Author Archives: dungntk

Các nhà khoa học thuộc Đại học Michigan (Mỹ) đã tiến hành nghiên cứu ở những chị em ngủ ngáy trước và trong thời gian mang thai. Kết quả cho thấy, 70% bà mẹ ngáy trong khi ngủ có nguy cơ sinh con nhỏ hơn so với người ngủ không ngáy.

Trong nghiên cứu cũng cho thấy, những người ngủ ngáy mạn tính cũng có nguy cơ sinh mổ tăng gấp hai lần so với người ngủ không ngáy.

Theo nghiên cứu được kiểm tra ở 1.673 phụ nữ mang thai, trong đó có 35% thường xuyên ngáy ngủ. Các chuyên gia phân tích rằng, ngủ ngáy có thể là một trong những dấu hiệu của các vấn đề hô hấp, từ đó có thể tước đi khí ôxy của thai nhi.

Minh Trang (Theo Daily mail, 11/2013)

Theo một nghiên cứu mới đây của Đại học Y tế công cộng Harvard (Mỹ) thì một số loại rau củ có thể giúp cải thiện chất lượng tinh trùng. Nghiên cứu tập trung vào hai khía cạnh chính là khả năng di chuyển của tinh trùng và hình thái tinh trùng.

Các nhà khoa học xem xét chế độ ăn của gần 400 người trẻ tuổi ở New York và phân tích mẫu tinh trùng của họ thấy rằng, tinh trùng của những người ăn thường xuyên các loại rau củ quả chứa 3 chất chống ôxy hóa dưới đây có hình thái và khả năng di chuyển tốt hơn. Đó là beta-caroten (có trong cà rốt, rau diếp, rau chân vịt), lutein (có trong rau diếp và rau chân vịt) và lycopene (có trong cà chua).

Tinh trùng của những người ăn nhiều rau củ chứa beta-caroten và lutein có khả năng di chuyển cao hơn 6,5%, trong khi ở những người ăn nhiều chất lycopen hình thái tinh trùng cải thiện 1,7%.

Mặc dù các nhà khoa học vẫn chưa chứng minh được nguyên nhân của điều này. Song, ăn nhiều rau quả hơn không những không gây hại đến chất lượng tinh trùng mà còn mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe. Một số biện pháp có tác dụng cải thiện tinh trùng khác bao gồm bỏ thuốc lá, giữ cân nặng ở mức vừa phải và uống rượu có chừng mực.

Phương Hà (Theo nhs.uk, 10/2013)

Rối loạn tiêu hóa với triệu chứng thường gặp là đau bụng, đi ngoài phân lỏng, táo hoặc táo lỏng xen kẽ. Bệnh thường gặp ở trẻ em và người già khi sức đề kháng cơ thể yếu nên dễ nhiễm bệnh do thay đổi thời tiết hoặc do ăn những thức ăn lạ… Theo y học cổ truyền, nguyên nhân có thể do nhiễm gió lạnh, khí hậu nóng ẩm; do tạng lách, dạ dày, thận hư suy.

Phương thuốc trị rối loạn tiêu hóa 1

Những phương thuốc áp dụng hiệu quả:

Bài 1:Rau sam 30g, gạo 30g, búp ổi non 20g, quả hồng xiêm non 10g, gia vị vừa đủ. Rau sam, búp ổi, quả hồng xiêm non cho vào nồi thêm nước đun sôi thật kỹ, chắt lấy nước bỏ bã. Gạo xay thành bột mịn, cho vào nước rau sam quấy đều, đun nhỏ lửa. Khi cháo chín cho bột gia vị vào. Ăn ngày 2 lần lúc cháo nóng, khi đói. Cần ăn liền 2 – 3 ngày.

Bài 2: Cà rốt, gạo 50g, ô mai mơ 5 quả. Cà rốt mài thành bột, ô mai bóc lấy vỏ giã nhỏ, gạo rang vàng xay thành bột. Tất cả cho vào nồi thêm nước vừa đủ, quấy đều trên lửa nhỏ, cháo sôi kỹ là được. Chia 2 lần ăn trong ngày lúc đói. Cần ăn liền 2 – 3 ngày.

Bài 3: Thảo quả 5g, gạo tẻ 30g, gừng tươi 3g, bột gia vị vừa đủ. Thảo quả, gừng tươi cho vào nồi thêm nước đun sôi kỹ, chắt lấy nước bỏ bã. Gạo xay nhỏ cho vào nước thảo quả đun thành cháo, trước khi ăn cho bột gia vị vào. Ăn ngày 2 lần lúc đói. Cần ăn liền 2 – 3 ngày.

Phương thuốc trị rối loạn tiêu hóa 2

Bài 4: Hạt sen 100g, đường phèn 20g, củ mài 50g, quả hồng xiêm non 15g. Quả hồng xiêm non giã dập cho vào nồi thêm nước vừa đủ đun sôi kỹ, chắt lấy nước bỏ bã. Hạt sen, củ mài sấy khô tán bột, cho vào nước quả hồng xiêm quấy đều đun trên lửa nhỏ, cháo sôi kỹ cho đường phèn vào đun tiếp khi tan hết đường là được. Chia 3 lần ăn trong ngày, lúc đói, khi cháo nóng. Cần ăn liền 2 – 3 ngày.

Ngoài ra, tùy từng thể bệnh có thể kết hợp các thức uống sau:

Phương thuốc trị rối loạn tiêu hóa 3
 Quả hồng xiêm, búp ổi non, rau sam vị thuốc chữa rối loạn tiêu hóa.

Bài 1: Gạo tẻ 30g, nụ vối 10g, riềng 5g. Gạo rang vàng, nụ vối, riềng sấy khô, tất cả cho vào nồi thêm nước đun sôi kỹ, đem ủ kín vùi vào cát, sau 15 -20 phút chắt lấy nước, bỏ bã, chia 3 lần uống trong ngày lúc đói. Cần uống liền 2 – 3 ngày.

Bài 2: Nụ vối 20g, vỏ lựu 10g, gừng 2g. Nụ vối, vỏ lựu, gừng rửa sạch cho vào nồi thêm nước đun sôi kỹ, chắt lấy nước bỏ bã. Chia 3 lần uống trong ngày. Cần uống 2 – 3 ngày.

Bài 3: Nụ sim 20g, lá ổi 10g. Lá ổi rửa sạch thái nhỏ sao vàng. Nụ sim phơi khô, cho cả hai vào nồi, thêm nước đun sôi thật kỹ, chắt lấy nước, bỏ bã. Chia 3 lần uống trong ngày trước khi ăn, cần uống liền 2 – 3 ngày.

Lưu ý: Bệnh nhân cần ăn uống các chất dễ tiêu hóa như cháo gạo, sữa tách bơ, nước cơm… Không ăn các thức ăn có nhiều dầu mỡ, các món xào rán, thức ăn sống lạnh, nên ăn ít một, ăn nhiều bữa. Nếu bệnh không thuyên giảm hoặc có biểu hiện nặng lên cần đến cơ sở y tế để được khám và điều trị.

Theo y học cổ truyền, nguyên nhân gây thiếu máu chủ yếu do tỳ vị suy nhược. Người bệnh thường có biểu hiện: Mệt mỏi, hoa mắt chóng mặt, hay quên, ù tai, mất ngủ, tê tay chân, tóc khô giòn, dễ rụng, phụ nữ có lượng kinh ít, bế kinh… Một trong những biện pháp hỗ trợ điều trị hiệu quả là sử dụng các món ăn, bài thuốc.

Bài 1: Thịt dê 250g, đương quy 15g, sinh địa hoàng 15g, gừng 10g, nước tương, muối, đường vừa đủ. Thịt dê rửa sạch, thái nhỏ, cho vào nồi trộn đều với các vị trên, thêm nước xâm xấp, đun sôi sau đó đun nhỏ lửa hầm nhừ là dùng được. Ngày ăn 1 lần với cơm. Dùng 5 – 7 ngày là một liệu trình. Công dụng: bổ khí huyết, tăng thể lực, dùng rất tốt cho người bệnh thiếu máu, gầy yếu, mệt mỏi.

Hỗ trợ điều trị thiếu máu 1
 Táo tàu.

Bài 2: Gà mái 1 con, gạo tẻ 100g. Mổ gà rửa sạch, hầm lấy nước cốt. Nấu cháo gạo bằng nước cốt gà, nấu to lửa cho sôi kỹ, rồi để nhỏ lửa cho nhừ nhuyễn. Cách dùng: Ngày ăn hai bữa sáng tối, ăn nóng. Dùng 3 – 5 ngày. Công dụng: bổ khí huyết, dùng cho các trường hợp suy nhược thiếu máu.

Bài 3: Tiết canh lợn 500g, rửa sạch, thái miếng vuông; 100g cá diếc bỏ vẩy, bỏ nội tạng, rửa sạch, khía cạnh; gạo 100g, hạt tiêu trắng một ít, nấu lên thành cháo, không nên cho muối. Ăn thường xuyên sẽ trị được thiếu máu, đau đầu.

Bài 4: Mộc nhĩ đen 30g, táo tàu 30 quả, đường đỏ vừa đủ. Mộc nhĩ ngâm nước 30 phút, cùng cho vào nồi với táo tàu, nấu nhừ rồi cho đường vào quấy đều là được. Mỗi ngày ăn 1 lần, ăn liên tục 10 ngày.

Hỗ trợ điều trị thiếu máu 2
 Mộc nhĩ đen.

Bài 5: Quả dâu chín ngâm với đường (hoặc mật ong), pha nước uống vào buổi tối trước khi đi ngủ. Dùng thường xuyên tốt cho người bệnh thiếu máu, mất ngủ.

