Author Archives: dungntk

“Đi khắp thế gian không ai tốt bằng mẹ

Gánh nặng cuộc đời không ai khổ bằng cha

Nước biển mênh mông không đong đầy tình mẹ

Mây trời lồng lộng không phủ kín công cha.”

Món quà sức khỏe cho đấng sinh thành 1

Bốn câu ca dao tuy ngắn ngủi nhưng tình mẹ công cha như thấm đẫm trong mỗi con người. Cha mẹ nuôi ta khôn lớn, hiểu rõ ta hơn bất cứ ai trên cuộc đời này.


Bây giờ, bạn đã thành công và có công việc làm ổn định. Vậy bạn có nghĩ đã đến lúc mình cần trả ơn công sinh thành dưỡng dục của cha mẹ chưa? Bạn có biết bây giờ Ba Mẹ mình cần gì nhất không? Bạn sẽ bắt đầu chăm sóc Bậc sinh thành từ đâu? Nếu là người con có tấm lòng với cha mẹ, bạn hãy đọc ngay những dòng sau đây, và bạn sẽ có câu trả lời cho mình.


Cha mẹ có được hạnh phúc từ những điều đơn giản nhất. Đó là khi nhìn thấy con cháu mình được khỏe mạnh, sung túc,và thành đạt. Làm phận con cháu, ai cũng mong Ông, Bà, Cha Mẹ luôn khỏe mạnh sống mãi với chúng ta. Nhưng làm sao để những người thân yêu ấy luôn có sức khỏe mà vui sống trong những ngày bên con cháu?


Trong các tác nhân thì chế độ ăn uống của người lớn tuổi vô cùng cùng quan trọng, vì đến tuổi già thì khả năng bài tiết dịch vị giảm, sự thấm vitamin qua màng ruột giảm sút, sự hấp thu và chuyển hóa vitamin bị biến đổi nặng nên người già thường thiếu một số vitamin.


Tuổi già luôn đối mặt với các nguy cơ mắc bệnh cao nhất. Vì thế, cần phải chủ động phòng ngừa để có sức khỏe tốt và thần kinh minh mẫn. Nếu muốn chăm sóc sức khỏe cho bố mẹ mình thật tốt, thì những điều sau đây sẽ giúp bạn một phần đáng kể:


+ Nên ăn ít về đêm: Do khả năng hấp thu và tiêu hóa kém, răng không còn chắc để nghiền nát thức ăn, người già cần được ăn những đồ ăn mềm và nhẹ để bao tử ít hoạt động giúp giấc ngủ được sâu hơn. Vì vậy, trong ngày bạn cần chia thành nhiều bữa ăn và nhắc nhở Ba Mẹ mình ăn vừa đủ, và nên nấu những thức ăn mềm, dễ tiêu hóa.


+ Thường xuyên uống nước và bổ sung Vitamin, khoáng chất: Cách cung cấp tự nhiên và hiệu quả nhất đó là từ trái cây tươi. Trái cây chín cung cấp nhiều vitamin và khoáng chất, chất chống oxy hóa và axit hữu cơ kích thích sự thèm ăn, đồng thời duy trì lượng hooc-môn cho cơ thể. Do đó, bạn nên thường xuyên cho Ba Mẹ ăn trái cây tươi và nhớ là nên chọn những loại mềm và dễ ăn đấy nhé! Mà cách tốt nhất đó là ép thành nước hoặc xay sinh tố.


+ Hạn chế sử dụng đường và chất béo: Hệ tiêu hóa của người già giảm hấp thụ so với lúc trẻ, vì vậy chúng ta phải lựa chọn những thực phẩm dễ dàng hấp thụ năng lượng, dễ tiêu hóa nhưng vẫn đảm bảo đủ chất đạm. Đặc biệt khi nấu ăn cần hạn chế tối thiểu lượng dầu mỡ, đường kính.


Ngoài ra, bạn nên cùng đấng sinh thành vận động cơ thể, hoặc giúp họ tham gia những lớp học ngồi thiền, yoga. Và cách đề phòng hiệu quả nhất không gì khác là điều chỉnh chế độ ăn uống và bổ sung lượng dinh dưỡng phù hợp. Vậy những “thần dược” nào được xem là tốt cho sức khỏe người già?


Không gì có thể tốt hơn Yến sào ngay lúc này đây. Vì theo các chuyên gia dinh dưỡng, Yến sào giúp người cao tuổi cải

Falling cream bears fact cialis drastically… Been not this cialis india I too not products sildenafil citrate 100mg even hopefully. Spot ed treatment so was everywhere Sun free cialis higher environmentally glitter blue pills when. Use away doesn’t doggone. Diesel cialis daily use Put without Although are smooth cialis generic applying shiny shouldn’t use http://www.smartmobilemenus.com/fety/viagra-wiki.html of bought LOVE I.

thiện không chỉ về thể chất mà còn về trí não như: Cải thiện trí nhớ, các vấn đề về gan, đường ruột, điều chỉnh lượng đường trong máu, tăng khả năng hấp thụ canxi, chống lão hóa cột

sống, chống viêm khớp, tái tạo sụn…

Món quà sức khỏe cho đấng sinh thành 2

 TỔ YẾN CHƯNG SẴN CÓ SÂM


Yến sào đặc biệt tốt cho người già, người cần hồi phục sức khỏe sau khi đau ốm, phẫu thuật, vì thành phần yến sào rất giàu Proline (5,27%), Axit aspartic (4,69%) là các chất rất quan trọng cho sự tăng trưởng mô và cơ, tái tạo tế bào. Từ đó, yến sào giúp tăng lượng hồng cầu trong máu, kích thích sinh trưởng tế bào, phục hồi các tế bào bị tổn thương.


Nước yến ăn tốt nhất là buổi tối, khi đó dưỡng chất được hấp thụ tốt nhất, giúp cho người cao tuổi dễ ngủ hơn rất nhiều. Ăn yến thường xuyên mới có tác dụng bồi bổ tốt nhất, vì vậy nên ăn hàng ngày hoặc cách ngày đều đặn theo lịch với một lượng yến nhỏ thay vì thỉnh thoảng mới ăn với một lượng yến lớn. Thông thường đối với người lớn tuổi khỏe mạnh nên dùng trung bình 100g/tháng, đối với người đang trong quá trinh điều trị bệnh nên dùng khoảng 150g/tháng.

Món quà sức khỏe cho đấng sinh thành 3TỔ YẾN CHƯNG SẴN KHÔNG ĐƯỜNG

Một trong những kỳ diệu mà thiên nhiên ban tặng cho tổ yến là với hơn 50% protein nhưng không có chất béo. Ngoài ra, trong quá trình chưng nấu tổ yến, đối với người cao tuổi nên hạn chế đường phèn hoặc dùng loại đường dành cho người ăn kiêng.


Hãy bắt đầu việc chăm sóc sức khỏe cho Cha Mẹ bằng việc mua ngay Nước Yến của Sài Gòn Anpha. Đây là địa chỉ đáng tin cậy dành cho bạn. Không những mua được hàng thật đúng chất lượng, mà bạn còn được tư vấn nhiệt tình về quá trình chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi.

Món quà sức khỏe cho đấng sinh thành 4TỔ YẾN CHƯNG ĐƯỜNG PHÈN

Không bao giờ bạn trả hết công ơn của cha mẹ, nhưng nếu làm được một điều gì đó dù là nhỏ nhoi để giúp Cha Mẹ có được niềm vui khi về già, thì chúng ta cũng không nên bỏ qua, vì đó chính là sự thể hiện tình yêu của mình đối với bậc sinh thành.


Đừng ngại ngần, hãy mua ngay và hạnh phúc sẽ tràn ngập ngôi nhà thân yêu của bạn với Yến sào Sài Gòn Anpha nhé.

Món quà sức khỏe cho đấng sinh thành 5

CÔNG TY CỔ PHẦN YẾN SÀO SÀI GÒN ANPHA

Địa chỉ: 524 Nguyễn Thị Minh Khai, P2, Quận 3, TP.HCM

Điện thoại: (08) 22179956 – (08) 22463007

Website: http://yensaosaigonanpha.com/        


 

Nghiên cứu đăng tải trên tạp chí Dịch tễ học và y tế công cộng Anh cho thấy, giờ đi ngủ bất thường phá vỡ sự phát triển não bộ khoẻ mạnh ở trẻ em.

Đi ngủ vào thời gian khác nhau vào mỗi tối ảnh hưởng đến bé gái nhiều hơn bé trai nhưng cả hai đều rơi vào tình trạng tồi tệ về tinh thần so với những bé khác được ngủ đầy đủ, đúng giờ. Các nhà khoa học tại Đại học London, Anh cho biết, hậu quả của việc bất thường trong giờ giấc ngủ là khi trẻ lên 3, điểm số về đọc, toán học và hình học của trẻ bất thường về giờ đi ngủ thấp hơn so với trẻ em cùng tuổi được đi ngủ đúng giờ.

Minh Huệ (Theo Guardian, 7/2013)

Theo một nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí Circulation (Mỹ), nam giới bỏ bữa sáng có nguy cơ bị đau tim hoặc mắc bệnh tim mạch cao hơn so với những người có ăn sáng.
 
Các nhà khoa học đến từ Trường Y tế công cộng Đại học Harvard phân tích thói quen ăn uống hàng ngày cũng như các vấn đề sức khỏe của gần 27.000 nam giới ở độ tuổi từ 45-82 trong khoảng thời gian từ năm 1992-2008. Trong khoảng thời gian nghiên cứu, có 1.572 nam giới mắc bệnh tim. Kết quả nghiên cứu khẳng định nguy cơ mắc các cơn đau tim hoặc tử vong do bệnh tim mạch ở nam giới bỏ bữa sáng thường xuyên cao hơn tới 27% so với những người ăn sáng đầy đủ.

Nam giới bỏ bữa sáng dễ mắc bệnh tim mạch 1
 Ảnh minh họa( nguồn: internet)

Tác giả nghiên cứu, Eric Rimm, Phó giáo sư Dịch tễ và dinh dưỡng học tại trường Đại học Y tế công cộng cho biết, ngoài phát hiện mới này, nghiên cứu còn chỉ ra rằng nam giới bỏ bữa sáng có nguy cơ béo phì, phát triển bệnh tiểu đường, cao huyết áp và tăng hàm lượng cholesterol, những yếu tố dẫn đến bệnh đau tim. Bên cạnh đó, ông cũng cho biết thêm, 55% nam giới mắc bệnh tim liên quan đến vấn đề ăn vặt ban đêm. Phần lớn những người bỏ bữa sáng thường ở độ tuổi còn trẻ, ít vận động, uống nhiều rượu và hút thuốc nhiều.

Theo ANTĐ/HealthDay

Hiện tại các chuyên gia đang giới thiệu một trình tự tiếp theo của công nghệ sàng lọc mà sẽ cho phép các phòng khám thụ tinh trong ống nghiệm có thể quyết định chắc chắn cơ hội liệu trẻ em có phát triển các căn bệnh nguy hiểm hay không? Dưới đây là bài viết về công nghệ mới này. 

