Author Archives: dungntk

Dưới đây là một số lời khuyên để cải thiện sức bền và độ an toàn của việc tập thể dục trong mùa hè nóng bức.
 

Tập thể dục an toàn trong mùa hè nóng bức 1
 Ảnh minh họa. (Nguồn: internet)

Hãy bắt đầu với những điều cơ bản. Chú ý đến nhiệt độ cao điểm vào ban ngày, độ ẩm và thậm chí là những cảnh báo về ô nhiễm không khí, tầng ozone để có thể xem xét về việc ở trong nhà thay vì phải đối phó với điều kiện khí hậu nóng ẩm bên ngoài.

Điều quan trọng là phải nhận thức được rằng cơ thể của bạn hoạt động kém hiệu quả trong những điều kiện khắc nghiệt. Nếu bạn bị bệnh hen suyễn thì phải luôn giữ ống hít cứu hộ trên tay và biết về các dấu hiệu cảnh báo sớm.

Hãy đảm bảo quá trình hydrat hóa diễn ra bình thường bằng cách uống đủ lượng nước cần thiết và/hoặc một số đồ uống chứa chất điện phân ít đường để có thể tập thể dục trong một thời gian dài. Uống trước, trong và sau khi tập thể dục, đồng thời phải nhớ rằng không chờ cho đến khi bạn cảm thấy khát để bắt đầu quá trình hydrat hóa.

Nghiên cứu cho thấy rằng việc tự làm mát bản thân bằng cách uống nước lạnh hoặc sử dụng khăn lạnh trước khi tham gia vào các hoạt động thể chất trong một ngày nóng bức thực sự có thể giúp bạn cải thiện độ bền và hiệu suất.

Vào những ngày nóng, mặc đồ mỏng và các loại vải thoáng khí để thấm mồ hôi. Một số vận động viên thích đồ tập rộng rãi. Vào ngày nắng, hãy cố gắng tìm các khu vực râm mát.

Đừng bao giờ sử dụng đồ uống có cồn trước khi tập thể dục, vì điều này chắc chắn sẽ khiến tình trạng mất nước thêm trầm trọng. Nên ăn nhẹ trước khi tập thể dục với cường độ mạnh.

Bất kỳ lúc nào cảm thấy khó thở hoặc chóng mặt, bạn phải ngừng tập thể dục ngay lập tức. Chuột rút nhiệt, kiệt sức và đột quỵ có thể xảy ra khi cơ thể của bạn quá nóng. Các triệu chứng có thể bao gồm chóng mặt, mệt mỏi, buồn nôn và/hoặc lẫn lộn.

Không nên tập thể dục dưới ánh nắng mặt trời chiếu trực tiếp mà không sử dụng kem chống nắng, mũ và một cặp kính râm.

 
Theo Dân trí/Foxnews

Một nghiên cứu mới đây cho thấy người lớn tuổi bị thiếu máu có thể tăng nguy cơ sa sút trí tuệ.
 
Thiếu máu có thể làm tăng nguy cơ sa sút trí tuệ 1
 Ảnh minh họa. (Nguồn: internet)

Các nhà nghiên cứu cho biết thiếu máu ảnh hưởng tới 23% số người lớn tuổi.

 
“Chúng tôi phát hiện ra rằng nguy cơ sa sút trí tuệ tăng 60% do thiếu máu. Sau khi hiệu chỉnh các yếu tố khác thì nguy cơ vẫn tăng 40-50%”, tác giả chính của nghiên cứu tiến sĩ Kristine Yaffe, giáo sư về tâm thần học, thần kinh và dịch tễ học thuộc Đại học California, San Francisco, cho biết.

Nhóm nghiên cứu nêu rằng thiếu máu có thể chỉ báo sức khỏe tổng thể kém. Nguyên nhân gây thiếu máu có thể do thiếu sắt và mất máu. Ung thư, suy thận và một số bệnh mạn tính cũng có thể dẫn tới thiếu máu.

Một chuyên gia nói nghiên cứu này nhắc nhở các bác sĩ rằng rất nhiều tình trạng dẫn tới thiếu máu, và điều trị thiếu máu có thể tránh được nguy cơ suy giảm tâm thần.

Được đăng trên tạp chí Neurology ngày 31/7, các tác giả cho rằng cần nghiên cứu thêm để xác nhận mối liên quan này trước khi đưa ra các khuyến cáo về phòng ngừa sa sút trí tuệ.
 
Theo ANTĐ/HD

Tại Bệnh viện Nhi đồng Boston (Mỹ), các bác sĩ đang bắt đầu gặt hái được những thành quả của 10 năm nỗ lực trong công cuộc sử dụng sinh học nhằm khắc phục cho trẻ mắc hội chứng tim trái giảm sản (HLHS). Trong số 34 bệnh nhi đã được chữa trị, hiện tại 13 người đang sống khỏe với 2 tâm thất đang hoạt động tốt. Đây là báo cáo của ông Sitaram Emani, Trưởng nhóm phẫu thuật của dự án.

Đột phá trong điều trị dị tật tim trẻ sơ sinh

Các bác sĩ phẫu thuật nhi khoa hiện đang phát triển một chiến lược mới nhằm giải quyết một trong những dị tật bẩm sinh nan giải nhất của tim mạch con người, đó là những em bé lọt lòng mẹ chỉ với duy nhất 1 tâm thất. Theo số liệu của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh Mỹ (CDCP) thì khoảng 40.000 trẻ sơ sinh Mỹ chào đời hàng năm bị khuyết tật tim bẩm sinh, trong đó có gần 1.000 trẻ bị hội chứng tim trái giảm sản. Chứng khuyết tật phát sinh từ một sự bất thường di truyền và rằng đã ngăn chặn tâm thất trái – buồng bơm chính của quả tim phát triển đúng cách. Các bác sĩ đang lợi dụng sức mạnh tái tạo của cơ thể nhằm tái sinh sản tâm thất bị mất hoặc tăng cường phần còn lại. Trong khi các bác sĩ ở Bệnh viện Nhi đồng Boston đang nỗ lực để phát triển thêm một tâm thất thứ hai thì các bác sĩ tại Mayo Clinic (Rochester, Minnesota, Mỹ) đang tìm kiếm cách thức nhằm tăng cường chức năng của tâm thất hiện hữu.

Tái tạo tim - Bước đột phá khắc phục dị tật tim ở trẻ 1Bé Harrison Fitch (6 tuổi) sau phẫu thuật đã có một tâm thất mới đang phát triển. 

Vào năm 2006, hai vợ chồng Sherry và Charles Fitch quyết định thử nghiệm giả thuyết của TS. Emani sau khi cậu con trai sơ sinh Harrison của họ được chẩn đoán với một điều gì đó bất thường trong quá trình siêu âm gần cuối thai kỳ. Tình cờ, hai vợ chồng dùng internet và tìm thấy thông tin về chương trình khắc phục dị tật tim bẩm sinh ở trẻ em tại Bệnh viện Nhi đồng Boston. Mặc dù số liệu còn khá mù mờ nhưng hai vợ chồng nhà Fitch đến từ Atlanta nghĩ rằng có lẽ nó là sự lựa chọn hợp lý nhằm cứu lấy tâm thất trái cho đứa con trai của họ. Bà Fitch quả quyết: “Nó là niềm hy vọng, là cơ hội cuối cùng để có thể phục hồi đầy đủ 2 tâm thất cho con của tôi”.

Ở tim bình thường, tâm thất trái nhận máu giàu ôxy từ phổi để chuyển lên não và các cơ quan nội tạng khác của cơ thể. Máu cạn kiệt ôxy lại trở về tim được bơm vào phổi và một quy trình tuần hoàn máu lại bắt đầu. Nhưng trong trường hợp chỉ với một tâm thất phải, quả tim không thể nhận đủ máu giàu ôxy để chuyển hóa cho toàn bộ cơ thể. Nếu không có thủ thuật sửa đổi, sự khuyết lỗi này sẽ là nguyên nhân gây tử vong trong vòng vài ngày hoặc vài tuần cho trẻ sau khi sinh. Với một số bệnh nhi, ghép tim là một sự lựa chọn song nguồn tim hiến tặng lại quá hiếm hoi và chỉ có vài trẻ sơ sinh may mắn lắm mới nhận được, số đông phải chờ đợi. Ba cuộc phẫu thuật tim cho 3 em bé lần lượt mang tên là Norwood, Glenn và Fontan được dự định là cho phép tâm thất phải và trái hoạt động cùng nhau. Bé Norwood được điều trị ngay sau khi sinh, bé Glenn thì phải chờ trong khoảng giữa 4 và 6 tháng sau đó, còn bé Fontan phải lên 3 tuổi mới tiến hành điều trị.

Tiềm năng tái sinh sản của tim trẻ sơ sinh

Tâm thất phải không được thiết kế để có thể chịu đựng được áp suất cao dài hạn và quá trình nén ép đã đẩy máu qua động mạch chủ đến cơ thể, vì vậy, quá trình chỉnh lỗi thường bị thất bại trong thời thơ ấu hoặc thời kỳ vị thành niên. Khoảng một thập niên trước đó, một nghiên cứu mới đã tiết lộ về tiềm năng tái sinh sản của tim trẻ sơ sinh, TS. Emani và các đồng nghiệp của ông bắt đầu tự hỏi liệu nếu bỏ đi tâm thất trái có phải là phí mất một cơ hội chăng? Nếu trong lần phẫu thuật ban đầu hoặc trước khi sinh, người ta có thể mở khóa các van và những cấu trúc khác có thể bị ảnh hưởng bởi lỗi này, nhóm các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng, họ có thể phục hồi lưu lượng máu đến tâm thất trái và có lẽ tâm thất sẽ phát triển. Đã có khá nhiều nỗ lực mạo hiểm được tiến hành. TS. Sitaram Emani phát biểu: “Khi chúng tôi mới bắt đầu làm, số đông trong chúng tôi nghĩ rằng mình chẳng khác nào mua lấy đau khổ vào thân”. Nhưng khi mọi chuyện diễn ra suôn sẻ, các bác sĩ đã tận mắt nhìn thấy sự lớn dần của đám trẻ sơ sinh với cả 2 tâm thất hoạt động bình thường thay vì chỉ một cái hoạt động như trước đây.

Đối với bé Harrison Fitch, việc chẩn đoán bệnh trước khi sinh đã mang đến một cơ hội sớm nhằm khai thác vào khả năng tái tạo của cơ thể. Trong một thủ thuật bào thai, các bác sĩ tại Bệnh viện Nhi đồng Boston đã thành công trong việc luồn một quả bóng vào một cái lỗ có đường kính bằng một “sợi tóc thiên thần”, bà Sherry Fitch nhớ lại và thổi phồng quả bóng để mở một van tim bị che khuất. Van tim mở và đóng, cho phép máu di chuyển tới tâm thất trái. Ngay tại thời điểm bé Harrison chào đời, tâm thất trái của bé đã bắt đầu phát triển nhưng hoạt động không như mong đợi. Các bác sĩ đã tiến hành 3 cuộc phẫu thuật tiêu chuẩn cho một đợt sửa lỗi tâm thất duy nhất. Nhưng họ cũng giữ cho máu chảy đến tâm thất trái. Một chiến lược quan trọng đã được đưa ra: trong mỗi đợt phẫu thuật cho Harrison, các bác sĩ đã cắt bỏ mô xơ và tái tạo nó trong tâm thất trái do thiếu lưu lượng máu đầy đủ. TS. Emani cho biết, ở một số trẻ sơ sinh, việc dọn những mô xơ có thể là hành vi “ươm mầm” cho tiềm năng phát triển của tâm thất. Lúc 4 tuổi, tức chỉ vài tháng sau khi tiến hành ca phẫu thuật thứ 3, bé Harrison đã trải qua ca phẫu thuật lần thứ 4 nhằm kết thúc sự lệ thuộc vào một tâm thất duy nhất và khiến cho tâm thất trái hoạt động đầy đủ như nó vốn có.

