Author Archives: dungntk

Bệnh đau dây thần kinh tọa là một căn bệnh khá phổ biến thường gặp từ độ tuổi 30 – 65 tuổi, chứng thần kinh tọa khiến bệnh nhân khổ sở bởi những cơn đau như là đau ở mông, lưng, kheo cẳng. Đối tượng mắc bệnh này cũng khá đa dạng có thể gặp ở nhiều ngành nghề khác nhau. Xin được trích lại bài phỏng vấn PGS.TS Nguyễn Nhược Kim, là Phó Chủ tịch Hội Đông Y Việt Nam. (Chương trình Y học phương Đông) về căn bệnh đau thần kinh tọa.

Tư vấn về nguyên nhân, triệu chứng và cách phòng bệnh đau thần kinh tọa 1

Xin được hỏi PGS.TS, có thể nói bệnh đau dây thần kinh tọa là một bệnh thường gặp ở nhiều người, vậy xin PGS.TS có thể cho biết cấu tạo, vị trí  và chức năng của dây thần kinh tọa là như thế nào?

Trước hết, dây thần kinh tọa còn được gọi là dây thần kinh ngồi. Ngày nay người ta gọi là dây thần kinh hông to. Dây thần kinh tọa còn gọi là dây thần kinh hỗn hợp cả vận động, cả cảm giác. Và đây là dây thần kinh to nhất trong cơ thể, nó chia làm 2 nhánh: 1 nhánh là dây thần kinh hông to ngoài, 1 nhánh là dây thần kinh hông to trong và đi xuống tận cổ chân, bàn chân.

Vậy xin hỏi PGS.TS bệnh đau dây thần kinh tọa thực chất là bệnh gì?      

Người ta nói bệnh đau dây thần kinh tọa hay còn gọi là hội chứng thoát lưng hông thì biểu hiện trên lâm sàn bằng 2 hội chứng:

Một là hội chứng cột sống: Bệnh nhân có đặc điểm là đau dữ dội dọc theo từ thắt lưng xuống mông, xuống mặt sau đùi, xuống cẳng chân, rồi từ cẳng chân xuống bàn chân và ngón chân. Đau kèm theo cảm giác tê bì.

Thứ hai là có thể gây ra co cứng cạnh sống

Thứ ba là khi người thầy thuốc khám ở các gai sau cột sống bệnh nhân thấy đau

Thứ 4 là biểu hiện rối loạn dinh dưỡng làm cho bệnh nhân mắc lâu ngày có thể teo cơ, vài chỗ có thể giảm hoạt động

Theo được biết bệnh nhân đau thần kinh tọa thường trong độ tuổi từ 30 – 65 tuổi. Vậy tại sao ở độ tuổi này người ta lại mắc nhiều và độ tuổi nào thường có nguy cơ mắc đau thần kinh tọa?

Thứ nhất, ở người cao tuổi từ 60 trở lên thì phần lớn hiện tượng thường gặp là thoái hóa cột sống. Đó là một trong những cái góp phần các bệnh lý về cơ xương khớp dẫn đến đau thần kinh tọa.

Với những người trẻ tuổi mắc bệnh đau thần kinh tọa thường là do tư thế ngồi. Ví dụ người lái xe thì động tác ngồi rất nhiều, hoặc xuất hiện đột ngột ở người chơi thể thao quá mức. Ví dụ người chơi tennis, golf, …thì người ta gọi đó là đau cơ giới.

Đau dây thần kinh tọa còn có thể là triệu chứng của các bệnh lý khác: ví dụ bệnh tê xương khớp như thoát vị đĩa đệm, lồi đĩa đệm, hẹp ống sống đều có thể gây ra đau thần kinh tọa. Hoặc bệnh đau tủy xương, bệnh ung thư hoặc các trường hợp nhiễm khuẩn cũng có thể gây đau thần kinh tọa

Thưa PGS.TS có thể phân tích rõ hơn về nguy hiểm của căn bệnh đau thần kinh tọa. Nếu không phát hiện kịp thời thì có những biến chứng gì xảy ra?

Ngay cả khi chưa có biến chứng cấp thì chắc chắn bệnh nhân khi vận động thường bao giờ cũng sẽ lấy chân lành làm trụ, chân đau sẽ ít vận động vì đó là phản xạ tất yếu của cơ thể, nên dẫn đến tình trạng rối loạn thần kinh thực vật dinh dưỡng dẫn đến teo cơ, người đau lâu thì chi bên đau sẽ nhỏ hơn chi lành.

Thưa PGS.TS những người đau dây thần kinh tọa thường xuyên phải đi châm cứu đó là cách để bệnh nhân giảm đau. Vậy thì ngoài ra còn phương pháp nào không ạ?

Có thể sử dụng phương pháp không dùng thuốc và dùng thuốc, không dùng thuốc giảm đau bằng cách châm cứu, thậm chí có thể sử dụng phương pháp khác của châm cứu như tủy trâm (tiêm thuốc vào tủy) kết hợp xoa bóp, bấm huyệt cũng làm giảm đau, tác động đến cột sống

Thứ 2, là dùng thuốc sẽ tùy thuộc theo thể lâm sàng mà dùng thuốc khác nhau.

Thứ 3, là có thể dùng thuốc hỗ trợ, trong các loại thuốc hỗ trợ hiện nay thường được sản xuất dưới dạng chế phẩm như thakito để cho bệnh nhân tiện sử dụng, bảo quản. Thành phần chủ yếu của nó gồm các vị thuốc có tác dụng hoạt huyết, thông ứ như đương quy, hoặc sử dụng các vị thuốc có tác dụng hành khí như sở hương, trầm hương (vì đông y quan niệm khí hành thì huyết hành), bổ thân như quy bản (bổ thận âm) vì lưng là phủ của thận.

Thế thì bản thân của chế phẩm này với tất cả vị thuốc có tác dụng hoạt huyết, khứ ứ, hành khí, thông lạc, bổ thận có tác dụng hỗ trợ cho bệnh đau thần kinh tọa.

Vậy ngoài việc sử dụng sản phẩm Thakito thì chúng ta cần dùng thuốc nào để điều trị không ạ? Và dùng Thakito như thế nào để đạt hiệu quả tốt nhất ạ?

Trước hết cần đi khám đầy đủ về mặt y học để xem nguyên nhân và có cơ sở để chọn phương pháp nào điều trị tốt nhất: theo phương pháp Y học hiện đại, y học cổ truyền hay cả hai.

Đối với đau dây thần kinh tọa mãn tính không có chỉ định phẫu thuật của YHHĐ thì cần dùng kết hợp các phương pháp xoa bóp, châm cứu, bấm huyệt và kết hợp dùng thêm chế phẩm như Thakito và sử dụng dưới dạng viên nang. Trong thành phần Thakito có nhiều vị thuốc có tính hoạt huyết mạnh nên không dùng cho phụ nữ có thai và trẻ em.

Như vậy việc điều trị bệnh đau dây thần kinh tọa phải kết hợp các biện pháp nội khoa, đông y, ngoại khoa, vật lý trị liệu và phục hồi chức năng. Trong giai đoạn đau cấp bệnh nhân nên nghỉ nghơi tuyệt đối ngừng và tránh những bất động, di chuyển hoặc thay đổi tư thế làm căng dây thần kinh tọa. Về vật lý trị liệu bệnh nhân thường chườm nóng kết hợp chiếu tia hồng ngoại, điện châm, tắm suối khoáng, kéo giãn cột sống cho trường hợp lồi hoặc thoát vị đĩa đệm. Nên kết hơp xoa bóp, bấm huyệt…Với những phương pháp này giúp cho bệnh nhân đau thần kinh tọa thuyên giảm rất nhiều.

Bệnh đau dây thần kinh tọa thường đeo bám bênh nhân rất là lâu, vậy muốn phòng bệnh này cần làm như thế nào?

Trước hết phải chú ý đến nghề nghiệp và tư thế nghề nghiệp. Ví dụ người phải ngồi lâu như lái xe, ngồi làm việc văn phòng. Thì những người này nên kết hợp những động tác tác động đến cột sống.

Thứ 2, tránh tư thế đột ngột như ưỡn quá mạnh, cúi quá nhanh, bê vật nặng thì cần tránh nhiều động tác dễ làm ảnh hưởng đến cột sống.

Thứ 3 là người thừa cân, béo phì thì phải giảm cân

Thứ 4 khi bị đau thì cần hết sức tránh các động tác hoặc tham gia thể thao không có lợi cho cột sống như tennis, chơi golf, bóng chuyền, bóng chày. Tất cả những môn thể thao này đều xoay, vặn, ưỡn ngửa…làm cột sống rất dễ tổn thương.

Bên cạnh các phương pháp trên bệnh nhân có thể kết hợp bằng các phương pháp YHCT như sử dụng Thakito. Thakito với những vị thuốc quý có tác dụng thông tắc bất thống như:

Tư vấn về nguyên nhân, triệu chứng và cách phòng bệnh đau thần kinh tọa 2

Đương quy: được dùng để điều trị huyết ứ trệ, phong thấp, thiếu máu làm giảm đau.

Thiên ma: có tác dụng khu phong, chấn kinh, chủ trị đau do phong thấp, tê cứng chân tay do kinh lạc bế tắc

Xạ hương: làm thông kinh lạc

Huyết kiệt: đi vào kinh can giúp tán ứ, hoạt huyết, giảm đau ngoại biên, sinh tân dịch, trừ tà khí trong ngũ tạng

Quy bản: bổ thận tư âm, để cân bằng âm dương trong cơ thể, phòng chống đau nhức

Nhân sâm: làm tăng thể lực trí tuệ, tăng sức đề kháng bệnh tật

Trầm hương: có tác dụng giáng khí, nạp thận, bình can, tráng nguyên dương có tác dụng giảm đau trấn tĩnh.

An túc hương: phục hồi nguyên khí cho thận và làm ẩm cơ thể

Ô xảo xà: là thịt rắn nước chữa chứng phong thấp

Thakito không chỉ nhằm bình can chỉ thống khu tà hoạt huyết mà còn đặc biệt tập trung vào việc kích thích những cơ năng tự nhiên trong phủ tạng để vận hành chức năng phục hồi sức khỏe và tăng đề kháng.

Với những chức năng của Thakito cùng với chế độ sinh hoạt hợp lý và có kèm theo một số động tác tập thể dục đó chính là giải pháp tối ưu cho bệnh nhân đau thần kinh tọa.

Để biết thêm thông tin về nguyên nhân và cách điều trị bệnh đau thần kinh tọa, xin vui lòng gọi tổng đài tư vấn sức khỏe 1900 8080 hoặc Hotline 0906 717 713.

Xem chi tiết tại website: www.thakito.com

* Sản phẩm này không phải là thuốc, không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh

 

Thống kê sơ bộ từ tháng 9/2004 đến đầu năm 2013 của Khoa Bệnh nhiệt đới, BV Chợ Rẫy, TP.HCM đã có 1.552 ca nhập viện do ngộ độc thuốc diệt cỏ paraquat. Theo các nhà chuyên môn, chỉ cần uống một lượng nhỏ chất này thì nguy cơ tử vong rất cao vì đến nay, khoa học chưa nghiên cứu ra thuốc kháng độc, điều trị ngộ độc paraquat. Vậy việc phát hiện, sơ cứu đúng, kịp thời là vô cùng quan trọng để tránh những hậu quả đáng tiếc có thể xảy ra.

Ngộ độc thuốc diệt cỏ có nguy hiểm?

Paraquat là loại hóa chất cực độc có trong thuốc diệt cỏ đã bị cấm ở châu Âu nhưng ở nước ta vẫn được sử dụng rộng rãi. Hiện trên thị trường có các tên khác như: glamoxone, cyclone, surefire, prelude…

Paraquat thẩm qua tiểu tràng rất nhanh. Nồng độ huyết tương lên đến đỉnh cao sau 2 giờ, 5-10% được hấp thụ qua ruột, còn lại được thải trừ qua phân. Do vậy, chỉ cần uống quá 40mg paraquat/kg (khoảng một thìa canh 15ml) dung dịch paraquat 20% thường gây tử vong trong 1-5 ngày do suy đa phủ tạng hoặc do bỏng niêm mạc tiêu hóa. Bỏng thực quản có thể gây thủng dẫn đến viêm trung thất. Uống từ 30-40mg paraquat/kg sẽ gây tử vong trong vòng 5 ngày đến nhiều tuần do viêm loét ống tiêu hóa và hoại tử vỏ thận, cuối cùng là xơ phổi.

Ngộ độc thuốc diệt cỏ - xử lý thế nào? 1
 Phun thuốc diệt cỏ mà không trang bị đầy đủ bảo hộ lao động có thể gây ngộ độc cho bản thân.

