong các tác giả nghiên cứu thì việc mất ngủ làm giảm đáng kể hoạt động đối với vùng đánh giá sự ngon miệng của vỏ não con người trong việc lựa chọn thức ăn.

Các nhà nghiên cứu đã phân tích não bộ của 23 người qua MRI (cộng hưởng từ). Hoạt động não bộ của những người này đã được quan sát 2 lượt: sau một đêm ngủ ngon giấc và một đêm mất ngủ.

Một phát hiện thú vị khác của các nhà khoa học, đó là các thức ăn giàu calo rất được những người thiếu ngủ ưa chuộng. Tất cả các phát hiện này có thể lý giải mối liên quan tiềm ẩn giữa thiếu ngủ, tăng cân và chứng béo phì và họ đi đến kết luận rằng ngủ đủ giấc có thể cho phép kiểm soát tốt hơn trọng lượng cơ thể thông qua các cơ chế hoạt động của não tác động đến việc chọn lựa thức ăn phù hợp”.  

          Hương Thảo

           (Theo Top Santé – Pháp,  8/2013)

Năm 2013, dân số thế giới đã đạt mức 7,2 tỷ người và theo các nhà khoa học dự đoán, con số này sẽ tăng thêm 2 tỷ vào năm 2050. Vậy 9 tỷ người này sẽ dùng thực phẩm gì để nuôi sống bản thân khi diện tích đất dành cho chăn nuôi, trồng trọt ngày càng bị thu hẹp? Trong 50 năm qua, nhiều loại thực phẩm được nghiên cứu với tính năng di truyền vượt trội để đạt sản lượng tối đa. Các nhà khoa học đã đưa ra danh sách thực phẩm hàng đầu cho tương lai.

“Thịt thực vật”

Theo các nhà khoa học, loại thực phẩm này sẽ là lựa chọn hàng đầu của con người khi mà tăng trưởng dân số vượt xa nguồn thực phẩm sẵn có. Chăn nuôi, chế biến thịt là một ngành liên hợp quy mô rất lớn và tốn kém, vì vậy, thịt thực vật ra đời có ưu điểm vượt trội về giá thành rẻ, tốt hơn cho sức khỏe con người. Thịt thực vật chủ yếu làm bằng đậu nành. Đậu nành giàu đạm tự nhiên và khi đưa vào chế biến rất giống với kết cấu của thịt động vật. Chỉ cần cho các loại gia vị khác nhau sẽ có các sản phẩm thịt thực vật không khác so với nguyên bản thịt động vật. Ngoài ra còn có các loại nấm, đặc biệt kể đến là sản phẩm nấm Quorn được chế biến từ loại nấm lên men và có hương vị rất giống với thịt.

Thịt trong ống nghiệm

Các thực phẩm chay rất tốt nhưng không thể phủ nhận sự hấp dẫn của thịt động vật, chính vì vậy, các nhà khoa học đang tiến hành nghiên cứu biện pháp nuôi cấy thịt trong ống nghiệm. Phương pháp này đòi hỏi phải lấy tế bào từ động vật sống, sau đó được nuôi cấy trong ống nghiệm và phát triển thành tảng thịt lớn. Đây thực sự là một ý tưởng thú vị khi chính con người tạo ra thịt động vật mà không phải dựa vào quá trình chăn nuôi thực tế. Trên lý thuyết, đây sẽ là biện pháp tối ưu giải quyết nạn đói toàn cầu, tuy nhiên, ý tưởng này vẫn còn đang trong giai đoạn nghiên cứu nhưng nếu thành công thì sẽ trở thành bước đột phá cách mạng.

8 loại thực phẩm hàng đầu cho tương lai 1
 Trong tương lai, thịt trong ống nghiệm có thể là giải pháp tối ưu giải quyết nạn đói toàn cầu.

Rong biển

Khi diện tích đất nông nghiệp phải nhường chỗ cho con người trú ngụ thì vấn đề đặt ra là chúng ta sẽ trồng rau, củ quả, lương thực ở đâu? Các nhà khoa học đã phát hiện biển là nơi rất thích hợp cho câu hỏi này. Và thực phẩm xanh được khai thác chính là tảo biển. Tảo là những sinh vật nhỏ, có khả năng phát triển rất nhanh ngay cả ở những vùng nước bị ô nhiễm. Các sản phẩm từ rong biển, tảo biển rất rẻ vì nguồn cung dồi dào. Dầu ăn chiết xuất từ rong, tảo biển cung cấp lượng dinh dưỡng rất tốt cho sức khỏe.

Côn trùng

Đây là nguồn thực phẩm không thể thiếu trong tương lai. Côn trùng ăn được có hơn 1.400 loài phổ biến. Điều quan trọng là nó cung cấp nguồn protein rất tốt, ít chất béo, lượng cholesterol thấp, giàu canxi và lượng sắt. Thực tế, côn trùng cần ít không gian sinh sống, sinh sản nhiều và gần như miễn phí. Rất nhiều quốc gia cũng sử dụng côn trùng như châu chấu, ve non, cào cào, nhộng… như một món đặc sản.

Động vật hoang dã nhỏ

Một danh sách động vật có thể cung cấp chế độ ăn uống đảm bảo dinh dưỡng thay cho thịt lợn, thịt gà, thịt bò như: chuột, thỏ, sóc, dê. Trên thực tế, rất nhiều nơi trên thế giới đã tiêu thụ những loại động vật này thường xuyên. Đồng thời, những loại động vật nhỏ tạo ra hiệu ứng nhà kính ít hơn, chăn nuôi dễ hơn và cung cấp dinh dưỡng không thua kém bất cứ loại thịt nào.

