Các nhà khoa học tại Đại học Minestota (Mỹ)mới đây công bố kết quả nghiên cứu cho thấy cam thảo có khả năng ngăn chặn các loại ung thư da nguy hiểm nhất.

Nghiên cứu đã xác định được một hợp chất trong rễ cam thảo có tác dụng làm chậm sự tăng trưởng của tế bào ung thư trong các thử nghiệm lâm sàng. Hiện các nhà khoa học đang tiến hành nghiên cứu hợp chất u-busting trong rễ cam thảo để phát triển thành loại thuốc mới điều trị khối u ác tính. Ngoài khả năng ngăn chặn bệnh ung thư da, cam thảo còn giúp ngăn ngừa hiệu quả cháy nắng. Tuy nhiên, sử dụng cam thảo phải lưu ý liều lượng, đặc biệt đối với sản phụ vì nó có thể gây ra biến chứng khó lường.

M.H (Theo Dailymail, 10/2013)

Một nhóm nghiên cứu tại Trường đại học Tampepre (Phần Lan) đã khám phá ra loại virut gây ra chứng bệnh tiểu đường typ 1. Đây là loại virut (Enterovirus) tấn công tuyến tụy và phá hủy các tế bào sản xuất insulin dẫn đến bệnh đái tháo đường (ĐTĐ). Khám phá này mở ra khả năng mới để bào chế vaccin cho bệnh ĐTĐ.

Hơn 100 chuỗi gen khác nhau của Enterovirus được nghiên cứu và từ đó đã xác định được 5 chuỗi gen gây ra bệnh tiểu đường typ 1 đã được các nhà nghiên cứu xem xét. GS. Heikki Hy-ty thuộc nhóm nghiên cứu cho biết: “Chúng tôi đã xác định được loại virut có khả năng gây bệnh cao nhất và có vaccin chống lại loại viut này cũng sẽ có hiệu quả nhất”. Hiện nay, vaccin thử nghiệm chống virut gây bệnh ĐTĐ đã hoàn thành và đang ở trong giai đoạn thí nghiệm.

Minh Hoàng (Theo Diabetes, 10/2013)

Một nghiên cứu mới đây của Bệnh viện Nhi Johns Hopkins đã chỉ ra rằng, lượng vitamin D hấp thụ từ ánh nắng mặt trời thấp có thể làm tăng nguy cơ trẻ mắc bệnh thiếu máu.

Nhóm nghiên cứu đã phân tích mẫu máu của hơn 10.400 trẻ để tìm ra mối liên hệ giữa hàm lượng vitamin D và bệnh thiếu máu. Kết quả cho thấy, những trẻ có hàm lượng vitamin D thấp cũng sẽ có lượng hemoglobin thấp (thành phần của máu). Đặc biệt, trẻ có lượng vitamin D thiếu xuống thấp hơn 30ng/ml có nguy cơ mắc bệnh thiếu máu cao gần gấp đôi so với những trẻ có đủ hàm lượng vitamin D cần thiết.

Nguyên nhân cho hiện tượng này được các nhà nghiên cứu giải thích có thể là do vitamin D có tác dụng sản xuất hồng cầu, có khả năng điều chỉnh tình trạng viêm nhiễm miễn dịch – những tác nhân có thể gây ra bệnh thiếu máu.

H.Minh (Theo Health, 10/2013)

Một chế độ dinh dưỡng tốt và hợp lý sẽ đảm bảo sự phát triển khỏe mạnh cả về thể lực và trí lực của con người. Tuy nhiên, muốn có chế độ dinh dưỡng hợp lý, bạn cần phải có những hiểu biết cơ bản về nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể, giá trị dinh dưỡng của các nhóm thức ăn… để từ đó biết cách lựa chọn và ăn phù hợp với nhu cầu trong từng điều kiện và giai đoạn phát triển của con người. Những lời khuyên sau đây sẽ giúp bạn hình dung rõ hơn về chế độ dinh dưỡng hợp lý.

Ăn theo nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể. Nhu cầu dinh dưỡng thay đổi theo tuổi tác, giới tính, tình trạng sức khoẻ và mức độ hoạt động thể lực. Cần duy trì thường xuyên chế độ ăn uống đủ chất, cân đối. Có như thế mới đảm bảo cung cấp đủ năng lượng và các chất dinh dưỡng cần thiết cho phát triển của cơ thể cũng như đảm bảo duy trì sự sống, làm việc và các hoạt động khác.

Đảm bảo bữa ăn đủ chất dinh dưỡng. Để bữa ăn cung cấp đủ chất dinh dưỡng cho cơ thể, bạn cần phối hợp nhiều loại thực phẩm từ 4 nhóm thức ăn chính (chất bột, đường; chất đạm; chất béo; nhiều vitamin, muối khoáng và chất xơ), thay đổi món thường xuyên sẽ bảo đảm khẩu phần ăn cân đối và đủ chất dinh dưỡng cho cơ thể. Nhóm lương thực gồm: gạo, ngô, khoai, sắn, mì… là nguồn cung cấp năng lượng chủ yếu. Nhóm giàu chất đạm gồm thức ăn nguồn gốc động vật như thịt, cá, trứng, sữa và nguồn thực vật như đậu đỗ. Ngoài ra, trong bữa ăn cần có nhóm giàu chất béo và nhóm rau quả. Trung bình ngày ăn 3 bữa. Không nên nhịn ăn sáng và bữa tối không nên ăn quá no.

Không nên ăn mặn. Muối là loại gia vị không thể thiếu nhưng không nên lạm dụng. Nếu có thể, hãy hạn chế sử dụng muối, bởi lượng muối nạp vào cơ thể càng nhiều thì nguy cơ mắc các bệnh do tăng huyết áp càng tăng. Đối với người bình thường không bị tăng huyết áp, không bị thừa cân, không mắc các bệnh phải kiêng mặn cũng chỉ nên ăn 6-8g muối một ngày, mì chính không nên ăn quá 5g/ngày. Trong bữa ăn hằng ngày không nên dùng quá nhiều thực phẩm chứa nhiều muối như: dưa cà muối mặn, mắm tôm, cá mắm, thịt cá đóng hộp, thịt hun khói, thịt sấy khô, thịt muối, các loại thức ăn chế biến sẵn, các loại rau quả đóng hộp…

Khỏe nhờ... biết ăn gì 1
 Ăn đầy đủ chất dinh dưỡng, nhiều rau củ giúp bạn khỏe, đẹp hơn.

Ăn ít đường. Không nên lạm dụng đường. Đường làm thay đổi quá trình trao đổi thức ăn trong cơ thể con người. Đường giúp quá trình tiêu hoá thức ăn nhanh hơn và như vậy chất glucose sẽ nhanh chóng ngấm vào máu. Khi đó, tuyến tụy phải thải ra một lượng lớn hormon insulin để giúp tế bào hấp thụ và chuyển hoá thành năng lượng. Vì chất glucose được chuyển hoá rất nhanh, tác động và đưa cho não bộ tín hiệu rằng đã đến lúc phải ăn tiếp, như vậy ta có cảm giác đói, sẽ ăn nhiều hơn và trở nên béo phì, có thể dẫn đến bệnh tiểu đường. Mỗi tháng chỉ nên dùng tối đa 500g đường/người.

Ăn chất béo có mức độ. Chất béo cũng rất quan trọng trong quá trình chuyển hoá năng lượng nuôi sống cơ thể nhưng nên hạn chế chất béo, nếu không dễ mắc các bệnh béo phì, tim mạch, tăng huyết áp. Nên tăng cường ăn chất béo từ thực vật như vừng, lạc; hạn chế chất béo từ động vật. Mỗi tháng mỗi người cần khoảng 600g chất béo.

Ăn nhiều rau, củ, quả, vì các thực phẩm này có nhiều vitamin, chất khoáng cần thiết cho cơ thể, đồng thời có nhiều chất xơ có tác dụng quét nhanh chất độc và cholesterol thừa ra khỏi ống tiêu hoá. Nên ăn phối hợp nhiều loại hoa quả để có đủ vitamin và chất khoáng cần thiết cho cơ thể. Rau của quả phải còn tươi, không bị dập nát. Nên ăn rau, quả hàng ngày ở mức khoảng 300g rau/người. Chú ý tới các loại rau lá xanh và quả, củ màu vàng vì chúng chứa nhiều bêta-caroten là chất có khả năng phòng chống ung thư.

