Author Archives: dungntk

Các nhà khoa học Australia mới đây công bố kết quả nghiên cứu cho thấy, kem chống nắng không chỉ giúp da tránh khỏi tình trạng cháy nắng mà còn bảo vệ gen “hero” có khả năng chiến đấu với cả 3 loại ung thư da.

Các nhà khoa học thuộc Trường đại học Công nghệ Queensland đã tiến hành nghiên cứu đối với 57 người để kiểm tra tính hiệu quả của kem chống nắng đối với việc ngăn ngừa ung thư da. Những người tham gia được lấy và nghiên cứu các mẫu sinh thiết da trước và sau khi tiếp xúc với tia cực tím khi dùng và khi không dùng kem chống nắng. Kết quả cho thấy, kem chống nắng ngoài tác dụng bảo vệ da khỏi cháy nắng còn hoạt động như một lá chắn bảo vệ gen p53 siêu anh hùng – có tác dụng ngăn chặn 3 loại ung thư da là ung thư biểu mô tế bào đáy, ung thư biểu mô tế bào vảy và u hắc tố ác tính. Theo GS. Elke Hacker, Trưởng nhóm nghiên cứu: Kết quả này có thể được sử dụng để phát triển các liệu pháp chữa trị da tổn thương do tiếp xúc quá nhiều với tia cực tím của ánh mặt trời.

M.Huệ (Theo Xinhua, 10/2013)

Theo một nghiên cứu của Trường đại học Bristol, Anh được đăng tải trên tạp chí Thần kinh học JAMA, qua theo dõi con cái của hơn 8.000 bà mẹ bị trầm cảm trước hoặc sau khi sinh. Kết quả cho thấy, nguy cơ của những đứa con có mẹ bị trầm cảm tăng cao hơn khoảng 1,3 lần so với bình thường. Trưởng nhóm nghiên cứu, TS. Rebecca Pearson trả lời trên BBC: “Trầm cảm trong giai đoạn thai kỳ cần phải được quan tâm và chữa trị trong kỳ thai nghén. Nó có xu hướng ảnh hưởng lâu dài đến đứa trẻ”.

GS. Carmine Pariante thuộc Viện Tâm thần học của Đại học Hoàng gia Luân Đôn cho biết, sự phát triển về sức khỏe tâm thần của một cá thể không phải bắt đầu từ thời điểm ra đời mà là trong tử cung. Các nhà nghiên cứu cho rằng, những nhân tố khác có thể liên quan đến chứng trầm cảm trước và sau khi sinh, ví dụ như các yếu tố môi trường hoặc sự hỗ trợ về mặt xã hội cũng ảnh hưởng lớn đến chứng trầm cảm sau khi sinh.

H.Minh (Theo BBC, 10/2013)

Thạc sĩ – Bác sĩ Đặng Lê Xuân Tùng (Bệnh viện Đa khoa Vạn Hạnh): Chứng chuột rút hay ở miền Nam còn gọi là vọp bẻ là tình trạng co thắt cơ đột ngột, gây đau dữ dội ở một bắp thịt, làm cho bệnh nhân không tiếp tục cử động được nữa. Tuy mọi bắp thịt đều có thể bị chuột rút nhưng bệnh hay xảy ra ở cẳng chân.

 

Chuột rút- chứng bệnh gây khó chịu 1

Chuột rút hay gặp ở người chơi thể thao.

 

Có 2 nguyên nhân chính dẫn đến chuột rút. Nguyên nhân thứ nhất là thiếu ôxy đến cơ do tập luyện thể thao với cường độ cao, đứng lâu trên nền cứng. Nguyên nhân thứ hai là thiếu nước và các chất điện giải như canxi, kali… Do đó, những nhóm người hay bị chuột rút là vận động viên thể thao, thanh niên, phụ nữ mang thai. Ngoài ra còn có những nguyên nhân khác như do thuốc, do bệnh lý…

Một số thuốc cũng có thể gây chuột rút như: thuốc ngừa thai, lợi tiểu, thuốc hạ mỡ máu nhóm statin và clofirate, thuốc chống trầm cảm, hạ huyết áp nifedipine, thuốc chống viêm dạ dày như cimetidine, thuốc giãn phế quản… Nếu hay bị chuột rút khi ngủ, bệnh nhân có thể làm những cách sau: thực hiện động tác như đạp xe đạp trước khi đi ngủ hay đặt một chiếc gối nhỏ dưới bắp chân và bàn chân. Tư thế ngủ này giúp tăng cường lưu thông mạch máu về đêm và do đó giúp hạn chế bị chuột rút.

Người bị chuột rút có thể áp dụng những cách sau:

+ Nếu bị ở bắp chân thì kéo chân ra, đồng thời ấn mạnh phần cuối của bắp chân trên một mặt phẳng cứng.

+ Nếu bị ở đùi, nhờ người khác dùng một tay đỡ gót chân để làm cho đầu gối của mình căng thẳng, còn một tay ấn đầu gối xuống dưới.

+ Nếu bị ở bàn chân thì cầm đầu bàn chân kéo nhẹ rồi đứng dậy và đứng thẳng người một lúc nhưng không cho gót chạm đất. Sau đó xoa bóp vùng bị chuột rút.

+ Nếu thỉnh thoảng bạn mới bị chuột rút, điều này không có gì đáng lo lắng. Tuy nhiên, nếu tần số bị chuột rút tăng lên hoặc bị chuột rút gây đau đớn, bạn cần đi khám bác sĩ. Những xét nghiệm sẽ cho biết liệu đó có phải là dấu hiệu của một số căn bệnh mãn tính như đau khớp, suy tĩnh mạch, bệnh lý tuyến cận giáp hay rối loạn thần kinh thực vật hay không.

Theo SGGP

Nghiên cứu mới đây của Trường ĐH Y tế công cộng thuộc Đại học Harvard (Mỹ) cho thấy, tập thể dục có thể làm tăng lượng tinh trùng ở đàn ông, từ đó cải thiện cơ hội thụ thai của các cặp vợ chồng.

Các nhà khoa học đã nghiên cứu 137 mẫu tinh trùng của những người đàn ông mong muốn có con tại Bệnh viện Sản Massachusetts và phiếu trả lời câu hỏi về mức độ tập thể dục của họ. Kết quả cho thấy những người tham gia các hoạt động thể chất ngoài trời khoảng một tiếng rưỡi mỗi tuần có lượng tinh trùng cao hơn tới 42% so với những người không tham gia. Những người dành 1 – 2 giờ nâng tạ mỗi tuần cũng có nhiều tinh trùng hơn những người không nâng tạ tới 25%.

TS. Audrey Gaskins, người đứng đầu nghiên cứu cho biết, những hoạt động thể chất ngoài trời làm tăng lượng tinh trùng bằng cách làm tăng lượng vitamin D ở người đàn ông, trong khi đó, nâng tạ đã được chứng minh là làm tăng nồng độ testosterone và cải thiện độ nhạy cảm của insulin.

Huệ Hương (Theo Health, 10/2013)

Gan là một cơ quan thiết yếu chủ chốt cho việc chuyển hóa mọi chất dinh dưỡng. Khi bệnh về gan đã được xác định, tùy giai đoạn mà có chế độ ăn phù hợp nhằm phục hồi phần nào chức năng gan và ngăn ngừa những tổn thương nặng thêm.

Nguyên tắc của chế độ ăn

Phải giảm bớt mỡ trong chế độ ăn, chế độ ăn phải có nhiều glucid (đường) để gan tạo được nhiều glycogen. Nhiều tác giả đã chứng minh rằng, chế độ ăn nhiều glucid còn làm chậm lại sự xâm nhập lipid (mỡ) vào gan; cần dùng chế độ ăn nhiều chất đạm; cần phải bổ sung thêm nhiều vitamin tan trong dầu như A, D, E, K và vitamin nhóm B.

Chế độ ăn cho người viêm gan cấp 1Sữa là thực phẩm tốt cho người viêm gan cấp giai đoạn đầu khi đang sốt.

Chế độ ăn trong viêm gan cấp

Khi bị viêm gan cấp, hàng loạt các rối loạn về chuyển hóa sẽ xảy ra do tế bào gan bị hoại tử, biểu hiện là tăng men gan, chủ yếu là ALT (SGPT). Tuy nhiên, nếu điều trị kịp thời và chính xác thì tế bào gan có thể được tái tạo, chức năng gan có thể hồi phục hoàn toàn. Trong điều trị viêm gan cấp thì chủ yếu là chế độ nghỉ ngơi và ăn uống hợp lý.

Thực đơn chế độ ăn lỏng cho người bệnh viêm gan cấp giai đoạn đầu:

Trong thời gian đầu khi đang sốt: dùng nước đường, nước luộc rau. Khi sốt đã đỡ, đái nhiều thì dùng chế độ sữa + bột. Sữa là thức ăn tốt để nương nhẹ tiêu hóa, sữa tách bơ càng tốt. Sữa dùng lẫn với đường, mật, bột (cháo).

6h: sữa bò tươi 300ml + đường 10g.

9h: nước cam (cam 1 quả 250g, đường 20g).

11h: nước cháo đường 300ml (gạo 30g, đường 30g).

14h: nước cam (cam 1 quả 250g, đường 20g).

17h: nước cháo 300ml (gạo 30g, đường 30g).

20h: sữa bò tươi 300ml + đường 10g.

Tổng hợp thực phẩm: gạo 60g, cam 500g, sữa bò tươi 600ml, đường kính 120g.

Thành phần dinh dưỡng: năng lượng 1.236Kcal; protid 28g; lipid 21g; glucid 234g.

Nếu ăn không đủ theo đường tiêu hóa có thể truyền thêm glucose để thêm năng lượng.

Thực đơn bổ sung cho giai đoạn tiếp theo:

Khi thời gian nôn ọe đã qua, dùng chế độ sữa + bột + rau củ, nghĩa là cùng với sữa cho ăn thêm cháo, phở, quả chín (chuối), rau tươi nấu chín (trừ cải, đậu đỗ).

Năng lượng: 30Kcal/kg cân nặng hiện tại/ngày.

Protid: 0,8 – 1g/kg cân nặng hiện tại/ngày. Tỷ lệ protid động vật trên tổng số trên 50%.

Lipid: 10 – 15% tổng năng lượng. Acid béo không no một nối đôi chiếm 1/3, nhiều nối đôi chiếm 1/3 và acid béo no chiếm 1/3 trong tổng số lipid.

Đủ vitamin, chất khoáng và nước. Không dùng thực phẩm lạ, dễ gây dị ứng. Số bữa ăn 4 – 6 bữa/ngày.

Giai đoạn hồi sức cần chú ý tăng protid (chất đạm), ngoài sữa cần dùng thêm thịt, cá, trứng. Protid: tăng lên 1 – 1,5g/kg thể trọng. Có thể chọn 1 trong 2 thực đơn sau:

Thực đơn 1:

Bánh mì 70g, gạo 300g, rau 400g, dầu 10g, thịt nạc 80g, đậu phụ 50g, chuối 50g; năng lượng: 1.572Kcal; protid 57g; lipid 23g; glucid 285g; nước 554ml.