Dấu hiệu nhận biết

Khi ngộ độc, bệnh nhân có biểu hiện tại chỗ là kích thích và viêm da, màng tiếp hợp, kết mạc, long móng. Triệu chứng toàn thân (hội chứng suy đa tạng) gồm: Tiêu hóa: Nôn sớm, đau rát, loét niêm mạc miệng, họng, thực quản, thượng vị. Có thể thủng thực quản, dạ dày hoặc tá tràng; Hô hấp: có thể suy hô hấp sớm nếu nặng (tổn thương phổi, xuất huyết phổi) hoặc có biến chứng tràn khí màng phổi, trung thất. Thường xơ phổi tiến triển dần, khó thở, SPO2 giảm, PaO2 giảm dần xuất hiện sau vài ngày tới vài tuần và dẫn tới tử vong; Tiết niệu: hoại tử ống thận cấp, suy thận có thể xuất hiện từ ngày thứ 2 trở đi; Viêm gan: từ ngày thứ 2 trở đi, có thể suy gan.

Theo một nghiên cứu cho thấy, số bệnh nhân bị ngộ độc paraquat thì mức độ tổn thương là: loét miệng qua đường uống (100%); suy hô hấp (trên 80%); suy gan (trên 60%); suy thận (trên 50%); tràn khí trung thất, dưới da, màng phổi (7%); truỵ mạch (4,5%), thủng thực quản (4,5%). Với tính độc cho người rất cao nhưng cho đến nay vẫn chưa có chất giải độc, chỉ có một biện pháp duy nhất là thải trừ độc càng sớm càng tốt (nếu tới sau 6 giờ, súc rửa dạ dày và cho uống chất hấp phụ không còn hiệu quả).

Xử trí như thế nào?

“Giờ vàng” cho cấp cứu ngộ độc

Thời gian “giờ vàng” chỉ là 2 giờ đầu sau khi uống phải thì bệnh nhân có cơ hội được cứu sống. Tuy nhiên, ở nước ta, ngộ độc paraquat thường dài hơn 6 giờ sau khi uống, thậm chí nhiều bệnh nhân đến viện cấp cứu rất muộn. Theo nghiên cứu, paraquat có nồng độ cao nhất ở phổi trong 7 giờ đầu, nếu không có suy thận và 15-20 giờ nếu có suy thận.

Các nguyên tắc ưu tiên ban đầu khi xử trí bệnh nhân ngộ độc cấp nói chung, ngộ độc thuốc diệt cỏ paraquat nói riêng là đảm bảo thông thoáng đường thở, sau đó là các biện pháp hỗ trợ hô hấp và tuần hoàn.

Tại nơi phát hiện ngộ độc:

Gây nôn: làm càng nhanh càng tốt, trong vòng 1 giờ đầu uống nước và gây nôn bằng cách cho bệnh nhân uống 200ml nước (100ml nước muối sinh lý với trẻ em), tiếp theo dùng một que dài một đầu quấn bông hoặc vải, bảo bệnh nhân há miệng, ngoáy que bông vào góc hàm kích thích nôn. Khi nôn, để bệnh nhân đầu thấp tránh sặc vào phổi. Nếu có thể, nên cho uống siro ipeca 30ml (người lớn); 10-15ml ở trẻ em, sau 15 phút sẽ gây nôn.

Nếu bệnh nhân tiếp xúc qua mắt, da…, cần rửa da, rửa mắt liên tục với nhiều nước trong 15 phút, sau đó đưa bệnh nhân đến ngay cơ sở y tế gần nhất để được cấp cứu kịp thời.

Nếu nhà quá xa cơ sở y tế, sau khi bệnh nhân nôn, có thể cho bệnh nhân uống một trong các thuốc sau làm giảm hấp phụ chất độc vào cơ thể:

Uống đất sét (nếu không có thì dùng đất thường): hấp phụ rất tốt paraquat, pha nước uống ngay; Than hoạt tính: 1g/kg/lần hoặc fuller’s earth: 1 – 2g/kg/lần, pha nước cho bệnh nhân uống rồi khẩn trương đưa nạn nhân đến cơ sở y tế gần nhất.

Lời khuyên của thầy thuốc?

Để tránh tình trạng ngộ độc do uống nhầm hóa chất, cần chứa hóa chất trong các vật chứa an toàn, không chứa trong chai nước suối, trà xanh. Để hóa chất tránh xa tầm tay trẻ em. Quan tâm đến trẻ đang trong độ tuổi dậy thì, tạo thói quen sống lành mạnh và tinh thần thoải mái cho trẻ, tránh tình trạng bi quan dẫn đến tự tử.            

   BS. Lê Thái

 

Cá là thực phẩm rất tốt cho sức khỏe bởi giàu dinh dưỡng, dễ tiêu hóa. Tuy nhiên những cách ăn cá dưới đây không những không tốt mà còn gây bệnh:

3 cách ăn cá gây hại sức khỏe 1

Ăn cá khi đói – nguy cơ Gout

Rất nhiều người vì mục đích giảm béo, chỉ ăn thức ăn không ăn cơm. Ăn cá khi bụng đói là một việc thường gặp ở nhiều người, nhưng điều này có thể dẫn đến phát tác bệnh Gout. Nguyên nhân là do chất purine tăng làm cho acid uric tăng lên, từ đó gây ra tổn thương mô. Tổn thương mô là một nguyên nhân lớn gây ra bệnh Gout.

Bắt lên ăn sống – chất độc tàn lưu nguy hại cơ thể

Nhiều người đều cho rằng ăn cá càng tươi càng tốt và ăn cá sống là đảm bảo dinh dưỡng nhất. Nhưng trên thực tế đây lại là một nhận thức sai. Bất luật là cá nuôi hay cá tự nhiên, trong cơ thể cá đều có một chất độc hại nhất định.

Ngoài ra, ăn gỏi cá cũng vậy, trong gỏi cá có nhiều ký sinh trùng gây bất lợi cho gan, làm cho gan chúng ta lây nhiễm ký sinh trùng, nặng thậm chí dẫn đến ung thư gan.

Ăn mật cá giải độc lại thành chất độc

Mật cá là một vị thuốc Đông y, bác sỹ Đông y thường dùng nó chữa trị đau mật, mắt đỏ, viêm, tê họng, lở loét ác tính vv nhưng phải qua điều chế thành dạng thuốc.

Dân gian cũng vì vậy lưu truyền ăn mật cá có thể thanh nhiệt giải độc, sáng mắt, chặn ho. Mặc dù mật cá có vị rất đắng, họ vẫn cố sức để nuốt ực. Tuy nhiên ăn mật cá cực kỳ nguy hiểm, rất dễ gây ra trúng độc, thậm chí nguy hại đến tính mạng.

Theo Dân trí/ Health

Những bài thuốc này dễ làm, dễ dùng. Đặc biệt, như đã nói, nó có hiệu quả không ngờ.

1. Tỏi với gừng chữa bệnh chân dương kém (suy yếu tình dục nam). Dùng 2 củ tỏi và 30g gừng rang lẫn cùng nhau. Sau đó ăn riêng hoặc ăn cùng (bí quyết là rang cùng). Sau khi ăn liên tục 1 tuần thì sẽ thấy hiệu quả, đặc biệt với người trẻ và suy giảm nhất thời.

2. Cảm cúm lây nhiễm, đầu đau phát sốt, sợ lạnh, không ra mồ hôi, hôi buồn nôn: gừng tươi 15g, tỏi 6 nhánh, đường một ít. Cho cả 3 thứ này vào sắc nước uống, tranh thủ uống lúc nóng, uống xong, lên gường nằm đắp chăn kín. Mỗi ngày uống 1 thang như trên. Tác dụng giải cảm.

Một số  bài thuốc phối hợp tỏi với gừng 1

3. Chữa cảm nắng, hôn mê: gừng tươi, tỏi, rau hẹ mỗi thứ một lượng vừa phải. Rửa sạch 3 thứ trên, gừng tỏi bỏ vỏ, cùng giã nát lấy nước chắt ra uống.

4. Bệnh cảm do gió lạnh: gừng 100g, tỏi 400g, mật ong 10ml, chanh 3 – 4 quả, rượu 800ml. Tỏi bóc vỏ đập dập, chanh và gừng bỏ vỏ xắt miếng cùng đun trong 5ml mật ong. Sau đó đổ rượu vào dung dịch trên ngâm trong vò. Ba tháng sau, lọc lấy nước để uống.

Mỗi lần uống 3 – 5cc pha với nước lọc nguội. Không uống quá nhiều.

5. Nôn mửa do bị cảm lạnh nôn ra nước hoặc một lượng thức ăn nhỏ, sắc mặt tái nhợt, mệt mỏi rã rời, rêu lưỡi trắng, mạch đập yếu: gừng 1 củ, tỏi 1 củ; gừng trộn tỏi giã nát thành bánh, đắp băng ở huyệt Đan điền (dưới rốn) và huyệt nội quan (ở cổ tay).

6. Thông kinh hoạt huyết, khử phong tán hàn, trừ tê thấp. Nước gừng tươi, nước hành, nước tỏi, nước lá hẹ, dầu vừng, mỗi thứ 120g, nước lá ngải cứu 30g, rượu trắng 600g. Trước tiên cho nước gừng, hành, tỏi, hẹ, lá ngải vào ấm, trộn đều, rồi cho rượu trắng vào đun to lửa cho sôi. Sau đó rót dầu vừng vào, khuấy đều, rồi đun nhỏ lửa, cho đến khi thật sánh, cho thêm ít tùng hương, hồng đơn vào khuấy đều thành cao, cho vào lọ dùng dần. Khi dùng phải hâm nóng, bôi vào khăn đắp vào chỗ tê, đau. Cứ 1 – 2 ngày thay 1 lần.

7. Tác dụng thông kinh lạc, giảm tê, giảm đau. Đau ngực, phần lớn nguyên nhân là do hàn ngưng tâm mạch, khí đọng trong lồng ngực. Triệu chứng thường thấy, ngực đầy tức, thỉnh thoảng thấy đau, cũng có khi đau dữ dội… Tỏi 2 củ, gừng tươi 8g, khoai môn 60g, sơn dược 60g. Tất cả các thứ trên đem giã nát, đắp vào chỗ đau, lấy gạc đặt lên, dùng băng dính cố định lại.

8. Tuyên lợi, phế khí, khai âm, mất tiếng, phần lớn do nhiệt, phong hàn xâm nhập cổ họng dẫn đến: tỏi 6g, gừng tươi 3g, lá ngải 20g, lòng trắng trứng gà 1 quả. Cả 3 vị thuốc, đem giã nát nhuyễn, cho lòng trắng trứng gà vào trộn đều, đắp vào huyệt đại trùy (nằm chỗ lõm vào đốt sống thứ 7, khi ngồi cúi xuống), và huyệt dũng tuyền ở lòng bàn chân. Sau đó dùng băng băng chặt lại.

9. Giáng hỏa, giảm đau, đau răng: gừng tươi 6g, tỏi 6g, lá chè 12g, uy linh tiên 12g. Tất cả đem giã nát nhuyễn, cho một ít dầu vừng lòng trắng trứng vào, trộn đều đem đắp vào huyệt hợp cốc (chỗ lõm giữa ngón cái và ngón trỏ) và đắp vào huyệt dũng tuyền (chỗ lõm dưới gan bàn chân, nằm ở điểm 1/3 từ đầu ngón cái đến gót chân). Sau đó dùng băng dính cố định lại.

10. Kiện tỳ, lợi tiểu, chủ trị viêm thận mãn: gừng tươi 3 lát, hành hoa 1 cây, tỏi 3 nhánh. Đem ba vị trên giã nát, nặn thành bánh dán quanh rốn. Mỗi ngày thay băng 3 lần.

 BS. HOÀNG THUẦN

Ngoài yếu tố thời tiết thì chính những sai lầm trong cách dự trữ thực phẩm lại là nguyên nhân dễ khiến bạn trở thành nạn nhân của ngộ độc thực phẩm. Dưới đây là những sai lầm phổ biến:

Thức ăn để ở nhiệt độ bình thường trong vài giờ thì vẫn ăn được

Theo cảnh báo của các chuyên gia về an toàn thực phẩm thì mùa đông nhiệt độ thấp, trời lạnh, các loại thực phẩm đã chế biến như gà rán, hamburger, bánh ngọt để bên ngoài được khoảng 2 – 3 giờ. Sau khoảng thời gian này, vi khuẩn bắt đầu sinh sôi và làm biến chất thực phẩm.

Tại các nước nhiệt đới, với nhiệt độ trong ngày thường trên mức 30 độ thì việc để thực phẩm trong nhiệt độ phòng quá 1 giờ đã là nguy hiểm.

Những sai lầm trong dự trữ thực phẩm 1Cần rửa sạch cả những loại trái cây cần gọt vỏ khi ăn. 

Đồ ăn thừa vẫn dùng tốt sau nhiều ngày nếu để trong tủ lạnh

Do lối sống hiện đại, công việc bận rộn nên nhiều gia đình có thói quen chế biến nhiều thức ăn rồi cất thực phẩm sau khi chế biến trong hộp rồi cho vào tủ lạnh. Phần thức ăn thừa này sẽ được dùng dần nhiều ngày sau đó. Đây lại chính là nguyên nhân dẫn đến nhiều ca ngộ độc thực phẩm trong hộ gia đình.

