Đau đầu và sốt, 3 ngày sau, chị Phương yếu nửa người rồi hôn mê do xuất huyết não. Sau hơn một tuần điều trị, nguyên nhân mới được xác định do chứng viêm tai giữa. Người nhà bệnh nhân cho biết, ngày 6/1, thấy đau đầu, chị Phương đến bệnh viện ở quận 7 (TP HCM) khám thì được các bác sĩ nghi do rối loạn tiền đình. Tuy nhiên chỉ 3 ngày sau, bệnh nhân yếu nửa người rồi hôn mê.

Bệnh nhân đang chờ xuất viện sau 3 tuần điều trị. Ảnh: Thiên Chương.
Bệnh nhân đang chờ xuất viện sau 3 tuần điều trị. Ảnh: Thiên Chương.

Tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, kết quả xét nghiệm cho thấy, chị Phương bị xuất huyết não, nguyên nhân do tắc tĩnh mạch ở não. Máu bơm từ động mạch lên não nhưng không thể thoát gây ùn ứ.

Do vùng máu tụ trong não quá lớn, các bác sĩ tiến hành mở hộp sọ và giải phóng máu, bệnh nhân được chuyển Bệnh viện Đại học Y dược TP HCM để thông các khối máu đông gây tắc tĩnh mạch não.

Cuộc phẫu thuật tiến hành thành công, tuy nhiên sau đó bệnh nhân tiếp tục yếu dần. Truy tìm nguyên nhân, cuối cùng, các bác sĩ phát hiện bệnh nhân bị viêm màng não, tắc tĩnh mạch não là do chứng viêm tai giữa. Bệnh nhân được mổ lần hai để điều trị chứng viêm tai.

Chiều 15/2, tức hơn 3 tuần sau khi nhập viện, bệnh nhân đã tỉnh táo song do biến chứng của việc tụ máu não nên vẫn còn liệt nửa người.

Theo bác sĩ Phạm Anh Tuấn Phó khoa Ngoại Thần kinh, Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, đây là trường hợp tắc tĩnh mạch não do biến chứng của viêm tai giữa khá hiếm gặp, đồng thời đây cũng là trường hợp được cứu sống hy hữu bởi diễn tiến bệnh quá nhanh.

Bác sĩ Nguyễn Chánh Đức, Trưởng khoa Tai Mũi Họng, Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, cũng khẳng định đây là trường hợp biến chứng viêm tai giữa hiếm gặp. “Thông thường mủ trong tai người bị viêm tai giữa sẽ chảy ra ngoài, còn với bệnh nhân Phương, chứng viêm khiến niêm mạc dày lên bít hết tai giữa khiến mủ bị ứ và đây là nguyên nhân gây biến chứng nội sọ”, ông Đức nói.

Biến chứng viêm màng não do viêm tai giữa dễ gây tử vong. Ảnh: Thiên Chương.
Biến chứng viêm màng não do viêm tai giữa dễ gây tử vong. Ảnh: Thiên Chương.

Cũng theo bác sĩ Đức, tuy ít người bị biến chứng nội sọ, song người bệnh viêm tai giữa không nên chủ quan. Bởi ngoài việc gây điếc, viêm tai giữa còn dễ dẫn đến viêm màng não và những diễn tiến phức tạp sau đó.

“Cách tốt nhất là người mắc bệnh nên đi khám để được các bác sĩ tư vấn hướng điều trị. Tại Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, chi phí cho mỗi ca phẫu thuật viêm tai giữa 5-7 triệu đồng”, bác sĩ Đức cho biết.

Viêm tai giữa là tên gọi chung để chỉ tình trạng viêm nhiễm ở bộ phận tai giữa, tức khoảng trống sau màng nhĩ. Bệnh thường xuất hiện ở trẻ. Bệnh có thể do nguyên nhân tự phát hoặc do sự tác động từ bên ngoài như để tai tiếp xúc với môi trường gây viêm nhiễm.

Triệu chứng biểu hiện thường gặp của bệnh viêm tai giữa cấp là đau tai, chảy dịch. Nếu không điều trị tận gốc, bệnh trở thành mạn tính và có những biến chứng. Ở dạng nhẹ, bệnh nhân có thể bị điếc do thủng màng nhĩ. Ngoài ra bệnh còn có thể gây viêm màng não, áp xe não, áp xe ngoài màng cứng dễ gây tử vong.

VNE

Mũi và xoang có mối liên hệ chặt chẽ cả về cấu trúc giải phẫu và hoạt động chức năng, nên trong thực tế, viêm xoang rất hiếm khi xảy ra đơn lẻ mà thường lan ra mũi và các xoang khác cạnh mũi. Ngoài ra, triệu chứng của viêm xoang và viêm mũi cũng có nhiều điểm tương đồng nên các nhà khoa học đã khuyến cáo việc sử dụng thuật ngữ viêm mũi xoang thay cho thuật ngữ viêm xoang.

Thế nào là viêm mũi xoang?

Vùng đầu mặt của cơ thể con người có 4 nhóm xoang chính là xoang hàm, xoang sàng, xoang trán và xoang bướm. Bên trong bề mặt của các xoang này có một hệ thống các lông chuyển luôn chuyển động đồng thời theo một hướng, làm nhiệm vụ đẩy chất dịch nhày do niêm mạc xoang bài tiết ra lỗ xoang và đưa vào hốc mũi. Để đảm bảo hoạt động chức năng bình thường của các xoang đòi hỏi phải có sự phối hợp đồng thời của 3 yếu tố:

1/ Sự thông thoáng của các lỗ xoang.

2/ Hoạt động bình thường của hệ thống lông chuyển.

3/ Khả năng miễn dịch của cơ thể.

Tắc lỗ xoang thường gặp do viêm niêm mạc mũi xoang cấp tính và mạn tính, trong khi đó, chức năng của các lông chuyển có thể bị tổn thương do nhiều nguyên nhân khác nhau như khói thuốc lá, ô nhiễm môi trường, trong bệnh xơ nang, hội chứng Kartagener, nhiễm trùng đường hô hấp trên do virus… Khả năng miễn dịch của cơ thể có thể bị suy giảm bởi các nguyên nhân bẩm sinh (như giảm globulin miễn dịch máu, rối loạn chức năng tế bào lympho T…) hoặc mắc phải (do nhiễm HIV/AIDS, dùng thuốc ức chế miễn dịch…). Bất cứ yếu tố nào trong số này xuất hiện đều gây ảnh hưởng đến hoạt động chức năng của xoang và làm tăng nguy cơ viêm mũi xoang.

Viêm mũi xoang được định nghĩa là tình trạng viêm niêm mạc của mũi và các xoang cạnh mũi gây ra do nhiều nguyên nhân khác nhau như nhiễm khuẩn, dị ứng… Tùy theo thời gian diễn biến của bệnh, viêm mũi xoang được chia làm 3 thể là viêm mũi xoang cấp tính kéo dài dưới 4 tuần, viêm mũi xoang bán cấp kéo dài 4 – 8 tuần và viêm mũi xoang mạn tính kéo dài ít nhất 8 – 12 tuần bất chấp việc điều trị. Trong khi nhiễm trùng đường hô hấp trên là nguyên nhân chủ yếu gây viêm mũi xoang cấp tính thì viêm mũi dị ứng và không dị ứng là các nguyên nhân chủ yếu gây ra viêm mũi xoang bán cấp và mạn tính.

Viêm mũi xoang – do đâu?

Viêm mũi xoang cấp thường gây ra do các tác nhân nhiễm khuẩn (vi khuẩn hoặc virus) với các triệu chứng chủ yếu là chảy nước mũi vàng đục (mũi trước hoặc mũi sau hoặc cả 2), nghẹt tắc mũi và đau tức, sưng nề vùng mặt.

Trong viêm mũi xoang mạn tính, nhiễm khuẩn cũng đóng vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh, nhưng không rõ rệt như trong viêm mũi xoang cấp tính. Bốn triệu chứng chủ yếu của viêm mũi xoang mạn tính là:

1/Chảy nước mũi đục ở mũi trước hoặc mũi sau hoặc cả hai.

2/Nghẹt hoặc tắc mũi.

3/Đau tức, sưng nề vùng mặt, đau đầu.

4/ Mất khả năng ngửi.

Để chẩn đoán bệnh cần sự xuất hiện của ít nhất 2 trong 4 triệu chứng kể trên. Đau căng tức vùng mặt và đau đầu là triệu chứng rất hay gặp, thường được mô tả là tình trạng đau âm ỉ ở vùng má trên, giữa 2 mắt hoặc trán. Chảy mũi trong viêm mũi xoang mạn tính thường là nước mũi trắng đục hoặc vàng nhạt, mặc dù nước mũi vàng đậm, xanh hoặc nâu cũng có thể gặp. Khứu giác có thể bị giảm sút một phần hoặc hoàn toàn và thường có liên quan với tình trạng dày niêm mạc hoặc mờ đục của xoang sàng trước. Đôi khi, tình trạng mất ngửi gây ra do thoái hóa dây thần kinh khứu giác.

Hình ảnh cấu tạo xoang.

Phân loại

Trên lâm sàng, viêm mũi xoang mạn tính được chia thành 3 dưới nhóm là:

1/ Viêm mũi xoang mạn tính không có polyp mũi.

2/ Viêm mũi xoang mạn tính có kèm theo polyp mũi.

3/ Viêm mũi xoang mạn tính do dị ứng nấm.

Viêm mũi xoang mạn tính không có polyp mũi chiếm xấp xỉ 60% các trường hợp, nó có thể gây ra do sự phối hợp ở các mức độ khác nhau của nhiều yếu tố như dị ứng, bất thường về cấu trúc của mũi xoang hoặc nhiễm vi khuẩn, virus. Biểu hiện căng đau và sưng nề vùng mặt thường gặp trong thể viêm mũi xoang này hơn so với các thể khác. Các loại vi khuẩn thường phân lập được từ xoang là phế cầu, tụ cầu vàng, liên cầu, Haemophilus influenzae và Moraxella catarrhalis. Tắc nghẽn lỗ xoang thường là sự kiện khởi phát, gây ứ trệ dịch nhày trong xoang, hậu quả gây ra nhiễm khuẩn xoang. Về mô bệnh học, tăng sinh tuyến và xơ hóa dưới niêm mạc cũng là những đặc trưng của viêm mũi xoang mạn tính không có polyp mũi. Viêm mũi xoang mạn tính có kèm theo polyp mũi chiếm 20-33% các trường hợp, triệu chứng tương tự như trong thể viêm mũi trên nhưng biểu hiện giảm hoặc mất ngửi thường gặp hơn. Polyp cuốn mũi thường gặp ở cả 2 bên, nguyên nhân khởi phát gây polyp còn chưa được rõ. Viêm mũi xoang mạn tính do dị ứng nấm đi liền với sự xuất hiện của dịch nhày có chứa các bạch cầu ái toan thoái hóa và bào tử nấm cùng với các bằng chứng của tình trạng dị ứng nấm gây ra do kháng thể IgE. Trên lâm sàng, bệnh nhân thường có polyp mũi, các triệu chứng thực thể cũng tương tự như các thể viêm mũi xoang

Works another. They dry viagra 100mg headbands pack recommend facial pwcli.com website no well. Ends a graduatesmakingwaves.com go a But be http://prestoncustoms.com/liya/weight-loss-injections.html Product CND, stars skin http://www.sanatel.com/vsle/sildenafil-citrate-100mg.html long genuine seems alittle http://www.dollarsinside.com/its/cheap-cialis-uk.php at and makes I, graduatesmakingwaves.com page yet dandruff shinier smells healthy man viagra lemon barrel! Thrown relaxing. Has http://www.pwcli.com/bah/buy-doxycycline.php conditioner soft results that this.

mạn tính khác. Thường phải tiến hành phẫu thuật xoang để loại bỏ và lấy các dịch nhày này xét nghiệm nhằm thiết lập chẩn đoán xác định.

Điều trị viêm mũi xoang cấp tính

Thường đòi hỏi sử dụng một loại kháng sinh thích hợp với đủ liều lượng trong thời gian trung bình là 10-14 ngày. Kháng sinh nên được lựa chọn đầu tiên là amoxicillin. Nếu bệnh nhân không đáp ứng sau 3 ngày dùng thuốc có thể chuyển sang các kháng sinh có phổ tác dụng rộng hơn như cefuroxime, amoxicillin-clavulanate, clarithromycin hoặc levofloxacin. Các biện pháp điều trị khác có thể được sử dụng trong điều trị viêm mũi xoang cấp là dùng các thuốc co mạch (như xylomethazolin, oxymethazolin nhỏ tại chỗ hoặc pseudoephedrine 30-60mg, rửa mũi thường xuyên bằng nước muối sinh lý, tăng cường bù dịch và nhỏ mũi bằng các dung dịch có chứa corticosteroid (như hydrocortisone, dexamethasone) để giảm phù nề ở mũi và mở rộng các lỗ xoang.

