Nếu bạn mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), bạn có thể hưởng lợi từ phẫu thuật phổi. Tuy nhiên chỉ một số ít người có loại COPD hưởng lợi từ phẫu thuật. Các loại phẫu thuật chính đối với COPD là cắt bỏ bóng khí, cắt giảm thể tích phổi và ghép phổi.
Nếu bạn mắc bệnh COPD và cần được phẫu thuật vì những lý do khác, bạn nên nói với thầy thuốc trước khi có bất kỳ một phẫu thuật nào.
Cắt bỏ bóng khí là gì?
Khí phế thủng tạo ra các phế nang căng phồng. Khi các phế nang trở nên cực kỳ lớn, chúng được gọi là bóng khí. Cắt bỏ bóng khí là cắt bỏ các phế nang quá lớn này, hiện đang chén ép lên phổi lành mạnh, khiến cho các phế nang lành mạnh hoạt động kém. Rất ít người có các bóng khí quá lớn này. Hầu hết người mắc bệnh COPD từ khí phế thủng có nhiều những vùng nhỏ các phế nang bị hư hại trong hai phổi của họ. Các phế nang hư hại nhỏ này thường nằm rải rác khắp cả hai phổi và do đó không được lợi ích gì từ cắt bỏ bóng khí.
Cắt giảm thể tích phổi (lung volume reduction surgery – LVRS) là gì?
Phẫu thuật cắt giảm thể tích phổi (LVRS) là cắt bỏ phần trên của một hoặc của hai phổi. Cũng như cắt bỏ bóng khí, LVRS liên quan đến việc cắt bỏ các phế nang không còn hoạt động. Tuy nhiên, không giống như cắt bỏ bóng khí, LVRS cắt bỏ tất cả các phế năng trong một phần ba trên của một hoặc của cả hai phổi, bao gồm cả một số phế nang còn tốt. Sau khi cắt đi phần hầu hết không còn hoạt động, bạn có thể hít thở tốt hơn. Do LVRS là một phẫu thuật lớn, bạn phải có một quả tim khỏe mạnh và hai lá phổi còn lại khỏe mạnh sau khi phẫu thuật để đáng với những nguy cơ khi phẫu thuật. Bạn cũng phải cho thấy bạn mong muốn giữ được thể chất mạnh khỏe bằng cách bỏ hút thuốc và hoàn tất chương trình phục hồi chức năng hô hấp trước khi được phẫu thuật cắt giảm thể tích phổi.
Ghép phổi là gì?
Ghép phổi là thay thế một hoặc hai phổi của bạn bằng (hai) phổi của người hiến tạng. Những ứng viên ghép phổi mắc bệnh COPD không mắc bệnh nặng nào khác và mắc bệnh phổi nặng đến độ lợi ích của phẫu thuật nặng cân hơn những nguy cơ. Hầu hết các bệnh nhân COPD không phải là ứng viên tốt để ghép phổi do nguy cơ của những biến chứng nghiêm trọng.
Nếu tôi cần phẫu thuật tổng quát vì lý do khác thì thế nào?
Như mọi người khác, sức khỏe của bạn càng có nhiều vấn đề, nguy cơ các biến chứng trong hoặc sau khi phẫu thuật càng lớn. Khi bạn mắc bệnh COPD, khả năng mắc các biến chứng phẫu thuật tăng cao. Trước khi có bất kỳ một phẫu thuật nào, hãy thảo luận với thầy thuốc về loại phẫu thuật được tiến hành, những nguy cơ có thể xảy ra, những gì bạn có thể làm để làm giảm nguy cơ mắc phải những vấn đề này sau phẫu thuật.
Có những thử nghiệm hoặc điều trị nào tôi nên làm trước bất kỳ một phẫu thuật tổng quát nào?
Trước khi phẫu thuật, điều quan trọng là thầy thuốc của bạn phải biết được tình trạng của hai phổi của bạn. Một hoặc nhiều thử nghiệm hô hấp có thể thể được yêu cầu để thử nghiệm tình trạng hai phổi của bạn. Trước khi phẫu thuật bạn có thể được cho thêm các loại thuốc như steroid hoặc kháng sinh. Thầy thuốc của bạn cũng có thể tiếp xúc với phẫu thuật viên để bàn bạc về phẫu thuật của bạn. Ngoài việc biết được tình trạng của hai phổi của bạn, đội ngũ thầy thuốc sẽ muốn biết chắc rằng bạn có tình trạng sức khỏe tốt trước khi phẫu thuật. Họ có thể đề nghị bạn tham gia một chương trình phục hồi chức năng hô hấp. Nếu không có sẵn một chương trình phục hồi chức năng hô hấp, bạn nên bắt đầu một chương trình thể dục thể thao của riêng bạn để tăng cường sức khỏe. Đi bộ là một dạng thể dục rất tốt. Nếu bạn hút thuốc, bạn phải ngừng hút ít nhất 4 tuần trước khi phẫu thuật và sau đó mới hy vọng tốt được.
Các Trung tâm Dự phòng và Kiểm soát Bệnh tật Hoa Kỳ (CDC) thuộc Bộ Y tế và Phúc lợi Con người Hoa Kỳ (HHS) phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam và Bộ Y tế Việt Nam đã tiến hành một nghiên cứu mới về virus cúm trên lợn và người. Khả năng virus cúm tiến hóa và lây truyền giữa các loài vẫn còn là một mối quan tâm lớn trong lĩnh vực y tế công cộng và nghiên cứu mới này sẽ tăng cường năng lực cho Việt Nam trong việc giải quyết những quan ngại này theo cách tiếp cận có tên “Một Sức khỏe”, trong đó thú y được xem như một khía cạnh quan trọng của y tế công cộng.
“Chúng ta đã biết nhiều về virus cúm ở gia cầm, tuy nhiên những hiểu biết về virus cúm ở lợnvà ở những người tiếp xúc với lợn hàng ngày vẫn còn hạn chế”, Bác sỹ Thú y James Kile, phụ trách Chương trình Sáng kiến Hợp tác Thú y và Y tế ở Việt Nam phát biểu về nghiên cứu mới này. Ông nói: “Trong năm tới, chúng tôi sẽ thu thập mẫu trong mũivà mẫu máu từ lợn và người ở 9 tỉnh thuộc miền Bắc, miền Trung và miền Nam Việt Nam. Nghiên cứu Một Sức khỏenày sẽ giúp chúng ta hiểu thêm về virus cúm mà lợn và người có thể lây truyền sang nhau cũng như những nguy cơ tiềm tàng về việc lây truyền virus”.
“Chúng tôi rất vui khi hợp tác với CDC Hoa Kỳ và Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương thuộc Bộ Y tế trong nghiên cứu chung này. Nó sẽ giúp cho chúng tôi xác định được những chính sách hiệu quả hơn trong việc phòng chống các bệnh lây truyền giữa người và động vật ở Việt Nam một cách tốt hơn”, Tiến sỹ Phạm Văn Đông, Cục trưởng Cục Thú y của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, cho biết.
Nghiên cứu thực địa Một Sức khỏenày là bước phát triển tiếp theo trên nền tảng gần một thập kỷ hợp tác giữa CDC Hoa Kỳ với Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam nhằm tăng cường và duy trì năng lực quốc gia trong giám sát và nghiên cứu về virus cúm.
(theo CDC Việt Nam)
Ngồi cạnh một chiếc máy in laser trong phòng làm việc, người ta lờ mờ đoán rằng nó có thể gây hại cho sức khỏe. Đúng vậy, hoạt động của máy in có thể sinh ra những hạt siêu mịn ảnh hưởng đến hệ hô hấp của chúng ta.
Mặc dù lĩnh vực nghiên cứu về tác động của máy in đối với sức khỏe vẫn ở giai đoạn sơ khai nhưng các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng, máy in laser có thể tạo ra “trận mưa” các hạt nhỏ lơ lửng trong không khí. Chúng ta có thể hít sâu vào phổi, về lâu dài đây là nguy cơ đối với sức khỏe.
Một chuyên gia về lĩnh vực này, Giáo sư Lidia Morawska – Giám đốc Phòng thí nghiệm quốc tế về chất lượng không khí và y tế tại ĐH công nghệ Queensland, Australia bắt đầu từ một nghiên cứu năm 2007 phát hiện ra rằng, máy in laser văn phòng thải ra một lượng đáng kể hạt siêu mịn. “Chúng tôi thấy rằng một số máy in trong văn phòng phát thải đáng kể, vì vậy đã sơ tán chúng ra các hành lang, nơi có hệ thống thông gió tốt hơn”, GS nói.