Thực ra, những thực phẩm đã chế biến và để bên ngoài nhiệt độ phòng từ 2 giờ trở lên cần được sử dụng hết trong ngày. Nếu cất chúng vào hộp kín và trữ trong tủ lạnh thì tuổi thọ của các thực phẩm này cũng không quá 2 ngày. Sau khoảng thời gian này, chúng sẽ có hại nếu bạn tiếp tục sử dụng.

Rửa tay với nước sạch là đủ

Bàn tay chứa rất nhiều loại vi khuẩn có hại mà nước không thể nào rửa sạch được, do đó, xà phòng diệt khuẩn là trợ thủ vô cùng cần thiết cho các bà nội trợ.

Không cần rửa những loại quả cần gọt vỏ khi ăn

Ngay cả khi gọt vỏ trái cây thì vi khuẩn, đặc biệt là khuẩn E.Coli vẫn có thể xâm nhập vào phần thịt quả vì con dao sẽ trở thành vật trung gian đưa vi khuẩn từ vỏ vào thịt quả. Do đó, cần rửa sạch cả những loại trái cây cần gọt vỏ khi ăn.

Nhận biết thực phẩm hỏng bằng màu và mùi khó chịu

Đây là một trong những quan niệm sai lầm phổ biến nhất của nhiều người, đặc biệt là các bà nội trợ. Nhiều người cho rằng khi thực phẩm hư hỏng, nó sẽ xuất hiện lớp mốc hay ít nhất sẽ biến mùi.

Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy, rất nhiều loại thực phẩm khi bắt đầu hỏng sẽ không có bất kỳ mùi lạ nào cũng như dáng vẻ bề ngoài của chúng không hể thay đổi. Khi ăn phải những loại thực phẩm này, bạn vẫn bị ngộ độc, mà biểu hiện cơ bản nhất là đau bụng, buồn nôn.

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức

Liệu pháp xạ trị (còn gọi là điều trị bằng tia xạ, chiếu tia xạ) là phương pháp điều trị y học sử dụng các tia bức xạ năng lượng cao hoặc các hạt đồng vị phóng xạ phát ra từ các máy xạ trị hoặc các nguồn phóng xạ để chữa bệnh, nhất là bệnh ung thư. Tuy nhiên, vì một lý do nào đó, nó lại làm cho nhiều người bị nhiễm xạ dẫn đến tử vong như hai trường hợp đáng buồn dưới đây.

Sự cố liệu pháp xạ trị ở BV Zaragoza năm 1990

Đây là sự cố đau lòng xảy ra tại Bệnh viện Zaragoza ở Tây Ban Nha từ ngày 10 đến ngày 20/12/1990 làm 27 bệnh nhân bị thương và 11 người tử vong. Tất cả những người bị thương đều là bệnh nhân ung thư đang được trị bệnh bằng liệu pháp chiếu tia xạ. Theo Cơ quan Năng lượng nguyên tử Quốc tế (IAEA) thì đây là một trong những sự cố nguyên tử dân sự lớn nhất diễn ra trên thế giới,  liên quan đến sự cẩu thả của con người, không tuân thủ các quy định về an toàn năng lượng nguyên tử. Chuyện bắt đầu từ ngày 7/12/1990 khi nhân viên bảo dưỡng máy gia tốc điện tử tại Bệnh viện Zaragoza đã không làm tròn trách nhiệm, trong khi đó, Ủy ban An toàn nguyên tử quốc gia Tây Ban Nha lại bỏ qua  không nghiệm thu và cho phép máy đưa vào sử dụng ngay. Ngay sau khi đưa vào sử dụng, ngày 19/12/1990, máy đã phát sinh sự cố, có mức công suất cực lớn,  hầu hết bệnh nhân được điều trị đã bị bỏng nặng, đặc biệt là ở những vùng được chiếu xạ, gây viêm nhiễm nội tạng và tủy xương. Ngày 16/2/1991, sau 2 tháng điều trị bằng liệu pháp bức xạ, bệnh nhân đầu tiên tử vong, con số tử vong tiếp tục tăng lên và đến ngày 25/12/1999, con số thiệt mạng đã lên tới 25 người. Số người bị nhiễm phóng xạ tăng lên rất nhiều, có ít nhất 27 trong số 31 bệnh nhân ung thư được dùng máy gia tốc điều trị bị nhiễm độc và bị bỏng nặng. Theo báo cáo của lãnh đạo Bệnh viện Zaragoza, thiết bị dùng cho liệu pháp xạ trị có tuổi thọ 14 năm nhưng khi bảo dưỡng, sửa chữa lại không tuân thủ theo hướng dẫn, quy trình quy phạm, đặc biệt là sự cố hệ thống điều khiển chùm tia của máy gia tốc. Bảo dưỡng không đúng quy trình, không khắc phục được sự cố nên dòng điện phát ra quá lớn gây bỏng. Thông thường, liệu pháp chiếu xạ cần mức năng lượng là 7MeV, nhưng máy gia tốc điện tử của Zaragoza lại có công suất tăng vọt tới 40MeV. Sau sự cố nói trên, ban lãnh đạo bệnh viện đã đổ lỗi cho nhân viên bảo dưỡng, nhưng Bộ Y tế Tây Ban Nha lại đổ trách nhiệm cho hãng GE (General Electric) nơi bán thiết bị đã không làm đúng trách nhiệm bảo dưỡng, khắc phục sự cố định kỳ. Sau gần 3 năm tranh cãi, cuối cùng, vào ngày 6/4/1993, Tòa án Tối cao Tây Ban Nha đã phán quyết bệnh viện, Viện y học quốc gia của Tây Ban Nha vô tội, nhưng nhân viên bảo dưỡng thiết bị và hãng GE phải chịu trách nhiệm. Riêng hãng GE phải có trách nhiệm bồi thường cho các nạn nhân, gia đình những người bị thiệt mạng số tiền 400 triệu pesetas (tương đương 2,4 triệu euro). Thiết bị gia tốc nói trên đã được khắc phục sự cố, hoạt động đến tháng 12/1996, sau đó được “nghỉ hưu” một cách bí mật, nhưng nó đã trở thành bài học đắt giá về sự cẩu thả của con người.

Liệu pháp xạ trị và tai biến đáng tiếc 1
 Một số bệnh nhân bị bỏng do xạ trị.

Sự cố xạ trị ung thư ở Viện Ung thư quốc gia Panama

Từ tháng 8/2000 đến tháng 3/2001, có 28 bệnh nhân được điều trị ung thư tiền liệt tuyến và ung thư tử cung chiếu xạ tại Viện Ung thư quốc gia Panama (ION). Tất cả những người này đều được xạ trị liều cao gây nguy hiểm chết người nhưng hoàn toàn không được qua kiểm chứng trước. Sự thiếu trách nhiệm chuyên môn của ION đã gây nguy hiểm đến tính mạng con người.

Trước đó, tháng 6/1999, Viện Ung thư quốc gia Panama được trang bị nhiều thiết bị trị ung thư hiện đại như máy gia tốc tuyến tính, máy CT và ICU… Giống như các bệnh viện ung thư khác, ION có khoa điều trị bằng liệu pháp xạ trị, sử dụng hệ thống TPS (dàn máy tính lập kế hoạch điều trị). Đây là hệ thống có khả năng tính toán nhanh việc phân bố hàm lượng tối ưu theo 3D và đưa ra các thông số che chì, lọc nêm trên mỗi chùm tia. Toàn bộ các thông số kỹ thuật, dữ liệu liên quan đến bệnh nhân đều được truyền qua máy đến máy điều trị. Nhờ hệ thống TPS, người ta biết được mức che chắn tối đa dựa trên chùm tia cho mỗi lần điều trị cũng như liều lượng tối ưu nhằm bảo vệ mô khỏe mạnh không bị tổn thương trong quá trình xạ trị. Đến năm 2000, phương pháp tính toán các khối che chì dạng số được thay đổi, cho phép người ta lấy nhiều chỉ số che chì cùng một lúc thay vì một chỉ số đơn như trước, hậu quả liều lượng mà bệnh nhân nhận được tăng vọt so với liều lượng quy định và cuối cùng làm cho 28 bệnh nhân gặp nạn trong thời gian từ tháng 8/2000 đến 2001, trong số này có 17 người thiệt mạng và 11 người khác bị thương. Thực ra thì việc cải tiến nói trên được xem là sáng kiến nhưng nó lại không được kiểm chứng, nghiệm thu hoặc đối chiếu kỹ càng nên hậu quả liều chiếu xạ tăng vọt so với ngưỡng cho phép, đến lúc phát hiện ra thì  đã quá muộn.

Sau thời gian dài tranh cãi, 5 bác sĩ và 2 chuyên gia vật lý của Cơ quan Năng lượng nguyên tử Quốc tế (IAEA) và các nhân viên giám sát của Tổ chức Y tế liên Mỹ (PAHO) đã vào cuộc theo yêu cầu của Chính phủ Panama. Kết quả, việc phơi nhiễm bức xạ bằng kỹ thuật xạ trị ở ION là cực kỳ nghiêm trọng. Rất nhiều bệnh nhân đã phơi ra môi trường bức xạ cực lớn, cao hơn ngưỡng cho phép từ 30-50%. Đây là sự cố “xưa nay hiếm” chưa từng diễn ra trong lĩnh vực y học. Theo IAEA, đây là lỗi của ngành y, tin tưởng quá lớn vào những thiết bị hiện đại trong khi đó kiến thức con người lại có hạn, nhất là khâu vào dữ liệu không hợp cách, đặc biệt là khối chì bảo vệ, làm tăng liều xạ trị. Ngoài những người tử vong do nhiễm liều quá cao, những người khác tuy không tử vong nhưng cũng làm cho bệnh tình của họ trở nên trầm trọng.    

       NAM GIANG

       (Theo WP/ION- 7/2013)

Với con người, nước không chỉ là một chất dinh dưỡng trọng yếu duy trì mọi hoạt động sống, mà còn là một nhân tố tham gia tích cực vào việc phòng chống bệnh tật, bảo vệ và nâng cao sức khỏe. Từ xa xưa, trong y học cổ truyền phương Đông, nước đã được sử dụng như một phương tiện, một thứ thuốc để chữa bệnh và dưỡng sinh.

Sách “Lễ ký” thời Xuân thu Chiến quốc đã viết: “Đầu hữu sang tắc mộc, thân hữu dương tắc dục”, ý nói khi ở đầu và thân mình có bệnh thì nên sử dụng việc tắm gội như một phương pháp chữa trị. Y thư kinh điển cổ nhất còn lưu lại đến ngày nay “Hoàng đế nội kinh” cũng đã viết: “Kỳ hữu tà giả, tứ hình dĩ vi hãn”, ý nói nên lấy việc ngâm rửa làm một trong những nội dung trọng yếu của “hãn pháp” (phương pháp làm ra mồ hôi để loại bỏ tà khí).

Tiếp đó, trong các y thư cổ nổi tiếng đời sau như “Thiên kim yếu phương”, “Kinh sử chứng loại bị cấp bản thảo”, “Trửu hậu bị cấp phương”, “Thiên kim dực phương”, “Ngoại đài bí yếu”, “Ngoại khoa tinh nghĩa”, “Chứng loại bản thảo”… đều đã ghi lại những kinh nghiệm dùng nước để chữa bệnh ở các mức độ khác nhau. Đặc biệt, trong sách “Bản thảo cương mục”, nhà bác học Lý Thời Trân đã tiến hành thu thập và tổng kết kinh nghiệm sử dụng thủy liệu pháp của các bậc tiền nhân. Căn cứ vào nguồn gốc, trạng thái và tính chất của các loại nước, ông đã chia nước ra thành hai loại lớn là Thiên thủy và Địa thủy, đồng thời còn nói rõ đặc tính của 43 loại nước khác nhau như nước mưa, sương, mù, tuyết, băng, mưa đá, nước biển, nước sông, nước suối, nước hồ ao…

Đông y dùng nước chữa bệnh như thế nào? 1Dược dục pháp là phương pháp dùng nước có pha dịch chiết thảo dược

Người xưa đã vận dụng thủy liệu pháp theo những phương thức chủ yếu sau đây:

Ẩm thủy pháp, còn gọi là ẩm yến pháp, là phương pháp dùng các loại nước tự nhiên như nước giếng, nước suối, nước mưa… uống trực tiếp để chữa bệnh. Tùy theo tính chất hàn nhiệt của nước mà người ta phân ra làm hai nhóm Lãnh ẩm pháp (dùng nước lạnh) và Nhiệt ẩm pháp (dùng nước nóng). Theo quan niệm của cổ nhân, nước lạnh có khả năng điều hòa tràng vị, thanh nhiệt giải độc, trừ phiền chỉ khát; nước nóng có tác dụng thông dương phát hãn, ôn trung trừ hàn. Ví như, để chữa chứng trong ngực buồn phiền rạo rực, vã mồ hôi nhiều, sách “Chứng loại bản thảo” khuyên nên đào một cái hố, đổ nước vào trong, khuấy đục đợi cho nước trong trở lại, múc lên đun sôi để nguội rồi uống dần.