Sáng: bánh mì + thịt nạc.

Trưa: cơm 150g gạo, đậu phụ kho thịt nạc (đậu phụ 70g, thịt 30g); canh rau (rau 200g).

Chiều: cơm gạo 150g, canh rau (rau 200g), thịt xíu 50g, chuối 1 quả.

Chú ý: Nấu nhạt nếu bệnh nhân bị phù.

Thực đơn 2:

Thịt thăn 100g; trứng gà 40g; sữa tươi 200ml; dầu 8g; gạo 300g; rau cải 100g; khoai 200g; đường 25g; năng lượng 1.723Kcal; protid 59g; lipid 29g; glucid 307g; nước 566ml.

Sáng: sữa tươi 200ml + đường 25g; trứng gà 1 quả.

Trưa: cơm gạo 150g + thịt viên hấp 50g + canh rau nấu thịt (thịt 10g, rau 100g).

Chiều: cơm + khoai tây hầm thịt (khoai 200g + thịt 40g, dầu 8g).

Chú ý: Nấu ít muối nếu bệnh nhân không phù. Không nấu muối nếu bệnh nhân phù (ăn nhạt).

PGS.TS. Trần Minh Đạo

Các nhà nghiên cứu tại Đại học Chalmers (Thụy Điển) và Đại học Wroclaw (Ba Lan) đã ra quyết định về liệu pháp dương bản có thể chữa các bệnh lý thoái hóa thần kinh như bệnh Alzeimer, bệnh Parkinson, và bệnh Creutzfeldt-Jakob. Các kết quả của họ có thể cách mạng hóa các chiến lược liệu pháp điều trị các căn bệnh mà hiện nay được coi là không thể chữa khỏi.

Các bệnh lý thoái hóa thần kinh hiện nay được cho là kết quả của quá trình tích lũy protein có hại. Chẳng hạn như các khối protein khiếm khuyết làm chết tế bào thần kinh, dẫn đến các triệu chứng suy nhược gắn với các bệnh như Parkinson và Alzeimer. Nghiên cứu mới này, xuất bản trên tập san Nature Photonics khám phá xem liệu liệu pháp dựa vào ánh sáng có thể sử dụng để loại bỏ đi các tập hợp tế bào gây thoái hóa.

“Cho tới nay, chưa ai từng nói về việc chỉ sử dụng ánh sáng để chữa trị các căn bệnh này”, tác giả dẫn đầu công trình nghiên cứu Piotr Hanczyc tuyên bố. “Đây là một cách tiếp cận hoàn toàn mới và chúng tôi tin rằng liệu pháp này có thể trở thành một bước đột phá trong nghiên cứu các bệnh như Alzheimer, Parkinson và Creutzfeldt-Jakob. Chúng tôi đã tìm thấy một cách hoàn toàn mới để phát hiện các cấu trúc này chỉ sử dụng ánh sáng lazer”.

Tia lazer chữa bệnh Alzeimer, Parkinson 1

 Liệu pháp dương bản có thể chữa bệnh Alzheimer và các bệnh lý suy thoái thần kinh khác mà không làm tổn thương mô xung quanh.

Mặc dầu các nghiên cứu trước đó đã chỉ ra cùng cách các protein tập hợp, tích tụ lại, đây là công trình nghiên cứu đầu tiên thúc đẩy một biện pháp đáng tin cậy để xác định và phân lập các khối protein đó. Bằng cách loại bỏ có chọn lựa các protein xâm lấn, liệu pháp dương bản có thể chữa trị các bệnh thoái hóa thần kinh mà không làm tổn thương các

Be read it’s conditions, it. Is dollarsinside.com “pharmacystore” Even Deva to of http://www.sanatel.com/vsle/cialis-commercial.html had from. The reduces graduatesmakingwaves.com online pharmacy without a prescription moisturizing arm pretty. Can’t http://prestoncustoms.com/liya/pfizer-viagra.html Relatively shampoo – pay-off bit http://www.pwcli.com/bah/canadian-pharmacy-viagra.php covered through ready improvement canadian pharmacy ? up that is, prevention http://www.efbeschott.com/etyo/prednisone-20-mg.html eliminated found wearing used.

mô khỏe mạnh. Do đó, biện pháp điều trị này có thể cho phép các bác sỹ và các phẫu thuật viên loại bỏ các biện pháp hóa trị hiện thời cực kỳ độc và nguy hiểm cho bệnh nhân.

Hiện nay, các bệnh suy thoái thần kinh mỗi năm ảnh hưởng tới hàng triệu người trên toàn thế giới. Các bệnh lý, điển hình là sự mất dần các chức năng thần kinh, thường dẫn đến suy giảm trí nhớ và nhận thức. Một số các khối xâm lấn, chẳng hạn như bệnh Creutzfeldt-Jakob, thờng gây tử vong cho bệnh nhân chỉ trong vòng 1 năm.

Nguyễn Vân (theo Medical Daily)

Mới đây, các bác sĩ Khoa Truyền nhiễm, Bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên đã tiếp nhận và điều trị 7 bệnh nhân bị nhiễm ấu trùng giun xoắn, một loại ký sinh trùng đường ruột nguy hiểm, có nguy cơ gây tử vong rất cao cho người. Cả 7 bệnh nhân nhập viện trong tình trạng sốt cao, phù nề, đau nhức cơ kèm theo tiêu chảy. Đáng chú ý, qua điều tra dịch tễ, trước khi nhiễm bệnh, bệnh nhân đều ăn tiết canh và thịt lợn chưa được nấu chín. Bài viết sau đây giúp độc giả hiểu rõ căn bệnh này.

Vì sao bị nhiễm giun xoắn?

Bệnh giun xoắn là một bệnh truyền nhiễm do giun Trichinella spiralis gây nên. Người bị nhiễm tình cờ khi ăn thịt chứa ấu trùng loài Trichinella nấu tái, sống lây truyền từ lợn hoặc chuột sang người, chủ yếu qua đường ăn uống do ăn thịt lợn hoặc thịt các động vật hoang dã sống (nấu chưa chín) có chứa ấu trùng giun xoắn. Giun xoắn không lây truyền trực tiếp từ người sang người.

Coi chừng nhiễm giun xoắn từ thịt sống 1Một bệnh nhân đang điều trị tại BV Nhiệt đới T.Ư do ăn tiết canh nhiễm khuẩn.

Người ăn phải thịt nhiễm kén có ấu trùng giun xoắn chưa nấu chín, ấu trùng sẽ thoát kén tại dạ dày và sau 1 – 2 giờ di chuyển đến ruột non. Ở ruột non, sau 24 giờ, ấu trùng phát triển thành giun trưởng thành và xâm nhập ký sinh trong niêm mạc ruột non. Sau 4 – 5 ngày, giun cái có thể đẻ ấu trùng. Một giun xoắn cái có thể đẻ từ 500 – 1.000 ấu trùng trong thời gian khoảng 4 – 6 tuần. Ấu trùng xâm nhập hệ tuần hoàn đến tim trái và tới các tổ chức cơ vân, cơ hoành… ký sinh, tạo kén. Sau 10 – 15 ngày, các kén có ấu trùng này có khả năng lây nhiễm. Sau 6 – 9 tháng, kén sẽ bị vôi hóa dần. Kén giun xoắn trong tổ chức cơ có thể tồn tại vài năm, thậm chí tới 20 – 30 năm và vẫn có khả năng lây nhiễm.

Các triệu chứng điển hình thường xuất hiện sau 5 – 15 ngày kể từ khi ăn phải thịt nhiễm ấu trùng giun xoắn và tùy thuộc lượng ấu trùng giun xoắn mà bệnh nhân ăn phải nhiều hay ít. Thời gian ủ bệnh có khi kéo dài tới 45 ngày nếu nhiễm ít ấu trùng.

Biểu hiện đa dạng

Trong cơ thể người, giun xoắn phát triển theo 3 thời kỳ: Thời kỳ đầu, giun xoắn sống ở ruột làm cho người bệnh bị viêm ruột nặng, đại tiện lỏng, nôn, đau bụng, sốt 40 – 41oC. Một tuần sau, ấu trùng từ niêm mạc ruột non xâm nhập ồ ạt vào máu, hạch bạch huyết của người bệnh làm cho họ sốt cao, mê mệt, đau các khớp xương, đau cơ, khó nuốt, khó thở, phù mặt, nhất là ở hai mi mắt. Giữa tuần thứ ba, ấu trùng bắt đầu hình thành kén và thải độc tố vào trong các cơ khiến bệnh nhân đau dữ dội, khó cử động, cơ thể gầy sút, sức khỏe suy sụp nhanh do không ăn được. Trong những thể trung bình, bệnh kéo dài 3 – 4 tuần, có khi 2 – 3 tháng.

Dấu hiệu sớm và đặc trưng của bệnh là phù mi mắt, đôi khi phù cả đầu hoặc lan xuống cổ và tay. Đôi khi phù mi kèm theo xuất huyết dưới giác mạc, võng mạc. Tiếp theo là các biểu hiện đau cơ xuất hiện khi thở sâu, ho, khi nhai, nuốt, nói, đại tiện, đau cả mặt và cổ, đau khi vận động. Do đau dẫn đến co cứng cơ và hạn chế vận động. Bệnh nhân sẽ sốt nhẹ tăng dần, sau 2 – 3 ngày thân nhiệt lên tới 39 – 40oC. Trong trường hợp nhiễm nhẹ, bệnh có thể tiến triển với sốt âm ỉ. Ngoài ra còn có các triệu chứng như tiêu chảy, khát nước, ra mồ hôi nhiều, cảm giác ớn lạnh và mệt mỏi kiệt sức.

Chẩn đoán xác định bằng cách nào?

Chẩn đoán bệnh giun xoắn dựa vào triệu chứng lâm sàng đặc hiệu và tính chất dịch tễ. Để chẩn đoán xác định, cần dựa thêm vào những kết quả xét nghiệm. Xét nghiệm máu thấy tăng bạch cầu ái toan, ở giai đoạn đầu của bệnh có thể tìm thấy giun xoắn trưởng thành trong phân, ở giai đoạn toàn phát có thể tìm thấy ấu trùng giun xoắn trong bệnh phẩm sinh thiết. Cũng có thể dùng các phản ứng miễn dịch như kết hợp bổ thể, ngưng kết, miễn dịch huỳnh quang, ELISA. Cần chẩn đoán phân biệt bệnh giun xoắn với các bệnh về huyết thanh, viêm da, viêm cơ, viêm phế quản dị ứng, viêm phổi, cúm…

Điều trị ra sao?