Đúng như tên gọi, đó là những hạt siêu mịn, đường kính chưa đầy 0,1 micromet, tức là kích thước này tương đương 1 milimet chia thành 10.000 phần. Chu trình hình thành hạt như sau: Khi mực in và giấy đi qua các con lăn máy của máy in đang nóng, hóa chất ở dạng hợp chất hữu cơ dễ bay hơi trôi vào không khí. Các hợp chất này sau đó phản ứng với ozone trong không khí và ngưng tụ, hình thành các hạt siêu mịn. Ở đây, nhiệt độ của máy in đóng vai trò chính, nhiệt độ càng cao thì các hạt được sinh ra càng nhiều.
Tùy từng loại máy, đời máy in hoặc hoạt động của máy in ít hay nhiều mà lượng hạt sinh ra ở các mức độ khác nhau.
Tuy nhiên, tác hại của các hạt này vẫn là đề tài đang được nghiên cứu nhưng có bằng chứng cho thấy, các hạt có kích thước tương tự từ các nguồn khác có thể ảnh hưởng xấu đến phổi và tim. Các nguồn khác ở đây có thể kể đến như khí thải xe, đốt gỗ, nến và nấu ăn.
Đến nay thế giới vẫn chưa có các nghiên cứu quy mô lớn nhằm trả lời câu hỏi về sự an toàn của máy in văn phòng, vì thế Tổ chức Y tế Thế giới cũng chưa đưa ra bất kỳ hướng dẫn về mức độ an toàn của các hạt siêu mịn. Tuy nhiên, để bảo vệ sức khỏe, tránh nguy cơ rủi ro có thể xảy ra, chuyên gia Morawska đã có lời khuyên để giảm thiểu tiếp xúc với các hạt siêu mịn từ máy in laser:
• Hãy chắc chắn rằng văn phòng lưu thông gió tốt với bên ngoài.
• Nếu có thể, hãy để máy in mà nhiều người sử dụng ở khu vực thông gió tốt.
• Tránh đứng gần khi máy in đang hoạt động.
• Những người có bệnh hen suyễn hoặc bệnh tim, tốt nhất không nên ngồi gần máy in hoạt động công suất cao.
Theo ANTĐ/Abc.net.au
Cây mọc tự nhiên và được trồng ở vùng núi cao, có khí hậu mát lạnh như Lào Cai, Cao Bằng. Ở một số nơi, người ta lấy hạt bạch đậu khấu làm gia vị rất thơm ngon. Theo kinh nghiệm, để dùng làm thuốc thường lấy quả gần chín, dược liệu là quả hình cầu dẹt, có 3 múi, đường kính 1 – 1,5 cm. Mặt ngoài vỏ màu trắng, có một số đường vân dọc, đôi khi còn sót cuống quả. Vỏ quả khô dễ tách. Mỗi quả có 20 – 30 hạt, gọi là khấu mễ hoặc khấu nhân, hạt chứa nhiều tinh dầu. Mùi thơm, vị cay.
Quả thu hái vào mùa thu, hái cây trên 3 năm, hái quả còn giai đoạn xanh chuyển sang vàng xanh (gần chín). Hái về phơi trong râm cho khô, có khi phơi khô xong bỏ cuống rồi xông diêm sinh cho vỏ trắng cất dùng, khi dùng bóc vỏ lấy nhân, giã nát.
Trong y học cổ truyền, bạch đậu khấu có vị cay, tính ấm, vào các kinh tỳ, vị, phế, có tác dụng hành khí, ấm dạ dày, trừ hàn, tiêu thực, chống nôn, giã rượu, chữa đau bụng, trướng đầy, đau dạ dày, khó tiêu, nôn mửa, tiêu chảy,… dưới dạng thuốc sắc hoặc thuốc bột.
Cây và quả bạch đậu khấu.
Một số bài thuốc theo kinh nghiệm:
Trị bụng đau do lạnh nên khí trệ: Bạch đậu khấu 6g, hậu phác 8g, quảng mộc hương 4g, cam thảo 4g. Tất cả đổ 500ml nước sắc uống ngày 3 lần, uống thuốc còn ấm, dùng liền 3 ngày.
Nếu bụng sôi, lợm giọng buồn nôn thì dùng bài thuốc sau: bạch đậu khấu 3g, trúc nhự 9g, đại táo 3 quả, gừng tươi 3g. Giã nát gừng, ép lấy nước. Các dược liệu khác sắc với 200ml nước còn 50ml, uống với nước gừng.
Chữa bụng đầy trướng do lạnh và chán ăn: Bạch đậu khấu 6g, hậu phác, thương truật, trần bì… mỗi vị 3g. Đổ 400ml chia 3 lần uống trong ngày dùng liền 3 ngày.
Tác dụng giải rượu: Bạch đậu khấu 5g, cam thảo 5g. Sắc nước 450ml nước chia 3 lần uống trong ngày.
Chữa chứng hôi miệng: Ngậm bạch đậu khấu vào các buổi sáng để làm thơm hơi thở chữa chứng hôi miệng.
Lưu ý: Khi sắc thuốc gần xong, nước còn đang sôi mới cho bạch đậu khấu vào vì sắc lâu dược liệu sẽ giảm tác dụng. Những người có cơ địa nhiệt và táo bón, thiếu máu thì không dùng.
Chỉ cần một chút thay đổi trong chế độ ăn cũng có thể giúp bạn đẩy lùi các dấu hiệu của tuổi tác.
Hoa quả và rau xanh
Hoa quả và rau xanh chứa các chất chống ôxy hóa hỗ trợ loại bỏ chất độc ra khỏi cơ thể và giúp tái tạo tế bào. Vì vậy hãy ăn đa dạng các loại rau quả như cam quýt, việt quất, cà chua, rau xanh nhiều lá…
Ảnh minh họa
Protein nạc
Trứng, thịt gà không da, cá là những nguồn cung cấp protein nạc mà bạn nên đưa vào chế độ ăn. Đối với những người ăn chay thì đậu phụ cũng là một lựa chọn tốt. Những thực phẩm này sẽ giúp bạn có làn da mềm và mịn.
Cá
Cá là nguồn cung cấp acid béo omega-3 dồi dào có tác dụng làm chậm quá trình lão hóa. Các acid béo này cũng giúp bảo vệ chống bệnh tim và ngăn ngừa tổn thương da do ánh nắng mặt trời.
Các sản phẩm từ sữa
Các sản phẩm từ sữa giàu vitamin D và canxi. Bạn cần giữ cho xương chắc khỏe để phòng ngừa những vấn đề do loãng xương và các bệnh về xương.
Trà xanh
Trà xanh là một trong những nguồn cung cấp chất chống ôxy hóa tốt nhất và giúp ngăn ngừa lão hóa. Trà xanh cũng có tác dụng thúc đẩy chuyển hóa, giảm stress và giúp bạn tĩnh tâm.
Theo ANTĐ/BS
Cây hẹ nước còn có tên là mã đề nước, cây vợi. Là loại cây cỏ thủy sinh, mọc trong ao hồ. Gốc và rễ ngập trong bùn, lá mềm hình bầu dục, mọc thành cụm ở gốc. Hoa lưỡng tính mọc trên cuống dài, màu trắng, tím nhạt hoặc trắng đục. Quả hình cầu.
Cây thường mọc thành đám ruộng ở các ao hồ nước nông, kênh rạch, bờ suối, ruộng trũng có nước quanh năm. Nhân dân nhiều nơi thường lấy cây hẹ nước dùng làm rau ăn (thân và lá rửa sạch, luộc qua rồi xào hoặc nấu canh ăn).
Bộ phận dùng làm thuốc là lá, thân rễ (thường gọi là củ) bỏ hết rễ, rửa sạch rồi phơi sấy khô. Theo Đông y, vị thuốc từ cây hẹ nước gọi là trạch tả. Trạch tả có vị ngọt, tính hàn, vào các kinh thận, bàng quang. Có tác dụng thanh nhiệt, tiêu viêm, lợi niệu, long đờm dùng chữa các bệnh: phù thũng do thận, ho do viêm họng, giúp mát gan, lợi tiểu…
Một số bài thuốc theo kinh nghiệm dân gian
Chữa ho do viêm họng: Lá trạch tả 30g, lá húng chanh 30g, gừng tươi 5g. Sắc khoảng 300ml nước còn 50ml. Uống trong ngày, nên uống khi thuốc còn ấm. Uống trong 5 ngày.
