Dị ứng thức ăn là một phản ứng miễn dịch của cơ thể khi ăn phải loại thức ăn gây dị ứng. Những phản ứng dị ứng thức ăn có thể xảy ra từ nhẹ đến nặng như: viêm da dị ứng, nổi mề đay, rối loạn tiêu hóa, suy hô hấp, sốc phản vệ đe dọa tính mạng.

Ai dễ bị dị ứng?

Dị ứng thức ăn thường xảy ra ở những người có cơ địa dị ứng và hay kết hợp với các bệnh: viêm mũi dị ứng, viêm kết mạc dị ứng, chàm và hen suyễn, di truyền…

Hiện nay, do các thay đổi của môi trường sống như: biến đổi khí hậu, tiếp xúc với các bệnh truyền nhiễm khi còn nhỏ, các loại chất gây dị ứng và chế độ ăn uống thay đổi.

Protein trong thực phẩm là thành phần gây dị ứng phổ biến nhất. Phản ứng dị ứng xảy ra khi hệ thống miễn dịch của cơ thể xác định nhầm một protein là có hại, cho rằng cơ thể đang bị tấn công nên huy động các tế bào bạch cầu đến bảo vệ và gây ra phản ứng dị ứng.

Đề phòng dị ứng thức ăn 1

Một số loại thức ăn dễ gây dị ứng.

 Các loại thức ăn dễ gây dị ứng

Phổ biến nhất là dị ứng với lạc (đậu phộng), thường gặp ở trẻ em và thường rất nặng. Các loại hạt trái cây như hồ đào, hạt thông, dừa, cây óc chó, vừng… cũng hay gây dị ứng. Các loại thức ăn có nguồn gốc thực vật chứa protein có thể gây dị ứng là: đậu nành, lúa mì, trái cây, rau, bắp, gia vị, màu tự nhiên hay tổng hợp và các chất phụ gia thực phẩm. Lòng trắng trứng gà, sữa bò, sữa dê, sữa cừu, cá, tôm, nghêu, sò, ốc, hến… cũng hay gây dị ứng. Mức độ dị ứng với thức ăn nhẹ hay nặng phụ thuộc vào các yếu tố: di truyền, chủng tộc, độ tuổi. Ở mỗi độ tuổi thường bị dị ứng với một số loại thức ăn nhất định, có thể kéo dài suốt đời nhưng cũng có thể hết dị ứng khi tới độ tuổi nào đó. Nhiều nghiên cứu cho thấy: nồng độ IgE cao nhất trong thời thơ ấu có thể giảm nhanh ở độ tuổi từ 10 – 30 tuổi. Dị ứng các hạt cứng thường xảy ra ở trẻ từ 1 – 7 tuổi, chẳng hạn 6 – 36 tháng tuổi hay dị ứng với hạt vừng (mè). Người trưởng thành hay dị ứng với: nghêu, sò, ốc, hến, tôm, cua, cá và thường rất dai dẳng. Trẻ em 6 – 24 tháng tuổi thường bị dị ứng với lòng trắng trứng gà, sữa bò, lúa mì, đậu nành… Dị ứng thức ăn cũng xảy ra có tính chất địa phương, chẳng hạn dị ứng cá biển thường gặp ở các nơi  ăn nhiều cá ngừ.

Biểu hiện của dị ứng thức ăn

Các triệu chứng dị ứng thức ăn ở mỗi người xảy ra khác nhau. Số lượng thực phẩm đủ để kích hoạt một phản ứng dị ứng cũng thay đổi tùy theo cơ địa mỗi người. Các phản ứng dị ứng thức ăn qua trung gian IgE có khởi phát cấp tính, từ vài giây đến một giờ, gồm các triệu chứng: phát ban, ngứa ở miệng, môi, lưỡi, cổ họng, mắt, da, hoặc các bộ phận khác; sưng (phù mạch) ở môi, lưỡi, mí mắt, hay cả khuôn mặt; khó nuốt, chảy nước mũi hoặc nghẹt mũi, khàn giọng; thở khò khè hoặc khó thở, buồn nôn, nôn mửa, đau bụng do co thắt dạ dày. Nặng nhất là sốc phản vệ, trong đó những người có bệnh hen suyễn hoặc bị dị ứng với lạc (đậu phộng), hải sản rất dễ bị sốc phản vệ.

Một số nghiên cứu cho biết, những trẻ em đã bị dị ứng với protein của sữa bò thường bị dị ứng chéo với các sản phẩm đậu nành. Những người dị ứng với latex (chất cao su tổng hợp) thường hay bị  dị ứng với chuối, kiwi, bơ và một số loại thực phẩm khác.

Điều trị thế nào?

Dị ứng thức ăn hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Nguyên tắc cơ bản điều trị dị ứng thức ăn là tránh dùng các loại thức ăn đã từng gây dị ứng cho bệnh nhân trước đó. Đối với người lần đầu tiên bị dị ứng thức ăn, tốt nhất nên đến cơ sở y tế để được điều trị và hướng dẫn phòng tránh dị ứng lần sau. Điều trị dị ứng thức ăn bao gồm: phương pháp giải mẫn cảm; bệnh nhân bị dị ứng phải tránh tiếp xúc với loại thức ăn đã gây dị ứng cho mình vì nếu tiếp xúc với loại thức ăn gây dị ứng, có thể bị sốc phản vệ rất nguy hiểm. Nếu có điều kiện, những người có cơ địa nhạy cảm, hay bị dị ứng thức ăn, luôn phải mang theo thuốc chống dị ứng để có thể xử trí cấp cứu kịp thời khi xảy ra dị ứng thức ăn.

Phòng tránh dị ứng

Cần thực hiện nhiều biện pháp phối hợp. Theo khuyến cáo của Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ, các bà mẹ nên cho con bú sữa mẹ ít nhất 4 tháng đầu sau sinh sẽ giảm nguy cơ bị dị ứng thức ăn so với các trẻ chỉ nuôi bằng sữa công thức; có thể ngăn ngừa hoặc làm chậm sự xuất hiện của bệnh viêm da thể tạng, tình trạng dị ứng sữa bò và thở khò khè. Do rất khó xác định lượng thức ăn tối thiểu đủ gây ra một phản ứng dị ứng, nên người có tiền sử dị ứng thức ăn cần thận trọng khi ăn uống, nhất là khi đi ra ngoài, ăn thức ăn ở hàng quán. Vì phải tránh ăn những loại thức ăn gây dị ứng nên bệnh nhân có thể bị thiếu dinh dưỡng. Các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe thường đề xuất các nguồn thực phẩm khác thay thế các vitamin và khoáng chất thiết yếu  ít gây dị ứng.

ThS. Nguyễn Xuân Lãm

Dị ứng thức ăn là một phản ứng miễn dịch của cơ thể khi ăn phải loại thức ăn gây dị ứng. Những phản ứng dị ứng thức ăn có thể xảy ra từ nhẹ đến nặng như: viêm da dị ứng, nổi mề đay, rối loạn tiêu hóa, suy hô hấp, sốc phản vệ đe dọa tính mạng.

Ai dễ bị dị ứng?

Dị ứng thức ăn thường xảy ra ở những người có cơ địa dị ứng và hay kết hợp với các bệnh: viêm mũi dị ứng, viêm kết mạc dị ứng, chàm và hen suyễn, di truyền…

Hiện nay, do các thay đổi của môi trường sống như: biến đổi khí hậu, tiếp xúc với các bệnh truyền nhiễm khi còn nhỏ, các loại chất gây dị ứng và chế độ ăn uống thay đổi.

Protein trong thực phẩm là thành phần gây dị ứng phổ biến nhất. Phản ứng dị ứng xảy ra khi hệ thống miễn dịch của cơ thể xác định nhầm một protein là có hại, cho rằng cơ thể đang bị tấn công nên huy động các tế bào bạch cầu đến bảo vệ và gây ra phản ứng dị ứng.

Đề phòng dị ứng thức ăn 1

Một số loại thức ăn dễ gây dị ứng.

 Các loại thức ăn dễ gây dị ứng

Phổ biến nhất là dị ứng với lạc (đậu phộng), thường gặp ở trẻ em và thường rất nặng. Các loại hạt trái cây như hồ đào, hạt thông, dừa, cây óc chó, vừng… cũng hay gây dị ứng. Các loại thức ăn có nguồn gốc thực vật chứa protein có thể gây dị ứng là: đậu nành, lúa mì, trái cây, rau, bắp, gia vị, màu tự nhiên hay tổng hợp và các chất phụ gia thực phẩm. Lòng trắng trứng gà, sữa bò, sữa dê, sữa cừu, cá, tôm, nghêu, sò, ốc, hến… cũng hay gây dị ứng. Mức độ dị ứng với thức ăn nhẹ hay nặng phụ thuộc vào các yếu tố: di truyền, chủng tộc, độ tuổi. Ở mỗi độ tuổi thường bị dị ứng với một số loại thức ăn nhất định, có thể kéo dài suốt đời nhưng cũng có thể hết dị ứng khi tới độ tuổi nào đó. Nhiều nghiên cứu cho thấy: nồng độ IgE cao nhất trong thời thơ ấu có thể giảm nhanh ở độ tuổi từ 10 – 30 tuổi. Dị ứng các hạt cứng thường xảy ra ở trẻ từ 1 – 7 tuổi, chẳng hạn 6 – 36 tháng tuổi hay dị ứng với hạt vừng (mè). Người trưởng thành hay dị ứng với: nghêu, sò, ốc, hến, tôm, cua, cá và thường rất dai dẳng. Trẻ em 6 – 24 tháng tuổi thường bị dị ứng với lòng trắng trứng gà, sữa bò, lúa mì, đậu nành… Dị ứng thức ăn cũng xảy ra có tính chất địa phương, chẳng hạn dị ứng cá biển thường gặp ở các nơi  ăn nhiều cá ngừ.

Biểu hiện của dị ứng thức ăn

Các triệu chứng dị ứng thức ăn ở mỗi người xảy ra khác nhau. Số lượng thực phẩm đủ để kích hoạt một phản ứng dị ứng cũng thay đổi tùy theo cơ địa mỗi người. Các phản ứng dị ứng thức ăn qua trung gian IgE có khởi phát cấp tính, từ vài giây đến một giờ, gồm các triệu chứng: phát ban, ngứa ở miệng, môi, lưỡi, cổ họng, mắt, da, hoặc các bộ phận khác; sưng (phù mạch) ở môi, lưỡi, mí mắt, hay cả khuôn mặt; khó nuốt, chảy nước mũi hoặc nghẹt mũi, khàn giọng; thở khò khè hoặc khó thở, buồn nôn, nôn mửa, đau bụng do co thắt dạ dày. Nặng nhất là sốc phản vệ, trong đó những người có bệnh hen suyễn hoặc bị dị ứng với lạc (đậu phộng), hải sản rất dễ bị sốc phản vệ.