Bài 6: Chim cút 2 con, hoàng kỳ 50g, đảng sâm 50g, hoài sơn 50g. Chim cút làm sạch lông, bỏ ruột, cho vào nồi cùng hoàng kỳ, đảng sâm, hoài sơn đổ vừa nước, hầm cho thịt chim cút nhừ, gia vị vừa ăn. Mỗi ngày ăn 1 lần. Dùng 5 – 7 ngày là một liệu trình. Dùng tốt cho người bệnh thiếu máu, người mới ốm dậy.

Bài 7: Rau chân vịt tươi 200g (để nguyên rễ), gan lợn 150g. Rửa sạch rau chân vịt, thái thành từng đoạn; gan lợn rửa sạch thái miếng mỏng. Đun sôi nước, cho vài lát gừng tươi và gia vị, sau đó cho gan lợn và rau chân vịt vào, tiếp tục đun cho gan chín là được. Có thể dùng làm canh trong bữa ăn hằng ngày. Dùng 1 tuần là một liệu trình. Công dụng: bổ dưỡng, bổ huyết, dùng tốt cho người bệnh thiếu máu do thiếu sắt, làm cho da trở nên hồng hào, khỏe mạnh.

Tái tạo xương có thể không còn là chuyện khoa học viễn tưởng. Các nhà nghiên cứu tại ĐH Iowa, Mỹ đã tạo ra một miếng dán sinh học cho phép tái tạo tập trung mô xương trong cơ thể. Kết quả này có thể mang đến liệu pháp điều trị mới cho những người xương yếu hoặc các bệnh lý khác ảnh hưởng tới hệ thống xương của họ.

Nghiên cứu trên được xuất bản trên tập san Biomaterials (Vật liệu sinh học) cho thấy một lớp collagen làm nền nuôi cấy các phần tử có chứa các thông tin về gen có thể giúp phát triển xương mới trong cơ thể. Phát kiến này, một miếng dán sinh học đảm bảo liệu pháp bên trong bền vững nhờ cho các tế bào xung quanh một bản thiết kế gen cần thiết để sửa chữa những vùng yếu hoặc tổn thương.

Bước tiến mới trong điều trị tái tạo xương  1
Miếng dán sinh học mới có chứa lớp nền collagen được nuôi cấy các phân tử lipid mang thông tin di truyền

Theo đồng tác giả Aliasger Salem, đây là một bước tiến quan trọng trong kỹ thuật tái tạo hiện hành. “Chúng tôi phân phối ADN tới các tế bào, để các tế bào có thể sản sinh ra protein và đó là cách protein được tạo ra để củng cố tái tạo xương. Nếu bạn chỉ truyền protein, bạn sẽ phải cung cấp bằng cách tiêm liên tục để duy trì liều lượng. Tuy nhiên, với phương pháp của chúng tôi, bạn sẽ đạt được sự tái tạo xương bền vững lâu dài mà không cần tiêm các liều protein”, ông nói.

Lớp collagen mang thông tin cần thiết trong plasmid, một nhóm các phân tử ADN nhỏ li ti có khả năng tiến hành các hoạt động gen độc lập của nhiễm sắc thể ADN. Một khi đã được cấy ghép, những plasmid này kích thích các tế bào sản sinh ra protein cần thiết để xây dựng mô xương. Chúng tôi có thể làm một cái giá đỡ có cùng hình dáng và kích cỡ với vị trí xương bị khiếm khuyết, và bạn sẽ được tái tạo hoàn toàn để khớp với hình dáng xương tại đó”, tác giả dẫn đầu công trình Satheesh Elangovan cho biết.

Cho đến nay, miếng dán sinh học đã chứng tỏ hiệu quả trong một số thí nghiệm. Ở xương sọ bị tổn thương của động vật, nó đã giúp tái tạo mô mới gấp 44 lần lần so với cấy ghép tương tự mà không có thông tin gen. Tương tự, có thể kích thích phát triển tế bào chất đệm tuỷ xương ở người.

Miếng dán sinh học mới này gợi cho chúng ta nhớ đến một phát minh y học tương tự đầu năm nay do các nhà nghiên cứu tại trường Đại học Granada, Tây Ban Nha công bố. Trong “tế bào gốc chất đệm dây rốn ở người thể hiện CD10 và các đặc tính co thắt”, các tác giả đã chỉ ra rằng vật liệu sinh học được cấp bằng sáng chế của họ có thể tái tạo phát triển xương với các tế bào gốc dây rốn. Giống như công trình nghiên cứu này, nỗ lực của các nhà nghiên cứu Tây Ban Nha có thể có tác động lớn tới các liệu pháp điều trị loãng xương, khiếm khuyết xương và các loại bệnh xương khớp khác.

Nguyễn Vân (theo Medical Daily)

Dinh dưỡng có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển thể chất, trí tuệ của con người. Vì vậy, cần có một chế độ dinh dưỡng hợp lý để nâng cao sức đề kháng của cơ thể đối với bệnh tật.  Sau đây là 8 lời khuyên dinh dưỡng hợp lý được khuyến cáo bảo vệ và tăng cường sức khỏe.

1. Ăn đa dạng nhiều loại thực phẩm và đảm bảo đủ 4 nhóm: Chất bột, chất đạm, chất béo, vitamin và muối khoáng.

2. Phối hợp thức ăn nguồn đạm động vật và thực vật, nên ăn tôm, cua, cá và đậu đỗ. Chất đạm có vai trò rất quan trọng cho sự phát triển. Chất đạm từ nguồn động vật có: thịt, cá, trứng, tôm, cua…; từ nguồn thực vật có: các loại đậu đỗ (đậu Hà Lan…). Trong khẩu phần ăn cần chú trọng tới chất đạm, tuy nhiên, phải cân đối giữa chất đạm nguồn động vật và thực vật. Mặt khác, về đạm động vật, nên chọn ưu tiên mua tôm, cua, cá sẽ nhiều ưu điểm hơn thịt gia súc, gia cầm.

3. Ăn phối hợp dầu thực vật và mỡ động vật hợp lý, nên ăn vừng, lạc. Trong khẩu phần ăn, chất béo nên sử dụng ở mức độ vừa phải. Hiện nay nhiều người tẩy chay mỡ động vật và chỉ dùng dầu thực vật, như vậy cũng không tốt, cần ăn phối hợp dầu thực vật và mỡ động vật hợp lý và nên ăn vừng, lạc (mè, đậu phộng).

8 lời khuyên để tăng cường sức khỏe 1

4. Nên sử dụng muối i-ốt, không ăn mặn. Nhiều người có thói quen ăn mặn sẽ có nguy cơ về các bệnh tim mạch, thận… Vậy nên cần rèn thói quen không ăn mặn sẽ tốt cho sức khỏe. Mặt khác, thiếu i-ốt sẽ gây ra nhiều hậu quả nặng nề như: Trẻ đần độn, kém phát triển; phụ nữ mang thai có thể sảy thai, đẻ non; nhiều người bị bệnh bướu cổ do thiếu i-ốt.

5. Cần ăn rau quả hàng ngày. Rau, củ, quả các loại là nguồn thực phẩm quan trọng cung cấp nhóm chất vitamin, chất khoáng, chất xơ. Nhóm chất này tuy yêu cầu về lượng không lớn như các nhóm chất khác nhưng lại có vai trò rất quan trọng đối với cơ thể. Vì vậy, trong khẩu phần ăn cần chú trọng nhóm chất này, kể cả ăn tráng miệng, nước ép hoa quả…

6. Bảo đảm an toàn vệ sinh trong lựa chọn, chế biến và bảo quản thực phẩm. Người tiêu dùng cần biết chọn mua thực phẩm an toàn, đặt niềm tin vào các địa chỉ tin cậy, nói không với các thực phẩm không bảo đảm an toàn vệ sinh. Cần chú ý sử dụng nước sạch để chế biến thức ăn, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm trong chuỗi từ lựa chọn, chế biến, sử dụng và bảo quản thực phẩm.

7. Uống đủ nước sạch hàng ngày. Một người lớn trung bình một ngày cần uống khoảng 2 lít nước. Tuy vậy, phải uống nước đun sôi, không nên uống nước lã, nước đá.

8. Tăng cường hoạt động thể lực, duy trì cân nặng ở mức hợp lý, không hút thuốc lá, hạn chế rượu bia, nước có ga và ăn, uống đồ ngọt. Hút thuốc lá rất có hại cho sức khỏe. Đồ ngọt, nước có ga cũng được khuyến cáo là nên hạn chế, phòng ngừa nhóm bệnh béo phì, tiểu đường, răng miệng…

Mọi người nên chú ý duy trì cân nặng ở mức hợp lý. Bên cạnh đó, cần có lối sống lành mạnh, làm việc, nghỉ ngơi hợp lý, thể dục, thể thao đều đặn, phù hợp với lứa tuổi.

(Theo tài liệu của Viện Dinh dưỡng Quốc gia)

Thất diệp nhất chi hoa còn có tên khác là bảy lá một hoa, thất diệp chi mai, độc cước liên, chi hoa đầu, thất tử liên, đăng đài thất,… là loại cây cỏ nhỏ, có hình dạng rất đặc biệt, sống lâu năm, thân rễ ngắn dài khoảng 5 – 15cm, có rất nhiều đốt.

Thân mọc thẳng đứng, cao tới 1m, phía gốc có một số lá thoái hóa thành vảy, bao lấy thân cây. Giữa thân có một tầng lá mọc vòng gồm 3 – 10 lá nhưng thường là 7 lá, cuống lá dài khoảng 3cm, phiến lá hình mác rộng, dài 15 – 20cm, rộng 4 – 5cm, đầu phiến lá nhọn, mép nguyên, hai mặt nhẵn, mặt dưới màu xanh nhạt, đôi khi có màu nâu nhạt. Hoa mọc đơn độc ở đỉnh cành, cuống hoa dài 15 – 30cm. Nhụy màu tím đỏ, bầu thường gồm 3 ngăn. Quả mọng màu tím đen. Ra hoa tháng 3 – 7, quả tháng 8 – 12.