Tác dụng mát gan: Trạch tả, bạch phục linh, mẫu đơn bì, sơn thù du, mỗi vị 10g; thục địa và hoài sơn, mỗi vị 12g. Tất cả sao vàng, tán bột chế thành viên bằng hạt đỗ xanh. Ngày uống 8 – 10 viên. Uống trong 10 ngày.
Hẹ nước.
Chữa chứng hoa mắt, chóng mặt do thiếu máu: Trạch tả 12g, sinh địa 15g; long đởm thảo, sơn chi tử, hoàng cầm, sài hồ, mẫu đơn bì, tri mẫu, cúc hoa, mỗi vị 10g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang. Hoặc trạch tả 15g, bạch truật 6g, cúc hoa 12g. Sắc với 3 bát nước còn 1 bát. uống trong ngày. Dùng trong 7 – 10 ngày.
Hỗ trợ điều trị phù thũng do thận: Lá trạch tả 30g, thân cây sậy 100g, râu ngô 100g. Sắc với 700ml nước, còn 150ml chia uống hai lần trong ngày. Uống sau bữa ăn trưa và tối. Dùng trong 10 ngày. Hoặc trạch tả, bạch phục linh, trư linh, hạt mã đề mỗi vị 10g. Sắc uống ngày 1 thang.
Hạ sốt do cảm nóng: Lá trạch tả 20g, cỏ mần trầu 25g, lá tre 30g. Các vị thuốc trên đem sắc với 3 bát nước còn 1 bát. Uống trong ngày khi thuốc còn ấm. Dùng trong 2 ngày.
Chữa mụn nhọt sưng đau (chưa mưng mủ): Lá trạch tả tươi, lá cây lạc địa sinh căn, mỗi vị 15g. Rửa sạch, để ráo, giã nát đắp nơi mụn nhọt sưng đau. Ngày đắp 2 lần, mỗi lần 2 giờ, đắp trong 2 ngày.
Cây vảy rồng còn có tên là mắt trâu, đồng tiền lông, mắt rồng, kim tiền thảo. Là cây cỏ, cao 30 – 50cm, ngọn non dẹt và có phủ lông tơ, màu trắng. Lá mọc so le, gồm một hoặc 3 lá chét tròn dài 1,8 – 3,4cm, rộng 2 – 3,5cm, do đó có tên là đồng tiền, mặt dưới có lông trắng bạc, mặt trên có những đường gân rất rõ.
Hoa màu tía, mọc thành chùm xim ở kẽ lá. Quả đậu nhỏ, giữa các hạt thắt lại. Cây mọc hoang ở các vùng rừng núi và được trồng bằng hạt làm thuốc. Thu hái chủ yếu vào mùa hè – thu, dùng tươi, phơi hoặc sao khô.
Các nghiên cứu cho thấy cây vảy rồng có tác dụng lợi tiểu, lợi mật, kháng sinh, kháng viêm, hạ huyết áp. Công dụng chủ yếu lợi mật, thông tiểu tiện, thường dùng chữa sỏi thận, sỏi mật, sỏi bàng quang, phù thũng, viêm đường tiết niệu, khó tiêu… dạng thuốc sắc. Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác. Thời gian điều trị phụ thuộc vào kích thước và vị trí của sỏi trong đường tiết niệu.
Cây vảy rồng có tác dụng lợi tiểu, lợi mật, kháng viêm…
Một số bài thuốc thường dùng:
Chữa viêm đường tiết niệu: Cây vảy rồng 60g, mã đề, bòng bong, kim ngân hoa, mỗi vị 15g. Tất cả cho vào ấm đổ 800ml nước, sắc còn 500ml, uống thay trà hàng ngày. Sắc uống 1 tháng.
Chữa sỏi đường mật: Cây vảy rồng, nhân trần mỗi vị 40g; sài hồ, mã đề mỗi vị 16g; chi tử 12g; chỉ xác, uất kim mỗi vị 8g; nha đạm tử 6g, đại hoàng 4g. Sắc uống ngày một thang. Uống trong 2 tháng.
Chữa sỏi đường tiết niệu: Cây vảy rồng 40g; mã đề, tỳ giải mỗi vị 20g; trạch tả, uất kim, ngưu tất mỗi vị 12g; kê nội kim 8g. Sắc uống ngày một thang. Uống liên tục 1 – 2 tháng.
Chữa sỏi thận (thể thấp nhiệt): Với biểu hiện người trì trệ, nước tiểu vàng hoặc đỏ, đái đục có cặn, có sỏi, đau, nặng, tức vùng thắt lưng: Cây vảy rồng 30g, quả dành dành 20g, vỏ núc nác 16g, hoa, lá mã đề 20g, xương bồ 8g, mộc thông 12g, tỳ giải 30g, cam thảo đất 16g, ý dĩ nhân 20g, quế chi 4g. Cho các vị thuốc vào ấm đất với 4 bát nước, đun nhỏ lửa, còn 2 bát, chắt ra, cho nước sắc tiếp, mỗi lần lấy 1,5 bát, trộn chung cả 3 lần, chia uống nhiều lần trong ngày. Uống liên tục 2 – 3 tháng.
Chú ý: Phụ nữ có thai không dùng. Người đau dạ dày nên uống thuốc vào lúc no, người mắc bệnh mạn tính cần phải đi bắt mạch kê đơn tại cơ sở y tế.
Khi bị một vết thương chảy máu, cần phải nhanh chóng tìm mọi cách làm ngưng chảy máu, để hạn chế mất máu nhiều có thể gây choáng nặng dẫn đến tử vong. Trước hết cần nâng cao phần bị thương lên, dùng khăn sạch hoặc dùng tay (nếu không có khăn) ấn chặt ngay vào vết thương cho đến khi máu ngừng chảy, hoặc dùng các loại thuốc cầm máu vào vết thương và băng ép lại thật chặt.
Dùng một số vị thuốc có tác dụng cầm máu tại chỗ
Cỏ mực, cây bỏng (sống đời), bông ổi, huyết dụ, tam thất, bách thảo sương (nhọ nồi), bại hoại (móng rồng), quế rành (trèn trèn, quế trèn), thài lài trắng, tu hú trắng, lá tía tô, lá sắn dây, lá dâu non, nõn cau tươi, nõn tre tươi, nõn chuối tiêu… Khi bị vết thương chảy máu cần ngay lập tức lấy một trong các loại cây thuốc trên, rửa sạch, giã nát và đắp lên vết thương rồi băng ép lại.
Cây sống đời.
Chế biến một số bài thuốc để dùng khi có vết thương chảy máu:
Bài 1: Bột sâm đại hành (không hạn chế liều lượng). Chế biến: Dùng củ đã cắt bỏ rễ và thân, rửa sạch, thái mỏng, phơi hay sấy thật khô, tán thành bột thật nhỏ, rây mịn, cho vào chai hoặc túi ni lông thật kín để nơi khô ráo. Cách dùng: Sau khi đã sát khuẩn vết thương, rắc thuốc cầm máu lên cho kín vết thương, đặt gạc hay vải sạch lên vết thương, băng ép chặt. Mỗi ngày thay thuốc một lần. Tác dụng: Cầm máu, tiêu ứ máu, giảm sưng đau, lên da non.
Cây cỏ mực.
Bài 2: Cỏ nhọ nồi (cỏ mực) sao cháy đen 100g, lá chuối hột khô sao cháy đen 100g, than tóc 100g. Chế biến: Cỏ nhọ nồi cắt bỏ rễ, rửa sạch, phơi khô, thái nhỏ, sao đen (tồn tính), lá chuối hột rửa sạch, thái nhỏ, phơi khô, sao đen (tồn tính), tóc rửa bằng nước bồ kết, sấy khô rồi đốt cháy thành than. Ba thứ trên liều lượng bằng nhau, tán nhỏ, rây mịn. Đựng vào chai lọ hay túi ni – lon hàn kín. Bảo quản nơi khô ráo. Cách dùng: Sau khi đã sát khuẩn vết thương, rắc thuốc cầm máu lên cho kín vết thương, đặt gạc hay vải sạch lên vết thương, băng ép chặt. Mỗi ngày thay thuốc một lần.