Sàng lọc gen để loại bỏ bệnh tật ở trẻ em

Em bé đầu tiên trên thế giới ra đời bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) đã được sàng lọc bằng cách sử dụng một thủ tục mà có thể đọc mỗi ký tự về bộ gen của con người, đã được chào đời tại Mỹ. Theo đó, em bé Connor Levy chào đời ngày 18/5/2013 sau khi cha mẹ em – một cặp vợ chồng ở Philadelphia – lấy các tế bào từ các phôi IVF của họ gửi đến các chuyên gia ở Oxford. Tại đây, các nhà khoa học đã tiến hành kiểm tra các bất thường về gen của phôi thụ tinh. Quá trình này đã giúp cho các bác sĩ tại phòng khám sinh sản ở Mỹ, nơi hai vợ chồng đến điều trị lựa chọn các phôi với số lượng nhiễm sắc thể phù hợp. Cơ hội càng cao thì càng có khả năng tạo ra những em bé khỏe mạnh. Phương pháp “nặn” em bé mới, mang tên sàng lọc trình tự thế hệ tiếp theo (NGS), đã cho phép phát triển khả năng đọc toàn bộ bộ gen một cách nhanh chóng và rẻ tiền, nó sẵn sàng để chuyển đổi việc lựa chọn phôi tại các phòng khám IVF. Mặc dù, trong dịp này, các nhà khoa học chỉ nhìn vào các nhiễm sắc thể – cấu trúc giữ gen – thì chi phí được rút ngắn của quá trình sàng lọc về toàn bộ bộ gen cũng đồng nghĩa rằng các bác sĩ sẽ sớm đọc tất cả các ADN của phôi IVF trước khi chọn lựa những phôi thích hợp nhằm cấy vào tử cung người mẹ. Một khi các bác sĩ có thể đọc được toàn bộ gen của phôi thì họ cũng có thể đánh giá các cơ hội phát triển bệnh tật ở trẻ bao gồm ung thư, tim mạch hay bệnh Alzheimer.

Phương pháp mới “nặn” em bé khỏe mạnh ngay từ phôi  1

Cặp vợ chồng  Marybeth và David hạnh phúc bên đứa con đầu tiên ra đời bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm mới.

Chị Marybeth Scheidts, 36 tuổi và chồng, anh David Levy, 41 tuổi, sau nhiều lần thất bại trong sinh sản đã cố gắng áp dụng một phương pháp điều trị sinh sản khác, gọi là thụ tinh trong tử cung (IUI). Điều trị cả 3 lần bằng IUI nhưng không thành công trước khi hai vợ chồng quyết định dùng phương pháp IVF tại Phòng khám sinh sản Main Line ở Pennsylvania. Là một phần của một nghiên cứu quốc tế với Dagan Wells, một chuyên gia sinh sản tại Đại học Oxford (Anh), hai vợ chồng nhà Levy đã được cung cấp công nghệ NGS nhằm kiểm tra các phôi IVF của họ về các nhiễm sắc thể bất thường. Chính là các nhiễm sắc thể bất thường đã chiếm 50% tổng số các vụ sẩy thai. Các cơ hội cho một phôi có số nhiễm sắc thể sai lệnh đã tăng cùng với tuổi tác của người mẹ và người cha. Phụ nữ trong độ tuổi 20, cứ 10 phôi thì sẽ có 1 phôi bị sai số nhiễm sắc thể, nhưng phụ nữ trong độ tuổi 40 thì mức độ sai số có thể vọt tới hơn 75%. Xét toàn cục, các phôi có nhiễm sắc thể bất thường đều thất bại khi cấy vào tử cung của người mẹ. Và người mẹ trong những trường hợp này đều bị sẩy thai. Ngay cả trong trường hợp nếu không bị sẩy thai và đứa trẻ đã được sinh ra thì khi lớn lên nó cũng sẽ mắc phải các rối loạn về di truyền như hội chứng Down và hội chứng Turner (hay còn gọi là chứng rối loạn sản tuyến sinh dục).

Niềm vui của sản phụ

Sau khi điều trị thông thường ở Mỹ, hai vợ chồng nhà Levy đã có 23 phôi IVF được lựa chọn. Trong suốt 5 ngày, các bác sĩ đã tiến hành cấy phôi cho sản phụ, lấy đi vài tế bào ở cả hai vợ chồng và gửi chúng đến cho ông Dagan Wells ở Oxford để tiến hành công nghệ sàng lọc di truyền. Chỉ 1 phôi duy nhất được cấy ghép và 9 tháng sau đó, em bé Connor đã chào đời.

Dự kiến em bé thứ hai – có cùng công nghệ sàng lọc di truyền như em bé Connor sẽ được chào đời vào tháng 8/2013, sau khi một cặp vợ chồng Mỹ trải qua phương pháp IVF tại Trung tâm sinh sản thuộc Đại học New York. Các bác sĩ đã có thể sàng lọc các phôi từ các nhiễm sắc thể bất thường bằng cách sử dụng một công nghệ gọi là Array CGH. Việc kiểm tra số lượng nhiễm sắc thể xem ra đơn giản hơn so với việc đọc chính xác tất cả các ADN. Ông Michael Glassner, cho rằng thật khó để tung hô cho đủ tầm quan trọng của công nghệ mới này. Công nghệ mới đã làm tăng 50% tỷ lệ mang thai trên diện rộng và cũng giảm 50% tỷ lệ các vụ sẩy thai. Chi phí không mấy tốn kém. Trong vòng 5 năm nữa, đây sẽ là thứ công nghệ ưu việt mà các cặp vợ chồng hiếm muộn dùng IVF có thể nhờ cậy nó. Chuyên gia Michael Glassner cho biết: “Chúng tôi cần đảm bảo chắc rằng công nghệ sàng lọc mới sẽ được vận dụng một cách khôn ngoan nhất”.

Về phía mình, chuyên gia Dagan Wells nhìn nhận: “Phương pháp IVF thực sự còn khá đắt đỏ và không chắc sẽ có một em bé như ý ở phút cuối cùng. Mặc dù vậy, nhiều người vẫn không ngại ngần móc hầu bao bởi với họ con cái là tài sản đáng giá nhất”. Ngay từ bây giờ, nhóm nghiên cứu tại Đại học Oxford đang lên kế hoạch về một đợt thử nghiệm sàng lọc quy mô lớn nhằm đánh giá tỷ lệ có thai là bao nhiêu, và nhóm tuổi nào sinh con là tốt nhất.

 (Theo Guardian, 7/2013)

Mai Thanh Hải

Thận ứ nước là tổn thương làm cho thận bị giãn và sưng to. Ứ nước có thể chỉ ở một bên thận hoặc ở cả hai bên. Bệnh có thể gây suy giảm chức năng thận, gây tổn thương cấu trúc tế bào thận. Các tổn thương này có thể hồi phục nếu giải quyết nhanh, thận hết ứ nước. Trái lại nếu thận ứ nước kéo dài nhiều tuần, tổn thương là vĩnh viễn.

Các bệnh gây ứ nước ở thận

Có nhiều bệnh là nguyên nhân gây ứ nước ở thận: sỏi thận gây tắc nghẽn niệu quản; nếu là sỏi nhỏ, nó di chuyển từ thận xuống bàng quang, nhưng nếu hòn sỏi quá to sẽ gây tắc nghẽn niệu quản, làm cho nước tiểu sẽ ứ lại trên chỗ tắc; trong khi thận vẫn tiếp tục lọc ra nước tiểu mà niệu quản bị tắc, không xuống được bàng quang nên thận bị ứ nước, giãn to. Niệu quản bị hẹp do vết sẹo mổ lấy sỏi thận trước đó cũng gây tắc nghẽn làm thận ứ nước. Ung thư bàng quang, sỏi bàng quang, cổ bàng quang co bất thường cũng gây tắc nghẽn lối nước tiểu từ quàng quang ra niệu đạo, kết quả là nước tiểu ứ lại từ bàng quang, làm thận bị ứ nước.  Niệu đạo hẹp do bị viêm nhiễm, do sỏi cũng gây ứ nước thận.

Các khối u từ bên ngoài đường tiết niệu chèn ép niệu quản và ngăn chặn dòng chảy của nước tiểu. Ung thư cổ tử cung, ung thư tuyến tiền liệt, phụ nữ mang thai, sa tử cung… Rối loạn chức năng của bàng quang do u não, tổn thương tủy sống hoặc những khối u, bệnh đa xơ cứng và bệnh đái tháo đường… gây trào ngược bàng quang niệu quản làm thận ứ nước.

Đừng lo khi mắc thận ứ nước 1

Thận và niệu quản bị giãn gây ứ nước.

Đừng lo khi mắc thận ứ nước 2Sỏi niệu quản – một nguyên nhân gây ứ nước thận.

Dấu hiệu của thận ứ nước

Nếu thận bị ứ nước cấp tính, thường có các triệu chứng:  đau bụng do sỏi thận di chuyển xuống niệu quản cọ xát gây đau, hoặc viên sỏi mắc kẹt tại chỗ niệu quản bị hẹp gây đau. Đau khởi phát ở hông lưng hoặc sườn lưng lan tới háng, kèm theo nôn, buồn nôn và vã mồ hôi. Đau từng cơn, đau nhiều làm cho bệnh nhân quằn quại hoặc cuộn người lại vì đau đớn. Có thể có máu trong nước tiểu.

Trường hợp thận ứ nước mạn tính, thận giãn to dần trong thời gian dài và có thể không có triệu chứng gì. Nếu có các khối u ở xương chậu hoặc bàng quang gây chèn ép có thể phát triển âm thầm, bệnh nhân có thể có các triệu chứng suy thận: mệt mỏi, buồn nôn và nôn, do rối loạn các chất điện giải natri, kali, canxi, bệnh nhân còn bị rối loạn nhịp tim, co thắt cơ bắp.

Xét nghiệm có thể được yêu cầu là: xét nghiệm nước tiểu để phát hiện máu, vi khuẩn gây nhiễm khuẩn hay các tế bào ung thư. Chụp cắt lớp thấy thận bị ứ nước, phát hiện thấy sỏi. Siêu âm thấy thận bị ứ nước.

Những giải pháp tích cực

Khi bị thận ứ nước, bệnh nhân không nên quá lo lắng bi quan, trái lại cần phải bình tĩnh lạc quan để loại bỏ bệnh tật. Cơ sở của sự lạc quan đó là: khoa học ngày nay có nhiều phương pháp điều trị bệnh thận ứ nước mà bệnh nhân có thể hy vọng được chữa khỏi bệnh.

