Khi bạn khát, một cốc nước trong lành mát rượi sẽ làm tan hết mọi mệt mỏi trong người, nhưng có một điều bạn không biết đó là sự hiện diện của những vi sinh vật ẩn chứa trong nguồn nước tưởng chừng trong lành ấy sẽ gây nhiều triệu chứng nguy hiểm: tiêu chảy, nôn, sốt cao…

Khuẩn Cryptosporidium

Tại hầu hết các thành phố, người dân đều đã có nguồn nước sạch phục vụ nhu cầu sinh hoạt, ăn uống. Nguồn nước lấy từ hồ và sông sẽ được lọc, khử khuẩn trước khi đến từng hộ gia đình. Tuy nhiên, ngay cả những kỹ thuật lọc tiên tiến nhất cũng không thể diệt 100% vi khuẩn, vi sinh vật tồn tại trong nước. Điển hình là Cryptosporidium, đây là nguyên sinh động vật đơn bào và là nguyên nhân chính gây ra bệnh tiêu chảy ở người. Suốt giai đoạn phát triển, Cryptosporidium được bao bọc bởi một lớp vỏ cứng gọi là nang bào, nang này có sức kháng chịu cao đối với quá trình khử khuẩn và các phương pháp xử lý nước truyền thống.

Căn bệnh do nhiễm Cryptosporidium có triệu chứng giống như các vấn đề về ruột và các triệu chứng thông thường là tiêu chảy, sụt cân, chuột rút, buồn nôn, mất nước… Trên thế giới, ước tính có khoảng 0,6 – 4,3% dân số nhiễm Cryptosporidium, ở các nước đang phát triển có tỷ lệ người nhiễm căn bệnh này cao hơn.

Những vi sinh vật có hại ẩn chứa trong nước uống 1
 Khuẩn Cryptosporidium.

Vi khuẩn lam Anabaena circinalis

Anabaena circinalis là vi khuẩn lam sống trong các hồ nước ngọt trên thế giới, đặc biệt là Australia, châu Âu, châu Á, New Zealand và Bắc Mỹ. Vi khuẩn lam Anabaena circinalis được coi là sinh vật đa bào đầu tiên trên trái đất. Vi khuẩn lam này được dùng để sản xuất anatoxin – một chất độc thần kinh. Năm 1950, các nhà khoa học đã tìm ra nguyên nhân gây nên cái chết của hàng loạt gia súc trên khắp nước Mỹ chính là Anabaena circinalis trong nguồn nước.

Khuẩn Copepods

Khuẩn Copepods hay còn gọi là khuẩn chân kiếm. Kích thước của chân kiếm có thể phát triển đến 2mm và nó là một giáp xác, giống như một con tôm thu nhỏ. Bạn có thể tìm thấy chúng ở khắp mọi nơi.

Vào năm 2009, một sự kiện xảy ra tại Connecticut Mỹ, người dân tìm thấy hàng ngàn mẫu chân kiếm trong nguồn nước gia đình họ sử dụng. Nhiều người cảm thấy rất kinh sợ và không dám sử dụng nước sinh hoạt, nhưng theo các nhà khoa học, loại chân kiếm này là loại khuẩn có lợi vì chúng thường ăn các chất độc và tiêu hủy các vi khuẩn có hại trong nước.

Khuẩn E.coli

Vi khuẩn E.coli có tên tiếng Anh là Escherichia coli, hay còn gọi là vi khuẩn đại tràng, là một trong những loài vi khuẩn chính ký sinh trong đường ruột vật chủ. Có nhiều loại E.coli, nhưng may mắn là phần lớn chúng vô hại. Tuy nhiên, có một số E.coli có thể gây tiêu chảy và loại phổ biến nhất trong nhóm có hại này là E.coli 0157:H7. Có một số trường hợp, vi khuẩn này gây rối loạn máu và suy thận, thậm chí dẫn đến tử vong.

Khuẩn E.coli xâm nhập cơ thể người thông qua nguồn nước và thức ăn bị ô nhiễm bởi phân người và phân động vật. Chúng ta cũng có thể bị nhiễm E.coli qua tắm sông mà nước bị nhiễm khuẩn hay nước chưa được khử khuẩn.

Ðộc tố nấm mốc

Độc tố nấm mốc hay còn gọi là Mycotoxic, loại này thường được tìm thấy trong lương thực, thực phẩm, các loại hạt ngũ cốc. Tuy nhiên, các nhà khoa học cũng tìm thấy Mycotoxic trong nguồn nước hằng ngày. Nấm mốc sinh sản như phấn hoa trôi nổi trong không khí. Năm 2006, một nghiên cứu đã tiến hành xem xét nồng độ của Mycotoxic trong nước máy và phát hiện tỷ lệ 2,9% độc tố nấm mốc. Tuy nhiên, theo các nhà khoa học, tỷ lệ này khá thấp để có thể dẫn đến tình trạng ô nhiễm và con người bị nhiễm độc do hấp thụ Mycotoxic từ nước máy. Loại độc tố nấm mốc này có hại cho con người ở nồng độ cao hơn.

Naegleria fowleri

Đây là một loại sinh vật đơn bào, sống tự do, thường tìm thấy trong các khu vực nước ngọt, ấm, chẳng hạn như ao, hồ, sông, suối nước nóng. Nó cũng được tìm thấy trong bể bơi không xử lý bằng clo. Mặc dù, Naegleria fowleri không phải là một loại amíp ăn não hoàn toàn nhưng những vi sinh vật này thường được quen gọi là amíp. Theo cảnh báo của các nhà khoa học, amíp sẽ tấn công hệ thống thần kinh của người bằng cách chui qua niêm mạc mũi, phá hủy não. Tuy nhiên, việc nhiễm Naegleria fowleri là rất hiếm, nó không có tác hại nếu bạn hấp thụ qua đường miệng. Thông thường, con đường gây bệnh chủ yếu do bạn bơi qua sông, hồ, bể bơi nhiễm khuẩn và những Naegleria fowleri này xâm nhập cơ thể do bạn hít phải nước.

Vi khuẩn Legionella

Đây là một loại vi khuẩn gây ra 34 ca tử vong ở Mỹ và 221 ca nhiễm khuẩn vào năm 1976. Mỗi năm trên thế giới, loại vi khuẩn này là nguyên nhân gây ra 1.800 trường hợp nhiễm khuẩn vì uống phải nguồn nước ô nhiễm. Các triệu chứng bệnh do vi khuẩn Legionella gây nên: sốt cao (trên 41,50C), mệt mỏi, nôn, tiêu chảy và đau cơ. Tuy nhiên, các nhà khoa học vẫn cho rằng nồng độ Legionella thông thường trong nước vẫn ở dưới mức cảnh báo.

Những vi sinh vật có hại ẩn chứa trong nước uống 2
 Vi khuẩn Legionella.

Nấm mốc Chaetomium

Loại nấm mốc này khá phổ biến trong cuộc sống hàng ngày, nó trôi nổi trong không khí tại những nơi ẩm ướt: sàn nhà, phòng tắm, bếp, nơi rửa bát. Loại Chaetomium này hiếm khi xuất hiện trong nước máy nhưng khi có thêm thành phần này, bạn sẽ cảm thấy nước có vị ngọt hơn. Bào tử Chaetomium không nguy hiểm đến mức các nhà khoa học phải khuyến cáo biện pháp phòng tránh khi bạn uống nước.

Khuẩn Salmonella

Năm 2008, tại Mỹ, nước máy chịu trách nhiệm về 79 ca ngộ độc Salmonella gây sốt và nôn mửa. Những người có hệ miễn dịch yếu như người già rất dễ bị nhiễm khuẩn Salmonella. Loại vi khuẩn này thường xuất hiện trong các thực phẩm như thịt bò, rau bina, thịt gà. Ít khi tìm thấy Salmonella trong nguồn nước uống nhưng thực tế cho thấy bạn nên cẩn trọng khi uống trực tiếp từ nguồn nước sạch tại nhà hay nước máy mà bạn vẫn hoàn toàn tin tưởng là vô trùng.            