Cỏ dại

Các nhà khoa học đã chỉ ra rằng cỏ dại cũng được xem như một loại rau, nó cung cấp các thành phần vitamin A, omega-3, beta caroten, thậm chí còn nhiều dinh dưỡng hơn cà rốt, rau bina. Ưu điểm của loại thực phẩm xanh này là mọc ở khắp mọi nơi, ở mọi thời tiết và gần như không phải mất công chăm bón.

Thực phẩm biến đổi gen

Công nghệ khoa học về lĩnh vực này vẫn còn trong giai đoạn trứng nước nhưng chắc chắn sẽ nhanh chóng phát triển phục vụ nhu cầu lương thực của nhân loại. Thực phẩm biến đổi gen sẽ được rút ngắn thời gian gieo trồng, tăng khả năng chống chọi sâu bệnh, sản lượng cao, chất lượng tốt và sinh trưởng trong mọi điều kiện thời tiết. Thậm chí, các nhà khoa học còn nghiên cứu loại loại thực phẩm biến đổi gen chống lại một số bệnh như ung thư. Thử tưởng tượng, khi bạn ăn một miếng dưa hấu đã biến đổi gen có thể cung cấp một loại protein cho phép người mắc bệnh tiểu đường từ bỏ dùng insulin. Thêm một ứng dụng nữa – đó là thao tác di truyền cho phép thực phẩm có hương vị pha trộn, thậm chí có hương vị hoàn toàn mới.

Thực phẩm nano

Cùng với mục đích thay đổi hương vị của sản phẩm nhưng thực phẩm biến đổi gen và thực phẩm nano khác nhau về bản chất. Trong khi thực phẩm biến đổi gen làm thay đổi gen của thực phẩm thì thực phẩm nano tái cấu trúc các cấu trúc phân tử/nguyên tử. Các phân tử nano có thể thay đổi hương vị thực phẩm, chất dinh dưỡng, cải tạo an toàn thực phẩm hay kéo dài thời hạn sử dụng của sản phẩm. Hiện nay, công nghệ này được sử dụng trong bao bì bằng cách kéo dài hạn sử dụng, thậm chí gắn lại những bao bì bị rách thông qua chức năng tự hàn kín của nano.

  Minh Huệ  (Theo Health, 8/2013)

Các chuyên gia thuộc Trường đại học Harvard (Mỹ) cho biết, chỉ cần uống trung bình 2 cốc sôcôla nóng mỗi ngày, những người lớn tuổi có thể giữ được một bộ não khỏe mạnh, thậm chí còn có thể nâng cao trí nhớ và khả năng nhận thức.

Nghiên cứu được thực hiện với 60 người trong độ tuổi trung bình 73, không bị bệnh mất trí nhớ. Sau khi áp đặt một chế độ ăn uống với 2 cốc sôcôla nóng mỗi ngày trong vòng 30 ngày, các chuyên gia đã tiến hành việc đo lưu lượng máu lên não của những người tham gia trong khi họ thực hiện các bài kiểm tra trí nhớ và nhận thức. Kết quả là ngoài việc lưu lượng máu đến các khu vực làm việc của não bộ được tăng cường mạnh mẽ hơn với khoảng 8% và thời gian thực hiện các bài kiểm tra trí nhớ của những người tham gia cũng được cải thiện rõ rệt, giảm từ 167 giây xuống còn 116 giây.

Ông Farzaneh Sorond – Trưởng nhóm nghiên cứu cho biết: Tất cả các lĩnh vực khác nhau của não bộ cần nhiều năng lượng để hoàn thành nhiệm vụ, chúng cũng cần một lưu lượng máu lớn hơn. Mối quan hệ này được gọi là khớp nối neurovascular, có thể đóng vai trò quan trọng trong các bệnh như bệnh mất trí nhớ (Alzheimer).

         Minh Lưu (Theo Reuters, 8/2013)

Kết quả thử nghiệm thuốc teplizumab mới nhất cho thấy loại “thần dược” này giúp chặn đứng sự phá hủy hoàn toàn các tế bào sản xuất insulin ở 50% những người tham gia. Loại thuốc mới đã mở ra một khả năng thực tế là nếu bệnh được chẩn đoán đủ sớm, sự bùng phát hoàn toàn bệnh tiểu đường týp 1 có thể bị chặn đứng trước khi bệnh nhân phải chịu những tổn thương như mù, bệnh tim, suy thận…

Các kết quả thử nghiệm cho thấy đối tượng được hưởng lợi nhiều nhất là những bệnh nhân có sự kiểm soát mức đường huyết tương đối tốt và chỉ cần tiêm những liều insulin vừa phải.

Phần lớn bệnh nhân tham gia thử nghiệm có tuổi dưới 14 và được chẩn đoán mắc bệnh trong vòng 8 tuần trước khi bắt đầu các cuộc thử nghiệm.

Thuốc teplizumab do các chuyên gia nghiên cứu miễn dịch Jeffrey Bluestone và Mary Clausen thuộc Đại học California, San Francisco (Mỹ) sáng chế. Cuộc thử nghiệm lâm sàng được thực hiện dưới sự chủ trì của giáo sư sinh học miễn dịch Kevan Herold tại Đại học Yale (Mỹ).