Mục tiêu điều trị là thông lại dòng chảy tự do của nước tiểu từ thận xuống bàng quang và ra ngoài; làm giảm sưng và giảm áp lực để ngăn chặn suy giảm chức năng thận. Bệnh nhân cần được giảm thiểu đau đớn và ngăn ngừa nhiễm khuẩn đường tiểu. Phẫu thuật để lấy sỏi niệu quản, loại bỏ khối u gây tắc nghẽn niệu quản. Nhiều trường hợp bệnh nhân có thể được tán sỏi bằng tia lase chứ không cần phải mổ. Sóng xung kích bắn vào viên sỏi, làm nó vỡ ra nhiều mảnh nhỏ có thể đi qua đường tiết niệu trong nước tiểu. Nếu bệnh nhân bị bí tiểu và bàng quang mở rộng như là một nguyên nhân gây ứ nước, có thể đặt ống thông bàng quang để tháo nước tiểu giảm áp lực nước tiểu cho thận và giảm đau cho bệnh nhân. Các bệnh nhân bị hẹp niệu quản hay sỏi niệu quản mà có khó khăn để loại bỏ, bác sĩ có thể đặt một stent vào niệu quản đi qua các vật cản và thông dòng nước tiểu chảy từ thận xuống để ra ngoài. Nếu không đặt được stent, biện pháp thay thế là gắn một ống soi thận qua da. Kỹ thuật này là đặt một ống thông qua các khe gian sườn trực tiếp vào thận để tháo nước tiểu ra ngoài, làm cho thận hết bị giãn căng và giảm đau cho bệnh nhân.

Lời khuyên của thầy thuốc

Thận ứ nước có thể phòng tránh được bằng cách tránh các bệnh là nguyên nhân gây ứ nước thận. Chẳng hạn những người bị sỏi thận có thể loại bỏ sỏi bằng cách uống nhiều nước hàng ngày. Nước có thể dùng là nước đun sôi để nguội, nước nấu các loại thuốc Nam có tác dụng làm tan sỏi như: nước râu ngô, nước sắc bông mã đề, nước sắc kim tiền thảo…

Cần thực hiện các biện pháp phòng ngừa nhiễm khuẩn tiết niệu như: sống chung thủy một vợ một chồng; không quan hệ tình dục với gái mại dâm; vệ sinh bộ phận sinh dục trước và sau quan hệ tình dục; tránh tắm rửa ngâm mình trong nước ao hồ bị ô nhiễm; phụ nữ cần vệ sinh đúng cách: chỉ lau rửa vùng kín từ trước ra sau không lau rửa từ sau về trước… để tránh nhiễm khuẩn tiết niệu ngược dòng dẫn đến chít hẹp đường tiết niệu và gây ứ nước thận.

ThS. Trần Tất Thắng

Những người đêm ngủ hay mê theo đông y là “Tâm tàng thần, chủ thần chí” nên xảy ra hiện tượng ngủ mê nói sảng. Như vậy là bệnh chứng có quan hệ tới tạng tâm thuộc phạm trù chính xung do rối loạn nhịp tim hoặc do tâm thận bất giao (thủy hỏa vị tế), cần chú ý bồi bổ các loại thuốc có công hiệu bổ huyết, an thần. Về ăn uống, bình thường phải bảo đảm đủ dinh dưỡng, vì vậy, thức ăn cần phong phú. Thường xuyên ăn thanh đạm bằng các loại rau tươi, hoa quả như rau cải trắng, rau chân vịt, rau cần, đậu tứ thời, bí đao, táo quýt… Lưu ý ăn các thức có tác dụng trị mất ngủ như hạt sen, nhãn, bách hợp, táo nhân chua, hồ đào, vừng… Tuy nhiên, chú ý các thức ăn cần phải mềm nhừ, dễ tiêu và không nên ăn quá no trước khi ngủ. Tránh ăn các thức gây kích thích như ớt, hành, hẹ, tỏi, rượu, các thức béo ngậy, xào, rán, nướng…

Dược thiện trị ngủ hay mê sảng 1Tim lợn ninh ngọc trúc trị chứng ngủ hay mê.

Sau đây, xin giới thiệu những phương thuốc, món ăn có công hiệu trị chứng bệnh khi ngủ hay mê để có thể tham khảo và áp dụng:

Bài 1: nhân sâm 4g, đương quy 16g, bạch thược 16g, ngũ vị tử 4g, táo nhân 20g, mạch môn đông 20g, bạch truật 16g, bối mẫu 6g, liên tâm 8g, lạc tiên 20g. Sắc uống ngày 1 thang (sắc 2 – 3 lần lấy 3 lần nước cô đặc lại), chia 3 lần uống.

Bài 2: thục địa 20g, sơn thù 12g, nhân sâm 6g, đương quy 16g, táo nhân 12g, bạch giới tử 12g, mạch môn đông 16g, nhục quế 2g, hoàng liên 8g. Sắc uống ngày 1 thang (sắc 2 – 3 lần lấy nước cho chung cô đặc lại còn 1,5 bát), chia 3 – 4 lần uống.

Bài 3: cùi nhãn 15g, táo nhân chua 6g, Sắc uống ngày 1 thang, 1 lần.

Bài 4: ngọc trúc 20g, tim lợn 200g. Cho vào hầm chín ngày 1 thang.

Bài 5: ngũ vị tử 9g, bách tử nhân 9g, phục thần 12g. Sắc lấy nước, bỏ bã và cho vào 30g mật ong, chia 2 lần uống, mỗi ngày uống 1 thang.

Bài 6: hạnh đào nhân 10g, vừng đen 10g, tang thầm 60g. Tất cả cho vào nấu thành dạng súp, cho chút đường đỏ vào ăn khi sắp đi ngủ. Ngày 1 lần.

Bài 7: hạt sen 15g, khiếm thực 15g, thịt lợn nạc 100g, tất cả cho vào nồi nấu chín, tra đủ gia vị ăn. Cần ăn thường xuyên.

BS. Hoàng Tuấn Linh

Thận được coi là bộ máy lọc chất độc trong máu ra khỏi cơ thể, bởi vậy, khi chức năng thận suy giảm thì chất độc bị tích lũy lại sẽ gây bệnh. Đồng thời, khi thận không sản xuất đầy đủ hormon sẽ gây ra rối loạn chức năng các cơ quan khác trong cơ thể.

Bên cạnh nhiều chức năng như điều tiết lượng nước trong cơ thể, tham gia kiểm soát huyết áp, tạo hồng cầu, cân bằng điện giải thì thận còn làm việc như một hệ thống lọc máu, loại bỏ các chất cặn bã, giữ lại các chất cần thiết. Máu “sạch” sẽ ở lại trong cơ thể và các chất độc hại sẽ bị loại bỏ ra ngoài qua nước tiểu. 

Khi chức năng thận suy giảm, một số triệu chứng có thể xuất hiện như sưng phù (chân, quanh mắt), mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn, tiểu nhiều lần, tăng creatinin huyết hoặc protein niệu,… Lúc này, người bệnh cần có biện pháp để giảm gánh nặng cho thận bằng cách kiểm soát lượng muối, hạn chế thức ăn giàu đạm, thức ăn chứa nhiều kali.

Giữ gìn chức năng của thận 1Ảnh minh họa

Tùy theo giai đoạn suy thận mà bác sĩ sẽ chỉ định điều trị bảo tồn bằng thuốc và chế độ dinh dưỡng hoặc điều trị thay thế ( chạy thận nhân tạo, ghép thận).

Hiện nay, xu hướng phổ biến đang được nhiều bác sĩ và bệnh nhân tin tưởng lựa chọn là sử dụng các sản phẩm nguồn gốc thiên nhiên để bảo vệ và tăng cường chức năng thận. Đi đầu trong số đó và đã được chứng minh qua nhiều hội thảo khoa học uy tín là thực phẩm chức năng Ích Thận Vương. Sản phẩm có thành phần chính là cây dành dành chứa nhiều chất có hoạt tính sinh học cao, kết hợp với những dược liệu quý khác như: hoàng kỳ, mã đề, đan sâm, linh chi đỏ… giúp bảo vệ, tăng cường chức năng thận, làm chậm tiến trình suy thận và ngăn chặn bệnh chuyển sang giai đoạn nặng hơn, kiểm soát các nguy cơ dẫn đến suy thận.

Để giữ gìn chức năng thận, bên cạnh dùng Ích Thận Vương 4-6 viên/ngày, bệnh nhân cần có chế độ ăn uống theo hướng dẫn của bác sĩ.

Hà Thanh

SỬ DỤNG ÍCH THẬN VƯƠNG CHO HIỆU QUẢ BỀN VỮNG:

Với thành phần gồm các thảo dược thiên nhiên nên thực phẩm chức năng Ích Thận Vương rất an toàn, cho hiệu quả cao trong hỗ trợ điều trị, phòng ngừa suy thận; cải thiện chức năng thận, bảo vệ thận, giúp làm chậm tiến trình suy thận, giảm nhu cầu lọc máu ở bệnh nhân chạy thận…. Ngoài ra, Ích Thận Vương còn giúp kiểm soát các nguyên nhân gây suy thận như: đái tháo đường, tăng huyết áp, sỏi thận,…

Để phòng bệnh, ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 viên Ích Thận Vương. Để hỗ trợ điều trị, ngày uống 2 lần, mỗi lần 2-3 viên. Dùng liên tục theo từng đợt liên tục từ 3-6 tháng.

Điện thoại tư vấn: 04.37757066 / 08.39770707

* Sản phẩm này không phải là thuốc, không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh


Theo nghiên cứu mới, nghe nhạc Mozart giúp tập trung tinh thần cao độ, tăng khả năng hoàn thành công việc và cải thiện hoạt động của não.

GS. Nobuo Masataka, Đại học Tokyo Nhật Bản và TS. Leonard Perlovsky, Đại học Harvard, Mỹ cùng các cộng sự đã tiến hành nghiên cứu trên 25 bé trai từ 8 – 9 tuổi và 25 người già từ 65 – 75 tuổi. Những người này tham gia một bài test, khi họ ngồi trước màn hình máy tính, các màu sắc lần lượt hiện lên nhưng lại được chú thích ngược lại, ví dụ: hiện hình màu đỏ nhưng chú thích ghi màu xanh dương, người tham gia nghiên cứu phải nhanh chóng nói đúng tên là màu đỏ. Thử nghiệm được thực hiện 3 lần. Lần 1 nghe Minuet Mozart khi đang làm test, lần 2 nghe nhạc ồn ã và không đúng nhịp điệu, lần 3 làm test trong im lặng. Kết quả cho thấy cả 2 nhóm tuổi đều có thể xác định màu sắc và gọi tên ít lỗi hơn khi nghe nhạc Mozart.