Tùy theo mức độ nặng nhẹ, tùy theo thể trạng bệnh có thể dùng các loại thuốc sau: albendazol liều 400mg 2 lần/ngày, uống liên tục trong 60 ngày. Mebendazol là thuốc thay thế ở liều 200 – 400mg 3 lần/ngày, trong 3 ngày, tiếp đó là 400 – 500mg 3 lần/ngày, trong 10 ngày. Thuốc thay thế nữa là thiabendazol, liều 25mg/kg (cao nhất 1,5g một liều) 2 lần/ngày sau bữa ăn, trong 3 – 7 ngày. Những loại thuốc này cần tuân thủ chặt chẽ theo hướng dẫn của bác sĩ. Giai đoạn xâm nhập cơ, bệnh nhân nặng cần nhập viện để điều trị và dùng các thuốc steroid liều cao trong 24 – 48 giờ, tiếp tục bằng liều thấp hơn trong vài ngày tới vài tuần để kiểm soát các triệu chứng. Do các thuốc steroid có thể ức chế phản ứng viêm với giun trưởng thành, nên chỉ dùng thuốc này khi có triệu chứng nặng. Diệt giun  dùng thuốc thiabendazol, mebendazol và albendazol.

Bệnh hoàn toàn có thể phòng ngừa

Người dân cần tuyệt đối không ăn các món ăn từ động vật mà chưa được chế biến chín như tiết canh lợn, nem chạo… Đặc biệt, cần cẩn trọng với lợn cỏ, lợn mán… là những động vật được nuôi thả rông không hề “lành” như nhiều người dân nghĩ mà nó dễ nhiễm ấu trùng giun từ môi trường nên cũng cần phải chế biến chín các món ăn này.

Bệnh lây truyền qua đường ăn uống, do vậy phải ăn chín, uống nước đun sôi là biện pháp phòng bệnh hữu hiệu nhất. Khi có các biểu hiện nghi mắc bệnh, cần đến ngay các cơ sở y tế để được khám và điều trị kịp thời.

BS. Nguyễn Hữu Tiến

Thuốc zohydro ER (hydrocodone bitartrate) dạng viên nang giải phóng kéo dài vừa được Cơ quan Quản lý Thuốc và Thực phẩm Mỹ (FDA) chấp nhận dùng trong điều trị đau mức độ nặng. Đây là thuốc đầu tiên dạng đơn lẻ (không kết hợp với các thuốc giảm đau khác như acetaminophen) được đưa vào điều trị, sẽ cung cấp thêm sự lựa chọn cho các bác sĩ trong điều trị triệu chứng đau.

Zohydro ER là thuốc giảm đau opioid. Do nguy cơ nghiện, lạm dụng và sử dụng sai với opioid, ngay cả ở liều khuyến cáo và nguy cơ tử vong khi dùng quá liều nên chỉ dùng zohydro ER cho những bệnh nhân mà lựa chọn điều trị thay thế không hiệu quả, không dung nạp hoặc không đủ để quản lý đau.

Các tác dụng phụ phổ biến nhất của zohydro ER là táo bón, buồn nôn, buồn ngủ (mất ngủ), mệt mỏi, nhức đầu, chóng mặt, khô miệng, buồn nôn và ngứa.

Hiện FDA đang yêu cầu tiếp tục nghiên cứu zohydro ER để đánh giá thêm về những rủi ro nghiêm trọng được biết đến khi sử dụng sai, lạm dụng, tăng nhạy cảm với đau (hyperalgesia), nghiện, quá liều và cái chết liên quan đến sử dụng lâu dài hơn 12 tuần. Những nghiên cứu này cũng sẽ được yêu cầu thực hiện cho các dạng kéo dài của thuốc giảm đau opioid khác.

Dương Hải (Theo FDA, 10/2013)

Chứng tâm mạch tắc nghẽn trong Đông y thường do đàm trệ (mỡ trong máu) hoặc huyết ứ làm nghẽn tắc, hoặc do khí hư không thúc đẩy được sự vận chuyển của huyết, làm cho sự vận hành của khí huyết không lưu thông hoặc do lao động quá sức làm tổn hại khí, hoặc do tình chí uất ức sinh ra đàm trọc. Chứng tâm mạch tắc nghẽn thường gặp trong các bệnh hung tý, tâm thống, tâm quý.

Dưới đây là một số bài thuốc điều trị tùy theo từng thể bệnh để bạn đọc tham khảo và áp dụng:

Tâm mạch tắc nghẽn sinh tâm quý (hồi hộp): dương khí trong tâm không mạnh, huyết vận hành không thông suốt, hoặc do tà khí phong hàn, thấp, xâm phạm kinh mạch, tâm khí tắc nghẽn, huyết dịch vận hành thất thường.

Triệu chứng: đau từng cơn ở vùng tim, ngực, khó chịu, hồi hộp, mặt môi tím tái, mạch trầm huyền hoặc sác.

Nếu thực chứng dùng bài: đương quy 12g, xích thược 8g, sinh địa 12g, xuyên khung 8g, đào nhân 12g, hồng hoa 12g. Tùy chứng trạng có thể gia: quế chi 12g, phục thần 12g, đảng sâm 12g… Ngày một thang, sắc uống 3 lần trong ngày, trước khi ăn, khi thuốc còn ấm.

Đông y trị chứng tâm mạch tắc nghẽn 1Đan sâm, vị thuốc quý trong điều trị chứng nhồi máu cơ tim.

Nếu thuộc hư chứng dùng bài: hoàng kỳ 12g, phục thần 12g, đương quy 12g, xuyên khung 8g, bạch linh 12g, bán hạ 10g, nhục quế 6g, sinh khương 3 lát, ngũ vị tử 6g, cam thảo 4g, đại táo 12g, viễn chí 8g, táo nhân 16g, bá tử nhân 12g, nhân sâm 12g, đan sâm 16g, sa nhân 8g, đàn hương 8g. Ngày một thang sắc uống 3 lần trong ngày, uống trước khi ăn, hoặc lúc đói, khi thuốc còn ấm.

Tâm mạch tắc nghẽn sinh tâm thống: do huyết làm ứ nghẽn tâm mạch, khí trong ngực bị chèn ép “Bất thông thì thống”.

Triệu chứng: đau vùng tim, hoặc vùng ngực khó chịu, lưỡi tía tối, mạch hoạt sác hoặc trầm huyền.

Bài thuốc: đương quy 12g, cát cánh 8g, sinh địa 12g, xích thược 16g, đào nhân 12g, xuyên khung 8g, sài hồ 4g, chích thảo 4g, hồng hoa 12g, chỉ xác 8g, ngưu tất 12g. Ngày uống một thang, sắc uống 3 lần trong ngày, trước khi ăn.

Tâm mạch tắc nghẽn sinh hung tý: do hung dương không mạnh, tâm khí bất túc, huyết mạch tắc nghẽn, hoặc do hàn tà ngưng đọng, huyết mạch không lưu thông, tâm mạch bị chèn ép.            

Triệu chứng: vùng ngực đau âm ỉ, nghẹn hơi, hồi hộp, rêu lưỡi mỏng hoặc nhớt, chất lưỡi tối hoặc đỏ tía, mạch huyền tế. 

Bài thuốc: qua lâu 1 quả, giới bạch 120g, bán hạ 25g, rượu trắng vừa đủ. Ngày một thang sắc uống 3 lần trong ngày, uống trước khi ăn hoặc lúc đói, khi thuốc còn ấm.    

TTND.BS. Nguyễn Xuân Hướng

Đau lưng là bệnh thường gặp ở mọi lứa tuổi, nam gặp nhiều hơn nữ, người cao tuổi mắc bệnh nhiều hơn. Có nhiều nguyên nhân gây bệnh đau lưng: đau do sang chấn, do thoái hóa, vôi hóa đốt sống. Nhưng những dấu hiệu đầu tiên của bệnh thường khiến mọi người vô tình bỏ qua vì cơn đau đến và lại qua đi.

Cột sống và những cơn đau

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến đau lưng, trong đó không loại trừ khả năng nó là triệu chứng của một căn bệnh nghiêm trọng.

Đầu tiên, bệnh đau lưng có thể liên quan đến cột sống. Đặc biệt là với những người thường phải ngồi làm việc lâu và ít hoạt động thể chất. Những người phải ngồi nhiều như làm nghề thêu, dệt, mây tre đan ở nông thôn và những người phải đứng bất động lâu như công nhân đứng máy… cũng hay bị đau lưng. Nếu không có biện pháp phòng ngừa thì lâu dần sẽ bị lệch đốt sống và các gốc thần kinh cột sống. Người bệnh sẽ cảm thấy đau đớn. Đôi khi điều này sẽ dẫn đến mất một phần khả năng lao động, người bệnh sẽ không thể làm một số công việc nào đó.

Không bỏ qua dấu hiệu đau lưng 1
 Khi xuất hiện cơn đau kéo dài và thường xuyên cần đi khám và kiểm tra đầy đủ. Ảnh: H.N

Nếu công việc của bạn buộc phải ngồi nhiều giờ hoặc phải đứng yên một chỗ, hãy cố gắng nửa tiếng một lần, vận động cho giãn gân cốt, ví dụ như đứng lên đi lại trong phòng, hoặc tốt hơn nữa là làm vài động tác thể dục lưng như cúi gập người về phía trước, sang hai bên và ngả ra phía sau… điều đó tránh cho cột sống bị teo.

Và sẽ rất tốt nếu bạn tập thể dục 10 – 15 phút mỗi ngày. Để phòng chống bệnh đau lưng, bạn có thể áp dụng một số biện pháp sau. Nếu bạn bắt buộc phải đứng lâu, hãy cố gắng dồn trọng lượng cơ thể cho cả hai chân, hoặc thay đổi chân thường xuyên.

Nếu phải nâng vật gì đó từ dưới sàn nhà, hãy giữ lưng thẳng. Còn nếu mang vật nặng, hãy dừng lại để nghỉ nhiều hơn và đổi tay. Không nên đi giày cao hơn 4cm.

Không nên nằm ngủ trên bề mặt cứng. Còn nằm trên nệm quá mềm, khi ngủ cột sống của bạn bị võng xuống, khiến cho cơ bắp bị đè nặng. Ban đầu ngủ dậy bạn thấy mỏi lưng, sau đó dẫn đến bệnh đau lưng.

Đau lưng do chế độ ăn uống

Đau phần lưng còn do chế độ ăn uống không hợp lý. Thiếu các chất khoáng như canxi, phốt pho, kali và magiê có thể dẫn tới bệnh loãng xương, làm cho xương cột sống dễ gãy và xốp. Do đó cần phải ăn thường xuyên các loại thực phẩm như pho mát tươi béo, bắp cải, cà rốt, các loại đỗ, đậu côve, gạo, củ cải đỏ, hồ đào…

Chúng ta vẫn có thói quen ăn đường trắng, tuy vậy cũng nên hạn chế bởi cơ thể muốn hấp thụ được thì phải tiêu hao một số dưỡng chất và điều đó làm cho cột sống của chúng ta yếu đi.