Thất diệp nhất chi hoa 1

Cây mọc hoang ở những vực khe ẩm tối, gần suối ở độ cao trên 600m, phân bố chủ yếu ở Lào Cai (Sa Pa), Ninh Bình (Cúc Phương), Thái Nguyên (Ðại Từ), Lạng Sơn, Hòa Bình, Hà Giang (Hoàng Su Phì, Đồng Văn)… Bộ phận dùng làm thuốc là thân rễ. Thu hái rễ quanh năm, nhưng tốt nhất vào mùa thu – đông, rửa sạch phơi khô.

Theo Đông y, thất diệp nhất chi hoa có vị đắng cay, tính lạnh, có công dụng thanh nhiệt giải độc, chữa sốt, mụn nhọt, viêm tuyến vú, ho lâu ngày… Kết quả nghiên cứu hiện đại cũng cho thấy, thất diệp nhất chi hoa có tác dụng kháng khuẩn đối với nhiều loại vi khuẩn như: trực khuẩn lỵ, tụ cầu khuẩn, liên cầu khuẩn, trực khuẩn mủ xanh…; kháng virut cúm; làm giãn phế quản, chống co thắt, trừ đờm và giảm ho, giảm đau, chống viêm,…

Một số đơn thuốc thường dùng:

Chữa quai bị: Thất diệp nhất chi hoa 6g, bồ công anh 30g, sắc uống ngày 1 thang chia 2 – 3 lần. Kết hợp với thuốc đắp tại chỗ: dùng thân rễ thất diệp nhất chi hoa 12g, thiên hoa phấn 12g, thiên tiên tử 6g, tán thành bột, thêm 1 ít trộn nước thành bột nhão làm thuốc đắp chỗ sưng đau.

Thất diệp nhất chi hoa 2
 Cây và rễ củ thất diệp nhất chi hoa.

Ho do hen phế quản: Thất diệp nhất chi hoa, hoa cúc bách nhật, tỳ bà diệp, mỗi vị 6g, quả nhót 10g. Sắc uống ngày một thang chia 3 lần, mỗi lần 60 ml nước thuốc sắc. Dùng 3 – 5 ngày.

Cắt cơn hen, trừ đờm: Thất diệp nhất chi hoa 15g, tán bột, mỗi lần uống 3g, ngày 2 – 3 lần.

Chữa mụn nhọt: Thân rễ thất diệp nhất chi hoa giã nát, trộn với một chút dấm trắng đắp vào chỗ mụn nhọt đến khi khỏi

Chú ý: Không dùng cho phụ nữ có thai. Vì có công dụng chữa được nhiều bệnh, lại có khu vực phân bố tương đối hẹp, nên thất diệp nhất chi hoa được xếp là cây thuốc quý hiếm, đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam, cần được giữ gìn, không được khai thác bừa bãi.

Hạ canxi máu là tình trạng hay gặp ở người bình thường và thường các triệu chứng hết nhanh sau khi lượng canxi được bù đủ mà không để lại hậu quả gì đặc biệt. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, hạ canxi máu có thể gây nguy hiểm đến tính mạng.

Có phòng được hạ canxi máu? 1
 Suy thận cấp cũng là một nguyên nhân gây hạ canxi máu.

Thiếu canxi, do đâu?

Vai trò của canxi trong cơ thể

Canxi có vai trò hết sức quan trọng trong cơ thể sinh vật như là chất tạo nên những cấu trúc cơ bản của cơ thể như xương, răng, vỏ sò… và là chất điện giải không thể thiếu lưu thông trong, ngoài tế bào để hình thành nên điện thế của tế bào. Trong cơ thể người, canxi tham gia vào quá trình co cơ và như vậy, thiếu và thừa canxi đều ảnh hưởng đến sự hoạt động của các cơ đặc biệt là cơ tim, các cơ trơn ở phế quản phổi.

Canxi được đưa vào cơ thể qua thức ăn. Ruột hấp thu canxi sau đó đưa vào máu và được chứa chủ yếu ở xương, răng, nội tế bào, huyết tương. Mỗi ngày trung bình một người cần từ 0,5 – 2g canxi tùy theo đối tượng (trẻ em, người lớn, người đang phát triển nhanh, phụ nữ có thai) và lượng canxi thừa sẽ được thải trừ qua phân và nước tiểu.

Nồng độ bình thường của canxi trong máu vào khoảng 2,25 – 2,5 mmol/l. Đây là lượng canxi toàn phần. Lượng canxi trong cơ thể được điều hòa bởi tuyến cận giáp trạng. Đây là tuyến nội tiết nhỏ, có 4 phần nhỏ riêng rẽ như hạt đậu nằm chung quanh tuyến giáp trạng. Tuyến này tiết ra một hormone được gọi là parahormone để điều hòa lượng canxi hằng định trong máu.

Có rất nhiều nguyên nhân gây nên hiện tượng thiếu canxi. Các nguyên nhân có thể là bệnh lý như suy tuyến cận giáp trạng, phẫu thuật tuyến giáp lấy bỏ cả các tuyến giáp trạng, suy thận cấp giai đoạn phục hồi… và các nguyên nhân không phải bệnh lý. Nhóm nguyên nhân này có thể do mất canxi nhiều qua nước tiểu do dùng thuốc lợi tiểu, do suy dinh dưỡng hoặc do ăn uống kiêng khem quá mức dẫn đến thiếu lượng canxi và vitamin D cần thiết cho cơ thể.

Canxi cũng có thể bị thiếu do dùng một số thuốc hoặc là hậu quả của một số bệnh lý khác (ngoài tuyến cận giáp trạng). Một trường hợp đặc biệt gây nên sự thiếu tương đối canxi ion hóa (có hoạt tính) đó là hiện tượng kiềm máu (pH máu trên 7,45). Khi máu có tính kiềm cao, một lượng đáng kể canxi ion hóa sẽ tăng gắn vào protein huyết tương (trở thành canxi không hoạt tính) dẫn đến lượng canxi có hoạt tính bị thiếu và các triệu chứng của thiếu canxi máu sẽ xảy ra. Hiện tượng kiềm máu này rất hay gặp ở người bình thường nhất là phụ nữ trẻ, sau những stress tâm lý dẫn đến việc kích thích, thở nhanh gây kiềm hô hấp và hiện tượng thiếu tương đối canxi ion hóa sẽ xảy ra.

Biểu hiện của cơn hạ canxi máu

Biểu hiện của cơn hạ canxi máu (còn được gọi là cơn Tetani) chính là các triệu chứng của co thắt các cơ. Bệnh nhân đột ngột thấy tê đầu chi, lưỡi; thở nhanh, kích thích hoảng hốt, chuột rút các bắp chân; co cứng không chủ động các đầu chi khiến cho bàn tay co quắp như bàn tay người đỡ đẻ, mỗi cơn có thể kéo dài từ vài phút đến hàng giờ. Nếu cơn Tetani không rõ, thầy thuốc có thể yêu cầu bệnh nhân hít thở sâu (làm kiềm hóa máu) và cơn Tetani sẽ xuất hiện. Một số các dấu hiệu khác như gõ vào giữa đường nối nhân trung – gò má làm cơ môi mép bên gõ bị giật hoặc buộc ép cánh tay lại bằng băng huyết áp cũng có thể gây cơn Tetani ở người bị hạ canxi huyết.

Ở phụ nữ trẻ, khi cơn Tetani xảy ra khiến cho bệnh nhân hoảng sợ, kích thích thở nhanh làm tăng hiện tượng kiềm máu, càng làm cho lượng canxi ion hóa bị giảm và kết quả là cơn Tetani càng nặng hơn tạo vòng xoắn bệnh lý rất nguy hiểm. Việc xác định bệnh nhân bị cơn Tetani chủ yếu dựa vào biểu hiện lâm sàng và làm xét nghiệm thấy có canxi máu giảm. Một số trường hợp nặng, các cơ trơn cũng có thể bị co thắt gây nên triệu chứng đau bụng, nôn mửa và nguy hiểm nhất là co thắt thanh môn khiến cho bệnh nhân bị suy hô hấp và loạn nhịp tim nếu lượng canxi máu xuống quá thấp, có thể tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời.

Các biện pháp phòng ngừa hạ canxi máu

Hạ canxi máu là tình trạng có thể thay đổi được qua chế độ ăn uống và bổ sung canxi trong một số trường hợp có nguy cơ bị thiếu như người đã bị phẫu thuật cắt bỏ hết tuyến cận giáp, người đang dùng thuốc lợi tiểu…

Có phòng được hạ canxi máu? 2
 Hải sản là thực phẩm giàu canxi.

Sữa và chế phẩm sữa, cá nhỏ nguyên xương, cua đồng, tôm tép là nguồn cung cấp canxi quan trọng, trong đó, canxi trong sữa dễ hấp thu hơn là từ các nguồn thực phẩm khác. Chỉ nên dùng viên canxi bổ sung khi có chỉ định của bác sĩ. Hạn chế ăn muối, uống cà phê, rượu,… vì những chất này thường kìm hãm khả năng hấp thu canxi. Một chế độ ăn nhiều đạm, đặc biệt là đạm động vật (thịt, cá, tôm…) hoặc nhiều muối có thể gây ra hiện tượng tăng thải và mất canxi qua nước tiểu.