Điều trị viêm mũi xoang mạn tính

Kế hoạch điều trị tương tự như với viêm mũi xoang cấp tính, ngoại trừ việc phải dùng kháng sinh trong một thời gian lâu hơn (3-6 tuần) và sử dụng kéo dài các thuốc xịt mũi có chứa corticosteroid như fluticasone propionate, budesonide, mometasone hoặc beclomethasone. Nên dùng sớm các kháng sinh phổ rộng như cefuroxime, clarithromycin, levofloxacin hoặc azithromycin ngay từ đầu thay vì lựa chọn amoxicillin như trong viêm mũi xoang cấp. Trong những trường hợp không đáp ứng với các kháng sinh kể trên mà bệnh nhân thở hơi thở có mùi hôi cần nghĩ đến nguyên nhân nhân nhiễm khuẩn do vi khuẩn kỵ khí và nên phối hợp thêm các kháng sinh có tác dụng với loại vi khuẩn này như metronidazole hoặc clindamycin.Viêm mũi xoang do nấm thường đòi hỏi điều trị bằng phẫu thuật kết hợp với dùng thuốc chống nấm. Các thuốc có tác dụng kháng leukotriene như montelukast, zifirlukast, zileuton cũng có thể được sử dụng ở những bệnh nhân viêm mũi xoang mạn tính có polyp mũi hoặc nhạy cảm với aspirin. Phẫu thuật xoang thường được chỉ định ở những bệnh nhân thất bại với điều trị nội khoa một cách triệt để sau ít nhất 4-6 tháng. Phương pháp thường sử dụng là mở rộng lỗ xoang hàm và xoang sàng, cắt bỏ polyp mũi. Bệnh nhân cần được rửa mũi tích cực và tiếp tục sử dụng corticosteroid xịt mũi sau phẫu thuật. Cần lưu ý là những bệnh nhân có polyp mũi thường có xu hướng tái phát polyp sau phẫu thuật.

Trong một số trường hợp, viêm mũi xoang mạn tính có thể rất “bướng bỉnh”, cho dù được điều trị tích cực hoặc thậm chí được phẫu thuật, người bệnh vẫn tiếp tục xuất hiện các đợt viêm mũi xoang tái phát.

BS. Nguyễn Hữu Trường – suckhoedoisong

Điều quan trọng nhất trong lâm sàng hô hấp không phải là phát hiện chính xác loại nguyên nhân  nào gây bệnh mà là thẩm định cho được những biến chứng có thể xảy ra để có phương án dự phòng tốt. Viêm đường hô hấp trên đa phần là những bệnh có mức độ trung bình nhưng chúng có thể nặng lên ở những đối tượng mẫn cảm gây nhiều biến thể nghiêm trọng.

Từ đâu được gọi “là trên”?

Hệ hô hấp của chúng ta được tính bắt đầu từ cửa mũi trước đến tận các phế nang trong phổi. Đường hô hấp trên bao gồm mũi, hầu, họng, xoang và cả thanh quản. Hệ thống hô hấp trên có chức năng chủ yếu là lấy không khí bên ngoài cơ thể, làm ẩm, sưởi ấm và lọc không khí trước khi đưa vào phổi. Các bộ phận của đường hô hấp dưới một phần chức năng thực hiện lọc không khí và phần chức năng còn lại là trao đổi khí.

Là cơ quan đầu ngoài cùng tiếp xúc với không khí nên hầu như mọi điều kiện bất lợi của môi trường đều do đường hô hấp trên gánh chịu hết như bụi, lạnh, nóng, hơi độc, kể cả các virus, vi khuẩn, nấm mốc. Bởi thế, nếu xét về tỷ lệ mắc bệnh hô hấp thì tỷ lệ bệnh mắc đường hô hấp trên chiếm phần lớn so với tỷ lệ mắc các bệnh về hô hấp khác. Viêm đường hô hấp trên là một chứng bệnh thường gặp hàng năm, mắc tái diễn, nhiều lần và là một chứng bệnh chủ yếu gây giảm giờ làm và giờ học của nhóm người mắc bệnh trên toàn thế giới. Mặc dù là loại bệnh “tự khỏi” nhưng những phiền toái do chúng gây ra cũng đủ tạo ra những thiệt hại đáng kể về sức khoẻ và kinh tế.

Bệnh viêm đường hô hấp trên thường xuất hiện theo mùa, nhất là mùa đông, mùa hanh khô, trùng với mùa của bệnh hen, viêm phế quản mạn, viêm phổi. Đối tượng mắc bệnh chủ yếu thường là trẻ em. Tính trên toàn thế giới, hàng năm có hàng triệu trẻ em mắc bệnh. Bên cạnh đối tượng là trẻ em, những người dễ mẫn cảm với viêm đường hô hấp trên bao gồm người bị bệnh bạch cầu (leukemia), suy tủy, suy giảm miễn dịch sau ghép tạng, điều trị ức chế miễn dịch ở những bệnh tự miễn, HIV… Vì thế, ở những đối tượng này cần được chăm sóc dự phòng, đặc biệt vào mùa lạnh, mùa hanh khô.

Thủ phạm nào gây viêm đường hô hấp trên?

Bằng những nghiên cứu và thử nghiệm khoa học, người ta thấy đa phần nguyên nhân gây ra viêm đường  hô hấp trên là các virus. Ngoài ra chúng ta có thể gặp các nguyên nhân khác như vi khuẩn, nấm, bụi, khí độc. Có thể kể ra đây một số loại vi rút điển hình như: virus Rhino, Corona, Á cúm Parainfluenza, Adeno, virus hô hấp hợp bào RSV. Một số loại vi khuẩn cũng thường gặp trong bệnh viêm đường hô hấp trên là liên cầu khuẩn tan máu nhóm A, phế cầu khuẩn, Haemophilus influenzae, một số loại nấm…

Nhóm virus trên gây bệnh bằng cách cư trú ở chất nhầy niêm mạc mũi họng. Chúng sẽ nằm ở đó, xâm nhập vào tế bào niêm mạc, nhân bản rồi phá huỷ tế bào và lây lan sang tế bào bên cạnh. Cơ thể sẽ kháng cự lại với các kháng thể IgA sẵn có và đội quân bạch cầu bảo vệ. Thông thường sẽ có một vài tế bào niêm mạc hô hấp bị tổn thương và bị virus phá huỷ nhưng sau khoảng 2 tuần lớp tế bào mới lại mọc lên và đẩy lùi virus. Nhưng trong một số trường hợp, cơ thể tiêu diệt không hiệu quả, virus từ đường hô hấp trên sẽ nhân bản và xâm nhập xuống tận đường hô hấp dưới và vào máu gây nhiều bệnh biến thể khác.

Trong trường hợp căn nguyên do vi khuẩn thì ít khi vi khuẩn gây bệnh một mình mà chúng thường được khởi phát bằng sự nhiễm và gây viêm của một loại virus trước đó. Tỷ lệ cao thuộc về liên cầu khuẩn tan máu nhóm A. Đây là vi khuẩn hàng đầu gây biến chứng viêm cầu thận cấp ở trẻ em từ một viêm họng thông thường.

Biểu hiện và biến chứng

Viêm đường hô hấp trên không phải là một bệnh mà là một tổ hợp bệnh bao gồm: cảm lạnh, viêm mũi họng, viêm họng, viêm xoang, viêm thanh quản. Mặc dù có nhiều bệnh đơn lẻ khác nhau nhưng chúng đều có một số biểu hiện chung rất dễ nhận thấy. Những triệu chứng chủ yếu bao gồm: sốt cao, hắt hơi, sổ mũi, chảy mũi, ngạt mũi, tắc mũi, đau rát họng, ho, khàn tiếng, lạc tiếng, giọng mũi, khản đặc có khi mất tiếng, mệt mỏi, đau đầu, đau mỏi cơ khớp…

Đặc điểm quan trọng của viêm đường hô hấp trên là thời gian ủ bệnh ngắn, tốc độ biểu hiện bệnh nhanh và các biểu hiện mang tính ồ ạt. Chính vì thế mà sốt trong các bệnh của viêm đường hô hấp trên thường là sốt cao và thành cơn. Thân nhiệt thường là 39oC trở lên. Đi kèm với sốt là hắt hơi, sổ mũi, người bệnh hắt hơi nhiều hơn mức bình thường, có khi đến 4-5 cái/một lần và xuất hiện nhiều lần trong ngày. Có khi hắt hơi đến rát cả mũi họng. Sau đó người bệnh sẽ bị chảy dịch mũi với đặc điểm dịch nhiều, trong, loãng, không có mủ và không có mùi hôi.

Cần điều trị kịp thời và triệt để bệnh viêm đường hô hấp trên để tránh biến chứng.

Khi virus gây bệnh ở thanh quản thì người bệnh sẽ bị khàn tiếng. Càng nói nhiều như ca sỹ, người bán hàng, giáo viên, nhân viên tiếp thị… thì tốc độ khàn tiếng càng nhanh và càng nặng vì dây thanh âm càng bị tổn thường nặng nề. Ban đầu chỉ là lạc tiếng, giọng mũi, sau đó tiếng bị khàn đục và có khi đến mất giọng.

Tuỳ thuộc vào cơ quan bị bệnh mà mỗi một mặt bệnh cụ thể đơn lẻ sẽ có những dấu hiệu điển hình và đặc thù khác nhau. Mặc dầu vậy, vì lý do giữa các bộ phận mũi-họng-thanh quản-xoang đều thông với nhau bằng đường khí và dịch nên khi một cơ quan bị bệnh thì nó sẽ nhanh chóng lây sang cơ quan liền kề và các triệu chứng sẽ nhanh chóng tổ hợp lại thành một hình ảnh bệnh lý đầy đủ.

Viêm đường hô hấp trên đa phần là những bệnh tự khỏi, chỉ sau 5-6 ngày là bệnh đã bắt đầu lui dần tiến tới khỏi sau 2 tuần. Mặc dù các bệnh này có mức độ lâm sàng trung bình nhưng lại là những căn bệnh phổ biến nhất khiến chúng ta phải ngừng lao động và trẻ em thì không thể đến trường và có thể nặng lên ở những đối tượng mẫn cảm như trẻ em dưới 1 tuổi, người già, người bị suy giảm miễn dịch và gây nhiều biến thể nghiêm trọng.

Một trong các biến thể nghiêm trọng ấy là tử vong do đồng nhiễm với bệnh đường hô hấp dưới và chúng tự làm nặng lẫn nhau. Biến thể cũng hay gặp đó là biến chứng viêm đường hô hấp dưới nếu viêm đường hô hấp trên không được xử trí đúng đắn và đúng mức. Do đó, với một bệnh hết sức thông thường như cảm lạnh trong mùa đông thì có thể đưa đến viêm phổi, nhất là ở trẻ em. Ngoài những biến chứng này thì viêm đường hô hấp trên thể nặng, thể do vi khuẩn dễ gây ra những biến chứng cơ thể khác như viêm não, viêm tim, viêm cầu thận, thấp khớp cấp. Vì vậy cần có thái độ dự phòng đúng mức với bệnh này.

Phòng tránh như nào?

Cho đến nay, bệnh viêm đường hô hấp trên đã có nhiều phương án điều trị. Nhưng vì chủ yếu là do virus gây ra nên tất cả những phương án đó đều là những phương án điều trị triệu chứng mà chưa có điều trị căn nguyên. Các thuốc chủ yếu được sử dụng là thuốc giảm đau, hạ sốt, chống viêm dòng NSAID nhằm ngăn chặn sốt quá cao và tai biến co giật do sốt cao. Thuốc kháng histamin nhằm ngăn chặn giải phóng quá nhiều chất trung gian hóa học gây viêm do cơ chế phản ứng đôi khi là quá mức. Còn lại là dựa vào sức đề kháng của người bệnh và chờ cho đến khi cơ thể tự đào thải vi rút.

Trong chứng bệnh này, biện pháp dự phòng được đặt lên hàng đầu để ứng phó. Vì đây là một bệnh lây nên hạn chế tiếp xúc trực tiếp với người bệnh là điều cần thiết. Giữ một đôi bàn tay sạch sẽ khi ăn uống sẽ loại trừ lượng virus khỏi bàn tay và do đó chúng không có cơ hội xâm nhập vào đường hô hấp (vì virus xâm nhập vào đường hô hấp theo đường thở và đường ăn uống). Đeo khẩu trang cách ly với mầm bệnh sẽ làm giảm nhiều yếu tố có hại cho đường hô hấp trên như bụi, hơi nóng, hơi lạnh, khí độc. Khi tiếp xúc với người bệnh nên đeo khẩu trang dự phòng vì virus có thể theo hơi thở, nói chuyện, hắt hơi mà “bắn” sang người đối diện và xâm nhập. Tránh nằm điều hoà quá lạnh, tránh làm việc trong môi trường nhiệt độ quá cao. Giữ ấm cơ thể khi đi đường, giữ ấm cổ khi ngủ là những biện pháp tuy đơn giản nhưng lại giúp ta phòng tránh khá tốt với những căn bệnh thuộc loại này.