         Hồng  Lê (Theo Diabetes, 8/2013)

Thạch hộc (DendrobiumnobileLindl,), tên khác là kẹp thảo, hoàng thảo dẹt, kim thoa hoàng thảo, hoàng thảo cẳng gà, huỳnh thảo, tên Thái là co vàng sào, người chơi lan gọi là lan phi điệp hay phi điệp kép. Là một cây thảo phụ sinh, mọc bám trên cành cây to hoặc ở vách đá ẩm. Thân dẹt có rãnh dọc chia nhiều đốt, phía cuống thuôn hẹp, phía ngọn dày hơn, màu vàng nhạt. Lá ngắn có bẹ. Hoa màu hồng hoặc trắng pha hồng, mọc thành chùm ở kẽ những lá đã rụng. Quả dài hình thoi.

Bộ phận dùng làm thuốc của thạch hộc là thân cành, thu hái về, cắt bỏ rễ và lá, rửa sạch, ngâm nước ủ cho mềm, bóc bỏ lớp màng mỏng bên ngoài rồi phơi và sấy khô. Khi dùng, đồ chín, tẩm rượu thái nhỏ.

Thạch hộc trị suy nhược thần kinh 1Thạch hộc.

Thạch hộc có vị ngọt nhạt, hơi mặn, không độc, tính lạnh, có tác dụng bổ dưỡng thanh nhiệt, chỉ khát, sinh tân dịch chữa lao lực, gầy yếu, ho, sốt nóng, miệng khô khát, mồ hôi trộm, thiểu năng sinh dục ở nam giới, chân tay và lưng đau nhức, nóng trong, đau dạ dày, viêm ruột. Liều dùng hằng ngày: 8 – 16g dưới dạng thuốc hãm, thuốc sắc hoặc thuốc bôi. Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác trong những trường hợp sau:

Chữa suy nhược thần kinh, chóng mặt, nhức đầu, hoa mắt, ù tai, khó ngủ: thạch hộc, kỷ tử, sa sâm, mạch môn, hạ khô thảo, mẫu lệ mỗi vị 12g; câu đằng 16g; địa cốt bì, trạch tả, táo nhân, cúc hoa, mỗi vị 8g. Tất cả tán nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày.

Chữa di, mộng tinh: thạch hộc, kim anh, sa sâm, mạch môn, khiếm thực, liên nhục mỗi vị 12g; quy bản 8g. Sắc uống trong ngày.

Chữa viêm bàng quang mạn tính: thạch hộc, sa sâm, thục địa, ngưu tất, vỏ núc nác mỗi vị 12g; kim ngân hoa 20g; mã đề, tỳ giải mỗi vị 16g. Sắc uống ngày 1 thang.

Chữa nha chu viêm, làm chắc chân răng: thạch hộc, sinh địa, huyền sâm, sâm, quy bản, ngọc trúc, kỷ tử, thăng ma, mỗi vị 12g; kim ngân hoa 16g, bạch thược 8g sắc lấy 200ml nước đặc, uống một nửa và ngậm một nửa dung dịch.

Chữa nóng trong, háo khát, thổ huyết: thạch hộc, sinh địa, thục địa, sa sâm, đan sâm, thiên môn, ngưu tất, mỗi vị 16g; ngũ vị tử 3g. Sắc uống. Hoặc thạch hộc 4g, chè xanh 2g, hãm với nước sôi, uống hoặc súc, ngậm trong ngày.

TTƯT.DS. Đỗ Huy Bích

Các bệnh “mắc phải” của thời buổi hiện đại ngày một nhiều, gút (gout) là bệnh phổ biến và thường gặp nhất ở các quý ông thành đạt, quý ông thích la cà ở bàn nhậu và ít về nhà ăn cơm với vợ. Vậy nên một chế độ dinh dưỡng không phù hợp, vô tội vạ đã khiến bệnh nhân gút ngày một nhiều…

Ăn uống để phòng bệnh gút 1
 Chế độ ăn uống ảnh hưởng rất nhiều đến tình trạng bệnh gút.

Bệnh xuất hiện do đâu?

Bệnh gút đã được coi là một bệnh lý rối loạn chuyển hóa purine ở người, làm tăng tổng hợp acid uric và/hoặc giảm thải acid uric ra ngoài, gây tăng acid uric trong máu. Người bị bệnh gút có biểu hiện đầu tiên là thường đau ở ngón chân cái, xuất hiện các tophi (u cục) ở khớp, quanh khớp, ở vành tai. Khởi bệnh đột ngột bằng một cơn viêm khớp cấp với tính chất: sưng, nóng, đỏ, đau dữ dội, đột ngột ở một khớp làm người bệnh rất đau đớn, không thể đi lại được. Bệnh diễn biến từng đợt, giữa các cơn viêm cấp có những giai đoạn các khớp hoàn toàn hết đau, người bệnh tưởng mình đã khỏi. Giai đoạn đầu tiên thường không có bất kỳ triệu chứng nào ngoại trừ nồng độ acid uric trong máu cao. Các triệu chứng đầu tiên thường gặp là ngón cái sưng đỏ và đau nhức. Thường thì cơn đau sẽ xảy đến sau một tác động vật lý nào đó tại chỗ bị đau, hoặc sau một sự kiện về dinh dưỡng (ăn nhậu, tiệc tùng). Đau thường xuất hiện ở các khớp bao gồm các khớp mắt cá chân, bàn chân, đầu gối, cổ tay, khuỷu tay và khớp nhỏ của bàn tay, có khi ở những khớp nhỏ có ở khắp nơi trên cơ thể. Các tinh thể muối urat gây viêm khớp, dẫn đến sưng, đỏ, nóng, đau, và cứng khớp. Ở giai đoạn muộn, biểu hiện viêm ở nhiều khớp cả tay và chân, có thể đối xứng, xuất hiện những u cục ở nhiều nơi, đặc biệt quanh các khớp, bệnh diễn biến liên miên không rõ từng đợt, giữa các đợt viêm cấp các khớp vẫn đau nhức, dần dần gây biến dạng khớp, cứng khớp, teo cơ…