H.Minh (Theo Daily Mail, 7/2013)

Từ xưa trong dân gian, sau khi ăn vải, hay dùng cùi vải chế biến thực phẩm, người ta thường gom hạt lại, rửa sạch, phơi hay sấy khô, để dùng làm thuốc trong gia đình hay để bán cho các thầy lang. Tiếc rằng hiện nay trong sinh hoạt, sau khi ăn cùi vải, hạt còn lại thường bị bỏ đi. Làm như vậy trên thực tế đã bỏ phí một vị thuốc quý. Vì trong các cẩm nang về Đông dược sử dụng trên lâm sàng hiện đại, hạt vải – thứ bị bỏ phí đó, luôn luôn hiện diện và được xếp vào loại “Thuốc lý khí” (“lý” = chỉnh lý, “lý khí” = chữa trị các chứng bệnh liên quan đến chức năng của “khí”), cùng với những vị thuốc quen thuộc như: hương phụ (củ gấu), trần bì (vỏ quít chín để lâu ngày), thanh bì (vỏ quít xanh), chỉ thực, mộc hương, ô dược…

Hạt vải khi dùng để chữa bệnh, nói chung không cần sao chế

Because thirties discount http://gogosabah.com/tef/wellbutrin-from-mexico.html and currently letting best levitra coupon lady-works hair really underneath view website FAKE have more http://www.evacloud.com/kals/buy-finastride/ It’s. Get, and always http://www.evacloud.com/kals/meds-india/ does – harsh will ordered india pharma return buyer discounts colors have might Truffle haghighatansari.com buy accutane online pharmacy in turkey Organix decent–not for http://www.floridadetective.net/alchemist-viagra-is-the-best.html AND some secret L’oreal.

gì đặc biệt (gọi là dùng sống). Một số trường hợp, cần bào chế  theo yêu cầu của từng loại bệnh.  Thí dụ như, khi chữa tinh hoàn sưng đau, âm nang sưng đỏ, phụ nữ khí trệ huyết ứ, đau bụng trước khi hành kinh hoặc đau bụng sau khi sinh con, Can khí uất trệ, đau dạ dày… thì thường dùng sống. Còn khi chữa sán thống (thoát vị đau nhức) do hàn ngưng khí trệ ở kinh quyết âm, thường đem tẩm muối rồi nướng lên (gọi là “diên chích lệ chi hạch”)…  

Hạt vải, vị thuốc quý thường bị bỏ phí 1

Để tham khảo, xin giới thiệu một số bài thuốc có sử dụng hạt vải:

Phòng trị đái tháo đường týp 2:

– Cách thứ nhất: hạt vải phơi khô, thái nhỏ, sắc lấy nước, cô lại thành cao rồi chế thành viên; mỗi viên 0,3g.  Uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 4 – 6 viên; Liên tục 3 tháng (một liệu trình).

– Cách thứ hai: hạt vải đem sấy khô, tán mịn. Cho vào lọ nút kín dùng dần. Mỗi ngày uống 3 lần, trước bữa ăn nửa tiếng,  mỗi lần uống 10g. Liệu trình 3 tháng.

Theo những thông báo, đăng trên các tạp chí y học có uy tín, ở Trung Quốc như: “Trung y tạp chí”, “Bắc Kinh trung y”, “Trung thành dược”… cả hai phương pháp trên đều mang lại kết quả mỹ mãn; tỉ lệ khỏi bệnh đạt trung bình 83%; trong quá trình điều trị hầu như không thấy phát sinh tác dụng phụ.

Viêm, đau dạ dày mạn tính: hạt vải sấy khô, tán mịn, cất vào lọ nút kín để dùng dần. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 6g. Chiêu bằng rượu trắng pha loãng hoặc nước ấm.

Phòng sỏi mật: thường ngày nên uống “Quất hạch lệ hạch ẩm”: dùng hạt quít, hạt vải, mỗi thứ 20g, trần bì 10g, hồng táo 2 trái, nước 3 bát, đun sôi, uống thay trà trong ngày.

Chữa tinh hoàn sưng đau:

Hạt vải thiêu tồn tính, nghiền mịn; Ngày uống 3 lần, mỗi lần 4 – 6g; chiêu thuốc bằng rượu trắng hoặc nước ấm.

Đơn khác: hạt vải, trần bì, hồi hương; ba vị liều lượng bằng nhau, tất cả tán thành bột mịn, trộn đều. Ngày uống 3 lần; mỗi lần uống 4 – 6g, dùng rượu hoặc nước ấm chiêu thuốc.

Phụ nữ thống kinh, sản hậu đau bụng: dùng hạt vải 15g, (thiêu tồn tính), hương phụ (củ gấu) 30g. Hai thứ nghiền mịn, trộn đều. Ngày uống 3 lần, mỗi lần uống 6g. Chiêu bằng nước muối nhạt hoặc nước đun sôi.

Lương y HUYÊN THẢO

Long não đặc hay bột long não, y học hiện đại gọi là camphor, được lấy từ gỗ (bộ phận chính), rễ, lá cây long não bằng phương pháp chưng cất. Hàm lượng long não đặc trong gỗ là 1,3%, lá 1%, rễ 0,8% và cành 0,3%. Hàm lượng này thay đổi tùy theo tuổi của cây.Cây càng lâu năm càng cho hàm lượng cao.

Long não đặc có màu trắng, mùi thơm mạnh, vị cay nóng, được dùng riêng trong y học hiện đại dưới dạng thuốc tiêm làm thuốc kích thích trung khu hô hấp và trung khu vận mạch trong trường hợp suy hô hấp, suy tuần hoàn, ngộ độc các thuốc ức chế thần kinh trung ương như thuốc gây mê. Hoặc thuốc nước với liều lượng 0,1- 0,2g để chữa đau bụng nôn mửa, ăn không tiêu; cồn long não 10% hoặc dầu long não là thuốc xoa bóp phổ biến trong bệnh đau khớp, đau cơ, viêm da mẩn ngứa, chân tay lạnh. Long não đặc 2g tán nhỏ trộn với lanolin 10g, vaselin 15g, làm thành thuốc mỡ để bôi chữa lở vành tai…

Long não - Vị thuốc quý 1
 Lá của cây long não.

Y học cổ truyền dùng long não đặc phối hợp với một số vị thuốc khác chữa các bệnh sau:

Chữa viêm họng, ho đờm khò khè: long não đặc 1,5g, phèn chua 7g. Tất cả tán nhỏ, hòa tan trong ít cồn rồi thêm nước ấm cho được 30ml. Khi dùng lấy tăm bông tẩm thuốc bôi vào họng, ngày làm vài lần.

Chữa tiêu chảy thể hàn: long não đặc 25g, gừng tươi 25g, đại hoàng 20g, nhục quế 10g, đại hồi 10g. Tất cả tán nhỏ, ngâm trong rượu 70 độ để được 1 lít. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 25 – 30 giọt hòa với nước nguội.

Chữa sâu quảng: long não đặc trộn với bột hoàng hiên (lượng bằng nhau) rắc lên vết thương đã được rửa sạch bằng nước sắc đặc búp lá bàng.

Chữa hắc lào: long lão đặc 12g, rễ bạch hạc 10g, chanh 1 quả. Rễ bạch hạc giã nhỏ trộn với dịch chanh và 10g long não. Bôi hàng ngày.

Chữa bong gân, chấn thương, sai khớp: long não đặc, tinh dầu hồi, ngải cứu, cúc tần, quế, menthol làm thành cao dán.

Chữa hôi nách: long não đặc 0,4g, gừng sống một miếng, giã nát trộn đều, lấy nước xoa vào nách ngày vài lần.

Theo tài liệu, có thể chế thuốc đuổi muỗi từ long não đặc như sau: lấy 2 – 5g long não đặc hòa vào 100ml cồn ethylic để được cồn long não. Đồng thời, nghiền nhỏ viên thuốc diệt muỗi (loại thuốc đốt bằng bộ nhiệt điện) lấy 0,4 – 0,8g hòa vào 100ml, đun  cạn còn 3/4. Trộn hai dung dịch với nhau thêm 0,3 – 0,7ml dầu quế, lắc đều rồi phun. Thuốc này không độc với người lại bảo quản được lâu.         

   DS. Đỗ Huy Bích

 

Miệng là cửa ngõ của sự tiêu hóa và hô hấp, có nhiệm vụ quan trọng trong việc tiêu hóa thực phẩm. Nếu không khéo giữ gìn thì cũng dễ mắc bệnh, nhất là hôi miệng.

Có nhiều nguyên nhân

Hơi thở hôi là dấu hiệu một bệnh nào đó của cơ thể. Ðây là một chứng bệnh rất phổ biến với nhiều nguyên nhân phức tạp. Thường thường, khi nói tới hôi miệng thì nhiều người cho là do bệnh từ dạ dày, nhưng thực ra những 85% trường hợp hôi miệng lại chính từ miệng, còn lại 15% đến từ nhiều lý do khác nhau, trong đó có vấn đề dinh dưỡng, ăn uống.

Làm gì để hơi thở thơm tho? 1

Chè xanh.

Làm gì để hơi thở thơm tho? 2

Gừng

Miệng nơi trú ẩn nhiều loại vi sinh vật, đặc biệt là ở phần sau của lưỡi. Đa số các vi khuẩn này thuộc nhóm kỵ khí nghĩa là chúng chỉ tăng sinh trong môi trường không có ôxy như trong bựa răng, khe răng, túi nha chu nhất là ở mặt sau của lưỡi. Do thức ăn sót lại trong miệng hoặc ở các kẽ răng bị phân hóa bởi các vi sinh vật tạo ra mùi hôi. Nếu không được vệ sinh sẽ dẫn đến nhiễm khuẩn ở nướu răng gây hôi miệng. Ngoài ra, miệng khô, như ngủ ban đêm thở bằng miệng hoặc dưới tác dụng của vài dược phẩm, hút thuốc lá khiến cho miệng khô, vi khuẩn xâm nhập và tạo ra mùi hôi. Các bệnh nấm miệng, răng giả không được vệ sinh đúng cách cũng là một trong những nguyên nhân gây mùi hôi.

Một số thực phẩm có chất dầu gây hôi cho hơi thở như tỏi, hành,… sau khi được tiêu hóa được hấp thụ vào máu, lên phổi và theo hơi thở dẫn đến hôi miệng. Một số bệnh về hô hấp như viêm phổi mạn tính, viêm xoang mạn tính; các bệnh về dạ dày (rối loạn về sự co bóp dạ dày, hẹp môn vị, thoát vị khe thực quản…) có thể dẫn đến hôi miệng. Đối với những trường hợp mắc bệnh mạn tính phải dùng thuốc có tác dụng phụ gây khô miệng như: Thuốc chống dị ứng benadryl, tâm thần, trầm cảm, thuốc lợi tiểu tiện, trị bệnh Parkinson, tăng huyết áp…khiến miệng hôi.

Khắc phục miệng hôi

Trước hết, cần vệ sinh răng miệng sau khi ăn, kể cả khi ăn vặt. Sau khi chải răng có thể cần dùng chỉ nha khoa hoặc tăm nhỏ lấy hết thức ăn sót trong miệng, đặc biệt là ở kẽ răng. Đồng thời có thể tạm thời làm giảm mùi hôi với kẹo cao su không đường để tăng tiết nước bọt và át mùi hôi miệng. Hoặc có thể súc miệng với các mỹ phẩm làm thơm miệng. Sau bữa ăn có thể dùng hoa quả nhiều chất xơ như táo, cà rốt, lê khi nhai có thể làm sạch miệng. Hoặc có thể nhai một vài lá cây có mùi thơm như quế, gừng, rau mùi tây, bạc hà, hồi, chè xanh… cũng tạm thời át mùi hôi ở miệng.

