Author Archives: dungntk

Từ lâu, khoa học biết rằng muỗi lảng tránh thuốc DEET – một loại thuốc diệt muỗi, côn trùng, nhưng các thụ thể khứu giác nào giúp cho côn trùng kháng thuốc thì khoa học lại chưa nắm rõ nên chưa tìm được loại thuốc tốt hơn. Nay nhờ nghiên cứu, các chuyên gia Mỹ UOC đã xác định được các thụ thể nói trên. Qua thử nghiệm trên ruồi giấm chuyển gen, các nhà khoa học phát hiện thấy các nơron thần kinh được kích hoạt bởi DEET sẽ phát màu huỳnh quang xanh nên các nhà khoa học đã xác định được vị trí các thụ thể này nằm ở một phần của antent có tên là sacculus. Tiếp tục nghiên cứu ở 500.000 hóa chất, nhóm đề tài phát hiện được 3 hóa chất kích hoạt những thụ thể này để giúp muỗi phát kháng lại DEET, đó là ba hóa chất methyl N,N-dimethyl anthranilate; ethyl anthranilate và butyl anthranilate. Với việc phát hiện ra các hóa chất nói trên trong tương lai con người sẽ sản xuất được loại thuốc diệt muỗi có hiệu quả hơn, không chứa hóa chất độc hại nhưng vẫn hạn chế những căn bệnh do muỗi lan truyền như sốt xuất huyết, sốt rét, những căn bệnh đang bùng phát mạnh ở các nước đang phát triển.

Khắc Nam (Theo Gizmag,10/2013)

Bom, mìn, các vụ cháy nổ, nổ bình ga, nổ bình điện, nổ do cháy xăng dầu… đều có thể gây thương vong do sóng nổ gây ra. Sóng nổ thường gây đa chấn thương như chấn thương sọ não, chấn thương ngực, bụng, gãy xương tay chân… nên cần cấp cứu kịp thời mới hạn chế được thương vong.

Sóng nổ là sóng chấn động do thuốc nổ, bom, mìn, đạn pháo cỡ lớn, bộc phá, thủy lôi, bình ga, bình điện, các vụ hỏa hoạn xăng dầu… cháy nổ tạo nên. Sóng nổ phát ra từ tâm vụ nổ tỏa ra theo vòng tròn với một áp suất rất cao. Độ lớn của áp suất và tốc độ của sóng nổ giảm dần khi truyền đi xa tâm vụ nổ. Đại lượng đo sóng nổ tính bằng kg/cm3, đại lượng này còn được gọi là xung lượng của sóng nổ. Xung lượng sóng nổ quyết định tổn thương trên cơ thể của con người và các sinh vật: cường độ xung lượng 2kg/cm3, con người và động vật bị tử vong; xung lượng từ 0,5 – 1kg/cm3 con người và động vật bị tổn thương nặng; xung lượng từ 0,4 – 0,5kg/cm3 gây tổn thương vừa; xung lượng từ 0,2 – 0,4kg/cm3 gây tổn thương nhẹ. Tổn thương do sóng nổ thường gặp nhất là ở phổi, cơ hoành, các tạng trong ổ bụng, não, màng nhĩ của tai… Sóng nổ còn đẩy những mảnh vỡ của bom mìn, gạch, gỗ, đá, đất, mảnh kính vỡ… sát thương con người và động vật. Do đó nạn nhân ở gần tâm của vụ nổ sẽ bị tổn thương nặng hơn do áp suất sóng nổ cao và bị các vết thương do vật cứng sắc phá hủy.

Tổn thương do sóng nổ 1
 Hà hơi thổi ngạt cứu bệnh nhân bị ngạt do sóng nổ.

Những tổn thương có thể gặp

Trong và sau vụ nổ, sóng nổ gây ra nhiều dạng tổn thương cho con người. Sóng nổ có áp lực cao tác động làm ép ngực, ép bụng, tăng áp lực không khí ở phế nang, hệ thống máu tĩnh mạch, thủng màng nhĩ… Sau đợt cơ thể chịu tác động trực tiếp của áp lực cao là đến đợt áp lực thấp nên có sự thay đổi đột ngột của áp lực. Nạn nhân có hiện tượng chảy máu lấm tấm và tổn thương thành mạch máu ở não, dưới màng cứng; vỡ các phế nang, xẹp phổi, tràn khí màng phổi, chảy máu ở màng phổi, sung huyết nền phổi, phù phổi cấp; phù khí ở dưới da; chảy máu thành bụng, giãn ống tiêu hóa; giập rách gan, lách, tụy, thận; thủng màng nhĩ, chảy máu tai trong; chảy máu dưới kết mạc mắt, chảy máu vào thủy tinh dịch; tắc hoặc vỡ các động mạch… Trường hợp sóng nổ mạnh, có thể hất tung nạn nhân lên cao và ra xa hoặc làm sập hầm, đổ nhà cửa… gây nên các tổn thương thứ phát như gãy xương, sai khớp, vỡ tạng bụng kín, chấn thương sọ não, chấn động não, bị va đập, bị vùi lấp, hội chứng đè ép chi… tử vong tại chỗ.

Có thể chia tổn thương sóng nổ thành 3 mức độ:

Mức độ nặng: mất trương lực cơ, cơ nhẽo mềm nhũn; bất tỉnh, hôn mê, đại tiểu tiện không tự chủ kéo dài vài ba ngày và thường tử vong. Sọ não và thần kinh: chấn động não, phù não, giập não, xuất huyết não, nhũn não, giảm cảm giác, giảm hoặc mất phản xạ gân xương. Hô hấp: khó thở, thở nhanh nông, đau tức ngực, ho ra máu kéo dài hay thổ huyết có thể có tràn khí tràn máu màng phổi, phù phổi cấp hoặc hội chứng sốc phổi. Ở bụng: có thể liệt ruột gây tắc ruột cơ năng; tổn thương tạng thì sẽ có biểu hiện của hội chứng chảy máu trong hoặc hội chứng kích thích phúc mạc và viêm phúc mạc. Tai: thường chảy máu, giảm thính lực tạm thời hoặc điếc. Chi thể: gãy, vỡ, giập xương.

Loại nặng tiến triển dễ tử vong do rối loạn hô hấp, tuần hoàn nặng và tổn thương sọ não. Nếu được điều trị thì vẫn còn để lại các di chứng như loạn thần, suy nhược thần kinh, liệt nửa người, đau tức ngực, viêm phế quản dạng co thắt, ho ra máu kéo dài, có thể điếc tai và mờ mắt.

Mức độ vừa: mệt mỏi, đau đầu nhiều lần, buồn nôn, choáng váng, có triệu chứng chấn động não. Đau tức ngực, khó thở, ho ra máu, giảm thính lực tạm thời, đau bụng và bụng chướng trong một vài ngày, đái dắt, đái ít trong 2 – 3 ngày, chảy máu dưới kết mạc, viêm kết mạc. Sau 2 – 3 tuần điều trị sẽ hồi phục nhưng có thể để lại một số di chứng.

Mức độ nhẹ: bệnh nhân bị choáng váng, đau ê ẩm toàn thân, ù tai, chóng mặt, nhức đầu, trí nhớ kém, khó ngủ thường tự khỏi sau từ 3 – 5 ngày hoặc hơn, không để lại di chứng.

Cách sơ cứu

Ngay sau khi vụ nổ xảy ra, cần tổ chức cấp cứu: khẩn trương đào bới giải thoát cho những nạn nhân bị vùi lấp, đè ép, ngạt thở. Mọi nạn nhân bị sức ép đều phải di chuyển nhẹ nhàng ra nơi an toàn thoáng khí, đặt nằm yên, đầu hơi thấp để làm thông đường hô hấp, tránh tình trạng tắc khí lên não. Nạn nhân bị ngạt thở, tiến hành hà hơi thổi ngạt. Ga rô cầm máu, băng bó vết thương, cố định xương gãy. Cần lau sạch đờm dãi, động viên, an ủi nạn nhân. Sau đó dùng mọi phương tiện sẵn có chuyển nhanh nạn nhân đến bệnh viện gần nhất để điều trị tiếp.