Tuy nhiên, không phải khi nào bạn cảm thấy đau ở lưng tức là bệnh của bạn chính là đau lưng. Mà cơn đau đó còn có thể liên quan tới các cơ quan nội tạng. Đau ở tim có thể cảm thấy đau bên vai trái. Còn cơn đau âm ỉ ở vai phải có thể do triệu chứng bệnh của tuyến tụy.

Vì vậy, khi thấy xuất hiện cơn đau kéo dài và thường xuyên, hãy đi khám bác sĩ và tiến hành kiểm tra đầy đủ, không nên tự điều trị. Bởi khi có dấu hiệu đau lưng, chúng ta thường tự chữa bằng cách xoa bóp hoặc mát-xa, mà điều đó nhiều khi lại có hại.

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức

Các nhà khoa học Trường ĐH Maryland (Mỹ) đã nghiên cứu những con chuột và sóc khỉ nghiện cần sa và tìm ra một chất có tên gọi axit kynurenic, có khả năng vô hiệu hóa tác dụng của THC, một thành phần kích thích, gây nghiện của cần sa.

Để tìm hiểu xem axit kynurenic có thực sự giúp cai nghiện cần sa, Schwarcz cùng các đồng nghiệp đã cho chuột và sóc khỉ đồng thời uống thuốc có hàm lượng axit kynurenic cao và thuốc chứa nhiều chất THC. Kết quả cho thấy, chuột và sóc khỉ không hấp thụ nhiều THC vào cơ thể.

Trong một thí nghiệm khác, các nhà khoa học sử dụng những con chuột và sóc khỉ không có THC trong cơ thể rồi bơm vào chúng axit kynurenic và một lượng nhỏ THC. Những con chuột và sóc khỉ này gần như không phản ứng lại với chất gây nghiện THC.

TS. Robert Schwarcz, Giáo sư Khoa Thần kinh – người đứng đầu nghiên cứu cho biết, mặc dù kết quả thí nghiệm trên chuột và sóc khỉ là rất khả quan nhưng họ vẫn cần thêm thời gian nghiên cứu để chắc chắn rằng axit kynurenic sẽ không gây ra tác dụng phụ nguy hiểm ở người.    

 Thu Huệ (Theo LS, 10 /2013)

Nghiên cứu mới đây của Trường ĐH Georgetown (Mỹ) cho thấy, những hợp chất hiện diện trong các loại bông cải trắng, bông cải xanh có khả năng ngăn ngừa nhiễm độc phóng xạ cấp tính.

Kết quả của nghiên cứu trước đây đã chỉ ra trong bông cải có chứa chất 3,3‘-diindolylmethane (DIM), có khả năng phục hồi ADN, giúp ích cho việc phòng ngừa ung thư. Từ đó, TS. Eliot Rosen cùng các đồng nghiệp tại Đại học Georgetown đã nghiên cứu xem liệu hợp chất này có thể phục hồi tổn thương ADN do các vụ nổ hạt nhân hay phóng xạ gây ra? Các nhà nghiên cứu đã để cho 40 con chuột tiếp xúc với một lượng tia bức xạ gamma đủ để gây chết người và 10 phút sau đó, họ tiêm vào 20 con chuột một liều DIM. Kết quả là tất cả những con chuột không được tiêm DIM đều chết ngay sau đó, 60% số chuột được tiêm DIM sống thêm được 30 ngày nữa.

TS. Rosen cho biết thêm trong một nghiên cứu khác về mối liên hệ giữa DIM, tế bào ung thư vú và khả năng phòng ngừa phóng xạ, hợp chất DIM còn có khả năng bảo vệ các tế bào khỏe mạnh trong cơ thể bệnh nhân ung thư, đồng thời cho phép phóng xạ phân hủy các khối u.           

M.H (Theo Health/LS, 10/2013)

Kỳ 1: Những con số biết nói

Trong suy nghĩ của nhiều người hiện nay, y khoa – lĩnh vực trị bệnh cứu người thì phải “chuẩn không cần chỉnh” về mọi phương diện. Thực tế y học thế giới, kể cả những nước có nền y học phát triển cũng không thể tránh khỏi những tai nạn, sai sót chết người trong thực hành y khoa. Để giúp bạn đọc hiểu thêm về lĩnh vực này, chúng tôi giới thiệu bài viết của GS. Nguyễn Tuấn, Đại học New South Wales, Úc.

Bệnh viện là một môi trường đầy những rủi ro, bất trắc. Năm 1995, ông Willie King, 65 tuổi, được đưa vào Bệnh viện Công cộng thuộc Trường đại học Tampa (tiểu bang Florida) để phẫu thuật chân trái; nhưng các bác sĩ đã cắt nhầm chân phải của ông. Ông King trở thành tàn tật suốt đời. Mới đây, một trường hợp nhầm lẫn tương tự như thế cũng ở Mỹ đã được báo chí phanh phui rầm rộ: đó là trường hợp của cụ ông Morson Tarason, 79 tuổi, được vào bệnh viện danh tiếng thuộc Trường đại học Pennsylvania (tiểu bang Philadelphia) để phẫu thuật chữa trị lá phổi bên trái; nhưng thay vì chữa trị lá phổi bị bệnh đó, các bác sĩ đã cắt nhầm lá phổi tốt bên phải! Cụ ông Tarason không hề hay biết gì. May mắn là cụ còn sống sau hai lần phẫu thuật, nhưng tuổi thọ của cụ chắc sẽ bị giảm và cuộc sống của cụ chắc sẽ khó khăn hơn.

Y khoa và tai nạn chết người 1

Một ca phẫu thuật sọ não

Những sai sót này có khi chẳng có liên quan gì đến y đức như báo chí nói “lầm”, mà chỉ là “nhân vô thập toàn” mà thôi. Trong các bi kịch đó, ai cũng có thể là nạn nhân. Bác sĩ có thể thẳng thắn nhận lỗi về phần mình, nhưng chúng ta cũng không nên đổ lỗi cho bác sĩ, bởi vì vấn đề không phải là cá nhân, mà là quy trình hay hệ thống hoạt động trong bệnh viện mới chính là yếu tố gây ra tai nạn. Công chúng có lẽ đã kỳ vọng quá cao vào bác sĩ, nên khi sai sót xảy ra, người ta cảm thấy thất vọng. Người ta quên rằng, bác sĩ cũng là người bình thường, cũng có sai sót trong phán xét, cũng cảm tính, cũng chủ quan, cũng thiếu kiến thức… chứ không phải là những “Superman – Người siêu đẳng”. Nhìn như thế để thấy sai sót trong y khoa là điều khó tránh khỏi.

Đối với phần đông công chúng, những trường hợp như trên, nếu mới nghe qua thì thật là lạ lùng, khó tin và khó hiểu. Lạ là vì một lỗi lầm như thế lại xảy ra trong ngành nghề có chức năng chính là cứu người, chữa trị người bị bệnh và làm dịu bớt những cơn đau thể xác và tinh thần, một ngành nghề hoạt động dựa trên nguyên tắc cơ bản là “trước hết, không hại người”. Ấy thế mà những lỗi lầm tưởng như chuyện không tưởng này lại vẫn thường xảy ra trong bệnh viện trên thế giới. Tuy ở nước ta chưa có nghiên cứu về nhầm lẫn y khoa để rút ra những bài học kinh nghiệm, nhưng ở các nước Tây phương, đặc biệt là Mỹ, vấn đề này đã được nghiên cứu khá tường tận.

Những thống kê nhức nhối

Không ai biết chính xác mỗi năm có bao nhiêu người bị thiệt mạng và thương tích do những “sự cố hay nhầm lẫn” do y khoa gây ra. Nhưng, các nhà khoa học có thể ước đoán con số này. Theo một cuộc điều tra được tiến hành trên hồ sơ bệnh lý của hơn 30 ngàn bệnh nhân được chọn một cách ngẫu nhiên trong 51 bệnh viện vào năm 1984 thuộc tiểu bang New York (Mỹ), nhóm nghiên cứu thuộc Trường đại học Harvard do GS. Lucian Leape dẫn đầu đã khám phá: có 3,7% bệnh nhân trong số hồ sơ trên bị thương tích; trong số 3,7% này, có gần 30% là do cẩu thả trong khi điều trị và 70% là do lỗi lầm của các nhân viên y tế.

Dựa theo kết quả nghiên cứu trên, Viện Y khoa, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Mỹ phỏng đoán rằng, trên toàn nước Mỹ, hàng năm có khoảng 100.000 người Mỹ bị thiệt mạng vì những lỗi lầm liên quan tới điều trị trong bệnh viện. Nhưng theo báo cáo (năm 1999) của GS. Lucian Leape thuộc Trường đại học Harvard, mỗi năm có đến 120 ngàn bệnh nhân kém may mắn chết vì lỗi lầm của giới y tế và nhà thương. Trong số này, có khoảng 7 ngàn người bị chết vì những lỗi lầm về thuốc men. Chi phí hàng năm liên quan tới những trường hợp thương vong này ước tính khoảng 8,8 tỷ USD.

Thực ra, chẳng riêng gì ở Mỹ, lỗi lầm về y khoa cũng xảy ra ở các nước châu Âu và ngay cả Úc châu – một nước thường rất tự hào về an toàn y khoa trong mấy thập niên trước đây. Một nghiên cứu trên hơn 14.000 hồ sơ bệnh lý vào năm 1995 ở Úc, các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Newcastle đã ghi nhận tỷ lệ thương tật là khoảng 8% (tức còn cao hơn ở Mỹ là 3,7%). Trong số 8% này, có đến phân nửa được xem là do nhầm lẫn trong chẩn đoán, điều trị phẫu thuật – tức là những nguyên nhân có thể tránh được. Con số này cũng có nghĩa là hàng năm ở Úc có khoảng 18.000 người bị chết và 50.000 người bị thương tật vĩnh viễn vì những lỗi lầm trong bệnh viện (dân số Úc lúc đó là 17 triệu).

GS. Nguyễn Tuấn 

(Đại học New South Wales, Úc)

Dị ứng thức ăn là một phản ứng miễn dịch của cơ thể khi ăn phải loại thức ăn gây dị ứng. Những phản ứng dị ứng thức ăn có thể xảy ra từ nhẹ đến nặng như: viêm da dị ứng, nổi mề đay, rối loạn tiêu hóa, suy hô hấp, sốc phản vệ đe dọa tính mạng.

Ai dễ bị dị ứng?

Dị ứng thức ăn thường xảy ra ở những người có cơ địa dị ứng và hay kết hợp với các bệnh: viêm mũi dị ứng, viêm kết mạc dị ứng, chàm và hen suyễn, di truyền…

Hiện nay, do các thay đổi của môi trường sống như: biến đổi khí hậu, tiếp xúc với các bệnh truyền nhiễm khi còn nhỏ, các loại chất gây dị ứng và chế độ ăn uống thay đổi.