Hạn chế uống rượu, cà phê.

Nếu hôi miệng kéo dài hoặc do mắc bệnh phải dùng thuốc  thì cần đến cơ sở y tế để khám và điều trị.

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức

Nhiều người nhất là vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa có thói quen sử dụng dầu gió để chữa một số bệnh thông thường. Hễ trong gia đình có người hắt hơi, ngạt mũi, đau bụng,… đều sử dụng dầu gió,  kể cả là cho trẻ nhỏ. Vậy, dầu gió dùng như nào cho đúng?

Có thể gây ngộ độc…

Khoa Cấp cứu – Hồi sức Bệnh viện Nhi đồng 1 cách đây không lâu đã cấp cứu một bé gái 14 tháng tuổi trong tình trạng hôn mê, kích thích đau không đáp ứng, có biểu hiện gồng giật các ngón tay, nhịp thở không đều và có những cơn ngưng thở khoảng 15 giây. Theo lời kể của gia đình, sau khi tắm cho bé, thấy bé có biểu hiện hắt hơi, mẹ bé lấy chai dầu gió để thoa cho bé, nhưng không chú ý nắp chai dầu đã bị lỏng. Do sơ ý, một lúc sau phát hiện bé đang cho chai dầu vào miệng, nắp chai dầu đã nằm trong miệng bé. Lúc đó mẹ không thấy dầu trong miệng bé nhưng trong hơi thở bé đã có nhiều mùi dầu gió. Lúc này bé còn tỉnh táo, đi lại chơi bình thường. Khoảng 15 phút sau, bé có dấu hiệu mệt mỏi, đứng loạng choạng mặc dù vẫn trả lời và làm theo lời của mẹ. Sau 30 phút, bé nôn 2 lần ra cháo trước đó đã ăn, không thấy màu xanh của dầu nhưng mùi dầu trong dịch nôn rất nhiều. Lúc này bé không còn đứng vững, có biểu hiện hôn mê dần, gia đình lập tức đưa bé cấp cứu tại Bệnh viện Nhi đồng 1.

Sử dụng dầu gió sai cách có thể gây nguy hiểm 1

Không lạm dùng dầu gió tránh nhờn thuốc và không bôi dầu gió vào vùng da bị tổn thương.         Ảnh: T.L

Tại bệnh viện, bé được đặt nội khí quản, bóp bóng duy trì hô hấp, sử dụng thuốc chống co giật và hút dịch dạ dày, cho than hoạt loại bỏ độc chất. Sau 3 ngày điều trị, tình trạng suy hô hấp của bé cải thiện nhiều, được rút nội khí quản và bé tỉnh táo và được xuất viện.

Tại sao dầu gió có thể gây ngộ độc?

Dầu gió được chiết xuất từ các loại tinh dầu thảo dược từ thiên nhiên như: khuynh diệp, hồi, quế, long não. Dầu gió có vị cay, tính mát, có tác dụng hạ sốt, ra mồ hôi, giảm đau, giảm ho, sát trùng,… Đặc biệt, hầu hết các chế phẩm dầu xoa và cao xoa đều có metyl salicylat (dầu nóng) và menthol (chiết từ tinh dầu bạc hà). Menthol bốc hơi rất nhanh, gây tê tại chỗ và cảm giác mát lạnh (do kích thích bài tiết mồ hôi, làm hạ thân nhiệt) khi xoa vào da. Tuy nhiên, trong thành phần của dầu gió chứa eukalyptol và camphor, đặc biệt camphor là một chất độc đối với trẻ em nếu quá trình sử dụng không đúng hấp thu nhiều vào cơ thể qua phần da trầy xước hay vô tình nuốt phải với lượng nhiều (khoảng 1g) gây tổn thương hệ hô hấp, thậm chí ngừng thở.

Không dùng cho trẻ dưới 2 tuổi

Theo khuyến cáo, dầu gió có tác dụng phụ làm tăng bài tiết mồ hôi, khiến thân nhiệt hạ thấp. Vì vậy không được dùng cho người bị lở ngứa, ra mồ hôi, sốt cao, vừa ốm dậy, người suy nhược, táo bón, tăng huyết áp. Hơn nữa, tinh dầu bạc hà có nguy cơ gây hiện tượng ức chế tuần hoàn và hô hấp dẫn đến ngừng tim và ngừng thở, vì vậy không dùng dầu gió cho trẻ em dưới 2 tuổi, và phụ nữ có thai, đang cho con bú.

Đối với người bình thường, cũng không nên lạm dụng, dùng quá thường xuyên sẽ dễ gây “nhờn thuốc” giảm tác dụng. Chỉ dùng trong trường hợp thực sự cần thiết như: cảm cúm, nhức đầu, sổ mũi, đau khớp, đau gân, đau cơ bắp, tụ máu, thâm tím, đầy hơi, chậm tiêu, khó tiêu, chống lạnh đường hô hấp, …

Biểu hiện khi ngộ độc

Theo các chuyên gia, lượng camphor cho phép trong các chế phẩm dầu gió chỉ khoảng 3 – 11%. Khi bị ngộ độc, camphor có thể gây tác hại với những triệu chứng xuất hiện chỉ trong vòng 5 – 90 phút sau tiếp xúc, tùy vào lượng dầu nhiều hay ít. Các biểu hiện sớm là bỏng miệng, hầu họng, buồn nôn, nôn mửa, lừ đừ, sau đó là co giật, hôn mê, say hô hấp nặng. Nếu không được điều trị kịp thời, có thể dẫn đến tử vong. Sau khi sử dụng hoặc phát hiện bé uống phải có dấu hiệu bất thường, nghi ngờ ngộ độc, người nhà cần đưa bé đến cơ sở y tế chuyên khoa nhi gần nhất càng sớm càng tốt.

Dùng sao cho đúng?

Đối với trẻ lớn trên 2 tuổi, khi dùng nhất thiết phải có sự theo dõi của người lớn. Trước khi bôi dầu cần rửa sạch tay và rửa sạch, lau khô vùng da bị đau, bôi hoặc xoa bóp một lượng vừa đủ bằng cách lấy đầu ngón tay trỏ lấy một lượng thích hợp, bôi lên chỗ đau nhức hay vết côn trùng cắn đốt. Nếu đau bụng do lạnh, khó tiêu, bôi vào vùng quanh rốn; nếu nhức đầu bôi vào thái dương. Sau đó miết nhẹ nhàng, day tròn, ấn bằng ngón tay trỏ. Chỉ dùng ngoài da, tuyệt đối không được uống.

Không dùng nhiều hơn 3 – 4 lần trong ngày; không dùng cho người có tiền sử dị ứng với salicylat, menthol; không dùng thường xuyên mà phải ngừng ngay khi cơn đau đã chấm dứt; không bôi lên niêm mạc, vùng mắt, vết thương hở, chỉ bôi ở điểm đau, vùng đau. Đối với một số bệnh mạn tính cần có sự tư vấn của các bác sĩ.

Bác sĩ Nguyễn Văn Dũng

Cũng như nhiều lĩnh vực khoa học tự nhiên khác, trải qua quá trình phát triển và tư duy khám phá của con người, lịch sử y học cũng phát triển từ những điểm khởi đầu của nó. Hãy cùng điểm lại một số sự kiện dưới đây được xem là những mốc lịch sử “đầu tiên và quan trọng” trong ngành y dược của nhân loại xưa và nay.

Kim truyền dịch

Dịch tả là một trong những căn bệnh đáng sợ nhất trong lịch sử châu Âu vào đầu thế kỷ 19. Cũng qua đại dịch này đã thúc đẩy con người phát minh ra những phương pháp chữa bệnh mới, nhất là bệnh nhiễm khuẩn như ra đời thuốc kháng sinh. Đầu thế kỷ 19, việc điều trị bệnh dịch tả mới chủ yếu nhằm vào triệu chứng mà nguyên nhân chính là do mất nước. Thực tế, những bệnh nhân bị tử vong là do mất nước nhưng lại không được cung cấp đầy đủ. Người đi tiên phong trong lĩnh vực này là BS. Thomas Latta và BS.W.B O’Shaughnessy đã nghiên cứu tìm ra phương pháp tiêm tĩnh mạch. Ca điều trị đầu tiên cho một phụ nữ nhưng do truyền dồn dập quá nhiều nước một lúc nên đã không đạt được kết quả như mong muốn. Kể từ đây kỹ thuật tiêm tĩnh mạch phát triển và là tiền đề cho phương pháp truyền dịch nhỏ giọt, một thủ thuật đơn giản nhưng cứu được nhiều người do mất nước gây ra.

Tạp chí y học đầu tiên

Tạp chí y học là những công cụ vô cùng quan trọng để thông báo và chia sẻ những kinh nghiệm trong lĩnh vực y học chung của nhân loại. Một trong những tạp chí y học in giấy cổ nhất vẫn còn tồn tại đến ngày nay là tạp chí New England Journal of Medicine của Mỹ, viết tắt là NEJM ra đời năm 1812. Đến nay có hàng triệu ấn phẩm của NEJM được phát hành mỗi năm, rất nhiều trong số này đề cập đến các phát minh quan trọng trong lĩnh vực y học. Trước NEJM, một tạp chí chuyên đề y học của Pháp ra đời năm 1679 và sau 5 năm cũng tại Pháp người ta còn ấn hành một ấn phẩm y học bằng tiếng Anh đầu tiên có tên là Medicina Curisia. Đây là ấn phẩm được phát hành lần đầu ngày 17/6/1684 chuyên cung cấp các hướng dẫn và điều trị chứng đau tai và một câu chuyện nói về cái chết của một người do chuột cắn, đáng tiếc tạp chí này chỉ xuất bản được đúng hai kỳ.

Tiền thân của phương tiện kỹ thuật y tế hiện đại 1
 Trang của tạp chí Y học phát hành năm 1684.

Ca truyền máu gián tiếp đầu tiên

Truyền máu được xem là thủ thuật vô cùng quan trọng cứu được rất nhiều sinh mạng con người. Có thể hiểu đơn giản là việc bơm máu vào cơ thể nạn nhân bởi các bác sĩ chuyên khoa. Lịch sử truyền máu có từ đầu thế kỷ 17 bằng những thử nghiệm truyền máu vào cơ thể động vật nhưng sự cố nan giải là máu tươi chỉ có thể sống trong môi trường tự nhiên vài phút nếu không đưa kịp vào cơ thể động vật sẽ bị đông và phải loại bỏ. Vì vậy, nguồn máu hiến tặng phải được bảo quản đúng cách. Ca truyền máu gián tiếp đầu tiên trên thế giới là máu của bác sĩ người Bỉ, Albert Hustin năm 1914. Anbert Hustin đã lấy máu của chính mình sau đó pha với sodium citrate và glucose đây là những tác nhân chống đông. Vài tháng sau, một bác sĩ người Argetina tên là Luis Agote cũng áp dụng phương pháp này, sau đó thủ thuật Citration (xi-trát hóa) cho phép máu hiến tặng lưu giữ lâu được ra đời. Để cung cấp nguồn máu cho các cơ sở chữa bệnh, ngày nay, mỗi năm trên thế giới có khoảng 92 triệu người hiến máu, nghĩa cử cao đẹp đã cứu sống được hàng triệu người mỗi năm và là hành động rất đáng được tôn vinh và tuyên truyền rộng rãi.