Với phụ nữ mang thai và trẻ đang phát triển, cần bổ sung thực phẩm giàu canxi trong thực đơn của mình. Ở người trưởng thành bình thường mỗi ngày cần 700mg/ngày, với phụ nữ mang thai là 1.000mg/ngày. Theo nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng Quốc gia, hàm lượng canxi trong 100g thực phẩm ăn được tính như sau: Cua đồng: 5.040mg; Rạm tươi: 3.520mg; Tép khô: 2.000mg; Ốc đá: 1.660mg; Sữa bột tách béo: 1.400mg; Ốc nhồi: 1.357mg; Ốc bươu: 1.310mg; Tôm đồng: 1.120mg; Sữa đặc có đường: 307mg; Tôm khô: 236mg; Lòng đỏ trứng vịt: 146mg; Hến: 144mg; Lòng đỏ trứng gà: 134mg; Sữa bò tươi: 120mg; Sữa chua: 120mg

Bên cạnh đó, mỗi ngày nên dành ít nhất 15-20 phút để tắm nắng vào buổi sáng sẽ giúp cơ thể hấp thu được vitamin D vì vitamin D rất cần thiết để hấp thu canxi ở dạ dày và cho các hoạt động chức năng của canxi trong cơ thể. Vitamin D một phần nhỏ là từ thức ăn đưa vào, còn phần lớn thì phải do da tổng hợp khi tiếp xúc ánh nắng mặt trời.

Tiến sĩ, Bác sĩ Vũ Đức Định

 

Theo The Stir, tình trạng thiếu ngủ ảnh hưởng lớn đến sức khỏe. Một người không ngủ đủ từ 6 đến 8 giờ trong một ngày sẽ cảm thấy mệt mỏi, bồn chồn, thiếu sức sống, từ đó ảnh hưởng đến năng suất làm việc, giảm hiệu quả tiếp thu khi học hành. Về cơ bản có 5 nguyên nhân hàng đầu gây mất ngủ:

1. Ăn quá nhiều thực phẩm chứa protein

Chế độ ăn giàu protein và ít carbohydrat rất tốt cho tim, nhưng protein cần có nhiều thời gian và năng lượng để tiêu hóa. Nếu bạn có thói quen ăn nhiều thực phẩm giàu protein vào buổi tối trước khi đi ngủ thì vô hình chung bạn đang ép cơ thể mình phải làm việc cật lực để tiêu hóa hết lượng thức ăn đó. Do đó lời khuyên cho bạn khi cảm thấy đói bụng vào buổi tối, hãy dùng ít thức ăn nhẹ như một chiếc bánh gạo hoặc bánh quy để sau đó không bị mất ngủ.

5 nguyên nhân hàng đầu gây mất ngủ 1

  

Ảnh minh họa: TS.

2. Tiêu thụ nhiều caffeine

Theo Prevention, hệ tiêu hoá cần từ 45 phút đến 1 tiếng để tiêu thụ hết caffeine. Sau đó caffeine sẽ lưu lại trong cơ thể khoảng vài giờ. Đó là lý do tại sao khi uống cà phê hoặc các chế phẩm có caffeine, người ta cảm thấy hưng phấn hơn, kéo dài đến vài tiếng đồng hồ. Do đó để tránh cho cơ thể bị kích thích, tốt hơn hết bạn không nên uống cà phê vào buổi chiều, đến tối bạn sẽ dễ ngủ hơn.

3. Có quá nhiều ánh sáng trong phòng

Ánh sáng làm bộ não bạn nghĩ rằng đây là ban ngày, thậm chí ngay cả khi một chiếc đèn đường bên ngoài chiếu xuyên qua cửa sổ. Còn trong phòng ngủ, những thủ phạm phát ra ánh sáng nhân tạo chính là thiết bị công nghệ, máy tính bảng, tivi… Do đó để có giấc ngủ sâu, bạn hãy tắt những thiết bị điện tử đó và che các nguồn sáng chiếu vào phòng trước khi đặt lưng xuống giường nhé.

4. Mất ngủ vì tập thể dục sát giờ đi ngủ

Ai cũng biết tập thể dục giúp tăng cường sức khỏe, nhưng các bác sĩ khuyên mọi người không nên tập thể dục hay đi bộ vào buổi tối, nhất là gần giờ đi ngủ. Bởi vào buổi tối, sau một ngày lao động mệt mỏi, các cơ quan nội tạng cần được nghỉ ngơi. Nếu bạn đi bộ, vận động tức là đánh thức lại cơ thể và như vậy sẽ gây ra mất ngủ. Vấn đề này đã được khuyến cáo từ lâu nhưng nhiều người vẫn mắc phải. Hãy nhớ rằng, tập trước khi leo lên giường ngủ là điều tồi tệ nhất.

5. Sự lo lắng làm sao để ngủ đủ giấc cũng khiến bạn mất ngủ

Thay vì tạo cho cơ thể sự thoải mái để đi vào giấc ngủ thì bạn lại bắt mình phải đi ngủ bằng mọi cách, cuối cùng rơi vào trạng thái lo lắng trường kỳ. Đây gọi là chứng mất ngủ tâm sinh lý. Thực tế, nếu đang lo lắng về việc ngủ, bạn sẽ căng thẳng hơn. Cảm giác không yên ổn này làm bạn không thể chợp mắt được. Hiểu được vấn đề này sẽ khiến bạn loại bỏ những nguyên nhân chủ quan gây ra tình trạng mất ngủ của mình, từ đó tìm cách cải thiện vấn đề gặp phải.

Theo VnExpress

Cây tỏi rừng còn có tên là bách hợp, người Tày gọi là khẻo ma, Thái là kíp pá, (Dao) cà ngái dòi. Là loại cây cỏ, cao 0,5 – 1m. Thân hành to màu trắng, sống nhiều năm. Lá mọc so le, hình mác thuôn, mép nguyên. Cụm hoa mọc ở đầu cành, gồm 3 – 5 hoa to, hình hoa kèn màu trắng. Quả nang 3 ngăn, nhiều hạt nhỏ.

Cây mọc hoang ở các trảng cỏ và bờ nương rẫy vùng núi cao. Bộ phận dùng làm thuốc là thân hành, thu hái vào cuối mùa hạ đầu mùa thu, khi cây bắt đầu khô héo, rửa sạch, tách vảy, đồ nóng hoặc nhúng vào nước sôi 5 – 10 phút, phơi hoặc sấy khô hoặc sao tẩm với mật ong. Dược liệu có màu trắng ngà hay vàng nhạt, cứng, có đường gân ở trong, dễ bẻ gãy, vị hơi đắng, nhớt.

Theo kinh nghiệm dân gian, tỏi rừng có vị ngọt nhạt, tính mát, có công dụng dưỡng âm nhuận phế, thanh tâm, an thần, giải độc, nhuận trạng, lợi đại tiểu tiện,… Thường dùng làm thuốc bổ, chữa ho, ho khan hoặc ho có đờm đặc, viêm phế quản, thần kinh suy nhược, mất ngủ,… Dùng dưới dạng thuốc sắc hoặc bột.

Cây tỏi rừng 1

Một số bài thuốc theo kinh nghiệm

Bài 1: Chữa tiểu khó, nước tiểu ngắn đỏ do phế nhiệt:Tỏi rừng 12g, mạch môn đông 12g, cam thảo 8g, bạch thược 10g, mộc thông 8g, sắc uống. Dùng 5 – 7 ngày.

Bài 2: Chữa ho do viêm phế quản: Tỏi rừng 30g, mạch môn đông 10g, bách bộ 8g, ý dĩ nhân 15g, thiên môn đông 10g, tang bạch bì 12g, nước 1.000ml. Sắc còn 400ml, chia làm 3 lần, uống trong ngày. Hoặc: Tỏi rừng tươi 50g, hạnh nhân 10g, gạo tẻ 50g. Gạo vo sạch, cho vào nồi nấu cháo, đến khi gần được cho tỏi rừng và hạnh nhân (bỏ vỏ) vào, cho thêm ít đường, ăn trong ngày, có công dụng nhuận phế, trừ ho, dùng tốt cho người bệnh viêm phế quản, khí quản.

Bài 3: Chữa mất ngủ: Tỏi rừng tươi 60g, mật ong 1 – 2 thìa, hấp chín, ăn trước khi ngủ. Hoặc: Tỏi rừng 30g, hạt sen 30g, thịt lợn 250g, hầm nhừ, ăn trong ngày.  

Bài 4: Dưỡng tâm, an thần (dùng khi tâm hồi hộp, tâm phiền, nhất là sau khi ốm dậy): tỏi rừng 24g, tri mẫu 12g, ngọc trúc 12g, sắc uống. Dùng 7 – 10 ngày.

Bài 5: Mụn nhọt sưng đau: tỏi rừng 12g, kim ngân hoa 10g, liên kiều 10g, sắc uống. Hoặc dùng tỏi rừng tươi thêm vài hạt muối, giã nát, đắp vào mụn nhọt sẽ chóng khỏi.

Lưu ý: Không dùng tỏi rừng trong trường hợp cảm lạnh, tiêu chảy, tỳ vị hư hàn.

Các nghiên cứu khoa học đã khẳng định hệ nội tiết đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với các quá trình hoạt động của cơ thể con người. Tuy nhiên, đây cũng là một hệ thống vô cùng phức tạp với sự kết hợp của rất nhiều loại hormon được sản sinh từ các tuyến và nội tạng trong cơ thể. Vậy chúng có vai trò gì và tác động như thế nào đến cơ thể chúng ta? Khám phá bí mật về những hormon trong cơ thể sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về vấn đề này.