Protein trong thực phẩm là thành phần gây dị ứng phổ biến nhất. Phản ứng dị ứng xảy ra khi hệ thống miễn dịch của cơ thể xác định nhầm một protein là có hại, cho rằng cơ thể đang bị tấn công nên huy động các tế bào bạch cầu đến bảo vệ và gây ra phản ứng dị ứng.

Đề phòng dị ứng thức ăn 1

Một số loại thức ăn dễ gây dị ứng.

 Các loại thức ăn dễ gây dị ứng

Phổ biến nhất là dị ứng với lạc (đậu phộng), thường gặp ở trẻ em và thường rất nặng. Các loại hạt trái cây như hồ đào, hạt thông, dừa, cây óc chó, vừng… cũng hay gây dị ứng. Các loại thức ăn có nguồn gốc thực vật chứa protein có thể gây dị ứng là: đậu nành, lúa mì, trái cây, rau, bắp, gia vị, màu tự nhiên hay tổng hợp và các chất phụ gia thực phẩm. Lòng trắng trứng gà, sữa bò, sữa dê, sữa cừu, cá, tôm, nghêu, sò, ốc, hến… cũng hay gây dị ứng. Mức độ dị ứng với thức ăn nhẹ hay nặng phụ thuộc vào các yếu tố: di truyền, chủng tộc, độ tuổi. Ở mỗi độ tuổi thường bị dị ứng với một số loại thức ăn nhất định, có thể kéo dài suốt đời nhưng cũng có thể hết dị ứng khi tới độ tuổi nào đó. Nhiều nghiên cứu cho thấy: nồng độ IgE cao nhất trong thời thơ ấu có thể giảm nhanh ở độ tuổi từ 10 – 30 tuổi. Dị ứng các hạt cứng thường xảy ra ở trẻ từ 1 – 7 tuổi, chẳng hạn 6 – 36 tháng tuổi hay dị ứng với hạt vừng (mè). Người trưởng thành hay dị ứng với: nghêu, sò, ốc, hến, tôm, cua, cá và thường rất dai dẳng. Trẻ em 6 – 24 tháng tuổi thường bị dị ứng với lòng trắng trứng gà, sữa bò, lúa mì, đậu nành… Dị ứng thức ăn cũng xảy ra có tính chất địa phương, chẳng hạn dị ứng cá biển thường gặp ở các nơi  ăn nhiều cá ngừ.

Biểu hiện của dị ứng thức ăn

Các triệu chứng dị ứng thức ăn ở mỗi người xảy ra khác nhau. Số lượng thực phẩm đủ để kích hoạt một phản ứng dị ứng cũng thay đổi tùy theo cơ địa mỗi người. Các phản ứng dị ứng thức ăn qua trung gian IgE có khởi phát cấp tính, từ vài giây đến một giờ, gồm các triệu chứng: phát ban, ngứa ở miệng, môi, lưỡi, cổ họng, mắt, da, hoặc các bộ phận khác; sưng (phù mạch) ở môi, lưỡi, mí mắt, hay cả khuôn mặt; khó nuốt, chảy nước mũi hoặc nghẹt mũi, khàn giọng; thở khò khè hoặc khó thở, buồn nôn, nôn mửa, đau bụng do co thắt dạ dày. Nặng nhất là sốc phản vệ, trong đó những người có bệnh hen suyễn hoặc bị dị ứng với lạc (đậu phộng), hải sản rất dễ bị sốc phản vệ.

Một số nghiên cứu cho biết, những trẻ em đã bị dị ứng với protein của sữa bò thường bị dị ứng chéo với các sản phẩm đậu nành. Những người dị ứng với latex (chất cao su tổng hợp) thường hay bị  dị ứng với chuối, kiwi, bơ và một số loại thực phẩm khác.

Điều trị thế nào?

Dị ứng thức ăn hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Nguyên tắc cơ bản điều trị dị ứng thức ăn là tránh dùng các loại thức ăn đã từng gây dị ứng cho bệnh nhân trước đó. Đối với người lần đầu tiên bị dị ứng thức ăn, tốt nhất nên đến cơ sở y tế để được điều trị và hướng dẫn phòng tránh dị ứng lần sau. Điều trị dị ứng thức ăn bao gồm: phương pháp giải mẫn cảm; bệnh nhân bị dị ứng phải tránh tiếp xúc với loại thức ăn đã gây dị ứng cho mình vì nếu tiếp xúc với loại thức ăn gây dị ứng, có thể bị sốc phản vệ rất nguy hiểm. Nếu có điều kiện, những người có cơ địa nhạy cảm, hay bị dị ứng thức ăn, luôn phải mang theo thuốc chống dị ứng để có thể xử trí cấp cứu kịp thời khi xảy ra dị ứng thức ăn.

Phòng tránh dị ứng

Cần thực hiện nhiều biện pháp phối hợp. Theo khuyến cáo của Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ, các bà mẹ nên cho con bú sữa mẹ ít nhất 4 tháng đầu sau sinh sẽ giảm nguy cơ bị dị ứng thức ăn so với các trẻ chỉ nuôi bằng sữa công thức; có thể ngăn ngừa hoặc làm chậm sự xuất hiện của bệnh viêm da thể tạng, tình trạng dị ứng sữa bò và thở khò khè. Do rất khó xác định lượng thức ăn tối thiểu đủ gây ra một phản ứng dị ứng, nên người có tiền sử dị ứng thức ăn cần thận trọng khi ăn uống, nhất là khi đi ra ngoài, ăn thức ăn ở hàng quán. Vì phải tránh ăn những loại thức ăn gây dị ứng nên bệnh nhân có thể bị thiếu dinh dưỡng. Các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe thường đề xuất các nguồn thực phẩm khác thay thế các vitamin và khoáng chất thiết yếu  ít gây dị ứng.

ThS. Nguyễn Xuân Lãm

Dị ứng thức ăn là một phản ứng miễn dịch của cơ thể khi ăn phải loại thức ăn gây dị ứng. Những phản ứng dị ứng thức ăn có thể xảy ra từ nhẹ đến nặng như: viêm da dị ứng, nổi mề đay, rối loạn tiêu hóa, suy hô hấp, sốc phản vệ đe dọa tính mạng.

Ai dễ bị dị ứng?

Dị ứng thức ăn thường xảy ra ở những người có cơ địa dị ứng và hay kết hợp với các bệnh: viêm mũi dị ứng, viêm kết mạc dị ứng, chàm và hen suyễn, di truyền…

Hiện nay, do các thay đổi của môi trường sống như: biến đổi khí hậu, tiếp xúc với các bệnh truyền nhiễm khi còn nhỏ, các loại chất gây dị ứng và chế độ ăn uống thay đổi.

Protein trong thực phẩm là thành phần gây dị ứng phổ biến nhất. Phản ứng dị ứng xảy ra khi hệ thống miễn dịch của cơ thể xác định nhầm một protein là có hại, cho rằng cơ thể đang bị tấn công nên huy động các tế bào bạch cầu đến bảo vệ và gây ra phản ứng dị ứng.

Đề phòng dị ứng thức ăn 1

Một số loại thức ăn dễ gây dị ứng.

 Các loại thức ăn dễ gây dị ứng

Phổ biến nhất là dị ứng với lạc (đậu phộng), thường gặp ở trẻ em và thường rất nặng. Các loại hạt trái cây như hồ đào, hạt thông, dừa, cây óc chó, vừng… cũng hay gây dị ứng. Các loại thức ăn có nguồn gốc thực vật chứa protein có thể gây dị ứng là: đậu nành, lúa mì, trái cây, rau, bắp, gia vị, màu tự nhiên hay tổng hợp và các chất phụ gia thực phẩm. Lòng trắng trứng gà, sữa bò, sữa dê, sữa cừu, cá, tôm, nghêu, sò, ốc, hến… cũng hay gây dị ứng. Mức độ dị ứng với thức ăn nhẹ hay nặng phụ thuộc vào các yếu tố: di truyền, chủng tộc, độ tuổi. Ở mỗi độ tuổi thường bị dị ứng với một số loại thức ăn nhất định, có thể kéo dài suốt đời nhưng cũng có thể hết dị ứng khi tới độ tuổi nào đó. Nhiều nghiên cứu cho thấy: nồng độ IgE cao nhất trong thời thơ ấu có thể giảm nhanh ở độ tuổi từ 10 – 30 tuổi. Dị ứng các hạt cứng thường xảy ra ở trẻ từ 1 – 7 tuổi, chẳng hạn 6 – 36 tháng tuổi hay dị ứng với hạt vừng (mè). Người trưởng thành hay dị ứng với: nghêu, sò, ốc, hến, tôm, cua, cá và thường rất dai dẳng. Trẻ em 6 – 24 tháng tuổi thường bị dị ứng với lòng trắng trứng gà, sữa bò, lúa mì, đậu nành… Dị ứng thức ăn cũng xảy ra có tính chất địa phương, chẳng hạn dị ứng cá biển thường gặp ở các nơi  ăn nhiều cá ngừ.

Biểu hiện của dị ứng thức ăn

Các triệu chứng dị ứng thức ăn ở mỗi người xảy ra khác nhau. Số lượng thực phẩm đủ để kích hoạt một phản ứng dị ứng cũng thay đổi tùy theo cơ địa mỗi người. Các phản ứng dị ứng thức ăn qua trung gian IgE có khởi phát cấp tính, từ vài giây đến một giờ, gồm các triệu chứng: phát ban, ngứa ở miệng, môi, lưỡi, cổ họng, mắt, da, hoặc các bộ phận khác; sưng (phù mạch) ở môi, lưỡi, mí mắt, hay cả khuôn mặt; khó nuốt, chảy nước mũi hoặc nghẹt mũi, khàn giọng; thở khò khè hoặc khó thở, buồn nôn, nôn mửa, đau bụng do co thắt dạ dày. Nặng nhất là sốc phản vệ, trong đó những người có bệnh hen suyễn hoặc bị dị ứng với lạc (đậu phộng), hải sản rất dễ bị sốc phản vệ.

Một số nghiên cứu cho biết, những trẻ em đã bị dị ứng với protein của sữa bò thường bị dị ứng chéo với các sản phẩm đậu nành. Những người dị ứng với latex (chất cao su tổng hợp) thường hay bị  dị ứng với chuối, kiwi, bơ và một số loại thực phẩm khác.

Điều trị thế nào?

Dị ứng thức ăn hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Nguyên tắc cơ bản điều trị dị ứng thức ăn là tránh dùng các loại thức ăn đã từng gây dị ứng cho bệnh nhân trước đó. Đối với người lần đầu tiên bị dị ứng thức ăn, tốt nhất nên đến cơ sở y tế để được điều trị và hướng dẫn phòng tránh dị ứng lần sau. Điều trị dị ứng thức ăn bao gồm: phương pháp giải mẫn cảm; bệnh nhân bị dị ứng phải tránh tiếp xúc với loại thức ăn đã gây dị ứng cho mình vì nếu tiếp xúc với loại thức ăn gây dị ứng, có thể bị sốc phản vệ rất nguy hiểm. Nếu có điều kiện, những người có cơ địa nhạy cảm, hay bị dị ứng thức ăn, luôn phải mang theo thuốc chống dị ứng để có thể xử trí cấp cứu kịp thời khi xảy ra dị ứng thức ăn.