Một số nghiên cứu cho biết, những trẻ em đã bị dị ứng với protein của sữa bò thường bị dị ứng chéo với các sản phẩm đậu nành. Những người dị ứng với latex (chất cao su tổng hợp) thường hay bị  dị ứng với chuối, kiwi, bơ và một số loại thực phẩm khác.

Điều trị thế nào?

Dị ứng thức ăn hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Nguyên tắc cơ bản điều trị dị ứng thức ăn là tránh dùng các loại thức ăn đã từng gây dị ứng cho bệnh nhân trước đó. Đối với người lần đầu tiên bị dị ứng thức ăn, tốt nhất nên đến cơ sở y tế để được điều trị và hướng dẫn phòng tránh dị ứng lần sau. Điều trị dị ứng thức ăn bao gồm: phương pháp giải mẫn cảm; bệnh nhân bị dị ứng phải tránh tiếp xúc với loại thức ăn đã gây dị ứng cho mình vì nếu tiếp xúc với loại thức ăn gây dị ứng, có thể bị sốc phản vệ rất nguy hiểm. Nếu có điều kiện, những người có cơ địa nhạy cảm, hay bị dị ứng thức ăn, luôn phải mang theo thuốc chống dị ứng để có thể xử trí cấp cứu kịp thời khi xảy ra dị ứng thức ăn.

Phòng tránh dị ứng

Cần thực hiện nhiều biện pháp phối hợp. Theo khuyến cáo của Viện Hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ, các bà mẹ nên cho con bú sữa mẹ ít nhất 4 tháng đầu sau sinh sẽ giảm nguy cơ bị dị ứng thức ăn so với các trẻ chỉ nuôi bằng sữa công thức; có thể ngăn ngừa hoặc làm chậm sự xuất hiện của bệnh viêm da thể tạng, tình trạng dị ứng sữa bò và thở khò khè. Do rất khó xác định lượng thức ăn tối thiểu đủ gây ra một phản ứng dị ứng, nên người có tiền sử dị ứng thức ăn cần thận trọng khi ăn uống, nhất là khi đi ra ngoài, ăn thức ăn ở hàng quán. Vì phải tránh ăn những loại thức ăn gây dị ứng nên bệnh nhân có thể bị thiếu dinh dưỡng. Các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe thường đề xuất các nguồn thực phẩm khác thay thế các vitamin và khoáng chất thiết yếu  ít gây dị ứng.

ThS. Nguyễn Xuân Lãm

kho tho COPD

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (Chronic Obstructive Pulmonary Disease – COPD) có thể gây khó thở, mệt mỏi, tiết nhiều đàm và ho. Nhiều người bệnh COPD mắc hầu hết, nếu không nói tất cả, các dấu hiệu và triệu chứng này.

 

Tại sao khó thở là một triệu chứng của COPD?

Khó thở là một triệu chứng thường gặp của COPD do tắc nghẽn trong đường thở khiến cho việc hít vào và thở ra khỏi phổi trở nên khó khăn. Điều này gây ra cảm giác khó thở. Thật không may, người ta cố gắng tránh khỏi cảm giác khó thở bằng cách ngày càng thụ động hơn. Kế hoạch này ban đầu có thể hiệu quả, nhưng theo thời gian nó dẫn đến một vòng lẩn quẩn: tránh vận động dẫn đến hư người và điều này lại dẫn đến càng khó thở hơn khi vận động.

 

Tôi có thể làm được gì để điều trị khó thở?

Nếu khó thở của bạn là hậu quả của COPD, bạn có thể làm một số việc sau:

+ Sử dụng tất cả các loại thuốc một cách đều đặn theo toa bác sĩ. Nếu bạn nghĩ các thuốc của bạn không giúp bạn bớt khó thở, hãy nói chuyện với thầy thuốc, nhưng không được ngưng thuốc.

+ Khởi động một chương trình thể dục thể thao đều đặn để tăng cường sức lực của bạn.

+ Học cách thở theo nhịp và các cách hô hấp hiệu quả hơn khi vận động.

Các chương trình phục hồi chức năng hô hấp đưa ra một chương trình thể dục và dạy bạn cách kiểm soát khó thở. Các nhóm hỗ trợ hô hấp đưa ra nhiều thông tin tổng quát hơn.

 

Khi nào tôi nên gọi cho thầy thuốc về khó thở của tôi?

Nếu bạn mới bị khó thở, hoặc khi khó thở trở nặng vì lý do không rõ, hãy gọi thầy thuốc của bạn. Hãy mô tả cho thầy thuốc biết khi nào khó thở bắt đầu, nó kéo dài trong bao lâu và điều gì làm nó nhẹ hơn hoặc nặng hơn.

 

Mệt mỏi có phải là một triệu chứng của COPD?

Mệt mỏi là một triệu chứng thường gặp của COPD. Mệt mỏi khiến cho người ta không hăng hái hoạt động, dẫn đến mất nhiều năng lượng hơn, sau đó mệt mỏi hơn. Khi vòng xoáy này bắt đầu, đôi khi khó mà phá vỡ nó.

 

Tôi có thể làm gì để nâng mức năng lượng của mình?

Nếu bạn và thầy thuốc thấy rằng sự mệt mỏi của bạn là do COPD, hãy bắt đầu một chương trình thể dục thể thao đều đặn để tăng cường sức lực. Hãy học cách thở theo nhịp và các phương pháp hít thở ít gắng sức hơn trong khi vận động. Hãy xem xét việc đến với một nhóm hỗ trợ hô hấp hoặc ghi tên vào một chương trình phục hồi chức năng hô hấp.

 

Khi nào tôi nên gọi thầy thuốc về sự mệt mỏi của tôi?

Hãy gọi thầy thuốc khi sự mệt mỏi bất ngờ không mất đi. Mô tả lúc nào mệt mỏi bắt đầu, nó kéo dài bao nhiêu lâu và điều gì khiến cho mệt mỏi giảm đi hoặc tăng lên.

 

Có phải tiết nhiều đàm là một triệu chứng của COPD?

Nhiều đàm có thể là một triệu chứng của COPD. Bình thường đường hô hấp sản sinh vài chục gram chất nhầy một ngày. Cần phải có chất nhầy để giữ đường hô hấp ẩm ướt. Chất nhầy này bình thường được nuốt vào dù bạn không biết mình đang nuốt. Tuy nhiên, khi phổi bị nhiễm trùng hoặc bị kích thích, chúng cố gắng tự bảo vệ bằng cách sản xuất nhiều chất nhầy hơn bình thường, thường khi khiến bạn ho.

 

Tôi có nên quan sát đàm tôi đã khạc ra?

Đàm cần được khạc ra và bạn cần quan sát nó. Nuốt một ít đàm không gây ra vấn đề gì cho sức khỏe, nhưng quan sát đàm của bạn có thể cho bạn biết cái gì đang xảy ra trong phổi của bạn. Tốt nhất là khạc đàm ra một khăn giấy để bạn có thể biết được màu sắc, độ nhầy và số lượng đàm. Nên mô tả đàm của bạn cho thầy thuốc.

 

Cách nào tôi làm giảm số lượng chất nhầy sinh ra trong phổi?

Nếu bạn hút thuốc, hãy ngưng hút. Mọi người nên tránh khói thuốc là và hạn chế phơi nhiễm với các thứ khác có thể kích thích phổi như là chất ô nhiễm và chất nặng mùi (sơn, chất tẩy và dầu thơm). Ngoài việc tránh chất kích thích, các loại thuốc như thuốc dãn phế quản, thuốc ho (khiến cho đàm dễ bị khạc ra ngoài – expectorants), thuốc long đàm (làm loãng đàm – mucolytics) và các thuốc kháng sinh (để điều trị nhiễm trùng phổi) có thể được sử dụng.

 

Khi nào tôi nên gọi bác sĩ về những thay đổi trong đàm?

Đối với người mắc bệnh COPD, quan trọng là phải liên lạc với thầy thuốc ngay sau khi nhận thấy một thay đổi trong đàm của bạn. Thông thường, một thay đổi về màu sắc, độ nhầy và/hoặc số lượng đàm là một dấu hiệu cho biết có gì đó bất thường trong phổi của bạn. Hãy gọi cho thầy thuốc nếu bạn khạc ra máu hoặc đàm có màu vàng đậm hoặc xanh lá cây.

 

Ho có phải là một triệu chứng của COPD?

Ho là một triệu chứng thường gặp của COPD. Ho có thể là kết quả của việc phổi cố gắng loại bỏ chất nhầy dư thừa hoặc nó là một cách để đường hô hấp tự bảo vệ khỏi chất kích thích bị hít vào. Ho là một việc tốt khi nó đẩy đàm ra khỏi phổi, bởi vì nếu đàm ứ nhiều trong đường hô hấp, nó có thể ngăn không cho oxy vào trong máu hoặc có thể gây ra viêm phổi. Vì lý do đó, thầy thuốc có thể không cho thuốc để ngăn bạn ho.

 

Tôi có thể làm gì để ngừng ho?

Ho do hút thuốc có lẽ sẽ ngưng khi bạn ngưng hút thuốc. Ho do các chất kích thích đôi khi có thể kiểm soát được bằng thuốc ho dạng giọt. Uống nhiều nước, làm loãng đàm, có thể hữu ích khi đàm đặc và dính. Nếu nước không làm giảm ho, các trị liệu khác bao gồm thuốc dãn phế quản, thuốc ho và thuốc tan đàm có thể được sử dụng. Ho khiến khó thở tăng lên có thể cần dùng đến thuốc dãn phế quản dạng hít (để mở rộng đường hô hấp) hoặc steroid dạng hít (để làm giảm sưng đường hô hấp). Ho mà không có đàm hoặc trở nặng và khó kiểm soát có thể được kiểm soát bằng các thuốc ức chế ho do thầy thuốc của bạn kê toa.

 

Khi nào tôi nên gọi cho thầy thuốc về ho của tôi?

Hầu hết ho không nguy hiểm. Bạn nên gọi cho thầy thuốc nếu bạn nhận thấy bất cứ dấu hiệu nào sau đây: ho không rõ nguyên nhân; ho dữ dội; ho khiến bạn bị xóa trí nhớ một đoạn (black out).