Tổn thương do sóng nổ 2
 Băng bó và cố định xương gãy rồi mới chuyển nạn nhân đi bệnh viện.

Lời khuyên của bác sĩ

Khi gặp vụ nổ hoặc trong trường hợp cần tránh bom đạn, nếu ở nơi không có hầm thì phải lợi dụng địa hình tự nhiên che chắn và nằm sát xuống đất theo tư thế: không nằm sát trực tiếp lên mặt đất hoặc sàn tàu, xe… mà dùng tay xếp dưới ngực và bụng để tránh sự va đập của sức nổ truyền qua mặt đất, sàn tàu xe, đập mạnh vào ngực bụng; hàm răng nên cắn chặt một cái nút chai hay một vật êm như khăn, áo. Khi có tiếng nổ lớn, cần nhanh chóng bịt tai và mở miệng. Nơi có hầm trú ẩn phòng chống sóng nổ tốt như hầm chữ A và hầm hào hình chữ chi, nên trú ẩn sâu trong hầm, không đứng hoặc ngồi ở gần cửa hầm.

Nhà ở và cơ quan xí nghiệp cần thực hiện tốt quy định phòng chống cháy nổ. Không mua bán tàng trữ chất nổ, pháo nổ. Sử dụng bình ga nấu ăn đúng quy tắc an toàn, cần khóa kỹ bình ga và van bếp khi đã nấu xong để phòng tránh cháy nổ bình ga.

ThS. Nguyễn Xuân Lục

Thuốc Đông y được dùng khá phổ biến và uống là hình thức phổ biến nhất. Tuy nhiên, mỗi loại bệnh lại có thời điểm và cách uống thuốc khác nhau.

Uống trước khi ăn: Thường dùng cho các loại bệnh gan thận hư tổn hoặc những bệnh có vị trí phía dưới như các bệnh từ eo lưng trở xuống và các bệnh về đường ruột. Vì lúc này, dạ dày đang rỗng, thuốc tiếp xúc chủ yếu với niêm mạc đường tiêu hóa sẽ hấp thu nhanh và đạt được hiệu quả chữa trị.

Uống sau khi ăn: Thường áp dụng đối với nhưng loại thuốc có tác dụng kích thích đường tiêu hóa hay những loại thuốc trị bệnh có vị trí ở trên như bệnh tim, gan, phổi… Theo các thầy thuốc Đông y, đây là những loại thuốc có dược tính mạnh nên cần phải uống sau khi ăn để khỏi bị hấp thu quá nhanh dẫn tới trúng độc.

Uống nguội: Thuốc giải độc, cầm nôn, giải nhiệt đều nên uống nguội. Ví dụ như thuốc chữa trị sốt cao nên để thật nguội hãy uống.

Thời điểm uống thuốc Đông y hiệu quả 1
 Uống thuốc Đông y đúng cách sẽ có hiệu quả điều trị cao. (Ảnh minh họa)

Uống ấm: Những loại thuốc có tính bồi bổ thường có vị ôn hòa nên thường được chỉ định dùng khi ấm nhằm tăng cường tác dụng bổ khí và bổ dưỡng. Với thuốc bổ, sắc xong để nguội khoảng 35% thì uống là vừa.

Uống nóng: Thuốc trúng gió, cảm cúm, giải độc trừ hòa, nên uống lúc còn nóng để cho ra mồ hôi; Khi cần loại trừ hàn, tăng cường thông huyết mạnh, thường được chỉ định uống lúc nóng để phát huy hết tác dụng của thuốc.

Uống hết ngay một lần: Những loại thuốc mạnh liều lượng ít được sử dụng để uống một lần cho hết nhằm tập trung sức mạnh của thuốc, phát huy hiệu quả tối đa như thuốc thông đại tiểu tiện, tan máu ứ…

Uống nhiều lần: Những người bị bệnh về yết hầu, hay nôn mửa, cần uống thuốc làm nhiều lần và từ từ để thuốc có thời gian ngấm vào cơ thể và dạ dày.

Uống khi đói: Thuốc bổ cũng được khuyên dùng nên uống vào buổi sáng, lúc bụng đói để hấp thu được hết.

Uống trước khi ngủ: Thuốc an thần gây ngủ vì thế uống trước khi ngủ khoảng 30 phút sẽ giúp thuốc phát huy hiệu quả cao nhất. Bên cạnh đó, người mắc bệnh tích trệ, đau ngực sau khi uống thuốc nên nằm ngửa; người mắc bệnh ở đầu, não, tai, mắt, sau khi uống thuốc nên tĩnh dưỡng tại chỗ. Đối với người mắc bệnh đau hai bên suờn sau khi uống thuốc nên nằm nghiêng.

Uống cách nhật: Thường sử dụng đối với các loại thuốc tẩy giun sán. Trước khi đi ngủ uống một lần, sáng hôm sau uống một lần nữa khi bụng đói để giun sán bị tiêu diệt và dễ bài tiết ra ngoài.

Điều rất rõ ràng khi mùa xuân đến và khi ánh sáng mặt trời rạng rỡ, thì những người bị chứng trầm cảm có cảm giác vui hơn. Về phương diện này, quang liệu pháp đã được sử dụng để chữa trị chứng trầm cảm về mùa đông.

Tuy vậy, cơ chế về thần kinh học vẫn chưa được hiểu rõ. Nhờ vào các công trình nghiên cứu của nhóm Mingliang Pu thuộc Viện đại học Bắc Kinh, Trung Quốc, trên loài chuột, hy vọng sẽ giải mã được. Thực vậy, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra các tế bào hạch của võng mạc, đó là các nơ-ron nằm trong mắt tiếp xúc với các tế bào cảm thụ ánh sáng, có liên quan đến một vùng của thân não, đã được xác định có chức năng tạo ra serotonin. Đây là một chất trung gian dẫn truyền thần kinh, đóng một vai trò quan trọng về tính khí của con người. Hơn nữa, khi con mắt bị kích thích bởi ánh sáng thì nó sẽ gửi các tín hiệu thông qua các tế bào hạch, làm tăng nồng độ serotonin trong vùng vỏ não này và hậu quả là làm giảm các triệu chứng trầm cảm ở loài chuột.

Các nhà nghiên cứu còn chứng tỏ rằng, để làm giảm trầm cảm của những con chuột không thấy được ánh sáng, thì kích thích các tế bào hạch của võng mạc cũng có hiệu quả như là được điều trị bằng thuốc chống trầm cảm thông dụng.

BS. Nguyễn Văn Thông (Theo Science & Vie, 2013)

TS. Jonathan Allen (36 tuổi), một chuyên gia về động vật không xương sống tại Trường đại học William và Mary (Mỹ) đột nhiên cảm thấy có cái gì đó ngọ nguậy dưới lớp niêm mạc môi khi đang trò chuyện với những người bạn trong một buổi họp lớp. Sau khi trở về nhà, Allen đã dùng một chiếc kim chọc vào vị trí đang bị ngứa rồi dùng kẹp lôi được con sán ra ngoài.

Sán sống “tầm gửi” 3 tháng dưới lớp da môi 1

Allen cho biết: Những con sán này đã tồn tại ở niêm mạc môi được khoảng 3 tháng nay. Những con sán này được xác định là ký sinh trùng chủ yếu sống ký sinh trên động vật, đặc biệt là trâu, bò, chó, mèo và có thể được truyền sang người thông qua đường ăn do các loại thức ăn đã bị ô nhiễm. Nó cũng có thể bị nhiễm vào người từ các loại thực phẩm bị ôi thiu trong quá trình lưu trữ không đảm bảo hoặc từ nguồn nước bị ô nhiễm.

Theo thống kê tại Mỹ, trường hợp của anh Allen là người thứ 13 và thứ 60 trên thế giới có sán sống dưới da.