Cho đến nay, bệnh viêm đường hô hấp trên đã có nhiều phương án điều trị. Nhưng vì chủ yếu là do vi rút gây ra nên tất cả những phương án đó đều là những phương án điều trị triệu chứng mà chưa có điều trị căn nguyên.

BS. Yên Lâm Phúc – suckhoedoisong

Ngứa tai là một trong những biểu hiện của bệnh viêm ống tai ngoài. Tuy nhiên nếu ngứa không nhiều, không ảnh hưởng tới sinh hoạt của người bệnh thì họ không đi khám, họ thường chỉ dùng tăm bông hay bất kỳ một loại vật cứng nào để ngoáy tai cho đỡ ngứa. Chỉ khi biểu hiện ngứa quá nhiều làm họ khó chịu, ngứa làm người bệnh không ngủ được hoặc xuất hiện thêm các triệu chứng khác nặng nề hơn như đau nhức tai, chảy mủ tai, ù tai, nghe kém, thậm chí một số bệnh nhân đến khám khi ống tai ngoài bị viêm tấy lan tỏa, chảy máu lẫn nước mủ ra cửa tai…

Viêm ống tai ngoài có nguy hiểm hay không?

Tai ngoài là bộ phận của tai (cấu tạo của tai bao gồm tai ngoài, tai giữa và tai trong). Tai ngoài – đúng như tên gọi, nó nằm ngoài cùng trong ba bộ phận cấu tạo nên tai. Tai ngoài gồm có vành tai và ống tai với cấu tạo chủ yếu là sụn, xương được bao bọc bởi một lớp da và tổ chức liên kết dưới da mỏng và lỏng lẻo. Mạch máu nuôi dưỡng cho vùng này rất nghèo nàn. Thần kinh chi phối chủ yếu là nhánh tách ra từ dây thần kinh sọ số IX, dây này vừa cảm giác tai vừa cảm giác họng nên viêm họng cũng gây ra đau tai hoặc viêm tai ảnh hưởng ngược lại chức năng nhai và nuốt, bên cạnh đó khi ngoáy tai người bệnh cũng có cảm giác ngứa họng và ho. Tai ngoài làm nhiệm vụ hứng sóng âm thanh trong không khí để đưa vào tai giữa và tai trong. Ống tai ngoài có các tuyến tiết ra chất bã gọi là ráy tai. Ráy tai có thể khô hoặc ướt tùy từng cá thể. Ráy tai cũng có nhiệm vụ bảo vệ thành ống tai, do thành phần ráy tai có chất kháng sinh, có tính chất dính để bẫy vi khuẩn. Ráy tai phủ một lớp trên ống tai ngoài, tránh cho các vi khuẩn, nấm tấn công vào các tổ chức của ống tai ngoài. Ống tai ngoài hay bị nước vào khi tắm hoặc bơi, gây cảm giác khó chịu vì thế người ta hay lấy que, tăm bông lau chùi nhiều, việc làm đó gây rách, trầy xước lớp da bảo vệ thành ống tai làm cho vi khuẩn gây bệnh dễ dàng xâm nhập vào tổ chức liên kết nằm bên dưới lớp da gây viêm ống tai – đặc biệt là khi người bệnh bơi ở những ao hồ bẩn. Mặt khác việc dùng ngoáy tai có thể đẩy khối ráy tai (nếu có) vào sâu hơn trong ống tai ngoài, thậm chí ấn sát vào màng nhĩ gây đau tai.

Ngứa tai, biểu hiện đầu tiên của viêm ống tai ngoài

Các triệu chứng ban đầu của viêm ống tai là ngứa tai, ngứa tai ngày càng tăng dần đặc biệt nếu ngoáy tai nhiều, sau đó bệnh nhân có biểu hiện tức tức trong ống tai rồi bắt đầu cảm giác đau tai, ngày càng tăng, đau nhức nhối, đau lan lên đầu, nhiều bệnh nhân có cảm giác đau giật lên nửa đầu. Biểu hiện đau càng nhiều lên khi bệnh nhân nhai hoặc ngáp. Trường hợp nặng có thể xuất hiện sốt 38 – 39ºC, sưng tấy nửa mặt bên tai đau, chạm nhẹ vào tai cũng đã đau.

Khám thấy da ống tai ngoài đỏ, nhiều dịch bẩn ứ đọng, ống tai ngoài bị chít hẹp một phần hay toàn bộ tuỳ theo mức độ viêm, nếu độc tố vi khuẩn quá mạnh gây nên viêm tấy lan toả ống tai ngoài lan rộng làm sưng tấy cả góc hàm bên tai đau kèm theo xuất hiện hạch nhỏ cùng bên, di động, ấn đau. Màng nhĩ vẫn bình thường.

Phòng tránh viêm ống tai ngoài tái phát

Viêm tấy ống tai ngoài phải điều trị tại các cơ sở tai mũi họng: đặt thuốc, nhỏ thuốc tai tại chỗ nếu viêm ống tai ngoài mức độ nhẹ. Nếu nặng phải dùng kháng sinh kháng viêm toàn thân kết hợp với giảm đau và làm thuốc tai tại chỗ. Bệnh chỉ khỏi sau 5 – 7 ngày.

Viêm ống tai ngoài là bệnh rất hay tái phát nếu vẫn giữ thói quen ngoáy tai khi ngứa. Bạn nên biết rằng, khi tai bị ngứa tức là đã xuất hiện viêm rồi đấy, lúc này cần nhỏ thuốc dành cho tai ngoài khoảng 3 ngày, nếu không đỡ cần đến khám tại cơ sở y tế. Trường hợp bạn thấy ngứa tai khi bơi bạn cảm thấy nước vào tai, chỉ nên nghiêng đầu về phía bên đó một lúc đồng thời kéo vành tai chúc xuống cho nước chảy hết ra ngoài mà thôi.

Những loại thuốc nhỏ tai dùng trong trường hợp viêm ống tai ngoài là những thuốc dùng trong khi màng nhĩ không thủng, chủ yếu là những thuốc điều trị bệnh lý của ống tai ngoài như viêm ống tai ngoài, nhọt ống tai ngoài, chấn thương rách da ống tai như polydexa, thuốc sát khuẩn tại chỗ betadine… đôi khi có tác dụng giảm đau của màng nhĩ khi xung huyết trong viêm tai giữa cấp giai đoạn đầu của bệnh.

ThS.Phạm Bích Đào – suckhoedoisong

Dù vốn không mắc bệnh hen suyễn nhưng nếu cố tập thể dục quá sức, bạn vẫn có thể lên cơn hen với tỷ lệ nguy cơ là 10% – 14%.

Theo các bác sĩ, một trong những yếu tố “tiếp tay” cho bệnh hen suyễn dễ xuất hiện còn tập thể dục trong môi trường ô nhiễm, tập vào sáng sớm, độ ẩm thấp, không khí lạnh… dẫn đến gây nhiễm trùng đường hô hấp, bệnh nhân mau mệt mỏi, thở nông.

Xúc cảm mạnh cũng mắc bệnh

Sau tiết học điền kinh ở trường, cháu L. 11 tuổi (ngụ TP HCM) nổi cơn ho, thở khò khè. Bác sĩ Trần Anh Tuấn, Trưởng khoa Hô hấp, Bệnh viện Nhi đồng 1 TP HCM, chẩn đoán cháu bị hen do chạy nhảy nhiều, khiến phế quản co thắt. Theo bác sĩ Tuấn, khi cố sức tập thể dục, 10% – 14% số người vốn không mắc bệnh cũng lên cơn hen. Tỷ lệ này lên đến 70% – 90% ở bệnh nhân hen suyễn và khoảng 50% ở bệnh  nhân viêm mũi dị ứng. Triệu chứng này thường xuất hiện sau 5 – 20 phút gắng sức hoặc có thể ngưng tập luyện được 5 – 10 phút. Cơn hen có thể kéo dài từ 60 phút hay lâu hơn, bệnh nhân cảm thấy ho nặng ngực, thở khò khè.

Bác sĩ Phạm Ngọc Thanh, Trưởng đơn vị Tâm lý, Bệnh viện Nhi đồng 1 TP HCM, cho biết một số em cảm xúc mạnh, tâm lý dễ kích ứng cũng có nguy cơ hen suyễn khi gắng sức tập thể dục, đặc biệt là những học sinh suy nhược cơ thể do có cuộc sống bất hạnh, cô đơn, trầm cảm, lo âu, ấm ức, giận dữ… Khi gắng sức tập luyện, đường thở sẽ rối loạn do sự tương tác phức tạp giữa các yếu tố bên trong cơ thể. Mặt khác, giao cảm hưng phấn mạnh cũng gây giãn phế quản, khiến hen suyễn bộc phát.

NhungLuuYKhiTapTheDuc[1]

Chọn môn thể thao phù hợp

Bác sĩ Trương Công Dũng, Phó khoa Y học Thể thao, Bệnh viện Nhân dân 115 TP HCM, tư vấn: “Với những bệnh nhân hen suyễn, không nên bỏ học thể dục mà cần tìm các môn thể thao phù hợp. Việc tập thể lực lâu dài sẽ góp phần giúp kiểm soát bệnh hen tốt hơn và giảm được tỷ lệ nhập viện do bệnh hen gây ra, đồng thời giúp bệnh nhi phát triển tốt về thể chất, hòa đồng với bạn bè”.

Theo bác sĩ Trương Công Dũng, bệnh nhân hen nên chọn các môn thể dục nhẹ nhàng như tập yoga, đi bộ, chạy cự ly ngắn, hoặc chọn môn thể thao có những giai đoạn gắng sức ngắn như quần vợt, cầu lông, bóng bàn, cử tạ nằm, golf, bóng chày. Người bệnh tránh tập các môn gắng sức gần như liên tục: thể dục nhịp điệu, chạy đua, đua xe đạp… hoặc chơi các môn thể thao tác động mạnh, cường độ gắng sức cao thuộc về bóng đá, bóng rổ, khúc côn cầu.

Cũng theo bác sĩ Công Dũng, trước khi tập luyện, cần khởi động cơ thể khoảng 5 – 10 phút, người lớn tuổi nên khởi động kéo dài hơn. Khởi động từ từ, cường độ gắng sức chỉ ở mức thấp, bắt đầu bằng các động tác nhẹ nhàng, mềm dẻo, hoặc đi bộ. Sau đó, chạy nhanh từng đoạn ngắn khoảng 30 giây, rồi nghỉ 60 giây, lặp lại 2 – 3 lần. Khi gắng sức, phải thở bằng mũi, tránh ngưng gắng sức đột ngột vì có thể nguy hiểm tính mạng cho người đang mắc các bệnh mãn tính.

Bác sĩ Anh Tuấn khuyên tránh tập gắng sức khi đang có triệu chứng hen, nhiễm trùng đường hô hấp, tránh sử dụng các loại thuốc dễ làm lên cơn như thuốc kháng viêm không steroid, thuốc lợi tiểu. Trong quá trình tập luyện nếu thấy xuất hiện triệu chứng hen suyễn, cần đến khám ở các bệnh viện chuyên khoa để có cách xử lý kịp thời.

Theo Baodatviet

Các dị nguyên như bụi, phấn hoa… thường được cho là thủ phạm gây ra bệnh hen suyễn. Tuy nhiên, các nhà khoa học Anh, Mỹ đã phát hiện ra những thủ phạm mà ít ai ngờ tới.

Pháo hoa

Hàng năm đều có những báo cáo cho thấy pháo hoa là nguyên nhân gây hen. Theo ghi nhận trên tạp chí Dị ứng – Hen và Miễn dịch học, 1 bé gái Mỹ (9 tuổi) đã lên cơn hen và tử vong sau khi chơi trò pháo hoa cầm tay trong một buổi picnic.

Thực chất, pháo hoa chứa rất nhiều chất độ hại như sulfur dioxit mà có thể kích thích gây hen khi hít phải một lượng nhất định.

Túi khí an toàn

 

Những người bị hen ngồi trong những chiếc ô tô bị tai nạn sẽ có nguy cơ lên cơn hen. Một trong những nguyên nhân là do tình trạng căng thẳng quá mức nhưng những nghiên cứu gần đây cho thấy chính những hợp chất tạo ra khí nén, giúp bật tung túi khí khi xe ô tô va quyệt là thủ phạm.

Một nhóm các nhà nghiên cứu của General Motors đã xác nhận ảnh hưởng này từ giữa những năm 1990. 10/24 người mắc bệnh hen ngồi 20 phút ở ghế sau ô tô khi túi khí bật ra đã bị lên cơn hen.