Minh Huệ

Bệnh ung thư cho đến nay kết quả điều trị vẫn chưa thực sự khả quan. Trên con đường đi tìm phương pháp điều trị căn bệnh nan y này, các nhà khoa học cũng tìm hiểu xem những nguyên nhân nào đã dẫn tới sự biến đổi phân chia các tế bào bất thường như vậy. Câu trả lời là, ngoài các tác nhân vật lý, hóa chất, môi trường, vi sinh vật, căng thẳng, cảm xúc… thì chế độ dinh dưỡng cũng là một trong những thủ phạm hàng đầu dẫn tới căn bệnh chết người này.

Từ những nghiên cứu, các nhà khoa học đã đưa ra khuyến cáo về việc cần hạn chế các thực phẩm sau đây:

Chất béo: Người dùng quá nhiều chất béo dễ bị ung thư vú, ruột già hơn. Sự liên quan giữa ung thư ruột già với thực phẩm nhiều chất béo đã được giải thích như sau: acid mật (bile acid) có nhiệm vụ tiêu hóa chất béo. Acid này được vi sinh vật clostridia ở ruột tách ra làm nhiều chất, trong đó có 3-methylchola-threne được coi như có khả năng gây ung thư ruột già. Nếu càng ăn nhiều chất béo thì lượng acid mật tiết ra càng cao, lượng 3 – methylchola – threne càng nhiều, nguy cơ ung thư ruột già rất cao. Còn với bệnh ung thư vú thì ăn nhiều chất béo làm tăng prolactin – những chất được coi như “bạn đồng hành” của ung thư vú. 

Những người cùng lúc ăn nhiều chất béo và chất đạm thì nguy cơ ung thư lại càng cao hơn, nhất là ung thư vú, dạ con, thận, ruột già, tụy tạng. 

Rượu: Người nghiện rượu, uống rượu nhiều trong thời gian dài rất dễ bị ung thư miệng, thanh quản, thực quản, cuống họng. Xơ cứng gan vì rượu cũng là một trong nhiều nguyên nhân gây ung thư gan. Ở phụ nữ thường xuyên uống rượu, tỉ lệ mắc ung thư vú cao gấp nhiều lần so với người không uống.

Thuốc lá: Dù không là thực phẩm nhưng thuốc lá gắn liền với thói quen sinh hoạt và được dùng với lượng lớn không kém gì thực phẩm. Đã có nhiều dẫn chứng khoa học về việc thuốc lá là nguyên nhân của nhiều loại ung thư ở cả nam và nữ, nhất là ung thư phổi. Có tới 85% tử vong ung thư phổi là do hút thuốc lá. Hút thuốc lá cũng là nguy cơ ung thư miệng, bọng đái, thận, tụy tạng. Người hít khói thuốc dư cũng chịu nhiều rủi ro cho sức khỏe.

Thực phẩm dư hóa chất diệt sâu bọ: Nhiều nghiên cứu cho thấy, một số thuốc diệt sâu bọ là nguy cơ gây ung thư khi con người tiếp xúc lâu với phân lượng cao, như là hít qua phổi, ngấm qua da hoặc lẫn trong thực phẩm.

Gia vị: Hiện nay có cả vài ba ngàn gia vị thực phẩm được sử dụng để bảo quản, tăng mùi vị và màu sắc cho thực phẩm. Theo quy định thì các gia vị này phải đảm bảo an toàn cho người sử dụng, nhưng trên thực tế không ít cơ sở đã dùng các gia vị rất độc hại cho sức khỏe. Chẳng hạn, đường hóa học cyclamate và saccharin đã được cho là làm tăng nguy cơ ung thư bàng quang vẫn được dùng trên 40 quốc gia. Chất nitrit và nitrat (có trong thực phẩm hun khói) nếu dùng nhiều sẽ gây ung thư gan, ruột già…

7 loại thực phẩm tăng nguy cơ ung thư 1
 Ăn nhiều đồ nướng dễ gây ung thư.

Thực phẩm nướng hoặc chiên: Quá trình chiên kỹ hoặc chiên đi chiên lại nhiều lần sẽ tạo ra sản phẩm phụ gọi là acrylamide. Acrylamide là một khối u chứa chất độc thần kinh mạnh, có tác dụng phụ không chỉ trên não mà cả đối với hệ thống sinh sản, tiêu hóa. Do đó, tốt nhất là hạn chế ăn các món nướng và chiên. 

Thực phẩm bị mốc: Nhiều người thường cho rằng nấm mốc trong thực phẩm khô đơn giản chỉ là một dạng vi sinh vật vô hại, có thể lau rửa sạch mà không ảnh hưởng gì đến chất lượng thực phẩm. Tuy nhiên, theo cảnh báo của các chuyên gia, chính những nấm mốc này lại mang mầm bệnh ung thư nguy hiểm đến tính mạng con người. Gạo, lúa mỳ, đậu, ngô, đậu phộng và các loại thực phẩm khác rất dễ ẩm mốc khi bị ô nhiễm, mốc sẽ sản sinh ra chất độc hại gây ung thư là streptozotocin aflatoxin.        

Ðể hạn chế ung thư, các nhà khoa học đưa ra những lời khuyên hữu ích:

– Ăn nhiều rau quả tươi và các  thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật bởi đây là nguồn cung cấp cho cơ thể các vitamin, khoáng chất và chất xơ cần thiết sẽ giúp cơ thể có được sức đề kháng tốt để chống lại các yếu tố gây ung thư. Mỗi người mỗi ngày nên ăn ít nhất 500g rau tươi và quả chín, nên ăn đa dạng các loại rau xanh, quả tươi để thay đổi khẩu vị và tạo nên sự dồi dào của các vitamin, khoáng chất tự nhiên do chúng mang lại.

– Hạn chế ăn thịt màu đỏ, chất béo và muối trong bữa ăn hằng ngày. Nên chọn lọc thực phẩm ít chất béo, có thể sử dụng các loại sữa đã tách bơ, ăn ít các món chiên, xào, hạn chế ăn mặn tối đa.

– Chất lượng thực phẩm phải được đảm bảo tươi sống, sạch sẽ, hợp vệ sinh. Ăn chín uống sôi. Không chế biến thức ăn ở nhiệt độ cao, nướng rán thực phẩm quá cháy.

– Ðảm bảo cân nặng cơ thể hợp lý: đừng để quá gầy hay quá béo. Thường xuyên rèn luyện thân thể bằng các môn thể thao phù hợp với cân nặng và sức khỏe của mình.

– Không uống rượu bia và các chất kích thích.

BS. Cẩm Nga

Theo hãng tin ITAR-Tass của Nga, ngày 17/8 vừa qua, cụ bà Aida Mendes, 103 tuổi, người ở Macapa, tỉnh Amap, miền Trung Brazil đã lập kỷ lục “xưa nay hiếm”, thực hiện thành công pha nhảy dù ở độ cao gần 3.000m tại khu vực ngã ba biên giới 3 nước Brazil – Argentina – Paraguay cùng với một hướng dẫn viên và một chuyên gia quay camera với thời gian dài 6 phút. Đây là cú nhảy lần thứ hai của cụ Mendes, lần nhảy trước vào dịp sinh nhật thứ 100 của cụ, cách đây gần 3 năm. Trước khi công việc được bắt đầu, cụ Mendes đã được kiểm tra sức khỏe tổng thể, đo huyết áp và xét nghiệm một số thông số kỹ thuật cần thiết. Sau khi thực hiện thành công cú nhảy đặc biệt này, cụ Aida Mendes đã được tư vấn thủ tục để được công nhận Kỷ lục Guinness cho nội dung nhảy dù ở tuổi cao niên nhất. Nghe nói, sau khi thực hiện thành công cú nhảy dù và ngay sau khi chạm đất, cụ Aida Mendes hóm hỉnh: “Trong cuộc sống, mọi người cần dũng cảm, sự can đảm luôn hữu dụng giúp mọi người vượt qua mọi khó khăn, trở ngại”.