Cây cẩu tích.
Bài 3: Lông cây cẩu tích tẩm cồn 90 độ, phơi khô. Khi gặp vết thương chảy máu thì lấy đắp vào vết thương rồi băng ép lại, máu sẽ cầm rất nhanh.
Bài 4: Lá trầu không 2 phần, lá gai làm bánh 2 phần, hạt cau già 1 phần. Tất cả phơi khô, tán bột mịn, rắc lên vết thương rồi băng lại.
Chú ý: Sau khi cầm máu, dù là vết thương nhỏ cũng cần đến cơ sở y tế gần nhất để các bác sĩ kiểm tra tình trạng vết thương, tiếp tục theo dõi và có chỉ định điều trị phù hợp.
Ranh giới giữa sự sống và cái chết vốn không mỏng manh như mọi người vẫn nghĩ. Ngày nay, với sự tiến bộ của y học và khoa học kỹ thuật sẽ giúp bệnh nhân có thể tỉnh lại sau vài giờ kể từ lúc tim ngừng đập và được cho là đã chết…
Quá trình chết đi…
TS. Sam Parnia từ Viện Chăm sóc sức khỏe New York tại Stony Brook cho biết, theo quan niệm trước đây, khi tim một người ngừng đập và họ ngừng thở có nghĩa họ đã chết và chúng ta chẳng còn có thể làm gì để thay đổi điều này. Nhưng ngày nay, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng cái chết không chỉ xảy ra trong một vài giây mà nó cần cả một quá trình. Tim ngừng đập, quá trình chết đi mới chỉ bắt đầu. Tổn thương não do thiếu ôxy sẽ xảy ra trong giai đoạn này. Chỉ trong vài giây, hoạt động của não sẽ bị ảnh hưởng nhưng không phải chỉ sau vài phút tiếp theo các tế bào sẽ ngừng hoạt động luôn. Và vì quá trình này có thể kéo dài đến vài tiếng đồng hồ nên chúng ta hoàn toàn có thể lật ngược tình thế. Các chuyên gia cho biết, chìa khóa thành công của các ca chết đi sống lại bên cạnh sự chăm sóc tích cực của các bác sĩ còn có thân nhiệt của người bệnh. Thân nhiệt lý tưởng là khi nhiệt độ cơ thể mới chỉ giảm một vài độ so với nhiệt độ bình thường là 37oC.
Tim ngừng đập vẫn có thể hồi sinh.
Kỹ thuật kéo dài sự sống
Ý tưởng về việc làm giảm thân nhiệt sau khi tim ngừng đập đã có từ một vài thập kỷ trước, nhưng các nhà khoa học lúc ấy không dám chắc rằng đây là kỹ thuật có lợi cho bệnh nhân. Tuy nhiên, những năm gần đây, các nghiên cứu đã đưa ra các bằng chứng rằng, hạ thân nhiệt giúp tăng khả năng bệnh nhân phục hồi. Những tổ chức như Hiệp hội Tim mạch Mỹ cũng đã cân nhắc kỹ thuật này. Tuy nhiên, không phải tất cả các bệnh viện đều có thể thực hiện kỹ thuật hạ thân nhiệt như một phần của biện pháp hồi sinh bệnh nhân sau khi tim ngừng đập. Các nhà khoa học cho biết, hạ thân nhiệt và giảm lượng ôxy sau khi tim đã đập trở lại là những nhân tố có thể làm gia tăng cơ hội sống của bệnh nhân mà không làm tổn hại đến não.
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, thân nhiệt giảm để bảo vệ não bằng cách giảm nhu cầu cung cấp ôxy xuống và ngăn chặn các tế bào ngừng hoạt động. Tuy nhiên vẫn có những hạn chế nhất định, mặc dù kỹ thuật làm giảm nhiệt độ cơ thể đã giúp nhiều bệnh nhân phục hồi, đôi khi những tổn thương do thân nhiệt giảm gây ra quá lớn dẫn đến việc giúp bệnh nhân hồi sinh là không thể. Hơn nữa, các nhà khoa học cũng biết rằng, một ca hồi sinh thành công phụ thuộc vào cách bệnh nhân được chữa trị sau khi tim đập trở lại và cách cơ thể ấm lên sau khi bị hạ nhiệt. TS. Becker, một trong những nhà nghiên cứu cho biết, những gì chúng tôi đang làm là hoàn toàn ngược lại với những gì đã quan niệm bởi ai cũng biết rằng nếu lượng ôxy của một người giảm, chúng ta phải cung cấp thêm ôxy. Nếu áp suất máu giảm, cần tăng áp suất máu lên.
Tuy nhiên, trên thực tế, nếu một bệnh nhân phản ứng với các biện pháp chữa trị ngay từ ban đầu và tim của anh ta đập trở lại, việc thêm quá nhiều máu hay ôxy vào não thực chất lại làm tình hình xấu đi. Thay vào đó, việc điều tiết lượng ôxy phù hợp được đưa lên não là cần thiết hơn cho việc phục hồi.
Vấn đề đạo đức với quan niệm mới về cái chết
Quan niệm thông thường của nghề y là không làm hồi sinh một bệnh nhân đã phải trải qua những tổn thương não nghiêm trọng và chỉ có thể sống lại trong tình trạng hôn mê. Những nỗ lực để khiến một người sống lại sau khi tim ngừng đập có thể gây ra những tổn thương nghiêm trọng hơn cho não. Điều này đã khiến nhiều người đưa ra câu hỏi về vấn đề đạo đức ngành y khi đưa kỹ thuật này vào thực tế. Tuy nhiên, theo TS. Mayer, kiến thức của chúng ta về sự tổn thương của não và việc chết đi vẫn chưa hoàn thiện và cũng không ai rõ mức độ chịu được tổn thương của một người đến đâu. Khi chúng ta đưa ra kết luận quá sớm mà không nghiên cứu kỹ, rất có thể chúng ta đang cướp đi cơ hội được sống của nhiều người. Kéo dài sự sống một cách nhân tạo có thể không phù hợp với mọi tình huống nhưng y đức của các bác sĩ chẳng phải nên làm mọi thứ để cứu sống một người hay sao?
Huệ Minh (Theo Wikipedia, Health, LS 10/2013)
Theo thống kê, Việt Nam có từ 10-20% dân số (khoảng từ 12-16 triệu người) nhiễm virut viêm gan B, trong đó có khoảng 5 triệu người trong tình trạng viêm gan mạn tính, xơ gan hoặc ung thư gan.
Khi bị nhiễm virut viêm gan B, chỉ có khoảng 1/4 bệnh nhân nhiễm viêm gan B cấp là có biểu hiện lâm sàng và có thể được chẩn đoán và điều trị. Một số ít có khả năng chống lại viêm gan B và “làm sạch” được virut trong cơ thể. Số còn lại thường không có biểu hiện lâm sàng và tiến triển thành viêm gan B mạn tính.
Viêm gan B mạn tính diễn biến âm thầm theo thời gian, virut gây tổn thương gan dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng như xơ gan hoặc ung thư gan. Phần lớn bệnh nhân có biểu hiện triệu chứng ở giai đoạn tiến triển rõ hoặc có biến chứng.
Xơ gan (sẹo của gan): Viêm gan B mạn tính có thể diễn tiến thành xơ gan (sẹo hóa nhiều hay xơ hóa). Sẹo trong gan có thể làm suy giảm chức năng gan. Người bệnh có thể có dấu hiệu yếu người, mệt mỏi, dễ bị nhiễm khuẩn. Nhiều trường hợp không có các triệu chứng lâm sàng. Vì không có biểu hiện rõ rệt nên người bệnh chủ quan, không đi khám và điều trị sớm làm cho bệnh càng có cơ hội bùng phát mạnh ở giai đoạn tiếp theo.