Đảm bảo vệ sinh thực phẩm. Đảm bảo vệ sinh thực phẩm rất quan trọng để thức ăn không là nguồn gây bệnh. Nên có thói quen rửa tay sạch trước khi ăn, trước khi chế biến thức ăn và sau khi đại tiểu tiện. Ăn ngay thức ăn vừa nấu chín, bảo quản thức ăn sau nấu ở nơi sạch sẽ, thoáng, che đậy kín tránh bụi, ruồi muỗi. Nước có thể là nguồn lây nhiễm bệnh, gây ngộ độc nhanh cho nên chỉ dùng nước sạch để rửa thực phẩm, nấu thức ăn và uống. Nước chiếm 60% trọng lượng cơ thể, hằng ngày nước được đưa vào cơ thể khoảng 2.500ml, trong đó qua nước uống khoảng 1.000 – 1.500ml, số còn lại cung cấp qua thức ăn. Lượng nước đào thải ra ngoài cũng tương đương 2.500ml.

Duy trì nếp sống năng động, lành mạnh. Không hút thuốc. Hạn chế bia rượu. Cần tăng cường các hoạt động thể dục thể thao đều đặn, phù hợp với các lứa tuổi và tình trạng sức khỏe. Các chuyên gia thường khuyến cáo mọi người nên luyện tập đều đặn vào những ngày trong tuần ít nhất là 30 phút đi bộ. Nếu bạn muốn giảm cân hay giữ gìn vóc dáng cơ thể thì bạn cần nhiều thời gian hơn khoảng 60 hoặc 90 phút mỗi ngày.

Sốt phát ban thường gây ra bởi virut sởi hoặc virut Rubella. Bệnh lây theo đường hô hấp, khi hít thở chung nguồn khí với người bệnh. Bệnh có đặc điểm lâm sàng là sốt, viêm long đường hô hấp, đường tiêu hóa, viêm kết mạc mắt, phát ban có thứ tự. Bệnh thường gặp ở trẻ em, nhất là trẻ thuộc nhóm tuổi từ 6 – 36 tháng tuổi. Tuy nhiên, bệnh cũng có thể gặp ở người lớn do chưa được tiêm phòng hoặc đã tiêm phòng nhưng chưa được tiêm nhắc lại.

Virut sởi gây bệnh thế nào?

Virut sởi phát tán qua không khí xâm nhập niêm mạc đường hô hấp (như hắt hơi), do vậy, bệnh lây lan nhanh trong cộng đồng, nếu kiểm soát không tốt có thể gây thành dịch. Sau đó, vào máu (nhiễm virut máu lần thứ nhất). Thời kỳ này tương ứng với thời kỳ ủ bệnh. Từ máu, theo các bạch cầu, virut đến các cơ quan đích (phổi, lách, hạch, da, kết mạc mắt…) gây tổn thương các cơ quan này và gây ra các triệu chứng lâm sàng trong thời kỳ toàn phát. Ban ở da và niêm mạc chính là hiện tượng đào thải virut và phản ứng miễn dịch bệnh lý của cơ thể. Ngày thứ 2 – 3 từ khi mọc ban, cơ thể sinh kháng thể. Kháng thể trung hòa virut. Bệnh chuyển sang thời kỳ lui bệnh.

Giai đoạn ủ bệnh khoảng 8 – 11 ngày, bệnh nhân không có biểu hiện rõ ràng. Nếu là trẻ sơ sinh có thể kéo dài 14 – 15 ngày.

Giai đoạn khởi phát (viêm xuất tiết): Thông thường khoảng 3 – 4 ngày.Người bệnh đột ngột sốt nhẹ hoặc vừa, sau sốt cao. Kèm theo các biểu hiện viêm xuất tiết mũi, họng, mắt (chảy nước mắt nước mũi, ho, viêm màng tiếp hợp, mắt có gỉ kèm nhèm, sưng nề mi mắt). Ho, hắt hơi, chảy nước mũi, sau có thể có viêm thanh quản.

Giai đoạn toàn phát (giai đoạn mọc ban): Ban mọc vào ngày thứ 4 – 6 của bệnh. Dạng ban là ban dát sẩn, ban nhỏ hơi nổi gờ trên mặt da, xen kẽ là các ban dát màu hồng. Ban mọc rải rác hay lan rộng dính liền với nhau thành từng đám tròn 3 – 6mm, giữa các ban là khoảng da lành. Ban mọc theo thứ tự: Ngày thứ 1 mọc ở sau tai, lan ra mặt. Ngày thứ 2 lan xuống đến ngực, tay. Ngày thứ 3 lan đến lưng, chân. Ban kéo dài 6 ngày rồi bay theo thứ tự như nó đã mọc.

Sốt phát ban dạng sởi lây lan nhanh, vì sao? 1
 Khi trẻ sốt cao do sốt phát ban, cần lau mặt, người bằng nước ấm cho trẻ thường xuyên.

Cần phân biệt với các loại sốt phát ban khác

Do là sốt phát ban nên bệnh có thể nhầm với các loại sốt phát ban khác cần chẩn đoán phân biệt với một số bệnh có phát ban dạng sởi như:

Rubella: phát ban không có trình tự, ít khi có viêm long đường hô hấp; nhiễm enterovirus: phát ban không có trình tự, hay kèm rối loạn tiêu hóa. Phát ban do Mycoplasma pneumoniae: Sốt nhẹ, đau đầu và viêm phổi không điển hình. Sốt mò: Có vết loét hoại tử do côn trùng đốt; Phát ban mùa xuân trẻ em: Trẻ 6 tháng đến 2 tuổi, khởi đầu là tình trạng nhiễm khuẩn rồi có biểu hiện thần kinh, sau khi hết sốt thì ban mới mọc; Ban dị ứng: Kèm theo ngứa, tăng bạch cầu ái toan; Nhiễm virut Epstein-Barr: Hay kèm theo tăng bạch cầu đơn nhân.

Biến chứng của bệnh

Khi mắc bệnh nếu không được điều trị hoặc do bệnh nhân tự ý điều trị dẫn đến bội nhiễm và có những biến chứng như:

Biến chứng đường hô hấp: Viêm thanh quản: Ở giai đoạn sớm xuất hiện ở giai đoạn khởi phát hay có Croup giả, gây cơn khó thở do co thắt thanh quản. Ở giai đoạn muộn do bội nhiễm (hay gặp do tụ cầu, liên cầu, phế cầu…), xuất hiện sau mọc ban. Diễn biến thường nặng: sốt cao, ho, khàn tiếng, khó thở, tím tái.

Viêm phế quản: Thường do bội nhiễm, xuất hiện vào cuối thời kỳ mọc ban. Biểu hiện sốt lại, ho nhiều.

Viêm phế quản – phổi: Do bội nhiễm, thường xuất hiện muộn sau mọc ban. Bệnh nặng có sốt cao, khó thở, khám phổi có ran phế quản và ran nổ. Đây là nguyên nhân gây tử vong trong bệnh sởi, nhất là ở trẻ nhỏ.

Biến chứng thần kinh: Viêm não – màng não – tủy cấp do virut sởi.

Viêm não: Là biến chứng nguy hiểm gây tử vong và di chứng cao. Gặp ở 0,1 – 0,6% bệnh nhân sởi. Thường gặp ở trẻ lớn (tuổi đi học), vào tuần đầu của ban (ngày 3 – 6 của ban). Khởi phát đột ngột, sốt cao vọt, co giật, rối loạn ý thức: hôn mê, liệt 1/2 người hoặc 1 chi, liệt dây III, VII, hay gặp hội chứng tháp – ngoại tháp, tiểu não, tiền đình…

Viêm màng não kiểu thanh dịch (do virut sởi).

Viêm tủy: Liệt 2 chi dưới, rối loạn cơ vòng.

Viêm màng não mủ do bội nhiễm: Viêm màng não mủ sau viêm tai, viêm xoang, viêm họng… do bội nhiễm.

Viêm não chất trắng bán cấp xơ hóa (Van Bogaert): Hay gặp ở tuổi 2 – 20 tuổi, xuất hiện muộn có khi sau vài năm, điều này nói lên virut sởi có thể sống tiềm tàng nhiều năm trong cơ thể bệnh nhân, ở những bệnh nhân có đáp ứng miễn dịch bất thường. Diễn biến bán cấp từ vài tháng đến 1 năm. Bệnh nhân tử vong trong tình trạng tăng trương lực cơ và co cứng mất não.