KHẮC HÙNG

(Theo ITAR-TASS, 8/2013)

Liệt dây thần kinh VII Ðông y gọi là “khẩu nhãn oa tà”. Ðây là tình trạng trúng phong ở kinh lạc. Nguyên nhân do phong hàn xâm nhập kinh lạc, làm cho khí huyết trở trệ, kinh lạc bế tắc mà gây ra…

Nguyên tắc chữa trị là ôn kinh tán hàn, dẹp phong dưỡng huyết. Bệnh nhân nếu được điều trị sớm, kết hợp các phương pháp trị liệu sẽ đem lại hiệu quả cao.

Thuốc uống: dùng một trong các bài.

Bài 1: phòng phong 10g, kinh giới 12g, lá lốt 12g, nam tục đoạn 16g, đơn đại hoàng 12g, tang ký sinh 16g, quế chi 8g, thiên niên kiện 10g, phòng sâm 12g, hoàng kỳ 12g, bạch truật 16g, sinh khương 4g, kê huyết đằng 12g, trần bì 10g. Sắc uống ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần. Công dụng: ôn kinh tán hàn, thông hoạt kinh lạc.

Bài 2: nam tục đoạn 16g, đơn hoa 12g, thổ phục linh 16g, lá đơn mặt trời (sao vàng hạ thổ) 16g, rễ bưởi bung 12g, rễ cây xấu hổ 16g, ngũ gia bì 16g, cát căn 16g, cẩu tích 10g, thạch xương bồ 12g, độc lực 12g, quế chi 8g, thiên niên kiện 10g, sinh khương 4g, trần bì 10g. Sắc uống ngày 1 thang, sắc 3 lần, uống 3 lần. Gia giảm: Nếu đau ngực, khó thở, gia: đan sâm 16g, đinh lăng 16g, tang diệp 16g. Nếu trằn trọc khó ngủ, gia: tâm sen, phục thần, mỗi vị 10g. Công dụng: khu phong, tán hàn, thông kinh hoạt lạc, bổ thần kinh.

Bài thuốc hỗ trợ chữa liệt dây thần kinh VII 1
 Nét mặt của người bị liệt dây thần kinh VII.
Bài thuốc hỗ trợ chữa liệt dây thần kinh VII 2
 Day bấm huyệt giáp xa.

Thuốc xoa bóp gồm các vị: xuyên khung, bạch chỉ, tế tân, quế chi, thiên niên kiện, kê huyết đằng, trần bì, phá cố chỉ, rễ cây độc lực, hoa hồi, mỗi vị 15g. Các vị thái nhỏ, cho vào chai thủy tinh, đổ ngập rượu để ngâm, sau 10 ngày là dùng được. Cách dùng: lấy bông tẩm thuốc xoa vào nơi bị tổn thương.

Bài thuốc chườm: lá đơn đại hoàng, lá kinh giới, lượng bằng nhau. Hai thứ giã nhỏ, sao rượu. Gói thuốc vào miếng vải, chườm vào vùng đầu mặt, thái dương, cổ gáy…

Bài thuốc hỗ trợ chữa liệt dây thần kinh VII 3
 Bấm huyệt hợp cốc.
Bài thuốc hỗ trợ chữa liệt dây thần kinh VII 4
 Day bấm huyệt thái xung.

Bấm huyệt xoa bóp: tiến hành các thủ thuật:

Xoa, miết, day vùng trán, thái dương, vùng mặt, cổ, gáy, vùng xung quanh tai.

Bấm các huyệt: hạ quan, giáp xa, địa thương, thái xung, hợp cốc. Bấm bên đối diện bên đau. Kỹ thuật bấm: ngón cái tay phải để đúng huyệt vuông góc với mặt da, các ngón khác tỳ trên da làm điểm tựa. Ngón cái bấm thẳng xuống, lúc đầu nhẹ, rồi ấn mạnh dần, tới mức bệnh nhân chịu đựng được, cố gắng giữ nguyên lực bấm, xoay và di đầu ngón tay. Có thể dùng ngón cái và ngón trỏ tay trái cầm ôm lấy thân ngón cái tay phải để làm nhiệm vụ hỗ trợ điều chỉnh lực bấm. Tác dụng của bấm huyệt: nạp khí, ôn ấm kinh lạc, chống co cứng, lập lại trạng thái sinh lý bình thường. Phương pháp này làm đúng kỹ thuật là rất quan trọng.   

Vị trí huyệt

Hạ quan: khi ngậm miệng lại, huyệt ở chỗ lõm phía trước tai, dưới xương gò má, nơi góc phía trước của mỏm tiếp xương thái dương và lồi cầu xương hàm dưới.

Giáp xa: cắn chặt răng lại, huyệt ở trước góc hàm và ở trên bờ dưới xương hàm

Ðịa thương: cách khóe miệng 0,4 tấc, hoặc trên đường ngang qua mép và rãnh mép mũi, nơi đan chéo của cơ vòng môi, cơ gò má lớn.

Thái xung: dùng đầu ngón tay cái miết từ kẽ ngón chân cái và ngón chân thứ hai lên trên, khi ngón tay mắc lại cho vướng vào kẽ của hai xương bàn chân thì đấy chính là huyệt

Hợp cốc: khép ngón trỏ và ngón cái sát nhau, huyệt ở điểm cao nhất của cơ bắp ngón trỏ ngón cái.

Lương y Thanh Ngọc

Trong y học có những ngộ nhận bắt nguồn từ những nhận xét ngẫu nhiên, sau đó trở thành niềm tin của nhiều người. Xóa bỏ những ngộ nhận, niềm tin cũ ấy không dễ nhưng chân lý khoa học cuối cùng sẽ thắng, nếu không như vậy thì y học không tiến lên được.

Sự cáo chung của liệu pháp vi lượng đồng căn

Xa xưa, một số thầy thuốc dùng liệu pháp vi lượng đồng căn, nghĩa là chỉ cần đưa vào cơ thể một số lượng bằng nhau các chất vi lượng thì sẽ chữa khỏi bệnh. Trong số các vi lượng đưa vào cơ thể, cũng có vi lượng trùng với vi lương cơ thể đang thiếu nên cho hiệu quả, song cũng có khi tuy có trùng nhưng chưa đạt ngưỡng cần thiết thì chưa chắc có hiệu lực. Có lẽ vậy, sau này người ta thấy liệu pháp này không cho kết quả chắc chắn. Ngày nay chúng ta áp dụng liệu pháp vi lượng một cách có khoa học: Vi lượng tham gia quá trình chuyển hóa trong cơ thể bằng cách cấu thành hay tác động lên các enzym chuyển hóa. Khi vi lượng ấy bị thiếu hụt, không đạt được nồng độ ở ngưỡng sinh lý, thì các hoạt động chuyển hóa bị rối loạn; khi cung cấp cho cơ thể số vi lượng bị thiếu hụt đó, sẽ lặp lại cân bằng chuyển hóa, chữa khỏi bệnh.

Ngộ nhận, niềm tin và cơ sở khoa học 1

 Với tiến bộ y học, việc điều trị cho bệnh nhân tai biến mạch máu não có nhiều triển vọng phục hồi tốt.

Rút lại lời khuyên cho trẻ ngủ nằm sấp để tránh đột tử

Trước đây, một số thầy thuốc đưa ra lời khuyên cho trẻ dưới 2 tuổi ngủ trong tư thế nằm sấp sẽ tránh được đột tử. Có thể điều này xuất phát từ một số nhận xét có thật trên một số nhỏ trẻ nhưng không có ý nghĩa thống kê, chỉ là sự ngẫu nhiên, chưa có cơ sở khoa học. Sau này, các nhà y học tổng kết lâm sàng nhận thấy: làm theo lời khuyên này không những không hề giảm mà còn có nguy cơ cao gây đột tử.