Minh Trang (Theo Daily Mail)

Ở phương Tây, trong dịp Tết và Noel không thể thiếu con ngỗng quay trên bàn ăn bởi họ quan niệm ăn thịt ngỗng trong dịp năm mới sẽ đem lại cho gia đình mình nhiều may mắn. Ở nước ta, ngỗng cũng được các đầu bếp chế biến thành những món ăn khá độc đáo như ngỗng quay, ngỗng tẩm bột, ngỗng xào lăn, ngỗng nướng, ngỗng hấp… Với thành phần giàu protein, lipid, các hợp chất carbon, Ca, P, Fe, vitamin C… không chỉ có giá trị về dinh dưỡng, ngỗng còn có công dụng làm thuốc chữa bệnh được nhân dân ta sử dụng từ lâu đời.

Theo Đông y, thịt ngỗng ngọt, tính bình, vào tỳ phế. Tác dụng bổ ngũ tạng, ích khí bổ hư, ngừng tiêu khát. Dùng cho các trường hợp gầy còm, mỏi mệt, suy nhược cơ thể, tiểu đường. Mật ngỗng thanh nhiệt giải độc; máu ngỗng trị trúng tên độc; trứng ngỗng bổ trung ích khí; lông và màng da chữa bệnh ngoài da, vỏ trứng trị mụn nhọt… Sau đây là một số cách dùng ngỗng làm thuốc.

Trị ung nhọt: lông ngỗng sao cháy 40g, phèn chua 80g. Nghiền nhỏ, dùng nước cơm làm thành viên. Mỗi lần 8g, uống với rượu nhẹ.

Thịt ngỗng bổ ngũ tạng, ngừng tiêu khát 1
 Thịt ngỗng hầm bổ khí, bổ âm, dùng trong trường hợp người mệt,
 ăn kém, đái tháo đường.

Hoặc lông ngỗng sao tồn tính 40g, hùng hoàng 12g, xuyên ô 6g, thảo ô 6g, sáp ong vừa đủ. Nghiền trộn lông ngỗng, hùng hoàng, xuyên ô, thảo ô thành bột mịn; giã trộn với sáp ong nóng chảy để làm viên. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 4g, uống với rượu. Trị mụn nhọt độc.

Trị phong độc ngứa lở: khổ sâm 600g, lông ngỗng 320g. Lông ngỗng sao tồn tính, trộn với khổ sâm khô, tán nhỏ. Dùng nước cơm làm hồ, viên bằng hạt ngô (3g). Lấy chu sa làm áo. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 5 – 10g, uống với rượu loãng. Chữa phong ngứa nổi khắp mình, nổi đỏ, gãi ngứa khác thường, chân tay đau nhức, da dẻ nứt nẻ, phụ nữ âm hộ lở loét ướt và ngứa.

Giảm đau, chịu đánh không đau: ống lông ngỗng có máu 7 cái, giun đất 7 con, nhũ hương 5g. Lông ngỗng sao cháy tồn tính, giun đất sao hoặc nướng giòn cùng với nhũ hương nghiền thành bột mịn, thêm ít sáp ong làm viên. Ngày uống 2 lần (sáng, tối); mỗi lần uống 4g với rượu loãng.

Trị hạch ở cổ (loa lịch): lấy tất cả lông, màng da chân và miệng, để lên miếng ngói đang nung đỏ cho cháy. Lấy than nghiền nhỏ chia làm 10 phần, mỗi phần uống trong ngày, uống sau bữa ăn.

Nước ép thịt ngỗng: thịt ngỗng cả con, làm sạch bỏ ruột, hầm nấu ép lấy nước. Dùng cho bệnh nhân đái tháo đường.

Ngỗng hầm bổ khí: ngỗng 1 con, hoàng kỳ 30g, đảng sâm 30g, sơn dược 30g. Ngỗng làm sạch bỏ ruột; cùng nấu dược liệu, thêm gia vị cho phù hợp. Dùng cho các trường hợp tỳ vị hư nhược, ăn kém, mệt mỏi.

Ngỗng hầm song bổ thang: thịt ngỗng 1 con, thịt lợn nạc 200g, sơn dược 20g, sa sâm 20g, ngọc trúc 20g. Cho vào nồi, thêm nước và gia vị vừa ăn, đun nhỏ lửa hầm nhừ. Bổ khí, bổ âm, dùng trong trường hợp miệng họng khô, khát nước, mệt mỏi, thở gấp, ho suyễn, ăn kém, đái tháo đường…

Kiêng kỵ: Người đang có thấp nhiệt (nhiễm khuẩn cấp tính) không dùng.

Thịt ngỗng tác dụng bổ âm, bổ khí mạnh, nhưng tránh lạm dụng vì dễ gây rối loạn tiêu hóa.

BS. Tiểu Lan

Nhân Ngày Đột quỵ thế giới 29/10, GS.TS. Lê Đức Hinh – Chủ tịch Hội Thần kinh học Việt Nam cho biết, ở Việt Nam, cứ 100 trường hợp đột quỵ (tai biến mạch máu não) thì có 75 – 85% trường hợp bị nhồi máu não, 10% chảy máu não… Đáng lưu ý, trong 100 trường hợp bị đột quỵ, có 1/3 trường hợp để lại di chứng. Đột quỵ là một trong các nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn tật (xếp sau ung thư và tim mạch)…

90% bệnh nhân đột quỵ để lại di chứng

Theo GS. Stephen Davis – Chủ tịch Tổ chức Đột quỵ Thế giới, mỗi năm, trên toàn cầu có 16 triệu ca đột quỵ và khoảng 6 triệu ca tử vong. Trên 80% trường hợp đột quỵ xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình như Việt Nam. Ở Việt Nam, cơ sở hạ tầng của đa số các bệnh viện còn thiếu thốn nên việc chẩn đoán, xử trí và quản lý bệnh nhân đột quỵ còn gặp nhiều khó khăn. Kiến thức về đột quỵ của người dân cũng còn hạn chế, không nhận biết được các triệu chứng để kịp thời đưa người bệnh đi cấp cứu. Hậu quả là tỷ lệ bệnh nhân bị di chứng (theo GS.TS. Lê Văn Thính – Trưởng khoa Thần kinh, BV Bạch Mai) chiếm tới 90%.
 
Đột quỵ - Nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn tật 1
 Cấp cứu người bệnh đột quỵ tại BV Bạch Mai. Ảnh: Trần Minh

Đột quỵ có thể do chảy máu não hoặc tắc mạch não. Những người bị chảy máu não, trong 24 giờ đầu tiên có thể bị chảy máu lần 2 và bệnh nặng lên nhanh chóng. Còn với bệnh nhân bị tắc mạch não, cần được đưa đến bệnh viện trong vòng 3 – 4 giờ đầu sau cơn khởi phát để được dùng thuốc tránh tắc mạch. Với phác đồ điều trị tiên tiến hiện nay, nếu bệnh nhân được chuyển đến bệnh viện sớm, sự phục hồi sẽ rất khả quan. Người cao tuổi, bị tăng huyết áp, đái tháo đường, béo phì, ít vận động… thì khả năng bị đột quỵ cao.

 
Tuy nhiên, ngay cả các nước tiên tiến nhất như Mỹ, Đức và các nước châu Âu, nơi có các trung tâm đột quỵ rất rộng rãi thì tỷ lệ bệnh nhân được sử dụng thuốc tiêu sợi huyết chỉ khoảng trên dưới 5%. Ở nước ta, theo Đại tá, GS.TS. Nguyễn Văn Thông – nguyên Giám đốc Trung tâm Đột quỵ (Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, hiện mới chỉ có khoảng dưới 1% bệnh nhân bị đột quỵ được điều trị bằng thuốc tiêu sợi huyết (tPA) đúng cách khi đến bệnh viện. Kiến thức về “giờ vàng” (3 – 4,5 giờ đầu từ khi khởi phát đột quỵ) đối với bệnh nhân bị đột quỵ không phải ai cũng nắm được. Có nhiều giải pháp bảo vệ dinh dưỡng và kích thích phục hồi thần kinh sau đột quỵ, trong đó giải pháp có bằng chứng về hiệu quả nhất là hoạt chất cerebrolysin. Hoạt chất này thúc đẩy quá trình sinh thần kinh và sự di trú của các tế bào mới được tạo ra đến khu vực bị tổn thương.