Hầu hết các bệnh nhân có các cơn đau tái phát trong vòng vài năm, tùy theo thể trạng và lối sống, mà thường là từ 1 – 3 năm. Nếu không chữa trị, trong giai đoạn sau, các cơn đau khớp cấp sẽ gây tổn thương nhiều khớp, làm tổn thương khớp, mất vận động, đau mạn tính và hình thành cục tophi (do tinh thể urat lắng đọng trong mô mềm).

Ăn uống để phòng bệnh gút 2
Ăn uống để phòng bệnh gút 3
 Acid uric trong máu cao gây sưng đỏ, đau nhức các khớp ngón tay, mắt cá chân, bàn chân…

Một trong những nguyên nhân trực tiếp gây bệnh gút là acid uric, vậy nên những người ăn nhiều thức ăn giàu purine sẽ làm tăng tình trạng tăng acid uric máu sẵn có, thúc đẩy họ trở thành bệnh nhân gút, làm nhanh tái phát các cơn gút, khó kiểm soát bệnh và sớm trở thành gút mạn. Những bệnh nhân bị béo phì, tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu dễ bị gút và ngược lại, bệnh nhân gút rất dễ mắc 4 bệnh trên. Theo nghiên cứu, nguyên nhân hàng đầu dẫn tới mắc bệnh gút là do chế độ ăn uống sai lầm: uống quá nhiều rượu bia góp phần làm tăng acid uric máu mà còn làm cho acid uric dễ dàng bị lắng đọng tại tổ chức, gây cơn gút cấp, gây sỏi thận. Ăn nhiều phủ tạng động vật, thực phẩm có chứa nhiều protid, các loại thịt có màu đỏ, các loại hải sản, nấm, giá, bạc hà (dọc mùng)… Những thực phẩm này sẽ làm gia tăng tốc độ tổng hợp acid uric trong cơ thể. Bệnh nhân gút có tầm vóc trung bình 50kg không nên ăn quá 100g thực phẩm giàu đạm mỗi ngày.

Làm gì để phòng bệnh?

Người bị bệnh gút cũng phải dùng thuốc điều trị vì chế độ ăn uống không thể thay thế được thuốc điều trị. Tuy nhiên, chế độ ăn uống lại trở nên quan trọng và cần thiết khi người bệnh bị dị ứng với thuốc điều trị. Một chế độ ăn hợp lý sẽ cải thiện rất nhiều trong quá trình điều trị và phòng ngừa bệnh. Những thực phẩm người bệnh cần dùng là: các loại rau xanh giàu chất xơ như dưa chuột, rau cần, cải xanh, cải bắp, khoai tây, bí đỏ, lê, táo nho…; uống nhiều nước, nước khoáng có bicarbonate, nước sắc lá sakê; các loại ngũ cốc. Ngoài ra, bệnh nhân gout cần có một chế độ sinh hoạt, rèn luyện thân thể một cách khoa học; tránh làm những việc nặng, gắng sức; tránh bị lạnh đột ngột; tránh bị stress.      

ThS. Hà Hùng Thủy

Trong khoai lang có protein, glucid, nhiều tinh bột, ít đường khử, sterol, chất nhựa, sinh tố B1, B2, C, acid nicotinic, Ca, Mn, P, Fe, K, I,… Thân và lá khoai lang còn chứa chất nhựa, acid fumaric, acid succinic và một số acid amin… Theo Đông y, khoai lang vị cam bình, vào tỳ, thận. Có tác dụng kiện tỳ, ích khí, hòa vị, sinh tân, thông tiện. Dùng cho các trường hợp tỳ vị hư nhược (đái tháo đường, táo bón, quáng gà, vàng da…). Hằng ngày có thể dùng 16 – 500g dưới dạng luộc, hầm, nướng.

Khoai lang - Vị thuốc tốt 1

Khoai lang

Một số cách dùng khoai lang làm thuốc

Nhuận tràng: củ khoai rửa sạch, gọt bỏ vỏ, xay (giã) nhỏ, thêm ít nước sôi, khuấy đều. Uống 1 bát vào buổi sáng. Chữa táo bón. Dùng 3 – 7 ngày đến khi hết táo bón. Hoặc dùng 100 – 150g lá tươi luộc ăn hàng ngày.

Chữa đái tháo đường: lá khoai lang tươi 150g, bí đao 50g. Lá khoai rửa sạch, bí đao gọt vỏ, thái miếng. Nấu canh ăn trong ngày.

Phụ nữ băng huyết: lá khoai lang tươi 100 – 150g, giã nát, cho ít nước sôi, ép nước uống.