Các nhà khoa học đã chỉ ra nhiều nguyên nhân gây suy hô hấp dẫn tới đột tử lúc ngủ và chỉ ra cách đề phòng cho trẻ theo từng nguyên nhân. Một trong những nguyên nhân gây suy hô hấp đó là cho trẻ em dưới 2 tuổi dùng phenothiazin (siro phenergan, siro alimimerazin). Chất này có tác dụng phụ rất nguy hiểm, làm suy hô hấp, ngừng thở, có thể gây đột tử cho trẻ em lúc ngủ.

Không thể chữa viêm loét dạ dày chỉ bằng thay đổi chế độ ăn, lối sống

Sau Thế chiến lần thứ nhất (1914 – 1918), tỷ lệ viêm loét dạ dày tăng lên. Nhiều thầy thuốc cho rằng vì trong chiến tranh, việc ăn uống kham khổ (nhất là ăn lương thực khô), và tinh thần luôn luôn bị căng thẳng khiến cho nhiều người bị viêm loét dạ dày. Từ đó, ngoài liệu pháp trung hòa acid ở dạ dày, các thầy thuốc khuyên người bệnh phải ăn cơm nát, không ăn các chất khô cứng, chất chua, tạo ra chế độ làm việc nghỉ ngơi thoải mái. Song, nhiều người bệnh làm như vậy mà chứng viêm loét dạ dày vẫn không thuyên giảm.

Năm 1982, các nhà nghiên cứu bệnh học người Úc là J Robin Waren, Barry  Marsall đã phát hiện ra vi khuẩn H. Pylori gây viêm loét dạ dày. Theo đó, H.Pylory xâm nhập cơ thể chủ yếu bằng đường ăn uống, gắn vào biểu mô trong lớp chất nhầy, sản sinh ra enzym urease, biến urê thành ammoniac, carbonic tạo ra môi trường gần trung tính, né tránh môi trường acid khá cao trong dạ dày, né tránh sự đáp ứng miễn dịch để tồn tại khi có điều kiện thì gây ra bệnh. Kể từ khi có phát minh này, nhất là khi hai ông  được  giải Nobel y học (2005), việc dùng kháng sinh chữa bệnh viêm loét dạ dày trở thành phổ biến.

Từ bỏ quan niệm tuyệt vọng khi bị tai biến mạch máu não

Trước năm 1960, người ta cho rằng sự sinh thần kinh bắt đầu từ tuần thứ 3 của thai kỳ, các tế bào thần kinh phát triển rất nhanh (250.000 tế bào mỗi phút) và sau vài năm thì chấm dứt. Theo đó, tế bào thần kinh không có khả năng bị phân chia, nếu bị tổn thương sẽ không thể có tế bào thay thế. Do vậy, khi bị tai biến mạch máu não, dùng cách tưới bù máu hay dùng cerebrolysin trong vòng 72 giờ kể từ khi xảy ra tai biến chỉ nhằm cứu vãn những tế bào thần kinh ở vùng nửa tối (đã ngừng hoạt động nhưng chưa chết), sau 72 giờ, các tế bào đó chết, việc dùng cerebrolysin sẽ vô ích!

Trước đây, người ta cũng cho rằng não như một cỗ máy hoạt động theo cơ chế có sẵn từ trước và khi tổn thương là không thể hồi phục. Sau này, các nhà y học thấy rằng, não có khả năng thay đổi về mặt giải phẫu (sinh ra tế bào thần kinh mới, tạo các đường nối tiếp mới) và thay đổi về mặt sinh lý (tế bào mới sinh ra đảm nhận các chức năng của tế bào thần kinh). Hiện tượng này gọi là tính khả biến thần kinh (neuroplasticity) tức là sự sửa chữa và học lại (repairing and learning).

Ngộ nhận, niềm tin và cơ sở khoa học 2Trẻ nằm sấp có nguy cơ bị đột tử.

Theo quan niệm cũ, tai biến mạch máu não là cách kết thúc cuộc đời không có cách nào cải thiện, đảo ngược. Còn theo quan niệm mới, việc điều trị có tính lạc quan hơn, có thể phục hồi hoạt động não sau tổn thương bằng cách dùng các thuốc kích thích quá trình sinh thần kinh, khả biến thần kinh. Một trong những thuốc có tính năng này là cerebrolysin.

Lời kết

Ngày nay, một số nghiên cứu của các nhà khoa học đã xét lại một cách nghiêm túc những ngộ nhận về niềm tin chữa bệnh ở trên và vạch ra các cơ sở khoa học, từ đó đưa ra các cách điều trị mới, dùng thuốc mới. Những nghiên cứu mới này thường được đăng tải trong các tập san nghiên cứu y học nổi tiếng (như JAMA, NEJM, AJMJ) và phần lớn đều được dịch đăng trong các tập san thông tin y học của nước ta. Cần tiếp cận những thông tin này để khỏi bỡ ngỡ, dĩ nhiên việc áp dụng thế nào cho phù hợp sẽ do Bộ Y tế và các hội y học, dược học, các hội chuyên khoa hướng dẫn.

DSCKII. Bùi Văn Uy

Dư luận thế giới hiện vẫn đang nóng bỏng bởi cuộc điều tra vụ sử dụng vũ khí hóa học ở Syria. Với sức mạnh hủy diệt không thương tiếc, vũ khí hóa học được liệt vào vũ khí chiến tranh hủy diệt hàng loạt. Bằng những cuộc họp bàn cương quyết, loại vũ khí này đang dần được chấm dứt. Nhưng nó vẫn len lỏi đâu đó đe dọa nhân loại. Để giúp bạn đọc hiểu sâu hơn về vấn đề này, chúng tôi giới thiệu bài viết của BS. Châu Văn Tú.

Vũ khí hóa học là một loại vũ khí chiến tranh trong đó nó không trực tiếp gây sát thương cho lực lượng đối địch. Thay vào đó, chúng giải phóng ra một lượng lớn chất độc hóa học, làm tê liệt hoặc tiêu diệt toàn bộ các sinh thể sống, trong đó có con người.

Bạn biết gì về vũ khí hóa học? 1Một đầu đạn tên lửa mang chất độc thần kinh.

Vũ khí hóa học, với sức mạnh của nó được xếp vào vũ khí hủy diệt hàng loạt. Sánh ngang hàng về mức tàn sát với vũ khí sinh học và vũ khí hạt nhân. Đây là các loại vũ khí luôn đe dọa tới sinh mạng sống của con người. Chỉ cần một phản ứng thái quá, có thể phá hủy toàn bộ một quốc gia, một nhóm quốc gia, một châu lục hoặc mang tính toàn cầu.

Cứ độc là khai thác

Tính cho đến nay, số chất độc hóa học được sử dụng trong chiến tranh lên tới 15 chất. Chúng là các chất khác nhau, được phân chia khác nhau. Có nhiều cách phân chia như sau:

Cách thứ nhất, phân chia dựa theo khả năng gây mất sức chiến đấu. Trong đó, người ta chia vũ khí hóa học làm mất sức chiến đấu tạm thời và vũ khí hóa học đầu độc.