Hấp táp pháp: phương pháp cho người bệnh ngậm một ít nước rồi từ từ nuốt xuống họng. Theo cổ nhân, phương thức này có tác dụng điều hòa tỳ vị, lợi họng giải độc thường được dùng để chữa các bệnh đường tiêu hóa, hầu họng…

Hàm thấu pháp: phương pháp cho người bệnh ngậm nước, súc miệng rồi nhổ ra, có tác dụng làm sạch khoang miệng, giải độc lợi họng, tiêu sưng giảm đau, thường dùng trong các bệnh khoang miệng. Ví như, để chữa chứng miệng hôi, hàng ngày vào buổi sáng nên ngậm và súc miệng bằng nước giếng mới đào; để chữa chứng hư hỏa nha thống (viêm quanh răng) nên dùng nước ép địa cốt bì pha với nửa bát nước giếng và nửa bát nước sông ngậm và súc miệng.

Xạ lâm pháp: phương pháp dùng nước phun lên toàn thân hoặc tại chỗ để trị bệnh, có tác dụng làm sạch da, khai khiếu tỉnh thần, chỉ huyết tán ứ, trừ độc khứ uế, thường dùng trong các bệnh ngoài da. Ví như, dể chữa chứng tay chân sưng nề dùng nước giếng mới đào phun rửa tại chỗ sao cho da bớt nóng đỏ thì ngừng; để chữa say nắng, đặt bệnh nhân nằm vào chỗ mát và thoáng gió, lấy nước ấm phun vào rốn.

Tháp tứ pháp: phương pháp dùng nước lạnh hoặc nước nóng thấm đẫm vào khăn rồi đắp lên nơi bị bệnh, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, thông lạc chỉ thống, khai khiếu tỉnh thần, thường dùng trong chữa trị trúng độc, ngất và các bệnh ngoại khoa.

Tốn thủy pháp: phương pháp dùng nước tưới lên toàn thân hoặc nơi bị bệnh, có tác dụng tỉnh thần, chống co giật, thu sáp (làm co) và cầm máu. Ví như, để chữa chứng đột nhiên co giật, cửu khiếu xuất huyết, dùng nước giếng lạnh tưới phun lên mặt; để chữa chứng sa trực tràng dùng nước lạnh tưới phun lên toàn thân gây cảm giác rét run khiến trực tràng co lên nhanh chóng.

Thủy quán pháp: phương pháp thụt nước vào mũi miệng hoặc hậu môn, có tác dụng khai khiếu tỉnh thần, nhuận họng trừ đàm, thanh nhiệt giải độc, nhuận tràng thông tiện. Ví như, để chữa chứng đại tiện bí kết lâu ngày ở người già dùng nước sạch thụt vào hậu môn, nín chịu một lúc rồi đi đại tiện. Thủ thuật này, về nguyên tắc, tương tự như kỹ thuật thụt tháo đại tràng của y học hiện đại, nhưng vấn đề ở chỗ nó đã được tiến hành từ hàng trăm năm nay.

Dược dục pháp: phương pháp dùng nước có pha dịch chiết thảo dược hoặc trực tiếp dùng nước sắc thảo dược để tắm rửa toàn thân hay tại chỗ. Đây là cách chữa bệnh hết sức độc đáo của y học cổ truyền, vừa dùng tác nhân vật lý vừa lợi dụng sức thuốc để đạt mục đích trị liệu, được dùng để chữa hàng trăm chứng bệnh thuộc nhiều chuyên khoa khác nhau. Ví như, để chữa cảm mạo có thể ngâm hai chân trong nước sắc gừng tươi; để chữa phong thấp có thể ngâm rửa các khớp sưng đau trong nước sắc của các vị thuốc khu phong trừ thấp như ngưu tất, độc hoạt, tần giao…; để chữa chứng mày đay có thể dùng nước sắc các vị thuốc như phòng phong, kinh giới, đơn đỏ, sà sàng tử, bạch tiên bì, khổ sâm… để tắm rửa.

Òn tuyền liệu pháp: phương pháp dùng nước suối nóng để chữa bệnh. theo cổ nhân, nước suối nóng có vị ngọt, tính ấm, có tác dụng cổ động dương khí, ôn thông kinh lạc, hành khí hoạt huyết và bổ dưỡng. đây cũng là phương pháp được y học hiện đại sử dụng rộng rãi.

ThS. HOÀNG KHÁNH TOÀN

Các loại vi khuẩn và hóa chất công nghiệp trong thức uống đường phố bẩn gây bệnh đường ruột và nhiều chứng bệnh mãn tính cho người dùng như ung thư, tiêu hóa…
Phó giáo sư Nguyễn Duy Thịnh – Viện Công nghệ thực phẩm Đại học Bách Khoa Hà Nội, khẳng định thức uống vỉa hè rất mất vệ sinh, luôn tiềm ẩn nguy cơ sinh bệnh bất cứ lúc nào. Theo đó, nước uống đường phố  bị nhiễm độc có thể do cả 3 khâu là nguyên liệu, dụng cụ và nước để pha chế. Nguyên liệu đa phần bị nhiễm mấm mốc và các loại vi khuẩn như E.coli, B.cereus… Kết quả xét nghiệm nước uống bị nhiễm khuẩn, lỗi thuộc về chủ quan người bán hàng, chứng tỏ quán đó rất mất vệ sinh.
“E.coli là vi khuẩn tồn tại ở khắp mọi nơi, được xem là loại vi khuẩn chỉ thị. Vậy nên một mẫu trà đá, nước mía bị nhiễm khuẩn này chứng tỏ quán nước đó bẩn, mất vệ sinh. Càng nhiều E.coli thì chứng tỏ xung quanh càng có nhiều vi khuẩn và khả năng gây bệnh đường ruột đau bụng, tiêu chảy rất lớn”, phó giáo sư Thịnh cho biết.
Thống kê từ đầu năm tới nay của Cục An toàn Thực phẩm (Bộ Y tế), cả nước có 87 vụ ngộ độc thực phẩm với hơn 1.800 người mắc, trên 1.600 người đi viện và 18 ca bị tử vong. Tình trạng ngộ độc thực phẩm chủ yếu tăng nhanh trong các tháng hè oi bức.
Mới đây, Viện Kiểm nghiệm và Hợp chuẩn thuộc Hiệp hội thực phẩm chức năng Việt Nam đã kiểm tra một số mẫu nước uống và nguyên liệu làm nước uống đường phố. Kết quả, 100% nhiễm khuẩn E.coli, B.cereus, nem mốc và có hàm lượng kim loại nặng như chì, cadimi, thủy ngân…
Theo ông Thịnh, thực tế kim loại nặng ít có trong nguyên liệu mà do chính các loại dụng cụ đựng và nguồn nước. Việc các quán nước uống vỉa hè chế nước uống, đựng đá trong các thùng, xô, chậu nhựa mà không phải là loại nhựa dùng trong thực phẩm, thì nguy cơ nhiễm kim loại nặng rất lớn. Thêm vào đó, kim loại nặng có lẽ nằm từ chính nguồn nước máy của thành phố mà khi chỉ đun nấu bình thường, không qua chế độ lọc rửa thì không thể loại bỏ được.
“Một quán nước dùng thùng sơn để chứa nước uống hay đựng đá bán cho thực khách thì không thể chấp nhận được và có thể xử phạt ngay bởi khả năng thôi nhiễm chất tạo màu, và nhiễm các kim loại nặng trong nhựa chế biến là rất cao”, chuyên gia về công nghệ sinh học, công nghệ thực phẩm nói.
Đại diện Viện Kiểm nghiệm và Hợp chuẩn cũng kết luận, việc tìm thấy các loại vi khuẩn trong những mẫu nước uống đường phố chứng tỏ đang có tình trạng mất vệ sinh, mất an toàn về sức khỏe cho người dân khi sử dụng các sản phẩm này. Cụ thể, vi khuẩn tìm thấy trong nước uống đường phố là nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm, đau bụng, tiêu chảy… Nước uống có nấm men, mốc quá mức cho phép làm nhiễm độc cấp tính và mạn tính người dùng, là căn nguyên gây ung thư. Nước uống đường phố nhiễm độc chì, thủy ngân và cadimi quá mức sẽ gây nhiều bệnh hiểm nghèo cho cơ thể.
Bác sĩ Trần Văn Ký, phụ trách chuyên môn văn phòng phía Nam Hội Khoa học kỹ thuật An toàn vệ sinh thực phẩm Việt Nam cho biết, vi sinh có nhiều loại. Loại chỉ danh ô nhiễm, có nghĩa nếu vượt mức chỉ điểm ô nhiễm cho phép nhiều đến mất thì cũng chỉ gọi là nước bị ô nhiễm chứ không phải nước gây bệnh. Vi khuẩn hiếu khí thuộc nhóm này. Riêng vi khuẩn E.coli, salmonella, khuẩn tụ cầu là những loại có thể gây bệnh.
100 thứ bệnh từ thức uống đường phố bẩn 1

Hỗn loạn hóa chất tạo mùi, tẩy trắng bán nhiều tại khu vực gần chợ Kim Biên, quận 5, TP HCM. Ảnh: Thiên Chương.

Theo bác sĩ Ký, E.coli là loại thường gặp nhất trong phân người, thực phẩm có thể mắc vi khuẩn này khi bàn tay của người chế biến thức ăn thức uống bẩn. Không phải cứ ăn uống thực phẩm nhiễm E.coli là sẽ bệnh; nếu cơ thể mạnh thì không sao, khi cơ thể yếu như những người hệ tiêu hóa yếu, đang mệt mỏi, bị nhiễm bệnh thì vi khuẩn nhân lên và gây bệnh rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy.
Nếu nhiễm E.coli loại gây tiêu chảy cấp, cơ thể người bệnh sẽ bị mất nước nhanh, nếu không bù nước kịp có thể tử vong. Những trường hợp già yếu bệnh tật bị tiêu chảy cấp mà ở nhà một mình không có người đưa đi cấp cứu thì rất nguy hiểm. Cơ chế nhiễm E.coli là từ đồ dùng, vật dụng, tay chân của người bán hàng, nguồn nguyên liệu như nước, nước đá dùng để chế biến thức uống và kể cả thâm nhập từ môi trường xung quanh như gió bụi.
Khuẩn tụ cầu cũng là loại vi khuẩn dễ có mặt trong thức uống nếu người chế biến có vết thương ở tay. Khuẩn tụ cầu có thể gây tiêu chảy và rối loạn tiêu hóa cho người dùng khi ăn uống phải thực phẩm có chứa sẵn chất độc do khuẩn tụ cầu sinh ra từ vết thương của người chế biến. Khi vào cơ thể thì khuẩn này sinh ra chất độc.
Salmonella là vi khuẩn gây kiết lỵ, đau bụng dữ dội, sốt. Loại khuẩn này có thể gây bệnh từ 8 giờ đến 72 giờ sau khi thâm nhập vào cơ thể. Ngoài các loại trên thì virus viêm gan, vi trùng lao cũng có thể có mặt trong thực phẩm bẩn để vào cơ thể và gây bệnh.
Theo ông Ký, để tiêu diệt được các loại vi khuẩn này, thông thường phải đun trên một tiếng đồng hồ ở nhiệt độ 70 độ C thì chúng mới có thể chết. Riêng khuẩn tụ cầu và vi trùng lao là những loại vẫn có thể tồn tại ở nhiệt độ cao. Chính vì thế các loại nước uống đóng chai thường được thanh trùng kéo dài trong nhiệt độ trên 150 độ C. “Điều này cho thấy khả năng vi trùng tồn tại trong thức uống vỉa hè là rất cao”, ông Ký nói.
Một trong những nguồn nguyên liệu có thể mang vi trùng chính là nước đá. Ông Ký cho rằng thực tế không có cơ sở nước đá nào dùng nước tiệt trùng để sản xuất. Trong khi đó dù được hạ thấp nhiệt độ, song khi đá tan ra thì vi trùng vẫn phát triển lại và có thể gây bệnh.
100 thứ bệnh từ thức uống đường phố bẩn 2

Người dùng không ai biết trong ly nước đẹp màu gồm có những loại hóa chất gì. Ảnh: H.S