Diễn tiến của xơ gan dẫn tới xơ gan cấp tính, là giai đoạn cuối của xơ gan hay suy gan mạn. Biểu hiện rõ rệt nhất là suy gan và tăng áp lực tĩnh mạch cửa. Tình trạng xơ hóa làm chức năng gan suy giảm, dẫn đến mệt mỏi, chán ăn, gầy sút, rối loạn tiêu hóa, ăn không tiêu, sợ mỡ, rối loạn đại tiện. Phù là một triệu chứng nổi bật của bệnh nhân xơ gan. Lúc đầu là phù hai chi dưới, về sau gan suy nhiều có thể bị phù toàn thân. Tăng áp lực tĩnh mạch cửa làm cho bệnh nhân bị cổ trướng, bụng trương phình. Khi đã có những biểu hiện của giai đoạn muộn thì gan không còn cơ hội phục hồi nữa. Bệnh nhân có thể tử vong vì những biến chứng như: nhiễm khuẩn, chảy máu tiêu hóa và hôn mê gan.
Ung thư gan: Những người bị nhiễm viêm gan B mạn tính có tăng nguy cơ ung thư gan. Triệu chứng thường gặp nhất của ung thư gan là đau bụng và phù, cường lách, sụt cân và sốt. Ngoài ra, khối u gan có thể sản xuất và phóng thích những chất làm tăng hồng cầu, giảm đường máu và tăng canxi máu. Ung thư gan là bệnh trầm trọng, diễn biến nhanh, điều trị khó khăn, trong khi đó phần lớn bệnh nhân ung thư gan được phát hiện thường ở giai đoạn muộn.
Mặc dù không chữa khỏi hoàn toàn, nhưng nếu được điều trị tốt những người nhiễm virut viêm gan B mạn tính có thể phòng được các biến chứng nguy hiểm. Do đó nếu nghi ngờ bị lây nhiễm virut viêm gan B, người bệnh cần đến cơ sở y tế chuyên khoa xét nghiệm và điều trị sớm.
Bác sĩ Vũ Minh
Quả và gai bồ kết là những bộ phận dùng làm thuốc chủ yếu trong y học hiện đại, y học cổ truyền và kinh nghiệm dân gian.
Quả bồ kết được thu hái vào tháng 10 – 11, lúc quả có màu xanh lục hoặc màu hơi vàng, phơi khô, rồi buộc thành từng bó treo trên giàn bếp cho đến khi có màu đen bóng. Dược liệu hơi dẹt và cong, chất cứng giòn, dễ bẻ gãy.
Trong y học cổ truyền, quả bồ kết có tên thuốc là tạo giác, có vị cay, mặn, tính ôn, hơi độc, có tác dụng thông khiếu, hắt hơi, sát khuẩn, khử đờm, tiêu thũng, được dùng trong những trường hợp sau:
Chữa viêm xoang, ngạt mũi, khó thở: bồ kết 1 quả đốt cháy lấy khói xông vào hai lỗ mũi. Ngày làm vài lần.
Chữa trúng phong, cấm khẩu, hôn mê bất tỉnh: quảbồ kết 40g, giun đất 40g, lông nhím 20g, đốt thành than. Mỗi lần uống 4 – 8g với nước ấm, ngày hai lần. Kết hợp lấy quả bồ kết và lá bạc hà (lượng bằng nhau) phơi khô, tán nhỏ, rây bột mịn, thổi vào mũi để gây hắt hơi làm bệnh nhân tỉnh lại.
Chữa ho nhiều đờm, hen suyễn, thở khò khè: quả bồ kết 1g, quế chi 1g, sinh khương 1g, cam thảo 2g, đại táo 4g. Tất cả sắc với 200ml nước còn 50ml, uống làm một lần trong ngày.
Chữa đau nhức răng, sâu răng: quả bồ kết để sống hoặc đốt tồn tính, tán nhỏ, đắp vào chân răng, khi nước bọt chảy ra thì nhổ đi, không được nuốt. Hoặc bồ kết 1 quả để cả hạt, nướng cho hơi cháy vỏ ngoài, nghiền nhỏ cùng với diêm sinh lấy từ 10 đầu que diêm. Ngâm với rượu trắng cho thật đặc trong 2 – 3 ngày. Muốn có thuốc dùng ngay, đun dung dịch nhỏ lửa trong vài phút. Khi dùng, nhấp ít một dung dịch ngâm trên, ngậm vào chỗ răng đau trong 10 – 15 phút rồi nhổ đi. Ngày làm 2 – 3 lần.
Gai bồ kết được thu hái quanh năm, nhưng tốt nhất vào tháng 9 – 3. Dược liệu là những cụm gai nguyên vẹn phân nhiều nhánh (thường 2 – 7) sắp xếp thành hình xoắn ốc, đầu gai rất nhọn, mặt ngoài màu tía nâu, mặt trong màu trắng vàng, giữa là tủy màu nâu xám nhạt. Chất cứng rắn, khó bẻ gãy. Khi dùng, ngâm gai vào nước cho mềm, cắt dọc thành miếng vát mỏng, phơi hoặc sấy khô, để sống hoặc đốt tồn tính. Dược liệu có tên thuốc là tạo giác thích, có vị cay nhẹ, tính ấm, không mùi, có tác dụng chống viêm, sát khuẩn, tiêu ung độc, thông ứ.
Chữa viêm mũi, tắc nghẹt: gai bồ kết nướng tán nhỏ mịn, thổi hoặc hít bột vào lỗ mũi. Ngày làm vài lần. Hoặc gai bồ kết 10g, thạch xương bồ 10g, rễ hoa kinh giới 5g, tán thành bột, gói vào một miếng vải mỏng rồi nhét vào lỗ mũi, nằm ngửa một lúc mũi sẽ thông.
Chữa kiết lỵ ra máu mũi lâu ngày: gai bồ kết và hoa đào để sống, phơi khô; chỉ thực sao với cám. 3 vị với lượng bằng nhau, tán nhỏ mịn, luyện với mật ong làm viên bằng hạt đỗ xanh. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 30 viên với nước cơm.
Chữa nha chu viêm (chân răng sưng đau, có thể ra mủ): gai bồ kết 20g, kim ngân 20g, liên kiều 20g, ngưu bàng 12g, hạ khô thảo 12g, chi tử 12g, xích thược 8g, xuyên sơn giáp 6g, bạc hà 6g. Sắc uống ngày 1 thang.
Một số nguyên nhân chủ yếu làm tăng nguy cơ mắc bệnh này là: tiền sử gia đình bị ung thư vú, có sự thay đổi ở tuyến vú, đột biến gene, tác động lâu dài của oestrogen (phụ nữ có kinh trước 12 tuổi và mãn kinh sau 55 tuổi), dùng thuốc nội tiết trong thời gian dài, không sinh con hoặc có con đầu lòng sau 30 tuổi, không cho con bú mẹ, hút thuốc lá và uống rượu, ăn nhiều thịt, chất béo, cơ địa béo phì…
Tuy nhiên, bạn không thể bỏ qua những dấu hiệu sau đây vì chúng chính là những dấu hiệu cảnh báo bệnh ung thư vú mà bạn không ngờ tới.
Khi có những dấu hiệu bất thường ở tuyến vú, cần đi khám ngay tại các cơ sở y tế.
– Đau lưng:Đau lưngcũng có thể là một biểu hiện của bệnh ung thư vú vì các khối u phát triển trong mô tuyến vú, mở rộng sâu vào ngực, gần thành ngực. Nếu khối u tăng trưởng ngược về phía xương sườn và xương sống thì bạn có thể cảm thấy đau ở phía lưng hơn là ở vú. Ung thư vú cũng có xu hướng di căn hay lan đến cột sống hoặc các xương sườn, trở thành ung thư xương thứ cấp.
– Ngứa, đau, hoặc đỏ ở ngực:Đây là những dấu hiệu của bệnh ung thư vú dạng viêm, một dạng hiếm của ung thư vú. Ung thư vú dạng viêm có thể làm vú sưng to và đau. Da tại vùng ngực thường có màu đỏ, có vảy hoặc tím giống như bị bầm. Ngoài ra, bề mặt da cũng biến đổi trở nên gập ghềnh như bị celullite trên ngực. Ung thư vú dạng viêm chỉ chiếm 3% trong tổng các trường hợp ung thư vú. Ở dạng ung thư này, tế bào ung thư phát triển nhanh chóng làm nghẽn mạch máu dưới da và ảnh hưởng đến các ống dẫn sữa. – Núm vú thay đổi:Khi một khối u xuất hiện trong ống dẫn sữa, nằm phía sau núm vú hoặc ép núm vú qua một bên. Trong trường hợp này, khối u có thể gây kích ứng và nhiễm trùng.