Xử trí thế nào khi phát hiện bệnh nhân đột quỵ?

Các chuyên gia y tế nhấn mạnh, xử trí đúng các bệnh đột quỵ sẽ giúp giảm tỉ lệ tử vong; giảm số ngày phải điều trị nội trú và giảm di chứng, tăng cơ hội sống không cần sự giúp đỡ cho người bị đột quỵ. Theo GS.TS. Phạm Gia Khải, đây là bệnh có thể phòng được bằng một chế độ sinh hoạt lành mạnh: ăn uống điều độ, nhiều chất xơ, rau, hoa quả…; ăn ít muối và đường, ít chất béo, tránh hút thuốc hoặc uống rượu; nên tập thể dục hàng ngày. Khi một bệnh nhân đang khỏe mạnh bình thường mà đột ngột xuất hiện 1 trong 5 biểu hiện như sau: đột ngột mất thị lực, đặc biệt là xuất hiện ở một bên mắt; Đau đầu dữ dội (có thể nói đây là cơn đau nhất trong cuộc đời người bệnh) thì chúng ta nên nghi ngờ bệnh nhân đó khả năng bị đột quỵ não cấp. Khi đó, gia đình cần nhanh chóng đưa bệnh nhân vào cơ sở y tế có chuyên môn sâu về điều trị đột quỵ gần nhất để được điều trị bằng thuốc tiêu sợi huyết. Cùng đó, người nhà bệnh nhân cũng cần biết một số thao tác sơ cứu ban đầu như đặt bệnh nhân nằm nghiêng, kiểm tra xem có dị vật trong miệng để tránh tắc đường thở.
 
Điều quan trọng nhất lúc này là đảm bảo chức năng thở cho bệnh nhân, sau đó kiểm tra tim, đo huyết áp…, không nên cho bệnh nhân dùng bất cứ một loại thuốc gì vì đôi khi bệnh nhân có thể sặc và gây suy hô hấp cấp. “Những biện pháp dân gian để sơ cứu ban đầu cho bệnh nhân như xoa dầu và đánh gió hoặc là cho sử dụng một số loại thuốc Đông y không rõ nguồn gốc là thừa. Điều quan trọng nhất là chúng ta phải nhanh chóng đưa bệnh nhân vào viện để được cấp cứu. Đó là cách xử trí ban đầu tốt nhất cho bệnh nhân đột quỵ não cấp”, GS. Phạm Gia Khải nhấn mạnh.
 

Các dấu hiệu nhận biết đột quỵ não:

Trong vòng 1 phút, những dấu hiệu xảy ra nhanh chóng như thấy yếu chân, tay, nói líu ríu, mất thăng bằng, cần nghi ngờ người đó bị đột quỵ. Những người có nguy cơ đột quỵ ở tuổi cao: 60 – 65 bị các bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp, sinh hoạt không điều độ…

Trong vòng vài giờ sau khi tai biến mạch máu não xảy ra, các triệu chứng đột ngột xuất hiện như:

* Yếu liệt hoặc tê rần ở vùng mặt, tay hoặc chân, đặc biệt là một bên cơ thể.

* Lú lẫn, rối loạn lời nói hoặc hiểu biết (khó tìm từ hoặc không hiểu từ; nói líu ríu, lắp bắp).

* Không nhìn thấy ở một hay cả hai mắt hoặc nhìn một hóa hai.

* Khó khăn khi bước đi hoặc khó phối hợp các động tác.

* Nhức đầu dữ dội mà không biết nguyên nhân. Suy giảm ý thức nhanh chóng. Mất thăng bằng, chóng mặt, nôn…

Trong một số trường hợp, người bệnh vẫn còn tỉnh táo, nhưng đa số bị giảm sút tri giác (như lơ mơ, ngủ gà, có thể hôn mê). Bệnh nhân có thể liệt nửa người, liệt mặt và các cơ hầu họng (gây nuốt khó, sặc khi ăn uống, nói khó), tiêu tiểu không tự chủ.

(Theo GS.TS. Lê Đức Hinh – Chủ tịch Hội Thần kinh học Việt Nam)

Ng. Tuệ

Tiểu mạch còn gọi là phù tiểu mạch, lúa mì. Tiểu mạch rất giàu dinh dưỡng: chứa nhiều hydratcacbon, protid (có đầy đủ các acid amin, đặc biệt là acid glutamic và prolin với hàm lượng cao). Theo Đông y, tiểu mạch vị ngọt tính mát; vào tỳ, thận, tâm. Có tác dụng dưỡng tâm, bổ thận, kiện tỳ, nhuận tràng, trừ nhiệt, chỉ khát…

Chữa thổ tả, phiền khát, dùng bài Mạch môn đông thang: bạch linh 4g, chích thảo 2g, quất bì 4g, bạch truật 4g, mạch môn 8g, tiểu mạch 4g, bán hạ 4g, nhân sâm 2g. Sắc uống.

Trị chứng phiền muộn, buồn bực bất an, tinh thần hoảng hốt không tự chủ dùng bài Cam mạch đại táo thang: tiểu mạch 40g, cam thảo 10g, đại táo 10 quả. Sắc uống. Tác dụng dưỡng tâm, an thần, hòa trung hoãn cấp và tác dụng tăng sữa cho sản phụ.

Khí, âm bất túc, tự ra mồ hôi, mồ hôi trộm, tim hồi hộp, dùng bài Mẫu lệ tán: tiểu mạch 40g, hoàng kỳ 16g, ma hoàng căn 10g, mẫu lệ nướng 40g. Tán bột. Dùng 12 – 20g trong ngày hoặc sắc uống. Tác dụng bổ khí liễm âm, cố biểu chỉ hãn.

Cháo mì đại táo cam thảo: tiểu mạch (mì hạt) 100g, cam thảo 18g, đại táo 12 quả. Nấu cháo. Dùng cho các trường hợp rối loạn thần kinh chức năng, hysteria cười khóc vui buồn luân phiên xen kẽ.

Cháo hoặc cơm tiểu mạch: mì hạt đã xát vỏ hoặc bột mì ngâm nước đãi sạch, nấu dạng cơm hoặc cháo, dùng cho các trường hợp sốt nóng, miệng họng khô khát nước.

Cháo tiểu mạch: tiểu mạch (đã xát vỏ hoặc đã xay dạng bột mì) 50 – 80g, gạo tẻ 60g, đại táo 5 quả. Tất cả nấu cháo. Dùng cho các trường hợp loạn nhịp tim, hồi hộp, đánh trống ngực, mất ngủ, vã mồ hôi, ra mồ hôi trộm.

Hãng AT&T và Công ty Filip Technologies vừa hợp tác nghiên cứu, cho ra đời một loại đồng hồ thông minh có tên FiLIP, vừa có khả năng theo dõi được trẻ nhỏ lại có thể làm được chức năng truyền thông hay chức năng của một điện thoại di động, rất phù hợp cho nhóm tuổi từ 1 – 4 tuổi. Đồng hồ hoạt động nhờ thủ thuật điện toán đám mây, giúp cho các bậc cha mẹ theo dõi được con trẻ, nhất là khi đi dã ngoại hoặc ở những nơi công cộng. Khi bị lạc, trẻ có thể dùng đồng hồ liên lạc nhờ những nút bấm đơn giản. Ngoài ra, FiLIP còn có một tính năng “cấp cứu”, trẻ chỉ cần ấn vào nút báo động màu đỏ là sau 3 giây cha mẹ hoặc cảnh sát có thể biết chính xác vị trí để giải cứu. Dự kiến đồng hồ FiLIP sẽ có mặt trên thị trường Mỹ vào cuối năm nay.