 

Nguồn: American Thoracic Society
http://patients.thoracic.org/information-series/en/resources/signs-and-symptoms-of-copd.pdf
Trần Thanh Xuân dịch

 

Hội chứng cai rượu là một loạt các triệu chứng xuất hiện sau khi bỏ rượu hoặc uống giảm số lượng đáng kể so với trước ở người nghiện arượu. Hội chứng cai rượu biểu hiện ở nhiều mức độ từ nhẹ đến nặng, thậm chí rất nặng và có thể nguy hiểm đến tính mạng.

Hội chứng cai rượu là gì?

Ở người nghiện rượu có tình trạng “quen rượu” hay nói khác đi, các cơ quan trong cơ thể đặc biệt là hệ thần kinh đã trở nên phụ thuộc rượu. Rượu khi vào cơ thể đã làm giảm hoặc mất tác dụng của chất Gamma aminobutiric acide- là một chất ức chế thần kinh, làm ảnh hưởng tới các chất dẫn truyền thần kinh khác như: glutamate, adrenaline, noradrenaline và trục nội tiết dưới đồi – tuyến yên. Khi ngừng hoặc giảm uống rượu cơ thể không kịp thích nghi nên kết quả là hàng loạt triệu chứng của hội chứng cai rượu xảy ra.

Điều trị hội chứng cai rượu 1

Bên cạnh việc chủ động bỏ rượu (chỉ ở một số rất ít người), có nhiều yếu tố khiến cho người nghiện bỏ rượu đột ngột dẫn đến xuất hiện hội chứng cai rượu như bệnh nhân bị sốt virut, nhiễm khuẩn (hay gặp viêm phổi, nhiễm trùng tiết niệu, viêm màng não mủ, nhiễm khuẩn huyết…), xuất huyết tiêu hóa do giãn vỡ tĩnh mạch thực quản ở bệnh nhân xơ gan rượu, chấn thương sọ não, tụ máu dưới màng cứng mạn tính, các stress trong gia đình và xã hội… Các yếu tố này có thể cộng hưởng với nhau khiến cho bệnh nhân đang uống một lượng rượu rất lớn đột ngột phải dừng khiến cho cơ thể không kịp thích nghi.

Đa số các trường hợp nghiện rượu nặng là những người nghèo nên rượu họ uống hàng ngày không phải là rượu tinh khiết mà thường là rượu có nguồn gốc xuất xứ không rõ ràng, lượng aldehyde trong những loại rượu này có nồng độ rất cao và trong nhiều trường hợp còn có chứa cả methanol, một loại rượu cực độc chỉ được dùng làm dung môi trong công nghiệp, vì vậy, hội chứng cai rượu ở những đối tượng này thường kèm thêm những tổn thương nặng ở các cơ quan như gan, thận, mắt, tim, thần kinh với một tình trạng suy dinh dưỡng hết sức nặng nề.

Điều trị hội chứng cai rượu 2
 Uống rượu nhiều gây hại cho gan. (ảnh minh họa)

Biểu hiện như thế nào?

Thông thường, các triệu chứng của hội chứng cai rượu xuất hiện sau khi giảm hoặc dừng uống rượu 12 – 24 giờ. Đầu tiên, bệnh nhân thấy mệt mỏi, vã mồ hôi, nhịp tim nhanh, đánh trống ngực, run tay, buồn nôn, nôn mửa, đau đầu mất ngủ, ác mộng, tăng huyết áp, hạ thân nhiệt, tê bì hai chi dưới, chuột rút, đau mỏi các cơ, bỏ ăn hoặc ăn uống kém. Nhiều bệnh nhân có triệu chứng co giật cục bộ hoặc toàn thân, trong ngày có thể tới 4 – 5 cơn và bệnh nhân nghiện rượu càng nặng, càng lâu thì cơn co giật càng lớn và kéo dài. Sau đó vài ngày, bệnh nhân xuất hiện hoang tưởng, ảo giác, kích thích rung giật, nói lảm nhảm, sảng run, mất định hướng. Kèm theo các triệu chứng của hội chứng cai rượu là một tình trạng suy kiệt nặng; nhiễm khuẩn ở một số nơi như đường hô hấp, tiết niệu; các triệu chứng của xơ gan: hoàng đản, cổ chướng, tuần hoàn bàng hệ, lách to và các biểu hiện của tiền hôn mê gan, hôn mê gan thực sự khiến cho bệnh cảnh lâm sàng của hội chứng cai rượu thêm nặng nề và phức tạp.

Điều trị hội chứng cai rượu 3
 Điều trị cho bệnh nhân bị ngộ độc rượu tại Trung tâm Chống độc
 (Bệnh viện Bạch Mai). Ảnh: PV

Điều trị và dự phòng

Dù trong bất cứ trường hợp nào, khi đã có hội chứng cai sau khi giảm hoặc dừng uống rượu đều chứng tỏ bệnh nhân đã nghiện rượu một thời gian rất dài hay nói khác đi, bệnh nhân đã bị “ngộ độc rượu mạn tính” và các cơ quan trong cơ thể đã bị tổn thương nặng nề do rượu. Vì vậy, việc điều trị hội chứng cai rượu sẽ đòi hỏi nhiều thời gian và công sức. Đầu tiên, các thuốc điều trị triệu chứng sẽ được sử dụng như chống kích thích, co giật, run bằng thuốc nhóm benzodiazepin: diazepam, lorazepam hoặc phenytoin… uống hoặc tiêm (bắp hoặc tĩnh mạch). Trong trường hợp bệnh nhân có hoang tưởng, ảo giác có thể cho thêm haloperidol uống và co giật nhiều thì phối hợp thêm carbamazepine. Một số các thuốc khác cũng được sử dụng phối hợp điều trị như barbiturates, clonidine, flumazenil, cafein và thậm chí cả… rượu (với mục đích làm giảm triệu chứng thiếu rượu, sau đó sẽ giảm dần liều) trong một số ca nặng. Bên cạnh đó, hết sức cần thiết đảm bảo cho bệnh nhân một chế độ dinh dưỡng tốt qua ăn uống hoặc truyền dịch, bồi phụ đủ các chất điện giải như kali, natri, canxi, các yếu tố vi lượng, các vitamin như B1, B6, B12…. Và điều trị những bệnh lý kèm theo như nhiễm khuẩn, chấn thương, tai biến mạch não, cơn tăng huyết áp, hội chứng não gan.

Việc dự phòng hội chứng cai rượu tập trung vào việc bỏ rượu chủ động với số lượng ít dần và có phối hợp với sử dụng thuốc theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa thần kinh – tâm thần – chống độc. Ở người nghiện rượu, nên chú ý phòng chống các yếu tố nguy cơ như đã mô tả ở trên và khi xuất hiện các biểu hiện của hội chứng cai nên khẩn trương đến ngay các cơ sở y tế gần nhất để được tư vấn và xử trí kịp thời.

Tiến sĩ, Bác sĩ Vũ Đức Định

Ngày nay, khi người ta vội vàng lo đóng quan tài cho người quá cố thì trước đây, con người cẩn thận thực hiện những nghi lễ khám nghiệm tử thi. Và đôi khi ngay cả người chết cũng có nhiều câu chuyện thú vị để kể. Mời quý độc giả cùng khám phá những câu chuyện bí ẩn bên dưới đây.

La Doncella

La Doncella còn có tên khác là Maiden, là xác ướp còn nguyên vẹn tuyệt hảo của một cô gái Inca, 15 tuổi, cô được cho là nạn nhân của một vụ hiến tế cách đây hơn 500 năm. Xác ướp được tìm thấy tại ngọn núi lửa Llullaillaco (Argentina), có độ cao trên bề mặt nước biển 6.700m. Xác của La Doncella cùng với xác ướp 2 trẻ em Inca khác đã được tìm thấy vào năm 1999. Trước khi chết, La Doncella được cho là đã mắc bệnh lao hoặc viêm phổi mạn tính. Người ta tin rằng, cô gái đã chết vì thân nhiệt hạ thấp. Khám nghiệm dạ dày của La Doncella còn tìm thấy bột ngô, một vài mảnh lá côca trong miệng. Được biết, người Inca thời xưa có thói quen nhai lá côca để chống say độ cao.

Chuyến thám hiểm những xác ướp Franklin

Năm 1850, khi một đoàn thám hiểm tình cờ đi ngang qua hòn đảo Beechey đã phát hiện 3 ngôi mộ bí ẩn, bên trong các nấm mồ là nơi an nghỉ của John Torrington, John Hartnell và William Braine. Hơn 100 năm sau đó, vào năm 1984, một nhóm các nhà nhân chủng học đã đến đảo Beechey để tiến hành các xét nghiệm pháp y trên các bộ xương bí ẩn. Sau khi khai quật, họ sững sờ khi nhận ra cả 3 cái xác đều được bảo quản nguyên vẹn nhờ một phần từ lớp băng vĩnh cửu trong vùng lãnh nguyên. Vì bảo quản nguyên vẹn nên các nhà nhân chủng học đã giải mã nguyên nhân cái chết của 3 người đàn ông đã chết cách đó 138 năm. Ngoài các dấu hiệu của bệnh lao và viêm phổi, họ còn tìm thấy một lượng chì trong các xác chết. Lượng chì thật đáng kinh ngạc, ước tính mỗi người đã tiêu thụ khoảng 3,3 miligram/ngày trong suốt 8 tháng liên tục.

Xác ướp kể chuyện 1
 Xác ướp cô gái 500 năm tuổi tại La Doncella.

Dashi-Dorzho Itigilov

Lúc sinh thời, Dashi-Dorzho Itigilov là một thiền sư. Một đêm vào năm 1927, Itigilov dặn dò các đồ đệ rằng thời gian này ông sắp chuyển sang một cuộc sống khác và yêu cầu họ thiền định với mình. Trong khoảng giữa buổi thiền định, thiền sư Itigilov lặng lẽ qua đời. Ngay sau đó, thiền sư được chôn cất theo tư thế ngồi thẳng tọa thiền hoa sen và phủ lên nhục thể của nhà sư một cái hộp làm bằng gỗ thông. Vài năm sau, người ta khai quật xác của nhà sư mới khám phá ra rằng, xác của ngài vẫn còn nguyên vẹn và vẫn đang trong tư thế tọa thiền hoa sen. Sau đó, người ta tái an táng nhục thể của thiền sư, quan tài của ngài được bọc một lớp muối. Lần gần đây nhất, trước sự chứng kiến của các nhà khoa học và chuyên gia pháp y, người ta lại khai quật mộ của thiền sư, và thật kỳ lạ, nhục thể của ngài vẫn còn nguyên vẹn. Qua phân tích các mẫu da và tóc của thiền sư Itigilov cho thấy, các tế bào của ngài vẫn còn khá tốt như của người mới chết trong vòng 36 giờ, trong khi ngài đã qua đời cách đó 100 năm.