Biến chứng đường tiêu hóa: Viêm niêm mạc miệng, cam tẩu mã (xuất hiện muộn, do bội nhiễm xoắn khuẩn Vincent (Leptospira vincenti) là một loại xoắn khuẩn hoại thư, gây loét niêm mạc miệng, lan sâu rộng vào xương hàm gây hoại tử niêm mạc, viêm xương, rụng răng, hơi thở hôi).

Viêm ruột: Do bội nhiễm các loại vi khuẩn như Shigella, E.coli…

Lời khuyên của thầy thuốc

Tiêm phòng là biện pháp hữu hiệu nhất để phòng bệnh. Cần tiêm phòng vaccin sởi và tuân thủ đúng lịch cho trẻ 6 – 9 tháng tuổi trở lên, có tác dụng bảo vệ cao. Bệnh sởi do virut lây lan rất mạnh, phát tán qua đường hô hấp vào không khí, những người không có miễn dịch hoặc miễn dịch kém thì khả năng lây nhiễm cao. Do bệnh có nguy cơ lây lan cao, vì thế khi sốt chưa rõ nguyên nhân người bệnh cần được cách ly ở phòng riêng, không đến chỗ đông người. Khi có sốt cao, phải đến khám tại các cơ sở y tế để tìm nguyên nhân và cách điều trị đúng.

Khi mắc bệnh lưu ý không nên nghe theo quan niệm sai lầm dân gian là phải kiêng gió, kiêng nước, kiêng ăn vì khi không vệ sinh cơ thể sạch sẽ rất khó hạ sốt. Kiêng ăn làm sức đề kháng kém và dễ bị nhiễm khuẩn. Khi chăm sóc trẻ bệnh, có thể tắm cho trẻ bằng nước ấm, lau mát thường xuyên và tăng cường dinh dưỡng bằng nhiều loại thức ăn mềm, chia nhỏ bữa ăn và tuân thủ chỉ định của thầy thuốc.
 

Theo thông tin của Sở Y tế tỉnh Hà Giang tính đến ngày 31/10, ổ dịch sốt phát ban dạng sởi đã có mặt tại 19 thôn bản thuộc 8/13 xã của huyện Bắc Mê với tổng số 123 ca nhiễm, nghi nhiễm, hầu hết trong độ tuổi từ 1 – 15 tuổi, trong đó có một ca 18 tuổi. Trước đó, ca bệnh đầu tiên ở một số trẻ em dưới 5 tuổi tại thôn Nà Lang, xã Yên Cường, huyện Bắc Mê. Tiếp đó đến ngày 25/10, huyện Bắc Mê đã phát hiện 88 ca sốt phát ban dạng sởi và đã báo cáo Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh. Sau đó, Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Hà Giang đã điều tra xác minh và lấy mẫu bệnh phẩm gửi về Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương xét nghiệm. Đến ngày 29/10, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương đã có thông báo kết quả mẫu bệnh phẩm dương tính với virut sởi của Hà Giang.

Hiện ổ dịch sởi đang có nguy cơ lan rộng trên địa bàn huyện Bắc Mê và các xã vùng sâu vùng xa, biên giới của các huyện Mèo Vạc, Yên Minh, Vị Xuyên và TP. Hà Giang.

ThS.BS. Vũ Thị Thảo

Ô đầu là một vị thuốc rất độc, thuộc bảng A trong quy chế thuốc độc. Để giảm bớt độc tính, người ta đã chế biến ô đầu (dạng sống) thành phụ tử (thuốc chín). Phụ tử được xếp vào bảng B với liều gây độc là 25 – 100g. Phụ tử lại được chế giảm độc thêm nữa dưới dạng diêm phụ tử, hắc phụ tử và bạch phụ tử.

Trong Y học cổ truyền, ô đầu được coi là một trong số 4 vị thuốc quý: sâm, nhung, quế, phụ (tức phụ tử là dạng chế biến của ô đầu). Về dược tính, ô đầu có vị nhạt, the, về sau gây cảm giác kiến bò, được dùng chữa bán thân bất toại, chân tay tê mỏi, gân cơ đau nhức, co quắp. Chỉ dùng rượu ngâm ô đầu với tỷ lệ 10% để xoa bóp ngoài. Dùng riêng hoặc phối hợp ô đầu với nhiều vị thuốc khác như nghệ trắng, mật gấu, nhân hạt gấc, mật trăn, huyết lình để xoa bóp.

Phụ tử có vị cay, hơi ngọt, tính nóng, có thể dùng uống để “hồi dương” trong những trường hợp cấp cứu như: mạch gần như không có, mồ hôi ra nhiều, chân tay quờ quạng, phong hàn thấp tý, thận dương hư bất túc, cước khí, thủy thũng. Tuy độ độc có giảm nhưng nhiều người giàu kinh nghiệm chữa bệnh vẫn phải phối hợp với các vị thuốc khác, đặc biệt là cam thảo và gừng sống, sắc kỹ, gạn lấy nước rồi uống.

Ngộ độc ô đầu - Biết để phòng tránh 1

Xưa nay, người dân ở vùng núi cao coi ô đầu là một vị thuốc quý. Họ cho rằng người già dùng ô đầu thì nâng cao được thể lực, bớt đau mỏi, ăn ngủ tốt; giới trung niên thì tăng cường khả năng sinh lý, gân xương chắc khỏe. Dạng dùng thông thường là rượu ngâm uống hằng ngày. Phụ nữ sau khi đẻ dùng ô đầu nấu cháo ăn cho chóng lại sức, lao động được ngay. Đôi khi dạng cồn xoa bóp cũng được sử dụng.

Nhiều vụ ngộ độc vẫn xảy ra, thường là do uống rượu ngâm ô đầu. Người bị ngộ độc lúc đầu thấy cảm giác tê buồn ở lưỡi và niêm mạc miệng, rồi ngứa cổ và ho, sau đó nôn mửa, chân tay lạnh, toát mồ hôi, tim đập nhanh, nhỏ, không đều, đại tiểu tiện không tự chủ, loạn hô hấp, có khi bất tỉnh. Nếu nặng thì thân nhiệt hạ thấp, mạch đập chậm, người xỉu đi, cuối cùng tử vong vì ngạt thở.

Để bảo đảm an toàn cho sức khỏe, tốt nhất là không nên tự ý dùng ô đầu, phụ tử dù là ngâm rượu để xoa bóp.

TTƯT.DSCKII. Đỗ Huy Bích

Các nhà khoa học Australia mới đây công bố kết quả nghiên cứu cho thấy, kem chống nắng không chỉ giúp da tránh khỏi tình trạng cháy nắng mà còn bảo vệ gen “hero” có khả năng chiến đấu với cả 3 loại ung thư da.

Các nhà khoa học thuộc Trường đại học Công nghệ Queensland đã tiến hành nghiên cứu đối với 57 người để kiểm tra tính hiệu quả của kem chống nắng đối với việc ngăn ngừa ung thư da. Những người tham gia được lấy và nghiên cứu các mẫu sinh thiết da trước và sau khi tiếp xúc với tia cực tím khi dùng và khi không dùng kem chống nắng. Kết quả cho thấy, kem chống nắng ngoài tác dụng bảo vệ da khỏi cháy nắng còn hoạt động như một lá chắn bảo vệ gen p53 siêu anh hùng – có tác dụng ngăn chặn 3 loại ung thư da là ung thư biểu mô tế bào đáy, ung thư biểu mô tế bào vảy và u hắc tố ác tính. Theo GS. Elke Hacker, Trưởng nhóm nghiên cứu: Kết quả này có thể được sử dụng để phát triển các liệu pháp chữa trị da tổn thương do tiếp xúc quá nhiều với tia cực tím của ánh mặt trời.

M.Huệ (Theo Xinhua, 10/2013)

Nghiên cứu của các chuyên gia ở Hiệp hội Ung thư Mỹ (ACS) do TS. Alpa Patel đứng đầu cho thấy, mỗi ngày đi bộ nhanh hơn tốc độ bình thường hoặc làm việc chân tay khoảng 1 giờ thì giảm được 25% nguy cơ mắc bệnh ung thư vú ở phụ nữ. Phát hiện dựa trên nghiên cứu ở 73.000 phụ nữ đã mãn kinh đi bộ nhanh với tốc độ 4,5 dặm/giờ (khoảng 7km/h). Nguyên lý của việc đi bộ hoặc duy trì cuộc sống vận động là giảm các loại hormon tình dục, duy trì trọng lượng ở mức hợp lý, cải thiện quá trình chuyển hóa gluco và làm giảm viêm nhiễm. Chính vì vậy mà nó có tác dụng giảm bệnh ung thư, tim mạch, đái tháo đường. Với tác dụng này, các nhà khoa học khuyến cáo mọi người mỗi ngày nên luyện tập thể thao khoảng 30 phút – 1 giờ, nhất là những hoạt động có thể giúp cơ thể tăng tiết mồ hôi. Riêng nhóm phụ nữ mãn kinh thì hoạt động này lại càng có tác dụng trong việc giảm thiểu các hiện tượng do mãn kinh gây ra như bốc hỏa, ra mồ hôi, mệt mỏi hay thay đổi tâm tính do hormon suy giảm.