Trị mụn nhọt, chín mé: lá và ngọn non 1 nắm nhỏ, muối ăn 1 nhúm. Rửa sạch khoai, giã nát với muối. Đắp lên chỗ bị nhọt hay chín mé.

Món ăn bài thuốc có khoai lang

Cháo kê khoai lang: khoai lang 60g, kê 50g. Khoai lang gọt vỏ, thái lát; kê xay bỏ vỏ; nấu cháo, ăn bữa sáng. Dùng cho bệnh nhân đái tháo đường, tỳ vị hư nhược.

Cháo gạo khoai lang: khoai lang đỏ (tươi) 200g, gạo tẻ 100g. Khoai rửa sạch, gọt vỏ, thái miếng. Nấu với gạo thành cháo, thêm đường trắng đảo đều. Dùng cho bệnh nhân quáng gà, thị lực giảm.

Khoai lang nấu canh: khoai lang vàng (kim thự) 100 – 150g, rửa sạch, thái miếng. Nấu canh ăn hoặc thêm 50g gạo tẻ, nấu cháo. Dùng cho bệnh nhân viêm gan vàng da sốt nóng.

Khoai lang nấu canh hoặc nấu cháo với dấm ăn: khoai lang 100 – 150g, rửa sạch, thái miếng. Nấu canh hoặc nấu cháo với 300ml nước dấm. Dùng cho bệnh nhân phù nề.  

Bột khoai: bột khoai lang hòa nước sôi hoặc nấu chín thêm đường. Dùng cho người bệnh khô miệng đau họng.

Khoai lang hầm cá bống (hoặc cá quả): khoai lang 500g, cá quả 1 con (500g), nghệ 1 củ (20g). Khoai rửa sạch, thái miếng, cá đánh vảy, mổ bỏ ruột, nghệ giã nát. Cho vào nồi hầm kỹ. Dùng cho sản phụ bị suy nhược.

Kiêng  kỵ: Người có thực tích, đầy ợ hơi nên hạn chế ăn khoai lang.

TS. Nguyễn Đức Quang

Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh Mỹ (CDC), bệnh amíp ăn não người do amíp Naegleria fowleri (N. fowleri) gây ra đang có nguy cơ quay trở lại. Bằng chứng, bé gái 12 tuổi Kali Harding ở Arkansas, Mỹ đã bị lâm bệnh phải đưa đi cấp cứu hôm 30/7/2013 ngay sau khi tắm ở Công viên nước Willow Spring.

Cảnh báo nguy cơ bùng phát của amíp N.fowleri

Theo CDC, bệnh “ăn” não người do amíp N.fowleri gây ra là căn bệnh lạ và hiếm gặp nhưng mức độ nguy hiểm rất cao, đe dọa trực tiếp đến tính mạng con người. Theo thống kê, tại Mỹ, từ năm 1937 – 2007 có 121 người mắc bệnh, từ 2001 – 2011 có tới 35 ca tử vong, trong đó có 32 ca tiếp xúc trực tiếp với nguồn nước tại các khu vực vui chơi giải trí công cộng. Một số quốc gia như New Zealand, từ năm 1968 – 1978 có 8 ca tử vong vì amíp N.fowleri; tại Anh, năm 1979 có 1 bé gái tử vong sau khi tắm tại một bể bơi của thành phố Bath, sau đó người ta xét nghiệm và phát hiện thấy hồ tắm này bị nhiễm N.fowleri và họ buộc phải đóng cửa. Ngoài ra, tại Pakistan và Tiệp Khắc (cũ) cũng có hàng chục ca nhiễm bệnh tương tự vì N.fowleri sau khi tắm ở các hồ bơi.

Amíp “ăn” não người: Căn bệnh đang quay trở lại 1Amip Naegleria fowleri thường được tìm thấy trong các ao, hồ, bể bơi công cộng.

Trường hợp Kali Harding nói trên cũng không ngoại lệ. Theo bà Traci thì con gái bà bị bệnh sau khi tắm ở bể bơi của Công viên nước Willow Spring, Little Rock, Arkansas. Ngay sau khi tắm, Harding đã bị sốt, nôn ói, đau đầu dữ dội, mắt lờ đờ. Qua khám bệnh, bác sĩ phát hiện Harding mắc bệnh do sinh vật đơn bào ăn não người có tên N.fowleri gây ra. N.fowleri là thủ phạm gây bệnh viêm màng não hay còn gọi là viêm màng não amíp sơ cấp (PAM). N.fowleri là loại sinh vật đơn bào thường tìm thấy trong các nguồn nước ấm như ao, hồ, sông, suối, bể bơi… nhất là những nơi có nhiệt độ từ 25 – 42oC, sau đó chúng thâm nhập cơ thể con người qua đường mũi và di chuyển dọc theo dây thần kinh khứu giác lên não, sau đó bắt đầu phá hủy mô và “ăn thịt” não.

Triệu chứng nhiễm khuẩn N.fowleri thường xuất hiện trong thời gian 7 ngày sau khi phơi nhiễm, gây đau, cứng cổ, nhức đầu, sốt, buồn nôn. Các triệu chứng thứ phát có thể thấy như mất tập trung, co giật. Căn bệnh này rất dễ nhầm với bệnh viêm não do vi khuẩn hoặc virut nên việc chẩn đoán khó khăn. Ở thể nặng, nguy cơ tử vong cao, có thể diễn ra trong vòng 2 tuần kể từ khi nhiễm bệnh.