Ngày nay, ở tuổi lên 7, bé Harrison chơi rất cừ bóng đá và bóng vợt. Nhưng việc sửa lỗi vẫn chưa hoàn hảo, Harrison vẫn có vẻ mệt mỏi nhiều hơn so với trẻ em bình thường. Tuy nhiên, bà Sherry Fitch vẫn tự hào nói: “Cháu nhà tôi vẫn khỏe mạnh, nó là một thằng bé ngoan ngoãn, rất thông minh. Chúng tôi chả cầu mong gì hơn thế”. Cho đến nay, phương pháp này đã phục hồi thành công tâm thất trái trong khoảng 1/3 các trường hợp. TS. Emani cho biết: “Chúng tôi đang nghiên cứu thêm để có thể tiến hành một cách an toàn hơn bao gồm các cải tiến trong chăm sóc sức khỏe sau phẫu thuật”. 

Theo kế hoạch, trẻ sơ sinh sẽ trải qua ca phẫu thuật đầu tiên chỉ một thời gian ngắn sau khi sinh. Nếu tất cả diễn ra ổn thỏa, các tế bào gốc sẽ được tiêm trực tiếp vào tim thông qua ca phẫu thuật thứ hai cách đó từ 4 – 6 tháng. Ông Harold Burkhart, chuyên gia giải phẫu tim trẻ em tại Mayo Clinic giải thích: “Giả thuyết để tiến hành những ca phẫu thuật này là nhằm kích thích nhiều hơn cho các tế bào tim phát triển hoặc tái sinh, làm cho các tế bào tim hiện có trở nên khỏe mạnh hơn. Hy vọng là nó sẽ làm trì hoãn nhu cầu ghép tim hoặc sự khởi đầu của việc suy giảm trong chức năng của một tâm thất duy nhất”. 

Tới nay, không phải tất cả bệnh nhân đều có thể được sử dụng phương pháp này và phải mất 15 năm hoặc lâu hơn thế mới biết được chiến lược điều trị đã ảnh hưởng như thế nào đến cơ thể họ.

(Theo Wall Street Journal, 7/2013)

Nguyễn Thanh Hải

Mùa hè, nền nhiệt độ cao, vi khuẩn dễ phát triển dẫn đến tình trạng ngộ độc thực phẩm tăng cao. Dưới đây là những quan niệm sai lầm phổ biến nhất về an toàn thực phẩm mùa hè cùng những lời khuyên về cách chế biến, bảo quản đúng, nhằm tránh ngộ độc thực phẩm.
 
Những quan niệm sai lầm về an toàn thực phẩm mùa hè 1
Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.
 
Thức ăn có thể để ở nhiệt độ thường trong vài giờ. Không phải, thời gian để đảm bảo an toàn không dài như bạn nghĩ. Theo đại diện của Viện Dinh dưỡng và chế độ ăn uống Hoa Kỳ, nếu nhiệt độ ngoài trời từ 32 độ C trở lên, thức ăn chỉ có thể giữ được trong một tiếng. Còn nếu nhiệt độ trong khoảng từ 5 đến 32 độ C, giới hạn an toàn tối đa là 2 tiếng. Quá thời hạn đó, vi khuẩn gây bệnh bắt đầu sinh sôi lên, vì thế đừng tiếc mà hãy chế biến lại hoặc bỏ đi. Và thay vì mất thời gian theo dõi, hãy bảo quản thực phẩm đã chế biến ngay khi có thể.

Đồ ăn thừa có thể để vài ngày trong tủ lạnh. Chính xác là 4 ngày. Thức ăn đã chế biến thường chỉ an toàn đến 4 ngày với điều kiện được bảo quản trong hộp kín để trong tủ lạnh. Sau đó, vi khuẩn gây bệnh bắt đầu sinh sôi, ngay cả khi chúng ta không thể nhìn thấy hoặc ngửi thấy. Vì vậy, bên ngoài hộp đựng, nên dán giấy ghi ngày bạn cất trữ để nhắc nhở thời hạn sử dụng.

Thực phẩm hỏng thì có mùi ôi. Thông thường, quan sát bằng mắt thường hoặc ngửi, nếm cũng khó khẳng định thức ăn hỏng hay chưa. Nếu có một hộp đựng thức ăn trong tủ lạnh từ tuần trước mà bạn không nhớ rõ ngày cất trữ, tốt nhất là làm theo quy tắc: Nghi ngờ thì bỏ đi.

Ăn quả gọt vỏ không cần rửa. Không đúng, cho dù khi ăn phải bỏ vỏ, ta vẫn phải rửa sạch quả bơ, dưa chuột, dưa hấu… vốn rất phổ biến trong ngày hè này. Đơn giản là các con dao gọt vỏ có thể mang vi khuẩn như E. coli từ vỏ bên ngoài vào bên trong. Vì vậy, cần rửa sạch các loại quả này dưới vòi nước đang chảy (loại xà phòng đặc biệt là không cần thiết) trước khi lột vỏ hoặc cắt.

Để thực phẩm đông lạnh ở ngoài cho tan dần ra. Đây không phải là biện pháp rã đông đúng cách. Nếu cứ để thực phẩm đông lạnh ở nhiệt độ trong phòng để mềm dần một cách tự nhiên, vi khuẩn sẽ nhân lên mức báo động, có thể từ một con lên tới hàng nghìn tỷ con trong vòng 24 giờ. Vậy, cách làm đúng là thế nào? Hãy rã đông các loại thực phẩm bằng cách để ở ngăn mát qua đêm, cho vào lò vi sóng hoặc làm mát bằng nước bằng cách cho vào một túi bóng kín, ngâm trong nước ở nhiệt độ thường và cứ 30 phút thay nước một lần. Quan trọng là thực phẩm đã rã đông sau đó phải nấu ăn ngay.

Ngộ độc thực phẩm nhẹ – không sao. Ngược lại, chớ coi thường. Trên thế giới mỗi năm có khoảng 48 triệu ca bị ngộ độc thức ăn, cướp đi sinh mạng của khoảng 3.000 người. Mức độ ngộ độc nặng hay nhẹ phụ thuộc vào vi khuẩn trong cơ thể, vào mức độ ăn uống và độ nhạy cảm của từng cá nhân. Trẻ nhỏ, phụ nữ mang thai, người già hay người có hệ miễn dịch yếu và bệnh mãn tính nếu ngộ độc nhẹ có thể phát triển bệnh nghiêm trọng hơn như suy thận, tổn thương thần kinh… Chưa kể không tính đến vấn đề tuổi tác và tình trạng sức khỏe, các triệu chứng ngộ độc thực phẩm thường gây khó chịu cho hầu hết các nạn nhân, từ buồn nôn, đau bụng đến tiêu chảy kéo dài gây mất nước.

Theo ANTĐ/ Woman’s Day

Bàng quang là một tạng rỗng chứa nước tiểu, nằm trong tiểu khung, ngoài ổ phúc mạc. Khi chứa đầy nước tiểu, bàng quang có dạng hình cầu. Ở người lớn, dung tích bình thường khoảng từ 250 – 350ml. Cấu trúc của thành bàng quang có nhiều collagen, tính đàn hồi cao nên trong những trường hợp đặc biệt, nó có thể tăng dung tích lên tới 300% so với bình thường. Nếu bàng quang chứa nhiều nước tiểu, bị chấn thương sẽ rất dễ bị vỡ.

Bình thường, khi lượng nước tiểu chứa trong bàng quang thay đổi sẽ thay đổi về cảm giác của cơ thể, đến lúc bàng quang có dung tích khoảng 350ml, người ta sẽ có cảm giác mót tiểu, trên 400ml thì cảm giác rất mót, đến 600ml thì đau tức không thể chịu được. Một số công trình nghiên cứu đã cho thấy: sự cảm nhận của cơ thể với mức độ căng của bàng quang cũng phản ánh mức độ tổn thương bàng quang thay đổi tùy theo mức độ căng bàng quang. Vì vậy, một bàng quang chứa đầy nước dễ tổn thương hơn là bàng quang chứa ít nước hoặc không có nước bên trong khi bị chấn thương.

Nếu chấn thương trực tiếp vào vùng bụng dưới rốn khi bàng quang đang đầy nước tiểu hay căng ứ nước tiểu, thành bàng quang mỏng đi, nhất là vùng đỉnh vì các bó cơ của lớp ngoài nằm cách xa nhau nên lớp phúc mạc dính rất chặt vào bàng quang, khi có một lực tác động đột ngột, trực tiếp vào vùng dưới rốn, bàng quang bị nổ vỡ tại điểm yếu nhất là phần đỉnh, phúc mạc cũng bị xé rách một đoạn chồng khít với tổn thương. Bàng quang vỡ thông vào trong ổ phúc mạc, gọi là vỡ bàng quang trong phúc mạc.

Chấn thương dễ vỡ bàng quang 1Tổn thương vỡ bàng quang trên phim chụp cắt lớp.

Chấn thương dễ vỡ bàng quang 2

Can thiệp ngoại khoa điều trị vỡ bàng quang.

Trường hợp bàng quang ít nước tiểu, khi đó, cổ bàng quang được coi như một điểm cố định chắc chắn với các thành phần ở xung quanh tạo nên một sàn cố định vào khung xương chậu, khi chấn thương gãy xương chậu, làm đứt dây chằng, đồng thời giật rách bàng quang ở nơi bám dây chằng đó gọi là vỡ bàng quang ngoài phúc mạc.

Biểu hiện vỡ bàng quang

Vỡ bàng quang do chấn thương là một cấp cứu niệu khoa, hay gặp do tai nạn giao thông, tai nạn lao động, chiếm 2% các thương tổn ở bụng, 10% các chấn thương về niệu. Bệnh nhân bị vỡ bàng quang thường xảy ra tình trạng sốc đa chấn thương, có nhiều thương tổn đi kèm. Các triệu chứng của tổn thương đường tiết niệu như thận, niệu quản, niệu đạo, bàng quang dễ nhầm lẫn với nhau. Do đó, cần chẩn đoán sớm và xử trí kịp thời các tổn thương bàng quang và những thương tổn đi kèm mới có thể hạ thấp tỷ lệ tử vong và các biến chứng do chấn thương gây ra. Vỡ bàng quang có thể bị nhầm với các tổn thương khác của đường niệu, nhưng nếu nắm vững các triệu chứng, vẫn  xác định được vỡ bàng quang do chấn thương. Tam chứng “vỡ bàng quang” gồm: đi tiểu máu cả bãi; đau vùng hạ vị; khó khăn hay không thể đi tiểu được. Vỡ xương chậu có di lệch nhiều có 10% kèm theo tổn thương bàng quang, 10-25% kèm tổn thương niệu đạo; 10-29% bệnh nhân tổn thương niệu đạo sau có tổn thương bàng quang kết hợp. Chụp Xquang, chụp cắt lớp, siêu âm có thể thấy tổn thương vỡ bàng quang.

Xử trí khi bị vỡ bàng quang

Đa số bệnh nhân bị vỡ bàng quang đều bị sốc, vì vậy, trong xử lý cấp cứu, cần phải chống sốc. Người cấp cứu phải đếm tần số nhịp thở, mạch, đo huyết áp của bệnh nhân.

Đồng thời với việc bảo đảm hô hấp, cầm máu, cố định chi gãy (nếu có), truyền dịch hay truyền máu để duy trì khối lượng tuần hoàn, bệnh nhân bị sốc nặng cần chuyển thẳng đến phòng mổ để khám và phẫu thuật kịp thời.

Trường hợp vỡ bàng quang trong phúc mạc thì bắt buộc phải phẫu thuật mở bụng để khâu bàng quang và kiểm tra các tổn thương khác trong ổ bụng, dẫn lưu bàng quang.

Nếu vỡ bàng quang ngoài phúc mạc mà bệnh nhân có tổn thương khác kèm theo cũng phải phẫu thuật mở bụng để giải quyết các tổn thương kết hợp khâu bàng quang. Còn trường hợp chỉ đơn thuần vỡ bàng quang ngoài phúc mạc có thể điều trị nội khoa bằng cách đặt thông niệu đạo lưu và dùng kháng sinh liều cao phổ rộng với thời gian từ 7-14 ngày; sau chấn thương sẽ chụp bàng quang có cản quang, nếu còn thấy hình ảnh thoát nước tiểu thì khi đó mới phẫu thuật khâu lỗ thủng bàng quang.