Cách thứ hai, phân chia theo cấu trúc hóa học của chất độc hóa học. Người ta chia thành vũ khí có chứa chất độc phospho hữu cơ, chất độc CS, chất độc cyanua, clo, chất độc dòng G, chất độc dòng V…

Ngoài ra, vũ khí hóa học còn được phân chia theo dạng thức tổn thương là cách phân chia khá cơ bản. Đây là cách phân chia của y học quân sự. Vì nó liên quan trực tiếp đến nhận diện chất độc đó là gì, có chất kháng độc là gì nhằm cứu sống nạn nhân. Khi đó người ta chia ra vũ khí hóa học gây cười, gây cay mắt, gây độc thần kinh (tabun, sarin, soman, cyclosarin, VX), độc hô hấp (phosgen, diphosgen), độc máu (clorua cyanit, hydrua cyanit), phỏng rộp da (phosgen, lơ-vi-sit, Y perit, nitơ mù tạt)…

Chứng tích hủy diệt loài người

Lịch sử đã chứng kiến hàng loạt vụ thảm sát bằng vũ khí hóa học. Tất cả chúng đều là các vụ thảm sát hủy diệt lớn. Những cái chết thương tâm.

Nhân dân của nước Bỉ chắc hẳn không thể nào quên được trận tấn công đầy đau thương diễn ra vào tháng 4/1915. Đây là cuộc tấn công của phát xít Đức tấn công vào Bỉ tại thành phố Ypres. Cuộc tấn công này là cuộc tấn công quy mô lớn đầu tiên được tiến hành bằng vũ khí hóa học có mang hơi clo. Bằng việc sử dụng khí clo tấn công vào Bỉ trong thế chiến thứ hai, phát xít Đức đã giành thắng lợi hoàn toàn và giành lại thế chủ động trên chiến trường. Nhưng đánh đổi với cái đó là hàng ngàn sinh mạng bị hy sinh vô tội. Với con số 90.000 người chết và trên 1 triệu người bị thương tật, cuộc tấn công vào Bỉ bằng clo đã làm hoảng loạn lịch sử của quốc gia châu Âu.

Gần đây hơn, cuộc tấn công kinh hoàng năm 1988 sẽ không thể nào quên được với nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Cuộc tấn công xảy ra ở miền Bắc Iraq. Nó được mang tên là cuộc thảm sát ngàn người. Hàng ngàn người đã phải nằm xuống. Dã man hơn, các nhà độc tài chiến tranh không chỉ sử dụng một mà nhiều loại chất độc hóa học khác nhau bao gồm: khí mù tạt, chất độc thần kinh sarin, tabun, VX và có thể có chất độc toàn thân cyanua. Cuộc chiến diễn ra tại thành phố Halabja của Iraq và đó là một cuộc nội chiến tranh giành quyền lực tại quốc gia gắn với giếng dầu này. Kết quả, có khoảng 5.000 người chết và rớt nước mắt vì 75% là phụ nữ và trẻ em.

Chiến tranh, mục tiêu của nó là thảm sát lẫn nhau để giành chiến thắng cho các bên tham chiến. Nhưng các hiệp ước nhân đạo đã nói rõ, chiến tranh chỉ được phép tấn công và tiêu diệt vào các lực lượng quân sự đối đầu. Hay nói một cách khác, nó không được phép tiến công vào thường dân vô tội. Nhưng tiếc thay, vũ khí hóa học sử dụng lại không phân biệt được đâu mới là đối tượng tác chiến. Vì thế, hàng nghìn người dân, trong đó có cả người già, trẻ em, phụ nữ, những cá thể không có khả năng chống đỡ trên thế giới đã phải bỏ mạng và nằm xuống vì những cuộc chiến đẫm máu. Đó là các cuộc chiến thực sự phi nghĩa.

Hiệp ước Cấm phổ biến vũ khí hóa học đã được thực thi thông qua năm 1993 trên toàn thế giới. Nhưng dường như người ta cố tình bỏ qua quyền sống của con người. Vì thế gần đây, trong những ngày tháng 8 này, tại quốc gia Syria bé nhỏ, sự hiện diện của một loại vũ khí được cho là vũ khí hóa học làm 1.300 người thiệt mạng tại phía Đông thành phố Damascus của Syria đã dấy lên sự lo ngại của cộng đồng thế giới. Những người yêu chuộng hòa bình thế giới đang lo sợ về một viễn cảnh màu xám nhuốm màu đỏ của máu và màu xám của chiến tranh tàn sát mang tên vũ khí hóa học.

(Theo Organization For The Prohibition of Chemical Weapons)     

BS. Châu Văn Tú

Chất béo (Lipid) trong khẩu phần ăn hàng ngày của con người giữ một vai trò quan trọn. Vì vậy hiểu biết về chất béo để sử dụng hợp lý là rất cần thiết nhằm đảm bảo sức khỏe và tránh cho cơ thể gặp những “rắc rối” do chất béo mang lại. 
 
Chất béo có vai trò tham gia vào cấu trúc cơ thể. Ở người trưởng thành, có khoảng 18-24% trọng lượng cơ thể là chất béo. Chất béo là chất thiết yếu, có mặt ở màng tế bào và các màng nội quan của tế bào như nhân và ti thể, vì vậy đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động sống của tế bào. Chất béo cũng có vai trò trong dự trữ năng lượng, điều hòa hoạt động, bảo vệ cơ thể trước những thay đổi về nhiệt độ…
Các nghiên cứu về dinh dưỡng cơ bản khẳng định chất béo trong khẩu phần ăn của con người có 2 vai trò chính là cung cấp năng lượng và hấp thu vận chuyển các vitamin tan trong dầu mỡ. Đậm độ năng lượng của chất béo cao nhất trong các chất sinh năng lượng. 1 gram chất béo khi đốt cháy trong cơ thể cung cấp 38kj, tương ứng với 9kcal, gấp hơn 2 lần so với chất đạm (Protein) và chất đường bột (Glucid). Chất béo là dung môi vận chuyển (carrier) các vitamin tan trong dầu mỡ (như vitamin A, D, E và K). Các vitamin này vào cơ thể một phần lớn phụ thuộc vào hàm lượng của chất béo trong thực phẩm. Điều đó có nghĩa là khi lượng chất béo trong khẩu phần ăn thấp sẽ dẫn đến giảm hấp thu các vitamin này. Điều này làm cho chất béo trở nên quan trọng hơn vì các vitamin tan trong dầu có vai trò quan trọng đối với các chức năng thị giác, khả năng đáp ứng miễn dịch, tạo máu, tăng trưởng và chống lão hóa,… Trong chế biến thực phẩm, chất béo có vai trò tạo hương vị thơm ngon, cảm giác no lâu.
Vai trò của chất béo đối với cơ thể người 1

 