Xác ướp ướt

Vào năm 2011, các công nhân xây dựng ở Trung Quốc trong lúc đang đào móng để chuẩn bị xây dựng một tuyến đường mới đã phát hiện xác ướp của một phụ nữ sống cách đây khoảng 600 năm, vào đời nhà Minh. Bất chấp việc đã chết hàng trăm năm và dù được chôn xuống lòng đất ẩm ướt, thế nhưng xác vẫn được bảo quản một cách nguyên vẹn. Có vài món đồ trang sức tinh xảo được tìm thấy ngay trên xác ướp của bà, bao gồm một chiếc nhẫn ngọc bích khá lớn được đeo ở ngón tay giữa của bà và một chiếc trâm cài tóc bằng bạc vẫn còn đính trên đầu. Xác ướp này quả là điều bí ẩn. Nó không giống với bất kỳ xác ướp nào được tìm thấy ở Trung Quốc từ trước đó và theo nhà khảo cổ học Victor Mair, xác ướp phụ nữ thuộc về một tầng lớp cao quý trong xã hội phong kiến. Đáng ngạc nhiên hơn khi xác chết trở thành xác ướp hết sức tự nhiên, ngay tại hố nước nơi bà đã được an nghỉ. Trong nước có chứa rất ít ôxy, có lẽ vì vậy mà nó đã làm chậm lại sự phát triển của vi khuẩn trên xác, đồng thời giúp cho xác được bảo tồn nguyên vẹn.

Công chúa Ukok

Trong khi bản thân cái xác đã không được bảo quản tốt thì những hình xăm còn lưu lại trên da là thứ rất đáng quan tâm. Những hình xăm vẫn còn nguyên vẹn, bất chấp chủ nhân đã chết cách đây hơn 2.500 năm. Khi qua đời, công chúa Ukok mới 25 tuổi. Qua nghiên cứu hình xăm cho thấy, nó bao gồm các hình động vật như hươu nai. Con hươu trong hình xăm là loài nai gạc Capricorn và cái mỏ y như của con quái vật mình sư tử đầu chim. Các nhà nghiên cứu tin rằng, Ukok là một thành viên của bộ lạc Pazyryk, một cộng đồng sinh sống trong rặng núi Siberia. Những cư dân du mục này có niềm tin sâu xa rằng các hình xăm giúp cho họ tìm thấy nhau sau khi sang thế giới bên kia. Vì lý do này mà hình xăm của họ thường khá cầu kỳ, tinh xảo trong thế giới thời đó.

Ramesses III

Ngoài những công trình kiến trúc kim tự tháp đồ sộ thì ấn tượng khiến cho cả thế giới hết sức ngưỡng mộ khi nói đến Ai Cập chính là những xác ướp được bảo tồn một cách nguyên vẹn, mở cánh cửa để đi vào quá khứ. Trong thời kỳ đó, có một vài xác ướp khá nổi tiếng, chẳng hạn như vua Tut và Seti I, song đáng quan tâm nhất là xác ướp của Ramesses III, cũng là xác ướp bí ẩn nhất. Ramesses III từng trị vì Ai Cập trong suốt triều đại thứ 20. Trong suốt hơn một thiên niên kỷ, các học giả đã tranh luận khá gay gắt về nguyên nhân nào đã dẫn đến cái chết của Ramesses III. Rất may là nhờ vào những phương pháp khác nhau trong việc bảo quản xác mà thi hài của nhà vua đã được bảo tồn nguyên vẹn. Nhiều câu hỏi đã được trả lời ngay sau khi lăng mộ của Ramesses III được khai quật. Thông qua chụp CT cho thấy, có một vết cắt sâu trên cổ họng ông, dài 7cm và ngay xương sống của nhà vua. Vết cắt này không chỉ gây tổn hại cho các mạch máu chính mà còn ảnh hưởng cả khí quản và thực quản, làm chấm dứt mạng sống của một trong những vị pharaoh hùng mạnh nhất Ai Cập. Nhiều người tin rằng, Ramesses III đã bị hạ sát bởi chính những người con trai của ông.

Nguyễn  Thanh Hải (Theo LV, 12/10/2013)

Cây nhội còn có tên thu phong, nhội tía, quả cơm nguội… Tên khoa học: Bischofia javanica Blume. Theo Đông y, nhội vị hơi cay, chát, tính mát, tác dụng hành khí, hoạt huyết, tiêu thũng, giải độc. Người ta dùng ngọn, lá non thái nhỏ, rửa kỹ xào hay nấu canh; một số nơi dùng lá non ăn gỏi cá.

Cây nhội được dùng làm thuốc chữa các bệnh sau:

Chữa tiêu chảy: 20 – 40g lá khô hay 40 – 60g lá tươi sắc lấy nước uống trong ngày.

Cây nhội -  Vị thuốc hoạt huyết tiêu thũng 1

Chữa khí hư, bạch đới, viêm âm đạo, lở ngứa: lá tươi 50 – 80g sắc lấy nước để uống hoặc sắc lấy nước đặc, thêm ít phèn chua hay hòa thêm 1 – 2 viên klion (metronidazole) để ngâm rửa. Có thể nấu cao đặc để bôi.

Chữa dị ứng do thuốc mỡ, tiếp xúc hóa chất, lở ngứa như ghẻ ruồi do tắm nước bẩn (nước ao tù): lá quả cơm nguội 2 phần, nghể răm 1 phần, nấu nước để tắm, tắm khi nước còn nóng, dùng lá chà xát khắp người.

Chữa dị ứng, mẩn ngứa, mụn nhọt: lá nhội 50g, lá cây dâu gia 50g. Giã nhỏ, trộn với ít dấm, bôi.

Chữa viêm gan siêu vi: lá nhội tươi 60g, hợp hoan bì 15g, rau má 30g, đường phèn 15g, sắc nước uống.

Tại Trung Quốc, người ta đã dùng vỏ thân, rễ cây trị phong thấp, đau xương; nghiên cứu lá cây chữa bệnh ung thư đường tiêu hóa, ung thư dạ dày, chữa viêm gan truyền nhiễm, viêm phổi, viêm hầu họng, trẻ em cam tích. Dùng ngoài trị mụn nhọt và lở ngứa…

TS. Nguyễn Đức Quang

Mưa lớn, bão lũ làm các nguồn nước bị ô nhiễm nghiêm trọng, độ ẩm cao, thiếu ánh nắng mặt trời khiến quần áo, chăn màn bị ẩm mốc… Đó là những yếu tố dễ phát sinh nhiều bệnh tật như tiêu chảy, bệnh đường hô hấp, bệnh ngoài da, đau nhức xương khớp… Sau đây là một số bài thuốc Nam phòng trị các bệnh này.

Cảm lạnh

Mưa nhiều, độ ẩm cao, nhiệt độ thấp, cơ thể bị nhiễm phong hàn, người bệnh có biểu hiện người lạnh, chân tay lạnh, rét run, tim đập nhanh nhỏ, huyết áp xuống hơi thấp. Dùng ngay bài thuốc: phòng sâm 20g, hoàng kỳ 16g, bạch truật 16g, sinh khương 6g, quế chi 10g, thiên niên kiện 10g, cam thảo 15g, trần bì 12g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần, uống nóng. Hoặc dùng bài: nhân sâm 15g, hoàng kỳ (sao mật) 16g, đương quy 16g, bạch truật 16g, ngũ gia bì 16g, thiên niên kiện 10g, quế chi 8g, phụ tử 6g, chích thảo 15g, sinh khương, đại táo 7 quả, ngũ vị 16g. Sắc uống ngày 1 thang, uống nóng. Người bệnh cần được ủ ấm, dùng dầu gió xoa vào vùng rốn, vùng lưng, bàn tay bàn chân.

Bệnh ngoài da

Mưa bão khiến môi trường ẩm ướt, thiếu ánh nắng mặt trời, một số vùng da bị nấm gây ngứa ngáy, nổi tịt, gãi nhiều làm da bị trầy xước, tại vùng tổn thương da có màu đỏ, sần da, tiết dịch… Nấm có thể lây lan nhanh nếu không được chữa trị kịp thời. Lúc này cần dùng những bài thuốc: ngân hoa, liên kiều, nam hoàng bá, kinh giới, lá dành dành mỗi vị 12g; bạch chỉ 10g, củ dong10g, hoàng liên 8g, sài đất 16g, lá đơn đỏ 16g, chi tử 12g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Dùng liên tục 5 – 7 ngày cho tới khi hết các triệu chứng. Đồng thời kết hợp dùng bài thuốc rửa: kinh giới, lá sả, lá mít, lá tía tô mỗi vị 20g; kim ngân 12g, thiên niên kiện 10g, lá lốt 10g, lá xương sông 10g. Các vị cho vào ấm, đổ nước 500ml, đun sôi để ấm. Dùng nước này rửa nơi tổn thương ngày 2 lần. Công dụng: chống ngứa, chống nấm, làm khô nơi tổn thương làm da mau lành.

Thuốc Nam chữa bệnh thường gặp sau mưa, bão 1

Đau bụng tiêu chảy

Mưa lớn, nước lũ tràn ngập làm ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt, gây rối loạn tiêu hóa với biểu hiện chủ yếu là nôn mửa, tiêu chảy, đau bụng… Dùng ngay một trong những bài thuốc:

Bài 1: búp ổi 15g, lá khổ sâm 15g, lá đinh lăng 19g, bạch truật 12g, trần bì 10g, cỏ sữa 20g, cỏ mực (sao) 20g, cây cứt lợn 16g, cam thảo đất 16g. Sắc uống trong ngày, có thể gia thêm 3 – 4 lát gừng.

Bài 2: hoài sơn 16g, liên nhục 16g, bạch truật 16g, trần bì 10g, cỏ mực 16g, sinh khương 4g, lương khương 10g, tất bát 12g, hậu phác 12g, ngũ gia bì 16g, lá đắng 12g, lá nhót 16g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần.

Nếu tiêu chảy có lẫn máu mũi, dùng: cỏ mực sao đen 20g, kinh giới sao đen 18g, chi tử sao đen 16g, hoài sơn 16g, nam hoàng bá 16g, bạch truật 16g, bạch linh 12g, cam thảo 12g, đương quy 12g, cát căn 16g. Sắc uống ngày 1 thang, uống liên tục 5 – 7 ngày cho tới khi các triệu chứng thuyên giảm.

Tiếp theo có thể cho người bệnh uống nước gạo tẻ (50 – 80g) sao cho tới khi hạt gạo sậm màu là được; khoai lang thái lát phơi khô sao vàng 40g. Cho 2 vị vào ấm, đổ 2 lít nước, đun sôi để làm nước uống trong ngày. Công dụng: bổ tỳ, cầm tả, bổ sung lượng nước cho cơ thể.