Vai trò của các loại hormon

Hệ nội tiết trong cơ thể con người có chức năng cũng giống như chức năng của hệ thần kinh đó là chức năng giao tiếp. Trong khi hệ thần kinh thực hiện quá trình giao tiếp thông qua các nơron thần kinh và tín hiệu điện não, hệ nội tiết thực hiện quá trình này thông qua nồng độ các hóa chất hay còn gọi là hormon. Các loại hormon do hệ nội tiết sản sinh ra kiểm soát phần lớn các chức năng quan trọng trong khắp cơ thể chúng ta, bao gồm: quá trình lớn lên, phát triển, quá trình chuyển hoá và chức năng của các mô tế bào… sự cân bằng của các hormon này giúp cơ thể duy trì hoạt động bình thường. Các vùng sản sinh ra hormon bao gồm các vùng não hypothalamus, tuyến yên, tuyến giáp và các cơ quan nội tạng khác như gan, tuỵ, thận… mỗi cơ quan sản sinh ra một loại hormon khác nhau và không thể làm thay chức năng của nhau. Đó là lý do vì sao sự mất cân bằng trong quá trình sản sinh hormon có thể gây ra bệnh tật hoặc những nguy hại cho sức khoẻ con người.

Khám phá bí mật về các loại hormon trong cơ thể 1
 Khám để điều trị chứng dậy thì sớm ở trẻ.

Chức năng quan trọng của loại hormon

Hormon Vasopressin: Là loại hormon được sản sinh bởi vùng não hypothalamus (vùng não kiểm soát thân nhiệt, đói, khát…) ở con người. Đến lượt mình, hormon Vasopressin thúc đẩy tuyến yên giải phóng ra các loại hormon khác giúp duy trì huyết áp và cân bằng lượng nước cũng như chất điện giải trong máu.

Hormon tăng trưởng GH: (growth hormone) được sản sinh bởi tuyến yên (một trong những khu vực quan trọng trong hệ nội tiết của con người). Hormon GH được sản sinh mạnh trong suốt thời kỳ ấu thơ của đứa trẻ và kích thích quá trình tái sản sinh của các tế bào, giúp thúc đẩy sự phát triển của các cơ và hệ xương ở người trưởng thành. Tình trạng mất cân bằng hormon tăng trưởng GH có thể gây ra nhiều dị tật lạ. Thiếu GH có thể dẫn tới cơ thể phát triển còi cọc, suy dinh dưỡng, trong khi đó thừa hormon tăng trưởng GH lại có thể khiến cơ thể phát triển quá mức, gây hiện tượng người khổng lồ.

Calcitonin: Là hormon được sản sinh bởi tuyến giáp trong cơ thể. Tác dụng của calcitonin là hỗ trợ quá trình hình thành và phát triển của cấu trúc xương trong cơ thể.

Insulin: Là hormon được sản sinh bởi tuyến tuỵ có nhiệm vụ điều chỉnh lượng đường – glucose trong máu. Khi một lượng đường lớn được hấp thụ vào cơ thể, insulin sẽ giúp loại bỏ bớt đường trong máu đi vào các tế bào. Khi quá trình sản sinh insulin gặp phải vấn đề bất thường, chẳng hạn như tuyến tuỵ không thể sản sinh lượng insulin cần thiết, người bệnh có thể bị mắc bệnh tiểu đường.

Adrenaline: Được sản sinh bởi tuyến thượng thận, hormon Adrenaline cùng với hormon có tên gọi noradrenaline có tác dụng kích thích điều chỉnh làm tăng lượng ôxy cung cấp cho não và các cơ, làm giãn nở đồng tử và ức chế các chức năng không cần thiết của cơ thể trong các trường hợp khẩn cấp, chẳng hạn như trong cấp cứu sốc phản vệ.

Noradrenaline: Là hormon được sản sinh bởi tuyến thượng thận có chức năng hỗ trợ hệ nội tiết trong các tình huống khẩn cấp. Chẳng hạn như kích thích quá trình cung cấp ôxy lên não và cung cấp đường glucose cho các cơ.

Estrogen: Là hormon giới tính nữ được sản sinh bởi buồng trứng ở người phụ nữ. Đây là hormon kích thích sự dậy thì ở phụ nữ, gây xuất hiện chu kỳ kinh nguyệt và thúc đẩy quá trình rụng trứng phục vụ việc sinh sản ở nữ giới.

Progesterone: Cũng như estrogen, progesterone cũng là loại hormon được sản sinh bởi buồng trứng ở người phụ nữ. Hormon progesterone có nhiệm vụ thúc đẩy quá trình dậy thì của cơ thể.

FSH: Là hormon thúc đẩy sự bắt đầu của chu kỳ kinh nguyệt đầu tiên ở người phụ nữ.

LH (Lutein): Là hormon có nhiệm vụ thúc đẩy sự rụng trứng và tạo thành thể vàng. Ở nam giới, LH là hormon có nhiệm vụ kích thích sự sản sinh hormon nam tính testosteron.

Glycagon: Là hormon có tác dụng làm tăng lượng đường trong máu.

Testosteron: Là loại hormon chính, hay còn gọi là nam tính đặc trưng ở nam giới. Testosteron có nhiệm vụ kích thích sự phát triển cơ và các bộ phận trên cơ thể nam giới.

Thyroxin: Là hormon kiểm soát tốc độ phản ứng của tế bào và thúc đẩy quá trình trao đổi chất trong cơ thể. Thiếu thyroxin có thể dẫn tới viêm não và thể chất kém phát triển, gây ra chứng đần độn ở người bệnh.

Aldesterone: Là hormon điều hoà chức năng thận.

Anti – diuretic: Là hormon có tác động đến sự điều hoà quá trình ngăn thoát nước tiểu.

TSH: Là hormon được sản sinh bởi sự kết hợp hoạt động của 3 khu vực: vùng não hypothalamus (vùng não kiểm soát thân nhiệt, đói khát…), tuyến yên và tuyến giáp. Vùng não hypothalamus gửi thông tin đến tuyến yên, kích thích tuyến yên sản sinh ra hormon kích thích tuyến giáp – TSH. Đến lượt mình, hormon TSH có nhiệm vụ tác động tuyến giáp sản sinh ra hormon thyroxin.

Chứng ho gà Đông y gọi là bách nhật khái, kinh khái (ho cơn), thiên háo, dịch khái, kê khái, lô từ khái, lộ ty khái… Bệnh phát vào mùa đông xuân (cuối mùa đông, đầu mùa xuân). Bệnh kéo dài ảnh hưởng đến phế khí, phế âm và sinh ra các biến chứng. Hiện nay, đa số trẻ nhỏ được tiêm chủng vaccin ho gà nên trong lâm sàng tương đối rất ít gặp.

Nguyên nhân do vi khuẩn Hemophillus Pestuisis gây nên. Đông y cho rằng do tà khí qua mũi, miệng vào phế, làm cho phế khí bị bế tắc không thông, phế nghịch lên gây ho. Bên trong có đờm nhiệt ẩn nấp sẵn ở phế, gây nên các cơn ho dữ dội.

Giai đoạn đầu

Thường do cảm nhiễm, phế hàn, kéo dài khoảng 7 – 10 ngày. Bệnh cảnh bao gồm chảy nước mũi, nghẹt mũi, ho liên tục, ngày nhẹ đêm nặng, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù sác, chỉ tay phù, màu đỏ tía. Dùng 1 trong các phương sau:

Lá chanh non 15 lá, trà tàu 1 nhúm, vỏ quít 1/2 nhúm, củ sả lùi 5 lát, chanh giấy 1 quả. Sắc với 400ml nước còn 100ml. Chia làm 2 – 3 lần cho uống.

Tỏi 1 củ, giã giập, cho vào một cái tách, rót nước sôi vào, đậy kỹ 10 phút rồi lọc lấy nước uống. Cứ 2 giờ uống 1 thìa canh. Dưới 5 tuổi uống 1 thìa cà phê. Buổi tối không uống. Ban đêm, để dễ ngủ, khỏi ho: lấy tỏi hoặc gừng xắt lát mỏng, chà nhẹ dưới cổ.

Vỏ quýt già (trần bì), lá thuốc cứu, sao vàng, sắc uống.

Cá diếc, mổ bụng, rửa sạch, cho thêm đường, chưng cách thủy, ăn cả nước lẫn cái.

Bài thuốc giúp trị ho gà 1
 Cá diếc hấp cách thủy là món ăn rất tốt cho người bị ho gà giai đoạn đầu.

Giai đoạn ho cơn

Thường do đờm, phế nhiệt. Bệnh cảnh thường thấy sau khi mắc bệnh khoảng một tuần, ho càng ngày càng nặng, ho cơn, sau khi ho có tiếng rít, nôn ra đờm dãi, thức ăn. Thời kỳ này, nếu nhẹ thì mỗi ngày ho vài lần, nếu bệnh nặng ho mấy chục lần, ban đêm có thể ho nhiều hơn. Nếu ho nhiều quá có thể ho ra máu, xuất huyết dưới giác mạc, chảy máu cam, mi mắt nề, rêu lưỡi vàng hoặc vàng dày, khô, mạch hoạt sác.

Dùng 1 trong các phương sau:

Hoa khế, hoa đu đủ đực, lá dâu tằm ăn, lá rau trai đều 0,5kg, hoa mắc cỡ đỏ 2,3kg. Phơi cho tái, nấu với 2,5 lít nước còn 1 lít, lọc kỹ lấy nước trong, chưng cách thủy với đường khoảng 1 giờ thành xi rô cho uống.

Trẻ 1 – 3 tuổi uống 1 thìa cà phê, trẻ 4 – 6 tuổi: 2 thìa cà phê. 7 – 10 tuổi: 3 thìa cà phê, uống trước bữa ăn.

Nước củ cải trắng, thêm đường chưng lên cho uống.