Phòng tránh vỡ bàng quang

Vỡ bàng quang là một bệnh nặng, xảy ra chủ yếu do chấn thương. Vì vậy, để phòng bệnh, chúng ta cần tránh chấn thương và tránh để bàng quang căng đầy. Trên thực tế, bàng quang căng đầy nước tiểu thường gặp ở những người uống nhiều rượu, bia mà không đi tiểu. Do vậy, cách phòng ngừa hiệu quả là nên đi tiểu khi bàng quang đầy, nghĩa là khi cơ thể cảm nhận thấy rất mót tiểu hay đau tức. Phái mạnh không nên cố nhịn tiểu, đặc biệt sau cuộc nhậu để tránh vỡ bàng quang khi bị chấn thương. Công nhân xây dựng, công nhân phải làm việc trên cao phải mang bảo hộ lao động, nhất là dây đeo an toàn để tránh tai nạn té ngã từ trên cao. Mọi người luôn có ý thức chấp hành luật giao thông để tránh tai nạn giao thông là nguyên nhân gây vỡ bàng quang rất hay gặp. 

ThS. Trần Văn Phong

Viêm mũi xoang là hiện tượng tắc các lỗ thông từ xoang đổ ra hốc mũi do viêm nhiễm hay mủ ứ đọng, gây khó chịu cho người bệnh. Theo các bác sĩ, “thuốc” tốt nhất cho bệnh nhân viêm xoang là nước. Khi thiếu nước, niêm mạc tại các xoang sẽ bị khô, đờm nhớt khó thải vì cứng lại. Đó là môi trường thuận lợi để vi khuẩn, nấm phát triển và gây viêm. Trong đợt điều trị cấp tính, cần kết hợp các phương pháp của Đông và Tây y. Trong bài viết dưới đây, chúng tôi xin được giới thiệu với bạn đọc một phương pháp xông hơi trị viêm mũi xoang để bạn đọc tham khảo.

Chuẩn bị một cái ấm nước nhỏ (nhôm, sành đều được nhưng không dùng để nấu nước uống vì sợ độc) và dược liệu là cây giao, còn gọi cây xương cá.

Lấy một miếng giấy khá lớn, một tờ giấy lịch treo tường lớn hoặc nối 2 – 3 tờ giấy A4 bằng băng keo thành 1 tờ lớn, rồi quấn xéo lại thành một cái ống dài khoảng 50cm chứ không được làm ngắn hơn vì sẽ quá nóng, dễ bị phỏng da còn nếu dài quá thì hơi không đủ mạnh để hít. Ống phải quấn sao cho 1 đầu vừa hoặc lớn hơn miệng vòi ấm còn 1 đầu nhỏ hơn sao vừa vào mũi để hít. Nếu có ống tre thì tốt hơn, nhưng không được dùng nhựa, dễ nóng chảy! Mở nắp ấm, đổ vào cỡ một chén nước.

Xông hơi trị viêm xoang 1Cây giao là dược liệu dùng để xông hơi trị viêm xoang.

Đếm cỡ 10 – 20 đốt cây xương cá (tùy theo số cây mình có được nhiều hay ít), cắt nhỏ các đốt cây (thành cỡ phân nửa của lóng tay) rồi thả vào ấm. Nên cắt cây ngay trên miệng ấm, để cho mủ cây nhỏ vào ấm càng tốt. Phải luôn cẩn thận tránh mủ văng vào mắt, nguy hiểm.

Đặt ấm lên bếp. Nếu có bếp gas thì làm tiếp như sau: Đầu tiên, vặn lửa thật lớn cho nước trong ấm sôi lên. Đến khi thấy hơi xông ra nhiều từ vòi ấm thì ta bớt lửa đến cực nhỏ, chỉ canh sao cho vừa đủ để hơi vẫn còn bốc ra nhẹ ở vòi ấm là đủ (các loại bếp khác cũng phải tìm cách bớt lửa để xông được lâu và không quá nóng). Kế tiếp, lấy ống giấy đã quấn, đưa đầu lớn của ống vào vòi ấm, còn đầu nhỏ cho vào mũi để hít hơi xông lên. Thời gian xông có thể chỉ là 15 – 20 phút, hay nếu có thời gian thì xông 30 – 50 phút. Nên để dành và hâm lại nước trong ấm để dùng, thường là 2 lần trong ngày (sáng và tối). Sau đó đổ bỏ, hôm sau làm lại liều thuốc mới. Khi hâm lại, dùng lần 2 thì cho thêm một ít nước cùng với 1 vài đốt cây để bổ sung thêm thuốc.

Lưu ý, nên bắt đầu xông ngay khi vừa bốc hơi để tận dụng lúc chất mủ còn đậm đặc sẽ đạt hiệu quả nhanh. Vì hơi xông ra rất nóng nên ta có thể hít một lát, đến khi thấy nóng quá thì quay mặt ra thở bên ngoài, rồi lại quay vào xông tiếp. Nên linh động làm sao để xông 1 cách thoải mái là được. Chẳng hạn: tránh chạm trực tiếp mũi vào ống xông do sức nóng truyền từ ấm sang ống có thể làm phỏng da non. Nếu thấy không chịu nổi hơi quá nóng thì có thể để nước sôi rồi tắt bếp, hít cho đến lúc thấy hơi còn quá ít thì lại mở bếp để nước sôi lại rồi tiếp tục làm như trên. Nên xông kiên trì cho đến khi hết hẳn, bệnh nặng có thể xông đến khoảng 30 ngày. Sau đó duy trì thêm một vài lần rồi ngưng, không nên lạm dụng. Về sau, nếu có tái phát mới xông tiếp.

Có nhiều trường hợp bệnh nặng lâu năm, khi xông đã khỏi bệnh lâu dài. Như vậy nếu bệnh càng nặng thì khi xông sẽ càng thấy có hiệu quả nhanh. Còn bình thường, chỉ sau từ 2 – 3 hoặc 4 lần xông sẽ thấy thuyên giảm rõ. Nếu xông quá lâu (5 – 7 ngày) mà vẫn không có chút kết quả gì thì rất có thể là không “chịu thuốc” nên ngưng xông.

Chú ý: Trẻ em nên xông với thời gian ngắn hơn người lớn. Tập làm quen dần rồi tăng thời gian lên.

Khi đã tắt bếp, nên hít tiếp cho đến nguội để tận dụng hơi nóng nhẹ, hít sâu vào tận hốc mũi; Không nên xông trị viêm xoang cho phụ nữ đang có thai; nên xông 2 hôm đầu mỗi lần 20 phút. Từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 5, mỗi lần xông 25 phút. Sau đó xông 30 phút mỗi lần và duy trì như vậy cho đến khỏi bệnh. Khi bệnh đã khỏi, nên xông củng cố thêm vài lần, mỗi lần 45 phút rồi mới nghỉ hẳn. Đặc biệt lưu ý, ống xông phải dài được 5 tấc (50cm) hoặc hơn chút ít.

Diễn biến khi xông cần biết

Tùy theo bệnh trạng mà diễn biến của quá trình điều trị có thể khác nhau như có người xông vào thấy thông mũi, nhẹ đầu, dễ chịu và khỏi bệnh nhanh chóng. Có người 2 – 3 hôm đầu thấy sổ mũi nhiều, khó chịu nhưng tiếp tục xông sẽ êm dần cho đến khi hết bệnh. Có 1 số người bị viêm xoang sàng sẽ thấy bớt đau ở cổ và vai nhưng dồn lên đau nhiều ở đầu. Nhưng chừng 2 – 3 hôm sau đó sẽ dịu dần và xông tiếp sẽ hết đau rồi hết hẳn bệnh.

BS. Hoàng Xuân Đại

Nghiên cứu mới đăng tải trên tạp chí The Lancet công bố kết quả phân tích dữ liệu từ 313.000 cá nhân cho thấy, tiếp xúc thường xuyên với khói xe làm tăng nguy cơ ung thư phổi.

Các hạt PM10s có trong 10 microgram của 1m3 không khí làm tăng 22% nguy cơ ung thư phổi. Các hạt PM 2.5s trong 5 microgram của 1m3 không khí tăng 18% nguy cơ ung thư phổi. Theo TS. Ole Raaschou, Trung tâm Nghiên cứu thuộc Hiệp hội Ung thư Đan Mạch cho biết, mức độ khói xe hít phải dù thấp hay cao đều làm tăng nguy cơ ung thư phổi đồng thời nó còn là nguyên nhân dẫn đến các vấn đề về tim mạch.

M.H (Theo Daily Mail, 7 2013)

Một nhóm nghiên cứu đa ngành tại Trung tâm y tế UT Southwestern (Mỹ) đã phát hiện ra rằng, việc đo đạc sự ôxy hóa của khối u có thể là một công cụ có giá trị trong xạ trị, mở ra cánh cửa cho các phương pháp điều trị cá nhân giữ cho khối u ở trong tầm kiểm soát bằng việc tăng lượng ôxy.

Trong vòng 7 năm qua, nhóm nghiên cứu của TS. Mason, giáo sư về phóng xạ đã thấy rằng, sự thiếu hụt ôxy đẩy mạnh sự phát triển của các mạch máu mới bên trong khối u và dẫn đến sự biến thể và mất cân bằng gen trong khối ung thư.

Trong nghiên cứu mới này họ thấy rằng, các khối u nhỏ hơn (dựa trên hình ảnh cộng hưởng từ) có thể được ôxy hóa tốt hơn những khối u lớn. Ông Mason cho biết: “Bước tiếp theo của nghiên cứu là thử nghiệm để đánh giá phản ứng của khối u đối với liệu pháp hóa trị. Các khối u được đánh giá là thiếu ôxy có thể được đánh giá và làm cho phản ứng thông qua những can thiệp nhẹ nhàng và dễ điều chỉnh, ví dụ như hít vào nhiều ôxy hơn hay dùng thuốc vận mạch”. Việc theo dõi phản ứng với việc hít vào nhiều ôxy cho ta biết khối u nào sẽ được hưởng lợi. Ví dụ, ung thư phổi là một loại bệnh mà các khối u bị thiếu ôxy mặc dù ở một cơ quan được cung cấp máu giàu ôxy.

Nếu kết quả nghiên cứu này được khẳng định trên người, các phương pháp điều trị cá nhân có thể sẽ chỉ cần ít đợt xạ trị hơn hoặc sẽ chỉ còn là một đợt điều trị liều cao. Ông Mason cho biết: “Khả năng xếp loại các khối u dựa trên độ nghèo ôxy đã cho chúng ta các cơ hội mới để phát triển các liệu pháp chữa trị dựa trên đặc tính khối u, từ đó nâng cao khả năng thành công”.

            Hà Phương (Theo Science Daily, 7/2013)

Các nghiên cứu khoa học gần đây cho thấy, khoa học đã chứng minh có những cách đơn giản đến mức bất ngờ mà bất cứ ai cũng có thể làm được để não luôn tươi trẻ qua thời gian: những trò chơi trí tuệ vẫn có ích đối với việc duy trì khả năng nhận thức của một số người; hạ nồng độ cholesterol để giảm nguy cơ mắc các bệnh về trí não. Một nghiên cứu gần đây cho thấy, chăm sóc răng miệng cẩn thận có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh mất trí nhớ. Nhiều nghiên cứu khác cũng cho thấy, thói quen uống trà xanh có thể bảo vệ não người khỏi bệnh Alzheimer và có tác động tích cực đến trí óc.

Đó là kết luận của nhóm nghiên cứu Đại học Harvard (Mỹ) sau khi tìm hiểu 5.500 người lớn tuổi trong 18 năm. Nhóm nghiên cứu phát hiện những người chải răng dưới 1 lần/ngày thì tăng 65% nguy cơ bị mất trí nhớ so với người chải răng hằng ngày sáng, tối.