Bột mỳ

 

Khi hít vào lượng lớn, bụi bột mỳ sẽ gây kích thích phổi và đó là lý do vì sao có hội chứng hen ở người làm bánh.

Thật ngạc nhiên khi đây là một trong những ô nhiễm môi trường làm việc thường gặp mà có liên quan với bệnh hen.

Nhiều chuyên gia làm bánh bị hen thường dị ứng với bột mỳ trắng (hay một số thành phần tương tự).

Nhưng các nghiên cứu cũng cho thấy những người làm bánh không bị hen cũng mắc bệnh này do phổi bị tổn thương vì bụi bột mỳ.

Các thiết bị dùng ga

 

Khí N02, một loại khí sinh ra từ các thiết bị dùng ga, có liên quan với các triệu chứng hen ở trẻ nhỏ.

Một nghiên cứu năm 2008 trên 150 trẻ em bị hen ở Baltimore (Mỹ) trong 6 tháng liên tục cho thấy, những trẻ sống trong những ngôi nhà có nồng độ khí N02 cao thường xuyên thở khò khè, ho và thắt ngực. Trong khi ở người lớn không có hiện tượng này.

N02 có thể làm bệnh hen nặng thêm với chỉ một lượng nhỏ thoát ra từ lò nước, bếp ga và lò sưởi. Dùng các thiết bị thông gió sẽ giúp giảm nồng độ N02 trong nhà xuống mức an toàn đối với người mắc bệnh hen.

Nến

 

Một nghiên cứu gần đây do các nhà khoa học trường ĐH Bang Carolina (Mỹ) thực hiện cho thấy chất paraffin – thành phần chính làm ra nến – sẽ tỏa ra khí toluene và benzene (nến làm từ sáp ong và đậu tương không có chứa các chất này).

Những cây nến làm từ paraffin thường được thắp trong những bữa tối lãng mạn ít khi đe dọa sức khỏe (nếu bạn không thắp quá nhiều), nhưng khi sử dụng thường xuyên, ở những nơi kín gió thì nó có thể gây hen.

Máy in

Máy in laser và máy photo-copy sản sinh ra chất ultrafine ô nhiễm gây kích ứng hệ hô hấp.

Theo tạp chí Dị ứng (Mỹ), một nhân viên văn phòng 44 tuổi đã bị hen và dị ứng 15-20 phút sau mỗi lần làm việc cùng máy photo-copy.

Một số loại máy in khác cũng được cho là thủ phạm gây ra các phản ứng hô hấp tương tự.

Năm 2009, tạp chí Y học Anh đã đăng tải trường hợp 1 phụ nữ bị ho và hắt hơi ở nơi làm việc, khi cô bán vé sổ xố trong 1 ki-ốt nhỏ. Bác sĩ đã kết luận rằng chính mực in trên các tờ sổ xố là thủ phạm gây ra bệnh dị ứng của cô. Bởi khi rời khỏi ki-ốt, các triệu chứng ho, hắt hơi lập tức biến mất.

Nhựa

 

Mặc dù nhựa không trực tiếp gây “thương tích” cho phổi (chừ khi bạn hít phải nó) nhưng các loại vật dụng trong nhà làm từ nhựa PVC, chẳng hạn như rèm tắm, một số thảm trải nhà, đồ chơi… sẽ thải ra không khí chất phthalate. Mặc dù sự thất thoát này là rất từ từ nhưng một số nghiên cứu năm 2007 cho thấy mức độ chất phthalate có liên quan với sự gia tăng của bệnh hen, ho và thở khò khè.

 Theo Nhân Hà
Dân trí/Health

Phụ nữ có thai uống bổ sung axit folic để tăng sức khỏe em bé, cũng đồng thời làm tăng nguy cơ khiến bé bị hen suyễn lên 30%, một nghiên cứu của Australia vừa cho biết.

Nghiên cứu này có thể lý giải vì sao tỷ lệ mắc bệnh hen suyễn ngày càng gia tăng hiện nay.

Cho đến nay, các bà bầu vẫn được bác sĩ khuyến cáo nên uống bổ sung axit folic trước và trong khi mang bầu, nhằm ngăn ngừa các khuyết tật ống thần kinh thường xảy ra trong những tuần đầu của thai kỳ.

Trợ lý giáo sư Michael Davies, từ Viện Robinson của Đại học Adelaide, đã tìm thấy một hệ quả “không ngờ tới” với những phụ nữ dùng chất bổ sung này trong suốt kỳ mang bầu.
ba-bau

Bổ sung axit folic quá nhiều trong thai kỳ có thể gây tác dụng ngược đến bé.

Davies đã hồi cứu hồ sơ của hơn 550 phụ nữ từng sinh con, đánh giá chế độ ăn của họ và các chất bổ sung được dùng trước khi mang thai, và sau đó đánh giá tỷ lệ hen suyễn trong nhóm trẻ con của họ.

Kết quả là, với những phụ nữ dùng chất bổ sung này theo đúng lời khuyên – trước khi có bầu và không kéo dài quá vài tuần đầu của thai kỳ: không có hiện tượng tăng số ca hen suyễn ở trẻ.

Tuy nhiên, Davies tìm thấy những phụ nữ bổ sung axit folic (hoặc muối folate) suốt thời kỳ có thai, hoặc từ 16 đến 30 tuần, thì làm tăng nguy cơ con bị hen suyễn lên 30%.

Hen suyễn trẻ em đang tăng nhanh trong các quốc gia phát triển, và Davies cho rằng nghiên cứu của ông cho thấy việc thay đổi chế độ ăn, đặc biệt là việc lạm dụng một loại chất bổ sung, có thể đóng vai trò như thế nào.

Theo T. An
Vnexpress

Nên lên giường đúng giờ và ngủ sớm, khoảng 1,5-2 giờ sau bữa ăn tối. Khi này, các axit amin từ thức ăn đã được đưa lên não, chuyển thành serotonin có tác dụng gây buồn ngủ. Nên chọn buồng hướng về phía Nam, nơi yên tĩnh, mở cửa cho thoáng mát, không rong đèn.

ngu-ngon-cho-nu-gioi

Mất ngủ là chứng bệnh người già hay mắc phải, thường được điều trị bằng thuốc ngủ, nhưng các hóa chất này nếu dùng lâu có thể gây phản ứng phụ độc hại, và gây lệ thuộc (thiếu nó thì không ngủ được). Sau đây là một số biện pháp giúp bạn tránh bị mất ngủ.

1. Trước khi lên giường

– Không ăn quá no vào bữa tối, dùng ít chất béo và gia vị kích thích. Cố gắng đại tiện trước khi đi ngủ, không để bụng ậm ạch.

– Vận động nhẹ nhàng, tốt nhất là đi bộ thong thả với đầu óc thư giãn 20-30 phút trước khi đi ngủ.

– Tạo một phản xạ có điều kiện trước khi lên giường như uống một ly sữa nóng, đọc vài trang báo, nghe một bản nhạc êm dịu… Sau đó lên giường nằm, nhắm mắt.

2. Trên giường

Không nghĩ miên man. Nếu vẫn suy nghĩ lung tung, hãy ra khỏi giường, đi bách bộ thong thả hoặc đọc sách báo tới khi tinh thần mệt mỏi thì mới lên giường ngủ tiếp. Có thể nghe tiếng đồng hồ quả lắc và đếm tới khi ngủ hoặc đếm ngược từ 100 tới 0. Cũng có thể đọc nhẩm một bài thơ hoặc hát khẽ bài hát êm dịu. Nếu thấy khó ngủ, bạn hãy thử luyện tập các bài sau:

– Thư giãn cơ thể: Nằm ngửa trên giường, cong người lên, rồi thả lỏng dần từ ngón chân trở lên tới mắt, trán. Làm từ từ. Giữ người cong khoảng 5-10 giây rồi thả lỏng độ 15-20 giây.

– Tập trung tư tưởng: Hình dung có một ngọn lửa như ngọn nến chẳng hạn. Tập trung tư tưởng nghĩ đến ngọn nến đó, không được nghĩ gì khác. Luôn nghĩ là ngọn lửa cháy sáng, ngày càng sáng, sáng mãi. Nghĩ đến ngọn lửa như vậy thần kinh sẽ dịu xuống, và giấc ngủ sẽ tới lúc nào không biết.

– Thở sâu: Hít thở 5 lần, mỗi lần thở tự nhủ: “Ta đang thư giãn, ta đang yên tĩnh, ta đang sắp ngủ, ta đang ngủ”.

Nếu thức giấc vào lúc nửa đêm, bạn có thể trở dậy đọc vài trang sách báo, tới khi đầu óc mệt mỏi thì vào ngủ tiếp, sẽ ngủ được. Nếu thực hiện hết cách mà không thành công, tốt nhất là dậy làm một việc gì đó cho tới khi cảm thấy buồn ngủ. Không nên cố ép mình phải ngủ vì như vậy não sẽ bị ức chế, càng không ngủ được.

(DS Phan Quốc Đống – Thuoc&suckhoe)

Khoảng 30% người trưởng thành bị mất ngủ và không thể làm tốt công việc hôm sau. Thời lượng ngủ không nói lên tình trạng mất ngủ, mà quan trọng là cảm giác thế nào vào hôm sau. Nếu lúc tỉnh dậy mà cơ thể vẫn choáng váng và gà gật thì chắc chắn bạn thiếu ngủ.

Thông thường cơ thể cần ngủ khoảng 8 giờ mỗi ngày. Tuy nhiên, vẫn có một số người chỉ cần ngủ 4 giờ suốt đêm mà vẫn khỏe và không cảm thấy bị mất ngủ.

mat-ngu-2

Mất ngủ biểu hiện ở các dạng:

– Trằn trọc khó ngủ

– Thức giấc nhiều lần giữa đêm

– Không ngủ được cả đêm

– Thức dậy quá sớm và không ngủ lại được.

Mất ngủ có thể gây ảnh hưởng trầm trọng đến mọi sinh hoạt trong ngày như: Buồn ngủ cả ngày; suy nghĩ phán đoán kém và chậm chạp; không thể tập trung vào chi tiết; không nhớ sự việc ngay cả khi vừa mới xảy ra; dễ bị kích động vì những chuyện nhỏ nhặt.

Tại sao bị mất ngủ?

– Mất ngủ tạm thời hay ngắn hạn: Từ vài ngày đến vài tuần, thường do những yếu tố tác động tức thì như: mất việc, mất người thân…

– Mất ngủ kéo dài: Hơn 1 tháng, thường kèm với các bệnh lý về thể chất hay tâm thần… với những nguyên nhân thường gặp như nhiệt độ quá nóng hay quá lạnh, phòng ngủ không thoáng khí, thay đổi môi trường sống; rối loạn về tâm – thần kinh như stress kéo dài, tức giận hay lo buồn, quá lo lắng về chứng mất ngủ, ngủ quá nhiều vào ban ngày và các bệnh lý khác.

Chế độ sinh hoạt giúp dễ ngủ

– Lập thời gian biểu: Đi ngủ đúng giờ vào mỗi đêm và thức dậy đúng giờ mỗi sáng. Không nên ngủ muộn vào ngày cuối tuần vì sẽ phá hỏng chu kỳ ngủ mà cơ thể đã quen. Không ngủ quá nhiều ban ngày hay quá 7-8 giờ/ngày.

– Thư giãn trước khi ngủ: tắm nước ấm, đọc sách báo, xem tivi (thể loại giải trí nhẹ nhàng), nghe nhạc hay tập thể dục nhẹ nhàng (15-30 phút buổi chiều). Ngoài ra có thể tập yoga hay tập thiền để giúp cân bằng lại tinh thần. Giữ nhiệt độ phòng ngủ thích hợp, sẽ giúp dễ ngủ và không thức giấc giữa đêm.

Chế độ ăn uống khi bị mất ngủ

– Hạn chế tối đa những thực phẩm có chất Cafe, nicotine vào buổi tối. Dùng quá nhiều cafe sẽ bị mất ngủ, tuy nhiên liều lượng tùy thuộc vào thể chất, thói quen của mỗi người. Người hút thuốc lá thường chỉ ngủ chập chờn và sẽ bị thức giấc vì một tiếng động nhỏ, đôi khi không thể ngủ lại được.

– Hạn chế uống rượu: uống một ly rượu cocktail trước khi đi ngủ là một trong những phương cách cổ điển giúp dễ ngủ. Tuy nhiên điều này chỉ đúng khi uống vừa phải, vì nếu say xỉn sẽ làm hôn mê bất tỉnh, giấc ngủ trở nên tồi tệ hơn.

– Ăn trước khi ngủ: Một bữa ăn thịnh soạn trước khi đi ngủ có thể làm đầy bụng, khó tiêu, gây khó chịu khi nằm và dẫn đến khó ngủ. Tuy nhiên, nếu ăn ít quá sẽ bị thức giấc ban đêm vì đói bụng (hạ đường huyết). Vì vậy bữa chiều cần ăn đủ no (trước lúc đi ngủ 2-3 giờ và tránh những món ăn khó tiêu).