Giai đoạn hồi phục

Phế khí hoặc phế âm hư. Bệnh cảnh biểu hiện chứng cơn ho giảm nhẹ dần, số lần ho ít hơn, tiếng rít giảm dần đến hết, cơn ho yếu, thở ngắn, dễ ra mồ hôi, khát, hâm hấp sốt, chất lưỡi đỏ, không rêu, chỉ tay xanh nhạt.

Bài thuốc: cát sâm 20g (sao vàng), thiên môn (sao), mạch môn (sao) đều 16g, bách bộ (sao), tang bạch bì căn (cạo vỏ ngoài, bỏ lõi, tẩm mật sao vàng) 12g. Sắc với 450ml nước còn 200ml. Uống ngày 3 lần, mỗi lần 20 – 30ml vào lúc đói và trước khi đi ngủ.

BS. Hoàng Tuấn Linh

Cà là loại cây thảo sống hàng năm hay nhiều năm, thân hơi hóa gỗ, quả mọng có hình dáng kích thước và màu sắc tùy theo giống cà. Có nhiều loại: cà tròn: cà bát xanh, cà bát trắng và cà tím; cà dài: cà dái dê, cà dồi chó; cà pháo: cà xoan, cà sung, cà dừa, cà tứ thời. Quả cà chứa trigonelin, stachydrin, cholin, nasunin… pectin, acid oxalic. Hạt chứa dầu béo trong có nhiều acid linoleic.

Theo Đông y, cà vị ngọt, tính hàn; vào tỳ vị đại tràng. Tác dụng thanh nhiệt, giải độc, hoại huyết, tiêu thũng, chỉ thống. Dùng cho các trường hợp nhiệt độc mụn nhọt, lở ngứa, viêm loét da cơ, đại tiện xuất huyết; cà là tác nhân kích thích chuyển hóa cholesterol ở gan.

Thực đơn chữa bệnh có cà 1

Thực đơn chữa bệnh có cà:

Cháo cà: cà tím hoặc cà dái dê cùng nấu cháo với gạo tẻ, cho ăn liên tục trong 7 – 10 ngày. Dùng cho bệnh nhân viêm gan vàng da.

Cà ghém xào tỏi: cà ghém 500g, tỏi già 30g, gừng tươi 1 nhánh. Cà thái lát, ngâm qua nước để sẵn, tỏi bóc vỏ giã nát, gừng tươi đập dập. Xào cà với dầu thực vật cho chín, thêm gừng và gia vị. Có thể thêm đậu phụ, thịt ba chỉ, lá lốt thái lát cùng cho vào xào to lửa; sau cùng cho tỏi vào đảo nhanh và tắt bếp. Dùng cho các trường hợp viêm ruột xuất huyết, viêm loét da cơ, mụn nhọt.

Canh cà ghém: cà 250g, có thể thêm thịt nạc, đậu phụ. Nấu canh. Dùng cho các bệnh nhân sốt nóng, bệnh sốt rét cơn, u bướu, viêm tấy sưng nề.

Cà muối: có 2 cách muối cà là muối sổi và muối mặn.

Thực đơn chữa bệnh có cà 2

Cà muối sổi: cà pháo 5kg, muối 250g, tỏi 3 – 5 củ. Cà cắt bỏ núm (phần lá đài và cuống quả), rửa sạch; tỏi bóc bỏ vỏ cứng, giã nát. Cho cà, muối và tỏi giã vào hũ (âu, vại), đảo đều, đậy kín, để 4 – 6 giờ. Đặt vỉ có đè vật nặng lên trên, đổ nước sạch ngập vỉ. Để 3 – 5 ngày là ăn được.

Cà muối mặn: dùng cà bát, cắt bỏ núm, rửa sạch, phơi héo, cho vào vại; cứ mỗi lượt cà rải lượt muối, lượng muối sử dụng khoảng 15 – 25%. Đặt vỉ, đổ nước sạch gần ngập vỉ và đổ lên trên phần muối còn lại, đặt lên trên một vật nặng. Sau 15 ngày đến 1 tháng mới dùng được. Cà muối theo cách này thường mặn chát nên trước khi ăn phải ngâm trong nước rất lâu mới bớt mặn.

Thuốc chữa bệnh có cà:

Xuất huyết đường tiêu hóa: cà pháo già thái phơi khô, tán bột. Ngày uống 3 lần, mỗi lần dùng 8g, uống bằng nước giấm pha loãng

Trị sưng tấy: quả cà mài với nước giấm hoặc giã nát cho ít giấm và chưng. Đắp hỗn hợp lên vết sưng.

Chữa đại tiểu tiện ra máu: rễ cà 30g sắc uống.

Các nhà khoa học tại Đại học Minestota (Mỹ)mới đây công bố kết quả nghiên cứu cho thấy cam thảo có khả năng ngăn chặn các loại ung thư da nguy hiểm nhất.

Nghiên cứu đã xác định được một hợp chất trong rễ cam thảo có tác dụng làm chậm sự tăng trưởng của tế bào ung thư trong các thử nghiệm lâm sàng. Hiện các nhà khoa học đang tiến hành nghiên cứu hợp chất u-busting trong rễ cam thảo để phát triển thành loại thuốc mới điều trị khối u ác tính. Ngoài khả năng ngăn chặn bệnh ung thư da, cam thảo còn giúp ngăn ngừa hiệu quả cháy nắng. Tuy nhiên, sử dụng cam thảo phải lưu ý liều lượng, đặc biệt đối với sản phụ vì nó có thể gây ra biến chứng khó lường.

M.H (Theo Dailymail, 10/2013)

Một nhóm nghiên cứu tại Trường đại học Tampepre (Phần Lan) đã khám phá ra loại virut gây ra chứng bệnh tiểu đường typ 1. Đây là loại virut (Enterovirus) tấn công tuyến tụy và phá hủy các tế bào sản xuất insulin dẫn đến bệnh đái tháo đường (ĐTĐ). Khám phá này mở ra khả năng mới để bào chế vaccin cho bệnh ĐTĐ.

Hơn 100 chuỗi gen khác nhau của Enterovirus được nghiên cứu và từ đó đã xác định được 5 chuỗi gen gây ra bệnh tiểu đường typ 1 đã được các nhà nghiên cứu xem xét. GS. Heikki Hy-ty thuộc nhóm nghiên cứu cho biết: “Chúng tôi đã xác định được loại virut có khả năng gây bệnh cao nhất và có vaccin chống lại loại viut này cũng sẽ có hiệu quả nhất”. Hiện nay, vaccin thử nghiệm chống virut gây bệnh ĐTĐ đã hoàn thành và đang ở trong giai đoạn thí nghiệm.

Minh Hoàng (Theo Diabetes, 10/2013)

Một nghiên cứu mới đây của Bệnh viện Nhi Johns Hopkins đã chỉ ra rằng, lượng vitamin D hấp thụ từ ánh nắng mặt trời thấp có thể làm tăng nguy cơ trẻ mắc bệnh thiếu máu.

Nhóm nghiên cứu đã phân tích mẫu máu của hơn 10.400 trẻ để tìm ra mối liên hệ giữa hàm lượng vitamin D và bệnh thiếu máu. Kết quả cho thấy, những trẻ có hàm lượng vitamin D thấp cũng sẽ có lượng hemoglobin thấp (thành phần của máu). Đặc biệt, trẻ có lượng vitamin D thiếu xuống thấp hơn 30ng/ml có nguy cơ mắc bệnh thiếu máu cao gần gấp đôi so với những trẻ có đủ hàm lượng vitamin D cần thiết.

Nguyên nhân cho hiện tượng này được các nhà nghiên cứu giải thích có thể là do vitamin D có tác dụng sản xuất hồng cầu, có khả năng điều chỉnh tình trạng viêm nhiễm miễn dịch – những tác nhân có thể gây ra bệnh thiếu máu.

H.Minh (Theo Health, 10/2013)

Một chế độ dinh dưỡng tốt và hợp lý sẽ đảm bảo sự phát triển khỏe mạnh cả về thể lực và trí lực của con người. Tuy nhiên, muốn có chế độ dinh dưỡng hợp lý, bạn cần phải có những hiểu biết cơ bản về nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể, giá trị dinh dưỡng của các nhóm thức ăn… để từ đó biết cách lựa chọn và ăn phù hợp với nhu cầu trong từng điều kiện và giai đoạn phát triển của con người. Những lời khuyên sau đây sẽ giúp bạn hình dung rõ hơn về chế độ dinh dưỡng hợp lý.

Ăn theo nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể. Nhu cầu dinh dưỡng thay đổi theo tuổi tác, giới tính, tình trạng sức khoẻ và mức độ hoạt động thể lực. Cần duy trì thường xuyên chế độ ăn uống đủ chất, cân đối. Có như thế mới đảm bảo cung cấp đủ năng lượng và các chất dinh dưỡng cần thiết cho phát triển của cơ thể cũng như đảm bảo duy trì sự sống, làm việc và các hoạt động khác.

Đảm bảo bữa ăn đủ chất dinh dưỡng. Để bữa ăn cung cấp đủ chất dinh dưỡng cho cơ thể, bạn cần phối hợp nhiều loại thực phẩm từ 4 nhóm thức ăn chính (chất bột, đường; chất đạm; chất béo; nhiều vitamin, muối khoáng và chất xơ), thay đổi món thường xuyên sẽ bảo đảm khẩu phần ăn cân đối và đủ chất dinh dưỡng cho cơ thể. Nhóm lương thực gồm: gạo, ngô, khoai, sắn, mì… là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu. Nhóm giàu chất đạm gồm thức ăn nguồn gốc động vật như thịt, cá, trứng, sữa và nguồn thực vật như đậu đỗ. Ngoài ra, trong bữa ăn cần có nhóm giàu chất béo và nhóm rau quả. Trung bình ngày ăn 3 bữa. Không nên nhịn ăn sáng và bữa tối không nên ăn quá no.