Minh Trang (Theo Reuters, 7/2013)

Trong bối cảnh của cuộc sống căng thẳng vì kẹt xe, giờ học, giờ làm việc, giá sinh hoạt, lại thêm bệnh tật chực chờ, muốn không đau đầu chỉ có thể là… siêu nhân! Nhưng chuyện gì cũng có nặng – nhẹ. Đánh giá theo cường độ của cơn đau, đau đầu kiểu nào cũng không thấm vào đâu nếu so sánh với cơn đau nửa đầu.

Quán quân về… đau đầu

Khác với đa số trường hợp đau đầu do viêm xoang, thoái hóa cột sống, cảm mạo… cơn đau nửa đầu xuất hiện đột ngột như trời giáng và kéo dài nhiều giờ, thậm chí đến đôi ba ngày! Cơn đau thường định vị nửa đầu, cứ như bị ai gõ búa vào đầu từng đợt đi kèm với cảm giác da đầu căng và rát như bị bỏng. Điểm đáng ghét của đau nửa đầu là bệnh thừa nước đục thả câu. Bằng chứng là bệnh chực chờ phát cơn đau vào những lúc như: hành kinh, sau một đêm mất ngủ, sau một ngày làm việc đuối sức, khi thay đổi thời tiết và nhất là khi tích lũy bực bội vì stress!

Bệnh đau nửa đầu  1Đau nửa đầu kéo dài có thể gây nhiều hậu quả nguy hại như trầm cảm, đột quỵ, suy thoái võng mạc làm mất thị lực và mù vĩnh viễn.

Nếu chỉ có thế thì chứng đau nửa đầu chưa đủ điểm để nhận giải quán quân về đau đầu. Cùng lúc với cơn đau kêu trời không thấu, nạn nhân chứng đau nửa đầu còn phải chịu trận khổ triền miên với hàng loạt biểu hiện: rối loạn thần kinh dưới hình thức ù tai, mờ mắt, tê dại nửa người, biến động tâm lý dưới dạng trầm uất, sợ ánh sáng, sợ tiếng động, sợ mùi tanh, rối loạn tiêu hóa, nôn mửa đến mật vàng, mật xanh…

Khi người bệnh đi khám thì đau nửa đầu vẫn dễ bị chẩn đoán nhầm với một số nguyên nhân gây đau đầu khác như viêm xoang… nên có thể dẫn đến điều trị không đúng căn nguyên. Những người bị đau nửa đầu không chỉ thường xuyên bị cơn đau hành hạ, mà lâu ngày bệnh còn dẫn đến những hậu quả nguy hại khác cho sức khỏe như suy giảm trí nhớ, khó tập trung, trầm cảm, đột quỵ, suy thoái võng mạc, dẫn đến mất thị lực và mù vĩnh viễn.

Lệ thuộc thuốc đau đầu – đòn bẩy của nhiều bệnh

Khổ hơn nữa cho người bệnh là tuy hiện nay không thiếu thuốc giảm đau nhưng để cắt đứt cơn đau nửa đầu lại thật không dễ – vì bệnh hầu như “xem” thuốc giảm đau loại thông thường “không ra gì”! Thầy thuốc tuy đang có trong tay một số thứ thuốc đặc hiệu, nhưng éo le lại ở điểm thuốc nào cũng có phản ứng phụ khi dùng dài lâu, đặc biệt trên hệ tuần hoàn. Hậu quả là có bệnh nhưng không dám uống thuốc (!).

Đi xa hơn nữa, theo Hiệp hội Đau nửa đầu CHLB Đức (DMG), dùng thuốc giảm đau trong trường hợp đau nửa đầu dễ dẫn đến hội chứng đau đầu vì lệ thuộc thuốc. Vì thế, để tránh phải lệ thuộc không nên dùng thuốc đau đầu mỗi lần lâu hơn 3 ngày và mỗi tháng nhiều hơn 10 ngày.

Kẹt cho nạn nhân đau nửa đầu là bệnh ít khi kéo dài vài giờ. Bệnh cũng ít khi xuất hiện mỗi tháng vài ngày. Chính vì thế mà bệnh nhân đau nửa đầu là “ứng viên” hàng đầu của tình trạng không – uống – thuốc – không – xong – nhưng – nghỉ – thuốc – lại – đau -đầu. Nếu tưởng chỉ hại có thế thì lầm. Theo cảnh báo của DMG, lệ thuộc thuốc đau đầu chính là đòn bẩy của tai biến mạch máu não và trầm uất.

Tác nhân gốc tự do

Các nghiên cứu gần đây nhận thấy, gốc tự do và các hóa chất trung gian sinh ra trong quá trình chuyển hóa ở não làm gia tăng hoạt động bạch cầu, khởi phát quá trình viêm và sản sinh chất gây giãn mạch nitric oxide và histamine. Tình trạng này xảy ra quá mức làm tổn thương lớp nội mạc mạch máu. Những cơ chế phức tạp này dẫn đến những rối loạn vận mạch, khiến mạch máu não giãn nở, biến đổi bất thường và gây nên cơn đau nửa đầu.

Nghiên cứu tại ĐH Graz (Áo) thấy rằng ở những bệnh nhân đau nửa đầu, các men chống gốc tự do thấp hơn nhiều so với nhóm chứng. Nhiều nghiên cứu khác cũng chỉ ra chỉ số phản ứng oxy hóa trong máu tăng cao ở những bệnh nhân đau nửa đầu, làm sản sinh ra vô số gốc tự do gây hại cho mạch máu. 

Bên cạnh đó, gốc tự do còn là tác nhân thúc đẩy sự hình thành những mảng xơ vữa và tạo huyết khối, từ đó làm hẹp động mạch, cản máu vận chuyển oxy và dưỡng chất đến não, khiến hoạt động não bị ảnh hưởng và gây nên nhiều bệnh nguy hiểm cho não.

Ngoài tác nhân gốc tự do, những cơn đau nửa đầu còn được biết đến là hậu quả của các yếu tố khác như: sự di truyền gen dễ bị tổn thương, ảnh hưởng của các kích thích dây thần kinh cảm giác, sự phóng thích các peptides thần kinh…

Đón đầu dễ hơn rượt đuổi

Gặp ùn tắc ắt phải tìm lối khác. Không riêng gì chứng bệnh đau nửa đầu, đau đầu kiểu nào cũng thế, nếu mạch máu trong não bộ đừng co thắt thái quá đến độ gây thiếu máu, đồng thời dòng máu đừng tăng áp lực đột ngột thì không còn cơn đau đầu.

Nói cách khác, thay vì phải đánh đổi với phản ứng phụ của thuốc hóa chất, tốt hơn nhiều là làm sao thư giãn mạch máu bằng cách giữ độ đàn hồi thành mạch và độ loãng lý tưởng của dòng máu. Đáng tiếc là nhiều nạn nhân của chứng bệnh đau nửa đầu chưa được thông tin về công dụng bảo vệ hệ thần kinh và thông mạch máu của chất chống gốc tự do như anthocyanin, pterostilbene… trong blueberry, từ đó giúp ngăn chặn cơn đau ở người dễ đau đầu. Mặt khác, các hoạt chất sinh học chống gốc tự do này có khả năng vượt qua hàng rào máu não, kích hoạt các men chống gốc tự do tự nhiên của cơ thể như catalase và superoxide dismutase… Các men này góp phần giúp bảo vệ tế bào thần kinh, duy trì tốt hoạt động cho não.

Đón đầu bao giờ cũng dễ hơn rượt đuổi, hay đợi bệnh đến rồi mới chữa?!

BS. Lương Lễ Hoàng

Phụ nữ có nguy cơ bị đau nửa đầu cao gấp 3 lần so với nam giới.

Theo đánh giá của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), đau nửa đầu được xếp trong số 20 nguyên nhân hàng đầu gây tàn tật và ngày càng là vấn nạn lớn toàn cầu với 11% dân số trưởng thành trên thế giới đang phải gánh chịu các cơn đau nửa đầu, trong đó phụ nữ chiếm đến 3/4. Bệnh thường tập trung trong giai đoạn 20-45 tuổi, ảnh hưởng lớn đến chất lượng sống cũng như khả năng học tập và làm việc của người bệnh. Phụ nữ có nguy cơ mắc chứng đau nửa đầu (migraine) cao gấp 3 lần so với nam giới.

Kết quả một điều tra tại Mỹ cho thấy cứ 4 người bị đau nửa đầu thì có một người phải tìm đến các dịch vụ chăm sóc cấp cứu. Tại Việt Nam, phần lớn người bệnh thường tự ý chẩn đoán và sử dụng thuốc giảm đau một cách thường xuyên trước khi buộc phải tìm đến bác sĩ.

Đau nửa đầu có liên quan mật thiết đến yếu tố di truyền. Nếu cha hoặc mẹ bị đau nửa đầu, tỷ lệ con cái mắc bệnh khoảng 50%. Trường hợp cả cha lẫn mẹ đều bệnh thì 75% con cái nguy cơ di truyền. Ngay cả khi có một người họ hàng bị đau nửa đầu thì xác suất di truyền cũng lên đến 20%.

Rối loạn giấc ngủ là một triệu chứng thường gặp và khó chịu nhất trong các rối loạn thần kinh, hậu quả của nó cũng rất nặng nề lên toàn bộ sức khỏe con người. Không chỉ thế, rối loạn giấc ngủ còn có đặc điểm là dai dẳng, khó chữa và dễ tái phát.

Hiểu rõ vòng xoáy bệnh lý của rối loạn giấc ngủ giúp chúng ta ngăn chặn và điều trị chứng bệnh này hiệu quả hơn.

Não trục trặc khiến giấc ngủ rối loạn

Thống kê cho thấy có đến 80% người từng bị rối loạn giấc ngủ và 10-16% trường hợp phải điều trị. Rối loạn giấc ngủ ở người 60 tuổi trở lên thường có hai nguyên nhân chính là do bệnh tật và tâm lý. Rối loạn giấc ngủ ở người trong độ tuổi từ 30-50 thường do yếu tố tâm lý.

Rối loạn giấc ngủ - kẻ thù của sức khỏe 1Gốc tự do sản sinh trong cơ thể càng cao, rối loạn giấc ngủ càng trở nên nghiêm trọng.

Các nghiên cứu đã chỉ ra, áp lực cuộc sống hiện đại khiến con người ngày càng ngủ ít hơn. Tâm lý căng thẳng, stress… làm sản sinh vô số gốc tự do. Theo đó, gốc tự do tấn công mạnh vào thành động mạch não gây nên những tổn thương nghiêm trọng, dẫn đến hình thành các mảng xơ vữa và cục huyết khối làm hẹp động mạch, gây thiếu máu não, cản trở máu vận chuyển oxy và dưỡng chất đến não. Tế bào não vì thế thiếu năng lượng để hoạt động, ảnh hưởng tới cấu trúc của hệ thần kinh gây ra những rối loạn cho cơ thể, điển hình là rối loạn giấc ngủ. 