– Đau, sưng, hoặc có một khối u ở nách:Nguyên nhân khiến khối u xuất hiện tại nách là do các hạch bạch huyết khu vực này gần nhất với vú và do đó có thể bị ảnh hưởng bởi dịch bạch huyết. Khi bệnh ung thư vú lây lan, đây thường là nơi đầu tiên nó di căn. Bất kỳ cơn đau nào xảy ra ở vùng nách cũng là một dấu hiệu nên được kiểm tra cẩn thận bằng ngón tay. Đặc biệt lưu ý khi có một khu vực mô cứng hơn hoặc khó di chuyển khi bạn rê ngón tay.
Nếu thấy xuất hiện các triệu chứng nói trên, bạn nên đi khám sớm để biết mình có nguy cơ bịung thư vúhay không.
Theo Tri thức trẻ
Động kinh Đông y gọi chứng bệnh giản là chứng trạng bệnh lý của thần khí, bệnh xảy ra đột ngột, khi lên cơn choáng ngất, hôn mê bất tỉnh nhân sự, mắt trực thị sùi bọt mép sau đó tự khỏi và mọi hoạt động trở lại bình thường.
Có hai nguyên nhân chính:
– Do tiên thiên bất túc hoặc do di truyền hoặc do bố mẹ cảm nhiễm bệnh tà trong khi thai nghén hoặc do quá trình sinh đẻ không bình thường ảnh hưởng tới thai nhi…
– Do hậu thiên: Các nguyên nhân làm thương tổn đến can, thận làm cho hỏa của can dấy lên, can phong nội động, thủy không chế được hỏa, hỏa phối hợp với đàm làm che lấp các khiếu và kinh lạc mà gây nên.
Triệu chứng: Đột ngột lên cơn choáng ngã lăn bất tỉnh nhân sự, sùi bọt mép tay chân co quắp, thở đều; người trưởng thành có thể tìm chỗ trước khi ngất.
Sau khoảng 15 phút bệnh nhân lại hồi phục, mọi sinh hoạt trở lại bình thường.
Cây và vị thuốc thiên ma giảm chứng động kinh.
Phương pháp điều trị: Tư bổ can thận an thần, hóa đàm.
Cách dùng: trúc lịch, khương trấp, cam thảo nấu cao. Các vị còn lại (trừ thần sa) sao vàng tán bột, mật và cao cam thảo khương trấp, trúc lịch hoàn viên, thần sa làm áo vừa đủ; phơi hoặc sấy khô ở nhiệt độ thấp (50-70oC). Ngày uống 30g chia đều 4 phần, ngày 3 lần tối 1 lần. Uống với nước chín.
Phòng bệnh: Luôn giữ cho tinh thần thanh thản; Ăn đủ chất dinh dưỡng; Kiêng uống rượu, bia, không ăn những thức ăn cay nóng, không uống nước chè; Tránh xa các vật sắc nhọn, các khu vực gần sông nước ao hồ, bếp lửa đề phòng sang chấn, chết đuối hoặc bỏng; Luôn gần gũi theo dõi các diễn biến khác của bệnh nhân; Tìm nguyên nhân điều trị.
Theo một nghiên cứu mới đây của Bệnh viện Nhi Seatle (thuộc bang Washington, Mỹ) những trẻ sơ sinh bú bình có nguy cơ mắc chứng hẹp phì đại môn vị (một dạng của bệnh tắc nghẽn dạ dày) cao hơn so với trẻ bú sữa mẹ.
Các nhà nghiên cứu phân tích dữ liệu của các trẻ sơ sinh nhập viện tại Bệnh viện Nhi Seatle từ năm 2003 – 2009. Trong số 714 ca phẫu thuật hẹp phì đại môn vị được tìm thấy, trẻ bú bình chiếm 19,5% trong khi con số này ở trẻ bú mẹ là 9% và tỷ lệ này sẽ tăng lên đối với người mẹ lớn tuổi và đã từng một lần sinh con.
Kết quả nghiên cứu này sẽ giúp ích các nhà khoa học rất nhiều trong việc tìm ra nguyên nhân cũng như cách chữa trị của chứng hẹp phì đại môn vị.
Huệ Hương (Theo Xinhua, 10/2013)
Hiện chưa có phương pháp nào có hiệu quả trong việc điều trị thoái hóa điểm vàng. Tuy nhiên mới đây, các nhà nghiên cứu của Trường đại học Tufts (Massachusetts), Mỹ cho biết, họ đang nghiên cứu một loại thuốc nhỏ mắt để chữa trị căn bệnh này.
Trong thí nghiệm trên, những con chuột mắc chứng thoái hóa điểm vàng, các nhà khoa học đã sử dụng loại thuốc nhỏ mắt có chứa chất PPADS (axit pyridoxalphosphate-6-azophenyl-2’,4’-disulfonic) hàng ngày. Chất này có khả năng làm lành những tổn thương ở mắt do bệnh thoái hóa điểm vàng gây ra. Kết quả cho thấy loại thuốc nhỏ mắt này đã dần giúp phục hồi thị lực của những con chuột trong thí nghiệm.
Rajendra Kumar-Singh, Giáo sư nhãn khoa, người đứng đầu nghiên cứu cho biết trong 5 năm tới, loại thuốc nhỏ mắt này sẽ được thử nghiệm trên bệnh nhân.
Minh Thu (Theo Health, 10/2013)
Chỉ cần tập thể dục 38 phút mỗi ngày, duy trì trọng lượng bình thường, sẽ giảm 44% nguy cơ ung thư tử cung của chị em phụ nữ. Một nghiên cứu mới của các nhà khoa học Anh vừa cho biết.
Các nhà nghiên cứu đã phân tích kết quả các nghiên cứu khoa học trên quy mô toàn cầu, tiến hành từ năm 2007 về ung thư tử cung, chế độ ăn uống, hoạt động thể chất và trọng lượng cơ thể. Kết quả của các nhà nghiên cứu này cho thấy, 44% các trường hợp có thể tránh khỏi nguy cơ ung thư nếu hoạt động thể chất ít nhất 30 phút mỗi ngày, 5 ngày mỗi tuần. Theo các nhà khoa học, có mối liên hệ giữa chất béo cơ thể và ung thư, khi cơ thể có quá nhiều mỡ thừa, các tế bào mỡ sẽ giải phóng hormon là nguyên nhân gây một số bệnh ung thư. Hoạt động thể chất thường xuyên giúp giữ cho các hormon khỏe mạnh, tăng cường hệ thống miễn dịch và duy trì hệ tiêu hóa khỏe mạnh. BS. Elisa Bandera, Phó giáo sư dịch tễ học, Viện Ung thư Rutgers nhấn mạnh: Ung thư nội mạc tử cung là một trong những bệnh ung thư phổ biến nhất đối với phụ nữ, nhưng có thể giảm được đáng kể nguy cơ mắc căn bệnh này bằng cách duy trì cân nặng ổn định và tập thể dục đều đặn hàng ngày.
M.H (Theo Dailymail, 9/2013)
Bệnh đau nửa đầu (còn gọi là migraine) là một bệnh mãn tính, nữ thường bị nhiều hơn nam. Biểu hiện của bệnh là những cơn đau kịch phát, không theo chu kỳ nhất định, kéo dài 2-4 giờ ở nửa bên đầu và có thể kèm theo triệu chứng buồn nôn, ói mửa.
Nguyên nhân dẫn đến bệnh đau nửa đầu:
– Uống hoặc ăn nhiều thực phẩm có chứa chất caffein có thể gây ra chứng đau nửa đầu. Caffein có trong cà phê, soda, trà, chocolate, thành phần thuốc bổ trợ, ví dụ như các thuốc về ăn kiêng.
– Những loại thuốc làm giãn các tế bào máu như hydralazine hay loniten cũng có thể gây ra chứng đau nửa đầu. Một số loại khác cần tránh nữa là: cimetidine, fenfluramine, indomethacin, nitroglycerine, nifedipine, theophylline.
Đau nửa đầu là bệnh hay gặp ở phụ nữ.