Duy Hùng (Theo GC,10/2013)

Đại học Y khoa Case Western (CWU) Mỹ vừa công bố nghiên cứu sử dụng thủ thuật đa ký giấc ngủ (polysomnography) ở 3.000 đàn ông. Đây là thủ thuật dùng để ghi lại một loạt thông số sinh lý của con người khi ngủ và phát hiện thấy những người mắc chứng rối loạn khi ngủ là nhóm người thường có nhịp tim bất thường, thậm chí cả hiện tượng ngưng thở khi ngủ. Thông qua thủ thuật nói trên, các nhà khoa học phát hiện thấy mối quan hệ giữa sự cố hô hấp và rối loạn nhịp tim. Theo đó, số lần ngưng thở hoặc thở nông của những người tham gia nghiên cứu đã được ghi lại kèm theo mức độ suy giảm ôxy trong máu và hiện tượng rối loạn nhịp tim. Nghiên cứu sâu hơn cho thấy, những người càng rối loạn giấc ngủ, ngủ kém thì hiện tượng ngưng thở rối loạn nhịp tim càng cao. Các nhà khoa học cho rằng, tình trạng thiếu ôxy hay còn gọi là mức suy giảm ôxy trong máu có thể là yếu tố liên kết giữa rối loạn giấc ngủ và bệnh tim mạch. Đây là căn bệnh cần chẩn đoán và chữa trị sớm để hạn chế ảnh hưởng dài hạn đến sức khỏe của tim mạch.

Nam Bắc Giang (Theo HBC,10/2013)

Công ty Tư vấn tâm lý JWT Interlligence (JI) của Mỹ vừa thực hiện nghiên cứu thú vị và phát hiện thấy, điều mà phái mày râu lo lắng nhiều nhất là vẻ đẹp thể chất của họ. Theo nghiên cứu, có tới 79% đàn ông “bị áp lực” quá lớn về hình thức bề ngoài mỗi khi tiếp xúc với phụ nữ. Kết quả này dựa trên cuộc điều tra ở 242 đàn ông trong năm 2012, trong đó có tính đến các yếu tố khách quan như tuổi tác, địa vị, thói quen ăn uống, luyện tập cũng như nghề nghiệp. Cụ thể, những vấn đề sau được phái mày râu quan tâm hơn cả: 18% lo về chiều cao, 28% lo về nếp nhăn trên mặt, 29% lo lắng bị hói đầu, 14% lo mũi không được như ý, 18% lo cơ thể có quá nhiều lông, 29% lo ngực lép, 32% lo bụng xấu, 39% mong có cơ bụng săn chắc, 39% sợ bụng bự. Cũng trong nghiên cứu, các nhà khoa học phát hiện thấy, chỉ có 17% là hoàn toàn không lo gì về vẻ đẹp bên ngoài của họ, đẹp xấu không quan trọng.

Khắc Hùng (Theo WH,10/2013)

Là một loại rau phổ biến trong mùa thu – đông, bắp cải không chỉ có giá trị dinh dưỡng cao mà còn chữa được nhiều bệnh. Đặc biệt là lượng vitamin trong bắp cải cao hơn nhiều so với các loại rau củ khác như: cà rốt, khoai tây, hành tây. Theo nghiên cứu, hàm lượng vitamin A và vitamin P trong bắp cải kết hợp với nhau làm thành mạch máu bền vững hơn. Trong bắp cải còn chứa các chất chống ung thư như: Sulforaphane, phenethyl isothiocyanate và Indol -33 carbinol.

Theo Đông y, bắp cải vị ngọt, tính hàn, không độc, có tác dụng hòa huyết, thanh nhiệt, thanh phế, trừ đàm thấp, sinh tân, chỉ khát, mát dạ dày, giải độc, lợi tiểu. Bắp cải cũng giúp chống suy nhược thần kinh, giảm đau nhức phòng chống các bệnh ung thư, tim mạch và nhiều loại bệnh khác.

Bắp cải - Rau ăn, vị thuốc 1

Giảm đau nhức: Ép bắp cải lấy nước uống, còn bã đắp vào chỗ đau nhức do thấp khớp, thống phong, đau dây thần kinh tọa.

Chữa đau khớp, nhức tay chân, nổi hạch: Lấy lá bắp cải cán dập gân lá, hơ nóng rồi áp lên chỗ đau. Mỗi chỗ đau đắp 3 – 4 miếng lá cải bắp, bên ngoài dùng vải dày áp lên rồi cột lại.

Chữa ho nhiều đờm: Dùng 80 – 100g bắp cải, nửa lít nước, sắc còn 1/3, cho thêm mật ong uống trong ngày, kết hợp ăn bắp cải sống.

Đái tháo đường: Bắp cải có tác dụng làm giảm quá trình đồng hóa glucid và giảm đường huyết. Dùng 100g hàng ngày giúp phòng và trị bệnh đái tháo đường type 2.

Bắp cải - Rau ăn, vị thuốc 2
 Món ăn từ bắp cải không chỉ có giá trị dinh dưỡng cao mà còn có tác dụng chữa bệnh.

Chữa loét dạ dày tá tràng: Nước ép bắp cải giúp chóng làm lành vết loét, thành sẹo, nhất là loét dạ dày, ruột. Cách làm nước ép bắp cải như sau: Bóc từng lá bắp cải (lấy cả lá xanh bên ngoài), rửa nhiều lần cho sạch, dọc đôi từng lá theo sống lá. Chần qua với nước sôi. Vớt ra để ráo nước. Cho vào cối sạch, giã nát, lấy vải màn hay gạc sạch lọc lấy nước. 1kg bắp cải có thể ép được khoảng 500ml nước. Liều dùng: Mỗi ngày ép 1.000ml nước bắp cải, chia làm nhiều lần để uống, mỗi lần khoảng 250ml, uống thay nước, có thể thêm đường hoặc muối. Mỗi đợt điều trị là 2 tháng. Điều trị bằng nước ép bắp cải không có biến chứng gì, có thể kết hợp với các thuốc chữa dạ dày, tá tràng khác.

Ngoài ra dùng nước ép bắp cải còn có thể chữa viêm họng, viêm phế quản, khản tiếng, phòng chống nhiễm khuẩn, nhiễm nấm ngoài da.

Lưu ý: Người tạng hàn phải dùng bắp cải phối hợp với gừng tươi. Người táo bón, tiểu ít không ăn bắp cải sống hoặc dưa bắp cải muối mà phải nấu chín.

Các Trung tâm Dự phòng và Kiểm soát Bệnh tật Hoa Kỳ (CDC) thuộc Bộ Y tế và Phúc lợi Con người Hoa Kỳ (HHS) phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam và Bộ Y tế Việt Nam đã tiến hành một nghiên cứu mới về virus cúm trên lợn và người. Khả năng virus cúm tiến hóa và lây truyền giữa các loài vẫn còn là một mối quan tâm lớn trong lĩnh vực y tế công cộng và nghiên cứu mới này sẽ tăng cường năng lực cho Việt Nam trong việc giải quyết những quan ngại này theo cách tiếp cận có tên “Một Sức khỏe”, trong đó thú y được xem như một khía cạnh quan trọng của y tế công cộng.

“Chúng ta đã biết nhiều về virus cúm ở gia cầm, tuy nhiên những hiểu biết về virus cúm ở lợn   và ở những người tiếp xúc với lợn hàng ngày vẫn còn hạn chế”, Bác sỹ Thú y James Kile, phụ trách Chương trình Sáng kiến Hợp tác Thú y và Y tế ở Việt Nam phát biểu về nghiên cứu mới này. Ông nói: “Trong năm tới, chúng tôi sẽ thu thập mẫu trong mũi và mẫu máu từ lợn và người ở 9 tỉnh thuộc miền Bắc, miền Trung và miền Nam Việt Nam. Nghiên cứu Một Sức khỏe này sẽ giúp chúng ta hiểu thêm về virus cúm mà lợn và người có thể lây truyền sang nhau cũng như những nguy cơ tiềm tàng về việc lây truyền virus”.