Một mặt gốc tự do làm hẹp lòng động mạch máu nuôi não, mặt khác chúng lại gây hại trực tiếp lên tế bào não. “Hai mặt giáp công” khiến não vừa thiếu máu nuôi, vừa thoái hóa tế bào thần kinh, dẫn đến chức năng não rối loạn. Các vùng não chi phối giấc ngủ không còn phối hợp nhịp nhàng, các truyền dẫn thần kinh bị đứt quãng gây nên giấc ngủ trật nhịp, ngủ khó, hay mộng mị, thức giấc nửa đêm, ngày ngủ gà ngủ gật…

Rối loạn giấc ngủ lại làm thoái hóa não

Bản thân rối loạn giấc ngủ cũng tác động ngược đến não như một yếu tố mang tính nhân – quả. Não bị rối loạn chức năng gây rối loạn giấc ngủ, và tình trạng kéo dài lại làm tổn thương tế bào thần kinh và thoái hóa não. Người bị rối loạn giấc ngủ dài hạn có thể bị giảm tới hơn 20% khối lượng bộ não, gây suy giảm trí nhớ, quên trước quên sau, thu hẹp quá trình học tập, làm rối loạn ngôn ngữ, rối loạn vận động, giảm động tác về nghề nghiệp, rơi vào trầm cảm…

Cứ thế, vòng xoáy bệnh lý này ngày càng cộng dồn, làm triệu chứng rối loạn giấc ngủ trầm trọng hơn, dai dẳng và dễ tái phát. Rối loạn giấc ngủ ngắn hạn (một tuần không ngủ được) nếu không được điều trị kịp thời rất dễ dẫn đến rối loạn mạn tính. Rối loạn giấc ngủ kéo dài sẽ dẫn đến suy giảm trí nhớ, kém tập trung, giảm sút khả năng lao động, ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng sống. Nghiêm trọng hơn, rối loạn giấc ngủ còn có nguy cơ làm phát sinh và nặng thêm các tình trạng rối loạn tiêu hóa, đái tháo đường, tăng huyết áp, suy tim, thiếu máu cơ tim, rối loạn nhịp tim, thậm chí có thể dẫn đến đột quỵ não, đột tử…

Vấn đề dùng chất kích thích và thuốc an thần

Theo Hiệp hội Giấc ngủ quốc gia Hoa Kỳ (National Sleep Foundation), rối loạn giấc ngủ tăng cao như một kết quả của áp lực cuộc sống hiện đại. Khoảng 30% – 40% người lớn nói rằng họ bị mất ngủ thường xuyên. Ước tính, con người hiện nay ngủ ít hơn khoảng 20% so với thế kỷ trước.

Đêm không ngủ được, ngày lại gật gà bên bàn làm việc, nhiều người có thói quen dùng trà hay cà phê đậm đặc như một giải pháp thông thường. Tuy có tỉnh táo ngay đấy nhưng dưới tác động của ca-fe-in, đường huyết dễ dao động thất thường. Hậu quả là khó có thể làm việc trí óc với hiệu quả như mong muốn.

Một số khác lại sử dụng thuốc thường xuyên như “bạn đồng hành” mà không biết nếu sử dụng thuốc an thần quá 4-6 tuần thì sẽ có tác dụng ngược. Thuốc ngủ gây ức chế hoạt động não nên sử dụng nhiều sẽ gây rối loạn vận động và hàng loạt tác hại cho sức khỏe. Thống kê tại Đức cho thấy, tỷ lệ đột quỵ não ở người quen dùng thuốc an thần cao gấp ba lần so với người không lệ thuộc thuốc.

Rối loạn giấc ngủ - kẻ thù của sức khỏe 2Giấc ngủ ngon giúp phục hồi hệ  thần kinh và tái tạo năng lượng.

“Đối đãi” với giấc ngủ

Không phải vô lý khi con người mất 1/3 cuộc đời để dành cho giấc ngủ. Vai trò phục hồi năng lượng của giấc ngủ là vô cùng quan trọng. Giấc ngủ thực sự cần được “đối đãi” như một “thượng khách”.

Các vấn đề cần lưu ý:

Hạn chế stress, rượu bia, thuốc lá, cải thiện môi trường… để giảm thiểu sự tăng sinh gốc tự do.

Dinh dưỡng cân đối, không sử dụng các chất kích thích vào buổi chiều, tập thể dục nhẹ nhàng trước khi ngủ…

Nên đi ngủ đúng giờ, thời gian ngủ từ 7-8 giờ mỗi ngày. Đi ngủ cùng một thời điểm vào mỗi tối và thức dậy cùng một thời điểm vào buổi sáng.

Nếu 1 tuần hoàn toàn không ngủ được hoặc mất ngủ thường xuyên kéo dài từ 1 tháng trở lên thì phải đi khám. Cần kết hợp cả liệu pháp tâm lý, thuốc hỗ trợ ngủ và thực phẩm hỗ trợ.

Từ tuổi 30-40 trở đi, cần chủ động phòng tránh rối loạn giấc ngủ, sử dụng các chất chống gốc tự do thiên nhiên tốt cho mạch máu và tế bào não, cải thiện nhịp sinh học thức ngủ hiệu quả, chẳng hạn như anthocyanin, pterostilbene… từ blueberry.

GS.BS. Lê Văn Thính

Từ tuổi 18 trở đi, giấc ngủ sinh lý thông thường kéo dài 7-8 giờ mỗi đêm. Giấc ngủ bù đắp lại tiêu hao năng lượng ban ngày, giúp duy trì sự ổn định của não bộ, cân bằng lại sức khỏe. Giấc ngủ giúp bộ não thanh lọc “các chất độc hại” tồn đọng trong ngày hôm trước, đồng thời sắp xếp lại các ghi nhớ, chuẩn bị cho hoạt động vào sáng hôm sau. Khi ngủ sâu, não được nghỉ ngơi, các tế bào não được bảo dưỡng giúp phục hồi hệ thần kinh trung ương. Ngủ càng ngon, trí nhớ càng bén nhạy, hoạt động ban ngày càng hiệu quả.

Phân loại mất ngủ

Mất ngủ có hai loại, gồm mất ngủ nguyên phát và mất ngủ thứ phát. Mất ngủ nguyên phát có nghĩa là người ta sinh ra đã không ngủ được và trường hợp này rất hiếm. Còn lại, đa phần là mất ngủ thứ phát, nghĩa là do một yếu tố nào đó tác động lên hệ thống của não bộ, làm kích thích dẫn đến không thể đi vào giấc ngủ bình thường.

Mất ngủ thứ phát chia làm 3 dạng sau:

Mất ngủ thoáng qua: thường xuất hiện khi ta ở khu vực này chuyển sang khu vực khác, có thể khắc phục sau một vài ngày, hoặc dùng một viên thuốc thì nó hiệu quả.

Mất ngủ ngắn hạn: thường gặp do những vấn đề trong một tình huống, công việc nào đó làm cho ta bị mất ngủ, thời gian kéo dài trong một vài tuần.

Mất ngủ dài hạn: thời gian mất ngủ trên ba tháng. Với tần suất này, tình trạng mất ngủ đã có thể gây thoái hóa tế bào não và ảnh hưởng xấu đến mọi hoạt động tinh thần và thể chất của con người.

Đau đầu thường là cảm giác khó chịu nhất của mỗi người. Đau đầu có rất nhiều nguyên nhân, đó có thể là dấu hiệu của một bệnh, cũng có thể là rối loạn cảm xúc, mệt mỏi và căng thẳng. Tình trạng lạm dụng thuốc giảm đau hiện nay đã khiến “cộng đồng đau đầu” ngày một đông và triệu chứng nặng thêm. Nghiên cứu cho thấy có sự gia tăng số lượng lớn gốc tự do ở người đau đầu, đặc biệt là có stress kèm theo.

Các loại đau đầu phổ biến

Đau đầu được xem là triệu chứng hơn là bệnh, đau đầu rất thường gặp không chỉ trong các chuyên khoa thần kinh, tâm thần mà còn trong hầu hết các bệnh nội và ngoại khoa. Người ta thường dùng từ đau đầu để nói tới những cảm giác khó chịu và đau vùng vòm sọ, trong đó phổ biến nhất là các loại đau đầu nguyên phát như: đau đầu dạng căng thẳng, đau đầu migraine, đau đầu từng cụm và đau đầu mạn tính hàng ngày.

Phòng và điều trị đau đầu thường gặp 1Thói quen tự điều trị bằng thuốc giảm đau khiến cơn đau đầu dễ tái phát và ngày càng nghiêm trọng hơn.

Các loại đau đầu dạng căng thẳng (tension-type headaches): là hội chứng đau đầu thường gặp nhất, chiếm gần 90% các loại đau đầu. Bệnh nhân thường có xung đột cảm xúc không giải quyết được, lo âu triền miên, chủ yếu ở tuổi trung niên, nữ mắc nhiều hơn nam. Đau đầu dạng căng thẳng có đặc điểm là nhức ê ẩm, cảm giác bóp siết, đè ép thắt chặt, cường độ đau tăng theo tần suất cơn đau. Hầu hết bệnh nhân đau hai bên đầu, thường ở vị trí vùng trán, thái dương, chẩm, đỉnh, từng vùng hoặc phối hợp và có thể thay đổi vị trí trong cùng một cơn đau.

Đau nửa đầu (migraine): là loại đau đầu có căn nguyên từ thần kinh mạch máu, xuất hiện từng cơn ở một bên đầu với cảm giác da đầu căng và rát như bị bỏng kèm các triệu chứng ù tai, mờ mắt, buồn nôn, sợ tiếng ồn, ánh sáng… Hiện có khoảng 11% dân số trưởng thành trên thế giới đang phải gánh chịu các cơn đau nửa đầu, trong đó phụ nữ chiếm đến 3/4.

Đau đầu từng cụm (cluster headache): cũng là loại đau có nguyên nhân từ thần kinh mạch máu, gặp chủ yếu ở nam giới tuổi trung niên và phần lớn có hút thuốc. Tuy nhiên, gần đây tỉ lệ nữ giới bị đau đầu từng cụm cũng đang dần tăng. Các cơn đau xuất hiện sau khi ngủ từ 1 đến 3 giờ, khi tỉnh dậy đã thấy đầu đau nặng. Cơn đau thành từng cụm, khu trú ở nửa đầu, đau nhiều ở sau mắt, lan ra trán và thái dương, kèm theo ngạt mũi, chảy nước mắt, buồn nôn…

Đau đầu mạn tính hàng ngày (Chronic daily headache): là dạng đau đầu kéo dài trên 15 ngày/ tháng, thường có bệnh lý kết hợp như trầm cảm, lo âu, rối loạn lưỡng cực, cơn hoảng sợ, stress và lạm dụng thuốc. Hầu hết các trường hợp đau đầu này không phát hiện dấu hiệu bất thường trên ảnh chụp não. Nếu không được điều trị sẽ gây ra những rối loạn cơ thể như hồi hộp, mất ngủ, đau bao tử, ngoài ra còn xuất hiện triệu chứng trầm cảm như lo âu, thậm chí thay đổi tính nết.

 Đau đầu làm tổn thương não

Nghiên cứu cho thấy, tất cả các loại đau đầu sau 3 tháng xuất hiện những thay đổi cấu trúc và làm tổn thương não. Gốc tự do lúc nào cũng liên tục sinh ra trong cơ thể trong quá trình chuyển hóa. Bình thường, lượng gốc tự do ở mức độ vừa phải nên ít gây tác hại nghiêm trọng lên cơ thể. Nhưng ở người có những bệnh lý đau đầu, nhất là kèm stress, các chất trong não có sự rối loạn về chuyển hóa, từ đó sinh ra rất nhiều gốc tự do, gây tổn thương tế bào thần kinh.

Ở nhiều trường hợp, đau đầu thường có sẵn trong người, chỉ chờ những yếu tố thuận lợi (như stress), yếu tố thúc đẩy (như chế độ sinh hoạt, thời gian làm việc)… làm tăng sinh gốc tự do là xảy ra triệu chứng đau đầu, gây tổn thương thần kinh và mạch máu, làm hại đến cấu trúc của não. Tùy theo từng trường hợp mà khi đau đầu trong một thời gian nào đó, bệnh nhân sẽ có những biểu hiện trầm cảm, lo âu, quên, rối loạn trí nhớ, thiếu tập trung… Đau đầu càng nặng càng bộc lộ những triệu chứng này, dễ dẫn đến sa sút trí tuệ, đột quỵ não gây tàn tật và tử vong.

Phòng và điều trị đau đầu

Điều đáng lo ngại nhất mà các bác sĩ điều trị nhận thấy là phần lớn bệnh nhân không biết nguyên nhân chính gây đau đầu, nên bệnh không được trị tận gốc. Tìm nguyên nhân là khâu quan trọng nhất trong điều trị đau đầu. Nếu không triệt được nguyên nhân thì bệnh sẽ tái đi tái lại, không đảm bảo hiệu quả điều trị.

Phòng và điều trị đau đầu thường gặp 2Sống lạc quan, hạn chế stress để giảm thiểu đau đầu.