– Đau nửa đầu có thể xảy ra khi bạn ngửi quá nhiều mùi nước hoa, hít khói thuốc, sơn, chất ammonia. Ánh đèn quá sáng hoặc lập lòe, ánh nắng gắt của mặt trời cũng có thể gây ra tình trạng này. Tránh những yếu tố trên cũng là điều cần thiết để bảo vệ sức khỏe.
– Việc thay đổi mùa và thời tiết đột ngột, ví dụ như: thay đổi nhiệt độ, độ ẩm, áp thấp nhiệt đới, mưa đột ngột cũng sẽ gây ảnh hưởng đến căn bệnh này. Độ cao cũng làm đầu bị đau đối với những người mắc chứng này. Những người bị chứng đau nửa đầu thường gặp tình trạng đau đầu khi đi máy bay.
– Chứng đau nửa đầu thường xảy ra đối với phụ nữ trong chu kỳ kinh nguyệt và sẽ suy giảm vào thời kỳ mãn kinh. Đa số phụ nữ mới sinh và mang thai có thể không bị ảnh hưởng nhiều bởi căn bệnh này, nhưng vẫn có một số trường hợp bị chứng đau nửa đầu.
Để điều trị, bên cạnh việc dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ, bệnh nhân cũng cần lưu ý chế độ ăn uống và sinh hoạt hợp lý như:
– Ngủ quá nhiều hoặc ngủ chập chờn cũng ảnh hưởng đến chứng đau nửa đầu. Quan trọng là giấc ngủ của bạn phải thật sâu. Khởi động trước khi ngủ với chế độ hợp lý: để đèn ngủ mờ, tắt tivi hoặc đi tắm.
– Tập thể dục cũng là một phương pháp giúp giảm đau nửa đầu. Nhưng, những bài tập thể dục quá nặng so với sức khỏe của bạn, có thể gây ra tình trạng đau nửa đầu và ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe.
– Có một chế độ ăn kiêng với nhiều chất xơ, để tránh tình trạng táo bón. Không nên để thời gian giữa các bữa ăn quá lâu, điều này sẽ giúp bạn tránh được chứng đau nửa đầu.
– Không nên để mình rơi vào tình trạng bị đói, nếu bạn không muốn tình trạng đau nửa đầu tiếp tục xảy ra. Không bỏ bữa, ăn thức ăn nhanh hoặc để thời gian giữa 2 bữa ăn quá lâu. Chế độ ăn uống của bạn phải được cung cấp đầy đủ canxi, vitamin và magiê.
Theo Phụ nữ
Có nhiều nguyên nhân gây suy thận như tăng huyết áp, đái tháo đường, sỏi thận,… và tới 10% bệnh nhân bị suy thận là do viêm cầu thận. Trong đó, chị Nguyễn Thị Thanh Nh. (ở TP. Phủ Lý, tỉnh Hà Nam) và chị Trần Thị H. (ở huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình) là 2 trong nhiều trường hợp bị viêm cầu thận chuyển sang suy thận mạn tính.
Phát hiện mắc phải căn bệnh viêm cầu thận từ năm 1996 khi vừa học xong lớp 12, chị Nh. bỗng nhiên bị phù ở mặt. Đi khám, bác sĩ chẩn đoán chị bị viêm cầu thận mạn. Sau đó, chị chữa chạy ở nhiều nơi vàtưởng bệnh đã khỏi, nhưng thật không ngờ, đến khi lập gia đình, rồi mang thai đứa con đầu lòng, chị bị phù nặng, người mệt mỏi. Bác sĩ cho biết, chị bị suy thận độ II và chỉ định mổ gấp để cứu đứa con. Sau một tuần, chị được chuyển sang bệnh viện có chuyên khoa thận điều trị. Nằm viện 20 ngày, chị xuất viện với chỉ số creatinin trong máu là 159 micoromol/lít. Những lần khám lại sau, chỉ số creatinin của chị luôn ở mức cao trên 100 micromol/lít (ngưỡng cho phép ở nữ giới là từ 53-100 micromol/lít).
Với trường hợp của chị H., khi thấy chân, tay, mặt sưng phù, nước tiểu đục… chị đi khám, bác sĩ chẩn đoán bị viêm cầu thận và cho thuốc tây y về dùng, bệnh có đỡ hơn. Từ đó, do công việc bận rộn nên chị quên đi căn bệnh của mình. Rồi một ngày, chị H. bỗng thấy mặt hơi nặng, da xanh xao, nước tiểu đỏ, tiểu dắt, tiểu 2 lần/đêm, người mệt kinh khủng và sút 4kg. Đi khám, chị nhận được kết quả bị suy thận độ IIIa và gần như suy sụp.
Ảnh minh họa
Khi đang loay hoay tìm phương pháp đẩy lùi suy thận, chị Nh. và chị H. may mắn biết đến Ích Thận Vương nên đã mua về sử dụng: “Dùng Ích Thận Vương được 10 hộp, tôi thấy tinh thần thoải mái, da đỡ xanh, đỡ chóng mặt, cảm thấy yên tâm, sức khỏe tốt hơn. Đặc biệt, khi đi khám lại, chỉ số creatinin của tôi đã giảm xuống trong ngưỡng cho phép, ổn định ở mức 90 micromol/lít”- chị Nh. cho biết.
Còn với trường hợp của chị H., uống sản phẩm Ích Thận Vương được một thời gian, chị thấy ăn ngon miệng, ngủ ngon hơn, tình trạng đi tiểu đêm không còn nữa, da dẻ hồng hào. Sau 3 tháng, chị thấy mình tăng cân trở lại, người khỏe mạnh hơn, chức năng thận cải thiện rõ rệt.
Chuyên gia Nguyễn Nguyên Khôi cho biết: Ích Thận Vương là sản phẩm có thành phần hoàn toàn từ thiên nhiên, không gây tác dụng phụ, giúp hỗ trợ điều trị, cải thiện chức năng thận và các triệu chứng phù, mệt mỏi, tiểu đêm, tăng creatinin huyết…; kiểm soát các nguyên nhân gây suy thận như đái tháo đường, tăng huyết áp, sỏi thận… trong đó có viêm cầu thận. Do vâỵ, bệnh nhân hoàn toàn có thể dùng sản phẩm này lâu dài để phòng ngừa, hỗ trợ điều trị suy thận. Đồng thời, cần kết hợp với chế độ dinh dưỡng khoa học, dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ.
Kiều Mi
CÁCH SỬ DỤNG ÍCH THẬN VƯƠNG HIỆU QUẢ:
Sản phẩm Ích Thận Vương là sự phối hợp độc đáo giữa những thành phần nguồn gốc thiên nhiên, an toàn, hiệu quả trong hỗ trợ điều trị, phòng ngừa suy thận; cải thiện chức năng thận, bảo vệ thận; kiểm soát triệu chứng; giúp làm chậm tiến trình suy thận, giảm nhu cầu lọc máu ở bệnh nhân chạy thận. Ngoài ra, Ích Thận Vương còn giúp kiểm soát các nguyên nhân gây suy thận như: đái tháo đường, tăng huyết áp, sỏi thận,…
Để phòng bệnh, ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 viên Ích Thận Vương. Để hỗ trợ điều trị, ngày uống 2 lần, mỗi lần 2-3 viên. Dùng liên tục theo từng đợt liên tục từ 3-6 tháng.
Điện thoại tư vấn: 04.37757066 / 08.39770707
* Sản phẩm này không phải là thuốc, không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh
Khi bị gút cấp có thể điều trị bằng thuốc hiện có và nếu bệnh nhân được điều trị đúng cùng với chế độ ăn kiêng phù hợp thì có thể ngăn ngừa được hoặc làm kéo dài thời gian phát bệnh. Nhưng đây là loại bệnh mạn tính không thể chữa khỏi, nghĩa là bệnh nhân phải chấp nhận chế độ ăn kiêng và theo dõi bệnh suốt đời.
Bệnh gout (gút) là do lắng đọng các tinh thể urat (monosodium urat) hoặc tinh thể acid uric gây viêm khớp, thường gặp ở nam giới độ tuổi 40 trở lên. Bệnh thường có những đợt kịch phát, tái phát nhiều lần rồi trở thành mạn tính. Khi đã xác định là mắc bệnh gút, chế độ ăn uống có ý nghĩa rất quan trọng nhằm hạ acid uric máu.