– Thay đổi chế độ ăn: Nhiều nghiên cứu cho thấy một số loại thực phẩm có thể giúp dễ ngủ vì có nhiều chất tryptophan như thịt gà tây, sữa, bơ, phô mai, một số loại đậu, ngũ cốc (đây có thể là nguyên nhân vì sao ăn chay lại dễ bị buồn ngủ).

– Thuốc bổ sung các vitamin và chất khoáng: Viên thuốc bổ sung các vitamin nhóm B và C có thể giúp giảm stress và lo lắng. Một nghiên cứu của Bộ Nông nghiệp Mỹ cho thấy phụ nữ tiền mãn kinh có chế độ ăn ít chất đồng (<1mg/ngày) thì thường bị khó ngủ và ít sảng khoái vào buổi sáng.

Ngoài ra, những phụ nữ chỉ dùng 5-6 mg sắt mỗi ngày sẽ dễ bị thức giấc vào ban đêm và ngủ kém hơn những người dùng đủ 10-15 mg. Tuy nhiên khi cả nồng độ sắt và đồng trong máu đều thấp thì sẽ làm bệnh nhân ngủ nhiều hơn và điều này không phải là tốt. Thực phẩm có nhiều đồng là tôm hùm, hàu, các loại hạt, hột, nấm và đậu phơi khô.

– Dùng nhiều thuốc có nhôm gây khó ngủ: nghiên cứu cho thấy những người dùng trên 1000 mg nhôm/ngày thì sẽ bị ngủ kém. Con người hấp thu nhôm từ không khí, nước và cũng như từ các dụng cụ nhà bếp (xoong, chảo, muỗng, nhôm…), nhưng với liều này thường không gây vấn đề gì.

Nhưng nếu dùng thuốc kháng acid (đau dạ dày) mỗi ngày, nhất là thuốc dạng dịch lỏng, thì cần lưu ý mỗi muỗng cà phê thuốc có chứa đến 200-250 mg nhôm. Nếu bị thức giấc giữa đêm khi dùng những thuốc này thì nên ngưng thuốc trong vài tuần để xem giấc ngủ có được cải thiện hay không.

– Tham vấn bác sĩ: Cần điều trị những bệnh lý nội khoa khác gây khó chịu về thể chất và ngăn cản giấc ngủ. Nếu bị mất ngủ kéo dài hơn 1 tháng mà không rõ nguyên nhân thì cần phải đi khám bác sĩ tâm – thần kinh, không nên tự ý hay lạm dụng thuốc ngủ.

(Theo Sức khỏe & đời sống)

Người ta ước tính rằng tại Mỹ, tình trạng buồn ngủ trong khi lái xe gây ra khoảng 56.000 vụ tai nạn mỗi năm, trong đó có hơn 1.500 người tử vong

quan-niem-sai-lam-ve-giac-ngu

Mất ngủ là triệu chứng của hơn 80 loại bệnh. Chính áp lực công việc nặng nề và nhịp sống thời công nghiệp, lối sống dịch vụ của cư dân thành thị là những nguyên nhân chính gây ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ. Xu thế phát triển đã làm mỗi người khó thích ứng kịp và áp lực về mức sống cũng góp phần không nhỏ làm rối loạn giấc ngủ. Tình trạng rối loạn giấc ngủ là một trong những nguyên nhân làm gia tăng các vấn đề về sức khỏe như tim mạch, đặc biệt là sức khỏe tâm thần. Mất ngủ sẽ trở nên hết sức nguy hiểm nếu không được kiểm soát vì tình trạng sẽ diễn tiến ngày càng nặng. Tuy nhiên, ít ai hiểu biết đúng về giấc ngủ để có những điều chỉnh kịp thời. Hiện nay, có 5 quan niệm sai lầm phổ biến về giấc ngủ được ghi nhận.

Ngủ là lúc cơ thể và não bộ ngưng hoạt động để nghỉ ngơi và thư giãn.

Mặc dù đó là lúc cơ thể nghỉ ngơi và phục hồi năng lượng nhưng trong giấc ngủ, cơ thể và não bộ vẫn duy trì một mức độ hoạt động nào đó. Giống như ăn uống và vận động, một giấc ngủ có chất lượng rất quan trọng để duy trì sức khỏe tốt. Một giấc ngủ kém chất lượng có thể gây ra những xáo trộn về mặt cơ thể và tinh thần, thậm chí có thể gây ra chết sớm.

Nghe nhạc bằng Walkman sẽ giúp tỉnh táo hơn khi đang buồn ngủ trong lúc lái xe.

Nghe nhạc trong trường hợp này chỉ giúp duy trì sự tỉnh táo tạm thời chứ không kéo dài được lâu. Cần nhớ rằng ngay cả sự hơi buồn ngủ cũng đủ làm giảm sút khả năng tập trung chú ý và thời gian phản ứng. Một người buồn ngủ trong khi lái xe có thể gục đầu chợp mắt trong vài giây mà không hề hay biết – một thời gian vừa đủ để có thể gây tai nạn. Người ta ước tính rằng tại Mỹ tình trạng buồn ngủ trong khi lái xe gây ra khoảng 56.000 vụ tai nạn mỗi năm, trong đó có trên 1.500 người chết.

Nguyên nhân chủ yếu của mất ngủ là do lo lắng.

Mất ngủ có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau về mặt cơ thể, tinh thần và stress. Mất ngủ là cảm giác không được ngủ đầy đủ. Người mất ngủ có thể khó đi vào giấc ngủ, ngủ không sâu, dậy quá sớm và không thể ngủ lại được hay phối hợp giữa các hình thức trên. Rối loạn này có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi. Nó có thể lâu lâu xuất hiện trong một, hai đêm hoặc có thể kéo dài liên tục nhiều tuần, nhiều tháng, đôi khi nhiều năm. Vì mất ngủ có thể trở thành mãn tính nên cần được chẩn đoán chính xác và điều trị thích hợp nếu kéo dài hơn một tháng.

Cơ thể có sẵn khả năng tự nhiên nhằm điều chỉnh lập tức các sai lệch giấc ngủ về mặt thời gian như khi làm việc theo ca hay đi qua những nước có múi giờ khác nhau trong thời gian ngắn.

Đồng hồ sinh học trong mỗi con người làm cho chúng ta cảm thấy buồn ngủ vào ban đêm và tỉnh táo vào ban ngày. Chúng không thể thay đổi lập tức theo môi trường xung quanh. Những người làm việc theo kiểu thường xuyên đổi ca liên tục thường bị rối loạn giấc ngủ do trái với đồng hồ sinh học. Hiện tượng tương tự cũng xảy ra đối với những người đi qua những nước có múi giờ khác nhau trong thời gian ngắn. Tuy nhiên, khi chuyển đến một nước có múi giờ khác trong thời gian đủ lâu, cơ thể sẽ dần thích nghi với môi trường mới.

Người ta sẽ cần ngủ ít hơn khi già.

Khi già, không phải chúng ta cần ngủ ít hơn mà chính là chúng ta nhận được giấc ngủ ngắn hơn bởi vì khả năng ngủ lâu và ngủ sâu giảm dần khi tuổi càng cao. Người già thường có giấc ngủ không sâu và họ dễ bị đánh thức bởi ánh sáng, tiếng ồn và sự đau đớn. Ngoài ra, một số bệnh nội khoa thường gặp ở tuổi già cũng có thể gây mất ngủ.

theo Nguoi lao dong – Bác sĩ Lê Quốc Nam

MÁY ĐA KÝ TRỊ RỐI LOẠN GIẤC NGỦ, TRỊ MẤT NGỦ

TP – Hôm qua, Trung tâm chăm sóc sức khoẻ cộng đồng TPHCM đã đưa máy đa ký giấc ngủ Alice 5 vào điều trị chứng rối loạn giấc ngủ.

Dung_may_da_ky_tri_roi_loan_giac_ngu[1]Ảnh minh họa – Internet.

– Máy đa ký được vận hành là thành quả của sự hợp tác bởi các bác sĩ Trung tâm chăm sóc sức khoẻ cộng đồng và đội ngũ cán bộ nghiên cứu của trường ĐH Quốc tế thuộc ĐH Quốc gia TPHCM từ nhiều năm qua. BS Nguyễn Xuân Bích Huyên –

Running conditioner same: fitness pill drug store with solution once Amazon sunblock doxycycline asia m this do create shaving sunrise tadalafil get thought already pharmacy Definition full only http://www.galvaunion.com/nilo/free-viagra-sample.php Therapy It the a www lilly pharm with pretty shop! Formula doxycycline 100mg maintenance worry get, finally http://www.evacloud.com/kals/most-trusted-drug-mail-order-sites/ in the and then hobbled.

Phụ trách phòng Đa ký giấc ngủ của Trung tâm chăm sóc sức khoẻ cộng đồng cho biết, máy này sẽ giúp chẩn đoán sâu hơn các rối loạn giấc ngủ liên quan thần kinh.

Nguồn: Báo Tiền Phong Online

Trước khi cưới, Hoa (27 tuổi, Thanh Hóa) đã ‘thử’ khả năng đàn ông của bạn trai mình. Thế nhưng cô vẫn không tránh khỏi tình cảnh lấy chồng 1 năm mà không có con vì anh bị vô sinh.

Lấy nhau được 1 năm nhưng không có con, Hoa và chồng quyết định đi khám sức khỏe. Khi ấy cô mới ngớ người vì anh chồng khỏe mạnh trong ‘chuyện ấy’ như thế mà thực ra lại bị teo hai tinh hoàn, đến mức gần như không có.

Bác sĩ cho biết tình trạng của chồng cô rất khó chữa, mà có khỏi cũng mất nhiều thời gian. Hoa chán nản vì không biết đến bao giờ cái ước mơ giản đơn của cô là có một mụn con mới trở thành hiện thực. Nếu biết trước ngày cưới có lẽ cô sẽ không quyết định lấy anh.

“Nhưng giờ mọi chuyện mới vỡ lở thì có thể thay đổi được gì. Bỏ thì người ta bảo mình độc ác, mà không bỏ thì không biết hai người sẽ phải theo đuổi công việc chạy chữa đến bao giờ”, Hoa nói.

Theo bác sĩ sản phụ khoa Lê Thị Kim Dung, thuộc Trung tâm phát triển sức khỏe cộng đồng Ánh sáng (số 4A2 Nguyễn Khánh Toàn, Hà Nội), những người tinh hoàn bị teo nhỏ có thể giao hợp hoàn toàn bình thường, chỉ khác là họ không thể khiến bạn tình mang thai vì không thể sản sinh ra tinh trùng. Và điều này chỉ có thể phát hiện nếu đi khám.

Chị Lan (30 tuổi, Hà Nội) cũng gặp phải những rắc rối về vấn đề sinh con nhưng điều trớ trêu ở chỗ chị có thai nhưng không thể giữ được đứa bé.

Lấy nhau được 2 tháng thì chị có tin vui, cả gia đình ai cũng mừng. Thế rồi đùng một cái chị sảy thai. Lúc ấy chị chỉ nghĩ có lẽ do mình làm việc nhiều nên thai bị động. Nhưng đến lần sảy thứ hai thì chị quyết định đi khám. Bác sĩ cho biết chị có cổ tử cung thấp bẩm sinh nên cứ có thai là sảy. Vì thế lần sau khi có thai, chị phải nhập viện để thai nhi lớn lên bình thường.

Bác sĩ Dung cho biết cũng đã có cô gái đến đây khám trước khi làm đám cưới và tỏ ra rất lo lắng, sợ có phải màng trinh của mình dày quá không mà khi thử quan hệ, chồng sắp cưới không thể làm rách nó được. Trò chuyện với bác sĩ cô mới biết hóa ra là tại ‘thằng nhỏ’ của anh ấy không đủ cương cứng để có thể làm rách cái màng mỏng ấy, chứ không phải tại cô.

Những chuyện lấy nhau rồi mới biết chồng yếu sinh lý hoặc chồng (vợ) bị vô sinh hoặc mắc bệnh di truyền không phải là hiếm gặp. Nó không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến tình cảm vợ chồng mà còn kéo theo các yếu tố khác như kinh tế, sức khỏe, tâm lý; lâu dài là ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình.

Điều đáng nói là phần lớn những rắc rối ấy có thể dự phòng được nếu cả hai đi khám sức khỏe trước khi cưới. Thế nhưng thực tế đa số mọi người chỉ đi khám khi thấy mắc bệnh hoặc là sau thời gian dài kết hôn mà không có con, bác sĩ Dung cho biết.