Nghiên cứu nhóm bệnh đau đầu cho thấy khoảng 60% các trường hợp lạm dụng thuốc giảm đau (chủ yếu là không đúng chỉ định và thời gian dùng thuốc kéo dài). Điều này gây khó khăn trong các điều trị về sau vì bệnh dễ tái phát. Do đó, tốt nhất là bệnh nhân cần tuân thủ các chỉ định như loại thuốc, liều lượng, các chống chỉ định (chỉ có bác sĩ kê toa mới dùng thuốc). Thời gian điều trị chung cho chứng đau đầu là 3 tháng, khi đó có thể ngưng thuốc. Tuy nhiên, khi các triệu chứng kèm theo như lo âu, mất ngủ chưa được kiểm soát, thời gian điều trị có thể kéo dài thêm. Bên cạnh điều trị bằng thuốc, bệnh nhân cần hạn chế uống rượu bia, hút thuốc, tránh stress tâm lý, có giấc ngủ tốt, ăn uống điều độ.

Nguyên nhân gây đau đầu thường gặp là do tâm lý, stress. Vì thế, tránh những stress có hại giúp ngăn ngừa hiệu quả bệnh đau đầu. Muốn vậy, mỗi người cần nhìn cuộc sống với tinh thần lạc quan. Những va chạm cuộc sống là điều đương nhiên, nên đừng quá căng thẳng khi gặp phải mà cần bình tĩnh chọn cách giải quyết tốt nhất…

Tóm lại, điều trị đau đầu phải giải quyết một cách toàn diện từ tâm sinh lý bệnh nhân, điều trị thuốc chống đau đầu đến các thuốc hỗ trợ. Bổ sung vitamin, bổ sung vi lượng… cho những bệnh nhân thiếu các chất này. Bên cạnh đó, các chế phẩm chống gốc tự do tốt cho não có tác động bổ sung an toàn cho cơ thể nhằm ức chế các gốc tự do, giảm tối thiểu lượng gốc tự do, qua đó có tác dụng phòng và điều trị đau đầu từ cơ chế phân tử.

PGS.TS. Vũ Anh Nhị

Đau đầu là triệu chứng đứng hàng thứ bảy trong các triệu chứng bệnh tật phổ biến nhất. Kết quả nhiều nghiên cứu cho thấy, có khoảng 50% dân số bị đau đầu hằng ngày. Người ta ước tính cứ ba người thì có một người đau đầu dữ dội vào một lúc nào đó trong cuộc đời. Ở Việt Nam, một nghiên cứu ngẫu nhiên trong 2.000 người trưởng thành cho thấy có đến 78,83% người bị đau đầu nói chung và 57,23% người đau đầu mãn tính hằng ngày. Đa số các trường hợp này thường không đi khám bệnh hoặc điều trị không đến nơi đến chốn.

Đau đầu có lúc chỉ là triệu chứng, không cần can thiệp vẫn có thể qua đi, nhưng cũng có nhiều trường hợp đau đầu là cấp cứu y khoa. Khi có triệu chứng đau đầu đột ngột hay cấp tính kéo dài vài giờ, đau đầu kèm nôn ói, kèm sốt và yếu liệt nửa người phải cho bệnh nhân đến khoa cấp cứu. Một số trường hợp đau đầu kéo dài nhiều ngày, nhiều tháng, điều trị thông thường không giảm thì nên đến khám các phòng khám chuyên khoa như thần kinh, nội tổng quát. Trong trường hợp đau đầu kéo dài có rối loạn lo âu hay bị stress thì nên đến khám chuyên khoa tâm thần.

Bệnh thấp khớp y học cổ truyền gọi là “chứng tý” hiện nay là một loại bệnh rất hay gặp, chủ yếu của bệnh này là biểu hiện đau nhức sưng tấy hoặc nóng đỏ ở các khớp xương hay cơ gân; nhiều chỗ hay một chỗ, có khi kiêm cả tê dại nặng nề, bệnh tình thường liên miên, gặp khi khí hậu thay đổi thường phát nặng hơn. Bệnh thấp khớp cấp tính nhiều khi có biến chứng tim, cần kết hợp với y học hiện đại để theo dõi và điều trị.
 
Khác với bệnh phong, hàn và thấp đơn thuần, đặc điểm của bệnh thấp khớp là đủ cả 3 khí phong, hàn và thấp kết hợp lại thành một bệnh cho nên người xưa biện chứng nhận xét trong 3 khí, khí nào nhiều hơn để chia ra từng loại mà điều trị như:

– Bệnh di chuyển từ nơi này qua nơi khác là do phong khí nhiều, nên gọi là phong tý (hành tý).

– Đau nhức kịch liệt và liên tục là do hàn khí nhiều, nên gọi là hàn tý (thống tý).

– Đau cố định một chỗ mà kèm có nặng nề tê dại là do thấp khí nhiều, nên gọi là thấp tý (trước tý).

Lâu ngày, phong hàn thấp hóa nhiệt kết hợp với âm hư gây nên thể “nhiệt tý” là những đợt cấp diễn của thấp khớp kinh.

Tổng hợp cả 4 thể trên quy nạp lại có 2 loại chính như sau:

Thấp khớp cấp tính:

Phát bệnh đột ngột sưng tấy nóng đỏ, đau nhức kịch liệt hoặc phát sốt hoặc có khát nước, buồn bực khó chịu, rêu lưỡi nhờn mỏng, mạch phù sác hoặc khẩn.

Phép chữa: khu phong, tán hàn, trừ thấp, thanh nhiệt.

Thuốc Nam chữa thấp khớp 1
 Cây gối hạc.

Bài thuốc: rễ gối hạc 16g, lá đơn mặt trời 12g, đơn tướng quân 12g, lá bạc thau (sao) 12g, dây kim ngân 10g, ké đầu ngựa 16g, lá thông 8g.

Nếu phong nhiều, gia: vòi voi 16g, kinh giới 12g.

Nếu hàn nhiều, gia: tỳ giải 16g, thổ phục linh 16g.

Cách dùng: Cho vào 600ml nước, sắc lấy 200ml lọc trong, chia làm 3 lần uống trước khi ăn.

Thuốc Nam chữa thấp khớp 2
 Hình ảnh tổn thương khớp trong bệnh lý thấp khớp.

Thấp khớp mạn tính:

Bệnh phát từ từ hoặc ở cấp tính chuyển qua mạn tính, đau nhức nhẹ, không sưng hoặc có sưng mà da bình thường không tấy đỏ, không nóng, có khi ngoài da có chỗ tê dại, tay chân co duỗi khó khăn hoặc không vận động được, thay đổi thời tiết thì đau hơn, rêu lưỡi trắng nhờn hoặc vàng, mạch có khi trầm hoãn, có khi nhu hoãn.

Phép chữa: khu phong, tán hàn, trừ thấp và chú ý đến bồi bổ cơ thể.

Bài thuốc: nam đằng (sao vàng) 12g, găng bầu 12g, rễ gối hạc 12g, rễ bươm bướm 12g, rễ rung rúc 8g, tơ mành 8g, cử thiên tuế 16g, tầm gửi cây ruối 12g.

Ăn kém, gia: ý dĩ 20g.

Huyết kém thêm: rễ gấm (vương tôn) 16g.

Bài thuốc chữa chung cho cấp tính và mạn tính:

Rễ độc lực (tầm sọng) 240g, rễ và dây lá lốt 120g, rễ cỏ xước 80g, rễ cà gai leo 80g, thiên niên kiện 40g, quế chi 40g, rễ gấc hoặc dây mặt quỷ 80g, rễ rung rúc 80g, rễ bộ nảy.

Cách dùng: Đổ 2 lít nước, sắc lấy 500ml, cho thêm đường và 1/10 rượu vào. Mỗi lần uống 20ml, ngày 3 lần uống trong 10 ngày.               

   Lương y Vũ Quốc Trung

Các loại rau trái quen thuộc như khế, me, cải bó xôi, cà rốt, cà chua… đều có chứa axit oxalic, một loại chất được các chuyên gia cho là rất độc hại cấm sử dụng trong thực phẩm.
Rau quả tự nhiên chứa "axit rất độc" 1

Khế, cà chua, me, việt quốc… là những loại quả chứa nhiều axit oxalic. Ảnh: N.S.

Theo Tiến sĩ Từ Việt Phú, Viện Công nghệ sinh học – Công nghệ thực phẩm Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, không ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe nhưng việc hấp thụ thường xuyên axit oxalic vào người là nguyên nhân chính gây nên căn bệnh sỏi thận. Vì vậy các bác sĩ thường khuyên bệnh nhân sỏi thận nên tránh hoặc hạn chế ăn uống các thực phẩm có chứa axit oxalic.
Trong thực phẩm hàng ngày, axit oxalic thường ở lượng thấp nên không gây ra tác hại ngay lập tức. Tuy nhiên nếu dùng ở lượng lớn, aixt oxalic dễ làm kích thích niêm mạc ruột và ở liều nguyên chất còn có thể gây ngộ độc cấp, thậm chí tử vong (khoảng 22g đối với người nặng 60 kg).
Tiến sĩ Phú cho biết, trong tự nhiên, axit oxalic có thể tìm thấy nhiều trong các loại thực phẩm rau củ quả mà chúng ta hấp thụ hàng ngày như khế, chanh, nho, me, củ cải đường, ca cao, cải bó xôi, lá chè, cải thìa, cần tây… Cảm giác dễ nhận biết khi ăn thực phẩm chứa axit oxalic là có vị chua, chát hoặc hơi nhẫn nơi đầu lưỡi. 
Theo đó, thực phẩm chứa axit oxalic trong tự nhiên thường được chia làm 4 nhóm cơ bản:
– Thực phẩm nhiều protein: Các thực phẩm như đậu phộng, bơ đậu phộng, đậu nành, đậu hũ, hạt dẻ, hạt thông… đều chứa nhiều oxalat, là chất góp phần tạo nên axit oxalic.
– Các loại rau, củ: Cây cải thìa, rau diếp, đậu bắp, củ cải đường, bồ công anh, cây mù tạc đều chứa hàm lượng axit oxalic rất cao. Rau cần tây, đậu xanh, tiêu xanh, cà chua, cà rốt, cà tím, khoai lang, quả bí, rau dền.. cũng nhiều axit oxalic.
– Thực phẩm làm từ lúa mì: Ngũ cốc, bánh mì, bột mì.
– Nhóm thực phẩm gồm chocolate, trà, cola, nước ép việt quốc, các loại cocktail pha từ rượu mạnh và nước hoa quả, sữa chua.
Axit oxalic vừa được các nhà khoa học TP HCM khuyến cáo là hóa chất độc hại không được dùng trong chế biến thực phẩm. Đầu tháng 7, trong 7 mẫu bún tươi, bánh canh, thực phẩm làm từ gạo lấy ngẫu nhiên ở các điểm bán nhỏ lẻ ngoài thị trường, Chi cục An toàn thực phẩm TP HCM phát hiện 2 mẫu chứa aixt oxalic với hàm lượng 54,5 và 304 mg trong một kg.
Giáo sư – Tiến sĩ Chu Phạm Ngọc Sơn, Chủ tịch Hội Hóa học TP HCM, đại diện Công ty cổ phần dịch vụ khoa học công nghệ sắc ký Hải Đăng cho biết, trong quá trình xét nghiệm, công ty này cũng phát hiện một số mẫu thực phẩm làm từ gạo có axit oxalic.
Về mặt hóa học, Chủ tịch Hội Hóa học TP HCM cho rằng axit oxalic rất có hại cho sức khỏe của con người. Vào cơ thể, chúng có xu hướng kết tủa khi gặp dinh dưỡng có chứa canxi. Nếu sử dụng lâu dài thực phẩm có chứa aixt oxalic, sự kết tủa này sẽ có hại cho thận gây sỏi thận hoặc đọng lại các khớp xương. Theo suy đoán của tiến sĩ Sơn, người sản xuất bún, bánh canh… cho axit oxalic vào sản phẩm có thể để tẩy trắng, chống ôi.
Tiến sĩ Nguyễn Tấn Bỉnh, Giám đốc Sở Y tế TP HCM, phó chủ tịch thường trực Ban An toàn vệ sinh thực phẩm TP HCM nhận định, axit oxalic và tinopal là những chất độc hại tuyệt đối cấm dùng trong thực phẩm. Ban sẽ tiếp tục rà soát, chấn chỉnh tình trạng này và sẽ công bố theo đúng quy trình. Những cơ sở vi phạm sẽ bị xử lý nghiêm.
Theo VnExpress

6 loại thức ăn "chén cả ngày" vẫn thon thả 1


Trứng không chỉ giàu chất dinh dưỡng mà còn rất nhiều protein. Ăn trứng vào bữa sáng giúp hạn chế sự thèm ăn, nhờ đó bạn có thể ăn ít hơn khoảng 300 calo trong thời gian còn lại của một ngày so với mức bình thường. Trứng là thực phẩm không tốn nhiều tiền và dễ mua. Theo tính toán, mỗi quả trứng chứa khoảng 78 calo, vậy, mỗi ngày người lớn ở độ tuổi trưởng thành cũng chỉ nên ăn 1 quả. Riêng đối với trứng rán, lưu ý chỉ cho một ít dầu vào chảo không dính để chế biến. Như vậy sẽ giúp hạn chế lượng chất béo đưa vào cơ thể.