Phòng tránh dị ứng

Cần thực hiện nhiều biện pháp phối hợp. Theo khuyến cáo của Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ, các bà mẹ nên cho con bú sữa mẹ ít nhất 4 tháng đầu sau sinh sẽ giảm nguy cơ bị dị ứng thức ăn so với các trẻ chỉ nuôi bằng sữa công thức; có thể ngăn ngừa hoặc làm chậm sự xuất hiện của bệnh viêm da thể tạng, tình trạng dị ứng sữa bò và thở khò khè. Do rất khó xác định lượng thức ăn tối thiểu đủ gây ra một phản ứng dị ứng, nên người có tiền sử dị ứng thức ăn cần thận trọng khi ăn uống, nhất là khi đi ra ngoài, ăn thức ăn ở hàng quán. Vì phải tránh ăn những loại thức ăn gây dị ứng nên bệnh nhân có thể bị thiếu dinh dưỡng. Các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe thường đề xuất các nguồn thực phẩm khác thay thế các vitamin và khoáng chất thiết yếu  ít gây dị ứng.

ThS. Nguyễn Xuân Lãm

kho tho COPD

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (Chronic Obstructive Pulmonary Disease – COPD) có thể gây khó thở, mệt mỏi, tiết nhiều đàm và ho. Nhiều người bệnh COPD mắc hầu hết, nếu không nói tất cả, các dấu hiệu và triệu chứng này.

 

Tại sao khó thở là một triệu chứng của COPD?

Khó thở là một triệu chứng thường gặp của COPD do tắc nghẽn trong đường thở khiến cho việc hít vào và thở ra khỏi phổi trở nên khó khăn. Điều này gây ra cảm giác khó thở. Thật không may, người ta cố gắng tránh khỏi cảm giác khó thở bằng cách ngày càng thụ động hơn. Kế hoạch này ban đầu có thể hiệu quả, nhưng theo thời gian nó dẫn đến một vòng lẩn quẩn: tránh vận động dẫn đến hư người và điều này lại dẫn đến càng khó thở hơn khi vận động.

 

Tôi có thể làm được gì để điều trị khó thở?

Nếu khó thở của bạn là hậu quả của COPD, bạn có thể làm một số việc sau:

+ Sử dụng tất cả các loại thuốc một cách đều đặn theo toa bác sĩ. Nếu bạn nghĩ các thuốc của bạn không giúp bạn bớt khó thở, hãy nói chuyện với thầy thuốc, nhưng không được ngưng thuốc.

+ Khởi động một chương trình thể dục thể thao đều đặn để tăng cường sức lực của bạn.

+ Học cách thở theo nhịp và các cách hô hấp hiệu quả hơn khi vận động.

Các chương trình phục hồi chức năng hô hấp đưa ra một chương trình thể dục và dạy bạn cách kiểm soát khó thở. Các nhóm hỗ trợ hô hấp đưa ra nhiều thông tin tổng quát hơn.

 

Khi nào tôi nên gọi cho thầy thuốc về khó thở của tôi?

Nếu bạn mới bị khó thở, hoặc khi khó thở trở nặng vì lý do không rõ, hãy gọi thầy thuốc của bạn. Hãy mô tả cho thầy thuốc biết khi nào khó thở bắt đầu, nó kéo dài trong bao lâu và điều gì làm nó nhẹ hơn hoặc nặng hơn.

 

Mệt mỏi có phải là một triệu chứng của COPD?

Mệt mỏi là một triệu chứng thường gặp của COPD. Mệt mỏi khiến cho người ta không hăng hái hoạt động, dẫn đến mất nhiều năng lượng hơn, sau đó mệt mỏi hơn. Khi vòng xoáy này bắt đầu, đôi khi khó mà phá vỡ nó.

 

Tôi có thể làm gì để nâng mức năng lượng của mình?

Nếu bạn và thầy thuốc thấy rằng sự mệt mỏi của bạn là do COPD, hãy bắt đầu một chương trình thể dục thể thao đều đặn để tăng cường sức lực. Hãy học cách thở theo nhịp và các phương pháp hít thở ít gắng sức hơn trong khi vận động. Hãy xem xét việc đến với một nhóm hỗ trợ hô hấp hoặc ghi tên vào một chương trình phục hồi chức năng hô hấp.

 

Khi nào tôi nên gọi thầy thuốc về sự mệt mỏi của tôi?

Hãy gọi thầy thuốc khi sự mệt mỏi bất ngờ không mất đi. Mô tả lúc nào mệt mỏi bắt đầu, nó kéo dài bao nhiêu lâu và điều gì khiến cho mệt mỏi giảm đi hoặc tăng lên.

 

Có phải tiết nhiều đàm là một triệu chứng của COPD?

Nhiều đàm có thể là một triệu chứng của COPD. Bình thường đường hô hấp sản sinh vài chục gram chất nhầy một ngày. Cần phải có chất nhầy để giữ đường hô hấp ẩm ướt. Chất nhầy này bình thường được nuốt vào dù bạn không biết mình đang nuốt. Tuy nhiên, khi phổi bị nhiễm trùng hoặc bị kích thích, chúng cố gắng tự bảo vệ bằng cách sản xuất nhiều chất nhầy hơn bình thường, thường khi khiến bạn ho.

 

Tôi có nên quan sát đàm tôi đã khạc ra?

Đàm cần được khạc ra và bạn cần quan sát nó. Nuốt một ít đàm không gây ra vấn đề gì cho sức khỏe, nhưng quan sát đàm của bạn có thể cho bạn biết cái gì đang xảy ra trong phổi của bạn. Tốt nhất là khạc đàm ra một khăn giấy để bạn có thể biết được màu sắc, độ nhầy và số lượng đàm. Nên mô tả đàm của bạn cho thầy thuốc.

 

Cách nào tôi làm giảm số lượng chất nhầy sinh ra trong phổi?

Nếu bạn hút thuốc, hãy ngưng hút. Mọi người nên tránh khói thuốc là và hạn chế phơi nhiễm với các thứ khác có thể kích thích phổi như là chất ô nhiễm và chất nặng mùi (sơn, chất tẩy và dầu thơm). Ngoài việc tránh chất kích thích, các loại thuốc như thuốc dãn phế quản, thuốc ho (khiến cho đàm dễ bị khạc ra ngoài – expectorants), thuốc long đàm (làm loãng đàm – mucolytics) và các thuốc kháng sinh (để điều trị nhiễm trùng phổi) có thể được sử dụng.

 

Khi nào tôi nên gọi bác sĩ về những thay đổi trong đàm?

Đối với người mắc bệnh COPD, quan trọng là phải liên lạc với thầy thuốc ngay sau khi nhận thấy một thay đổi trong đàm của bạn. Thông thường, một thay đổi về màu sắc, độ nhầy và/hoặc số lượng đàm là một dấu hiệu cho biết có gì đó bất thường trong phổi của bạn. Hãy gọi cho thầy thuốc nếu bạn khạc ra máu hoặc đàm có màu vàng đậm hoặc xanh lá cây.

 

Ho có phải là một triệu chứng của COPD?

Ho là một triệu chứng thường gặp của COPD. Ho có thể là kết quả của việc phổi cố gắng loại bỏ chất nhầy dư thừa hoặc nó là một cách để đường hô hấp tự bảo vệ khỏi chất kích thích bị hít vào. Ho là một việc tốt khi nó đẩy đàm ra khỏi phổi, bởi vì nếu đàm ứ nhiều trong đường hô hấp, nó có thể ngăn không cho oxy vào trong máu hoặc có thể gây ra viêm phổi. Vì lý do đó, thầy thuốc có thể không cho thuốc để ngăn bạn ho.

 

Tôi có thể làm gì để ngừng ho?

Ho do hút thuốc có lẽ sẽ ngưng khi bạn ngưng hút thuốc. Ho do các chất kích thích đôi khi có thể kiểm soát được bằng thuốc ho dạng giọt. Uống nhiều nước, làm loãng đàm, có thể hữu ích khi đàm đặc và dính. Nếu nước không làm giảm ho, các trị liệu khác bao gồm thuốc dãn phế quản, thuốc ho và thuốc tan đàm có thể được sử dụng. Ho khiến khó thở tăng lên có thể cần dùng đến thuốc dãn phế quản dạng hít (để mở rộng đường hô hấp) hoặc steroid dạng hít (để làm giảm sưng đường hô hấp). Ho mà không có đàm hoặc trở nặng và khó kiểm soát có thể được kiểm soát bằng các thuốc ức chế ho do thầy thuốc của bạn kê toa.

 

Khi nào tôi nên gọi cho thầy thuốc về ho của tôi?

Hầu hết ho không nguy hiểm. Bạn nên gọi cho thầy thuốc nếu bạn nhận thấy bất cứ dấu hiệu nào sau đây: ho không rõ nguyên nhân; ho dữ dội; ho khiến bạn bị xóa trí nhớ một đoạn (black out).

 

Nguồn: American Thoracic Society
http://patients.thoracic.org/information-series/en/resources/signs-and-symptoms-of-copd.pdf
Trần Thanh Xuân dịch

 

Hội chứng cai rượu là một loạt các triệu chứng xuất hiện sau khi bỏ rượu hoặc uống giảm số lượng đáng kể so với trước ở người nghiện arượu. Hội chứng cai rượu biểu hiện ở nhiều mức độ từ nhẹ đến nặng, thậm chí rất nặng và có thể nguy hiểm đến tính mạng.

Hội chứng cai rượu là gì?

Ở người nghiện rượu có tình trạng “quen rượu” hay nói khác đi, các cơ quan trong cơ thể đặc biệt là hệ thần kinh đã trở nên phụ thuộc rượu. Rượu khi vào cơ thể đã làm giảm hoặc mất tác dụng của chất Gamma aminobutiric acide- là một chất ức chế thần kinh, làm ảnh hưởng tới các chất dẫn truyền thần kinh khác như: glutamate, adrenaline, noradrenaline và trục nội tiết dưới đồi – tuyến yên. Khi ngừng hoặc giảm uống rượu cơ thể không kịp thích nghi nên kết quả là hàng loạt triệu chứng của hội chứng cai rượu xảy ra.

Điều trị hội chứng cai rượu 1

Bên cạnh việc chủ động bỏ rượu (chỉ ở một số rất ít người), có nhiều yếu tố khiến cho người nghiện bỏ rượu đột ngột dẫn đến xuất hiện hội chứng cai rượu như bệnh nhân bị sốt virut, nhiễm khuẩn (hay gặp viêm phổi, nhiễm trùng tiết niệu, viêm màng não mủ, nhiễm khuẩn huyết…), xuất huyết tiêu hóa do giãn vỡ tĩnh mạch thực quản ở bệnh nhân xơ gan rượu, chấn thương sọ não, tụ máu dưới màng cứng mạn tính, các stress trong gia đình và xã hội… Các yếu tố này có thể cộng hưởng với nhau khiến cho bệnh nhân đang uống một lượng rượu rất lớn đột ngột phải dừng khiến cho cơ thể không kịp thích nghi.