Khắc Nam (Theo PC,10/2013)

Theo một nghiên cứu của Trường đại học Bristol, Anh được đăng tải trên tạp chí Thần kinh học JAMA, qua theo dõi con cái của hơn 8.000 bà mẹ bị trầm cảm trước hoặc sau khi sinh. Kết quả cho thấy, nguy cơ của những đứa con có mẹ bị trầm cảm tăng cao hơn khoảng 1,3 lần so với bình thường. Trưởng nhóm nghiên cứu, TS. Rebecca Pearson trả lời trên BBC: “Trầm cảm trong giai đoạn thai kỳ cần phải được quan tâm và chữa trị trong kỳ thai nghén. Nó có xu hướng ảnh hưởng lâu dài đến đứa trẻ”.

GS. Carmine Pariante thuộc Viện Tâm thần học của Đại học Hoàng gia Luân Đôn cho biết, sự phát triển về sức khỏe tâm thần của một cá thể không phải bắt đầu từ thời điểm ra đời mà là trong tử cung. Các nhà nghiên cứu cho rằng, những nhân tố khác có thể liên quan đến chứng trầm cảm trước và sau khi sinh, ví dụ như các yếu tố môi trường hoặc sự hỗ trợ về mặt xã hội cũng ảnh hưởng lớn đến chứng trầm cảm sau khi sinh.

H.Minh (Theo BBC, 10/2013)

Thạc sĩ – Bác sĩ Đặng Lê Xuân Tùng (Bệnh viện Đa khoa Vạn Hạnh): Chứng chuột rút hay ở miền Nam còn gọi là vọp bẻ là tình trạng co thắt cơ đột ngột, gây đau dữ dội ở một bắp thịt, làm cho bệnh nhân không tiếp tục cử động được nữa. Tuy mọi bắp thịt đều có thể bị chuột rút nhưng bệnh hay xảy ra ở cẳng chân.

 

Chuột rút- chứng bệnh gây khó chịu 1

Chuột rút hay gặp ở người chơi thể thao.

 

Có 2 nguyên nhân chính dẫn đến chuột rút. Nguyên nhân thứ nhất là thiếu ôxy đến cơ do tập luyện thể thao với cường độ cao, đứng lâu trên nền cứng. Nguyên nhân thứ hai là thiếu nước và các chất điện giải như canxi, kali… Do đó, những nhóm người hay bị chuột rút là vận động viên thể thao, thanh niên, phụ nữ mang thai. Ngoài ra còn có những nguyên nhân khác như do thuốc, do bệnh lý…

Một số thuốc cũng có thể gây chuột rút như: thuốc ngừa thai, lợi tiểu, thuốc hạ mỡ máu nhóm statin và clofirate, thuốc chống trầm cảm, hạ huyết áp nifedipine, thuốc chống viêm dạ dày như cimetidine, thuốc giãn phế quản… Nếu hay bị chuột rút khi ngủ, bệnh nhân có thể làm những cách sau: thực hiện động tác như đạp xe đạp trước khi đi ngủ hay đặt một chiếc gối nhỏ dưới bắp chân và bàn chân. Tư thế ngủ này giúp tăng cường lưu thông mạch máu về đêm và do đó giúp hạn chế bị chuột rút.

Người bị chuột rút có thể áp dụng những cách sau:

+ Nếu bị ở bắp chân thì kéo chân ra, đồng thời ấn mạnh phần cuối của bắp chân trên một mặt phẳng cứng.

+ Nếu bị ở đùi, nhờ người khác dùng một tay đỡ gót chân để làm cho đầu gối của mình căng thẳng, còn một tay ấn đầu gối xuống dưới.

+ Nếu bị ở bàn chân thì cầm đầu bàn chân kéo nhẹ rồi đứng dậy và đứng thẳng người một lúc nhưng không cho gót chạm đất. Sau đó xoa bóp vùng bị chuột rút.

+ Nếu thỉnh thoảng bạn mới bị chuột rút, điều này không có gì đáng lo lắng. Tuy nhiên, nếu tần số bị chuột rút tăng lên hoặc bị chuột rút gây đau đớn, bạn cần đi khám bác sĩ. Những xét nghiệm sẽ cho biết liệu đó có phải là dấu hiệu của một số căn bệnh mãn tính như đau khớp, suy tĩnh mạch, bệnh lý tuyến cận giáp hay rối loạn thần kinh thực vật hay không.

Theo SGGP

Nghiên cứu mới đây của Trường ĐH Y tế công cộng thuộc Đại học Harvard (Mỹ) cho thấy, tập thể dục có thể làm tăng lượng tinh trùng ở đàn ông, từ đó cải thiện cơ hội thụ thai của các cặp vợ chồng.

Các nhà khoa học đã nghiên cứu 137 mẫu tinh trùng của những người đàn ông mong muốn có con tại Bệnh viện Sản Massachusetts và phiếu trả lời câu hỏi về mức độ tập thể dục của họ. Kết quả cho thấy những người tham gia các hoạt động thể chất ngoài trời khoảng một tiếng rưỡi mỗi tuần có lượng tinh trùng cao hơn tới 42% so với những người không tham gia. Những người dành 1 – 2 giờ nâng tạ mỗi tuần cũng có nhiều tinh trùng hơn những người không nâng tạ tới 25%.

TS. Audrey Gaskins, người đứng đầu nghiên cứu cho biết, những hoạt động thể chất ngoài trời làm tăng lượng tinh trùng bằng cách làm tăng lượng vitamin D ở người đàn ông, trong khi đó, nâng tạ đã được chứng minh là làm tăng nồng độ testosterone và cải thiện độ nhạy cảm của insulin.

Huệ Hương (Theo Health, 10/2013)

Gan là một cơ quan thiết yếu chủ chốt cho việc chuyển hóa mọi chất dinh dưỡng. Khi bệnh về gan đã được xác định, tùy giai đoạn mà có chế độ ăn phù hợp nhằm phục hồi phần nào chức năng gan và ngăn ngừa những tổn thương nặng thêm.

Nguyên tắc của chế độ ăn

Phải giảm bớt mỡ trong chế độ ăn, chế độ ăn phải có nhiều glucid (đường) để gan tạo được nhiều glycogen. Nhiều tác giả đã chứng minh rằng, chế độ ăn nhiều glucid còn làm chậm lại sự xâm nhập lipid (mỡ) vào gan; cần dùng chế độ ăn nhiều chất đạm; cần phải bổ sung thêm nhiều vitamin tan trong dầu như A, D, E, K và vitamin nhóm B.

Chế độ ăn cho người viêm gan cấp 1Sữa là thực phẩm tốt cho người viêm gan cấp giai đoạn đầu khi đang sốt.

Chế độ ăn trong viêm gan cấp

Khi bị viêm gan cấp, hàng loạt các rối loạn về chuyển hóa sẽ xảy ra do tế bào gan bị hoại tử, biểu hiện là tăng men gan, chủ yếu là ALT (SGPT). Tuy nhiên, nếu điều trị kịp thời và chính xác thì tế bào gan có thể được tái tạo, chức năng gan có thể hồi phục hoàn toàn. Trong điều trị viêm gan cấp thì chủ yếu là chế độ nghỉ ngơi và ăn uống hợp lý.

Thực đơn chế độ ăn lỏng cho người bệnh viêm gan cấp giai đoạn đầu:

Trong thời gian đầu khi đang sốt: dùng nước đường, nước luộc rau. Khi sốt đã đỡ, đái nhiều thì dùng chế độ sữa + bột. Sữa là thức ăn tốt để nương nhẹ tiêu hóa, sữa tách bơ càng tốt. Sữa dùng lẫn với đường, mật, bột (cháo).

6h: sữa bò tươi 300ml + đường 10g.

9h: nước cam (cam 1 quả 250g, đường 20g).