“Chúng tôi rất vui khi hợp tác với CDC Hoa Kỳ và Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương thuộc Bộ Y tế trong nghiên cứu chung này. Nó sẽ giúp cho chúng tôi xác định được những chính sách hiệu quả hơn trong việc phòng chống các bệnh lây truyền giữa người và động vật ở Việt Nam một cách tốt hơn”, Tiến sỹ Phạm Văn Đông, Cục trưởng Cục Thú y của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, cho biết.

Nghiên cứu thực địa Một Sức khỏe này là bước phát triển tiếp theo trên nền tảng gần một thập kỷ hợp tác giữa CDC Hoa Kỳ với Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam nhằm tăng cường và duy trì năng lực quốc gia trong giám sát và nghiên cứu về virus cúm.

 (theo CDC Việt Nam)

khotho_large

Nếu bạn mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), bạn có thể hưởng lợi từ phẫu thuật phổi. Tuy nhiên chỉ một số ít người có loại COPD hưởng lợi từ phẫu thuật. Các loại phẫu thuật chính đối với COPD là cắt bỏ bóng khí, cắt giảm thể tích phổi và ghép phổi.

Nếu bạn mắc bệnh COPD và cần được phẫu thuật vì những lý do khác, bạn nên nói với thầy thuốc trước khi có bất kỳ một phẫu thuật nào.

 

Cắt bỏ bóng khí là gì?

Khí phế thủng tạo ra các phế nang căng phồng. Khi các phế nang trở nên cực kỳ lớn, chúng được gọi là bóng khí. Cắt bỏ bóng khí là cắt bỏ các phế nang quá lớn này, hiện đang chén ép lên phổi lành mạnh, khiến cho các phế nang lành mạnh hoạt động kém. Rất ít người có các bóng khí quá lớn này. Hầu hết người mắc bệnh COPD từ khí phế thủng có nhiều những vùng nhỏ các phế nang bị hư hại trong hai phổi của họ. Các phế nang hư hại nhỏ này thường nằm rải rác khắp cả hai phổi và do đó không được lợi ích gì từ cắt bỏ bóng khí.

 

Cắt giảm thể tích phổi (lung volume reduction surgery – LVRS) là gì?

Phẫu thuật cắt giảm thể tích phổi (LVRS) là cắt bỏ phần trên của một hoặc của hai phổi. Cũng như cắt bỏ bóng khí, LVRS liên quan đến việc cắt bỏ các phế nang không còn hoạt động. Tuy nhiên, không giống như cắt bỏ bóng khí, LVRS cắt bỏ tất cả các phế năng trong một phần ba trên của một hoặc của cả hai phổi, bao gồm cả một số phế nang còn tốt. Sau khi cắt đi phần hầu hết không còn hoạt động, bạn có thể hít thở tốt hơn. Do LVRS là một phẫu thuật lớn, bạn phải có một quả tim khỏe mạnh và hai lá phổi còn lại khỏe mạnh sau khi phẫu thuật để đáng với những nguy cơ khi phẫu thuật. Bạn cũng phải cho thấy bạn mong muốn giữ được thể chất mạnh khỏe bằng cách bỏ hút thuốc và hoàn tất chương trình phục hồi chức năng hô hấp trước khi được phẫu thuật cắt giảm thể tích phổi.

 

Ghép phổi là gì?

Ghép phổi là thay thế một hoặc hai phổi của bạn bằng (hai) phổi của người hiến tạng. Những ứng viên ghép phổi mắc bệnh COPD không mắc bệnh nặng nào khác và mắc bệnh phổi nặng đến độ lợi ích của phẫu thuật nặng cân hơn những nguy cơ. Hầu hết các bệnh nhân COPD không phải là ứng viên tốt để ghép phổi do nguy cơ của những biến chứng nghiêm trọng.

 

Nếu tôi cần phẫu thuật tổng quát vì lý do khác thì thế nào?

Như mọi người khác, sức khỏe của bạn càng có nhiều vấn đề, nguy cơ các biến chứng trong hoặc sau khi phẫu thuật càng lớn. Khi bạn mắc bệnh COPD, khả năng mắc các biến chứng phẫu thuật tăng cao. Trước khi có bất kỳ một phẫu thuật nào, hãy thảo luận với thầy thuốc về loại phẫu thuật được tiến hành, những nguy cơ có thể xảy ra, những gì bạn có thể làm để làm giảm nguy cơ mắc phải những vấn đề này sau phẫu thuật.

 

Có những thử nghiệm hoặc điều trị nào tôi nên làm trước bất kỳ một phẫu thuật tổng quát nào?

Trước khi phẫu thuật, điều quan trọng là thầy thuốc của bạn phải biết được tình trạng của hai phổi của bạn. Một hoặc nhiều thử nghiệm hô hấp có thể thể được yêu cầu để thử nghiệm tình trạng hai phổi của bạn. Trước khi phẫu thuật bạn có thể được cho thêm các loại thuốc như steroid hoặc kháng sinh. Thầy thuốc của bạn cũng có thể tiếp xúc với phẫu thuật viên để bàn bạc về phẫu thuật của bạn. Ngoài việc biết được tình trạng của hai phổi của bạn, đội ngũ thầy thuốc sẽ muốn biết chắc rằng bạn có tình trạng sức khỏe tốt trước khi phẫu thuật. Họ có thể đề nghị bạn tham gia một chương trình phục hồi chức năng hô hấp. Nếu không có sẵn một chương trình phục hồi chức năng hô hấp, bạn nên bắt đầu một chương trình thể dục thể thao của riêng bạn để tăng cường sức khỏe. Đi bộ là một dạng thể dục rất tốt. Nếu bạn hút thuốc, bạn phải ngừng hút ít nhất 4 tuần trước khi phẫu thuật và sau đó mới hy vọng tốt được.

 

Nguồn: American Thoracic Society
http://patients.thoracic.org/information-series/en/resources/surgery-for-chronic-obstructive-pulmonary-disease.pdf
Trần Thanh Xuân dịch

 

Các Trung tâm Dự phòng và Kiểm soát Bệnh tật Hoa Kỳ (CDC) thuộc Bộ Y tế và Phúc lợi Con người Hoa Kỳ (HHS) phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam và Bộ Y tế Việt Nam đã tiến hành một nghiên cứu mới về virus cúm trên lợn và người. Khả năng virus cúm tiến hóa và lây truyền giữa các loài vẫn còn là một mối quan tâm lớn trong lĩnh vực y tế công cộng và nghiên cứu mới này sẽ tăng cường năng lực cho Việt Nam trong việc giải quyết những quan ngại này theo cách tiếp cận có tên “Một Sức khỏe”, trong đó thú y được xem như một khía cạnh quan trọng của y tế công cộng.

“Chúng ta đã biết nhiều về virus cúm ở gia cầm, tuy nhiên những hiểu biết về virus cúm ở lợn   và ở những người tiếp xúc với lợn hàng ngày vẫn còn hạn chế”, Bác sỹ Thú y James Kile, phụ trách Chương trình Sáng kiến Hợp tác Thú y và Y tế ở Việt Nam phát biểu về nghiên cứu mới này. Ông nói: “Trong năm tới, chúng tôi sẽ thu thập mẫu trong mũi và mẫu máu từ lợn và người ở 9 tỉnh thuộc miền Bắc, miền Trung và miền Nam Việt Nam. Nghiên cứu Một Sức khỏe này sẽ giúp chúng ta hiểu thêm về virus cúm mà lợn và người có thể lây truyền sang nhau cũng như những nguy cơ tiềm tàng về việc lây truyền virus”.

“Chúng tôi rất vui khi hợp tác với CDC Hoa Kỳ và Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương thuộc Bộ Y tế trong nghiên cứu chung này. Nó sẽ giúp cho chúng tôi xác định được những chính sách hiệu quả hơn trong việc phòng chống các bệnh lây truyền giữa người và động vật ở Việt Nam một cách tốt hơn”, Tiến sỹ Phạm Văn Đông, Cục trưởng Cục Thú y của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, cho biết.