Đơn vị cơ bản của chất béo là các acid béo. Về mặt cấu trúc, các acid béo được chia thành hai nhóm là acid béo no và acid béo chưa no. Các loại acid béo no thường gặp gồm acid palmitic, acid stearic, acid caprilic, chủ yếu nằm trong thành phần các mỡ động vật, có giá trị sinh học thấp hơn so với các acid béo chưa no. Các acid béo chưa no thường gặp gồm oleic, elaidic (1 nối đôi), linoleic (2 nối đôi), alpha linolenic (3 nối đôi) hoặc arachidonic (4 nối đôi). Các acid béo chưa no có 2, 3 hoặc nhiều hơn số mạch kép có hoạt tính sinh học mạnh nhất, như acid arachidonic có hoạt tính sinh học cao gấp 2-3 lần acid linoleic. Tuy nhiên, acid linoleic có thể chuyển thành acid arachidonic, vì vậy hàm lượng acid linoleic là tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá giá trị sinh học của chất béo. Vai trò của các acid béo chưa no rất quan trọng và đa dạng, đặc biệt là đối với các tổ chức não, tim, gan, các tuyến sinh dục. Hơn nữa, các nghiên cứu cũng cho thấy cơ thể có thể chuyển glucid và protein thành các acid béo no, nhưng lại không tổng hợp được các các acid béo chưa no mà chỉ được cung cấp qua các thức ăn như linoleic, linolenic và arachidonic.
Người ta thường dựa vào giá trị dinh dưỡng của chất béo để lựa chọn các chất béo có trong thực phẩm: hàm lượng các acid béo chưa no cần thiết (linoleic..), các vitamin (Vitamin A, D và E), các phosphatid (lecithin..), sterol (nhất là cytosterin), khả năng dễ tiêu hóa và tính chất cảm quan tốt. Trên thực tế, không có chất béo nào đáp ứng được đầy đủ các tiêu chí trên, chẳng hạn mỡ động vật giầu vitamin A, vitamin D nhưng lại nghèo về các acid béo chưa no, ngược lại, dầu thực vật có nhiều acid linoleic, phosphatid, tocopherol và cytosterol nhưng lại không có các vitamin A và D. Chính vì vậy sử dụng phối hợp chất béo động vật và dầu thực vật sẽ tạo ra sự cân bằng và đầy đủ các chất béo có giá trị sinh học cao.
Khả năng hấp thu và đồng hóa chất béo cũng là một điểm quan trọng cần chú ý khi lựa chọn chất béo. Quá trình này bắt đầu từ miệng với men lipase tham gia thủy phân triglycerid thành các acid béo và glycerol, sau đó dạ dày và ruột non thực hiện quá trình nhũ tương và phân giải với sự tham gia của các men, phân cắt các acid béo thành những phân tử có cấu trúc nhỏ để hấp thu vào máu và một phần được sử dụng như một nguồn năng lượng, một phần được đưa đến các mô mỡ để dự trữ, đến các tế bào để thay thế các acid béo của màng tế bào… Hiệu quả của quá trình đồng hóa và hấp thu phụ thuộc vào tính chất, đặc điểm của acid béo. Các chất béo dễ tan chảy thường sẽ hấp thu tốt, chất béo có nhiệt độ tan chảy thấp hơn thân nhiệt có độ đồng hóa 97%, trong khi đó các chất béo có độ tan chảy trên 400C thường sẽ được hấp thu kém hơn, các chất béo có độ tan chảy trên 500C chỉ hấp thu được khoảng 70-80%. Hấp thu chất béo cũng phụ thuộc vào tính cân đối và đặc điểm của acid béo có trong khẩu phần, ví dụ acid béo chưa no có nhiều mạch kép sẽ có hoạt tính sinh học cao, tuy nhiên tỷ lệ acid béo chưa no có nhiều mạch kép tốt nhất cũng chỉ là 10% trong tổng số acid béo thì khả năng hấp thu chất béo mới cao, vì khi tỷ lệ này vượt quá 15% thì quá trình đồng hóa sẽ giảm đi.

“Chất béo cần thiết cho sự phát triển của trẻ 7 tháng – 6 tuổi nhưng không vượt quá 50g mỗi ngày”.

Ở nước ta, Viện Dinh dưỡng Bộ Y tế đã khuyến nghị mức tiêu thụ chất béo hàng ngày cho người trưởng thành (chung cho cả nữ và nam) từ 18-25% tổng năng lượng khẩu phần. Có 3 nhóm đối tượng cần tiêu thụ nhiều chất béo hơn là trẻ em, phụ nữ có thai và cho con bú. Ở trẻ đang bú mẹ, vì 50-60% năng lượng ăn vào là do chất béo do sữa mẹ cung cấp, nên trẻ dưới 6 tháng được bú sữa mẹ hoàn toàn là đảm bảo đủ nhu câu chất béo. Nhưng nếu vì một lý do đặc biệt phải nuôi trẻ bằng thức ăn thay thế sữa mẹ, cần đảm bảo năng lượng chất béo tối thiểu đạt 40% tổng năng lượng cho lứa tuổi này. Với trẻ 6-11 tháng tuổi, tỷ lệ năng lượng chất béo cần đạt 40% và trẻ 1-3 tuổi cần đạt 35-40% năng lượng tổng số. Nếu tính theo trọng lượng chất béo nói chung, trong một ngày trẻ 7-11 tháng tuổi cần khoảng 35g, trẻ 12-36 tháng khoảng 55g và trẻ 4-6 tuổi khoảng 40g. Ở nhóm tuổi 12-36 tháng nhu cầu chất béo tăng lên cùng với việc không có hoặc giảm nguồn cung cấp từ sữa mẹ và chưa ăn được số lượng như trẻ lớn có thể làm tăng nguy cơ bị suy dinh dưỡng.

Xem thêm khám sức khoẻ định kỳ tại trung tâm CHAC.

TS.BS. Trương Hồng Sơn

Chó là một vật nuôi quen thuộc và gần gũi trong mỗi gia đình, trẻ có nhiều cơ hội để tiếp xúc, đùa giỡn với chúng nên nguy cơ bị chó cắn rất dễ xảy ra. Khi đó người lớn cần biết cách xử trí đúng cách, phù hợp vì trẻ rất dễ bị hoảng loạn khi bị chó cắn.

Cách xử trí khi trẻ bị chó cắn

– Đầu tiên, người lớn nên an ủi trẻ, nhẹ nhàng trấn an trẻ nhằm tránh cho trẻ bị hoảng loạn.

– Sau khi trẻ trấn tĩnh, cần phải xem xét ngay vết thương của trẻ (Vết thương xước da hay chảy máu? Vết thương có sâu và rộng hay không? Có bao nhiêu vết thương? Vết thương ở vị trí nào trên cơ thể của bé…) rồi tiến hành rửa vết thương bằng xà phòng dưới vòi nước mạnh ít nhất là 5 phút, kể cả vết thương chỉ trầy xước da. Chú ý rửa tay thật sạch trước và sau khi sơ cứu cho trẻ.

Làm gì khi trẻ bị chó cắn? 1

Rửa vết thương bằng xà phòng dưới vòi nước mạnh ít nhất là 5 phút

 

– Dùng dung dịch sát khuẩn (có thể là cồn 70o hoặc dung dịch iod) để sát trùng vết thương.

– Dùng miếng vải sạch phủ lên vết thương và băng hờ lại. Tránh băng kín vết thương.

Sau khi đã thực hiện các bước trên, cần đưa trẻ đến cơ sở y tế để được các bác sĩ kiểm tra và có chỉ định thích hợp.

Lưu ý: Nếu vết thương chảy máu nhiều, trẻ xanh tái, mệt,… phải đưa trẻ đến bệnh viện cấp cứu ngay.

Tiêm phòng cho trẻ

Nói chung, mọi trẻ bị chó cắn đều nên được tiêm phòng càng sớm càng tốt. Trẻ sẽ được tiêm vắc-xin phòng dại và tùy theo tình trạng vết thương cùng với tiền sử tiêm phòng uốn ván trước đây mà bác sĩ sẽ chỉ định tiêm phòng uốn ván cho trẻ. Ngoài ra, trẻ có thể được tiêm huyết thanh kháng dại nếu vết cắn nằm ở đầu, mặt, cổ, vết thương ở các vị trí có nhiều dây thần kinh như đầu ngón tay, đầu ngón chân, bộ phận sinh dục, vết thương sâu và nhiều.

 Phòng ngừa trẻ bị chó cắn

Để đề phòng trường hợp bị chó cắn, cha mẹ cần để mắt trông chừng trẻ, nhất là những bé ở độ tuổi chập chững biết đi. Không để trẻ đùa giỡn, kéo đuôi chó mèo. Đối với trẻ lớn, nên giáo dục trẻ biết cách tự bảo vệ bản thân, không đến gần súc vật lạ, không chọc phá súc vật nhất là khi chúng đang ăn hoặc đang ngủ. Cần tiêm phòng bệnh dại cho những vật nuôi thường tiếp xúc với trẻ như chó, mèo.

Xem thêm khám sức khoẻ định kỳ tại trung tâm CHAC.

Việt An

(Theo tài liệu của Bệnh viện Nhi đồng I)

Vỏ các loại củ quả như hạnh nhân, cam, táo, hành tây… chứa nhiều hợp chất mang lại lợi ích bất ngờ cho sức khỏe.