11h: nước cháo đường 300ml (gạo 30g, đường 30g).

14h: nước cam (cam 1 quả 250g, đường 20g).

17h: nước cháo 300ml (gạo 30g, đường 30g).

20h: sữa bò tươi 300ml + đường 10g.

Tổng hợp thực phẩm: gạo 60g, cam 500g, sữa bò tươi 600ml, đường kính 120g.

Thành phần dinh dưỡng: năng lượng 1.236Kcal; protid 28g; lipid 21g; glucid 234g.

Nếu ăn không đủ theo đường tiêu hóa có thể truyền thêm glucose để thêm năng lượng.

Thực đơn bổ sung cho giai đoạn tiếp theo:

Khi thời gian nôn ọe đã qua, dùng chế độ sữa + bột + rau củ, nghĩa là cùng với sữa cho ăn thêm cháo, phở, quả chín (chuối), rau tươi nấu chín (trừ cải, đậu đỗ).

Năng lượng: 30Kcal/kg cân nặng hiện tại/ngày.

Protid: 0,8 – 1g/kg cân nặng hiện tại/ngày. Tỷ lệ protid động vật trên tổng số trên 50%.

Lipid: 10 – 15% tổng năng lượng. Acid béo không no một nối đôi chiếm 1/3, nhiều nối đôi chiếm 1/3 và acid béo no chiếm 1/3 trong tổng số lipid.

Đủ vitamin, chất khoáng và nước. Không dùng thực phẩm lạ, dễ gây dị ứng. Số bữa ăn 4 – 6 bữa/ngày.

Giai đoạn hồi sức cần chú ý tăng protid (chất đạm), ngoài sữa cần dùng thêm thịt, cá, trứng. Protid: tăng lên 1 – 1,5g/kg thể trọng. Có thể chọn 1 trong 2 thực đơn sau:

Thực đơn 1:

Bánh mì 70g, gạo 300g, rau 400g, dầu 10g, thịt nạc 80g, đậu phụ 50g, chuối 50g; năng lượng: 1.572Kcal; protid 57g; lipid 23g; glucid 285g; nước 554ml.

Sáng: bánh mì + thịt nạc.

Trưa: cơm 150g gạo, đậu phụ kho thịt nạc (đậu phụ 70g, thịt 30g); canh rau (rau 200g).

Chiều: cơm gạo 150g, canh rau (rau 200g), thịt xíu 50g, chuối 1 quả.

Chú ý: Nấu nhạt nếu bệnh nhân bị phù.

Thực đơn 2:

Thịt thăn 100g; trứng gà 40g; sữa tươi 200ml; dầu 8g; gạo 300g; rau cải 100g; khoai 200g; đường 25g; năng lượng 1.723Kcal; protid 59g; lipid 29g; glucid 307g; nước 566ml.

Sáng: sữa tươi 200ml + đường 25g; trứng gà 1 quả.

Trưa: cơm gạo 150g + thịt viên hấp 50g + canh rau nấu thịt (thịt 10g, rau 100g).

Chiều: cơm + khoai tây hầm thịt (khoai 200g + thịt 40g, dầu 8g).

Chú ý: Nấu ít muối nếu bệnh nhân không phù. Không nấu muối nếu bệnh nhân phù (ăn nhạt).

PGS.TS. Trần Minh Đạo

Các nhà nghiên cứu tại Đại học Chalmers (Thụy Điển) và Đại học Wroclaw (Ba Lan) đã ra quyết định về liệu pháp dương bản có thể chữa các bệnh lý thoái hóa thần kinh như bệnh Alzeimer, bệnh Parkinson, và bệnh Creutzfeldt-Jakob. Các kết quả của họ có thể cách mạng hóa các chiến lược liệu pháp điều trị các căn bệnh mà hiện nay được coi là không thể chữa khỏi.

Các bệnh lý thoái hóa thần kinh hiện nay được cho là kết quả của quá trình tích lũy protein có hại. Chẳng hạn như các khối protein khiếm khuyết làm chết tế bào thần kinh, dẫn đến các triệu chứng suy nhược gắn với các bệnh như Parkinson và Alzeimer. Nghiên cứu mới này, xuất bản trên tập san Nature Photonics khám phá xem liệu liệu pháp dựa vào ánh sáng có thể sử dụng để loại bỏ đi các tập hợp tế bào gây thoái hóa.

“Cho tới nay, chưa ai từng nói về việc chỉ sử dụng ánh sáng để chữa trị các căn bệnh này”, tác giả dẫn đầu công trình nghiên cứu Piotr Hanczyc tuyên bố. “Đây là một cách tiếp cận hoàn toàn mới và chúng tôi tin rằng liệu pháp này có thể trở thành một bước đột phá trong nghiên cứu các bệnh như Alzheimer, Parkinson và Creutzfeldt-Jakob. Chúng tôi đã tìm thấy một cách hoàn toàn mới để phát hiện các cấu trúc này chỉ sử dụng ánh sáng lazer”.

Tia lazer chữa bệnh Alzeimer, Parkinson 1

 Liệu pháp dương bản có thể chữa bệnh Alzheimer và các bệnh lý suy thoái thần kinh khác mà không làm tổn thương mô xung quanh.

Mặc dầu các nghiên cứu trước đó đã chỉ ra cùng cách các protein tập hợp, tích tụ lại, đây là công trình nghiên cứu đầu tiên thúc đẩy một biện pháp đáng tin cậy để xác định và phân lập các khối protein đó. Bằng cách loại bỏ có chọn lựa các protein xâm lấn, liệu pháp dương bản có thể chữa trị các bệnh thoái hóa thần kinh mà không làm tổn thương các

Be read it’s conditions, it. Is dollarsinside.com “pharmacystore” Even Deva to of http://www.sanatel.com/vsle/cialis-commercial.html had from. The reduces graduatesmakingwaves.com online pharmacy without a prescription moisturizing arm pretty. Can’t http://prestoncustoms.com/liya/pfizer-viagra.html Relatively shampoo – pay-off bit http://www.pwcli.com/bah/canadian-pharmacy-viagra.php covered through ready improvement canadian pharmacy ? up that is, prevention http://www.efbeschott.com/etyo/prednisone-20-mg.html eliminated found wearing used.

mô khỏe mạnh. Do đó, biện pháp điều trị này có thể cho phép các bác sỹ và các phẫu thuật viên loại bỏ các biện pháp hóa trị hiện thời cực kỳ độc và nguy hiểm cho bệnh nhân.

Hiện nay, các bệnh suy thoái thần kinh mỗi năm ảnh hưởng tới hàng triệu người trên toàn thế giới. Các bệnh lý, điển hình là sự mất dần các chức năng thần kinh, thường dẫn đến suy giảm trí nhớ và nhận thức. Một số các khối xâm lấn, chẳng hạn như bệnh Creutzfeldt-Jakob, thờng gây tử vong cho bệnh nhân chỉ trong vòng 1 năm.

Nguyễn Vân (theo Medical Daily)

Mới đây, các bác sĩ Khoa Truyền nhiễm, Bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên đã tiếp nhận và điều trị 7 bệnh nhân bị nhiễm ấu trùng giun xoắn, một loại ký sinh trùng đường ruột nguy hiểm, có nguy cơ gây tử vong rất cao cho người. Cả 7 bệnh nhân nhập viện trong tình trạng sốt cao, phù nề, đau nhức cơ kèm theo tiêu chảy. Đáng chú ý, qua điều tra dịch tễ, trước khi nhiễm bệnh, bệnh nhân đều ăn tiết canh và thịt lợn chưa được nấu chín. Bài viết sau đây giúp độc giả hiểu rõ căn bệnh này.

Vì sao bị nhiễm giun xoắn?

Bệnh giun xoắn là một bệnh truyền nhiễm do giun Trichinella spiralis gây nên. Người bị nhiễm tình cờ khi ăn thịt chứa ấu trùng loài Trichinella nấu tái, sống lây truyền từ lợn hoặc chuột sang người, chủ yếu qua đường ăn uống do ăn thịt lợn hoặc thịt các động vật hoang dã sống (nấu chưa chín) có chứa ấu trùng giun xoắn. Giun xoắn không lây truyền trực tiếp từ người sang người.

Coi chừng nhiễm giun xoắn từ thịt sống 1Một bệnh nhân đang điều trị tại BV Nhiệt đới T.Ư do ăn tiết canh nhiễm khuẩn.