Thuốc Nam chữa bệnh thường gặp sau mưa, bão 2
 Kinh giới, dành dành chữa bệnh mẩn ngứa.

Viêm khớp, sưng khớp

Mưa lạnh, ẩm ướt, phong hàn xâm nhập làm khí huyết bị trở trệ, kinh lạc ách tắc, cân cơ mất sự thông sướng làm xương khớp đau mỏi ảnh hưởng đến sức khỏe và sinh hoạt hằng ngày của người bệnh. Phép chữa trị lúc này là khu phong tán hàn, thông kinh hoạt lạc, bồi bổ can thận. Dùng một trong các bài:

Bài 1: nam tục đoạn 18g, độc hoạt 16g, thạch xương bồ 16g, ngải diệp 12g, thổ phục linh 20g, hy thiêm 16g, tang ký sinh 16g, ngũ gia bì 16g, kê huyết đằng 16g, quế chi 10g, thiên niên kiện 10g, đương quy 16g, hà thủ ô 16g, cẩu tích 12g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần, uống sau bữa ăn.

Bài 2: ngải diệp 12g, tất bát 12g, xuyên khung 10g, tục đoạn 18g, xấu hổ 20g, thổ phục linh 20g, bưởi bung 16g, cát căn 16g, kinh giới 16g, kê huyết đằng 16g, quế chi 6g, thiên niên kiện 10g, trần bì 12g, cẩu tích 12g, tang chi 16g, đinh lăng 16g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Dùng 10 – 12 ngày là một liệu trình.

Nếu mất ngủ, gia: hắc táo nhân 16g, lá vông 20g.

Nếu lạnh bụng, đi ngoài phân lỏng, gia: sinh khương 6g, bạch truật 12g, phụ tử 5g.

Cơ thể suy nhược, da xanh, môi nhợt, gia: nhân sâm 10g, khởi tử 12g, bạch thược 10g, đại táo 5 quả, thục địa 10g.

Lương y Trịnh Văn Sỹ

Từ lâu, khoa học biết rằng muỗi lảng tránh thuốc DEET – một loại thuốc diệt muỗi, côn trùng, nhưng các thụ thể khứu giác nào giúp cho côn trùng kháng thuốc thì khoa học lại chưa nắm rõ nên chưa tìm được loại thuốc tốt hơn. Nay nhờ nghiên cứu, các chuyên gia Mỹ UOC đã xác định được các thụ thể nói trên. Qua thử nghiệm trên ruồi giấm chuyển gen, các nhà khoa học phát hiện thấy các nơron thần kinh được kích hoạt bởi DEET sẽ phát màu huỳnh quang xanh nên các nhà khoa học đã xác định được vị trí các thụ thể này nằm ở một phần của antent có tên là sacculus. Tiếp tục nghiên cứu ở 500.000 hóa chất, nhóm đề tài phát hiện được 3 hóa chất kích hoạt những thụ thể này để giúp muỗi phát kháng lại DEET, đó là ba hóa chất methyl N,N-dimethyl anthranilate; ethyl anthranilate và butyl anthranilate. Với việc phát hiện ra các hóa chất nói trên trong tương lai con người sẽ sản xuất được loại thuốc diệt muỗi có hiệu quả hơn, không chứa hóa chất độc hại nhưng vẫn hạn chế những căn bệnh do muỗi lan truyền như sốt xuất huyết, sốt rét, những căn bệnh đang bùng phát mạnh ở các nước đang phát triển.

Khắc Nam (Theo Gizmag,10/2013)

Bom, mìn, các vụ cháy nổ, nổ bình ga, nổ bình điện, nổ do cháy xăng dầu… đều có thể gây thương vong do sóng nổ gây ra. Sóng nổ thường gây đa chấn thương như chấn thương sọ não, chấn thương ngực, bụng, gãy xương tay chân… nên cần cấp cứu kịp thời mới hạn chế được thương vong.

Sóng nổ là sóng chấn động do thuốc nổ, bom, mìn, đạn pháo cỡ lớn, bộc phá, thủy lôi, bình ga, bình điện, các vụ hỏa hoạn xăng dầu… cháy nổ tạo nên. Sóng nổ phát ra từ tâm vụ nổ tỏa ra theo vòng tròn với một áp suất rất cao. Độ lớn của áp suất và tốc độ của sóng nổ giảm dần khi truyền đi xa tâm vụ nổ. Đại lượng đo sóng nổ tính bằng kg/cm3, đại lượng này còn được gọi là xung lượng của sóng nổ. Xung lượng sóng nổ quyết định tổn thương trên cơ thể của con người và các sinh vật: cường độ xung lượng 2kg/cm3, con người và động vật bị tử vong; xung lượng từ 0,5 – 1kg/cm3 con người và động vật bị tổn thương nặng; xung lượng từ 0,4 – 0,5kg/cm3 gây tổn thương vừa; xung lượng từ 0,2 – 0,4kg/cm3 gây tổn thương nhẹ. Tổn thương do sóng nổ thường gặp nhất là ở phổi, cơ hoành, các tạng trong ổ bụng, não, màng nhĩ của tai… Sóng nổ còn đẩy những mảnh vỡ của bom mìn, gạch, gỗ, đá, đất, mảnh kính vỡ… sát thương con người và động vật. Do đó nạn nhân ở gần tâm của vụ nổ sẽ bị tổn thương nặng hơn do áp suất sóng nổ cao và bị các vết thương do vật cứng sắc phá hủy.

Tổn thương do sóng nổ 1
 Hà hơi thổi ngạt cứu bệnh nhân bị ngạt do sóng nổ.

Những tổn thương có thể gặp

Trong và sau vụ nổ, sóng nổ gây ra nhiều dạng tổn thương cho con người. Sóng nổ có áp lực cao tác động làm ép ngực, ép bụng, tăng áp lực không khí ở phế nang, hệ thống máu tĩnh mạch, thủng màng nhĩ… Sau đợt cơ thể chịu tác động trực tiếp của áp lực cao là đến đợt áp lực thấp nên có sự thay đổi đột ngột của áp lực. Nạn nhân có hiện tượng chảy máu lấm tấm và tổn thương thành mạch máu ở não, dưới màng cứng; vỡ các phế nang, xẹp phổi, tràn khí màng phổi, chảy máu ở màng phổi, sung huyết nền phổi, phù phổi cấp; phù khí ở dưới da; chảy máu thành bụng, giãn ống tiêu hóa; giập rách gan, lách, tụy, thận; thủng màng nhĩ, chảy máu tai trong; chảy máu dưới kết mạc mắt, chảy máu vào thủy tinh dịch; tắc hoặc vỡ các động mạch… Trường hợp sóng nổ mạnh, có thể hất tung nạn nhân lên cao và ra xa hoặc làm sập hầm, đổ nhà cửa… gây nên các tổn thương thứ phát như gãy xương, sai khớp, vỡ tạng bụng kín, chấn thương sọ não, chấn động não, bị va đập, bị vùi lấp, hội chứng đè ép chi… tử vong tại chỗ.

Có thể chia tổn thương sóng nổ thành 3 mức độ:

Mức độ nặng: mất trương lực cơ, cơ nhẽo mềm nhũn; bất tỉnh, hôn mê, đại tiểu tiện không tự chủ kéo dài vài ba ngày và thường tử vong. Sọ não và thần kinh: chấn động não, phù não, giập não, xuất huyết não, nhũn não, giảm cảm giác, giảm hoặc mất phản xạ gân xương. Hô hấp: khó thở, thở nhanh nông, đau tức ngực, ho ra máu kéo dài hay thổ huyết có thể có tràn khí tràn máu màng phổi, phù phổi cấp hoặc hội chứng sốc phổi. Ở bụng: có thể liệt ruột gây tắc ruột cơ năng; tổn thương tạng thì sẽ có biểu hiện của hội chứng chảy máu trong hoặc hội chứng kích thích phúc mạc và viêm phúc mạc. Tai: thường chảy máu, giảm thính lực tạm thời hoặc điếc. Chi thể: gãy, vỡ, giập xương.

Loại nặng tiến triển dễ tử vong do rối loạn hô hấp, tuần hoàn nặng và tổn thương sọ não. Nếu được điều trị thì vẫn còn để lại các di chứng như loạn thần, suy nhược thần kinh, liệt nửa người, đau tức ngực, viêm phế quản dạng co thắt, ho ra máu kéo dài, có thể điếc tai và mờ mắt.

Mức độ vừa: mệt mỏi, đau đầu nhiều lần, buồn nôn, choáng váng, có triệu chứng chấn động não. Đau tức ngực, khó thở, ho ra máu, giảm thính lực tạm thời, đau bụng và bụng chướng trong một vài ngày, đái dắt, đái ít trong 2 – 3 ngày, chảy máu dưới kết mạc, viêm kết mạc. Sau 2 – 3 tuần điều trị sẽ hồi phục nhưng có thể để lại một số di chứng.

Mức độ nhẹ: bệnh nhân bị choáng váng, đau ê ẩm toàn thân, ù tai, chóng mặt, nhức đầu, trí nhớ kém, khó ngủ thường tự khỏi sau từ 3 – 5 ngày hoặc hơn, không để lại di chứng.

Cách sơ cứu

Ngay sau khi vụ nổ xảy ra, cần tổ chức cấp cứu: khẩn trương đào bới giải thoát cho những nạn nhân bị vùi lấp, đè ép, ngạt thở. Mọi nạn nhân bị sức ép đều phải di chuyển nhẹ nhàng ra nơi an toàn thoáng khí, đặt nằm yên, đầu hơi thấp để làm thông đường hô hấp, tránh tình trạng tắc khí lên não. Nạn nhân bị ngạt thở, tiến hành hà hơi thổi ngạt. Ga rô cầm máu, băng bó vết thương, cố định xương gãy. Cần lau sạch đờm dãi, động viên, an ủi nạn nhân. Sau đó dùng mọi phương tiện sẵn có chuyển nhanh nạn nhân đến bệnh viện gần nhất để điều trị tiếp.

Tổn thương do sóng nổ 2
 Băng bó và cố định xương gãy rồi mới chuyển nạn nhân đi bệnh viện.