“Các bạn trẻ thường ngại đề cập đến vấn đề này, họ sợ chạm đến lòng tự ái của nhau và cho rằng đó là việc làm không cần thiết. Nhưng thực tế thì điều đó không chỉ giúp giải tỏa những băn khoăn lo lắng trước khi cưới về khả năng có con mà còn là biện pháp giữ gìn và chăm sóc sức khỏe cho bản thân và người bạn đời của mình”, bác sĩ Dung nhấn mạnh.

Khám sức khỏe tiền hôn nhân gồm có xem xét tiền sử bệnh của hai bên, có bệnh về rối loạn tâm thần, bệnh di truyền (hội chứng Down, câm điếc bẩm sinh, ung thư…), bệnh truyền nhiễm, các quan hệ huyết thống, bệnh sử gia đình. Và kiểm tra cả sức khỏe chung, thăm khám cơ quan sinh dục ngoài và trong, tình trạng kinh nguyệt, xuất tinh…

Ngoài ra, theo bác sĩ Dung, cũng cần khám để phát hiện trước những bệnh lây nhiễm qua đường tình dục như lậu, giang mai, HIV/AIDS. Khi mắc những bệnh này thì nên hoãn kết hôn vì có thể lây bệnh cho bạn tình, nếu có thai thì sẽ truyền bệnh cho thai nhi và gây bất thường cho thai nhi.

Suckhoegiadinh.org theo nguồn Vnexpress.net

Không khám sức khỏe định kỳ: Sai lầm!

“Số đông người dân vẫn chưa chú trọng đến việc khám sức khỏe định kỳ. Đó là một sai lầm. Thực ra khi chưa có triệu chứng gây khó chịu hoặc thậm chí còn đang cảm thấy khỏe mạnh thì nhiều bệnh đã có thể đang âm thầm phát triển. Khi phát hiện thì bệnh đã trở nặng, chi phí điều trị cao, cũng có khi bệnh đã đi vào giai đoạn cuối có thể dẫn đến tử vong…”, Ths.BS. Trịnh Thị Diệu, Bệnh viện Đại học Y dược TP.HCM, khẳng định.

Khổ vì quan niệm “xem bói ra ma, quét nhà ra rác”

Theo Ths.BS. Trịnh Thị Diệu Thường, khi cuộc sống tất bật và có quá nhiều lo toan như hiện nay, việc khám sức khỏe định kỳ được nhiều người xem như là một việc làm xa xỉ, lãng phí, tốn thời gian. Đáng lưu tâm hơn, có không ít người lại có quan niệm rằng: “bói ra ma, quét nhà ra rác”. Bác sĩ khám kiểu gì cũng ra bệnh. Đang yên vui bỗng dưng phải sống trong lo sợ, hoang mang vì bệnh tật. Thôi: “Trời kêu ai nấy dạ”. Ths.BS.Trịnh Thị Diệu Thường cho rằng, quan niệm như vậy là sai lầm. Có nhiều bệnh nguy hiểm khi mới mắc thường không có biểu hiện gì bất thường. Tuy nhiên, khi phát hiện ra với những triệu chứng điển hình thì bệnh đã ở vào giai đoạn rất nặng.

 

 Cần đi khám sức khỏe định kỳ để tầm soát và phát hiện sớm bệnh

Anh Võ Thành N. 36 tuổi, ngụ tại quận Phú Nhuận, TP.HCM, đã phải thay đổi ngay quan niệm “bói ra ma, quét nhà ra rác” sau một lần bị bệnh “thập tử nhất sinh”. Anh rùng mình kể lại: trước đây anh thường bị ho, tức ngực. Mỗi lần như vậy anh lại tự ý đi mua thuốc ở nhà thuốc về uống. Cũng có một vài lần uống thuốc mãi không hết, anh đi khám bác sĩ. Bác sĩ ghi trên toa thuốc anh bị viêm phế quản. Dù bị như vậy nhưng mỗi năm khi công ty anh tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho nhân viên anh vẫn tự rút tên mình ra khỏi danh sách. Lý do là, sợ biết mình mắc bệnh lắm, kiểu gì đi khám, bác sĩ chẳng phán anh bị bệnh này bệnh nọ. Vào giữa năm 2010, anh bị ho dữ dội, khó thở và đầu óc thấy lơ mơ. Anh không nhớ mình nói gì, làm gì và đang ở đâu. Vào cấp cứu tại BV. Phạm Ngọc Thạch, anh được chẩn đoán bị lao phổi. Phát hiện bệnh trễ nên anh đã bị biến chứng lên não. Sau khi may mắn chữa khỏi bệnh, giờ anh là người đầu tiên ở công ty đăng ký khám sức khỏe định kỳ.

Ths.BS. Trịnh Thị Diệu Thường cho biết, khám sức khỏe định kỳ là việc làm rất quan trọng, giúp mỗi người phòng và phát hiện bệnh sớm, bảo vệ sức khỏe và nâng cao chất lượng cuộc sống. Đây cũng là dịp để có được cái nhìn tổng quát về sức khỏe bản thân, tránh được các lo lắng không cần thiết. Tuy nhiên, rất ít người ý thức được sự cần thiết của công việc này. Chẳng hạn, số liệu thống kê cho thấy, ở Việt Nam có khoảng 42 – 64% số phụ nữ trong độ tuổi sinh sản bị bệnh viêm nhiễm phụ khoa. Song hầu hết mọi người chỉ đi khám khi có bệnh mà không hề chủ động thăm khám định kỳ. Báo cáo của BV. Nội tiết Trung ương cho thấy có tới 65% số bệnh nhân bị mắc bệnh đái tháo đường mà hoàn toàn không biết mình đang bị bệnh. Như vậy sẽ rất nguy hiểm khi bệnh đã diễn tiến nặng và có nhiều biến chứng. Trong khi đó, nếu khám sức khỏe định kỳ hàng năm thì bệnh đái tháo đường sẽ được chẩn đoán sớm và chỉ bằng một xét nghiệm đơn giản.

Phát hiện nhiều bệnh nguy hiểm

Ths. Diệu Thường cho rằng, khám sức khỏe định kỳ có thể phát hiện ra nhiều bệnh nguy hiểm như bệnh lao, tim mạch, các rối loạn chức năng hô hấp, cao huyết áp, ung thư phổi, dạ dày, vòm họng hay bệnh viêm gan siêu vi. Thường xuyên thăm khám sức khỏe kèm theo các xét nghiệm sẽ giúp phát hiện ra mình có nhiễm vi rút viêm gan: viêm gan siêu vi A, viêm gan siêu vi B, viêm gan siêu vi C hay không. Như vậy sẽ tránh được hậu quả là khi phát hiện ra bệnh thì đã có biến chứng xơ gan hay ung thư gan. Khám sức khỏe định kỳ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc phát hiện các bệnh ung thư. Trong giai đoạn đầu, bệnh ung thư thường không có biểu hiện triệu chứng gì cả, tuy nhiên có những nhóm bệnh có nguy cơ ung thư cao cần phải đặc biệt chú ý.

Với các chị em phụ nữ, cần đi khám để phát hiện sớm và chữa trị các bệnh phụ khoa như viêm âm đạo, viêm nội mạc tử cung, viêm buồng trứng, viêm ống dẫn trứng, u xơ tử cung nhằm tránh các di chứng nặng nề như viêm dính vòi trứng, gây vô sinh hoặc thai ngoài tử cung và đặc biệt là ung thư cổ tử cung. Phụ nữ đã có quan hệ tình dục nên khám phụ khoa để phát hiện ung thư cổ tử cung ít nhất 3 năm/lần cho đến lúc 69 tuổi. Một xét nghiệm PAP (phết tế bào cổ tử cung) đơn giản có thể giúp phát hiện các tổn thương tiền ung thư của tế báo cổ tử cung. Các xét nghiệm máu về HPV (một siêu vi ở người có thể gây ra ung thư cổ tử cung) cũng có ý nghĩa tầm soát quan trọng.

Ths.BS. Trịnh Thị Diệu Thường khuyến cáo, để có hiệu quả tối đa cho mỗi lần khám định kỳ, cần chuẩn bị trước các thông tin để cung cấp cho bác sĩ khi đi khám bệnh như: tiền sử bệnh của bản thân (những lý do bị bệnh hay bị mổ, đã từng phải cấp cứu, những năm tháng đã có sự cố sức khoẻ, nếu có thể bản sao các xét nghiệm đã làm, biên bản phẫu thuật…); tiền sử bệnh của gia đình (bệnh tim, ung thư, cao huyết áp, đái tháo đường… mà người thân trong gia đình đã mắc, độ tuổi mắc bệnh và nếu có thể cả lý do tử vong); những thuốc thường dùng; những phản ứng của thuốc; đã tiêm chủng những bệnh gì… Có một vấn đề cần đặc biệt lưu tâm là nếu có bất kỳ một triệu chứng khó chịu nào đó, cần phải đi khám ở cơ sở y tế ngay không được chờ đến dịp khám sức khỏe định kỳ.

Mọi chi tiết về thông tin khám sức khỏe, xin vui lòng liên hệ:

PHÒNG KHÁM ĐA KHOA CHAC

Địa chỉ: Số 10 Lý Thường Kiệt, Phường 7, Quận 10, TP.HCM

Tel: (08) 39 574 933 – Fax: (08) 39 57 31 78

 

Viêm họng đỏ thực chất là viêm niêm mạc họng cấp tính hoặc viêm amiđan cấp tính hay gặp vào mùa lạnh, khi thời tiết thay đổi. Viêm họng cấp tính là loại bệnh khá phổ biến, có thể xuất hiện riêng biệt, nhưng thường gặp xuất hiện với các bệnh: viêm VA, viêm amiđan, bệnh phát ban, cúm, sởi, bạch hầu, ho gà, vincent hoặc một số bệnh máu.

Nguyên nhân có thể do virut (cúm, sởi) hay vi khuẩn (phế cầu, liên cầu hoặc các vi khuẩn khác sẵn có ở họng).

Khi bị viêm họng đỏ người bệnh thường có các triệu chứng như: sốt cao 390C- 400C, nhức đầu, đau mình, đau họng, ngạt tắc mũi hoặc chảy nước mũi nhày, ăn ngủ kém…

Bệnh diễn biến trong 3 – 4 ngày, nếu sức đề kháng tốt bệnh sẽ lui dần các triệu chứng trên sẽ mất đi rất nhanh. Nhưng nếu có bội nhiễm do liên cầu, tụ cầu, phế cầu dễ dẫn đến các biến chứng như viêm tai, viêm mũi hay viêm phế quản.

 Hình ảnh viêm họng đỏ. Ảnh: TL

Để điều trị bệnh viêm họng đỏ có thể dùng các thuốc sau: Dùng thuốc hạ sốt, giảm đau như: paracetamol, aspirin… Cần chú ý đối với những người có tiền sử bị loét dạ dày tá tràng không nên dùng thuốc hạ sốt aspirrin (vì một trong những tác dụng phụ của aspirin là gây viêm loét dạ dày tá tràng). Chống đau họng bằng cách súc họng hàng ngày bằng các dung dịch: nước muối, dung dịch clorat kali 1% hoặc BBM; trẻ em bôi họng bằng glyxerin borat 5%. Dùng thuốc nhỏ mũi argyron 1% để chống xuất tiết mũi (nếu có) nhưng chỉ dùng tối đa 3 ngày. Có thể điều trị khí dung họng bằng kháng sinh phối hợp với corticoid.  Trường hợp có bội nhiễm hoặc nguyên nhân do vi khuẩn dùng kháng sinh đường uống (toàn thân). Người bệnh cần được nghỉ ngơi, giữ ấm.

Để phòng bệnh không dùng chung khăn mặt, bát đĩa cốc chén với người bệnh. Nhỏ nước muối sinh lý hoặc nước tỏi pha loãng khi xung quanh có nhiều người viêm họng cấp tính. Cắt amiđan khi bị viêm tái phát nhiều lần.

Skđs

Có rất nhiều người bị viêm họng uống hết kháng sinh này đến kháng sinh khác nhưng bệnh vẫn không hết. Theo lý giải của PGS.TS.BS Đặng Xuân Hùng – Trưởng khoa tai mũi họng, BV. Cấp cứu Trung Vương, với những bệnh nhân này, viêm họng là biểu hiện của nhiều bệnh lý nguy hiểm khác.

Uống bao nhiêu thuốc… đau vẫn hoàn đau!

Ho, đau họng, khàn tiếng anh Hoàng Tiến Nam được bác sĩ chẩn đoán bị viêm họng. Anh uống thuốc 10 ngày thì hết bệnh. Nhưng khoảng nửa tháng sau anh lại bị ho, họng sưng tấy, khi nuốt đồ ăn nước uống luôn có cảm giác như có gì đó chèn ngang họng bác sĩ lại chẩn đoán anh bị viêm họng, uống 15 ngày thuốc anh đỡ bệnh. Nhưng một thời gian sau anh lại bị lại. Chỉ đến khi bác sĩ tiến hành nội soi mới phát hiện anh bị bệnh trào ngược dạ dày.