Vài nét về amíp ăn não người 

Amíp N.fowleri được hai bác sĩ là M. Fowler và RF Carter nhắc đến lần đầu tiên tại Úc năm 1965. Sau đó được Fowler chính thức đặt cho tên gọi là viêm màng não amíp sơ cấp (PAM) để phân biệt với căn bệnh thứ cấp gây ảnh hưởng đến hệ thống thần kinh trung ương (CNS) do các loại amíp khác gây ra như amíp Entamoeba histolytica. N.fowleri là một loại sinh vật đơn bào thuộc nhóm excavata, sống tự do, thường tìm thấy trong các khu vực nước ngọt ấm. Nó cũng được tìm thấy trong đất, gần khu nước thải ấm của các nhà máy công nghiệp, bể bơi không được xử lý bằng clo. Người ta không tìm thấy bằng chứng N.fowleri tồn tại trong nước biển. N.fowleri có thể tồn tại trong tự nhiên ở 3 hình thái là u nang, dạng tư dưỡng (ameboid) giống như amíp và trùng roi, sở hữu trên 15.700 gen mã hóa protein. Bình thường, chúng thường tìm và ăn vi khuẩn hoặc cũng có thể chuyển sang dạng trùng roi để bơi. Đôi khi N.fowleri có thể “tàng hình” tạo thành dạng bào nang, nhất là khi môi trường khắc nghiệt. Đây là thế mạnh của N.fowleri nên loại đơn bào này có thể tồn tại dai dẳng ở những nơi ấm và ẩm ướt. Tại những vùng nhiệt đới, điều kiện ấm áp, N.fowleri phát triển rất nhanh và mạnh, có nhiều trong nước kém vệ sinh, trong thức ăn, rau sống, tay bẩn có dính kén amíp, sau đó thâm nhập cơ thể. Nếu ở mức độ nhẹ có thể gây rối loạn tiêu hóa và nặng có thể gây áp-xe, gây bệnh lỵ, đau quặn, đi ngoài ra phân, máu… Nếu nhiễm amíp N.fowleri đường tiêu hóa và được điều trị kịp thời sẽ ít nguy hiểm đến tính mạng, nhưng một khi nó chui lên não thì cực kỳ nguy hiểm, gây viêm não và nặng có thể dẫn đến tử vong, tỷ lệ tử vong lên tới  98% thông qua cơ chế ăn các nơ-ron thần kinh, gây đau đầu khủng khiếp, sốt cao, ảo giác và thậm chí mất khả năng kiểm soát hành vi.

Amíp “ăn” não người: Căn bệnh đang quay trở lại 2Hình ảnh amíp “ăn”não qua mô tả đồ họa.

Theo khuyến cáo của CDC, để hạn chế nguy cơ mắc bệnh, mọi người nên hạn chế các hoạt động tại vùng nước ấm, đặc biệt là những nơi có điều kiện vệ sinh kém. Sử dụng các dụng cụ để bảo vệ mũi, miệng tránh tiếp xúc với nước tại các bể bơi công cộng, tiếp xúc với bùn, trầm tích dưới đáy ao hồ. Ngoài ra, nên khử khuẩn nguồn nước tại các bể bơi công cộng, hệ thống nước sinh hoạt của các gia đình. May thay, N.fowleri không gây bệnh qua đường uống, trừ khi súc miệng nước bị nhiễm amíp xộc lên mũi. Mọi người không nên uống nước lã, nên dùng nước sạch đã được chưng cất, tiệt khuẩn, lọc hoặc đun sôi, thường xuyên rửa sạch và lau khô chậu chứa, chai lọ, cốc chén đựng nước và thường xuyên rửa tay sạch sẽ.

(Theo  CDC/LS, 8/2013 )

NAM BẮC GIANG

Công trình nghiên cứu được đăng tải trên tạp chí Công nghệ sinh học Anh cho thấy, võng mạc mới ra đời bằng việc phát triển phôi tế bào gốc là bước đột phá trong việc chữa trị cho người mù lòa.

GS. Robin Ali, Bệnh viện Mắt Moorfields, Đại học London cho biết, mất các tế bào thần kinh nhạy sáng là nguyên nhân chính gây mù lòa như thoái hóa điểm vàng, viêm võng mạc sắc tố và mù lòa. Các nhà khoa học đã phát triển tế bào nhạy sáng mới từ tế bào gốc vào võng mạc của những con chuột thí nghiệm bị mù lòa. Võng mạc mới thích ứng, phát triển bình thường và các tế bào chủ chốt nhận ánh sáng, chuyển hình ảnh lên não. Kết quả cho thấy, những con chuột được cấy võng mạc mới có khả năng nhìn thấy ánh sáng.

Theo GS. Robin ALi, phương pháp mới này sẽ cần ít nhất 5 năm trước khi sẵn sàng áp dụng với con người, nhưng chắc chắn đây là cột mốc quan trọng trong con đường phát triển liệu pháp chữa bệnh mù lòa bằng phương pháp nuôi cấy tế bào.

M.Huệ (Theo Daily Mail, 7/2013)

Các nhà khoa học tại Trường đại học Oxford, Anh đã phát hiện E6, một chủng của HPV làm tăng đáng kể nguy cơ mắc ung thư vòm họng, nghiên cứu đăng tải trên tạp chí Ung thư học lâm sàng.