Lời khuyên của bác sĩ

Khi gặp vụ nổ hoặc trong trường hợp cần tránh bom đạn, nếu ở nơi không có hầm thì phải lợi dụng địa hình tự nhiên che chắn và nằm sát xuống đất theo tư thế: không nằm sát trực tiếp lên mặt đất hoặc sàn tàu, xe… mà dùng tay xếp dưới ngực và bụng để tránh sự va đập của sức nổ truyền qua mặt đất, sàn tàu xe, đập mạnh vào ngực bụng; hàm răng nên cắn chặt một cái nút chai hay một vật êm như khăn, áo. Khi có tiếng nổ lớn, cần nhanh chóng bịt tai và mở miệng. Nơi có hầm trú ẩn phòng chống sóng nổ tốt như hầm chữ A và hầm hào hình chữ chi, nên trú ẩn sâu trong hầm, không đứng hoặc ngồi ở gần cửa hầm.

Nhà ở và cơ quan xí nghiệp cần thực hiện tốt quy định phòng chống cháy nổ. Không mua bán tàng trữ chất nổ, pháo nổ. Sử dụng bình ga nấu ăn đúng quy tắc an toàn, cần khóa kỹ bình ga và van bếp khi đã nấu xong để phòng tránh cháy nổ bình ga.

ThS. Nguyễn Xuân Lục

Thuốc Đông y được dùng khá phổ biến và uống là hình thức phổ biến nhất. Tuy nhiên, mỗi loại bệnh lại có thời điểm và cách uống thuốc khác nhau.

Uống trước khi ăn: Thường dùng cho các loại bệnh gan thận hư tổn hoặc những bệnh có vị trí phía dưới như các bệnh từ eo lưng trở xuống và các bệnh về đường ruột. Vì lúc này, dạ dày đang rỗng, thuốc tiếp xúc chủ yếu với niêm mạc đường tiêu hóa sẽ hấp thu nhanh và đạt được hiệu quả chữa trị.

Uống sau khi ăn: Thường áp dụng đối với nhưng loại thuốc có tác dụng kích thích đường tiêu hóa hay những loại thuốc trị bệnh có vị trí ở trên như bệnh tim, gan, phổi… Theo các thầy thuốc Đông y, đây là những loại thuốc có dược tính mạnh nên cần phải uống sau khi ăn để khỏi bị hấp thu quá nhanh dẫn tới trúng độc.

Uống nguội: Thuốc giải độc, cầm nôn, giải nhiệt đều nên uống nguội. Ví dụ như thuốc chữa trị sốt cao nên để thật nguội hãy uống.

Thời điểm uống thuốc Đông y hiệu quả 1
 Uống thuốc Đông y đúng cách sẽ có hiệu quả điều trị cao. (Ảnh minh họa)

Uống ấm: Những loại thuốc có tính bồi bổ thường có vị ôn hòa nên thường được chỉ định dùng khi ấm nhằm tăng cường tác dụng bổ khí và bổ dưỡng. Với thuốc bổ, sắc xong để nguội khoảng 35% thì uống là vừa.

Uống nóng: Thuốc trúng gió, cảm cúm, giải độc trừ hòa, nên uống lúc còn nóng để cho ra mồ hôi; Khi cần loại trừ hàn, tăng cường thông huyết mạnh, thường được chỉ định uống lúc nóng để phát huy hết tác dụng của thuốc.

Uống hết ngay một lần: Những loại thuốc mạnh liều lượng ít được sử dụng để uống một lần cho hết nhằm tập trung sức mạnh của thuốc, phát huy hiệu quả tối đa như thuốc thông đại tiểu tiện, tan máu ứ…

Uống nhiều lần: Những người bị bệnh về yết hầu, hay nôn mửa, cần uống thuốc làm nhiều lần và từ từ để thuốc có thời gian ngấm vào cơ thể và dạ dày.

Uống khi đói: Thuốc bổ cũng được khuyên dùng nên uống vào buổi sáng, lúc bụng đói để hấp thu được hết.

Uống trước khi ngủ: Thuốc an thần gây ngủ vì thế uống trước khi ngủ khoảng 30 phút sẽ giúp thuốc phát huy hiệu quả cao nhất. Bên cạnh đó, người mắc bệnh tích trệ, đau ngực sau khi uống thuốc nên nằm ngửa; người mắc bệnh ở đầu, não, tai, mắt, sau khi uống thuốc nên tĩnh dưỡng tại chỗ. Đối với người mắc bệnh đau hai bên suờn sau khi uống thuốc nên nằm nghiêng.

Uống cách nhật: Thường sử dụng đối với các loại thuốc tẩy giun sán. Trước khi đi ngủ uống một lần, sáng hôm sau uống một lần nữa khi bụng đói để giun sán bị tiêu diệt và dễ bài tiết ra ngoài.

Điều rất rõ ràng khi mùa xuân đến và khi ánh sáng mặt trời rạng rỡ, thì những người bị chứng trầm cảm có cảm giác vui hơn. Về phương diện này, quang liệu pháp đã được sử dụng để chữa trị chứng trầm cảm về mùa đông.

Tuy vậy, cơ chế về thần kinh học vẫn chưa được hiểu rõ. Nhờ vào các công trình nghiên cứu của nhóm Mingliang Pu thuộc Viện đại học Bắc Kinh, Trung Quốc, trên loài chuột, hy vọng sẽ giải mã được. Thực vậy, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra các tế bào hạch của võng mạc, đó là các nơ-ron nằm trong mắt tiếp xúc với các tế bào cảm thụ ánh sáng, có liên quan đến một vùng của thân não, đã được xác định có chức năng tạo ra serotonin. Đây là một chất trung gian dẫn truyền thần kinh, đóng một vai trò quan trọng về tính khí của con người. Hơn nữa, khi con mắt bị kích thích bởi ánh sáng thì nó sẽ gửi các tín hiệu thông qua các tế bào hạch, làm tăng nồng độ serotonin trong vùng vỏ não này và hậu quả là làm giảm các triệu chứng trầm cảm ở loài chuột.

Các nhà nghiên cứu còn chứng tỏ rằng, để làm giảm trầm cảm của những con chuột không thấy được ánh sáng, thì kích thích các tế bào hạch của võng mạc cũng có hiệu quả như là được điều trị bằng thuốc chống trầm cảm thông dụng.

BS. Nguyễn Văn Thông (Theo Science & Vie, 2013)

TS. Jonathan Allen (36 tuổi), một chuyên gia về động vật không xương sống tại Trường đại học William và Mary (Mỹ) đột nhiên cảm thấy có cái gì đó ngọ nguậy dưới lớp niêm mạc môi khi đang trò chuyện với những người bạn trong một buổi họp lớp. Sau khi trở về nhà, Allen đã dùng một chiếc kim chọc vào vị trí đang bị ngứa rồi dùng kẹp lôi được con sán ra ngoài.

Sán sống “tầm gửi” 3 tháng dưới lớp da môi 1

Allen cho biết: Những con sán này đã tồn tại ở niêm mạc môi được khoảng 3 tháng nay. Những con sán này được xác định là ký sinh trùng chủ yếu sống ký sinh trên động vật, đặc biệt là trâu, bò, chó, mèo và có thể được truyền sang người thông qua đường ăn do các loại thức ăn đã bị ô nhiễm. Nó cũng có thể bị nhiễm vào người từ các loại thực phẩm bị ôi thiu trong quá trình lưu trữ không đảm bảo hoặc từ nguồn nước bị ô nhiễm.

Theo thống kê tại Mỹ, trường hợp của anh Allen là người thứ 13 và thứ 60 trên thế giới có sán sống dưới da.

Minh Trang (Theo Daily Mail)

Ở phương Tây, trong dịp Tết và Noel không thể thiếu con ngỗng quay trên bàn ăn bởi họ quan niệm ăn thịt ngỗng trong dịp năm mới sẽ đem lại cho gia đình mình nhiều may mắn. Ở nước ta, ngỗng cũng được các đầu bếp chế biến thành những món ăn khá độc đáo như ngỗng quay, ngỗng tẩm bột, ngỗng xào lăn, ngỗng nướng, ngỗng hấp… Với thành phần giàu protein, lipid, các hợp chất carbon, Ca, P, Fe, vitamin C… không chỉ có giá trị về dinh dưỡng, ngỗng còn có công dụng làm thuốc chữa bệnh được nhân dân ta sử dụng từ lâu đời.

Theo Đông y, thịt ngỗng ngọt, tính bình, vào tỳ phế. Tác dụng bổ ngũ tạng, ích khí bổ hư, ngừng tiêu khát. Dùng cho các trường hợp gầy còm, mỏi mệt, suy nhược cơ thể, tiểu đường. Mật ngỗng thanh nhiệt giải độc; máu ngỗng trị trúng tên độc; trứng ngỗng bổ trung ích khí; lông và màng da chữa bệnh ngoài da, vỏ trứng trị mụn nhọt… Sau đây là một số cách dùng ngỗng làm thuốc.

Trị ung nhọt: lông ngỗng sao cháy 40g, phèn chua 80g. Nghiền nhỏ, dùng nước cơm làm thành viên. Mỗi lần 8g, uống với rượu nhẹ.

Thịt ngỗng bổ ngũ tạng, ngừng tiêu khát 1
 Thịt ngỗng hầm bổ khí, bổ âm, dùng trong trường hợp người mệt,
 ăn kém, đái tháo đường.

Hoặc lông ngỗng sao tồn tính 40g, hùng hoàng 12g, xuyên ô 6g, thảo ô 6g, sáp ong vừa đủ. Nghiền trộn lông ngỗng, hùng hoàng, xuyên ô, thảo ô thành bột mịn; giã trộn với sáp ong nóng chảy để làm viên. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 4g, uống với rượu. Trị mụn nhọt độc.

Trị phong độc ngứa lở: khổ sâm 600g, lông ngỗng 320g. Lông ngỗng sao tồn tính, trộn với khổ sâm khô, tán nhỏ. Dùng nước cơm làm hồ, viên bằng hạt ngô (3g). Lấy chu sa làm áo. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 5 – 10g, uống với rượu loãng. Chữa phong ngứa nổi khắp mình, nổi đỏ, gãi ngứa khác thường, chân tay đau nhức, da dẻ nứt nẻ, phụ nữ âm hộ lở loét ướt và ngứa.

Giảm đau, chịu đánh không đau: ống lông ngỗng có máu 7 cái, giun đất 7 con, nhũ hương 5g. Lông ngỗng sao cháy tồn tính, giun đất sao hoặc nướng giòn cùng với nhũ hương nghiền thành bột mịn, thêm ít sáp ong làm viên. Ngày uống 2 lần (sáng, tối); mỗi lần uống 4g với rượu loãng.

Trị hạch ở cổ (loa lịch): lấy tất cả lông, màng da chân và miệng, để lên miếng ngói đang nung đỏ cho cháy. Lấy than nghiền nhỏ chia làm 10 phần, mỗi phần uống trong ngày, uống sau bữa ăn.