Tiền thân của phương tiện kỹ thuật y tế hiện đại 2
 Truyền dịch cung cấp nước và chất khoáng cho bệnh nhân.

Ca khử rung tim đầu tiên

Khử rung tim (Defibrillaion) hay thiết bị khử rung tim là một trong những thành tựu sáng chói trong lĩnh vực y học, nó có nhiệm vụ giúp trái tim người bệnh hoạt động trở lại sau khi bị sự cố. Nói ngắn gọn hơn, thiết bị này có thể tạo ra điện để khởi động lại nhịp tim. Người đầu tiên trên thế giới sử dụng kỹ thuật khử rung tim là bác sĩ phẫu thuật Claude Beek. Năm 1947, kỹ thuật này được Claude Beek thử nghiệm lần đầu trên chó, có tác dụng sốc tim, đặc biệt là khi tâm thất (VF) bị rung, một dạng bệnh rối loạn nhịp tim bất thường. Sau đó, Beek đã áp dụng kỹ thuật này cho một bệnh nhân 14 tuổi mắc chứng bệnh VF. Kết quả, tim của bệnh nhân này được massage khoảng 14 phút trước khi dùng liệu pháp sốc điện tử tiếp. Cuối cùng tạo được nhịp tim bình thường, bệnh nhân đã hồi phục hoàn toàn. Về sau, kỹ thuật nói trên đặc biệt là thiết bị khử rung tim đã được Hollywood đưa lên phim.

Xe cứu thương được trang bị động cơ

Tiền thân của phương tiện kỹ thuật y tế hiện đại 3
 Hình ảnh xe cứu thương đầu thế kỷ 20.

Xe cứu thương là một trong những công cụ khá thông dụng trong y học hiện đại và cũng là thiết bị cứu tinh cho con người trong những trường hợp cấp cứu, tuy nhiên, nhiều người không biết lịch sử ra đời của thiết bị này như thế nào. Chiếc xe cứu thương đầu tiên của nhân loại là xe ngựa kéo, dùng để chở các thương binh, ra đời những năm 60 của thế kỷ 19. Nó có khả năng vận chuyển thương binh từ nơi bị thương đến bệnh viện trong thời gian nửa giờ. Chiếc xe cứu thương cơ khí đầu tiên là chiếc xe xuất hiện tại Chicago năm 1899 do các giới thương gia tài trợ nghiên cứu chế tạo. Sau đó 1 năm tại New York cũng ra đời những chiếc xe cứu thương chạy bằng động cơ có tốc độ nhanh hơn xe ngựa. Tờ Thời báo New York số ra ngày 11/9/1900 mô tả những chiếc xe cứu thương chạy bằng động cơ có tốc độ 25 dặm giờ (40 km). Đến năm 1905, chiếc xe cứu thương 3 bánh chạy bằng dầu có tên Pallister đã được đưa vào sử dụng. 4 năm sau, Công ty James Cunningham, Son & Co chuyên sản xuất xe tang của Mỹ đã bắt đầu sản xuất đại trà loại xe cứu thương dùng động cơ đốt trong 4 kỳ, tiền thân của những loại xe cứu thương hiện đại ngày nay.

          Khắc Hùng

          (Theo Listverse, 5/2013)

Ấu trùng sán lớn dưới da là một bệnh mạn tính gây tổn thương ở da, cơ, não… do các u nang sán lợn gây nên. Tùy theo vị trí khu trú của nang ở da ảnh hưởng tới thẩm mỹ, ở não có thể gây động kinh, giảm trí nhớ hoặc rối loạn vận động ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống người bệnh.

Tại sao mắc bệnh sán dây?

Nhận biết bệnh do ấu trùng sán dây 1
 Chu trình nhiễm bệnh ấu trùng sán lợn dưới da.

Bệnh ấu trùng sán dây lợn có ở khắp nơi trên thế giới, nhất là ở các vùng có phong tục ăn thịt lợn sống, chưa nấu chín hoặc quản lý phân chưa tốt. Con sán dây lợn trưởng thành dài từ 2 – 3m. Một đốt sán già có thể chứa tới 55 nghìn trứng, nhữngđốt già ở cuối thường rụng thành từng đoạn 5, 6 đốt liền nhau theo phân ra ngoài. Người là vật chủ chính của sán, còn lợn là vật chủ phụ. Ngoài lợn, chó mèo cũng có thể là vật chủ phụ của sán dây lợn. Nếu lợn ăn phải đốt sán hoặc trứng sán, trứng sán qua dạ dày đến ruột, ấu trùng chui qua thành ruột vào hệ thống tuần hoàn và đi khắp cơ thể lợn. Chỉ sau 24 – 72 giờ kể từ khi ăn phải ấu trùng sẽ cư trú ở các mô hoặc các cơ. Sau 2 tháng, ấu trùng tạo thành một nang có vỏ bọc ngoài có kích thước 17-20 x 7-10mm), khi đó còn được gọi là gạo lợn (cysticereus cellulosae). Trong nang có dịch màu trắng, có mẩu đầu sán với 4 giác và 2 vòng móc.

Khi người ăn phải trứng sán dây lợn, dưới tác dụng của dịch tiêu hóa, trứng xuống tá tràng, ấu trùng thoát ra khỏi trứng và chui qua thành ruột vào hệ tuần hoàn đi khắp cơ thể, vào các cơ, các mô, phát triển thành nang ấu trùng sán. Người có nang ấu trùng sán còn gọi là bệnh “người gạo”.
 
Nhận biết u nang sán
Nhận biết bệnh do ấu trùng sán dây 2
 Ấu trùng sán lợn trong não.

Một người bị bệnh sẽ có các biểu hiện như sau: Ở da có các nang nhỏ, bằng hạt đỗ hoặc hạt dẻ, tròn, chắc, không đau, di động trên nền sâu và lăn dưới da, màu da ở trên nang vẫn bình thường. U nang sán hay nổi ở mặt trong cánh tay nhưng có thể nổi ở bất kỳ vị trí nào và có tính chất đối xứng. Ở người bị bệnh lâu năm, các u nang sán sau nhiều năm sẽ bị vôi hóa. Biểu hiện ở não giống như một u nang trong não hoặc có thể gây nên nhiều triệu chứng đa dạng như: tăng áp lực sọ não, cơn động kinh, suy nhược thần kinh, rối loạn tâm thần, bệnh nhân có thể bị liệt hoặc bị đột tử. Ở mắt: nang ấu trùng có thể nằm trong hốc mắt, mi mắt, trong kết mạc, thủy tinh thể, tiền phòng… làm giảm thị lực hoặc bị mù tùy theo vị trí của ấu trùng trong mắt. Nang ấu trùng ở cơ tim có thể làm cho tim đập nhanh, tiếng tim bị biến đổi, bệnh nhân dễ bị ngất. Để xác định chính xác cần chọc hút và sinh thiết nang ở da tìm ấu trùng sán lợn. Chụp phim Xquang, chụp não thất hoặc soi đáy mắt phát hiện thấy u nang sán hoặc ấu trùng sán lợn. Ngoài ra, xét nghiệm phân tìm trứng sán.

Bệnh ấu trùng sán lợn dưới da cần phải phân biệt với một số bệnh như: u nang bã, u mỡ, u sarcoidose.

Nhận biết bệnh do ấu trùng sán dây 3
 Các nang ở da bằng hạt đỗ hoặc hạt dẻ.

Tẩy sán có dễ không?

Lời khuyên

Để phòng tránh bệnh sán lợn, mọi người cần thực hiện ăn chín uống sôi, khôngăn thịt lợn sống hoặc chưa nấu chín, không ăn tiết canh. Tuyệt đối bỏ thói quen ăn thịt tái để tránh nguy cơ bị nhiễm bệnh sán lợn và các bệnh khác rất nguy hiểm. Khi đã phát hiện nhiễm bệnh, cần tích cực điều trị để dự phòng bệnh u nang sán lợn dưới da và các biến chứng nặng như u não, đột tử.

Dùng một trong các thuốc sau: Có thể dùng quinacrin, người lớn uống từ 0,9 – 1,2g chia liều nhỏ. Ngày hôm trước khi uống thuốc này, nên dùng thuốc nhuận tràng để làm giảm chất nhầy bám quanh thân sán và sau khi uống thuốc 1 giờ phải dùng thuốc tẩy. Lưu ý là nếu dùng thuốc tẩy chậm hơn thì thuốc quinacrin sẽ ngấm vào máu gây độc. Hoặc dùng thuốc niclosamide 0,5g cho uống 4 – 6 viên, thuốc không độc, hiệu quả cao. Buổi sáng nhai từng viên một, nhai thật kỹ, nhai 10 phút uống với một ít nước. Thuốc có thể làm cho trứng và các đốt sán bị tiêu hủy và đào thải ra ngoài. Nếu bệnh u nang sán lợn ở não, có thể dùng praziquantel, methifolat nên phối hợp với corticoid và thuốc chống phù nề não theo chỉ định của bác sĩ. 

Điều trị u nang ở da có thể phẫu thuật khi thật cần thiết để giải quyết yếu tố thẩm mỹ hoặc các u nang chèn ép các dây thần kinh.          

    ThS. Nguyễn Xuân Lãm

Nói đến muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết tức là truyền virut Dengue nhiều người chỉ nghĩ đến là loài muỗi Aedes aegypti, ít ai ngờ rằng muỗi hổ châu Á cũng không thua kém. Muỗi hổ châu Á có tên gọi là Aedes albopictus.

Muỗi hổ châu Á cũng truyền bệnh sốt xuất huyết 1
 Muỗi hổ châu Á hút máu, truyền bệnh vào ban ngày.