Đa số các trường hợp nghiện rượu nặng là những người nghèo nên rượu họ uống hàng ngày không phải là rượu tinh khiết mà thường là rượu có nguồn gốc xuất xứ không rõ ràng, lượng aldehyde trong những loại rượu này có nồng độ rất cao và trong nhiều trường hợp còn có chứa cả methanol, một loại rượu cực độc chỉ được dùng làm dung môi trong công nghiệp, vì vậy, hội chứng cai rượu ở những đối tượng này thường kèm thêm những tổn thương nặng ở các cơ quan như gan, thận, mắt, tim, thần kinh với một tình trạng suy dinh dưỡng hết sức nặng nề.

Điều trị hội chứng cai rượu 2
 Uống rượu nhiều gây hại cho gan. (ảnh minh họa)

Biểu hiện như thế nào?

Thông thường, các triệu chứng của hội chứng cai rượu xuất hiện sau khi giảm hoặc dừng uống rượu 12 – 24 giờ. Đầu tiên, bệnh nhân thấy mệt mỏi, vã mồ hôi, nhịp tim nhanh, đánh trống ngực, run tay, buồn nôn, nôn mửa, đau đầu mất ngủ, ác mộng, tăng huyết áp, hạ thân nhiệt, tê bì hai chi dưới, chuột rút, đau mỏi các cơ, bỏ ăn hoặc ăn uống kém. Nhiều bệnh nhân có triệu chứng co giật cục bộ hoặc toàn thân, trong ngày có thể tới 4 – 5 cơn và bệnh nhân nghiện rượu càng nặng, càng lâu thì cơn co giật càng lớn và kéo dài. Sau đó vài ngày, bệnh nhân xuất hiện hoang tưởng, ảo giác, kích thích rung giật, nói lảm nhảm, sảng run, mất định hướng. Kèm theo các triệu chứng của hội chứng cai rượu là một tình trạng suy kiệt nặng; nhiễm khuẩn ở một số nơi như đường hô hấp, tiết niệu; các triệu chứng của xơ gan: hoàng đản, cổ chướng, tuần hoàn bàng hệ, lách to và các biểu hiện của tiền hôn mê gan, hôn mê gan thực sự khiến cho bệnh cảnh lâm sàng của hội chứng cai rượu thêm nặng nề và phức tạp.

Điều trị hội chứng cai rượu 3
 Điều trị cho bệnh nhân bị ngộ độc rượu tại Trung tâm Chống độc
 (Bệnh viện Bạch Mai). Ảnh: PV

Điều trị và dự phòng

Dù trong bất cứ trường hợp nào, khi đã có hội chứng cai sau khi giảm hoặc dừng uống rượu đều chứng tỏ bệnh nhân đã nghiện rượu một thời gian rất dài hay nói khác đi, bệnh nhân đã bị “ngộ độc rượu mạn tính” và các cơ quan trong cơ thể đã bị tổn thương nặng nề do rượu. Vì vậy, việc điều trị hội chứng cai rượu sẽ đòi hỏi nhiều thời gian và công sức. Đầu tiên, các thuốc điều trị triệu chứng sẽ được sử dụng như chống kích thích, co giật, run bằng thuốc nhóm benzodiazepin: diazepam, lorazepam hoặc phenytoin… uống hoặc tiêm (bắp hoặc tĩnh mạch). Trong trường hợp bệnh nhân có hoang tưởng, ảo giác có thể cho thêm haloperidol uống và co giật nhiều thì phối hợp thêm carbamazepine. Một số các thuốc khác cũng được sử dụng phối hợp điều trị như barbiturates, clonidine, flumazenil, cafein và thậm chí cả… rượu (với mục đích làm giảm triệu chứng thiếu rượu, sau đó sẽ giảm dần liều) trong một số ca nặng. Bên cạnh đó, hết sức cần thiết đảm bảo cho bệnh nhân một chế độ dinh dưỡng tốt qua ăn uống hoặc truyền dịch, bồi phụ đủ các chất điện giải như kali, natri, canxi, các yếu tố vi lượng, các vitamin như B1, B6, B12…. Và điều trị những bệnh lý kèm theo như nhiễm khuẩn, chấn thương, tai biến mạch não, cơn tăng huyết áp, hội chứng não gan.

Việc dự phòng hội chứng cai rượu tập trung vào việc bỏ rượu chủ động với số lượng ít dần và có phối hợp với sử dụng thuốc theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa thần kinh – tâm thần – chống độc. Ở người nghiện rượu, nên chú ý phòng chống các yếu tố nguy cơ như đã mô tả ở trên và khi xuất hiện các biểu hiện của hội chứng cai nên khẩn trương đến ngay các cơ sở y tế gần nhất để được tư vấn và xử trí kịp thời.

Tiến sĩ, Bác sĩ Vũ Đức Định

Ngày nay, khi người ta vội vàng lo đóng quan tài cho người quá cố thì trước đây, con người cẩn thận thực hiện những nghi lễ khám nghiệm tử thi. Và đôi khi ngay cả người chết cũng có nhiều câu chuyện thú vị để kể. Mời quý độc giả cùng khám phá những câu chuyện bí ẩn bên dưới đây.

La Doncella

La Doncella còn có tên khác là Maiden, là xác ướp còn nguyên vẹn tuyệt hảo của một cô gái Inca, 15 tuổi, cô được cho là nạn nhân của một vụ hiến tế cách đây hơn 500 năm. Xác ướp được tìm thấy tại ngọn núi lửa Llullaillaco (Argentina), có độ cao trên bề mặt nước biển 6.700m. Xác của La Doncella cùng với xác ướp 2 trẻ em Inca khác đã được tìm thấy vào năm 1999. Trước khi chết, La Doncella được cho là đã mắc bệnh lao hoặc viêm phổi mạn tính. Người ta tin rằng, cô gái đã chết vì thân nhiệt hạ thấp. Khám nghiệm dạ dày của La Doncella còn tìm thấy bột ngô, một vài mảnh lá côca trong miệng. Được biết, người Inca thời xưa có thói quen nhai lá côca để chống say độ cao.

Chuyến thám hiểm những xác ướp Franklin

Năm 1850, khi một đoàn thám hiểm tình cờ đi ngang qua hòn đảo Beechey đã phát hiện 3 ngôi mộ bí ẩn, bên trong các nấm mồ là nơi an nghỉ của John Torrington, John Hartnell và William Braine. Hơn 100 năm sau đó, vào năm 1984, một nhóm các nhà nhân chủng học đã đến đảo Beechey để tiến hành các xét nghiệm pháp y trên các bộ xương bí ẩn. Sau khi khai quật, họ sững sờ khi nhận ra cả 3 cái xác đều được bảo quản nguyên vẹn nhờ một phần từ lớp băng vĩnh cửu trong vùng lãnh nguyên. Vì bảo quản nguyên vẹn nên các nhà nhân chủng học đã giải mã nguyên nhân cái chết của 3 người đàn ông đã chết cách đó 138 năm. Ngoài các dấu hiệu của bệnh lao và viêm phổi, họ còn tìm thấy một lượng chì trong các xác chết. Lượng chì thật đáng kinh ngạc, ước tính mỗi người đã tiêu thụ khoảng 3,3 miligram/ngày trong suốt 8 tháng liên tục.

Xác ướp kể chuyện 1
 Xác ướp cô gái 500 năm tuổi tại La Doncella.

Dashi-Dorzho Itigilov

Lúc sinh thời, Dashi-Dorzho Itigilov là một thiền sư. Một đêm vào năm 1927, Itigilov dặn dò các đồ đệ rằng thời gian này ông sắp chuyển sang một cuộc sống khác và yêu cầu họ thiền định với mình. Trong khoảng giữa buổi thiền định, thiền sư Itigilov lặng lẽ qua đời. Ngay sau đó, thiền sư được chôn cất theo tư thế ngồi thẳng tọa thiền hoa sen và phủ lên nhục thể của nhà sư một cái hộp làm bằng gỗ thông. Vài năm sau, người ta khai quật xác của nhà sư mới khám phá ra rằng, xác của ngài vẫn còn nguyên vẹn và vẫn đang trong tư thế tọa thiền hoa sen. Sau đó, người ta tái an táng nhục thể của thiền sư, quan tài của ngài được bọc một lớp muối. Lần gần đây nhất, trước sự chứng kiến của các nhà khoa học và chuyên gia pháp y, người ta lại khai quật mộ của thiền sư, và thật kỳ lạ, nhục thể của ngài vẫn còn nguyên vẹn. Qua phân tích các mẫu da và tóc của thiền sư Itigilov cho thấy, các tế bào của ngài vẫn còn khá tốt như của người mới chết trong vòng 36 giờ, trong khi ngài đã qua đời cách đó 100 năm.

Xác ướp ướt

Vào năm 2011, các công nhân xây dựng ở Trung Quốc trong lúc đang đào móng để chuẩn bị xây dựng một tuyến đường mới đã phát hiện xác ướp của một phụ nữ sống cách đây khoảng 600 năm, vào đời nhà Minh. Bất chấp việc đã chết hàng trăm năm và dù được chôn xuống lòng đất ẩm ướt, thế nhưng xác vẫn được bảo quản một cách nguyên vẹn. Có vài món đồ trang sức tinh xảo được tìm thấy ngay trên xác ướp của bà, bao gồm một chiếc nhẫn ngọc bích khá lớn được đeo ở ngón tay giữa của bà và một chiếc trâm cài tóc bằng bạc vẫn còn đính trên đầu. Xác ướp này quả là điều bí ẩn. Nó không giống với bất kỳ xác ướp nào được tìm thấy ở Trung Quốc từ trước đó và theo nhà khảo cổ học Victor Mair, xác ướp phụ nữ thuộc về một tầng lớp cao quý trong xã hội phong kiến. Đáng ngạc nhiên hơn khi xác chết trở thành xác ướp hết sức tự nhiên, ngay tại hố nước nơi bà đã được an nghỉ. Trong nước có chứa rất ít ôxy, có lẽ vì vậy mà nó đã làm chậm lại sự phát triển của vi khuẩn trên xác, đồng thời giúp cho xác được bảo tồn nguyên vẹn.