Nghiên cứu so sánh mẫu máu của 938 bệnh nhân mắc ung thư vòm họng, thực quản với 1.599 người không mắc bệnh. Kết quả cho thấy, mẫu máu của hơn 1/3 những người mắc ung thư vòm họng có chứa E6, một chủng của HPV16 nguyên nhân gây ung thư chính. E6 vô hiệu hóa các protein p53, có chức năng bảo vệ các tế bào khỏi bị hư hại, sau khi phá vỡ liên kết protein p53 bao quanh tế bào, E6 sẽ xâm nhập tế bào và gây bệnh ung thư. Theo TS. Ruth Travis, tác giả nghiên cứu, HPV có thể lây lan qua tiếp xúc bằng miệng hoặc bộ phận sinh dục, những người quan hệ tình dục bằng miệng có nguy cơ cao nhiễm loại virut gây ung thư này. Đây được xem là cách duy nhất để E6, chủng HPV lây lan, do đó các nhà khoa học khuyến cáo mọi người nên đảm bảo tình dục an toàn giảm tối đa nguy cơ mắc ung thư do HPV gây nên.

M.H (Theo Guardian, 7/2013)

Phẫu thuật cắt bỏ ống thông đối với những bệnh nhân mắc bệnh rung tâm nhĩ gây nên hiện tượng nhịp tim bất thường sẽ giúp người bệnh giảm nguy cơ tử vong do đột quỵ.

Các nhà khoa học tại Trung tâm Y tế Intermoutain, Murray, Utal đã tiến hành nghiên cứu dữ liệu của 38.200 người trong độ tuổi 60. Đối tượng nghiên cứu gồm nhóm 1: 4.200 bệnh nhân bị rung tâm nhĩ đã được phẫu thuật; nhóm 2: 17.000 bệnh nhân rung tâm nhĩ chưa được phẫu thuật và nhóm 3: 17.000 không mắc căn bệnh này. Các nhà khoa học xem xét yếu tố dẫn tới đột quỵ khác như: tiền sử đột quỵ, tăng huyết áp, đái tháo đường, suy tim, sung huyết. Sau 1 năm nghiên cứu, 900 người bị đột quỵ. Trong nhóm thứ nhất có 3,5% đột quỵ so với nhóm thứ 2 có 1,4% đột quỵ. TS. Thomas Bunch, chuyên gia về nhịp tim, trưởng nhóm nghiên cứu cho biết: Rung tâm nhĩ gây ra hiện tượng nhịp tim bất thường sẽ dẫn đến hình thành các cục máu đông bên trong buồng tim, những cục máu đông này sẽ theo di chuyển dần đến não và chèn ép mạch máu gây ra 15% các ca đột quỵ.

M.H (Theo Reuters, 8/2013)

Cây gai có vị ngọt đắng, tính mát, đi vào hai kinh tâm, thận; thường dùng để trị các bệnh đường tiểu như: bí tiểu, tiểu đục, tiểu ra máu, còn dùng để cầm máu và trị động thai.

Cây gai còn gọi là trữ ma, tầm ma, tầm gai, cây gai bánh. Tên khoa học Boehmeria nivea (L) Gaud, (Urtica nivea L), họ Gai.

Đây là cây mà dân gian vẫn dùng lá làm bánh gai ăn và sợi để dệt làm lưới đánh cá. Cây này thường mọc hoang. Có thể trồng bằng gốc hay giâm cành vào mùa xuân. Cây sống lâu năm, có thể cao tới 1,5 – 2m. Lá lớn, mọc so le, hình tim, dài 7 – 15cm, rộng 4 – 8cm, mép có răng cưa, đáy lá hình tim hay hơi tròn, mặt dưới trắng vì có nhiều lông trắng, mặt trên có màu lục sẫm, ráp, có 3 gân từ cuống phát ra.

Lá và rễ cây này đều dùng làm thuốc.

Lá bánh gai thu hái vào mùa hè, phơi khô, tán bột để làm bánh. Thân cây có sợi dừng để dệt bao bố.

Rễ được gọi là trữ ma căn, hái vào bất cứ mùa nào, nhưng tốt nhất là vào thu đông. Hái về rửa sạch đất phơi hay sấy khô. Rễ có vị đắng, tính hơi hàn, quy kinh tâm, thận. Tác dụng thanh nhiệt giải độc, tán ứ, thông lâm, an thai. Dùng trong các trường hợp đơn độc, sang lở, đái buốt, đái rắt, phụ nữ có thai đau bụng, ra huyết, xích bạch đới, viêm cổ tử cung. Liều dùng 10 – 20g.