Nước ép thịt ngỗng: thịt ngỗng cả con, làm sạch bỏ ruột, hầm nấu ép lấy nước. Dùng cho bệnh nhân đái tháo đường.

Ngỗng hầm bổ khí: ngỗng 1 con, hoàng kỳ 30g, đảng sâm 30g, sơn dược 30g. Ngỗng làm sạch bỏ ruột; cùng nấu dược liệu, thêm gia vị cho phù hợp. Dùng cho các trường hợp tỳ vị hư nhược, ăn kém, mệt mỏi.

Ngỗng hầm song bổ thang: thịt ngỗng 1 con, thịt lợn nạc 200g, sơn dược 20g, sa sâm 20g, ngọc trúc 20g. Cho vào nồi, thêm nước và gia vị vừa ăn, đun nhỏ lửa hầm nhừ. Bổ khí, bổ âm, dùng trong trường hợp miệng họng khô, khát nước, mệt mỏi, thở gấp, ho suyễn, ăn kém, đái tháo đường…

Kiêng kỵ: Người đang có thấp nhiệt (nhiễm khuẩn cấp tính) không dùng.

Thịt ngỗng tác dụng bổ âm, bổ khí mạnh, nhưng tránh lạm dụng vì dễ gây rối loạn tiêu hóa.

BS. Tiểu Lan

Nhân Ngày Đột quỵ thế giới 29/10, GS.TS. Lê Đức Hinh – Chủ tịch Hội Thần kinh học Việt Nam cho biết, ở Việt Nam, cứ 100 trường hợp đột quỵ (tai biến mạch máu não) thì có 75 – 85% trường hợp bị nhồi máu não, 10% chảy máu não… Đáng lưu ý, trong 100 trường hợp bị đột quỵ, có 1/3 trường hợp để lại di chứng. Đột quỵ là một trong các nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn tật (xếp sau ung thư và tim mạch)…

90% bệnh nhân đột quỵ để lại di chứng

Theo GS. Stephen Davis – Chủ tịch Tổ chức Đột quỵ Thế giới, mỗi năm, trên toàn cầu có 16 triệu ca đột quỵ và khoảng 6 triệu ca tử vong. Trên 80% trường hợp đột quỵ xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình như Việt Nam. Ở Việt Nam, cơ sở hạ tầng của đa số các bệnh viện còn thiếu thốn nên việc chẩn đoán, xử trí và quản lý bệnh nhân đột quỵ còn gặp nhiều khó khăn. Kiến thức về đột quỵ của người dân cũng còn hạn chế, không nhận biết được các triệu chứng để kịp thời đưa người bệnh đi cấp cứu. Hậu quả là tỷ lệ bệnh nhân bị di chứng (theo GS.TS. Lê Văn Thính – Trưởng khoa Thần kinh, BV Bạch Mai) chiếm tới 90%.
 
Đột quỵ - Nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn tật 1
 Cấp cứu người bệnh đột quỵ tại BV Bạch Mai. Ảnh: Trần Minh

Đột quỵ có thể do chảy máu não hoặc tắc mạch não. Những người bị chảy máu não, trong 24 giờ đầu tiên có thể bị chảy máu lần 2 và bệnh nặng lên nhanh chóng. Còn với bệnh nhân bị tắc mạch não, cần được đưa đến bệnh viện trong vòng 3 – 4 giờ đầu sau cơn khởi phát để được dùng thuốc tránh tắc mạch. Với phác đồ điều trị tiên tiến hiện nay, nếu bệnh nhân được chuyển đến bệnh viện sớm, sự phục hồi sẽ rất khả quan. Người cao tuổi, bị tăng huyết áp, đái tháo đường, béo phì, ít vận động… thì khả năng bị đột quỵ cao.

 
Tuy nhiên, ngay cả các nước tiên tiến nhất như Mỹ, Đức và các nước châu Âu, nơi có các trung tâm đột quỵ rất rộng rãi thì tỷ lệ bệnh nhân được sử dụng thuốc tiêu sợi huyết chỉ khoảng trên dưới 5%. Ở nước ta, theo Đại tá, GS.TS. Nguyễn Văn Thông – nguyên Giám đốc Trung tâm Đột quỵ (Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, hiện mới chỉ có khoảng dưới 1% bệnh nhân bị đột quỵ được điều trị bằng thuốc tiêu sợi huyết (tPA) đúng cách khi đến bệnh viện. Kiến thức về “giờ vàng” (3 – 4,5 giờ đầu từ khi khởi phát đột quỵ) đối với bệnh nhân bị đột quỵ không phải ai cũng nắm được. Có nhiều giải pháp bảo vệ dinh dưỡng và kích thích phục hồi thần kinh sau đột quỵ, trong đó giải pháp có bằng chứng về hiệu quả nhất là hoạt chất cerebrolysin. Hoạt chất này thúc đẩy quá trình sinh thần kinh và sự di trú của các tế bào mới được tạo ra đến khu vực bị tổn thương.

Xử trí thế nào khi phát hiện bệnh nhân đột quỵ?

Các chuyên gia y tế nhấn mạnh, xử trí đúng các bệnh đột quỵ sẽ giúp giảm tỉ lệ tử vong; giảm số ngày phải điều trị nội trú và giảm di chứng, tăng cơ hội sống không cần sự giúp đỡ cho người bị đột quỵ. Theo GS.TS. Phạm Gia Khải, đây là bệnh có thể phòng được bằng một chế độ sinh hoạt lành mạnh: ăn uống điều độ, nhiều chất xơ, rau, hoa quả…; ăn ít muối và đường, ít chất béo, tránh hút thuốc hoặc uống rượu; nên tập thể dục hàng ngày. Khi một bệnh nhân đang khỏe mạnh bình thường mà đột ngột xuất hiện 1 trong 5 biểu hiện như sau: đột ngột mất thị lực, đặc biệt là xuất hiện ở một bên mắt; Đau đầu dữ dội (có thể nói đây là cơn đau nhất trong cuộc đời người bệnh) thì chúng ta nên nghi ngờ bệnh nhân đó khả năng bị đột quỵ não cấp. Khi đó, gia đình cần nhanh chóng đưa bệnh nhân vào cơ sở y tế có chuyên môn sâu về điều trị đột quỵ gần nhất để được điều trị bằng thuốc tiêu sợi huyết. Cùng đó, người nhà bệnh nhân cũng cần biết một số thao tác sơ cứu ban đầu như đặt bệnh nhân nằm nghiêng, kiểm tra xem có dị vật trong miệng để tránh tắc đường thở.
 
Điều quan trọng nhất lúc này là đảm bảo chức năng thở cho bệnh nhân, sau đó kiểm tra tim, đo huyết áp…, không nên cho bệnh nhân dùng bất cứ một loại thuốc gì vì đôi khi bệnh nhân có thể sặc và gây suy hô hấp cấp. “Những biện pháp dân gian để sơ cứu ban đầu cho bệnh nhân như xoa dầu và đánh gió hoặc là cho sử dụng một số loại thuốc Đông y không rõ nguồn gốc là thừa. Điều quan trọng nhất là chúng ta phải nhanh chóng đưa bệnh nhân vào viện để được cấp cứu. Đó là cách xử trí ban đầu tốt nhất cho bệnh nhân đột quỵ não cấp”, GS. Phạm Gia Khải nhấn mạnh.
 

Các dấu hiệu nhận biết đột quỵ não:

Trong vòng 1 phút, những dấu hiệu xảy ra nhanh chóng như thấy yếu chân, tay, nói líu ríu, mất thăng bằng, cần nghi ngờ người đó bị đột quỵ. Những người có nguy cơ đột quỵ ở tuổi cao: 60 – 65 bị các bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp, sinh hoạt không điều độ…

Trong vòng vài giờ sau khi tai biến mạch máu não xảy ra, các triệu chứng đột ngột xuất hiện như:

* Yếu liệt hoặc tê rần ở vùng mặt, tay hoặc chân, đặc biệt là một bên cơ thể.

* Lú lẫn, rối loạn lời nói hoặc hiểu biết (khó tìm từ hoặc không hiểu từ; nói líu ríu, lắp bắp).

* Không nhìn thấy ở một hay cả hai mắt hoặc nhìn một hóa hai.

* Khó khăn khi bước đi hoặc khó phối hợp các động tác.

* Nhức đầu dữ dội mà không biết nguyên nhân. Suy giảm ý thức nhanh chóng. Mất thăng bằng, chóng mặt, nôn…

Trong một số trường hợp, người bệnh vẫn còn tỉnh táo, nhưng đa số bị giảm sút tri giác (như lơ mơ, ngủ gà, có thể hôn mê). Bệnh nhân có thể liệt nửa người, liệt mặt và các cơ hầu họng (gây nuốt khó, sặc khi ăn uống, nói khó), tiêu tiểu không tự chủ.

(Theo GS.TS. Lê Đức Hinh – Chủ tịch Hội Thần kinh học Việt Nam)

Ng. Tuệ

Tiểu mạch còn gọi là phù tiểu mạch, lúa mì. Tiểu mạch rất giàu dinh dưỡng: chứa nhiều hydratcacbon, protid (có đầy đủ các acid amin, đặc biệt là acid glutamic và prolin với hàm lượng cao). Theo Đông y, tiểu mạch vị ngọt tính mát; vào tỳ, thận, tâm. Có tác dụng dưỡng tâm, bổ thận, kiện tỳ, nhuận tràng, trừ nhiệt, chỉ khát…

Chữa thổ tả, phiền khát, dùng bài Mạch môn đông thang: bạch linh 4g, chích thảo 2g, quất bì 4g, bạch truật 4g, mạch môn 8g, tiểu mạch 4g, bán hạ 4g, nhân sâm 2g. Sắc uống.

Trị chứng phiền muộn, buồn bực bất an, tinh thần hoảng hốt không tự chủ dùng bài Cam mạch đại táo thang: tiểu mạch 40g, cam thảo 10g, đại táo 10 quả. Sắc uống. Tác dụng dưỡng tâm, an thần, hòa trung hoãn cấp và tác dụng tăng sữa cho sản phụ.

Khí, âm bất túc, tự ra mồ hôi, mồ hôi trộm, tim hồi hộp, dùng bài Mẫu lệ tán: tiểu mạch 40g, hoàng kỳ 16g, ma hoàng căn 10g, mẫu lệ nướng 40g. Tán bột. Dùng 12 – 20g trong ngày hoặc sắc uống. Tác dụng bổ khí liễm âm, cố biểu chỉ hãn.