Công chúa Ukok

Trong khi bản thân cái xác đã không được bảo quản tốt thì những hình xăm còn lưu lại trên da là thứ rất đáng quan tâm. Những hình xăm vẫn còn nguyên vẹn, bất chấp chủ nhân đã chết cách đây hơn 2.500 năm. Khi qua đời, công chúa Ukok mới 25 tuổi. Qua nghiên cứu hình xăm cho thấy, nó bao gồm các hình động vật như hươu nai. Con hươu trong hình xăm là loài nai gạc Capricorn và cái mỏ y như của con quái vật mình sư tử đầu chim. Các nhà nghiên cứu tin rằng, Ukok là một thành viên của bộ lạc Pazyryk, một cộng đồng sinh sống trong rặng núi Siberia. Những cư dân du mục này có niềm tin sâu xa rằng các hình xăm giúp cho họ tìm thấy nhau sau khi sang thế giới bên kia. Vì lý do này mà hình xăm của họ thường khá cầu kỳ, tinh xảo trong thế giới thời đó.

Ramesses III

Ngoài những công trình kiến trúc kim tự tháp đồ sộ thì ấn tượng khiến cho cả thế giới hết sức ngưỡng mộ khi nói đến Ai Cập chính là những xác ướp được bảo tồn một cách nguyên vẹn, mở cánh cửa để đi vào quá khứ. Trong thời kỳ đó, có một vài xác ướp khá nổi tiếng, chẳng hạn như vua Tut và Seti I, song đáng quan tâm nhất là xác ướp của Ramesses III, cũng là xác ướp bí ẩn nhất. Ramesses III từng trị vì Ai Cập trong suốt triều đại thứ 20. Trong suốt hơn một thiên niên kỷ, các học giả đã tranh luận khá gay gắt về nguyên nhân nào đã dẫn đến cái chết của Ramesses III. Rất may là nhờ vào những phương pháp khác nhau trong việc bảo quản xác mà thi hài của nhà vua đã được bảo tồn nguyên vẹn. Nhiều câu hỏi đã được trả lời ngay sau khi lăng mộ của Ramesses III được khai quật. Thông qua chụp CT cho thấy, có một vết cắt sâu trên cổ họng ông, dài 7cm và ngay xương sống của nhà vua. Vết cắt này không chỉ gây tổn hại cho các mạch máu chính mà còn ảnh hưởng cả khí quản và thực quản, làm chấm dứt mạng sống của một trong những vị pharaoh hùng mạnh nhất Ai Cập. Nhiều người tin rằng, Ramesses III đã bị hạ sát bởi chính những người con trai của ông.

Nguyễn  Thanh Hải (Theo LV, 12/10/2013)

Cây nhội còn có tên thu phong, nhội tía, quả cơm nguội… Tên khoa học: Bischofia javanica Blume. Theo Đông y, nhội vị hơi cay, chát, tính mát, tác dụng hành khí, hoạt huyết, tiêu thũng, giải độc. Người ta dùng ngọn, lá non thái nhỏ, rửa kỹ xào hay nấu canh; một số nơi dùng lá non ăn gỏi cá.

Cây nhội được dùng làm thuốc chữa các bệnh sau:

Chữa tiêu chảy: 20 – 40g lá khô hay 40 – 60g lá tươi sắc lấy nước uống trong ngày.

Cây nhội -  Vị thuốc hoạt huyết tiêu thũng 1

Chữa khí hư, bạch đới, viêm âm đạo, lở ngứa: lá tươi 50 – 80g sắc lấy nước để uống hoặc sắc lấy nước đặc, thêm ít phèn chua hay hòa thêm 1 – 2 viên klion (metronidazole) để ngâm rửa. Có thể nấu cao đặc để bôi.

Chữa dị ứng do thuốc mỡ, tiếp xúc hóa chất, lở ngứa như ghẻ ruồi do tắm nước bẩn (nước ao tù): lá quả cơm nguội 2 phần, nghể răm 1 phần, nấu nước để tắm, tắm khi nước còn nóng, dùng lá chà xát khắp người.

Chữa dị ứng, mẩn ngứa, mụn nhọt: lá nhội 50g, lá cây dâu gia 50g. Giã nhỏ, trộn với ít dấm, bôi.

Chữa viêm gan siêu vi: lá nhội tươi 60g, hợp hoan bì 15g, rau má 30g, đường phèn 15g, sắc nước uống.

Tại Trung Quốc, người ta đã dùng vỏ thân, rễ cây trị phong thấp, đau xương; nghiên cứu lá cây chữa bệnh ung thư đường tiêu hóa, ung thư dạ dày, chữa viêm gan truyền nhiễm, viêm phổi, viêm hầu họng, trẻ em cam tích. Dùng ngoài trị mụn nhọt và lở ngứa…

TS. Nguyễn Đức Quang

Mưa lớn, bão lũ làm các nguồn nước bị ô nhiễm nghiêm trọng, độ ẩm cao, thiếu ánh nắng mặt trời khiến quần áo, chăn màn bị ẩm mốc… Đó là những yếu tố dễ phát sinh nhiều bệnh tật như tiêu chảy, bệnh đường hô hấp, bệnh ngoài da, đau nhức xương khớp… Sau đây là một số bài thuốc Nam phòng trị các bệnh này.

Cảm lạnh

Mưa nhiều, độ ẩm cao, nhiệt độ thấp, cơ thể bị nhiễm phong hàn, người bệnh có biểu hiện người lạnh, chân tay lạnh, rét run, tim đập nhanh nhỏ, huyết áp xuống hơi thấp. Dùng ngay bài thuốc: phòng sâm 20g, hoàng kỳ 16g, bạch truật 16g, sinh khương 6g, quế chi 10g, thiên niên kiện 10g, cam thảo 15g, trần bì 12g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần, uống nóng. Hoặc dùng bài: nhân sâm 15g, hoàng kỳ (sao mật) 16g, đương quy 16g, bạch truật 16g, ngũ gia bì 16g, thiên niên kiện 10g, quế chi 8g, phụ tử 6g, chích thảo 15g, sinh khương, đại táo 7 quả, ngũ vị 16g. Sắc uống ngày 1 thang, uống nóng. Người bệnh cần được ủ ấm, dùng dầu gió xoa vào vùng rốn, vùng lưng, bàn tay bàn chân.

Bệnh ngoài da

Mưa bão khiến môi trường ẩm ướt, thiếu ánh nắng mặt trời, một số vùng da bị nấm gây ngứa ngáy, nổi tịt, gãi nhiều làm da bị trầy xước, tại vùng tổn thương da có màu đỏ, sần da, tiết dịch… Nấm có thể lây lan nhanh nếu không được chữa trị kịp thời. Lúc này cần dùng những bài thuốc: ngân hoa, liên kiều, nam hoàng bá, kinh giới, lá dành dành mỗi vị 12g; bạch chỉ 10g, củ dong10g, hoàng liên 8g, sài đất 16g, lá đơn đỏ 16g, chi tử 12g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Dùng liên tục 5 – 7 ngày cho tới khi hết các triệu chứng. Đồng thời kết hợp dùng bài thuốc rửa: kinh giới, lá sả, lá mít, lá tía tô mỗi vị 20g; kim ngân 12g, thiên niên kiện 10g, lá lốt 10g, lá xương sông 10g. Các vị cho vào ấm, đổ nước 500ml, đun sôi để ấm. Dùng nước này rửa nơi tổn thương ngày 2 lần. Công dụng: chống ngứa, chống nấm, làm khô nơi tổn thương làm da mau lành.

Thuốc Nam chữa bệnh thường gặp sau mưa, bão 1

Đau bụng tiêu chảy

Mưa lớn, nước lũ tràn ngập làm ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt, gây rối loạn tiêu hóa với biểu hiện chủ yếu là nôn mửa, tiêu chảy, đau bụng… Dùng ngay một trong những bài thuốc:

Bài 1: búp ổi 15g, lá khổ sâm 15g, lá đinh lăng 19g, bạch truật 12g, trần bì 10g, cỏ sữa 20g, cỏ mực (sao) 20g, cây cứt lợn 16g, cam thảo đất 16g. Sắc uống trong ngày, có thể gia thêm 3 – 4 lát gừng.

Bài 2: hoài sơn 16g, liên nhục 16g, bạch truật 16g, trần bì 10g, cỏ mực 16g, sinh khương 4g, lương khương 10g, tất bát 12g, hậu phác 12g, ngũ gia bì 16g, lá đắng 12g, lá nhót 16g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần.

Nếu tiêu chảy có lẫn máu mũi, dùng: cỏ mực sao đen 20g, kinh giới sao đen 18g, chi tử sao đen 16g, hoài sơn 16g, nam hoàng bá 16g, bạch truật 16g, bạch linh 12g, cam thảo 12g, đương quy 12g, cát căn 16g. Sắc uống ngày 1 thang, uống liên tục 5 – 7 ngày cho tới khi các triệu chứng thuyên giảm.

Tiếp theo có thể cho người bệnh uống nước gạo tẻ (50 – 80g) sao cho tới khi hạt gạo sậm màu là được; khoai lang thái lát phơi khô sao vàng 40g. Cho 2 vị vào ấm, đổ 2 lít nước, đun sôi để làm nước uống trong ngày. Công dụng: bổ tỳ, cầm tả, bổ sung lượng nước cho cơ thể.

Thuốc Nam chữa bệnh thường gặp sau mưa, bão 2
 Kinh giới, dành dành chữa bệnh mẩn ngứa.

Viêm khớp, sưng khớp

Mưa lạnh, ẩm ướt, phong hàn xâm nhập làm khí huyết bị trở trệ, kinh lạc ách tắc, cân cơ mất sự thông sướng làm xương khớp đau mỏi ảnh hưởng đến sức khỏe và sinh hoạt hằng ngày của người bệnh. Phép chữa trị lúc này là khu phong tán hàn, thông kinh hoạt lạc, bồi bổ can thận. Dùng một trong các bài:

Bài 1: nam tục đoạn 18g, độc hoạt 16g, thạch xương bồ 16g, ngải diệp 12g, thổ phục linh 20g, hy thiêm 16g, tang ký sinh 16g, ngũ gia bì 16g, kê huyết đằng 16g, quế chi 10g, thiên niên kiện 10g, đương quy 16g, hà thủ ô 16g, cẩu tích 12g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần, uống sau bữa ăn.

Bài 2: ngải diệp 12g, tất bát 12g, xuyên khung 10g, tục đoạn 18g, xấu hổ 20g, thổ phục linh 20g, bưởi bung 16g, cát căn 16g, kinh giới 16g, kê huyết đằng 16g, quế chi 6g, thiên niên kiện 10g, trần bì 12g, cẩu tích 12g, tang chi 16g, đinh lăng 16g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Dùng 10 – 12 ngày là một liệu trình.

Nếu mất ngủ, gia: hắc táo nhân 16g, lá vông 20g.

Nếu lạnh bụng, đi ngoài phân lỏng, gia: sinh khương 6g, bạch truật 12g, phụ tử 5g.

Cơ thể suy nhược, da xanh, môi nhợt, gia: nhân sâm 10g, khởi tử 12g, bạch thược 10g, đại táo 5 quả, thục địa 10g.

Lương y Trịnh Văn Sỹ