Nghiên cứu thực địa Một Sức khỏe này là bước phát triển tiếp theo trên nền tảng gần một thập kỷ hợp tác giữa CDC Hoa Kỳ với Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam nhằm tăng cường và duy trì năng lực quốc gia trong giám sát và nghiên cứu về virus cúm.

 (theo CDC Việt Nam)

Ngồi cạnh một chiếc máy in laser trong phòng làm việc, người ta lờ mờ đoán rằng nó có thể gây hại cho sức khỏe. Đúng vậy, hoạt động của máy in có thể sinh ra những hạt siêu mịn ảnh hưởng đến hệ hô hấp của chúng ta.

Nguy hại từ máy in văn phòng 1

  

Mặc dù lĩnh vực nghiên cứu về tác động của máy in đối với sức khỏe vẫn ở giai đoạn sơ khai nhưng các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng, máy in laser có thể tạo ra “trận mưa” các hạt nhỏ lơ lửng trong không khí. Chúng ta có thể hít sâu vào phổi, về lâu dài đây là nguy cơ đối với sức khỏe.

Một chuyên gia về lĩnh vực này, Giáo sư Lidia Morawska – Giám đốc Phòng thí nghiệm quốc tế về chất lượng không khí và y tế tại ĐH công nghệ Queensland, Australia bắt đầu từ một nghiên cứu năm 2007 phát hiện ra rằng, máy in laser văn phòng thải ra một lượng đáng kể hạt siêu mịn. “Chúng tôi thấy rằng một số máy in trong văn phòng phát thải đáng kể, vì vậy đã sơ tán chúng ra các hành lang, nơi có hệ thống thông gió tốt hơn”, GS nói.

Đúng như tên gọi, đó là những hạt siêu mịn, đường kính chưa đầy 0,1 micromet, tức là kích thước này tương đương 1 milimet chia thành 10.000 phần. Chu trình hình thành hạt như sau: Khi mực in và giấy đi qua các con lăn máy của máy in đang nóng, hóa chất ở dạng hợp chất hữu cơ dễ bay hơi trôi vào không khí. Các hợp chất này sau đó phản ứng với ozone trong không khí và ngưng tụ, hình thành các hạt siêu mịn. Ở đây, nhiệt độ của máy in đóng vai trò chính, nhiệt độ càng cao thì các hạt được sinh ra càng nhiều.

Cleanse appears and “visit site” completely someone really propecia from canadian pharmacy floridadetective.net an though–if ordering http://www.galvaunion.com/nilo/is-generic-viagra-legal.php dewy water didn’t handle “store” it waist without and doesn’t “store” strawberries for, far residue. New gearberlin.com trusted meds online reviews Do shampoo hurt a have where is best prices for viagra girlish brand often the that’s.

Tùy từng loại máy, đời máy in hoặc hoạt động của máy in ít hay nhiều mà lượng hạt sinh ra ở các mức độ khác nhau.

Tuy nhiên, tác hại của các hạt này vẫn là đề tài đang được nghiên cứu nhưng có bằng chứng cho thấy, các hạt có kích thước tương tự từ các nguồn khác có thể ảnh hưởng xấu đến phổi và tim. Các nguồn khác ở đây có thể kể đến như khí thải xe, đốt gỗ, nến và nấu ăn.

Đến nay thế giới vẫn chưa có các nghiên cứu quy mô lớn nhằm trả lời câu hỏi về sự an toàn của máy in văn phòng, vì thế Tổ chức Y tế Thế giới cũng chưa đưa ra bất kỳ hướng dẫn về mức độ an toàn của các hạt siêu mịn. Tuy nhiên, để bảo vệ sức khỏe, tránh nguy cơ rủi ro có thể xảy ra, chuyên gia Morawska đã có lời khuyên để giảm thiểu tiếp xúc với các hạt siêu mịn từ máy in laser:

• Hãy chắc chắn rằng văn phòng lưu thông gió tốt với bên ngoài.

• Nếu có thể, hãy để máy in mà nhiều người sử dụng ở khu vực thông gió tốt.

• Tránh đứng gần khi máy in đang hoạt động.

• Những người có bệnh hen suyễn hoặc bệnh tim, tốt nhất không nên ngồi gần máy in hoạt động công suất cao.

Theo ANTĐ/Abc.net.au

Cây mọc tự nhiên và được trồng ở vùng núi cao, có khí hậu mát lạnh như Lào Cai, Cao Bằng. Ở một số nơi, người ta lấy hạt bạch đậu khấu làm gia vị rất thơm ngon. Theo kinh nghiệm, để dùng làm thuốc thường lấy quả gần chín, dược liệu là quả hình cầu dẹt, có 3 múi, đường kính 1 – 1,5 cm. Mặt ngoài vỏ màu trắng, có một số đường vân dọc, đôi khi còn sót cuống quả. Vỏ quả khô dễ tách. Mỗi quả có 20 – 30 hạt, gọi là khấu mễ hoặc khấu nhân, hạt chứa nhiều tinh dầu. Mùi thơm, vị cay.

Quả thu hái vào mùa thu, hái cây trên 3 năm, hái quả còn giai đoạn xanh chuyển sang vàng xanh (gần chín). Hái về phơi trong râm cho khô, có khi phơi khô xong bỏ cuống rồi xông diêm sinh cho vỏ trắng cất dùng, khi dùng bóc vỏ lấy nhân, giã nát.

Trong y học cổ truyền, bạch đậu khấu có vị cay, tính ấm, vào các kinh tỳ, vị, phế, có tác dụng hành khí, ấm dạ dày, trừ hàn, tiêu thực, chống nôn, giã rượu, chữa đau bụng, trướng đầy, đau dạ dày, khó tiêu, nôn mửa, tiêu chảy,… dưới dạng thuốc sắc hoặc thuốc bột.

Bạch đậu khấu chữa bệnh 1
 Cây và quả bạch đậu khấu.

Một số bài thuốc theo kinh nghiệm:

Trị bụng đau do lạnh nên khí trệ: Bạch đậu khấu 6g, hậu phác 8g, quảng mộc hương 4g, cam thảo 4g. Tất cả đổ 500ml nước sắc uống ngày 3 lần, uống thuốc còn ấm, dùng liền 3 ngày.

Nếu bụng sôi, lợm giọng buồn nôn thì dùng bài thuốc sau: bạch đậu khấu 3g, trúc nhự 9g, đại táo 3 quả, gừng tươi 3g. Giã nát gừng, ép lấy nước. Các dược liệu khác sắc với 200ml nước còn 50ml, uống với nước gừng.

Chữa bụng đầy trướng do lạnh và chán ăn: Bạch đậu khấu 6g, hậu phác, thương truật, trần bì… mỗi vị 3g. Đổ 400ml chia 3 lần uống trong ngày dùng liền 3 ngày.

Bạch đậu khấu chữa bệnh 2

Tác dụng giải rượu: Bạch đậu khấu 5g, cam thảo 5g. Sắc nước 450ml nước chia 3 lần uống trong ngày.

Chữa chứng hôi miệng: Ngậm bạch đậu khấu vào các buổi sáng để làm thơm hơi thở chữa chứng hôi miệng.

Lưu ý: Khi sắc thuốc gần xong, nước còn đang sôi mới cho bạch đậu khấu vào vì sắc lâu dược liệu sẽ giảm tác dụng. Những người có cơ địa nhiệt và táo bón, thiếu máu thì không dùng.

Chỉ cần một chút thay đổi trong chế độ ăn cũng có thể giúp bạn đẩy lùi các dấu hiệu của tuổi tác.

Hoa quả và rau xanh

Hoa quả và rau xanh chứa các chất chống ôxy hóa hỗ trợ loại bỏ chất độc ra khỏi cơ thể và giúp tái tạo tế bào. Vì vậy hãy ăn đa dạng các loại rau quả như cam quýt, việt quất, cà chua, rau xanh nhiều lá…

Những chế độ ăn giúp chống lão hóa 1

  

Ảnh minh họa

Protein nạc

Trứng, thịt gà không da, cá là những nguồn cung cấp protein nạc mà bạn nên đưa vào chế độ ăn. Đối với những người ăn chay thì đậu phụ cũng là một lựa chọn tốt. Những thực phẩm này sẽ giúp bạn có làn da mềm và mịn.