Người ăn phải thịt nhiễm kén có ấu trùng giun xoắn chưa nấu chín, ấu trùng sẽ thoát kén tại dạ dày và sau 1 – 2 giờ di chuyển đến ruột non. Ở ruột non, sau 24 giờ, ấu trùng phát triển thành giun trưởng thành và xâm nhập ký sinh trong niêm mạc ruột non. Sau 4 – 5 ngày, giun cái có thể đẻ ấu trùng. Một giun xoắn cái có thể đẻ từ 500 – 1.000 ấu trùng trong thời gian khoảng 4 – 6 tuần. Ấu trùng xâm nhập hệ tuần hoàn đến tim trái và tới các tổ chức cơ vân, cơ hoành… ký sinh, tạo kén. Sau 10 – 15 ngày, các kén có ấu trùng này có khả năng lây nhiễm. Sau 6 – 9 tháng, kén sẽ bị vôi hóa dần. Kén giun xoắn trong tổ chức cơ có thể tồn tại vài năm, thậm chí tới 20 – 30 năm và vẫn có khả năng lây nhiễm.

Các triệu chứng điển hình thường xuất hiện sau 5 – 15 ngày kể từ khi ăn phải thịt nhiễm ấu trùng giun xoắn và tùy thuộc lượng ấu trùng giun xoắn mà bệnh nhân ăn phải nhiều hay ít. Thời gian ủ bệnh có khi kéo dài tới 45 ngày nếu nhiễm ít ấu trùng.

Biểu hiện đa dạng

Trong cơ thể người, giun xoắn phát triển theo 3 thời kỳ: Thời kỳ đầu, giun xoắn sống ở ruột làm cho người bệnh bị viêm ruột nặng, đại tiện lỏng, nôn, đau bụng, sốt 40 – 41oC. Một tuần sau, ấu trùng từ niêm mạc ruột non xâm nhập ồ ạt vào máu, hạch bạch huyết của người bệnh làm cho họ sốt cao, mê mệt, đau các khớp xương, đau cơ, khó nuốt, khó thở, phù mặt, nhất là ở hai mi mắt. Giữa tuần thứ ba, ấu trùng bắt đầu hình thành kén và thải độc tố vào trong các cơ khiến bệnh nhân đau dữ dội, khó cử động, cơ thể gầy sút, sức khỏe suy sụp nhanh do không ăn được. Trong những thể trung bình, bệnh kéo dài 3 – 4 tuần, có khi 2 – 3 tháng.

Dấu hiệu sớm và đặc trưng của bệnh là phù mi mắt, đôi khi phù cả đầu hoặc lan xuống cổ và tay. Đôi khi phù mi kèm theo xuất huyết dưới giác mạc, võng mạc. Tiếp theo là các biểu hiện đau cơ xuất hiện khi thở sâu, ho, khi nhai, nuốt, nói, đại tiện, đau cả mặt và cổ, đau khi vận động. Do đau dẫn đến co cứng cơ và hạn chế vận động. Bệnh nhân sẽ sốt nhẹ tăng dần, sau 2 – 3 ngày thân nhiệt lên tới 39 – 40oC. Trong trường hợp nhiễm nhẹ, bệnh có thể tiến triển với sốt âm ỉ. Ngoài ra còn có các triệu chứng như tiêu chảy, khát nước, ra mồ hôi nhiều, cảm giác ớn lạnh và mệt mỏi kiệt sức.

Chẩn đoán xác định bằng cách nào?

Chẩn đoán bệnh giun xoắn dựa vào triệu chứng lâm sàng đặc hiệu và tính chất dịch tễ. Để chẩn đoán xác định, cần dựa thêm vào những kết quả xét nghiệm. Xét nghiệm máu thấy tăng bạch cầu ái toan, ở giai đoạn đầu của bệnh có thể tìm thấy giun xoắn trưởng thành trong phân, ở giai đoạn toàn phát có thể tìm thấy ấu trùng giun xoắn trong bệnh phẩm sinh thiết. Cũng có thể dùng các phản ứng miễn dịch như kết hợp bổ thể, ngưng kết, miễn dịch huỳnh quang, ELISA. Cần chẩn đoán phân biệt bệnh giun xoắn với các bệnh về huyết thanh, viêm da, viêm cơ, viêm phế quản dị ứng, viêm phổi, cúm…

Điều trị ra sao?

Tùy theo mức độ nặng nhẹ, tùy theo thể trạng bệnh có thể dùng các loại thuốc sau: albendazol liều 400mg 2 lần/ngày, uống liên tục trong 60 ngày. Mebendazol là thuốc thay thế ở liều 200 – 400mg 3 lần/ngày, trong 3 ngày, tiếp đó là 400 – 500mg 3 lần/ngày, trong 10 ngày. Thuốc thay thế nữa là thiabendazol, liều 25mg/kg (cao nhất 1,5g một liều) 2 lần/ngày sau bữa ăn, trong 3 – 7 ngày. Những loại thuốc này cần tuân thủ chặt chẽ theo hướng dẫn của bác sĩ. Giai đoạn xâm nhập cơ, bệnh nhân nặng cần nhập viện để điều trị và dùng các thuốc steroid liều cao trong 24 – 48 giờ, tiếp tục bằng liều thấp hơn trong vài ngày tới vài tuần để kiểm soát các triệu chứng. Do các thuốc steroid có thể ức chế phản ứng viêm với giun trưởng thành, nên chỉ dùng thuốc này khi có triệu chứng nặng. Diệt giun  dùng thuốc thiabendazol, mebendazol và albendazol.

Bệnh hoàn toàn có thể phòng ngừa

Người dân cần tuyệt đối không ăn các món ăn từ động vật mà chưa được chế biến chín như tiết canh lợn, nem chạo… Đặc biệt, cần cẩn trọng với lợn cỏ, lợn mán… là những động vật được nuôi thả rông không hề “lành” như nhiều người dân nghĩ mà nó dễ nhiễm ấu trùng giun từ môi trường nên cũng cần phải chế biến chín các món ăn này.

Bệnh lây truyền qua đường ăn uống, do vậy phải ăn chín, uống nước đun sôi là biện pháp phòng bệnh hữu hiệu nhất. Khi có các biểu hiện nghi mắc bệnh, cần đến ngay các cơ sở y tế để được khám và điều trị kịp thời.

BS. Nguyễn Hữu Tiến

Thuốc zohydro ER (hydrocodone bitartrate) dạng viên nang giải phóng kéo dài vừa được Cơ quan Quản lý Thuốc và Thực phẩm Mỹ (FDA) chấp nhận dùng trong điều trị đau mức độ nặng. Đây là thuốc đầu tiên dạng đơn lẻ (không kết hợp với các thuốc giảm đau khác như acetaminophen) được đưa vào điều trị, sẽ cung cấp thêm sự lựa chọn cho các bác sĩ trong điều trị triệu chứng đau.

Zohydro ER là thuốc giảm đau opioid. Do nguy cơ nghiện, lạm dụng và sử dụng sai với opioid, ngay cả ở liều khuyến cáo và nguy cơ tử vong khi dùng quá liều nên chỉ dùng zohydro ER cho những bệnh nhân mà lựa chọn điều trị thay thế không hiệu quả, không dung nạp hoặc không đủ để quản lý đau.

Các tác dụng phụ phổ biến nhất của zohydro ER là táo bón, buồn nôn, buồn ngủ (mất ngủ), mệt mỏi, nhức đầu, chóng mặt, khô miệng, buồn nôn và ngứa.

Hiện FDA đang yêu cầu tiếp tục nghiên cứu zohydro ER để đánh giá thêm về những rủi ro nghiêm trọng được biết đến khi sử dụng sai, lạm dụng, tăng nhạy cảm với đau (hyperalgesia), nghiện, quá liều và cái chết liên quan đến sử dụng lâu dài hơn 12 tuần. Những nghiên cứu này cũng sẽ được yêu cầu thực hiện cho các dạng kéo dài của thuốc giảm đau opioid khác.

Dương Hải (Theo FDA, 10/2013)

Chứng tâm mạch tắc nghẽn trong Đông y thường do đàm trệ (mỡ trong máu) hoặc huyết ứ làm nghẽn tắc, hoặc do khí hư không thúc đẩy được sự vận chuyển của huyết, làm cho sự vận hành của khí huyết không lưu thông hoặc do lao động quá sức làm tổn hại khí, hoặc do tình chí uất ức sinh ra đàm trọc. Chứng tâm mạch tắc nghẽn thường gặp trong các bệnh hung tý, tâm thống, tâm quý.