Chocolate đen

6 loại thức ăn "chén cả ngày" vẫn thon thả 2


Nghiên cứu của các chuyên gia thuộc trường Đại học Copenhagen- Đan Mạch cho thấy, ăn chocolate đen giúp bạn có cảm giác no lâu hơn. Lý do, các chất có trong chocolate đen làm giảm quá trình tiêu hóa. Điều thú vị là, chỉ cần một miếng nhỏ chocolate cũng có thể giúp bạn giảm bớt cảm giác thèm muối, đường và các loại thức ăn nhiều chất béo khác. Tuy nhiên, bạn không nên ăn nhiều vì đây là thức ăn cung cấp khá nhiều năng lượng.

Cam

6 loại thức ăn "chén cả ngày" vẫn thon thả 3


Theo các nhà khoa học Úc, cam là loại hoa quả xếp cao nhất trong danh sách các loại thực phẩm tạo cảm giác no. Chất xơ trong cam giúp giảm béo và làm cho cơ bắp rắn chắc hơn. Một ly nước cam vắt mỗi ngày sẽ là cách tốt nhất giúp bạn nạp đủ lượng canxi, vitamine và khoáng chất. Đây cũng là một giải pháp tối ưu cho những người béo, đặc biệt những người không có thói quen uống sữa.

Pho mát

6 loại thức ăn "chén cả ngày" vẫn thon thả 4


Pho mát tươi được chiết xuất từ các loại động vật ăn cỏ như dê, bò… và thức ăn này chứa nhiều axit linoleic, giúp cơ thể cảm thấy no lâu và có tác dụng đốt cháy mỡ. Vì thế, mỗi tuần bạn sử dụng 1- 2 lần pho mát tươi cũng rất tốt.

Sữa tách kem

6 loại thức ăn "chén cả ngày" vẫn thon thả 5


Một số người cho rằng, sữa chỉ là thức ăn dùng cho trẻ nhỏ. Thế nhưng, cùng với sự tiến bộ của khoa học, nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy, sữa có nhiều lợi ích với mọi lứa tuổi nhất là khi đã qua chế biến để phù hợp với từng loại đối tượng. Các protein trong sữa sẽ làm cho bạn cảm thấy thích uống hơn là các đồ uống có đường. Axit linoleic trong sữa đã tách kem giúp giảm lượng mỡ dư thừa trong cơ thể.

Khoai tây

6 loại thức ăn "chén cả ngày" vẫn thon thả 6


Khoai tây cũng là một loại thức ăn đứng trong danh sách đầu của những loại thức ăn làm tăng cảm giác no lâu. Nếu so với bánh mỳ, khoai tây tăng cảm giác no lâu gấp ba lần. Hơn nữa, tinh bột trong khoai tây còn giúp cơ thể đốt cháy mỡ thừa.

Dân Việt

Theo quy luật sinh học, chu kỳ sống của con người được thể hiện bằng sự tiếp nối nhau qua các chu kỳ tiến triển và thoái triều. Hiện nay, người ta chưa biết rõ tác nhân nào có khả năng gây ra những biến đổi hình thái tế bào của tuổi già nhưng một số yếu tố có thể gây ra rối loạn quá trình tổng hợp protein như nhiễm virut chậm, nhiễm độc, thiếu máu mạn tính, thiếu máu dinh dưỡng, di truyền và nhất là suy giảm sự chống ôxy hóa.

Một đặc điểm lâm sàng quan trọng của tuổi già là tình trạng đa bệnh lý như tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, thoái hóa xương khớp và nhất là bệnh mạch máu – thần kinh thường gặp ở người cao tuổi. Riêng trong thần kinh học, khi đề cập đến bệnh mạch máu não, người ta nói đến nhiều nguyên nhân khác nhau như tuổi, giới, khí hậu, môi trường, chấn thương, nhiễm khuẩn, nhiễm độc, di truyền… Tuy nhiên, có một số chi tiết chưa được chú ý nhiều là vai trò của các gốc tự do.

Tìm hiểu về sự lão hóa và gốc tự do 1
 Những tác nhân gây ra gốc tự do.

Nguy cơ từ các gốc tự do

Gốc tự do là các nguyên tử, phân tử hoặc ion có các điện tử lẻ đôi ở vòng ngoài nên mang điện tích âm và có khả năng ôxy hóa các tế bào, các phân tử, nguyên tử khác. Các gốc tự do có thể liên quan đến nhiều phản ứng trong các mô sống với vai trò như những chất trung gian có hoạt tính mạnh trong thời gian ngắn, ví dụ  như trong hiện tượng quang hợp.

Các gốc tự do tấn công tất cả các cấu trúc tế bào trong cơ thể, đặc biệt là những tế bào chứa nhiều chất lipid. Trong hệ thần kinh, não là cơ quan có chứa tới hơn 60% là acid béo, do đó não cũng là nơi dễ chịu tác động của gốc tự do. Đây là một vấn đề quan trọng vì mặc dầu não chỉ có một trọng lượng bằng 2% trọng lượng của cơ thể nhưng não lại tiêu thụ tới khoảng 20% glucose và ôxy do máu cung ứng. Khi tuổi càng cao, người ta thấy giảm cung lượng máu não và tiêu thụ ôxy của não. Sự ôxy hóa glucose ở não bị kìm hãm trong chu trình Krebs (chuyển hóa tế bào) sẽ gây giảm dự trữ năng lượng adenesin triphosphat (ATP) và giảm năng lượng cần cho phản ứng tổng hợp và vận chuyển ion của tế bào. Mặt khác, sự lắng đọng lipofuscin, là những sắc tố già tích tụ trong bào tương của tế bào khi tuổi càng cao, cũng có thể liên quan tới tăng quá trình ôxy hóa các acid béo không bão hòa, như vậy đối với cơ thể nói chung, não nói riêng, các gốc tự do gây tác hại đáng kể.

Các nghiên cứu cho biết, trong cơ thể con người hàng ngày có thể sản sinh khoảng 10.000.000 gốc tự do. Nhưng các gốc tự do này sẽ nhanh chóng bị các chất chống ôxy hóa (do các loại thức ăn, nước uống đưa vào cơ thể) phân hủy để lập lại thế cân bằng. Các gốc tự do liên quan chặt chẽ tới hơn 60 bệnh thường gặp, là tác nhân quan trọng gây bệnh tim mạch, tiêu hóa, xương khớp, hô hấp, rối loạn chuyển hóa, thần kinh, ung thư.

Đối với não, gốc tự do có thể gây các tổn thương cấp tính và mạn tính tế bào thần kinh, nhu mô não và các mạch máu nuôi dưỡng não. Ví dụ gốc tự do ôxít nitric đóng vai trò quan trọng trong giãn mạch. Hiện tượng giãn mạch ở não có thể gặp trong bệnh cảnh đau nửa đầu (migraine), một bệnh lý thường gặp trong lâm sàng thần kinh với ưu thế hay xảy ra ở phụ nữ từ lúc tuổi còn trẻ. Trong lòng mạch máu não, gốc tự do xâm phạm thành mạch dẫn đến sự hình thành và phát triển các mảng xơ vữa, các cục huyết khối làm hẹp các động mạch, gây cản trở lưu thông dòng máu não, nhất là ở các mạch máu nhỏ nuôi dưỡng các khu vực chức năng quan trọng. Các tổn thương mạch máu não có thể  gây ra các cơn thiếu máu não thoáng qua hoặc bệnh cảnh thiếu máu não cục bộ có khả năng gây tàn tật hoặc tử vong. Gốc tự do có thể làm thoái hóa các tế bào thần kinh, ảnh hưởng tới các chất dẫn truyền thần kinh cả về mặt chất lượng lẫn số lượng, có thể dẫn tới các hình thái teo não. Hậu quả của sự thoái hóa thần kinh này đã được minh họa qua các biểu hiện lâm sàng như trong bệnh Parkinson, Alzheimer và ở mức nhẹ hơn là suy giảm nhận thức.

Làm sao để tăng cường các chất chống ôxy hóa?

Tuy các bệnh lý nói trên thường gặp ở người cao tuổi nhưng thực tế cho thấy, vẫn có thể xuất hiện sớm ở tuổi trung niên và cả người trẻ tuổi. Do đó, dự phòng nói chung, ngăn ngừa lão hóa và bệnh lý thoái hóa thần kinh nói riêng cần được quan tâm hàng đầu, đặc biệt là sử dụng các chất chống ôxy hóa để xử trí các gốc tự do. Trong phòng bệnh, ngoài việc phát hiện bệnh sớm qua thăm khám kiểm tra sức khỏe định kỳ còn cần chú trọng tới nếp sống hàng ngày. Nếp sống của chúng ta là các vấn đề dinh dưỡng, tập luyện, sinh hoạt, giải trí, hòa nhập môi trường gia đình và xã hội, ổn định tâm lý và cả các phương thức điều trị thích hợp. Riêng đối với các thực phẩm và dược phẩm, nguồn cung cấp các chất chống ôxy hóa đã được nói tới nhiều là trái cây, rau quả tươi, các vitamin có khả năng phân hủy các gốc tự do như vitamin A, C, E… và một số thảo dược đã được kiểm nghiệm qua các nghiên cứu trên thế giới. Tuy nhiên, một nguyên tắc cơ bản đối với việc thực hiện nếp sống chính là tính điều độ, để có thể giữ gìn và bảo đảm cho mỗi người thực sự có “một tâm trí lành mạnh trong một cơ thể khỏe mạnh”.       

  GS.TS. Lê Đức Hinh (Chủ tịch Hội Thần kinh học Việt Nam)

Bạch cập (Bletia hyacinthine R.Br. ex Ait), tên khác là liên cập thảo, là một cây thảo, địa sinh, sống lâu năm. Thân rễ chia nhánh hình cầu, dẹt, xếp thành chuỗi lá dài có bẹ mọc ốp vào nhau thành hai dãy. Hoa màu hồng tím mọc thành chùm ở ngọn. Quả nang hình thoi.

Thân rễ (thường gọi là củ) là bộ phận dùng làm thuốc duy nhất của bạch cập được thu hái tốt nhất vào mùa thu đông, cắt bỏ gốc thân và rễ con, rửa sạch, đem đồ hoặc nhúng vào nước sôi cho đến khi mặt trong và thân rễ có màu trắng đục, rồi bóc vỏ ngoài phơi nắng nhẹ hoặc sấy nhỏ lửa cho khô.

Bạch cập - Vị thuốc cầm máu 1
 Bạch cập.

Dược liệu có hình bánh dày dẹt phẳng, có ngạnh, mặt ngoài có vân nhỏ đồng tam, chất cứng chắc, khó bẻ gãy, mặt cắt giống chất sừng. Thứ củ mập dày, màu trắng đục, chất đặc rắn là loại tốt. Thành phần hóa học của bạch cập gồm tinh bột 30%, chất nhầy và ít tinh dầu.