Nước uống đường phố, để có được màu sắc đẹp mắt, hương vị thanh tao và giá rẻ, theo ông Ký, công thức chế biến phổ biến chỉ là “hương – mùi – màu”. Muốn có được nước uống hương gì, người bán chỉ cần ra chợ mua là có đủ. Thông thường, những loại hóa chất cho mùi thơm dai, màu đẹp mắt và vị thanh tao phần lớn đều là hóa chất công nghiệp độc hại.
“Các cụ nói của rẻ là của hôi. Bởi khi ta mua nguyên liệu về chế biến thì không thể rẻ bằng ngoài hàng quán, chính vì vậy người bán không thể có lãi nếu chế biến nghiêm túc. Nhiều người tiêu dùng quá dễ dãi khi dùng loại thức uống này mà không nghĩ đến sức khỏe”, ông Ký nói.
Không chỉ gây ngộ độc cấp nếu dùng ở liều cao, theo bác sĩ Ký, người dùng thức uống bẩn có chứa hóa chất độc hại lâu dài còn có nguy cơ bị các bệnh mãn tính, thậm chí mắc ung thư.
Kỹ sư Huỳnh Lê Thái Hòa, Trưởng Chi cục An toàn thực phẩm TP HCM cho biết, vấn đề quản lý hàng rong đã được đề cập nhiều năm nay tuy nhiên vẫn còn một số khó khăn. Thứ nhất người hàng rong hôm nay ở chỗ này, mai ở chỗ khác. Thứ hai hầu hết các hộ bán hàng rong thường có hoàn cảnh khó khăn nên khó xử phạt hành chính.
Kiểm tra đầu tháng 7 phát hiện một số mẫu nước giải khát nhiễm vi sinh, Chi cục dự kiến ngày 1/8 sẽ tập huấn cho 319 phường xã để lên kế hoạch, định hướng xử lý người bán rong. Theo ông Hòa, việc tập huấn này chủ yếu là hỗ trợ để cải thiện chứ không nặng về xử lý vi phạm. 
“Trong trường hợp vi phạm sau nhiều lần nhắc nhở, người bán sẽ bị nêu lên tổ dân phố, hoặc phát lên đài truyền thanh của phường để người dân không ăn để buộc phải chấn chỉnh hoặc chuyển nghề”, ông Hòa nói.
Theo ông Hòa, một trong những cách tẩy chay hàng rong kém an toàn vệ sinh thực phẩm hiệu quả là việc người tiêu dùng phải có ý thức không dùng những mặt hàng xét về mặt cảm quan là không an toàn. “Khi người mua không dùng đến hàng rong chế biến không đảm bảo vệ sinh thì người bán không thể tồn tại được” ông Hòa nói.
Theo VnExpress

Nấm phổi là loại bệnh hay gặp ở xứ nhiệt đới nóng, ẩm và mưa nhiều như Việt Nam. Tuy nhiên không phải ai cũng biết đến bệnh này, ngay cả nhiều bác sĩ đa khoa và bác sĩ gia đình cũng không biết bệnh này.

Theo Y văn, u nấm phổi  được báo cáo với tần suất ngày càng tăng cùng với sự sử dụng rộng rãi các loại thuốc hóa trị liệu và ức chế miễn dịch trong điều trị bệnh ung thư và ghép cơ quan. Có tới 20% số bệnh nhân bị ung thư máu cấp đang điều trị bằng hóa chất bị bệnh này.

Ai là người hay bị mắc bệnh?

Tất cả loại thường gặp của nấm Aspergillus gây bệnh cho người đều có ở khắp mọi nơi trong môi trường sống. Chúng mọc trên những lá cây rụng, các loại hạt thực vật như lúa, ngô, trong các đống cỏ khô và các loại thực vật bỏ làm phân. Con người rất hay hít phải bào tử của nấm, nhưng lại ít khi bị bệnh. Phần lớn những người bị bệnh đều có cơ địa suy giảm miễn dịch do bệnh hay do dùng thuốc điều trị bệnh. Ở Việt Nam, bệnh hay gặp nhất ở những bệnh nhân bị lao phổi tạo hang, điều trị lâu dài các loại thuốc ức chế miễn dịch như corticoides, azathioprine và các thuốc chống ung thư…

Bệnh nấm phổi - mắc nhiều nhưng ít biến đến 1

Ngoài ra, bệnh còn hay gặp ở những bệnh nhân bị hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS). Ở những bệnh nhân này, nhất là vào giai đoạn cuối cùng với tiêu chảy, lao phổi tiến triển dạng lao kê là tình trạng nhiễm nấm toàn thân. Trong đó thường gặp là nấm candida và aspergillus. Một số trường hợp u nấm Aspergillus phát triển trên những bệnh nhân bị bệnh phổi mạn tính trước đó, ngoại trừ bệnh lao như: bệnh sacoide, giãn phế quản, giãn phế nang, áp-xe phổi, ung thư phổi có hoại tử trung tâm và tạo hang, kén khí phổi… Tại khoa phẫu thuật lồng ngực và tim mạch Bệnh viện Nhân Dân Gia Định, các bác sĩ đã mổ cho nhiều trường hợp vừa có u nấm phổi vừa bị ung thư phổi.

Khi hít phải số lượng lớn bào tử nấm, người bình thường chỉ có thể bị viêm phổi cấp tính lan tỏa và thường tự khỏi, không để lại di chứng gì đặc biệt sau vài tuần. Ở những bệnh nhân bị lao phổi, nấm Aspergillus có thể mọc trên các cây phế quản bị tổn thương, trên các nang phế quản hoặc trong các hang lao.

Các triệu chứng thường gặp

Có một số bệnh nhân bị u nấm phổi có thể tồn tại nhiều năm mà không có triệu chứng gì về lâm sàng, số lượng những bệnh nhân này chiếm từ 18 – 22% theo Y văn. Bệnh nhân thường có các triệu chứng cơ năng của bệnh phổi mạn tính sẵn có như: ho, khạc đàm, khó thở, đau ngực và sốt. Nhưng phần lớn, bệnh nhân u nấm đều có các triệu chứng khá điển hình và đặc hiệu như:

Sốt: thường người bệnh sốt không cao, không phải sốt liên tục mà thành từng đợt có những thời gian không bị sốt. Sốt là biểu hiện của tình trạng dị ứng với nấm, hiếm khi sốt kéo dài, suy kiệt hoặc sụt cân.

Bệnh nhân khạc đàm rất nhiều, khạc đàm thường là do bệnh đi kèm hơn là do u nấm. Trong đàm có thể tìm thấy các tế bào nấm nếu mang đi xét nghiệm bằng cách soi tươi và quan sát dưới kính hiển vi. Tuy nhiên, có thể các tế bào nấm này lại có nguồn gốc của nhiễm nấm từ đường tiêu hóa.

Khó thở: triệu chứng của các bệnh đi kèm như lao, giãn phế quản, áp-xe phổi, ung thư phổi… gây suy giảm chức năng hô hấp.

Ho và ho ra máu là triệu chứng nổi bật đặc trưng nhất của bệnh. Ho thường dai dẳng, kéo dài, trong đó có tới 95% các trường hợp là ho ra máu từ số lượng ít có dính đàm, đến nhiều có thể gây tử vong. Trong số đó có 20% ho ra máu tái phát nhiều lần và ho ra máu với số lượng từ trung bình đến rất nhiều. Một số bệnh nhân bị ho ra máu kiểu sét đánh, tức là ho nhiều ồ ạt do tổn thương các mạch máu của phổi vì tế bào nấm ăn lan vào. Ho ra máu là một triệu chứng làm bệnh nhân rất lo lắng và là chỉ định chính để can thiệp phẫu thuật cho bệnh nhân.

Các xét nghiệm cần thiết

Để xác định chẩn đoán, các bác sĩ  thường áp dụng một số xét nghiệm cận lâm sàng như:

Chụp X-quang phổi thẳng, là một xét nghiệm đầu tiên và rất cần thiết vì nó cung cấp rất nhiều thông tin về bệnh và những bệnh đi kèm: hình ảnh X-quang đạc hiệu thường thấy trên phim là hình một khối tròn, đặc nằm trong một hang lao có hình cầu hoặc hình bầu dục, hình tròn đặc này thay đổi theo tư thế của bệnh nhân mà giới chuyên môn gọi là hình lục lạc. Với phim chụp phổi thông thường cho phép chúng ta chẩn đoán xác định đến 90% các trường hợp.

Chụp X-quang với máy điện toán cắt lớp còn gọi là chụp CT, dùng để xác định rõ u nấm trong một số trường hợp gặp phải khó khăn trong chẩn đoán với khám lâm sàng và X-quang phổi thông thường.

Huyết thanh chẩn đoán nấm Aspergillus: phản ứng kết tủa giữa kháng nguyên với kháng thể kháng nấm Aspergillus của người bệnh. Là xét nghiệm khá đặc hiệu, nó cho kết quả chẩn đoán xác định từ 93 – 100%. Nhưng không phải bệnh viện hay cơ sở Y tế nào cũng thực hiện được vì thiếu trang thiết bị.

Phẫu thuật là điều trị bắt buộc

Ở một số bệnh nhân, các bác sĩ nội khoa có thể sử dụng thuốc kháng nấm toàn thân cho bệnh nhân, hoặc dùng thuốc kháng nấm bơm vào hang nấm bằng một ống thông đặt xuyên qua da. Thuốc kháng nấm thường dùng là Amphotericin B. Tuy nhiên, kết quả không được là bao và vẫn chưa được công nhận trong Y văn. Hơn thế nữa thuốc Amphotericin B rất độc đối với bệnh nhân và khó tìm trên thị trường, vì vậy hiện nay hầu như không còn được áp dụng nữa.

Phương pháp bơm tắc mạch để cầm máu: được áp dụng trong những trường hợp cấp cứu, bệnh nhân bị ho ra máu ồ ạt kiểu sét đánh. Mặc dù chưa được chẩn đoán xác định vẫn có thể chụp mạch máu chọn lọc và bơm chất gây tắc mạch để cứu sống bệnh nhâ, động mạch được làm tắc thường là động mạch phế quản cung cấp máu để nuôi phổi. Thủ thuật này chỉ được thực hiện ở những bệnh viện lớn có trang bị máy chụp X-quang động mạch kỹ thuật số như: BV. Chợ Rẫy, Trung tâm chẩn đoán Y khoa, BV. Nguyễn Trãi… Trong thủ thuật cần có sự kết hợp giữa bác sĩ phẫu thuật và bác sĩ X-quang. Kết quả là cầm máu được trong 80 – 90% các trường hợp, tuy nhiên bệnh nhân vẫn có thể chảy máu lại, chỉ có 10 – 25% các trường hợp không bị ho ra máu tái phát. Do vậy, khuynh hướng hiện nay trên Thế giới là chỉ dùng thủ thuật này trong những trường hợp cấp cứu.

Phẫu thuật cắt phổi: một điều trị bắt buộc, phần lớn các tác giả đều chủ trương khi đã phát hiện u nấm thì phải cắt phổi dự phòng. Trong khi đó một số tác giả khác đề nghị chỉ cắt phổi trong những trường hợp có ho ra máu. Vì những lý do thường gặp trong phẫu thuật như nguy cơ chảy máu trong mổ rất cao do phổi bị các tổn thương mạn tính như lao, giãn phế quản… trước đó gây dính rất nhiều, rất khó cầm máu vì máu chảy rỉ rả từ các sang thương trên thành ngực trong lúc phẫu tích. Với những phẫu thuật viên có kinh nghiệm, lượng máu mất vẫn có khi lên đến cả 1.000ml, tức là 4 đơn vị. Chính vì vậy, không phải bác sĩ phẫu thuật nào cũng thích mổ u nấm phổi. Mục đích chính của cuộc mổ là cắt đi một phân thùy, một thùy phổi hay một phần phổi có giới hạn là nguồn gốc làm cho bệnh nhân ho ra máu. Phần phổi được cắt cũng phải thật giới hạn nhằm bảo tồn chức năng hô hấp cho bệnh nhân sau mổ. Việc cắt toàn bộ một lá phổi chỉ được dùng trong những trường hợp tổn thương lan tỏa, u nấm lan rộng khắp một bên phổi, hoặc tổn thương lao đã hủy hoại toàn bộ phổi xung quanh u nấm.

 PGS.TS. NGUYỄN HOÀI NAM

Cá bống chiên giòn, kho tiêu, kho sả ớt, cá bống nấu canh rau răm… là những món ăn dân dã vô cùng hấp dẫn. Cá bống là tên gọi chung cho nhiều loài cá (cá bống trắng, cá bống đen…). Ở miền Nam là cá bống tượng (Oxycleotris marmoratus), thuộc giống cá bống đen, trọng lượng có thể đến vài kg, thịt dày, ngon, khi chế biến có màu trắng như thịt gà, có độ dai và vị ngọt. Cá bống là thực phẩm quý và có tác dụng chữa bệnh.

Cá bống giàu protein, ít chất béo, có các vitamin B2, D, E, PP và chất khoáng Ca, P, Fe, S, Fe, P, Ca. Theo Đông y, cá bống vị ngọt mặn, tính bình, vào tỳ vị, can thận. Có tác dụng kiện tỳ ích khí, hòa vị, bổ can thận, cường kiện cân cốt, hành huyết mạch, tiêu tích trệ, lợi thủy, an thai. Dùng cho trường hợp cơ thể suy kiệt, yếu mỏi tay chân, ho suyễn, tiêu hóa kém. Xin giới thiệu một số món ăn – bài thuốc từ cá bống.

Món ăn thuốc từ cá bống 1
 Cá bống kho tiêu thích hợp với người cao tuổi, trẻ em, phụ nữ có thai hoặc sau sinh.