Cây gai, có gai nhưng ăn không thủng bụng 1

Trong 100g cây gai có chứa: nước, protein 85,3g,  chất béo 0,5g, carbohydrates  5,4g, chất xơ 3,1g, tro 2g, vitamin A (beta caroten) 1,15mg, B1 (thiamine) 0,2mg, 0,39mg vitamin B5, 0,3mg pyridoxine, 0,1mg folic acid, 30mcg vitamin C, 333mg vitamin E, 0,8mg vitamin K, 498,6mcg biotin, 0,5mcg choline, 17,4mg kali, 334mg canxi, 481mg magiê, 57mg sodium, 80mg photpho, 71mg chlorine, 150mg sắt, 1,64mg mangan, 779mg đồng, 76mcg selenium, 0,3mg  kẽm…

Cầm máu: trong dân gian, khi muốn cầm máu vết thương, người ta rửa sạch lá, giã nát, đắp vào, thấy có tác dụng cầm máu tốt. Trong y lý của Đông y, máu màu đỏ thuộc hỏa, lá gai khi giã nát có màu đen – tương ứng với hành thủy. Trong ngũ hành, thủy khắc hỏa cho nên lá gai có thể cầm được máu. Theo dược lý hiện đại, lá gai có chlorogenic acid, flavonoid rhoifolin, apogenin. Chlorogenic acid thủy phân cho acid cefeitannic và quinic; do đó lá bánh gai có tính cầm máu.

Chống oxy hóa: chlorogenic acid có tính chống oxy hóa mạnh gấp 10 lần vitamin E. Nó phong tỏa nhóm “tự do”, ngăn chặn sự oxy hóa lipoprotein LDL, là khởi điểm của xơ động mạch để dẫn tới cao huyết áp và nhồi máu cơ tim. Cũng như vitamin E, nên dùng chlorogenic acid (lá gai) trước khi LDL bị oxy hóa. Lá gai có các flavonoid khác như rhoifolin và apigenin. Các flavonoid này có tính chống oxy hóa yếu.

An thai: rễ cây gai mới hái hoặc phơi khô 30g sắc với 600ml nước, cô làm 200ml, chia làm 3 lần uống trong ngày. Chỉ 1 – 2 ngày là có kết quả, không nên kéo dài.

Lợi tiểu: rễ và lá trung bình 10 – 30g sắc với nước uống.

Theo sách Nam dược thần hiệu (Tuệ Tĩnh): kết hợp rễ gai, hoa mã đề và hành; sắc nước uống trị tiểu buốt, tiểu rắt, sạn thận.

Tư âm thanh nhiệt, dưỡng huyết an thai: trữ ma căn 30g (nếu tươi dùng 60 – 90g), sinh địa 30g, gạo nếp 100 – 150g; sắc sinh địa và trữ ma căn lấy nước cốt rồi ninh với gạo nếp thành cháo, chế thêm gia vị, chia ăn vài lần trong ngày.

Dưỡng huyết an thai: trữ ma căn tươi 50g, hồng táo 10 quả, gạo nếp 100g; sắc trữ ma căn lấy nước nấu với gạo và hồng táo thành cháo, chế thêm gia vị, chia ăn vài lần trong ngày.

Trị động thai: rễ gai mới lấy hoặc đã phơi khô 30g, sắc với 600ml nước, còn 200ml, chia 2 lần uống trong ngày. Uống 1 – 2 ngày sẽ đỡ.

Trị phụ nữ có thai ra huyết dọa sảy, có thai bị đau bụng: rễ gai tươi 4 phần, tía tô 1 phần, lá ngải cứu 1 phần (mỗi phần 12g), sắc với nước uống trong ngày.

Trị có thai bị đau bụng, động thai: rễ gai 2 phần, cành tía tô 2 phần (mỗi phần 4g), băm nhỏ, phơi khô sắc với 400ml nước, cỡ còn 100ml uống hết 1 lần trong ngày. Nếu có rỉ máu thì cho thêm 10g lá huyết dụ.

Trị sa tử cung: rễ gai khô 30g sắc với 600ml nước, uống nhiều lần trong ngày. Uống liền 3 – 4 ngày.

Trị đại, tiểu tiện ra máu: lấy 15 – 20g lá gai sắc nước uống trong ngày.

Trị tiểu nước trắng đục như nước vo gạo: rễ gai 30g, rau dừa nước và thổ phục linh (mỗi thứ 20g), đinh lăng, trinh nữ và thương nhĩ tử (mỗi thứ 16g). Nấu với 1.000ml nước, cô lại còn 1/4 (250ml), chia 2 lần uống trong ngày.

Trị phong thấp đau nhức các khớp: rễ cây tầm gai (trữ ma căn), 50g, ngâm với 1 lít rượu 1 tuần. Sau đó, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 10ml.

Trị tay chân tê mỏi: rễ cây gai 15 – 20g, sắc uống.

Làm mụn nhọt bớt mưng mủ, giảm sưng đau: rễ gai và rễ vông vang (2 thứ bằng nhau) giã nát đắp lên mụn nhọt. Đắp 1 – 2 ngày.

Cầm máu vết thương: lá gai tươi rửa sạch, giã nát đắp vào vết thương, băng lại.

Ngăn ngừa rụng tóc: chiết xuất từ rễ có nhiều chất sắt, được dùng để ngăn ngừa rụng tóc.

Chú ý:

Cây gai có thể được coi là một loại rau, vì nó có nhiều vitamin (A, C, B2, B5, B9 và K, kẽm và đồng) cùng nhiều khoáng chất…

Khi được luộc chín, cây gai không còn gây ngứa nữa (gai đã mềm, không còn acid) và nước rau khá ngon (mùi hơi giống canh rau dền).

Bánh gai để lâu được là nhờ chlorogenic có tính chống nấm và vi khuẩn. Thị trường có bánh gai giả (nhuộm nâu) chỉ để vài ngày là mốc do không có lá gai (thiếu chlorogenic).

Không phải bệnh thực nhiệt không dùng.

 Lương y HOÀNG DUY TÂN