Không nên ăn mặn. Muối là loại gia vị không thể thiếu nhưng không nên lạm dụng. Nếu có thể, hãy hạn chế sử dụng muối, bởi lượng muối nạp vào cơ thể càng nhiều thì nguy cơ mắc các bệnh do tăng huyết áp càng tăng. Đối với người bình thường không bị tăng huyết áp, không bị thừa cân, không mắc các bệnh phải kiêng mặn cũng chỉ nên ăn 6-8g muối một ngày, mì chính không nên ăn quá 5g/ngày. Trong bữa ăn hằng ngày không nên dùng quá nhiều thực phẩm chứa nhiều muối như: dưa cà muối mặn, mắm tôm, cá mắm, thịt cá đóng hộp, thịt hun khói, thịt sấy khô, thịt muối, các loại thức ăn chế biến sẵn, các loại rau quả đóng hộp…

Khỏe nhờ... biết ăn gì 1
 Ăn đầy đủ chất dinh dưỡng, nhiều rau củ giúp bạn khỏe, đẹp hơn.

Ăn ít đường. Không nên lạm dụng đường. Đường làm thay đổi quá trình trao đổi thức ăn trong cơ thể con người. Đường giúp quá trình tiêu hoá thức ăn nhanh hơn và như vậy chất glucose sẽ nhanh chóng ngấm vào máu. Khi đó, tuyến tụy phải thải ra một lượng lớn hormon insulin để giúp tế bào hấp thụ và chuyển hoá thành năng lượng. Vì chất glucose được chuyển hoá rất nhanh, tác động và đưa cho não bộ tín hiệu rằng đã đến lúc phải ăn tiếp, như vậy ta có cảm giác đói, sẽ ăn nhiều hơn và trở nên béo phì, có thể dẫn đến bệnh tiểu đường. Mỗi tháng chỉ nên dùng tối đa 500g đường/người.

Ăn chất béo có mức độ. Chất béo cũng rất quan trọng trong quá trình chuyển hoá năng lượng nuôi sống cơ thể nhưng nên hạn chế chất béo, nếu không dễ mắc các bệnh béo phì, tim mạch, tăng huyết áp. Nên tăng cường ăn chất béo từ thực vật như vừng, lạc; hạn chế chất béo từ động vật. Mỗi tháng mỗi người cần khoảng 600g chất béo.

Ăn nhiều rau, củ, quả, vì các thực phẩm này có nhiều vitamin, chất khoáng cần thiết cho cơ thể, đồng thời có nhiều chất xơ có tác dụng quét nhanh chất độc và cholesterol thừa ra khỏi ống tiêu hoá. Nên ăn phối hợp nhiều loại hoa quả để có đủ vitamin và chất khoáng cần thiết cho cơ thể. Rau của quả phải còn tươi, không bị dập nát. Nên ăn rau, quả hàng ngày ở mức khoảng 300g rau/người. Chú ý tới các loại rau lá xanh và quả, củ màu vàng vì chúng chứa nhiều bêta-caroten là chất có khả năng phòng chống ung thư.

Đảm bảo vệ sinh thực phẩm. Đảm bảo vệ sinh thực phẩm rất quan trọng để thức ăn không là nguồn gây bệnh. Nên có thói quen rửa tay sạch trước khi ăn, trước khi chế biến thức ăn và sau khi đại tiểu tiện. Ăn ngay thức ăn vừa nấu chín, bảo quản thức ăn sau nấu ở nơi sạch sẽ, thoáng, che đậy kín tránh bụi, ruồi muỗi. Nước có thể là nguồn lây nhiễm bệnh, gây ngộ độc nhanh cho nên chỉ dùng nước sạch để rửa thực phẩm, nấu thức ăn và uống. Nước chiếm 60% trọng lượng cơ thể, hằng ngày nước được đưa vào cơ thể khoảng 2.500ml, trong đó qua nước uống khoảng 1.000 – 1.500ml, số còn lại cung cấp qua thức ăn. Lượng nước đào thải ra ngoài cũng tương đương 2.500ml.

Duy trì nếp sống năng động, lành mạnh. Không hút thuốc. Hạn chế bia rượu. Cần tăng cường các hoạt động thể dục thể thao đều đặn, phù hợp với các lứa tuổi và tình trạng sức khỏe. Các chuyên gia thường khuyến cáo mọi người nên luyện tập đều đặn vào những ngày trong tuần ít nhất là 30 phút đi bộ. Nếu bạn muốn giảm cân hay giữ gìn vóc dáng cơ thể thì bạn cần nhiều thời gian hơn khoảng 60 hoặc 90 phút mỗi ngày.

Sốt phát ban thường gây ra bởi virut sởi hoặc virut Rubella. Bệnh lây theo đường hô hấp, khi hít thở chung nguồn khí với người bệnh. Bệnh có đặc điểm lâm sàng là sốt, viêm long đường hô hấp, đường tiêu hóa, viêm kết mạc mắt, phát ban có thứ tự. Bệnh thường gặp ở trẻ em, nhất là trẻ thuộc nhóm tuổi từ 6 – 36 tháng tuổi. Tuy nhiên, bệnh cũng có thể gặp ở người lớn do chưa được tiêm phòng hoặc đã tiêm phòng nhưng chưa được tiêm nhắc lại.

Virut sởi gây bệnh thế nào?

Virut sởi phát tán qua không khí xâm nhập niêm mạc đường hô hấp (như hắt hơi), do vậy, bệnh lây lan nhanh trong cộng đồng, nếu kiểm soát không tốt có thể gây thành dịch. Sau đó, vào máu (nhiễm virut máu lần thứ nhất). Thời kỳ này tương ứng với thời kỳ ủ bệnh. Từ máu, theo các bạch cầu, virut đến các cơ quan đích (phổi, lách, hạch, da, kết mạc mắt…) gây tổn thương các cơ quan này và gây ra các triệu chứng lâm sàng trong thời kỳ toàn phát. Ban ở da và niêm mạc chính là hiện tượng đào thải virut và phản ứng miễn dịch bệnh lý của cơ thể. Ngày thứ 2 – 3 từ khi mọc ban, cơ thể sinh kháng thể. Kháng thể trung hòa virut. Bệnh chuyển sang thời kỳ lui bệnh.

Giai đoạn ủ bệnh khoảng 8 – 11 ngày, bệnh nhân không có biểu hiện rõ ràng. Nếu là trẻ sơ sinh có thể kéo dài 14 – 15 ngày.

Giai đoạn khởi phát (viêm xuất tiết): Thông thường khoảng 3 – 4 ngày.Người bệnh đột ngột sốt nhẹ hoặc vừa, sau sốt cao. Kèm theo các biểu hiện viêm xuất tiết mũi, họng, mắt (chảy nước mắt nước mũi, ho, viêm màng tiếp hợp, mắt có gỉ kèm nhèm, sưng nề mi mắt). Ho, hắt hơi, chảy nước mũi, sau có thể có viêm thanh quản.

Giai đoạn toàn phát (giai đoạn mọc ban): Ban mọc vào ngày thứ 4 – 6 của bệnh. Dạng ban là ban dát sẩn, ban nhỏ hơi nổi gờ trên mặt da, xen kẽ là các ban dát màu hồng. Ban mọc rải rác hay lan rộng dính liền với nhau thành từng đám tròn 3 – 6mm, giữa các ban là khoảng da lành. Ban mọc theo thứ tự: Ngày thứ 1 mọc ở sau tai, lan ra mặt. Ngày thứ 2 lan xuống đến ngực, tay. Ngày thứ 3 lan đến lưng, chân. Ban kéo dài 6 ngày rồi bay theo thứ tự như nó đã mọc.

Sốt phát ban dạng sởi lây lan nhanh, vì sao? 1
 Khi trẻ sốt cao do sốt phát ban, cần lau mặt, người bằng nước ấm cho trẻ thường xuyên.

Cần phân biệt với các loại sốt phát ban khác

Do là sốt phát ban nên bệnh có thể nhầm với các loại sốt phát ban khác cần chẩn đoán phân biệt với một số bệnh có phát ban dạng sởi như:

Rubella: phát ban không có trình tự, ít khi có viêm long đường hô hấp; nhiễm enterovirus: phát ban không có trình tự, hay kèm rối loạn tiêu hóa. Phát ban do Mycoplasma pneumoniae: Sốt nhẹ, đau đầu và viêm phổi không điển hình. Sốt mò: Có vết loét hoại tử do côn trùng đốt; Phát ban mùa xuân trẻ em: Trẻ 6 tháng đến 2 tuổi, khởi đầu là tình trạng nhiễm khuẩn rồi có biểu hiện thần kinh, sau khi hết sốt thì ban mới mọc; Ban dị ứng: Kèm theo ngứa, tăng bạch cầu ái toan; Nhiễm virut Epstein-Barr: Hay kèm theo tăng bạch cầu đơn nhân.

Biến chứng của bệnh

Khi mắc bệnh nếu không được điều trị hoặc do bệnh nhân tự ý điều trị dẫn đến bội nhiễm và có những biến chứng như:

Biến chứng đường hô hấp: Viêm thanh quản: Ở giai đoạn sớm xuất hiện ở giai đoạn khởi phát hay có Croup giả, gây cơn khó thở do co thắt thanh quản. Ở giai đoạn muộn do bội nhiễm (hay gặp do tụ cầu, liên cầu, phế cầu…), xuất hiện sau mọc ban. Diễn biến thường nặng: sốt cao, ho, khàn tiếng, khó thở, tím tái.

Viêm phế quản: Thường do bội nhiễm, xuất hiện vào cuối thời kỳ mọc ban. Biểu hiện sốt lại, ho nhiều.