Trong y học cổ truyền, bạch cập có vị đắng, ngọt, hơi dính, tính lạnh, không độc, có tác dụng bổ phổi, cầm máu, sinh cơ, làm tan máu ứ, hàn vết thương, được dùng trong những trường hợp sau:

Dùng trong:

Chữa chảy máu cam: bạch cập phơi khô kiệt, tán nhỏ, rây bột mịn, ngày uống 2 lần, mỗi lần 4 – 8g. Đồng thời lấy bông thấm thuốc nhét vào lỗ mũi.

Chữa thổ huyết, chảy máu dạ dày: bạch cập 100g, tam thất 50g, tán bột ngày uống 6 – 12g chia làm 2 – 3 lần.

Chữa loét dạ dày, phân đen: bạch cập 40g, trầm hương 20g, hoài sơn 20g (sao). Tất cả tán thành bột mịn, mỗi lần uống 12 – 20g vào lúc đói.

Dùng ngoài:

Chữa mụn nhọt, sưng tấy, bỏng lửa: bạch cập phơi khô, tán nhỏ, rây bột mịn, hòa vào dầu vừng bôi hàng ngày.                       

     TTƯT. DSCKII. Đỗ Huy Bích

Viêm mủ màng phổi là một bệnh phức tạp, đa dạng và có thể gây nguy hiểm cho người bệnh. Viêm mủ màng phổi là hiện tượng viêm và ứ mủ trong khoang màng phổi. Nếu không phát hiện và điều trị kịp thời viêm mủ màng phổi có thể gây ra nhiều biến chứng nặng, nguy hiểm đến tính mạng và gây khó khăn cho việc điều trị.

Tại sao bị viêm mủ màng phổi?

Màng phổi gồm 2 lá: lá thành và lá tạng, giữa hai lá là khoang màng phổi. Bình thường, trong khoang màng phổi cũng có một ít dịch và rất ổn định (dịch sinh lý bình thường, khoảng 3ml) để cho màng phổi hoạt động dễ dàng, nhịp nhàng, trơn tru và là sự cân bằng các áp lực. Khoang màng phổi bình thường cũng là một khoang có áp lực âm. Khi bị viêm mủ màng phổi thì có thể là do bị viêm ngay tại khoang màng phổi (viêm thứ phát). Ổ viêm này nếu không phát hiện sớm và điều trị ngay thì nó sẽ phát triển lan ra các vị trí khác của màng phổi và gây mưng mủ.

Nhận biết sớm viêm mủ màng phổi - Cách gì? 1
 Tổn thương viêm mủ màng phổi trên phim CT.

Hầu hết viêm mủ màng phổi là do nguyên nhân thứ phát, tức là sau áp-xe phổi hoặc viêm phổi, giãn phế quản, dị vật phổi, tắc mạch phổi bội nhiễm hoặc do ung thư phổi. Các quá trình viêm này xảy ra liên tục càng ngày càng tiến triển (nếu không được điều trị) rồi chúng lan vào hệ thống máu và bạch huyết (gây nhiễm khuẩn máu) đi đến màng phổi tạo nên các ổ viêm và tiến triển thành mủ. Một số bệnh ở thành ngực (vết thương lồng ngực do chấn thương, viêm xương sườn, áp-xe vú…) hoặc bệnh ở trung thất (rò rỉ khí phế quản, áp-xe hạch trung thất, rò thực quản) hoặc do tổn thương bộ phận nào đó dưới cơ hoành (áp-xe dưới cơ hoành, áp-xe gan, áp-xe quanh thận…) cũng có thể dẫn đến viêm mủ màng phổi.

Căn nguyên để gây nên mủ màng phổi là do vi sinh vật (vi khuẩn, virut và vi nấm), riêng vi khuẩn chiếm tỷ lệ khoảng từ 5 – 10% viêm mủ màng phổi. Viêm mủ màng phổi thông thường hay gặp là do vi khuẩn phế cầu (S.pneumoniae) nhưng ở các nước đang phát triển thì viêm mủ màng phổi chủ yếu do vi khuẩn tụ cầu vàng (S.aureus). Đây là loại vi khuẩn có độc lực mạnh, gây bệnh bằng cả nội và ngoại độc tố cho nên bệnh cảnh lâm sàng rất nặng. Thêm vào đó, tụ cầu vàng là loại vi khuẩn đa đề kháng kháng sinh cho nên rất khó khăn cho việc lựa chọn kháng sinh thích hợp để điều trị nếu như không tiến hành phân lập vi khuẩn và thực nghiệm kháng sinh đồ. Hiện nay, người ta gặp căn nguyên vi khuẩn gây viêm mủ màng phổi rất đa dạng, ngoài tụ cầu vàng, phế cầu, liên cầu (S.pyogenes) thì còn gặp các vi khuẩn gram âm như Salmonella, Pseudomonas aeruginosa (trực khuẩn mủ xanh), Klebsiella pneumoniae, E.coli, Proteus hoặc vi khuẩn lao (M. tuberculosis). Tất nhiên không phải vi khuẩn nào cũng có thể xâm nhập màng phổi và gây bệnh mà phải loại có độc lực mạnh, số lượng xâm nhập nhiều và sức đề kháng của cơ thể yếu.

Biểu hiện rất dễ bỏ qua

Viêm mủ màng phổi có thể xảy ra cấp tính nhưng cũng có thể xảy ra dạng mạn tính. Trong trường hợp cấp tính, bệnh xảy ra đột ngột, rầm rộ, sốt cao, đau đầu, da xanh, mệt mỏi, gầy sút nhanh do nhiễm khuẩn, nhiễm độc, do mất nước và chất điện giải. Tuy vậy,  cũng có thể gặp dạng giống cảm cúm nên người bệnh hoặc người nhà dễ bỏ qua dẫn đến bệnh nặng.

Nhận biết sớm viêm mủ màng phổi - Cách gì? 2
 Tổn thương viêm mủ màng phổi trên phim Xquang.

Bệnh viêm mủ màng phổi thường xảy ra thứ phát sau các bệnh như áp-xe phổi, viêm phế quản, bệnh của lồng ngực nên các triệu chứng không điển hình. Khám bệnh sẽ thấy gõ đục, rung thanh giảm, rì rào phế nang giảm. Xét nghiệm công thức máu thì bạch cầu sẽ tăng cao. Xquang phổi sẽ thấy màng phổi dày, nếu có tiết dịch thì góc sườn hoành tù. Nếu có điều kiện thì siêu âm màng phổi sẽ cho kết quả chính xác hơn nhiều và chính siêu âm cũng giúp cho việc chọc dò hút dịch, mủ thuận lợi và chính xác hơn.

 Khi bệnh không được phát hiện và điều trị tích cực thì bệnh sẽ chuyển sang dạng viêm mủ màng phổi bán cấp và mạn tính. Lúc này các triệu chứng của bệnh xảy ra từ từ, xuất hiện đau ngực, khó thở, ho có đờm hoặc khạc ra mủ, mùi hôi (nếu như mủ rò vào phế quản). Cơ thể người bệnh bị suy kiệt nặng. Biến chứng của viêm mủ màng phổi thường gặp là vỡ ra thành ngực hoặc mủ màng phổi rò qua khe liên sườn vào dưới da, sau đó vỡ và chảy ra ngoài tạo thành lỗ rò mủ ở thành ngực. Bệnh cũng có thể biến chứng thành rò vào phế quản, nhu mô phổi. Loại này hay xuất hiện đột ngột, đau nhói ngực, ho ra máu và ộc ra mủ. Trong trường hợp rò phế quản, nếu không cấp cứu kịp thời có thể bị nghẹt thở và tử vong. Người ta cũng đã gặp vỡ mủ màng phổi vào thực quản hoặc qua cơ hoành vào ổ bụng gây viêm màng bụng.

Viêm mủ màng phổi có thể gây nhiễm khuẩn huyết, từ đây gây áp-xe não, thận hoặc chèn ép nhu mô phổi hoặc chèn ép tim. Ngoài ra, với các trường hợp viêm mủ màng phổi được chọc hút hoặc viêm mạn tính gây nên viêm dày dính màng phổi ảnh hưởng lớn đến hô hấp của người bệnh. 

Nguyên tắc chung của điều trị là bệnh cấp tính thì điều trị bảo tồn, mạn tính thì can thiệp bằng ngoại khoa trên tinh thần càng sớm càng tốt. Cần sử dụng kháng sinh thích hợp kèm theo nâng thể trạng và các loại thuốc chống viêm khác.                         

  BS. Mai Hương

Các nhà nghiên cứu Nhật Bản sẽ tiến hành thử nghiệm tế bào gốc vạn năng cảm ứng (iPS) trên người. Các thử nghiệm lâm sàng sẽ được tiến hành trên 6 bệnh nhân mắc bệnh thoái hóa điểm vàng (võng mạc) do tuổi tác dạng ướt (dạng nặng nhất). Căn bệnh về mắt này là dấu hiệu ban đầu của bệnh mù ở những người trên 55 tuổi tại các nước công nghiệp hóa.

Một cách cụ thể hơn, các tế bào da được lấy từ phần cánh tay bệnh nhân sẽ được lập trình lại theo gen để trở thành các tế bào võng mạc và được cấy lại vào các bệnh nhân. Để làm được điều này, GS. Masayo Takahashi và nhóm của ông sẽ tiến hành làm cho các tế bào trưởng thành trở lại gần như ở giai đoạn phôi thai. Khi đó các tế bào được biến đổi gen cần phải thể hiện 4 loại gen, các gen không hoạt động ở giai đoạn trưởng thành. Các tế bào iPS tiếp đó sẽ có khả năng nhân lên và biến đổi thành bất kỳ dạng tế bào nào của cơ thể.

Theo nghiên cứu này, các tế bào vạn năng sẽ phát triển thành các tế bào võng mạc để tái sinh con mắt bị bệnh của bệnh nhân. Thử nghiệm này sẽ phải mất khoảng 8 tháng. Trước hết, cần phải chờ xem các kết quả và kiểm chứng việc có hay không các phản ứng phụ (như phản ứng miễn dịch), trước khi chuyển sang bước tiến cao hơn.

Hương Thảo

(Theo Top Santé, 7/2013)

GS. Tim Spector thuộc Trường cao đẳng King’s London (Anh) và nhóm nghiên cứu đã khẳng định điều đó sau khi tiến hành xét nghiệm mẫu máu được hiến tặng của 6.000 trẻ sinh đôi. Họ xác định được 22 chất chuyển hóa (những phân tử nhỏ có liên quan đến quá trình chuyển hóa) giúp tiên lượng cách con người lão hóa.

Đặc biệt, chất chuyển hóa được gọi là C-glyTrp có liên quan đến một loạt các đặc điểm của chức năng gan, mật độ xương, huyết áp và nồng độ cholesterol. Chất chuyển hóa này cũng liên quan chặt chẽ đến cân nặng của con người lúc chào đời – yếu tố có tính quyết định đối với tình trạng lão hóa.

Nhóm nghiên cứu nhận thấy, nồng độ chất chuyển hóa này khác nhau giữa hai người song sinh cùng trứng, trong khi các cặp song sinh cùng trứng vốn có gen giống nhau. Điều này cho thấy nồng độ chất chuyển hóa C-glyTrp đã bị thay đổi do chế độ dinh dưỡng hoặc các tình trạng khác trong tử cung người mẹ.

Khi tiếp tục nghiên cứu, họ phát hiện rằng, gen ảnh hưởng đến nồng độ của C-glyTrp có thể được thay đổi bởi biểu sinh, một quá trình mà các yếu tố môi trường kích hoạt gen hoặc làm gen ngưng hoạt động. Kết quả cuộc nghiên cứu hứa hẹn khả năng phát triển các phương pháp điều trị những căn bệnh có liên quan đến tuổi tác, nhóm nghiên cứu khẳng định. Nghiên cứu được công bố trên International Journal of Epidemiology.

           Lưu Minh (Theo Daily Mail, 7/2013)