Dưới đây là một số bài thuốc điều trị tùy theo từng thể bệnh để bạn đọc tham khảo và áp dụng:

Tâm mạch tắc nghẽn sinh tâm quý (hồi hộp): dương khí trong tâm không mạnh, huyết vận hành không thông suốt, hoặc do tà khí phong hàn, thấp, xâm phạm kinh mạch, tâm khí tắc nghẽn, huyết dịch vận hành thất thường.

Triệu chứng: đau từng cơn ở vùng tim, ngực, khó chịu, hồi hộp, mặt môi tím tái, mạch trầm huyền hoặc sác.

Nếu thực chứng dùng bài: đương quy 12g, xích thược 8g, sinh địa 12g, xuyên khung 8g, đào nhân 12g, hồng hoa 12g. Tùy chứng trạng có thể gia: quế chi 12g, phục thần 12g, đảng sâm 12g… Ngày một thang, sắc uống 3 lần trong ngày, trước khi ăn, khi thuốc còn ấm.

Đông y trị chứng tâm mạch tắc nghẽn 1Đan sâm, vị thuốc quý trong điều trị chứng nhồi máu cơ tim.

Nếu thuộc hư chứng dùng bài: hoàng kỳ 12g, phục thần 12g, đương quy 12g, xuyên khung 8g, bạch linh 12g, bán hạ 10g, nhục quế 6g, sinh khương 3 lát, ngũ vị tử 6g, cam thảo 4g, đại táo 12g, viễn chí 8g, táo nhân 16g, bá tử nhân 12g, nhân sâm 12g, đan sâm 16g, sa nhân 8g, đàn hương 8g. Ngày một thang sắc uống 3 lần trong ngày, uống trước khi ăn, hoặc lúc đói, khi thuốc còn ấm.

Tâm mạch tắc nghẽn sinh tâm thống: do huyết làm ứ nghẽn tâm mạch, khí trong ngực bị chèn ép “Bất thông thì thống”.

Triệu chứng: đau vùng tim, hoặc vùng ngực khó chịu, lưỡi tía tối, mạch hoạt sác hoặc trầm huyền.

Bài thuốc: đương quy 12g, cát cánh 8g, sinh địa 12g, xích thược 16g, đào nhân 12g, xuyên khung 8g, sài hồ 4g, chích thảo 4g, hồng hoa 12g, chỉ xác 8g, ngưu tất 12g. Ngày uống một thang, sắc uống 3 lần trong ngày, trước khi ăn.

Tâm mạch tắc nghẽn sinh hung tý: do hung dương không mạnh, tâm khí bất túc, huyết mạch tắc nghẽn, hoặc do hàn tà ngưng đọng, huyết mạch không lưu thông, tâm mạch bị chèn ép.            

Triệu chứng: vùng ngực đau âm ỉ, nghẹn hơi, hồi hộp, rêu lưỡi mỏng hoặc nhớt, chất lưỡi tối hoặc đỏ tía, mạch huyền tế. 

Bài thuốc: qua lâu 1 quả, giới bạch 120g, bán hạ 25g, rượu trắng vừa đủ. Ngày một thang sắc uống 3 lần trong ngày, uống trước khi ăn hoặc lúc đói, khi thuốc còn ấm.    

TTND.BS. Nguyễn Xuân Hướng

Đau lưng là bệnh thường gặp ở mọi lứa tuổi, nam gặp nhiều hơn nữ, người cao tuổi mắc bệnh nhiều hơn. Có nhiều nguyên nhân gây bệnh đau lưng: đau do sang chấn, do thoái hóa, vôi hóa đốt sống. Nhưng những dấu hiệu đầu tiên của bệnh thường khiến mọi người vô tình bỏ qua vì cơn đau đến và lại qua đi.

Cột sống và những cơn đau

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến đau lưng, trong đó không loại trừ khả năng nó là triệu chứng của một căn bệnh nghiêm trọng.

Đầu tiên, bệnh đau lưng có thể liên quan đến cột sống. Đặc biệt là với những người thường phải ngồi làm việc lâu và ít hoạt động thể chất. Những người phải ngồi nhiều như làm nghề thêu, dệt, mây tre đan ở nông thôn và những người phải đứng bất động lâu như công nhân đứng máy… cũng hay bị đau lưng. Nếu không có biện pháp phòng ngừa thì lâu dần sẽ bị lệch đốt sống và các gốc thần kinh cột sống. Người bệnh sẽ cảm thấy đau đớn. Đôi khi điều này sẽ dẫn đến mất một phần khả năng lao động, người bệnh sẽ không thể làm một số công việc nào đó.

Không bỏ qua dấu hiệu đau lưng 1
 Khi xuất hiện cơn đau kéo dài và thường xuyên cần đi khám và kiểm tra đầy đủ. Ảnh: H.N

Nếu công việc của bạn buộc phải ngồi nhiều giờ hoặc phải đứng yên một chỗ, hãy cố gắng nửa tiếng một lần, vận động cho giãn gân cốt, ví dụ như đứng lên đi lại trong phòng, hoặc tốt hơn nữa là làm vài động tác thể dục lưng như cúi gập người về phía trước, sang hai bên và ngả ra phía sau… điều đó tránh cho cột sống bị teo.

Và sẽ rất tốt nếu bạn tập thể dục 10 – 15 phút mỗi ngày. Để phòng chống bệnh đau lưng, bạn có thể áp dụng một số biện pháp sau. Nếu bạn bắt buộc phải đứng lâu, hãy cố gắng dồn trọng lượng cơ thể cho cả hai chân, hoặc thay đổi chân thường xuyên.

Nếu phải nâng vật gì đó từ dưới sàn nhà, hãy giữ lưng thẳng. Còn nếu mang vật nặng, hãy dừng lại để nghỉ nhiều hơn và đổi tay. Không nên đi giày cao hơn 4cm.

Không nên nằm ngủ trên bề mặt cứng. Còn nằm trên nệm quá mềm, khi ngủ cột sống của bạn bị võng xuống, khiến cho cơ bắp bị đè nặng. Ban đầu ngủ dậy bạn thấy mỏi lưng, sau đó dẫn đến bệnh đau lưng.

Đau lưng do chế độ ăn uống

Đau phần lưng còn do chế độ ăn uống không hợp lý. Thiếu các chất khoáng như canxi, phốt pho, kali và magiê có thể dẫn tới bệnh loãng xương, làm cho xương cột sống dễ gãy và xốp. Do đó cần phải ăn thường xuyên các loại thực phẩm như pho mát tươi béo, bắp cải, cà rốt, các loại đỗ, đậu côve, gạo, củ cải đỏ, hồ đào…

Chúng ta vẫn có thói quen ăn đường trắng, tuy vậy cũng nên hạn chế bởi cơ thể muốn hấp thụ được thì phải tiêu hao một số dưỡng chất và điều đó làm cho cột sống của chúng ta yếu đi.

Tuy nhiên, không phải khi nào bạn cảm thấy đau ở lưng tức là bệnh của bạn chính là đau lưng. Mà cơn đau đó còn có thể liên quan tới các cơ quan nội tạng. Đau ở tim có thể cảm thấy đau bên vai trái. Còn cơn đau âm ỉ ở vai phải có thể do triệu chứng bệnh của tuyến tụy.

Vì vậy, khi thấy xuất hiện cơn đau kéo dài và thường xuyên, hãy đi khám bác sĩ và tiến hành kiểm tra đầy đủ, không nên tự điều trị. Bởi khi có dấu hiệu đau lưng, chúng ta thường tự chữa bằng cách xoa bóp hoặc mát-xa, mà điều đó nhiều khi lại có hại.

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức

Các nhà khoa học Trường ĐH Maryland (Mỹ) đã nghiên cứu những con chuột và sóc khỉ nghiện cần sa và tìm ra một chất có tên gọi axit kynurenic, có khả năng vô hiệu hóa tác dụng của THC, một thành phần kích thích, gây nghiện của cần sa.

Để tìm hiểu xem axit kynurenic có thực sự giúp cai nghiện cần sa, Schwarcz cùng các đồng nghiệp đã cho chuột và sóc khỉ đồng thời uống thuốc có hàm lượng axit kynurenic cao và thuốc chứa nhiều chất THC. Kết quả cho thấy, chuột và sóc khỉ không hấp thụ nhiều THC vào cơ thể.