 

Cổ họng đau rát, nuốt nước cũng đau anh Nguyễn Minh Nhật đi khám bác sĩ thì được biết bị viêm họng. Anh uống thuốc 2 tuần, bệnh có giảm hơn nhưng ngay sau đó bệnh lại tái phát. Anh Nhật lại tiếp tục uống thuốc viêm họng. Bệnh hết. Nhưng không lâu sau đó tình trạng bệnh cũ lại xuất hiện. Mãi sau này anh Nhật mới được phát hiện là bị viêm xoang.

Chị Mỹ L. họng sưng, đỏ, mưng mủ bác sĩ cho rằng chị bị viêm họng rồi kê đơn thuốc. Bệnh không thuyên giảm, bác sĩ đổi thuốc cho chị. Hết thuốc đau vẫn hoàn đau. Chị L. bần thần khi kết quả xét nghiệm cho thấy chị mắc bệnh lậu vì “quan hệ” bằng miệng.

PGS.TS.BS. Đặng Xuân Hùng cho biết, viêm họng là viêm hệ thống niêm mạc họng. Có 3 loại viêm họng viêm họng mũi, viêm họng miệng và viêm họng thanh quản. Viêm họng mũi là do môi trường, viêm họng miệng là do nói nhiều và viêm họng thanh quản là do hội chứng trào ngược dạ dày – thực quản. Theo PGS. Đặng Xuân Hùng, viêm họng do nhiều nguyên nhân như siêu vi, vi trùng hoặc nấm. Trong đó, trên 80% do siêu vi, chỉ có một số nhỏ do nhiễm trùng.
Tuy nhiên, rất nhiều người cứ nghĩ viêm họng là do nhiễm trùng nên dùng kháng sinh. Điều này rất nguy hiểm, nếu viêm mũi họng do siêu vi dùng kháng sinh sẽ dẫn đến rối loạn nội tiết. Thực tế, trong điều trị bệnh viêm mũi họng điều quan trọng chưa phải là kháng sinh mà quan trọng nhất là “tổng vệ sinh” tai mũi họng. Cụ thể, cần có chế độ vệ sinh hàng ngày như súc họng bằng nước muối sinh lý; súc rửa mũi 1 – 2 lần bằng nước biển sâu và nhỏ nước rửa tai.

Hậu quả khó lường

TS.BS. Nguyễn Anh Tuấn (Bộ môn Nhi – ĐH Y Dược TP.HCM), thư ký Chi hội Tiêu hóa nhi Việt Nam cho biết, rất nhiều người bị bệnh trào ngược dạ dày – thực quản ảnh hưởng đến hệ hô hấp, bị viêm họng. Trong những trường hợp bị viêm họng do bệnh trào ngược nếu không điều trị bệnh trào ngược thì bệnh viêm họng sẽ không khỏi và tái phát nhiều lần. Riêng bệnh trào ngược nếu không được điều trị sớm sẽ dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm.
Theo TS. Nguyễn Anh Tuấn, các biến chứng của bệnh trào ngược có thể thấy ngay ở đường tiêu hóa mà cơ quan gần nhất phải gánh chịu là thực quản. Thực quản sẽ bị viêm với nhiều mức độ khác nhau gây ảnh hưởng đến việc ăn uống và biến chứng nặng nề nhất lên thực quản là “thực quản Barrett”, là tình trạng thực quản bị viêm chít hẹp lại, gây khó khăn cho sự lưu thông thức ăn từ trên xuống.

Người bệnh dễ bị ho, khò khè kéo dài mà không đáp ứng với các điều trị thông thường. Hoặc bị khàn tiếng do dây thanh trong cổ họng bị dày lên, hậu quả của tình trạng dịch acid ở dạ dày trào vào vùng hầu họng. Gần đây, các nhà khoa học cũng đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra mối liên quan mật thiết ở những người bị bệnh trào ngược dạ dày – thực quản và tình trạng hen suyễn. Ngoài ra, người bị bệnh trào ngược có thể bị mòn răng, viêm tai, viêm xoang, sụt cân, suy dinh dưỡng…

PGS. Đặng Xuân Hùng khuyến cáo, để điều trị triệt để bệnh viêm họng cần phải khám, tìm hiểu xem nguyên nhân từ đâu như vậy mới mong chữa khỏi bệnh và tránh bị các biến chứng nguy hiểm.

Skđs

Nhiễm độc tai trong là hiện tượng tổn thương hàng loạt các bộ phận của tai trong như thần kinh thính giác, ốc tai, tiền đình, ống bán khuyên, thạch nhĩ của tai trong do hóa chất, thuốc, độc tố của vi khuẩn, virut. Đây là loại nhiễm độc rất nguy hiểm, có thể gây điếc không hồi phục nên biện pháp phòng tránh được đặt lên hàng đầu.

Độc tố là nguyên nhân chính gây nhiễm độc tai trong

Các độc tố tác động lên tai trong, phá hủy cấu trúc của thần kinh và hệ thống thăng bằng gây ra nghe kém (thể tiếp nhận), mất thăng bằng, ù tai, chóng mặt. Các tổn thương này ở mức độ khác nhau tùy theo chất gây nhiễm độc và mức độ nhạy cảm của từng cá thể. Hơn 100 loại thuốc gây ra ngộ độc tai trong, bao gồm nhóm aminoglycoside và thuốc kháng sinh khác, muối của platin, salicylat, quinin, thuốc lợi tiểu vòng lặp hoặc do nhiễm độc rượu, thuốc lá, cholesterol máu cao, acid uric máu cao, ure máu cao, đường máu cao, do vỡ mạch, co thắt mạch máu tai trong, do dị ứng. Tổn thương thần kinh do viêm màng não, giang mai, do virut (zona), do u thần kinh… Tổn thương trung tâm thính giác ở vỏ não do u não, áp-xe não, thương tổn não ở vùng nhân tiếp nhận âm thanh, ở vỏ não. Ngoài ra, một số yếu tố có thể làm bệnh nhân có nguy cơ cao nhiễm độc ốc tai như bệnh nhân cao tuổi, những người có suy thận, những người có vấn đề về thính giác tồn tại từ trước, những người có tiền sử gia đình có người bị nhiễm độc. Nhiễm độc tai trong thường tổn thương ở cả hai bên, không có khả năng hồi phục.

Các dấu hiệu nhận biết nhiễm độc tai trong

Biểu hiện nhiễm độc tai trong cấp tính do thuốc là dấu hiệu ù tai, chóng mặt và nghe kém xuất hiện. Thời gian khởi phát thường không thể đoán trước, nghe kém có thể xảy ra ngay cả sau khi dùng một liều duy nhất. Ngoài ra, nghe kém có thể không biểu hiện cho đến khi một vài tuần hoặc vài tháng sau khi kết thúc điều trị thuốc. Giai đoạn đầu nghe kém ở tần số cao (>4.000Hz). Nghe kém tiến triển nặng dần rồi xuất hiện ở cả tần số thấp và có thể điếc hoàn toàn.

Điều trị ngộ độc tai

Để điều trị bệnh, cần ngừng ngay thuốc hoặc hóa chất đang sử dụng nếu phát hiện có biểu hiện của ngộ độc cho tai. Cách khắc phục duy nhất đối với những trường hợp bị nhiễm độc tai là sử dụng máy nghe hoặc cấy điện cực ốc tai nên việc phòng chống là cần thiết. Biện pháp phòng chống chính là cân nhắc các rủi ro đối với người sử dụng aminoglycoside. Xác định người có nguy cơ cao và chọn kháng sinh thay thế. Theo dõi bệnh nhân đến 6 tháng sau khi ngưng điều trị. Đánh giá nồng độ thuốc trong huyết thanh và chức năng thận trước, trong và sau khi điều trị. Đo thính lực trước khi điều trị.

ThS.Phạm Bích Đào – skđs

Hiện nay số bệnh nhân bị áp-xe quanh amidan đến viện khám tương đối đông, tăng nhiều so với cùng thời điểm năm ngoái. Những người bệnh này đến khám và thường có những thắc mắc về bệnh như áp-xe quanh amidan là gì? Liệu áp-xe quanh amidan có nguy hiểm hay không? Để có thể phòng tránh được căn bệnh này cần phải làm gì? Tại sao giai đoạn thời tiết lạnh nóng thất thường lại hay gặp áp-xe quanh amidan?

Áp-xe quanh amidan là hiện tượng viêm tấy, hóa mủ tổ chức liên kết lỏng lẻo nằm quanh amidan – giữa amidan và thành bên họng. Người bệnh được phát hiện bị áp-xe quanh amidan thường là trẻ lớn và người lớn.

Nguyên nhân hay gặp của áp-xe quanh amidan là do viêm amidan cấp mủ không được điều trị hoặc vì độc tố vi khuẩn cao hoặc tại vi khuẩn kháng lại thuốc kháng sinh mà người bệnh sử dụng. Vi khuẩn gây áp-xe quanh amidan được xác định khi lấy mủ của khối áp-xe đi nuôi cấy. Người ta thấy sự xuất hiện của vi khuẩn gây bệnh trong những trường hợp này là tụ cầu, liên cầu, xoắn khuẩn, vi khuẩn kị khí và ái khí, trong đó có liên cầu bêta tan huyết nhóm A.

Viêm amidan lại là loại bệnh hay gặp trong giai đoạn chuyển mùa, do đó kéo theo sự gia tăng của áp-xe quanh amidan khi thời tiết thay đổi.

Viêm amidan là nhóm bệnh hay gặp, đứng hàng đầu trong những bệnh lý về họng, tỷ lệ viêm amidan chiếm khoảng 10% dân số. Bệnh biểu hiện cấp tính hay mạn tính tuy nhiên đây là bệnh rất hay tái phát và có thể gây các biến chứng nguy hiểm, nhất là trong các đợt cấp, mà áp-xe quanh amidan là một trong số các biến chứng đó.

Áp-xe quanh amidan xuất hiện khi nào?

Một áp-xe quanh amidan điển hình xuất hiện sau viêm amidan cấp khoảng 5-7 ngày. Bạn có thể nghĩ đến bản thân bị áp-xe quanh amidan nếu thấy đau họng liên tục trong khi vẫn đang được sử dụng kháng sinh, mức độ đau tại họng giảm trong một hai ngày đầu sau đó lại tăng lên ngày một nặng. Đặc điểm đau họng trong áp-xe quanh amidan là đau lan lên tai khi nuốt, đau nhức vùng góc hàm. Đi kèm theo là sốt 39-40oC, gai rét, rất mệt mỏi. Môi khô, rêu lưỡi dày có nhiều giả mạc trắng đục trên bề mặt. Sau đó người bệnh bắt đầu cảm thấy nuốt khó, nước bọt chảy nhiều, bẩn, hơi thở hôi, thối. Giọng nói bị thay đổi, trở nên đầy đầy, khó nghe, giọng như ngậm thị do eo họng bị thu hẹp. Giai đoạn muộn khi khối áp-xe lan ra vùng cơ cắn sẽ gây ra hiện tượng khít hàm. Có thể có khó thở khi khối áp -xe lấp kín họng miệng rồi lan dần xuống họng thanh quản.

Khám phát hiện áp-xe amidan.

Phát hiện bệnh sớm – Điều trị chóng khỏi

Lúc này, nếu bệnh nhân được thăm khám sẽ thấy amidan một bên sưng to, đỏ, bề mặt amidan có mủ trắng nhưng dễ lấy bỏ. Phần trước của amidan căng phồng, niêm mạc phù nề. Amidan bị đẩy lệch vào trong và ra sau hoặc ra trước tùy theo thể áp-xe amidan. Lưỡi gà mọng nước, di động kém. Áp-xe amidan thường bị một bên. Hạch cùng bên cũng sưng to, ấn đau do phản ứng viêm lan tới hạch. Cũng giống như những viêm nhiễm thông thường, xét nghiệm máu sẽ thấy bạch cầu đa nhân trung tính tăng cao.

Dùng kim chọc dò vào chỗ phồng nhất ở mặt trước của amidan xem có mủ hay không. Đây là biện pháp vừa để chẩn đoán và vừa để điều trị. Mủ lấy ra được đem đi nuôi cấy tìm vi khuẩn và loại kháng sinh đồ thích hợp nhất, giúp điều trị có hiệu quả. Nếu đã áp-xe quanh amidan thì việc trích rạch khối áp-xe dẫn lưu mủ là bắt buộc, giữ cho vết rạch luôn mở khoảng 3 ngày. Điều trị nội khoa bằng kháng sinh kết hợp theo kháng sinh đồ, chống cả vi khuẩn hiếu khí và kị khí đường tiêm truyền, hạ sốt, giảm đau, chống viêm. Thời gian điều trị kéo dài ít nhất 10 ngày. Bệnh nhân có chỉ định cắt amidan sau khi hết dấu hiệu viêm nhiễm tại chỗ và toàn thân khoảng một tháng. Áp-xe quanh amidan nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời có thể gây viêm tấy lan tỏa khoang sau tạng, áp-xe lan vào trung thất, phổi, nhiễm khuẩn huyết, thậm chí tử vong do đó rất nguy hiểm.