 
1. Hạnh nhân

Khi ăn hạnh nhân, bạn không nên vứt bỏ vỏ vì chúng kích thích sự hoạt động của vi khuẩn đường ruột, hỗ trợ tiêu hóa. Nhiều nghiên cứu còn khẳng định vỏ hạnh nhân chứa chất flavonoid và vitamin E có tác dụng làm giảm lượng cholesterol trong cơ thể.

Sự thật về vỏ của một số loại củ quả 1

2. Cam

Trái cây họ cam quýt có thể được băm nhỏ và trộn vào món tráng miệng. Vỏ cam sẽ thêm hương vị dễ chịu.Nghiên cứu đã chứng minh rằng vỏ cam có các hợp chất tự nhiên chống ung thư. Ngoài ra, vỏ của các loại trái này có chứa nhiều chất xơ gấp 4 lần so với thịt. 

Sự thật về vỏ của một số loại củ quả 2

3. Táo

Táo cũng là loại có thể ăn cả vỏ. Nhiều nghiên cứu cho rằng vỏ táo có tác dụng mạnh trong việc giảm cholesterol, mỡ máu, giảm nguy cơ bệnh tim, tiểu đường và bệnh béo phì. Vỏ táo còn tăng cường cơ bắp và rất tốt cho việc giảm cân.

Sự thật về vỏ của một số loại củ quả 3

4. Hành tây

Điều này khá bất ngờ, bởi vì rất ít người biết rằng hành tây có thể ăn cả vỏ. Vỏ củ hành tây chứa chất kháng viêm flavonoid và một số chất chống ôxy hóa cao. Vì vậy khi sử dụng hành tây để nấu ăn, không nên loại bỏ vỏ.
Sự thật về vỏ của một số loại củ quả 4
 
Theo VnExpress/Care2

Sán máng xâm nhập cơ thể qua da khi con người hoạt động dưới nước. Đặc biệt, ở các vùng nông thôn, dễ mắc bệnh sán máng do tắm, ngâm mình ở sông, hồ, ao hoặc lội ruộng.

Nhiều nghiên cứu cho biết: loại sán máng Schitosoma mekongi thường gây bệnh cho cư dân ở lưu vực sông Mekong như Thái Lan, Lào, Campuchia và có khả năng gây bệnh ở Việt Nam. Khi vào cơ thể, sán máng và trứng sán ký sinh rồi gây bệnh ở ruột, gan, phổi, tim, não, thận, bàng quang…, có thể gây tử vong. Trẻ em bị nhiễm sán là một nguyên nhân gây suy dinh dưỡng và chậm lớn.

Tắm ao hồ coi chừng nhiễm sán máng 1Việc ngâm mình dưới nước hoặc lội ruộng dễ bị nhiễm sán máng.

Vì sao mắc bệnh sán máng?

Ở người, sán trưởng thành ký sinh ở đoạn ruột cuối hay ở bàng quang. Trứng sán thải theo phân và nước tiểu ra ngoài, khi gặp nước ngọt, nở ra ấu trùng. Ấu trùng xâm nhập vào ốc rồi phát triển thành vĩ ấu trùng, bơi ra khỏi ốc vào nước. Từ nước, vĩ ấu trùng xâm nhập qua da vào cơ thể người. Tuy nhiên, khi ở dưới nước, con người cũng có thể nhiễm vĩ ấu trùng qua niêm mạc mắt, mũi, miệng… nếu để nước xâm nhập các cơ quan này. Sau khi vào cơ thể người, vĩ ấu trùng trở thành ấu trùng đi vào gan và trưởng thành tại đây. Vài tuần sau, sán trưởng thành giao phối rồi di chuyển đến đoạn cuối của các tĩnh mạch cửa đẻ trứng. Một số trứng đi vào lòng ruột hoặc bàng quang và được thải ra ngoài theo phân hoặc nước tiểu. Một số trứng khác bị mắc lại trong thành ruột hay thành bàng quang. Có một số trứng theo máu đến gan, phổi và các cơ quan khác của cơ thể.

Các biểu hiện nhiễm sán 

Một người bị nhiễm sán máng có thể có các biểu hiện như sau:

Viêm da do vĩ ấu trùng: vĩ ấu trùng xâm nhập vào da, gây nổi mẩn đỏ, ngứa, ban xuất huyết, ban dát và sẩn kéo dài tới 5 ngày. Bệnh viêm da do vĩ ấu trùng thường gặp ở  vùng nước ngọt hoặc nước lợ, do sự xâm nhập của ấu trùng sán máng của chim. Đặc điểm là loại sán này không phát triển tới sán trưởng thành ở người và không gây bệnh ở  nội tạng.

Bệnh sán máng cấp tính hay sốt Katayama: là phản ứng quá mẫn của cơ thể bệnh nhân với sán máng đang phát triển. Tiến triển của bệnh từ nhẹ đến rất nặng, có thể gây tử vong. Sau khi nhiễm sán, thời gian ủ bệnh từ 2 – 7 tuần, bệnh nhân bắt đầu sốt, mệt, mẩn đỏ, đi tiêu lỏng có thể lẫn máu, đau cơ, ho khan. Sau đó, các triệu chứng sẽ hết trong 2 – 8 tuần.

 Bệnh sán máng mạn tính: sau khi nhiễm bệnh từ 6 tháng đến vài năm, bệnh nhân có các triệu chứng: tiêu chảy, đau bụng, đi ngoài thất thường, phân lẫn máu, gan to và chắc, lách to. Bệnh diễn tiến trong 5 – 15 năm hoặc lâu hơn với các triệu chứng: chán ăn, gầy sút, mệt mỏi, u ruột dạng polyp, có các dấu hiệu tăng áp lực tĩnh mạch cửa và mạch phổi; viêm cầu thận… Tổn thương hệ tiết niệu với biểu hiện: đái rắt, đái buốt, đái máu cuối bãi và protein niệu. Bệnh nhân có thể có polyp trong bàng quang, viêm bàng quang, viêm đài thận, bể thận, sỏi thận, ứ nước thận, tắc niệu quản, suy thận, và tử vong. Có khi thấy tổn thương nặng ở gan, phổi, sinh dục, ung thư bàng quang.

Tắm ao hồ coi chừng nhiễm sán máng 2Các dạng của sán máng.

Các biểu hiện tổn thương khác gồm: có ổ loét sùi, u hạt, tổ chức xơ ở thành ruột, thành bàng quang. Trứng sán trong gan gây xơ rìa tĩnh mạch cửa, tăng áp lực tĩnh mạch cửa, tắc nghẽn mạch máu do trứng, viêm nội mạch, tăng áp lực mạch phổi… Xơ gan, lách to, vàng da, cổ trướng, hôn mê gan. Có bệnh nhân bị giãn tĩnh mạch cổ và phù do suy tim phải. Hẹp đại tràng, các ổ sùi u hạt, polyp đại tràng với biểu hiện: đi tiêu chảy phân lẫn máu, thiếu máu, ngón tay dùi trống.

Bệnh sán máng cần phân biệt với lỵ amip, lỵ trực khuẩn hoặc các bệnh tiêu chảy và lỵ. Trong vùng có bệnh sán máng cần phân biệt với ung thư đường niệu, nhiễm khuẩn tiết niệu…

Chữa bệnh sán máng có khó không?

Khi đã phát hiện nhiễm sán máng, cần sử dụng các thuốc theo chỉ định của bác sĩ. Thuốc có thể dùng là: praziquantel, oxamniquin, metrifonat… Sau một đợt điều trị, phải xét nghiệm định kỳ để theo dõi từ 3 tháng đến 1 năm xem bệnh nhân có còn thải trứng sán không. Nếu còn thấy trứng sán, phải điều trị một đợt tiếp.