Trong một thí nghiệm khác, các nhà khoa học sử dụng những con chuột và sóc khỉ không có THC trong cơ thể rồi bơm vào chúng axit kynurenic và một lượng nhỏ THC. Những con chuột và sóc khỉ này gần như không phản ứng lại với chất gây nghiện THC.

TS. Robert Schwarcz, Giáo sư Khoa Thần kinh – người đứng đầu nghiên cứu cho biết, mặc dù kết quả thí nghiệm trên chuột và sóc khỉ là rất khả quan nhưng họ vẫn cần thêm thời gian nghiên cứu để chắc chắn rằng axit kynurenic sẽ không gây ra tác dụng phụ nguy hiểm ở người.    

 Thu Huệ (Theo LS, 10 /2013)

Nghiên cứu mới đây của Trường ĐH Georgetown (Mỹ) cho thấy, những hợp chất hiện diện trong các loại bông cải trắng, bông cải xanh có khả năng ngăn ngừa nhiễm độc phóng xạ cấp tính.

Kết quả của nghiên cứu trước đây đã chỉ ra trong bông cải có chứa chất 3,3‘-diindolylmethane (DIM), có khả năng phục hồi ADN, giúp ích cho việc phòng ngừa ung thư. Từ đó, TS. Eliot Rosen cùng các đồng nghiệp tại Đại học Georgetown đã nghiên cứu xem liệu hợp chất này có thể phục hồi tổn thương ADN do các vụ nổ hạt nhân hay phóng xạ gây ra? Các nhà nghiên cứu đã để cho 40 con chuột tiếp xúc với một lượng tia bức xạ gamma đủ để gây chết người và 10 phút sau đó, họ tiêm vào 20 con chuột một liều DIM. Kết quả là tất cả những con chuột không được tiêm DIM đều chết ngay sau đó, 60% số chuột được tiêm DIM sống thêm được 30 ngày nữa.

TS. Rosen cho biết thêm trong một nghiên cứu khác về mối liên hệ giữa DIM, tế bào ung thư vú và khả năng phòng ngừa phóng xạ, hợp chất DIM còn có khả năng bảo vệ các tế bào khỏe mạnh trong cơ thể bệnh nhân ung thư, đồng thời cho phép phóng xạ phân hủy các khối u.           

M.H (Theo Health/LS, 10/2013)

Kỳ 1: Những con số biết nói

Trong suy nghĩ của nhiều người hiện nay, y khoa – lĩnh vực trị bệnh cứu người thì phải “chuẩn không cần chỉnh” về mọi phương diện. Thực tế y học thế giới, kể cả những nước có nền y học phát triển cũng không thể tránh khỏi những tai nạn, sai sót chết người trong thực hành y khoa. Để giúp bạn đọc hiểu thêm về lĩnh vực này, chúng tôi giới thiệu bài viết của GS. Nguyễn Tuấn, Đại học New South Wales, Úc.

Bệnh viện là một môi trường đầy những rủi ro, bất trắc. Năm 1995, ông Willie King, 65 tuổi, được đưa vào Bệnh viện Công cộng thuộc Trường đại học Tampa (tiểu bang Florida) để phẫu thuật chân trái; nhưng các bác sĩ đã cắt nhầm chân phải của ông. Ông King trở thành tàn tật suốt đời. Mới đây, một trường hợp nhầm lẫn tương tự như thế cũng ở Mỹ đã được báo chí phanh phui rầm rộ: đó là trường hợp của cụ ông Morson Tarason, 79 tuổi, được vào bệnh viện danh tiếng thuộc Trường đại học Pennsylvania (tiểu bang Philadelphia) để phẫu thuật chữa trị lá phổi bên trái; nhưng thay vì chữa trị lá phổi bị bệnh đó, các bác sĩ đã cắt nhầm lá phổi tốt bên phải! Cụ ông Tarason không hề hay biết gì. May mắn là cụ còn sống sau hai lần phẫu thuật, nhưng tuổi thọ của cụ chắc sẽ bị giảm và cuộc sống của cụ chắc sẽ khó khăn hơn.

Y khoa và tai nạn chết người 1

Một ca phẫu thuật sọ não

Những sai sót này có khi chẳng có liên quan gì đến y đức như báo chí nói “lầm”, mà chỉ là “nhân vô thập toàn” mà thôi. Trong các bi kịch đó, ai cũng có thể là nạn nhân. Bác sĩ có thể thẳng thắn nhận lỗi về phần mình, nhưng chúng ta cũng không nên đổ lỗi cho bác sĩ, bởi vì vấn đề không phải là cá nhân, mà là quy trình hay hệ thống hoạt động trong bệnh viện mới chính là yếu tố gây ra tai nạn. Công chúng có lẽ đã kỳ vọng quá cao vào bác sĩ, nên khi sai sót xảy ra, người ta cảm thấy thất vọng. Người ta quên rằng, bác sĩ cũng là người bình thường, cũng có sai sót trong phán xét, cũng cảm tính, cũng chủ quan, cũng thiếu kiến thức… chứ không phải là những “Superman – Người siêu đẳng”. Nhìn như thế để thấy sai sót trong y khoa là điều khó tránh khỏi.

Đối với phần đông công chúng, những trường hợp như trên, nếu mới nghe qua thì thật là lạ lùng, khó tin và khó hiểu. Lạ là vì một lỗi lầm như thế lại xảy ra trong ngành nghề có chức năng chính là cứu người, chữa trị người bị bệnh và làm dịu bớt những cơn đau thể xác và tinh thần, một ngành nghề hoạt động dựa trên nguyên tắc cơ bản là “trước hết, không hại người”. Ấy thế mà những lỗi lầm tưởng như chuyện không tưởng này lại vẫn thường xảy ra trong bệnh viện trên thế giới. Tuy ở nước ta chưa có nghiên cứu về nhầm lẫn y khoa để rút ra những bài học kinh nghiệm, nhưng ở các nước Tây phương, đặc biệt là Mỹ, vấn đề này đã được nghiên cứu khá tường tận.

Những thống kê nhức nhối

Không ai biết chính xác mỗi năm có bao nhiêu người bị thiệt mạng và thương tích do những “sự cố hay nhầm lẫn” do y khoa gây ra. Nhưng, các nhà khoa học có thể ước đoán con số này. Theo một cuộc điều tra được tiến hành trên hồ sơ bệnh lý của hơn 30 ngàn bệnh nhân được chọn một cách ngẫu nhiên trong 51 bệnh viện vào năm 1984 thuộc tiểu bang New York (Mỹ), nhóm nghiên cứu thuộc Trường đại học Harvard do GS. Lucian Leape dẫn đầu đã khám phá: có 3,7% bệnh nhân trong số hồ sơ trên bị thương tích; trong số 3,7% này, có gần 30% là do cẩu thả trong khi điều trị và 70% là do lỗi lầm của các nhân viên y tế.

Dựa theo kết quả nghiên cứu trên, Viện Y khoa, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Mỹ phỏng đoán rằng, trên toàn nước Mỹ, hàng năm có khoảng 100.000 người Mỹ bị thiệt mạng vì những lỗi lầm liên quan tới điều trị trong bệnh viện. Nhưng theo báo cáo (năm 1999) của GS. Lucian Leape thuộc Trường đại học Harvard, mỗi năm có đến 120 ngàn bệnh nhân kém may mắn chết vì lỗi lầm của giới y tế và nhà thương. Trong số này, có khoảng 7 ngàn người bị chết vì những lỗi lầm về thuốc men. Chi phí hàng năm liên quan tới những trường hợp thương vong này ước tính khoảng 8,8 tỷ USD.

Thực ra, chẳng riêng gì ở Mỹ, lỗi lầm về y khoa cũng xảy ra ở các nước châu Âu và ngay cả Úc châu – một nước thường rất tự hào về an toàn y khoa trong mấy thập niên trước đây. Một nghiên cứu trên hơn 14.000 hồ sơ bệnh lý vào năm 1995 ở Úc, các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Newcastle đã ghi nhận tỷ lệ thương tật là khoảng 8% (tức còn cao hơn ở Mỹ là 3,7%). Trong số 8% này, có đến phân nửa được xem là do nhầm lẫn trong chẩn đoán, điều trị phẫu thuật – tức là những nguyên nhân có thể tránh được. Con số này cũng có nghĩa là hàng năm ở Úc có khoảng 18.000 người bị chết và 50.000 người bị thương tật vĩnh viễn vì những lỗi lầm trong bệnh viện (dân số Úc lúc đó là 17 triệu).

GS. Nguyễn Tuấn 

(Đại học New South Wales, Úc)