Canh cá bống: cá bống 200 – 300g. Cá làm sạch, bỏ ruột, thêm nghệ giã nhỏ, hành hoa cắt đoạn và gia vị thích hợp, nấu canh, ăn thường ngày. Bổ tỳ vị, dùng cho người ăn kém gầy còm, đầy bụng lâu tiêu, tay chân yếu mệt.

Cá bống kho tiêu: cá bống 500 – 1.000g. Cá làm sạch bỏ ruột, kho với nghệ, riềng, xả, bột tiêu. Dùng cho người cao tuổi, phụ nữ sau sinh, người suy nhược cơ thể do lao lực, sau ốm dài ngày.

Canh cá bống sâm kỳ: cá bống 500g, hoàng kỳ 15g, đảng sâm 15g, sơn dược 30g. Cá làm sạch bỏ ruột; nấu cùng dược liệu, thêm gia vị phù hợp. Dùng cho các trường hợp tỳ hư thở gấp, mệt mỏi, ăn kém, sau khi ăn đầy trướng bụng, sa tử cung, trực tràng…

Cá bống kho tiêu gừng: cá bống làm sạch, thêm gừng tươi, tiêu ớt, gia vị, kho khô. Dùng cho người cao tuổi, trẻ em, phụ nữ có thai hoặc sau sinh; các trường hợp ăn kém, chậm tiêu, tiêu chảy, kiết lỵ.

Canh cá bống khổ qua: Cá bống 250 – 1.000g, khổ qua 200 – 250g, khế chua 60g (nếu có). Cá làm sạch, khổ qua thái lát, khế chua thái lát, thêm nghệ giã nát, hành sống, gia vị nấu dạng canh riêu. Dùng cho người cao tuổi, trẻ em, phụ nữ có thai hoặc sau sinh; các trường hợp ăn kém, chậm tiêu, tiêu chảy, kiết lỵ…

Kiêng kỵ: Không nên ăn nhiều cá bống dễ sinh đàm trợ nhiệt.      

BS. Tiểu Lan

Vẹo cổ y học cổ truyền thường gọi là lạc chẩm hay thất chẩm. Đây là chứng thường phát sinh đột ngột sau một đêm ngủ dậy. Người bệnh thấy cổ mình bị căng cứng, cử động rất khó khăn, kèm theo cảm giác đau nhức khó chịu, đau càng tăng lên khi cố làm động tác quay cổ, có khi đau lan xuống bả vai, chi trên hoặc vùng liên sống bả vai, khiến cho cổ phải nghiêng về một bên để chống đau.

Nguyên nhân chủ yếu gây vẹo cổ là do tư thế lúc ngủ không hợp lý, đầu gối quá cao hoặc quá cứng khiến cho đầu cổ lệch về một bên, các cơ vùng cổ bị căng giãn kéo dài mà sinh đau; do thoái hóa đốt sống cổ; do phong hàn thử thấp xâm nhập cơ thể khi sức đề kháng đang yếu kém khiến kinh lạc trở trệ, cân cơ co cứng, khí huyết ngưng đọng. Ngoài cách xoa bóp bấm huyệt vùng cổ vai, có thể dùng một số bài thuốc sau để thông kinh hoạt lạc, giảm đau.

Thuốc uống

Bài 1: nam tục đoạn, ngũ gia bì, kê huyết đằng mỗi vị 16g, quế chi 8g, tang ký sinh 16g, ngải diệp 12g, tế tân 10g, tơ hồng xanh 16g, ngưu tất 12g, hà thủ ô 12g, cam thảo 10g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Công dụng: khu phong tán hàn, thông kinh hoạt lạc.

Bài 2: rễ bưởi bung 16g, rễ cây xấu hổ 16g, rễ cúc tần 12g, ngải diệp 12g, nam tục đoạn 16g, tất bát 12g, cát căn 16g, cẩu tích 12g, kinh giới 16g, quế chi 8g, thiên niên kiện 10g, đỗ trọng 10g, độc lực 12g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Công dụng: trừ phong hoạt huyết, ôn kinh tán hàn, thư giãn cân cơ.

Bài 3: hà thủ ô 12g, phòng phong 10g, kinh giới, xương bồ, rễ đinh lăng, xấu hổ, hy thiêm mỗi vị 16g, quế chi 8g, thiên niên kiện 10g, đơn hoa 16g, lá đơn đại hoàng 12g, ngải diệp 12g, cát căn 16g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Công dụng: khu phong tán hàn, thông kinh hoạt lạc, thư giãn chỉ thống.

Thuốc xoa bóp: xuyên khung, hoa hồi, phá cố chỉ, thạch xương bồ, dây đau xương, kê huyết đằng, thiên niên kiện, trần bì, tế tân mỗi vị 15g. Các vị thuốc thái nhỏ cho vào bình thủy tinh, đổ ngập rượu, ngâm sau 10 ngày là có thể dùng được. Cách dùng: lấy bông tẩm thuốc, xoa vào nơi bị đau. Công dụng: giảm đau, hoạt huyết, ôn kinh, trừ tà, thư giãn cơ.

Thuốc chườm

Bài 1: lá đơn đại hoàng 100g, lá cúc tần 80g. Hai thứ giã nhỏ, sao dấm. Dùng miếng vải gói lại, chườm vào vùng cổ bị đau. Ngày 2 lần.

Bài 2: lá ngải cứu 100g, củ thạch xương bồ 60g. Hai thứ giã nhỏ, sao rượu. Dùng miếng vải gói lại rồi chườm vào nơi cổ bị đau. Có thể đắp thuốc tại chỗ, dùng băng vải cố định lại.     

Lương y Thanh Ngọc

Đào là loại trái cây ngon, rất quen thuộc với chúng ta. Các bộ phận của đào như nhân hạt (đào nhân), hoa, lá, nhựa và thịt quả đào là những vị thuốc được dùng rất phổ biến trong Đông y. Thịt quả đào chứa đường, axít hữu cơ, vitamin, chất màu và ít tinh dầu; hạt đào chứa dầu béo; amygdalin, men emulsin, cholin, tinh dầu.

Theo Đông y, thịt quả đào vị ngọt chua, tính ôn, vào can, trường vị. Tác dụng sinh tân nhuận tràng, hoạt huyết, tiêu tích. Dùng cho các trường hợp hen suyễn, viêm khí phế quản, cảm nắng, sốt khát nước, táo bón, bế kinh, chấn thương đụng dập. Đào nhân vị đắng ngọt, tính bình, vào kinh tâm và can. Tác dụng hoạt huyết trừ ứ, nhuận tràng. Dùng cho các trường hợp bế kinh, trưng hà, xúc huyết, ứ huyết, trúng thương đụng dập, phong thấp, táo bón. Đào hoa (hoa và nụ đào) vị khổ tính bình, công năng lợi thủy, hoạt huyết, thông tiện. Dùng cho các trường hợp phù nề, đàm nhiều, táo bón, bí tiểu, bế kinh. Liều dùng, cách dùng: 2 – 6 quả tươi hoặc mứt khô; đào nhân 6 – 12g.

Quả đào sinh tân, hoạt huyết 1
 Đào là loại quả ngon, tác dụng sinh tân nhuận tràng hoạt huyết, tốt cho người sốt cao, táo bón, chấn thương đụng dập.

Một số bài thuốc trị bệnh có dùng đào

Hoạt huyết thông kinh:

Bài 1:  đào nhân 12g, hồng hoa 6g, tam lăng 8g, đương quy 12g. Sắc uống. Trị ứ huyết tắc kinh.

Bài 2: đào nhân 12g, xuyên khung 6g, gừng thán 6g, đương quy 12g, cam thảo 4g. Sắc nước, hòa với nước tiểu trẻ em hoặc đun nóng với rượu để uống. Trị sau khi đẻ ứ huyết, đau bụng.

Trừ ứ, giảm đau: đào nhân 12g, miết trùng 6g, kinh giới 12g, đại hoàng 12g, xuyên khung 6g, đương quy 12g, quế tâm 6g, cam thảo 4g, bồ hoàng 8g. Sắc nước. Trị chấn thương do ngã, bị đánh.

Nhuận tràng thông tiện: hạnh nhân 12g, đào nhân 12g, hỏa ma nhân 12g, đương quy 12g, sinh địa 16g, chỉ xác 12g. Tất cả nghiền thành bột mịn, làm mật hoàn. Mỗi lần uống 8g, ngày uống 2 lần hoặc sắc nước uống. Dùng khi đại tiện khó khăn.

Thoát mủ, tiêu nhọt:

Bài 1: đại hoàng 12g, mẫu đơn bì 16g, đào nhân 12g, đông qua tử 12g, mang tiêu 12g. Sắc uống. Trị ruột bị ung nhọt, đau bụng, đại tiện táo.

Bài 2: đào nhân 12g, hồng hoa 12g, đương quy 12g, đan sâm 12g, xuyên khung 12g, xích thược 12g, ngưu tất 12g, kim ngân hoa 12g, huyền sâm 12g, địa miết trùng 8g, tam lăng 8g, nga truật 8g, giun đất 12g, đỉa 4g, manh trùng 4g, cam thảo sống 4g. Sắc uống.

Chữa phù thũng, cước khí, đàm ẩm: đào hoa (phơi âm can) 30g, giã nát hòa với ít rượu để uống.

Quả đào sinh tân, hoạt huyết 2
 Cháo đào nhân tăng cường trí não, bảo vệ sức khỏe, phòng trị tăng huyết áp, bệnh mạch vành, cơn đau tim.

Một số thực đơn chữa bệnh có đào

Đào chín hoặc mứt đào khô: ngày ăn 1 – 4 trái để dưỡng da.

Đào chín ướp đường: đào chín gọt vỏ, thái lát bỏ hạt, dùng đường trắng ướp ăn tráng miệng sau bữa ăn. Dùng trợ tiêu hóa, kiện vị, nhuận tràng.

Đào chín ăn tươi: đào rửa sạch, gọt vỏ, mỗi lần 1 – 3 quả, ngày ăn 2 – 3 lần. Dùng cho các trường hợp cảm nóng, cảm nắng, mất nước, khát nước.

Xirô đào quả, đào nhân: đào chín 2 quả gọt vỏ ngoài, tách bỏ hạt, nhân hạt đào 9g, xirô 30g. Đào gọt vỏ ngoài, tách bỏ hạt cùng đào nhân xay nhuyễn, thêm xirô, chưng cách thủy cho chín nhừ. Ăn mỗi ngày 1 lần. Dùng cho các trường hợp bế kinh, kinh ít.

Nước gừng mật ong trộn bột hạnh nhân đào nhân: đào nhân 30g, hạnh nhân 15g nghiền nát trộn với nước gừng và mật ong một lượng thích hợp cho ăn. Dùng cho các trường hợp suy hô hấp thở gấp, hen suyễn mạn tính.

Cháo đào nhân: đào nhân 50g, gạo tẻ 60g, nấu cháo (ăn bữa sáng và tối). Dùng cho trường hợp mất ngủ hay quên lẫn, đau lưng, sỏi đường tiết niệu. Người bình thường nếu ăn hàng ngày có tác dụng tăng cường trí não, bảo vệ sức khỏe, phòng trị tăng huyết áp, bệnh mạch vành, cơn đau tim.

Kiêng kỵ: Không nấu ăn với thịt ba ba, rùa.   

   TS. Nguyễn Đức Quang

Nhóm nghiên cứu của chuyên gia Jeanna Lawrence cùng giáo sư Đại học Massachusetts (Mỹ) đã sử dụng kỹ thuật chỉnh sửa gen, tức là cho phép cắt và dán một đoạn ADN, nhằm thả gen gọi là XIST vào bên trong nhiễm sắc thể thừa ở các bệnh nhân Down. Các nghiên cứu trước đây cho thấy gen XIST đóng vai trò thiết yếu trong quá trình phát triển một con người bình thường. Giới tính của người được quyết định bởi sự kết hợp của nhiễm sắc thể X và Y, với đàn ông là XY còn phụ nữ là XX. Gen XIST nằm trên nhiễm sắc thể X, nhưng chỉ có tác dụng đối với phụ nữ. Khi được bật lên, nó khóa chức năng của nhiễm sắc thể X thứ hai. Công trình nghiên cứu của nhóm chuyên gia Lawrence chứng tỏ rằng XIST có thể tắt hoạt động của các nhiễm sắc thể khác, mở đường cho các liệu pháp điều trị những tình trạng rối loạn “bộ ba nhiễm sắc thể”, chẳng hạn như hội chứng Edward và hội chứng Patau, gây nên do sự xuất hiện của nhiễm sắc thể thừa lần lượt ở nhiễm sắc thể thứ 18 và 13.

Báo cáo trên đã được đánh giá sẽ thúc đẩy nỗ lực nghiên cứu các biện pháp nhằm cải thiện các triệu chứng thông thường của hội chứng Down, từ bệnh bạch cầu đến tình trạng mất trí nhớ sớm.