Cháo mì đại táo cam thảo: tiểu mạch (mì hạt) 100g, cam thảo 18g, đại táo 12 quả. Nấu cháo. Dùng cho các trường hợp rối loạn thần kinh chức năng, hysteria cười khóc vui buồn luân phiên xen kẽ.

Cháo hoặc cơm tiểu mạch: mì hạt đã xát vỏ hoặc bột mì ngâm nước đãi sạch, nấu dạng cơm hoặc cháo, dùng cho các trường hợp sốt nóng, miệng họng khô khát nước.

Cháo tiểu mạch: tiểu mạch (đã xát vỏ hoặc đã xay dạng bột mì) 50 – 80g, gạo tẻ 60g, đại táo 5 quả. Tất cả nấu cháo. Dùng cho các trường hợp loạn nhịp tim, hồi hộp, đánh trống ngực, mất ngủ, vã mồ hôi, ra mồ hôi trộm.

Hãng AT&T và Công ty Filip Technologies vừa hợp tác nghiên cứu, cho ra đời một loại đồng hồ thông minh có tên FiLIP, vừa có khả năng theo dõi được trẻ nhỏ lại có thể làm được chức năng truyền thông hay chức năng của một điện thoại di động, rất phù hợp cho nhóm tuổi từ 1 – 4 tuổi. Đồng hồ hoạt động nhờ thủ thuật điện toán đám mây, giúp cho các bậc cha mẹ theo dõi được con trẻ, nhất là khi đi dã ngoại hoặc ở những nơi công cộng. Khi bị lạc, trẻ có thể dùng đồng hồ liên lạc nhờ những nút bấm đơn giản. Ngoài ra, FiLIP còn có một tính năng “cấp cứu”, trẻ chỉ cần ấn vào nút báo động màu đỏ là sau 3 giây cha mẹ hoặc cảnh sát có thể biết chính xác vị trí để giải cứu. Dự kiến đồng hồ FiLIP sẽ có mặt trên thị trường Mỹ vào cuối năm nay.

Duy Hùng (Theo GC,10/2013)

Đại học Y khoa Case Western (CWU) Mỹ vừa công bố nghiên cứu sử dụng thủ thuật đa ký giấc ngủ (polysomnography) ở 3.000 đàn ông. Đây là thủ thuật dùng để ghi lại một loạt thông số sinh lý của con người khi ngủ và phát hiện thấy những người mắc chứng rối loạn khi ngủ là nhóm người thường có nhịp tim bất thường, thậm chí cả hiện tượng ngưng thở khi ngủ. Thông qua thủ thuật nói trên, các nhà khoa học phát hiện thấy mối quan hệ giữa sự cố hô hấp và rối loạn nhịp tim. Theo đó, số lần ngưng thở hoặc thở nông của những người tham gia nghiên cứu đã được ghi lại kèm theo mức độ suy giảm ôxy trong máu và hiện tượng rối loạn nhịp tim. Nghiên cứu sâu hơn cho thấy, những người càng rối loạn giấc ngủ, ngủ kém thì hiện tượng ngưng thở rối loạn nhịp tim càng cao. Các nhà khoa học cho rằng, tình trạng thiếu ôxy hay còn gọi là mức suy giảm ôxy trong máu có thể là yếu tố liên kết giữa rối loạn giấc ngủ và bệnh tim mạch. Đây là căn bệnh cần chẩn đoán và chữa trị sớm để hạn chế ảnh hưởng dài hạn đến sức khỏe của tim mạch.

Nam Bắc Giang (Theo HBC,10/2013)

Công ty Tư vấn tâm lý JWT Interlligence (JI) của Mỹ vừa thực hiện nghiên cứu thú vị và phát hiện thấy, điều mà phái mày râu lo lắng nhiều nhất là vẻ đẹp thể chất của họ. Theo nghiên cứu, có tới 79% đàn ông “bị áp lực” quá lớn về hình thức bề ngoài mỗi khi tiếp xúc với phụ nữ. Kết quả này dựa trên cuộc điều tra ở 242 đàn ông trong năm 2012, trong đó có tính đến các yếu tố khách quan như tuổi tác, địa vị, thói quen ăn uống, luyện tập cũng như nghề nghiệp. Cụ thể, những vấn đề sau được phái mày râu quan tâm hơn cả: 18% lo về chiều cao, 28% lo về nếp nhăn trên mặt, 29% lo lắng bị hói đầu, 14% lo mũi không được như ý, 18% lo cơ thể có quá nhiều lông, 29% lo ngực lép, 32% lo bụng xấu, 39% mong có cơ bụng săn chắc, 39% sợ bụng bự. Cũng trong nghiên cứu, các nhà khoa học phát hiện thấy, chỉ có 17% là hoàn toàn không lo gì về vẻ đẹp bên ngoài của họ, đẹp xấu không quan trọng.

Khắc Hùng (Theo WH,10/2013)

Là một loại rau phổ biến trong mùa thu – đông, bắp cải không chỉ có giá trị dinh dưỡng cao mà còn chữa được nhiều bệnh. Đặc biệt là lượng vitamin trong bắp cải cao hơn nhiều so với các loại rau củ khác như: cà rốt, khoai tây, hành tây. Theo nghiên cứu, hàm lượng vitamin A và vitamin P trong bắp cải kết hợp với nhau làm thành mạch máu bền vững hơn. Trong bắp cải còn chứa các chất chống ung thư như: Sulforaphane, phenethyl isothiocyanate và Indol -33 carbinol.

Theo Đông y, bắp cải vị ngọt, tính hàn, không độc, có tác dụng hòa huyết, thanh nhiệt, thanh phế, trừ đàm thấp, sinh tân, chỉ khát, mát dạ dày, giải độc, lợi tiểu. Bắp cải cũng giúp chống suy nhược thần kinh, giảm đau nhức phòng chống các bệnh ung thư, tim mạch và nhiều loại bệnh khác.

Bắp cải - Rau ăn, vị thuốc 1

Giảm đau nhức: Ép bắp cải lấy nước uống, còn bã đắp vào chỗ đau nhức do thấp khớp, thống phong, đau dây thần kinh tọa.

Chữa đau khớp, nhức tay chân, nổi hạch: Lấy lá bắp cải cán dập gân lá, hơ nóng rồi áp lên chỗ đau. Mỗi chỗ đau đắp 3 – 4 miếng lá cải bắp, bên ngoài dùng vải dày áp lên rồi cột lại.

Chữa ho nhiều đờm: Dùng 80 – 100g bắp cải, nửa lít nước, sắc còn 1/3, cho thêm mật ong uống trong ngày, kết hợp ăn bắp cải sống.

Đái tháo đường: Bắp cải có tác dụng làm giảm quá trình đồng hóa glucid và giảm đường huyết. Dùng 100g hàng ngày giúp phòng và trị bệnh đái tháo đường type 2.

Bắp cải - Rau ăn, vị thuốc 2
 Món ăn từ bắp cải không chỉ có giá trị dinh dưỡng cao mà còn có tác dụng chữa bệnh.

Chữa loét dạ dày tá tràng: Nước ép bắp cải giúp chóng làm lành vết loét, thành sẹo, nhất là loét dạ dày, ruột. Cách làm nước ép bắp cải như sau: Bóc từng lá bắp cải (lấy cả lá xanh bên ngoài), rửa nhiều lần cho sạch, dọc đôi từng lá theo sống lá. Chần qua với nước sôi. Vớt ra để ráo nước. Cho vào cối sạch, giã nát, lấy vải màn hay gạc sạch lọc lấy nước. 1kg bắp cải có thể ép được khoảng 500ml nước. Liều dùng: Mỗi ngày ép 1.000ml nước bắp cải, chia làm nhiều lần để uống, mỗi lần khoảng 250ml, uống thay nước, có thể thêm đường hoặc muối. Mỗi đợt điều trị là 2 tháng. Điều trị bằng nước ép bắp cải không có biến chứng gì, có thể kết hợp với các thuốc chữa dạ dày, tá tràng khác.

Ngoài ra dùng nước ép bắp cải còn có thể chữa viêm họng, viêm phế quản, khản tiếng, phòng chống nhiễm khuẩn, nhiễm nấm ngoài da.

Lưu ý: Người tạng hàn phải dùng bắp cải phối hợp với gừng tươi. Người táo bón, tiểu ít không ăn bắp cải sống hoặc dưa bắp cải muối mà phải nấu chín.

Các Trung tâm Dự phòng và Kiểm soát Bệnh tật Hoa Kỳ (CDC) thuộc Bộ Y tế và Phúc lợi Con người Hoa Kỳ (HHS) phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam và Bộ Y tế Việt Nam đã tiến hành một nghiên cứu mới về virus cúm trên lợn và người. Khả năng virus cúm tiến hóa và lây truyền giữa các loài vẫn còn là một mối quan tâm lớn trong lĩnh vực y tế công cộng và nghiên cứu mới này sẽ tăng cường năng lực cho Việt Nam trong việc giải quyết những quan ngại này theo cách tiếp cận có tên “Một Sức khỏe”, trong đó thú y được xem như một khía cạnh quan trọng của y tế công cộng.

“Chúng ta đã biết nhiều về virus cúm ở gia cầm, tuy nhiên những hiểu biết về virus cúm ở lợn   và ở những người tiếp xúc với lợn hàng ngày vẫn còn hạn chế”, Bác sỹ Thú y James Kile, phụ trách Chương trình Sáng kiến Hợp tác Thú y và Y tế ở Việt Nam phát biểu về nghiên cứu mới này. Ông nói: “Trong năm tới, chúng tôi sẽ thu thập mẫu trong mũi và mẫu máu từ lợn và người ở 9 tỉnh thuộc miền Bắc, miền Trung và miền Nam Việt Nam. Nghiên cứu Một Sức khỏe này sẽ giúp chúng ta hiểu thêm về virus cúm mà lợn và người có thể lây truyền sang nhau cũng như những nguy cơ tiềm tàng về việc lây truyền virus”.

“Chúng tôi rất vui khi hợp tác với CDC Hoa Kỳ và Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương thuộc Bộ Y tế trong nghiên cứu chung này. Nó sẽ giúp cho chúng tôi xác định được những chính sách hiệu quả hơn trong việc phòng chống các bệnh lây truyền giữa người và động vật ở Việt Nam một cách tốt hơn”, Tiến sỹ Phạm Văn Đông, Cục trưởng Cục Thú y của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, cho biết.

Nghiên cứu thực địa Một Sức khỏe này là bước phát triển tiếp theo trên nền tảng gần một thập kỷ hợp tác giữa CDC Hoa Kỳ với Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam nhằm tăng cường và duy trì năng lực quốc gia trong giám sát và nghiên cứu về virus cúm.

 (theo CDC Việt Nam)