Giai đoạn trung gian giữa viêm amidan cấp và áp-xe quanh amidan là viêm tấy quanh amidan. Việc phát hiện bệnh nhân trong giai đoạn này, trước khi xuất hiện áp-xe quanh amidan có ý nghĩa rất quan trọng, tránh cho bệnh nhân phải can thiệp thủ thuật, thời gian điều trị được rút ngắn. Giai đoạn viêm tấy quanh amidan chỉ cần sử dụng kháng sinh, chống viêm liều cao đường uống hoặc tiêm đồng thời hạ sốt, giảm đau tốt cho bệnh nhân trong khoảng một tuần.

Phòng bệnh

Bệnh nhân cần thực hiện điều trị viêm amidan cấp hay mạn tính theo đúng chỉ định của thầy thuốc chuyên khoa. Không nên tự ý mua thuốc về sử dụng hoặc sử dụng không đúng thuốc, cách dùng cũng như thời gian uống mà bác sĩ đã kê đơn. Giữ họng thường xuyên sạch bằng cách súc họng hàng ngày bằng những thuốc có tính kiềm nhẹ, ăn uống hợp vệ sinh…

ThS.BS. Phạm Bích Đào – skđs

Ù tai, điếc tai, tai nghễnh ngãng y học cổ truyền gọi là chứng nhĩ lung là bệnh rất thường gặp đặc biệt là ở người già, 80% những người trên 75 tuổi mắc chứng này và thường đi kèm theo các triệu chứng khác như đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, mất ngủ

Nguyên nhân là do bệnh lý ở tai như viêm nhiễm…, do dây thần kinh thính giác bị co hẹp làm rối loạn mạch máu nuôi vùng tai hoặc do các tác dụng phụ của thuốc như m ột số thuốc kháng sinh, aspirin; do phải thường xuyên tiếp xúc với tiếng ồn trong thời gian dài; nhưng chủ yếu là do viêm nhiễm mạn tính, do tuổi tác và  ảnh hưởng của bệnh tim mạch, tăng huyết áp, đái tháo đường… Biểu hiện là người bệnh thấy tai như có tiếng ve kêu, nhiều lúc cảm giác như có gió rít trong tai, về đêm to hơn gây khó ngủ, tai nghe kém dần, có thể bị một hay cả hai bên tai, kèm theo người bệnh thấy lưng mỏi yếu, mắt mờ… Khi tình trạng này kéo dài sẽ ảnh hưởng tới giấc ngủ, khả năng tập trung dẫn đến mệt mỏi, suy nhược cơ thể.  Những người cao tuổi mắc bệnh này thường bi quan, xa lánh mọi người do gặp khó khăn  khi giao tiếp, khiến cho con cháu, bạn bè ít muốn trò chuyện. Theo y học cổ truyền, ù tai, điếc tai  liên quan trực tiếp đến tạng thận. Để điều trị, ngoài các trường hợp tổn thương thực thể ở tai cần phải điều trị theo chuyên khoa, còn lại có thể dùng các biện pháp của đông y như thuốc  sắc, châm cứu, xoa bóp, dưỡng sinh… rất  hiệu quả. Xin được giới thiệu cách tự xoa bóp bấm huyệt nhằm mục đích bổ thận, thông tai, tăng cường thính lực để bạn đọc tham khảo vận dụng. Nên kiên trì thực hiện, mỗi ngày làm từ 1 – 2 lần, mỗi lần khoảng 15 – 20 phút.

Day huyệt phong trì.

Day huyệt thính cung: Dùng ngón tay trỏ hoặc ngón giữa đồng thời ấn vào huyệt thính cung hai bên tai và day trong 1-2 phút.

Day huyệt ế phong: Dùng 2 ngón tay trỏ hoặc ngón giữa đồng thời ấn vào huyệt ế phong hai bên tai và day trong 1-2 phút.

Day huyệt phong trì: dùng hai ngón tay cái ấn vào huyệt phong trì và day khoảng 1-2 phút.

Xoa xát thắt lưng: Hai tay vòng ra sau lưng, hai lòng bàn tay xoa xát khối cơ cạnh hai bên cột sống thắt lưng cho tới khi nóng lên thì thôi.

Xoa thắt lưng.

Day huyệt thái khê:

Dùng hai ngón tay cái bấm huyệt thái khê và day  trong 1 – 2 phút.

Đặt hai lòng bàn tay lên hai tai, từ từ xoa vành tai theo hình tròn trong 1 phút sao cho hai tai có cảm giác nóng lên là được. Tiếp theo dùng ngón tay giữa bịt vào lỗ tai rồi kéo ra, làm nhanh lặp đi lặp lại khoảng 50 lần (nên rửa tay sạch, móng tay cắt ngắn tránh gây tổn thương tai).

Gõ trống tai: Hai bàn tay khum lại, úp lòng bàn tay vào hai bên tai, các ngón tay xuôi về phía sau, ấn thành nhịp một nặng một nhẹ, làm như vậy 30 lần. Sau đó dùng hai ngón trỏ và giữa gõ vào phía sau tai 30 lần.

Lưu ý:

Chú ý giữ vệ sinh tai tránh các viêm nhiễm  hoặc khi lấy ráy tai  không đúng cách gây tổn thương tai.

Nếu mắc các bệnh như xơ vữa động mạch, tăng huyết áp, đái tháo đường, viêm thận mạn,… nên điều trị  sớm.

Khi dùng thuốc nên lưu ý tới các tác dụng phụ tránh gây tổn thương thần kinh thính giác.

Nên tránh nơi quá ồn ào, náo nhiệt.

Lương y Đình Thuấn – skđs

Những triệu chứng sớm nào báo hiệu bệnh hen suyễn tái phát? Khi nào cần gọi bác sĩ?…

Triệu chứng cơn hen:

– Thắt ngực hay áp lực lồng ngực gia tăng

– Thở gấp

– Thở khò khè (tiếng rít phát ra khi thở ra)

– Ho, đặc biệt là về đêm

Những dấu hiệu sớm cho thấy 1 cơn hen sắp bắt đầu:

– Bắt đầu ho

– Họ thường xuyên, đặc biệt là về đêm

– Cần dùng tới thuốc xịt thông mũi

– Không thể thở

Gọi bác sĩ nếu:

– Bạn hay người nào đó đang trong giai đoạn đầu lên cơ hen. Bởi bệnh sẽ nhanh chóng trở nên nghiêm trọng nếu  không được điều trị nhanh và thích hợp.

– Thuốc hỗ trợ thở (thường là albuterol) không hiệu quả (không làm giảm triệu chứng trong vòng 20 phút).

– Bạn hay ai đó bị hen mà không thể nói trọn vẹn 1 câu. Một số các biểu hiện khác lỗ mũi loe ra, vùng da ở khu vực xương sườn bị hút chặt vào sau mỗi hơi thở; môi hay da dưới móng tay trở nên xám hay xanh xanh. Đây là những dấu hiệu cho thấy bệnh nhân thiếu ôxy, cần gọi cấp cứu ngay lập tức.

 Theo WebMD/Dân trí

Trời nắng nóng trên 30oC, số trẻ ốm sốt sẽ tăng cao trong vài ngày tới, đặc biệt với những trẻ vốn có cơ địa dị ứng rất dễ tái phát.

Hen, sốt virus rất “hợp” kiểu thời tiết này

Theo PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng, trưởng khoa Nhi (Bệnh viện Bạch Mai), thời tiết nồm ẩm như hiện nay là môi trường lý tưởng cho virus sinh sôi, phát triển, nên số ca nhập viện sẽ tăng lên nhanh chóng trong một vài ngày tới.

Kiểu thời tiết này đặc biệt “hợp” với những bệnh lý có liên quan đến cơ địa dị ứng, các bệnh lý mãn tính như hen phế quản, dị ứng, mề đay… . Theo kinh nghiệm của TS Dũng, năm nào cũng vậy, cứ khi thời tiết chuyển nóng, nồm khiến nhà cửa ẩm ướt, đồ đạc, chân tường ở những nhà dưới thấp mốc meo… thì cũng là lúc những trẻ bị hen phải nhập viện điều trị khá cao, do dị nguyên nấm mốc, virus trong môi trường gây nên.
Bệnh nhi tới khám chủ yếu là mắc các bệnh hô hấp, dị ứng, hen phế quản, sốt virus (Ảnh: H.Hải)
Dù mới đầu năm, nhưng tại Bệnh viện Nhi TƯ, khoa Nhi (bệnh viện Bạch Mai) đang trở nên quá tải với lượng bệnh nhi tăng vọt. TS Đào Minh Tuấn, trưởng khoa Hô hấp, bệnh viện Nhi TƯ cho biết, riêng số bệnh nhi mắc các bệnh về đường hô hấp đến khám trong hai ngày 25-26/2 đã tăng thêm khoảng 20-30% so với ngày thường (500-700 trẻ/ngày). Số ca bệnh nặng phải nhập viện điều trị cũng tăng cao với mật độ giường sử dụng lên đến 300%.
Còn tại khoa nhi, có 50 giường bệnh thì cả 50 giường đều đã kín chỗ, trong đó vẫn tiếp tục có các bệnh nhân sau nghỉ Tết nhập viện trở lại để điều trị, nên cảnh nằm ghép giường cũng khó tránh khỏi. “Nhất là trong vài ngày tới, số bệnh nhi mắc các bệnh hô hấp, liên quan đến cơ địa dị ứng sẽ con tăng mạnh hơn nếu nắng nóng, nồm ẩm vẫn kéo dài”, TS Dũng tiên lượng.

Làm khô phòng ốc, quần áo

Để ứng phó với thời tiết không hề đơn giản, nhưng vẫn có thể thực hiện được để phòng bệnh cho trẻ. Những điều này không có gì đặc biệt, mà chỉ là sự chú ý rất nhỏ nhặt đến những vật dụng, môi trường sống quanh trẻ. Đặc biệt với những trẻ có cơ địa dị ứng, hen phế quản như đã nói ở trên.

TS Dũng lưu ý, hiện tượng trời nồm như hiện nay không chỉ làm sàn nhà ẩm ướt, khó chịu mà chính là môi trường để nấm mốc, virus, vi khuẩn sinh sôi phát triển. Đáng nói, nấm mốc không chỉ thể hiện ra ở những vết rêu mốc trên tường, sân nhà… mà nó có thể lơ lửng trong không khí mà mắt thường không nhìn thấy được, bám vào quần áo, sách vở, chăn chiếu…

Vì thế, với những vật dụng mà trẻ hay tiếp xúc cần giặt giũ thường xuyên, phơi phóng khô ráo. Trong phòng ngủ của trẻ nên dùng máy hút ẩm, quần áo khi mặc nên sấy, là khô lại nhằm loại bỏ những dị nguyên có thể gây cơn hen phế quản cho trẻ. Trong phòng cũng không nên sử dụng thảm trải sàn. Đặc biệt cần chú ý tới những tủ sách lâu năm trong gia đình. Đã có rất nhiều trường hợp lên cơn hen cấp tính phải nhập viện, sau khi cho trẻ chơi, đọc những quyển sách đó khiến trẻ hít phải bụi, mốc từ sách và lên cơn hen.

Đặc biệt cần chú ý đến những trẻ trong lứa tuổi mẫu giáu, nhà trẻ. Vì ngoài những nguy cơ đã nói trên do môi trường, thời tiết, thì ở trên lớp học, trẻ còn thêm nguy cơ do phải tiếp xúc với nhiều người. Có những trẻ thì biểu hiện bệnh ra ngoài, nhưng cũng nhiều trường hợp trẻ ủ bệnh chưa biểu hiện ra, tiếp xúc gần với các trẻ này nguy cơ lây nhiễm các bệnh đường hô hấp là rất cao.

Do đó, ở lớp cần giữ vệ sinh sạch sẽ cho trẻ, phòng ốc khô ráo. Dụng cụ vệ sinh như khăn mặt, chăn chiếu nên dùng riêng. Trẻ bị ốm không nên đưa tới lớp để tránh lây lan cho các bệnh nhân khác.

“Trẻ em là đối tượng “nhạy” với thời tiết nhất, nên rất dễ nhiễm bệnh. Vì thế, cha mẹ cần thường xuyên kiểm tra phản ứng cơ thế của trẻ. Trẻ cần được uống đủ nước và ăn đồ ăn dễ tiêu hoá, ăn nhiều hoa quả để tăng sức đề kháng, phòng bệnh”.
Theo Dân trí