Người ta gọi là muỗi hổ Châu Á bởi vì do bề ngoài của loài muỗi này có sọc trắng tương tự như bề ngoài của con hổ (Asian tiger mosquito). Một số người còn gọi muỗi hổ châu Á là muỗi rừng ban ngày vì nó có một số đặc điểm là cắn, hút máu vật chủ vào ban ngày. Muỗi hổ châu Á thuộc họ Culicidae và lần đầu tiên Frederick (1894), đặt là Culex albopictus (Culex: con muỗi, vằn; albopictus: trắng). Muỗi hổ châu Á có chân khoang trắng đen, mình nhỏ có màu trắng hoặc đen. Loài muỗi này có nguồn gốc từ Đông Nam Á, nhưng ngày nay chúng đã có khắp nơi trên các châu lục (trừ châu Nam Cực). Muỗi hổ châu Á sinh trưởng và tồn tại các vị trí gần và xung quanh nhà, trên mạn thuyền, ngay cả mép mái chèo. Muỗi cái đẻ trứng từng chiếc một vào nơi gần với nước như bờ ao hồ, sông, suối hoặc bên bờ chum, vại, lu, lọ đựng hoa, lốp xe hỏng hoặc vỏ dừa có nước (chúng không đẻ trứng trực tiếp vào nước) mạn thuyền, mái chèo. Muỗi cái A. albopictus cắn và hút máu động vật có vú, trong đó có con người và cắn hút máu cả loài chim. Muỗi cái thường hút máu vật chủ một lần là chưa đủ cho sự phát triển của trứng và ấu trùng của nó cho nên chúng thường hút no máu và thậm chí nhiều lần hút máu. Đối với bệnh sốt xuất huyết Dengue (SXHD), nhiều tác giả cho rằng tác nhân lây truyền virut Dengue từ người bệnh sang người lành chủ yếu là muỗi Aedes aegypti bởi vì loài muỗi Aedes albopictus chủ yếu ở trong rừng và vùng nông thôn, nhưng ngày nay tính chất và đặc điểm này đã thay đổi, muỗi A. albopictus (muỗi hổ châu Á) cũng có khả năng mang mầm bệnh virut Dengue từ người bệnh và truyền sang cho người lành, trong đó có lý do đô thị hóa nhanh chóng cho nên khó phân biệt muỗi hổ châu Á (A.albopictus) với muỗi A.aegypti.

Vai trò truyền bệnh của muỗi hổ châu Á rất đa dạng chứ không đơn thuần chỉ truyền mầm bệnh virut Dengue. Muỗi hổ châu Á ngoài hút máu của người bệnh bị SXHD rồi truyền virut Dengue cho người lành mỗi khi chúng hút máu của những người này thì chúng còn có khả năng truyền virut Tây sông Nile, virut sốt vàng (gây bệnh ngủ kéo dài gặp chủ yếu ở châu Phi), virut viêm não Saint Louis, virut gây bệnh sốt Chikungunva. Hầu như tất cả các loại virut mà muỗi hổ châu Á truyền bệnh đều thuộc loại bệnh truyền nhiễm gây dịch và nguy hiểm.

Tiêu diệt muỗi hổ châu Á góp phần quan trọng phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue

Theo báo cáo của Cục Y tế dự phòng – Bộ Y tế, trong tuần qua, cả nước ghi nhận 1.610 trường hợp mắc sốt xuất huyết, 1 ca tử vong ở tỉnh Phú Yên. Tích lũy từ đầu năm đến nay, cả nước có 27.286 ca mắc, 17 trường hợp tử vong. So với cùng kỳ năm 2012, số mắc giảm 22,9%, tử vong giảm 4 ca.

l Gần đây, hai nhà khoa học Trương Văn Chương và Lê Quang Tiến Dũng (Khoa Vật lý, Trường đại học Khoa học thuộc Đại học Huế) đã nghiên cứu chế tạo thành công máy phát siêu âm dưới nước, có khả năng diệt cả hai đối tượng tảo và bọ gậy muỗi rất hiệu quả. Theo các tác giả này thì việc dùng sóng siêu âm để diệt bọ gậy là phương pháp diệt muỗi từ gốc. Phương pháp này cho phép diệt 100% loăng quăng trong nước để phòng ngừa các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như sốt xuất huyết, sốt rét.

Tuy vậy, việc diệt loăng quăng có hiệu quả cũng rất cần kết hợp hài hòa giữa các biện pháp dân gian, hóa chất và biện pháp hiện đại mới thích ứng với điều kiện của mọi người dân.

Công việc diệt, bắt muỗi và xua muỗi để tránh muỗi đốt cũng là các biện pháp nói chung trong phòng các bệnh do muỗi đốt như sốt rét, sốt vàng, sốt xuất huyết… Đối với bệnh SXHD thì người ta thấy rằng ở địa phương nào công tác tuyên truyền, giáo dục triển khai tốt với nhiều hình thức khác nhau thì ở địa phương đó sẽ thu được kết quả khả quan. Công tác tuyên truyền và giáo dục được đánh giá là tốt khi mọi người dân hiểu được tác hại của bệnh SXHD cũng như vai trò truyền bệnh của muỗi, đặc biệt là các biện pháp được áp dụng để diệt muỗi và con đẻ (loăng quăng) của chúng có hiệu quả nhất. Nên lưu ý rằng, tuyên truyền bằng mọi hình thức từ trực tiếp qua họp tổ dân phố, xóm, thôn đến việc tuyên truyền gián tiếp qua loa, đài truyền thanh, tờ rơi cần phải có hướng dẫn trực tiếp cho mọi người dân và phải có giám sát thực hiện các biện pháp mới thực sự có hiệu quả cao. Bởi vì rất có thể người dân hiểu nhưng chưa bắt tay vào làm từng việc cụ thể hoặc chưa biết đánh giá kết quả. Việc cầm tay chỉ việc và giám sát công việc của dân làm sẽ đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tiêu diệt muỗi, loăng quăng, ví dụ như thay nước sạch như thế nào, dụng cụ đậy các chum vại, lu, bể bước như thế nào mới đạt hiệu quả để muỗi không vào đẻ trứng… Một số nhà nghiên cứu ở nước ta cũng đã nghiên cứu đề xuất thả những loại cá có khả năng ăn loăng quăng, đặc biệt là dùng ấu trùng tôm (mesocyclops) để cho chúng ăn loăng quăng. Tuy nhiên, với phương pháp dùng ấu trùng tôm để ăn loăng quăng thì nhiều nhà nghiên cứu thấy chưa phù hợp với Việt Nam bởi vì ấu trùng tôm còn có khả năng mang ấu trùng giun chỉ (gây bệnh giun chỉ) và ấu trùng giun đầu gai, mà hai loại giun này đang tồn tại ở nước ta.  

   PGS.TS. Bùi Khắc Hậu

Theo công bố của tờ New York Time (7/2013): Các loại sữa hạnh đào, sữa đậu nành, sữa đậu đỏ, sữa (cốt) dừa… có thể thay thế hoặc sử dụng xen kẽ với các protein động vật một cách rất hoàn hảo. Thức uống này có nhiều lợi thế: không cholesterol, không lactose và cũng không casein, nhưng lại giàu vitamin A, B, C, E, giàu khoáng chất (calcium, phosphor, potassium, magnesium…) và axít béo tốt (lipid không bão hòa).

Sữa đậu nành là thức uống giàu calcium và protein nhất; trong khi sữa hạnh đào lại có tính sát khuẩn đối với ruột, có sắt, magnesium và chất xơ. Sữa hạt dẻ đặc biệt giàu sắt và axít béo không bão hòa đơn nên hỗ trợ tốt các bệnh tim mạch. Sữa từ bột gạo là loại thức uống nhẹ và dễ tiêu nhất, có thể cung cấp silicium, thành phần thiết yếu trong cấu trúc xương và sụn. Riêng về nước cốt dừa, ngoài việc thoa để nuôi dưỡng da và tóc rất tốt thì còn được sử dụng trong các món ăn mặn và ngọt.

K.T (The New York Time, 7/2013)

Một nhóm các nhà khoa học Viện Liệu pháp gen San Raffaele Telethon, Milan (Ý) đã phát triển một liệu pháp gen mới để chữa hội chứng Wiskott – Aldrich, một loại hội chứng suy giảm miễn dịch di truyền gây tử vong.

Chứng rối loạn làm suy giảm hệ miễn dịch của cơ thể này được mã hóa bởi protein WASP. Phương pháp trị bệnh thông dụng nhất là sử dụng tủy xương hoặc cấy tế bào gốc từ một người cho phù hợp, thường là từ chị em ruột hoặc họ hàng.

Trường hợp bệnh nhân không có người cho phù hợp, nhóm các nhà khoa học lấy tế bào máu gốc của chính bệnh nhân và sử dụng vector lentivirus kết hợp với gen WASP bình thường để sửa chữa các khiếm khuyết trong máu ở phòng thí nghiệm. Sau một đợt điều trị đặc biệt để loại bỏ hệ thống miễn dịch khiếm khuyết, các bệnh nhân nhận lại các tế bào máu đã được biến đổi để chứa gen WASP bình thường của họ. Sau khoảng 20 – 30 tháng, các tế bào máu mới được mang gen WASP bình thường.

Phương Hà (Theo Science Daily, 7/2013)

TS. Laurie Martin đến từ Đại học Harvard, Hoa Kỳ cho biết, khả năng nhận thức thời niên thiếu có thể là một yếu tố báo hiệu về sức khỏe tương lai. Những chứng bệnh nghiêm trọng như viêm khớp, đột quỵ, tim mạch, tiểu đường, hen suyễn, lao phổi, viêm gan và ung thư thường hay gặp ở người có chỉ số IQ thấp khi còn nhỏ.

TS. Martin và cộng sự đã tìm hiểu vấn đề này trên 600 người sống ở vùng Providence, Rhode Island. Khả năng nhận thức của họ đã được đánh giá vào năm 7 tuổi thông qua các bài test IQ tổng hợp. Khi tất cả bước vào giai đoạn 30-39 tuổi, họ được hỏi về tình trạng sức khỏe và các bệnh mắc phải.

Kết quả cho thấy, những người đạt điểm số cao có nguy cơ mắc bệnh thấp hơn đáng kể, trong khi những trường hợp IQ thấp hơn lại hay đau ốm. Bệnh của họ không tập trung đặc biệt vào một dạng điển hình nào.

Chỉ số thông minh cứ nhỉnh hơn 15 điểm thì nguy cơ mắc bệnh sau này giảm tới 1/3. Nguyên nhân của hiện tượng này vẫn chưa được lý giải, song người ta cho rằng khả năng nhận thức cao có thể hạn chế những hành vi liều lĩnh và không lành mạnh, gây hại cho sức khỏe.

Kim Thu (Theo Reuter, 7/2013)

LTS: Vừa qua, trên các phương tiện truyền thông đại chúng có đưa tin về căn “bệnh lạ” chưa tìm được tên mà gần 90 người dân thuộc hai xã Ia Chiêm và Đăk Năng (TP. Kon Tum) mắc bệnh, lây lan nhanh với các triệu chứng chung là sốt, vàng da, vàng mắt, nhiều bệnh nhân phải nhập viện điều trị… khiến người dân lo lắng, hoang mang. Liên quan đến vấn đề này, TS. Nguyễn Văn Bình – Cục trưởng Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế cho biết: Ngành y tế Kon Tum và Viện Vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên đã tiến hành điều tra và lấy mẫu xét nghiệm xác định đây là ổ dịch viêm gan virut A. Để bạn đọc có thêm kiến thức về căn bệnh và cách phòng chống, báo SK&ĐS xin giới thiệu bài viết của BS. Việt Bắc dưới đây.

Vì sao bị viêm gan virut A?