Những hậu quả khi mắc bệnh gút
Nếu không được điều trị hoặc để cơn gút xảy ra nhiều lần sẽ gây hủy khớp dẫn đến tàn phế, lúc đó cần đến các phẫu thuật tái tạo lại khớp. Khoảng 20% bệnh nhân gút bị sỏi thận do chính tinh thể urat lắng đọng gây ra sỏi làm tắc nghẽn đường tiết niệu có thể gây suy chức năng thận, nhiễm khuẩn đường tiết niệu có thể ảnh hưởng đến tính mạng. Một số bệnh nhân có các cục ở dưới da như vùng khuỷu, mắt cá… gọi là cục tophi là do lắng đọng tinh thể urat, khi vỡ làm chảy ra một chất bột trắng giống như phấn. Khi khớp bị viêm nhiều lần gây dày, hạn chế vận động của khớp. Nếu khi khớp bị hư hoàn toàn thì chỉ có thể thay khớp bằng khớp nhân tạo nhưng vẫn làm hạn chế khả năng vận động, giảm khả năng lao động.
Hạn chế thức ăn có nhiều nhân purin như thịt, cá nạc.
Bệnh có nhiều biến chứng như biến dạng khớp, sỏi thận, suy thận. Nhưng điều đáng chú ý là bệnh nhân mắc bệnh gút thường có thể mắc một số bệnh kèm theo như tăng huyết áp, đái tháo đường, béo phì, rối loạn lipid máu, bệnh mạch vành, bệnh mạch máu não là những bệnh của hội chứng chuyển hoá có liên quan đến chế độ ăn và cho thấy gánh nặng sức khỏe cộng đồng lớn nhất.
Nguyên tắc ăn uống
Hạn chế thức ăn có nhiều nhân purin như thịt, cá nạc, hải sản, gia cầm. Nếu ăn thì cần luộc chín và đổ nước luộc đi không dùng. Đồng thời cần hạn chế các loại phủ tạng động vật như gan, bầu dục, óc, lòng, dồi lớn…; Hạn chế thức uống có nhiều base purin như rượu, bia, chè, cà phê, nước ép thịt; Các loại rau, quả có vị chua. Nên uống nhiều nước, uống các loại khoáng kiềm (bicarbonat), ăn các loại quả, rau có tính chất lợi tiểu để tránh acid uric ứ đọng lại trong cơ thể.
Trong đợt gút cấp chế độ ăn cần lưu ý
Sử dụng chất đạm từ trứng, sữa, pho mát, các loại hạt (chú ý bệnh nhân có cholesterol máu cao không nên dùng trứng quá 2 lần/tuần). Chất bột đường sử dụng bằng gạo, mì, khoai, đường, kẹo (riêng những người thừa cân và béo phì thì không nên ăn nhiều đường và kẹo, bệnh nhân bị đái tháo đường thì nên dùng loại đường, sữa dành cho bệnh nhân tiểu đường). Chất béo sử dụng bằng bơ, dầu thực vật. Không dùng đậu, đỗ trong đợt cấp.
PGS. TS. Trần Minh Đạo
Thời tiết thay đổi, nhiệt độ môi trường chuyển từ nóng sang lạnh là giai đoạn bùng phát của các loại bệnh hô hấp trong đó có hen phế quản.
Biểu hiện đặc trưng của cơn hen phế quản
Hen phế quản là một tình trạng chít hẹp cấp tính của đường hô hấp do co thắt, phù nề và tăng tiết dịch trong lòng phế quản xảy ra bởi nhiều nguyên nhân từ đó làm bệnh nhân khó thở với các mức độ từ nhẹ đến nặng.
Ảnh google.
Đặc trưng cơ bản của cơn hen phế quản là xảy ra từ từ (một số trường hợp có thể đột ngột, dữ dội) với các triệu chứng như tức ngực, cảm giác đè nặng, chẹn ngực; khó thở nghe có tiếng cò cử, khó thở thì thở ra (bệnh nhân hít vào thì dễ hơn khi thở ra), ho nhiều; thở nhanh nông, tím môi đầu chi; co kéo cơ hô hấp… và có những trường hợp suy hô hấp nặng tiến triển nhanh có thể làm bệnh nhân tử vong nhanh chóng nếu không được can thiệp cấp cứu kịp thời.
Theo thống kê, cho tới năm 2011, trên thế giới có khoảng 235 – 330 triệu người mắc bệnh hen với tỷ lệ mắc trong dân số dao động từ 2 – 18% và tỷ lệ này cao hơn ở các nước đang phát triển. Hen phế quản cũng thường gặp ở trẻ em hơn là người lớn và phụ nữ thì bị nhiều hơn nam giới. Hai nhóm bệnh nguyên chính là hen do cơ địa và do môi trường (các tác nhân vi khuẩn, virut, chất gây dị ứng…).
Các yếu tố nguy cơ
Tại sao cơn hen lại hay xuất hiện ở một số người này mà lại không xuất hiện ở những người khác cho đến nay chưa được rõ, nhưng có một số tác nhân được cho là yếu tố khởi phát cho sự xuất hiện của cơn hen và các yếu tố này kết hợp với yếu tố “cơ địa” của bệnh nhân để làm bùng phát cơn hen.
Đó là các yếu tố như các tác nhân dễ gây dị ứng: phấn hoa; lông động vật (chó, mèo, thỏ…); nấm mốc; thực phẩm (cua, sò, ốc, tôm); thuốc các loại… Người bị cơn hen do dị ứng thường có tiền sử viêm mũi dị ứng, hay mẩn đỏ, ngứa khi tiếp xúc với các chất như trên.
Chu kỳ hen phế quản.
Nhiễm khuẩn đường hô hấp cũng là yếu tố kích thích cho cơn hen xuất hiện bởi sự viêm nhiễm do vi khuẩn hoặc virut gây ra tăng tiết phù nề đường hô hấp và độc tố của chúng là những yếu tố gây co thắt cơ phế quản. Hút thuốc lá, thuốc lào, bên cạnh những tác hại lâu dài về tim mạch, ung thư phổi… còn là tác nhân hàng đầu kích thích khởi phát những cơn hen phế quản nặng và việc điều trị cắt cơn cũng khó hơn ở những bệnh nhân hen nghiện thuốc lá.
Ở những người bị hen, việc tiếp xúc với môi trường bị ô nhiễm như khói, bụi, ẩm mốc… cũng dễ dàng làm cơn hen xuất hiện. Trào ngược dạ dày – thực quản khiến cho một phần dịch vị có tính acid cao lọt vào đường hô hấp gây nên những thương tổn mạn tính và kích thích các cơ phế quản co thắt làm bệnh nhân khó thở. Ngoài ra, nhiều người còn bị chứng hen khi gắng sức nhiều (khi lao động, khi chơi các môn thể thao…), chứng hen do thuốc (ví dụ như hen do aspirin), hen do nghề nghiệp phải tiếp xúc với bụi bông, bụi phấn, hóa chất… và cuối cùng, thời tiết khi giao mùa với những đặc điểm như nhiệt độ xuống thấp, độ ẩm cao sẽ khiến cho cơ thể giảm sức đề kháng, dễ dàng bùng phát những cơn khó thở ở những bệnh nhân đang bị chứng hen phế quản.
Dự phòng được không?
Nói chung, có thể dự phòng tương đối có hiệu quả việc khởi phát cơn hen phế quản khi giao mùa bằng các biện pháp như ăn mặc đủ ấm, tránh ra ngoài khi trời lạnh. Đối với những người có nguy cơ cao bị hen (tính chất gia đình, cơ địa dị ứng…), nên tránh tiếp xúc với những chất dễ gây dị ứng như phấn hoa, bụi bẩn, hóa chất, khói thuốc lá. Người bị bệnh hen phế quản phải giữ gìn cẩn thận, tránh các nhiễm khuẩn đường hô hấp; bỏ rượu, thuốc lá; ăn uống đầy đủ, tập luyện thường xuyên để nâng cao sức khỏe. Ở những người mà tần suất bị hen dày khi trở lạnh, có thể dùng thuốc xịt hoặc thuốc uống dự phòng như các thuốc giãn phế quản, corticoides theo hướng dẫn của thầy thuốc chuyên khoa.
TS. BS. Vũ Đức Định
Tuyển dụng nhân viên
Our Spring Sale Has Started
You can see how this popup was set up in our step-by-step guide: https://wppopupmaker.com/guides/auto-opening-announcement-popups/