Vũ Khuê (Theo Daily mail, 7/2013)

Nhà khoa học Michele Okun và các đồng nghiệp tại Trường Y thuộc Trường đại học Pittsburgh (Mỹ) tiến hành nghiên cứu đã ghi nhận và phân tích chất lượng giấc ngủ cũng như sự sản xuất cytokine của thai phụ. Các cytokine là các protein hoặc glycoprotein điều hòa có trọng lượng phân tử thấp được chế tiết bởi các tế bào bạch cầu và nhiều loại tế bào khác trong cơ thể đáp ứng với một số kích thích, giúp cơ thể chống lại viêm nhiễm. Thế nhưng, nếu cơ thể bị dư thừa cytokine sẽ ngăn cản cơ thể chống lại bệnh tật. Giấc ngủ của thai phụ rất quan trọng đối với sự phát triển và sức khỏe sau này của trẻ. Trong khi đó, phụ nữ mang thai thường mất ngủ, chu kỳ ngủ bị gián đoạn, sự nghỉ ngơi nhìn chung đều bị thay đổi. Những yếu tố này làm tăng sự sản xuất cytokine và gây nhiều tác hại đến trẻ cũng như người mẹ. Các nghiên cứu trước đây cho thấy khi dư thừa cytokine, phụ nữ mang thai dễ sinh non và bị tiền sản giật.

Nghiên cứu mới phát hiện bất kỳ sự thay đổi nào trong giấc ngủ của thai phụ đều có thể làm tăng nguy cơ trẻ sinh ra nhẹ cân và các biến chứng khác.

Lan Thu

(Theo Psychosomatic Medicine, 7/2013)

Tùy thuộc vào số lượng, chủng loại ký sinh trùng sốt rét bị nhiễm, cơ địa của cơ thể người bệnh và tiến triển của bệnh… sốt rét được chia ra làm những thể bệnh khác nhau. Theo quan điểm dịch tễ học và cơ địa của người bệnh, bệnh sốt rét được chia làm nhiều thể loại.

Theo quan điểm dịch tễ học, bệnh sốt rét có thể phân chia thành thể sốt rét sơ nhiễm, thể sốt rét tái nhiễm và thể sốt rét tái phát.

Sốt rét có bao nhiêu thể bệnh? 1Bệnh nhân sốt rét được điều trị tại bệnh viện (ảnh minh họa)

Thể sốt rét sơ nhiễm: Đây là thể bệnh được xác định trên những bệnh nhân bị nhiễm ký sinh trùng sốt rét lần đầu tiên. Người bệnh sốt rét là những người từ vùng không có sốt rét đến các vùng sốt rét lưu hành chưa có miễn dịch đối với bệnh sốt rét hoặc trẻ em từ 6 tháng đến 4 tuổi đang sống trong vùng sốt rét lưu hành.

Thể sốt rét tái nhiễm: Thường gặp trên những bệnh nhân đã có những cơn sốt nhẹ từ trước nhưng hiện nay cơn sốt xảy ra nặng và liên tục nhiều ngày tương tự như sốt rét thể sơ nhiễm. Các trường hợp này thường gặp ở những bệnh nhân chuyển vùng hoặc đang sống trong vùng sốt rét lưu hành nặng.

Thể sốt rét tái phát: Thường gặp trên bệnh nhân sốt rét do nhiễm ký sinh trùng P.falciparum kháng thuốc điều trị nên không thể diệt hết thể vô tính của ký sinh trùng trong máu người bệnh. Sốt rét tái phát còn thường gặp ở bệnh nhân sốt rét do nhiễm ký sinh trùng P.vivax vì người bệnh không được điều trị bằng thuốc diệt thể ngủ (hypnozoite) của ký sinh trùng ở trong gan sau khi được điều trị bằng thuốc cắt cơn sốt. Ngoài ra trong tiền sử, những người đã bị nhiễm ký sinh trùng có cơn sốt rét trước đó từ 1 – 2 năm đối với P.falciparum; từ 1,5 – 5 năm đối với P.vivax, P.ovale và từ 3 – 5 năm đối với P.malariae tùy thuộc vào thời gian ký sinh trùng sốt rét tồn tại trong cơ thể.

Ngoài các thể bệnh sốt rét được phân loại theo dịch tễ học và theo cơ địa của cơ thể đã nêu ở trên; trong điều trị lâm sàng, sốt rét cũng được phân chia với các thể loại như thể sốt rét thông thường điển hình, thể sốt rét mang ký sinh trùng lạnh, thể cụt, thể sốt rét dai dẳng và thể sốt rét ác tính. Vấn đề này sẽ được đề cập trong một bài viết khác.

Theo cơ địa của cơ thể, tùy theo cơ địa của cơ thể, sốt rét có thể chia thành sốt rét bẩm sinh, sốt rét trẻ em, sốt rét ở phụ nữ có thai, sốt rét ở cơ thể đã có miễn dịch sốt rét và sốt rét do tiêm truyền.

Sốt rét bẩm sinh: Thường gặp ở những trẻ em được sinh ra từ những bà mẹ bị nhiễm ký sinh trùng sốt rét và không có miễn dịch đối với bệnh do mới đi vào vùng sốt rét. Có hai loại sốt rét bẩm sinh là sốt rét bẩm sinh thực thụ và sốt rét ở trẻ sơ sinh.

Sốt rét bẩm sinh thực thụ do người mẹ bị tổn thương ở lớp tế bào nhau thai ngăn cách máu giữa mẹ và con. Trong khi sinh đẻ đã làm cho ký sinh trùng sốt rét có khả năng lọt qua và thương tổn này thường xảy ra trong thời kỳ thai nghén.

Sốt rét ở trẻ sơ sinh còn được gọi là sốt rét bẩm sinh giả tạo do trẻ sơ sinh bị nhiễm ký sinh trùng sốt rét sau sinh vì người mẹ thường chưa có miễn dịch sốt rét.

Sốt rét ở trẻ em: Thường gặp ở trẻ em từ 6 tháng tuổi trở lên sống trong vùng sốt rét lưu hành. Trên thực tế ghi nhận tỷ lệ mắc sốt rét và tử vong do sốt rét ở trẻ em, nhất là trẻ em từ 4 – 5 tuổi thường cao hơn người lớn. Nguyên nhân gây nên do trẻ em chưa phát triển hoàn chỉnh và chưa có đủ các yếu tố miễn dịch sốt rét.

Sốt rét ở phụ nữ có thai: Phụ nữ có thai sẽ làm cho sức đề kháng miễn dịch bị suy yếu nên dễ bị mắc bệnh sốt rét từ tháng thứ 4 đến tháng thứ 6 của thời kỳ thai nghén; nhất là phụ nữ có thai lần đầu. Bệnh thường diễn biến nặng và dễ chuyển thành sốt rét ác tính.

Sốt rét ở cơ thể đã có miễn dịch sốt rét: Đối với những bệnh nhân có tiền sử bị mắc sốt rét nhiều lần và đã có một phần miễn dịch; cơn sốt thường xảy ra nhẹ, có khi không thành cơn hoặc không thành chu kỳ; thậm chí chỉ có triệu chứng mỏi lưng, chán ăn, nhức đầu, ớn lạnh, ngáp vặt… Có khi không cần điều trị, cơn sốt cũng tự hết. Trái lại, trên những bệnh nhân có cơ địa suy giảm miễn dịch mắc phải như nghiện ma túy, suy kiệt, ung thư, HIV/AIDS… cơn sốt thường hay tái phát.

Sốt rét do tiêm truyền: Thường gặp trên bệnh nhân bị mắc sốt rét do truyền máu, do tiêm chích không bảo đảm an toàn như tiêm chích ma túy hoặc do điều trị bằng cách tiêm truyền máu có ký sinh trùng sốt rét để chữa trị bệnh cho một số người bị liệt toàn thân, bị bệnh tâm thần…    

TTƯT.BS. Nguyễn Võ Hinh

Anh Nikolai Mikhalnichuk, một cư dân sống tại thành phố Saratov (Nga) vẫn khỏe mạnh khi bác sĩ kiểm tra điện tâm đồ, họ ngạc nhiên phát hiện, tim của bệnh nhân Nikolai đã ngừng đập, trong khi máu vẫn tiếp tục được đưa tới tim và các bộ phận khác. Các xét nghiệm sau đó tiếp tục cho thấy trái tim của Nikolai trên thực tế đã không hoạt động trong suốt một thời gian dài trước đó mà anh không thấy bất kỳ một biểu hiện nào bất thường.

GS. Vitali Levitski cho biết, trường hợp của Nikolai Mikhalnichuk là người thứ 3 trên thế giới sống khỏe mạnh bình thường với trái tim ngừng đập. Hai người khác, một ở Nhật Bản và một ở Brazil.

Từ khi biết chính xác trái tim của mình đã không còn đập, Nikolai tập làm quen dần với cuộc sống của “người không có trái tim”. Chỉ có điều anh sẽ không được chơi một số môn thể thao đòi hỏi sự vận động cao, còn mọi sinh hoạt khác, kể cả sinh hoạt tình dục điều độ là hoàn toàn có thể được.

          Thu Minh (Theo Daily mail)

Ai trong chúng ta ít nhất cũng đã bị nhiễm độc thực phẩm, người nhẹ thì tự khỏi, người nặng phải đi bệnh viện. Vì thế, ngộ độc thực phẩm là nỗi ám ảnh của rất nhiều người. Khi bị ngộ độc thực phẩm, người bệnh không chỉ tốn tiền chạy chữa mà còn gây tổn hại cho sức khỏe, thậm chí là tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời.

Bí quyết tránh ngộ độc thực phẩm 1
 Một số vi khuẩn trong thực phẩm dễ gây ngộ độc.

Đâu là nguyên nhân?

Nhiễm vi sinh vật: Nguyên nhân này chiếm từ 33 – 49% các ca ngộ độc thực phẩm các ca ngộ độc thực phẩm. Vi sinh vật gây bệnh chủ yếu là các chủng Salmonella, E.Coli, Clostridium Perfringens, Listeria. Trong số các chủng này, vi khuẩn Salmonella (có trong thịt, nghêu, sò, gà chưa nấu chín, sữa sống, trứng sống…) là nguyên nhân của 70% vụ ngộ độc. Khuẩn Listeria (trong thịt ướp lạnh, chế phẩm sữa chưa tiệt trùng, thịt nguội…) ít gặp hơn nhưng lại khá nguy hiểm bởi chúng vẫn phát triển ngay cả ở nhiệt độ thấp (4-6oC); khuẩn Clostridium Perfringens hay phát sinh trong các món được nấu nướng và hâm nóng.

Nhiễm hóa chất: Chiếm từ 11 – 27%. Các hóa chất thường có mặt trong thực phẩm này là chất bảo quản thực phẩm, chất bảo vệ thực vật. 

Độc tố tự nhiên trong thực phẩm: Chỉ chiếm từ 6 – 37,5% ca ngộ độc, nhưng lại rất nguy hiểm cho sức khỏe vì dễ dẫn đến sốc phản vệ và tử vong, như trường hợp ăn phải nấm độc hay cá nóc là ví dụ. Rất nhiều thực phẩm ẩn chứa đằng sau sự tươi ngon là liều thuốc độc hại cho sức khỏe. Chẳng hạn, măng tươi chứa chất xyanua (CN) có thể gây tử vong ở liều 50-90mg/kg; măng chua acid cyanhydric (HCN) có thể gây ngộ độc cấp tính; khoai tây mọc mầm hay khi vỏ đã chuyển sang màu xanh chứa ancaloid có thể gây ngộ độc cấp tính… Đặc biệt, do thời tiết nóng ẩm của nước ta nên nấm mốc trong thực phẩm có điều kiện phát triển rất nhanh. Không chỉ gây hỏng thực phẩm, nấm mốc còn sản sinh ra các độc tố nguy hiểm có thể gây ung thư gan.

Ngoài các nguyên nhân trên, có rất nhiều trường hợp ngộ độc thực phẩm không thể xác định được nguyên nhân.

Tác hại khi dùng thực phẩm nhiễm bẩn

Các triệu chứng đầu tiên của ngộ độc cấp tính thực phẩm là đau bụng, nôn mửa và tiêu chảy. Nặng hơn thì kèm theo các biểu hiện trên là rối loạn cảm giác, nhức đầu, mệt lả, hôn mê, liệt chi; thay đổi huyết áp, bí tiểu… Nếu không được điều trị kịp thời, bệnh nhân rất dễ bị tai biến suy tuần hoàn cấp hay trụy tim mạch và tử vong.

Trong trường hợp bị nhiễm độc do kí sinh trùng hoặc do các chất độc chưa đủ mạnh… thì các triệu chứng sẽ diễn ra chậm hơn. Sự nhiễm độc đó được gọi chung là nhiễm độc tiềm ẩn. Nếu bị nhiễm liên tục có thể sau một thời gian sẽ dẫn đến ung thư, các rối loạn chức năng không rõ nguyên nhân, vô sinh, quái thai…

Ngoài ra, còn có những người bị ngộ độc mạn tính do di chứng của ngộ độc cấp hoặc do hậu quả của nhiễm độc tiềm ẩn. Bệnh nhân dạng này có biểu hiện phát bệnh lặp lại thường xuyên hoặc theo chu kỳ. Bệnh thường khó chữa hoặc không chữa khỏi.