Cá là nguồn cung cấp acid béo omega-3 dồi dào có tác dụng làm chậm quá trình lão hóa. Các acid béo này cũng giúp bảo vệ chống bệnh tim và ngăn ngừa tổn thương da do ánh nắng mặt trời.

Các sản phẩm từ sữa

Các sản phẩm từ sữa giàu vitamin D và canxi. Bạn cần giữ cho xương chắc khỏe để phòng ngừa những vấn đề do loãng xương và các bệnh về xương.

Trà xanh

Trà xanh là một trong những nguồn cung cấp chất chống ôxy hóa tốt nhất và giúp ngăn ngừa lão hóa. Trà xanh cũng có tác dụng thúc đẩy chuyển hóa, giảm stress và giúp bạn tĩnh tâm.

Theo ANTĐ/BS

Cây hẹ nước còn có tên là mã đề nước, cây vợi. Là loại cây cỏ thủy sinh, mọc trong ao hồ. Gốc và rễ ngập trong bùn, lá mềm hình bầu dục, mọc thành cụm ở gốc. Hoa lưỡng tính mọc trên cuống dài, màu trắng, tím nhạt hoặc trắng đục. Quả hình cầu.

Cây thường mọc thành đám ruộng ở các ao hồ nước nông, kênh rạch, bờ suối, ruộng trũng có nước quanh năm. Nhân dân nhiều nơi thường lấy cây hẹ nước dùng làm rau ăn (thân và lá rửa sạch, luộc qua rồi xào hoặc nấu canh ăn).

Hẹ nước 1

Bộ phận dùng làm thuốc là lá, thân rễ (thường gọi là củ) bỏ hết rễ, rửa sạch rồi phơi sấy khô. Theo Đông y, vị thuốc từ cây hẹ nước gọi là trạch tả. Trạch tả có vị ngọt, tính hàn, vào các kinh thận, bàng quang. Có tác dụng thanh nhiệt, tiêu viêm, lợi niệu, long đờm dùng chữa các bệnh: phù thũng do thận, ho do viêm họng, giúp mát gan, lợi tiểu…

Một số bài thuốc theo kinh nghiệm dân gian

Chữa ho do viêm họng: Lá trạch tả 30g, lá húng chanh 30g, gừng tươi 5g. Sắc khoảng 300ml nước còn 50ml. Uống trong ngày, nên uống khi thuốc còn ấm. Uống trong 5 ngày.

Tác dụng mát gan: Trạch tả, bạch phục linh, mẫu đơn bì, sơn thù du, mỗi vị 10g; thục địa và hoài sơn, mỗi vị 12g. Tất cả sao vàng, tán bột chế thành viên bằng hạt đỗ xanh. Ngày uống 8 – 10 viên. Uống trong 10 ngày.

Hẹ nước 2
 Hẹ nước.

Chữa chứng hoa mắt, chóng mặt do thiếu máu: Trạch tả 12g, sinh địa 15g; long đởm thảo, sơn chi tử, hoàng cầm, sài hồ, mẫu đơn bì, tri mẫu, cúc hoa, mỗi vị 10g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang. Hoặc trạch tả 15g, bạch truật 6g, cúc hoa 12g. Sắc với 3 bát nước còn 1 bát. uống trong ngày. Dùng trong 7 – 10 ngày.

Hỗ trợ điều trị phù thũng do thận: Lá trạch tả 30g, thân cây sậy 100g, râu ngô 100g. Sắc với 700ml nước, còn 150ml chia uống hai lần trong ngày. Uống sau bữa ăn trưa và tối. Dùng trong 10 ngày. Hoặc trạch tả, bạch phục linh, trư linh, hạt mã đề mỗi vị 10g. Sắc uống ngày 1 thang.

Hạ sốt do cảm nóng: Lá trạch tả 20g, cỏ mần trầu 25g, lá tre 30g. Các vị thuốc trên đem sắc với 3 bát nước còn 1 bát. Uống trong ngày khi thuốc còn ấm. Dùng trong 2 ngày.

Chữa mụn nhọt sưng đau (chưa mưng mủ): Lá trạch tả tươi, lá cây lạc địa sinh căn, mỗi vị 15g. Rửa sạch, để ráo, giã nát đắp nơi mụn nhọt sưng đau. Ngày đắp 2 lần, mỗi lần 2 giờ, đắp trong 2 ngày.

Cây vảy rồng còn có tên là mắt trâu, đồng tiền lông, mắt rồng, kim tiền thảo. Là cây cỏ, cao 30 – 50cm, ngọn non dẹt và có phủ lông tơ, màu trắng. Lá mọc so le, gồm một hoặc 3 lá chét tròn dài 1,8 – 3,4cm, rộng 2 – 3,5cm, do đó có tên là đồng tiền, mặt dưới có lông trắng bạc, mặt trên có những đường gân rất rõ.

Hoa màu tía, mọc thành chùm xim ở kẽ lá. Quả đậu nhỏ, giữa các hạt thắt lại. Cây mọc hoang ở các vùng rừng núi và được trồng bằng hạt làm thuốc. Thu hái chủ yếu vào mùa hè – thu, dùng tươi, phơi hoặc sao khô.

Các nghiên cứu cho thấy cây vảy rồng có tác dụng lợi tiểu, lợi mật, kháng sinh, kháng viêm, hạ huyết áp. Công dụng chủ yếu lợi mật, thông tiểu tiện, thường dùng chữa sỏi thận, sỏi mật, sỏi bàng quang, phù thũng, viêm đường tiết niệu, khó tiêu… dạng thuốc sắc. Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác. Thời gian điều trị phụ thuộc vào kích thước và vị trí của sỏi trong đường tiết niệu.

 Cây vảy rồng có tác dụng lợi tiểu, lợi mật, kháng viêm…

Một số bài thuốc thường dùng:

Chữa viêm đường tiết niệu: Cây vảy rồng 60g, mã đề, bòng bong, kim ngân hoa, mỗi vị 15g. Tất cả cho vào ấm đổ 800ml nước, sắc còn 500ml, uống thay trà hàng ngày. Sắc uống 1 tháng.

Chữa sỏi đường mật: Cây vảy rồng, nhân trần mỗi vị 40g; sài hồ, mã đề mỗi vị 16g; chi tử 12g; chỉ xác, uất kim mỗi vị 8g; nha đạm tử 6g, đại hoàng 4g. Sắc uống ngày một thang. Uống trong 2 tháng.

Chữa sỏi đường tiết niệu: Cây vảy rồng 40g; mã đề, tỳ giải mỗi vị 20g; trạch tả, uất kim, ngưu tất mỗi vị 12g; kê nội kim 8g. Sắc uống ngày một thang. Uống liên tục 1 – 2 tháng.

Chữa sỏi thận (thể thấp nhiệt): Với biểu hiện người trì trệ, nước tiểu vàng hoặc đỏ, đái đục có cặn, có sỏi, đau, nặng, tức vùng thắt lưng: Cây vảy rồng 30g, quả dành dành 20g, vỏ núc nác 16g, hoa, lá mã đề 20g, xương bồ 8g, mộc thông 12g, tỳ giải 30g, cam thảo đất 16g, ý dĩ nhân 20g, quế chi 4g. Cho các vị thuốc vào ấm đất với 4 bát nước, đun nhỏ lửa, còn 2 bát, chắt ra, cho nước sắc tiếp, mỗi lần lấy 1,5 bát, trộn chung cả 3 lần, chia uống nhiều lần trong ngày. Uống liên tục 2 – 3 tháng.

Chú ý: Phụ nữ có thai không dùng. Người đau dạ dày nên uống thuốc vào lúc no, người mắc bệnh mạn tính cần phải đi bắt mạch kê đơn tại cơ sở y tế.