Viêm phế quản – phổi: Do bội nhiễm, thường xuất hiện muộn sau mọc ban. Bệnh nặng có sốt cao, khó thở, khám phổi có ran phế quản và ran nổ. Đây là nguyên nhân gây tử vong trong bệnh sởi, nhất là ở trẻ nhỏ.

Biến chứng thần kinh: Viêm não – màng não – tủy cấp do virut sởi.

Viêm não: Là biến chứng nguy hiểm gây tử vong và di chứng cao. Gặp ở 0,1 – 0,6% bệnh nhân sởi. Thường gặp ở trẻ lớn (tuổi đi học), vào tuần đầu của ban (ngày 3 – 6 của ban). Khởi phát đột ngột, sốt cao vọt, co giật, rối loạn ý thức: hôn mê, liệt 1/2 người hoặc 1 chi, liệt dây III, VII, hay gặp hội chứng tháp – ngoại tháp, tiểu não, tiền đình…

Viêm màng não kiểu thanh dịch (do virut sởi).

Viêm tủy: Liệt 2 chi dưới, rối loạn cơ vòng.

Viêm màng não mủ do bội nhiễm: Viêm màng não mủ sau viêm tai, viêm xoang, viêm họng… do bội nhiễm.

Viêm não chất trắng bán cấp xơ hóa (Van Bogaert): Hay gặp ở tuổi 2 – 20 tuổi, xuất hiện muộn có khi sau vài năm, điều này nói lên virut sởi có thể sống tiềm tàng nhiều năm trong cơ thể bệnh nhân, ở những bệnh nhân có đáp ứng miễn dịch bất thường. Diễn biến bán cấp từ vài tháng đến 1 năm. Bệnh nhân tử vong trong tình trạng tăng trương lực cơ và co cứng mất não.

Biến chứng đường tiêu hóa: Viêm niêm mạc miệng, cam tẩu mã (xuất hiện muộn, do bội nhiễm xoắn khuẩn Vincent (Leptospira vincenti) là một loại xoắn khuẩn hoại thư, gây loét niêm mạc miệng, lan sâu rộng vào xương hàm gây hoại tử niêm mạc, viêm xương, rụng răng, hơi thở hôi).

Viêm ruột: Do bội nhiễm các loại vi khuẩn như Shigella, E.coli…

Lời khuyên của thầy thuốc

Tiêm phòng là biện pháp hữu hiệu nhất để phòng bệnh. Cần tiêm phòng vaccin sởi và tuân thủ đúng lịch cho trẻ 6 – 9 tháng tuổi trở lên, có tác dụng bảo vệ cao. Bệnh sởi do virut lây lan rất mạnh, phát tán qua đường hô hấp vào không khí, những người không có miễn dịch hoặc miễn dịch kém thì khả năng lây nhiễm cao. Do bệnh có nguy cơ lây lan cao, vì thế khi sốt chưa rõ nguyên nhân người bệnh cần được cách ly ở phòng riêng, không đến chỗ đông người. Khi có sốt cao, phải đến khám tại các cơ sở y tế để tìm nguyên nhân và cách điều trị đúng.

Khi mắc bệnh lưu ý không nên nghe theo quan niệm sai lầm dân gian là phải kiêng gió, kiêng nước, kiêng ăn vì khi không vệ sinh cơ thể sạch sẽ rất khó hạ sốt. Kiêng ăn làm sức đề kháng kém và dễ bị nhiễm khuẩn. Khi chăm sóc trẻ bệnh, có thể tắm cho trẻ bằng nước ấm, lau mát thường xuyên và tăng cường dinh dưỡng bằng nhiều loại thức ăn mềm, chia nhỏ bữa ăn và tuân thủ chỉ định của thầy thuốc.
 

Theo thông tin của Sở Y tế tỉnh Hà Giang tính đến ngày 31/10, ổ dịch sốt phát ban dạng sởi đã có mặt tại 19 thôn bản thuộc 8/13 xã của huyện Bắc Mê với tổng số 123 ca nhiễm, nghi nhiễm, hầu hết trong độ tuổi từ 1 – 15 tuổi, trong đó có một ca 18 tuổi. Trước đó, ca bệnh đầu tiên ở một số trẻ em dưới 5 tuổi tại thôn Nà Lang, xã Yên Cường, huyện Bắc Mê. Tiếp đó đến ngày 25/10, huyện Bắc Mê đã phát hiện 88 ca sốt phát ban dạng sởi và đã báo cáo Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh. Sau đó, Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Hà Giang đã điều tra xác minh và lấy mẫu bệnh phẩm gửi về Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương xét nghiệm. Đến ngày 29/10, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương đã có thông báo kết quả mẫu bệnh phẩm dương tính với virut sởi của Hà Giang.

Hiện ổ dịch sởi đang có nguy cơ lan rộng trên địa bàn huyện Bắc Mê và các xã vùng sâu vùng xa, biên giới của các huyện Mèo Vạc, Yên Minh, Vị Xuyên và TP. Hà Giang.

ThS.BS. Vũ Thị Thảo

Ô đầu là một vị thuốc rất độc, thuộc bảng A trong quy chế thuốc độc. Để giảm bớt độc tính, người ta đã chế biến ô đầu (dạng sống) thành phụ tử (thuốc chín). Phụ tử được xếp vào bảng B với liều gây độc là 25 – 100g. Phụ tử lại được chế giảm độc thêm nữa dưới dạng diêm phụ tử, hắc phụ tử và bạch phụ tử.

Trong Y học cổ truyền, ô đầu được coi là một trong số 4 vị thuốc quý: sâm, nhung, quế, phụ (tức phụ tử là dạng chế biến của ô đầu). Về dược tính, ô đầu có vị nhạt, the, về sau gây cảm giác kiến bò, được dùng chữa bán thân bất toại, chân tay tê mỏi, gân cơ đau nhức, co quắp. Chỉ dùng rượu ngâm ô đầu với tỷ lệ 10% để xoa bóp ngoài. Dùng riêng hoặc phối hợp ô đầu với nhiều vị thuốc khác như nghệ trắng, mật gấu, nhân hạt gấc, mật trăn, huyết lình để xoa bóp.

Phụ tử có vị cay, hơi ngọt, tính nóng, có thể dùng uống để “hồi dương” trong những trường hợp cấp cứu như: mạch gần như không có, mồ hôi ra nhiều, chân tay quờ quạng, phong hàn thấp tý, thận dương hư bất túc, cước khí, thủy thũng. Tuy độ độc có giảm nhưng nhiều người giàu kinh nghiệm chữa bệnh vẫn phải phối hợp với các vị thuốc khác, đặc biệt là cam thảo và gừng sống, sắc kỹ, gạn lấy nước rồi uống.

Ngộ độc ô đầu - Biết để phòng tránh 1

Xưa nay, người dân ở vùng núi cao coi ô đầu là một vị thuốc quý. Họ cho rằng người già dùng ô đầu thì nâng cao được thể lực, bớt đau mỏi, ăn ngủ tốt; giới trung niên thì tăng cường khả năng sinh lý, gân xương chắc khỏe. Dạng dùng thông thường là rượu ngâm uống hằng ngày. Phụ nữ sau khi đẻ dùng ô đầu nấu cháo ăn cho chóng lại sức, lao động được ngay. Đôi khi dạng cồn xoa bóp cũng được sử dụng.

Nhiều vụ ngộ độc vẫn xảy ra, thường là do uống rượu ngâm ô đầu. Người bị ngộ độc lúc đầu thấy cảm giác tê buồn ở lưỡi và niêm mạc miệng, rồi ngứa cổ và ho, sau đó nôn mửa, chân tay lạnh, toát mồ hôi, tim đập nhanh, nhỏ, không đều, đại tiểu tiện không tự chủ, loạn hô hấp, có khi bất tỉnh. Nếu nặng thì thân nhiệt hạ thấp, mạch đập chậm, người xỉu đi, cuối cùng tử vong vì ngạt thở.

Để bảo đảm an toàn cho sức khỏe, tốt nhất là không nên tự ý dùng ô đầu, phụ tử dù là ngâm rượu để xoa bóp.

TTƯT.DSCKII. Đỗ Huy Bích

Nghiên cứu của các chuyên gia ở Hiệp hội Ung thư Mỹ (ACS) do TS. Alpa Patel đứng đầu cho thấy, mỗi ngày đi bộ nhanh hơn tốc độ bình thường hoặc làm việc chân tay khoảng 1 giờ thì giảm được 25% nguy cơ mắc bệnh ung thư vú ở phụ nữ. Phát hiện dựa trên nghiên cứu ở 73.000 phụ nữ đã mãn kinh đi bộ nhanh với tốc độ 4,5 dặm/giờ (khoảng 7km/h). Nguyên lý của việc đi bộ hoặc duy trì cuộc sống vận động là giảm các loại hormon tình dục, duy trì trọng lượng ở mức hợp lý, cải thiện quá trình chuyển hóa gluco và làm giảm viêm nhiễm. Chính vì vậy mà nó có tác dụng giảm bệnh ung thư, tim mạch, đái tháo đường. Với tác dụng này, các nhà khoa học khuyến cáo mọi người mỗi ngày nên luyện tập thể thao khoảng 30 phút – 1 giờ, nhất là những hoạt động có thể giúp cơ thể tăng tiết mồ hôi. Riêng nhóm phụ nữ mãn kinh thì hoạt động này lại càng có tác dụng trong việc giảm thiểu các hiện tượng do mãn kinh gây ra như bốc hỏa, ra mồ hôi, mệt mỏi hay thay đổi tâm tính do hormon suy giảm.

Khắc Nam (Theo PC,10/2013)