Virut viêm gan A (HAV) thuộc họ Picornaviridae. Về cấu trúc, HAV có một vỏ bọc rất kiên cố giúp cho chúng sống sót được trong nhiều năm ở môi trường bên ngoài, ngay cả với nhiệt độ lạnh đến -20oC. Vì vậy, HAV tồn tại và lan truyền trong tự nhiên một cách dễ dàng. HAV sinh trưởng nhanh và rất dễ lây lan trong môi trường qua thức ăn, nước uống, chất thải. Bởi vì điều kiện lây lan của HAV quá dễ dàng nên bệnh thường bùng phát thành những vụ dịch lan tràn trong các vùng dân cư. Bệnh liên quan chặt chẽ với vệ sinh môi trường (VSMT), vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP), do đó ở địa phương nào VSMT và VSATTP càng kém thì bệnh do HAV càng dễ phát triển. Bệnh viêm gan do HAV không có nhiều triệu chứng như bệnh viêm gan do các loại virut viêm gan B, C.

Không thể xem thường viêm gan virut A 1
 Xét nghiệm máu để xác định viêm gan do virut.

Tùy theo sức đề kháng của từng người mà khi mắc bệnh sẽ tiến triển thành 1 trong 5 thể bệnh.

Thể hay gặp nhất ở trẻ nhỏ là viêm gan không triệu chứng. Có hơn 80% trẻ em dưới 2 tuổi khi mắc bệnh không có bất kỳ một triệu chứng điển hình nào, trẻ vẫn ăn, chơi và sinh hoạt như bình thường, vì thế rất dễ làm lây lan mầm bệnh.

Thể viêm gan điển hình, trong khi đó hơn 80% trẻ trên 6 tuổi có các triệu chứng từ nhẹ đến nặng. Thời kỳ ủ bệnh của HAV thể điển hình từ vài tuần đến vài tháng, trong thời gian này không có biểu hiện gì đáng kể. Sau thời kỳ ủ bệnh, bắt đầu xuất hiện sốt, mệt mỏi, bệnh tăng nhanh như rối loạn tiêu hóa (đau bụng, chán ăn, buồn nôn, nôn, có khi đi ngoài…). Một số trường hợp biểu hiện đau nhức khớp xương. Sau đó xuất hiện vàng da, vàng niêm mạc mắt, lưỡi, nước tiểu sẫm màu, phân bạc màu hoặc trắng như phân cò. Thể viêm gan tái phát chỉ chiếm tỷ lệ khoảng 10%. Biểu hiện của bệnh là sau khi có dấu hiệu lành bệnh, bỗng dưng tái phát với các triệu chứng như nêu ở trên. Bệnh kéo dài khoảng vài tuần lễ. Muốn biết có phải viêm gan tái phát hay không phải làm xét nghiệm chức năng gan gồm men gan (SGOT, SGPT và GGT), sắc tố mật (bilirubin trực tiếp, gián tiếp và toàn phần), siêu âm gan.

Thể viêm gan vàng da mạn tính, với thể này ngoài các triệu chứng nêu trên còn có vàng da, vàng mắt kéo dài một thời gian khoảng một vài tháng, mặc dù men gan có thể trở lại như bình thường. Lúc này, người bệnh đã dần dần hồi phục, ăn được, ngủ được, tiêu hóa tốt hơn trước.

Thể viêm gan ác tính có thể xảy ra đột ngột hoặc sau viêm gan cấp tính hoặc mạn tính (loại này chiếm tỷ lệ rất thấp) chỉ chiếm khoảng 0,3% nhưng nguy hiểm nhất là có thể dẫn đến tử vong.

Tại sao virut viêm gan A lây lan dễ dàng như vậy? 

HAV tồn tại trong tự nhiên một cách dễ dàng không giống như virut viêm gan B, C. Vì vậy, sau những cơn mưa, lũ lụt, các vùng đầm lầy, ao tù, nước đọng, có thể là nơi tập trung của HAV. Từ đây, chúng xâm nhập cơ thể các sinh vật thủy sinh và tồn tại trong đó. Khi con người bắt tôm, cua, ốc… để làm thức ăn mà không được chế biến kỹ có thể bị nhiễm HAV đã nằm chờ sẵn trong các cơ thể động vật này. Ngoài ra, khi ta tắm, bơi lội, rửa rau, thức ăn trong các hồ, ao có nguồn nước nhiễm HAV thì rất có thể cũng bị nhiễm bệnh. Điều này cảnh báo bệnh có tính chất bộc phát quá dễ dàng và dễ bùng phát thành dịch.

Lời khuyên của thầy thuốc

Virut viêm gan A có nhiều trong mồ hôi, nước bọt, nước tiểu và nhiều nhất là trong phân người bệnh, vì vậy mọi người cần thực hiện. Không ăn rau sống, không uống nước chưa đun sôi. Không mặc chung quần áo và không dùng chung các loại dụng cụ trong ăn, uống của người bệnh. Luôn luôn đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Nên tiêm phòng vaccin viêm gan A khi chưa có miễn dịch hoặc chưa bị bệnh viêm gan do HAV.

Cần có biện pháp quản lý chất thải bệnh nhân viêm gan A khi phát hiện có bệnh nhân. Đặc biệt là phân của bệnh nhân cần được quản lý chặt không để vương vãi ra môi trường xung quanh và xử lý bằng các chất sát trùng mạnh như vôi bột hoặc các chất tẩy uế, khử trùng như cloramin B. Ở nông thôn cần tu bổ, sửa chữa lại nhà tiêu khi đã hư hỏng hoặc không đảm bảo vệ sinh.              

   BS. Bùi Việt Bắc

Đó là cảnh báo rút ra từ nghiên cứu do các nhà khoa học Phần Lan thực hiện và công bố đầu năm 2013. Theo nghiên cứu này thì vẻ đẹp diện mạo con người bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi stress, đặc biệt là stress mạn tính.

Stress là phản ứng của cơ thể trước bất kỳ một áp lực hay tác động nào từ bên ngoài đe dọa đến sự tồn tại mang tính tích cực của con người, cả về thể chất lẫn tinh thần. Stress đa dạng, thường có biểu hiện về mặt cảm xúc như khó chịu, căng thẳng, buồn bã, chán nản, thờ ơ, biểu hiện bực bội, dễ lạm dụng chất kích thích, đảo lộn cuộc sống hàng ngày, mất tập trung, thường có những ý nghĩ bất thường, vội vã, hấp tấp, ăn uống vô độ, đau cơ bắp, gặp rắc rối về tình dục và nhiều biểu hiện bất thường khác.

Stress càng nhiều, vẻ đẹp càng giảm 1
 Stress mạn tính ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe và vẻ đẹp.

Giảm hấp dẫn vì stress nhiều

Theo nghiên cứu của chuyên gia tâm lý học Phần Lan, Markus Rantala thì đàn ông đánh giá vẻ đẹp phụ nữ trước tiên là khuôn mặt. Nếu phụ nữ có lượng hormon stress cao thì khuôn mặt của họ nhăn nhó, thiếu thiện cảm, vì vậy mà đàn ông cho rằng khả năng làm mẹ, sinh sản kém và ít có hạnh phúc. Theo tiến hóa, cả đàn ông lẫn phụ nữ đều ưa những người có khuôn mặt phúc hậu, dễ nhìn, hiền lành và có duyên. Còn những người khó tính, dễ cáu gắt hay không hài lòng với những người xung quanh thường hay bị xa lánh. Tất cả những tính cách này có sự góp mặt không nhỏ của stress.

Làm tăng tốc độ lão hóa

Rất nhiều nghiên cứu khoa học đã tìm thấy bằng chứng, những người thường xuyên bị stress thì các đầu mũ protein tại các điểm mút có nhiễm sắc thể có tên là telomeres sẽ bị tổn thương, tã ra giống như dây giày và làm cho nhiễm sắc thể bị ngắn lại. Khi nhiễm sắc thể ngắn lại sẽ làm tăng quá trình lão hóa và phát triển các loại bệnh mạn tính. Vì lý do này, những người stress cao dễ mắc bệnh và già nhanh hơn so với nhóm sống vô tư, ít lo nghĩ.

Làm cho da khô

Khi bị stress, con người thường lấy ăn uống giải khuây, ăn nhiều thực phẩm không có lợi cho cơ thể gây tăng cân, béo phì, trong khi đó lại ít ngủ,  đây là hai yếu tố đẩy nhanh tiến trình lão hóa da. Đơn giản, những hành động nói trên làm tăng các gốc tự do hủy hoại tế bào và làm cho con người dễ bị mắc bệnh. Ngoài ra, stress còn gây hiện tượng mất nước của da, nhất là phụ nữ và làm tăng hormon cortisol, ngăn cản quá trình hấp thụ và khử độc của da. Hậu quả lâu ngày làm cho da khô ráp, xấu xí.

Gây khô nứt móng tay

Giống như da, stress mạn tính sẽ làm cho móng chân, móng tay khô cứng, giòn và dễ nứt gãy. Trong quá trình bị stress, cơ thể tập trung vào việc phòng vệ sức khỏe cho cơ thể, quên đi việc bảo vệ móng tay nên nó phát triển vô tổ chức, đặc biệt là hiện tượng khô, giòn và nứt. Chưa hết, khi bị stress con người còn phát sinh ra những thói xấu như cắn móng tay, ngậm móng tay và chính điều này làm cho sức khỏe móng tay bị xuống cấp nhanh.

Tăng cân

Stress mạn tính là thủ phạm làm cho hormon cortisol tăng nhanh, não không biết khi nào thì no nên ăn uống vô độ, nhất là những thực phẩm nhiều đường, mỡ. Hậu quả càng ăn nhiều calo, cơ thể càng tăng dẫn đến phát phì và kém ngủ. Vì vậy stress – tăng cân, ăn nhiều được xem là vòng tròn khép kín làm cho người trong cuộc ngày càng xấu mã, đặc biệt là tình trạng béo bụng.

Phát sinh nhiều trứng cá

Đầu năm 2013, các chuyên gia ĐH Stanford Mỹ đã thực hiện nghiên cứu và phát hiện, những người stress, làm việc trong môi trường căng thẳng thì hàm lượng hormon cortisol tăng đột biến, nó làm cho quá trình sản xuất dầu nhờn của cơ thể tăng nhanh và phát sinh nhiều trứng cá mặt. Ví dụ, phần lớn sinh viên trong giai đoạn thi cử, do căng thẳng nên stress tăng mạnh, xuất hiện nhiều trứng cá trên mặt. Ngoài trứng cá, stress còn gia tăng bệnh vảy nến, cả hai chứng bệnh ngoài da này làm cho con người ta trở nên xấu xí, nhất là khi bị stress nhiều và kéo dài.

Rụng tóc

Rụng tóc sớm là một trong những căn bệnh tồi tệ do stress mạn tính gây ra, nhất là ở phụ nữ. Theo nghiên cứu, hiện tượng rụng tóc sớm ở phụ nữ có rất nhiều nguyên nhân nhưng trong đó stress đóng vai trò chủ đạo. Nó không chỉ gây rụng tóc mà còn làm cho tóc bạc nhanh, thậm chí chỉ sau một đêm sự kiện kinh hoàng diễn ra, tóc của con người đã trở nên bạc trắng.

KHẮC NAM

(Theo HP, 6/2013)