Điều nguy hại của ngộ độc thực phẩm dù ở thể nào cũng làm tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe của bệnh nhân. Nếu bệnh nhân được cấp cứu kịp thời và chữa trị tốt thì thời gian hồi phục cũng rất lâu. Những trường hợp ngộ độc cấp rất nặng, ngộ độc cấp không được cứu chữa kịp thời hoặc hậu quả của nhiễm độc tiềm ẩn kéo dài dẫn đến bệnh hiểm nghèo… chắc chắn sẽ tử vong.

Điều cần làm để có bữa ăn sạch

Sử dụng nước sạch và thực phẩm tươi. Đây là các thực phẩm có độ an toàn cao nhất, vì thế, khi chọn thực phẩm, cần lựa chọn thực phẩm tươi và nguyên vẹn, đã được tiệt khuẩn. Dùng nước sạch để xử lí thực phẩm. Không sử dụng thực phẩm đã hết hạn sử dụng.

Vệ sinh sạch sẽ. Các vi khuẩn có độc tố thường có ở tay, áo quần và dụng cụ nhà bếp, đặc biệt là các loại dao, thớt…, nếu không giữ vệ sinh sạch sẽ, qua sự tiếp xúc có thể truyền chúng vào thực phẩm gây nên ngộ độc. Vì thế, hãy rửa tay sạch sẽ trước khi sử dụng thực phẩm và thường xuyên rửa tay trong suốt quá trình chế biến. Rửa và vệ sinh tất cả bề mặt và thiết bị dùng để chế biến thực phẩm; Bảo vệ khu vực bếp và thực phẩm khỏi gián, bọ, chuột và các động vật khác. Rửa tay sạch sau khi đi vệ sinh.

Để riêng thực phẩm sống và đã nấu chín. Thực phẩm sống, đặc biệt là thịt, gia cầm, hải sản có thể chứa vi sinh vật nguy hiểm, sẽ truyền sang thực phẩm khác trong quá trình chế biến và cất giữ. Hãy sử dụng riêng từng dụng cụ, thiết bị như dao, thớt trong chế biến thực phẩm sống. Khi cất giữ, hãy xếp riêng từng loại vào âu có nắp đậy kín.          

Nấu chín. Nhiệt độ cao sẽ diệt hầu hết các vi khuẩn gây bệnh, vì thế, khi chế biến thực phẩm, bạn nên nấu chín, đặc biệt là thịt, gia cầm, trứng và hải sản.

Giữ thực phẩm ở nhiệt độ an toàn: Dù tươi sống hay đã nấu chín, chỉ sau một thời gian nhất định là các vi khuẩn gây bệnh sẽ tấn công thực phẩm. Chính vì thế, việc bảo quản thực phẩm là rất quan trọng. Không giữ thực phẩm đã chín tới ở nhiệt độ phòng nhiều hơn 2 giờ. Hâm thực phẩm đã nấu chín ở nhiệt độ trên 60oC trước khi sử dụng. Không bảo quản thực phẩm quá lâu dù trong tủ lạnh.            

Xử trí khi bị ngộ độc thực phẩm

Công việc đầu tiên phải là chống mất nước và mất muối khoáng. Xử trí này đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong việc hạn chế tỷ lệ tử vong, nhất là đối với trẻ nhỏ và người cao tuổi. Oresol được coi là một cứu tinh đối với mọi trường hợp mất nước và mất muối do bệnh tiêu chảy gây nên. Nếu bị mất nước nhiều do tiêu chảy đã lâu, cần cho uống ngay một lượng nhiều, sau đó uống dần dần. Nhiều trường hợp chỉ cần điều trị như vậy là đã cầm được tiêu chảy và có thể khỏi.

Trong trường hợp bị mất nước quá nặng do các nguyên nhân bệnh lý nhiễm khuẩn như bị tả, lỵ thì bệnh nhân cần phải được đưa đến bệnh viện để truyền dịch. Dung dịch để tiêm truyền tùy thuộc vào sức khỏe của bệnh nhân và phải được thực hiện tại các cơ sở y tế.

 BS. Cẩm Nga

Rau khởi còn có tên rau củ khởi, cây khủ khởi, rau khỉ. Cây được trồng phổ biến ở nước ta. Bà con thường dùng cây làm hàng rào, lá nấu canh ăn và làm thuốc chữa ho, sốt. Theo Đông y, rau kỷ vị ngọt, tính bình, tác dụng nhuận phổi, mát gan, mạnh thận, ích khí, sinh tinh, trợ dương, bổ hư lao, khỏe gân cốt, khử phong độc làm sáng mắt, lợi ruột, trị khô khát. Xin giới thiệu một số món ăn bài thuốc từ rau khởi:

Trị đái tháo đường do can âm hư tổn gây giảm thị lực, tâm phiền dễ giận, khó ngủ, nhiều mộng mỵ, khát nước, gầy yếu: cà rốt 60g thái vừa, thịt trai 100g, cho nước vừa đủ, nấu sôi để nhỏ lửa 1 giờ, cho thêm 60g rau khởi tươi nấu 10 phút, nêm gia vị vừa ăn.

Món ăn từ rau khởi chữa bệnh 1Cháo rau khởi.

Hoặc: lá khởi tươi 100g, gạo nếp 50g, đường trắng vừa đủ. Lá câu kỷ đem rửa sạch, cho vào 300g nước, đun cạn còn lại 200g, vớt bỏ bã, cho gạo nếp, đường trắng vào, đổ thêm 300g nước nữa, đun thành cháo loãng. Ăn nóng vào buổi sáng và buổi tối. Dùng trong thời gian dài.

Tác dụng thanh can sáng mắt. Những người hay buồn phiền căng thẳng, chóng mặt mắt mờ, cholesteron máu cao, bệnh tim, tăng huyết áp, đái tháo đường, xơ cứng động mạch: lấy 100g rau khởi tươi non rửa sạch, cho vào nồi cháo gạo đã đun nhừ, đun sôi một lúc cho đường hoặc muối vào, ăn mùi vị rất thơm ngon. Nếu lá rau khởi hơi già thì đổ nước vào đun rồi chắt lấy nước, bỏ gạo tẻ vo sạch vào nấu cháo, ăn.

Bổ dưỡng cơ thể, phấn chấn tinh thần: rau khởi nấu với đậu và đậu phụ rán. Rau khởi rửa sạch, đổ nước vào đun rồi chắt lấy nước. Đậu 10g ngâm nước 4-5 tiếng sau đó cho vào cối giã nát, đổ vào nồi, cho vào 2 bát nước, đun cho đến khi mùi hăng đậu sống mất đi thì cho canh gà, đậu phụ rán thái miếng và nước rau khởi vào, rồi cho ít muối, đun lên là được có thể ăn vào bữa ăn chính trong ngày.

Chữa chứng đau lưng, thận suy: rau khởi 100g, thịt dê 100g. Rau rửa sạch, thịt dê thái mỏng, xào hoặc nấu canh nêm nếm vừa miệng, ăn vào bữa trưa. Ăn liền trong vài ngày sẽ kiến hiệu. Chú ý: thịt dê rất nóng, nếu người hỏa vượng thì giảm bớt 1/3 lượng thịt dê.

Bổ thận ích tinh, tráng kiện gân cốt: Trị chứng thận hư khiến dương vật không cương, gầy yếu, tinh suy lực yếu. Bầu dục lợn bóc màng bỏ dây chằng, thái mỏng lấy một ít bột đậu ướt trộn vào. Luộc bầu dục với 500cc nước, sôi nước thì cho lá khởi vào sôi lại là được, thêm một ít xì dầu, hạt tiêu bột làm canh ăn phụ trong bữa. Người bị thận hư thị lực suy giảm, quáng gà, váng đầu chóng mặt dùng bài này cũng tốt.

BS. Phó Thuần Hương

Nghiên cứu mới đăng tải trên Tạp chí Mycology cho thấy, hơn 60% máy rửa bát đem lại nguy cơ tiềm ẩn gia tăng các vấn đề về gan, nhiễm khuẩn da. Các nhà nghiên cứu phát hiện, môi trường ẩm ướt và ấm áp trong máy rửa bát là điều kiện lý tưởng cho sự sinh sản và phát triển của các loại nấm: Exophiala, Rhodotorula, Candida parapsilosis. Các nhà khoa học khuyến cáo những người đang dùng thuốc kháng sinh, những người có hệ miễn dịch kém, người bị bệnh đái tháo đường, bị xơ nang rất dễ có nguy cơ nhiễm khuẩn phổi và da do hít phải những loại nấm này. Tuy nhiên, để giảm bớt số lượng nấm trong máy rửa bát, 1 tháng 1 lần bạn nên chạy máy rửa bát ở nhiệt độ cao với  bát thủy tinh có chứa ít giấm để khử trùng máy và để máy khô hoàn toàn.

M.H (Theo Daily Mail, 7/2013)

Làm thế nào để bạn có thể tỉnh táo làm việc vào buổi chiều và chống lại cơn buồn ngủ.

Buổi chiều bạn muốn tập trung làm việc nhưng đầu óc mụ mẫm, chậm chạp. Càng kiểm soát càng buồn ngủ hơn. Ngáp vặt suốt, mắt díp lại, chỉ sợ không hoàn thành công việc. Làm thế nào cho tinh thần tỉnh táo? Hãy tham khảo những điều sau đây:

Uống nước chanh

Nước chanh có tác dụng làm đầu óc tỉnh táo. Nếu bạn thấy không có chanh tươi thì có thể dùng lát chanh khô pha với nước ấm và chút đường hay mật ong là ổn. Bạn sẽ phải đứng dậy rửa cốc, lấy nước và pha chế… quá trình đó sẽ giúp bạn tỉnh táo một phần. Theo các chuyên gia sức khỏe, các thành phần trong trái chanh có tác dụng khôi phục trí nhớ rất tốt. Bạn hãy ngửi quả chanh, não của bạn sẽ nhanh chóng vận động và nghĩ ngay đến những việc cần phải làm.

Ăn chocolate

Nếu bạn muốn đầu óc tỉnh táo trong giây lát thì chocolate đen là liều thuốc hữu hiệu nhất. Chocolate đen chứa cafein và chất chống oxy hóa nên có tác dụng kích thích thần kinh giao cảm hưng phấn và trao đổi chất trong cơ thể diễn ra nhanh hơn. Theo đó, não sẽ cảm nhận được sự kích thích và tiết ra hormone tuyến thượng thận, làm đầu óc tỉnh táo.

6 việc cần làm để có buổi chiều làm việc hiệu quả 1
Nếu bạn muốn đầu óc tỉnh táo trong giây lát thì chocolate đen là liều thuốc hữu hiệu nhất. (Ảnh minh họa)

Chọn thực đơn trưa hợp lý

Các thức ăn chứa protein như cá, gà, hải sản, đậu phụ có nhiều tyrosine giúp cho tư duy nhạy bén, não tỉnh táo, vì thế bạn nên chọn vào thực đơn bữa trưa. Rau củ màu xanh đậm chứa nhiều chất xơ (ớt xanh, rau chân vịt…) giúp cho tế bào não có đủ oxy, khiến cho đầu óc minh mẫn vào buổi chiều. Khoai tây chứa nhiều tinh bột không nên ăn vào bữa trưa, nếu ăn tối sẽ có tác dụng an thần, giúp ngủ ngon. Mặt khác, buổi trưa không nên ăn no, ăn quá no làm tăng nguy cơ buồn ngủ và ngáp vặt trong buổi chiều.

Vận động nhẹ nhàng

Khi đầu óc trì trệ và buồn ngủ bạn nên đi lại vận động cơ thể trong vài phút bằng cách: Đứng dậy hít thật sâu, sau đó thở ra và khom lưng xuống. Làm như thế khoảng 10 – 20 lần sẽ giúp gân cốt thư giãn, giúp phổi nở ra và xua tan cơn buồn ngủ.

Massage tai

Tai là điểm thu nhỏ của các cơ quan của cơ thể. Massage nhẹ nhàng tai trong vài phút sẽ giúp tai nghe rõ hơn, mắt nhìn sáng hơn và đầu óc cũng tỉnh táo. Bạn có thể massage tai bằng cách: Chà mạnh vành tai, sau đó lấy lòng bàn tay ấn mạnh vào tai khoảng 10 lần, giúp máu lưu thông.

Rửa mặt bằng nước lạnh

Tận dụng giờ nghỉ trưa để vệ sinh khuôn mặt, giúp da hít thở không khí trong lành, đồng thời tạo cho tinh thần sảng khoái. Bạn có thể vỗ nước lạnh lên mặt khoảng 2-3 phút để giúp tinh thần tỉnh táo.
Theo Eva