Lời khuyên của thầy thuốc

Căn cứ vào chu trình gây bệnh của sán máng, chúng ta có thể phòng tránh bệnh bằng cách thực hiện các biện pháp: phát hiện và điều trị sớm cho bệnh nhân để tránh lây lan cho người khác. Do vậy, bệnh sán máng đặc biệt ảnh hưởng đến các đối tượng: người làm  nông nghiệp và nghề cá, phụ nữ làm việc gia đình ở trong nước như giặt quần áo… Vệ sinh kém và thói quen tắm ngâm mình dưới nước của trẻ em làm cho trẻ em là nhóm đặc biệt dễ bị bệnh. Ở các vùng nông thôn, cần điều trị đại trà cho trẻ em để loại trừ bệnh, đồng thời làm giảm nguy cơ gây ra các tổn thương nặng ở các cơ quan nội tạng. Người lớn khi phải lao động ở dưới nước cần đeo xà cạp chân, tay để tránh vĩ ấu trùng xâm nhập qua da. Mọi người cả người lớn và trẻ em không nên tắm sông, suối, ao, hồ hoặc ngâm mình lâu dưới nước để hạn chế bị nhiễm vĩ ấu trùng sán qua da và niêm mạc miệng, mũi, mắt. Không bón phân tươi và nước tiểu ra đồng ruộng.

BS. Bùi Thị Thu Hương

Bỏng điện là tổn thương do luồng điện dẫn truyền vào cơ thể gây ra gồm: vết bỏng, ngừng hô hấp, ngừng tim, sốc điện. Bất cẩn trong việc tiếp xúc với nguồn điện, sét đánh trong những lúc mưa giông đều gây ra bỏng điện.

Các dạng bỏng điện

Bỏng điện gây các tổn thương là vết bỏng và các tổn thương ở tim, phổi… Có 2 loại bỏng điện:

Bỏng do tia lửa điện: như trường hợp bị sét đánh, bị bỏng do tia lửa hồ quang điện như đèn hàn xì, chập mạch điện gây ra tiếng nổ và tia lửa điện phóng vào người… vì có nhiệt độ rất cao từ 3.200 – 4.8000C, thời gian tác dụng rất ngắn chỉ từ 0,2 – 1,5 giây.

Phòng chống bỏng điện 1Không để ổ điện thấp vì trẻ em dễ nghịch ổ điện và bị điện giật.

Bỏng do luồng điện dẫn truyền vào cơ thể do tiếp xúc với nguồn điện vì bất cẩn khi dùng bàn là, quạt điện…  bị hở mạch, gây tổn thương tại chỗ là vết bỏng và tổn thương ở các cơ quan khác như ngừng hô hấp, ngừng tim, sốc điện.

Các tổn thương do bỏng điện

Các nhà chuyên môn phân chia tổn thương do bỏng điện làm 4 mức độ: Mức độ nhẹ với biểu hiện cơ bị co cứng lại, nhưng tri giác của nạn nhân còn nguyên vẹn. Mức độ vừa: các cơ co cứng mạnh, nạn nhân có thể bị giật bắn người ra, rơi xuống và mất tri giác. Mức độ nặng: nạn nhân bị mất tri giác, rối loạn hoạt động tim như rung thất, rối loạn hô hấp, ngừng hô hấp. Mức độ rất nặng: nạn nhân bị chết lâm sàng.

Người ta nhận thấy rằng, luồng điện có hiệu thế thấp thường gây tử vong do rung thất, ngừng tim; còn luồng điện có hiệu thế cao gây tử vong do ngừng hô hấp. Nếu được cứu chữa kịp thời và tổn thương toàn thân không quá nặng, nạn nhân sẽ thoát khỏi tình trạng nguy hiểm và bước vào thời kỳ của bệnh bỏng với các biểu hiện: sốc bỏng, thường bị suy thận cấp, nước tiểu có huyết sắc tố và sắc tố cơ; nhiễm độc nhiễm khuẩn nặng; thiếu máu do chảy máu thứ phát; loét tiêu hóa cấp tính; suy mòn do bỏng nhanh; rối loạn cảm giác, vận động; tổn thương tâm thần sau khi khỏi bỏng.

Vết bỏng: bỏng điện thường sâu, tổn thương tại chỗ biểu hiện ở điểm vào và ra của luồng điện, vị trí thường gặp là bàn tay, bàn chân (do tiếp xúc với nguồn điện. Ở trẻ em hay gặp vết bỏng ở miệng, môi, lưỡi do ngậm vào cực điện. Vết bỏng nặng hay nhẹ phụ thuộc vào: điện trở càng cao, cường độ của luồng điện càng lớn và thời gian tác dụng càng lâu thì tổn thương tại chỗ càng sâu rộng. Vết bỏng là các đám da hoại tử hình tròn hoặc bầu dục, màu vàng đục hoặc xám đen, than hóa. Giới hạn tổn thương không rõ ràng. Những ngày đầu khó chẩn đoán chính xác độ sâu của vết bỏng. Nếu bỏng sâu thì các lớp cân, cơ, gân thường bị hoại tử. Nếu bỏng ở thành ngực, thành bụng khi hoại tử có thể làm lộ hở hốc phế mạc. Nếu ở vùng xương sọ, xương trán có thể thấy hoại tử xương và thủng dẫn tới biến chứng viêm màng não. Bỏng ở chân tay thường có các tổn thương mạch máu gây chảy máu thứ phát, tổn thương thần kinh gây liệt. Trường hợp nặng, toàn bộ chi bị tổn thương bị hoại tử, than hóa; khi đó phải cắt cụt chi sớm mới cứu được nạn nhân.

Phòng chống bỏng điện 2Vết bỏng ở bàn tay do tia lửa điện.

Nạn nhân bị bỏng điện thường bị hoại tử thứ phát các mô phát sinh do sự nghẽn các mạch máu, do các cục huyết khối hình thành trong lòng các mạch, do tổn thương thành mạch. Lúc đầu có thể thấy vết bỏng có giới hạn, nhưng thời gian sau đó vùng bỏng bị thiếu máu, cơ, gân bị hoại tử.

Cần làm gì ngay?

Khi gặp một người bị điện giật, phải tìm mọi cách để cắt nguồn điện và cứu nạn nhân ra khỏi nguồn điện bằng cách cắt ngay cầu dao, tháo bỏ cầu chì. Dùng que, gậy, thanh gỗ, tre, nứa… khô gỡ dây điện ra khỏi cơ thể nạn nhân rồi đưa nạn nhân ra ngoài vùng nguy hiểm để sơ cứu. Phải hô hấp nhân tạo và xoa bóp tim ngoài lồng ngực, hà hơi thổi ngạt để cấp cứu nạn nhân. Tránh để mất thời gian do phải chuyển nạn nhân đi mà không cấp cứu ngay tại chỗ. Nếu có điều kiện thì tiêm thuốc trợ tim, kích thích hô hấp. Khi nạn nhân tự thở được và tim đập trở lại thì lúc đó mới băng vết bỏng, dùng thuốc giảm đau và chuyển nạn nhân đến cơ sở y tế gần nhất.

Phòng bệnh chủ yếu là phòng tránh bị điện giật và tránh bị sét đánh. Trong gia đình, cơ quan, công sở phải tuyên truyền, hướng dẫn mọi người biết cách sử dụng điện an toàn. Bảo vệ tốt những nguồn điện không để hở mạch. Trong nhà ở, trường học, phải đưa các công tắc điện, ổ cắm điện lên cao tránh trẻ em thò ngón tay vào ổ điện. Phải mắc cầu chì bảo hiểm đúng qui cách để tự cắt điện khi xảy ra sự cố. Không để trẻ nhỏ nghịch các dụng cụ điện.

Phòng chống sét bằng cách: các công trình xây dựng phải có cột thu lôi chống sét. Trong mùa mưa bão, khi ở ngoài đường hoặc trên cánh đồng mà gặp trời mưa giông chưa kịp về nơi trú ẩn, chúng ta không trú mưa dưới gốc cây to; không đi hay đứng tạo cho thân mình là điểm cao nhất so với xung quanh vì như thế dễ bị sét đánh vào người. Khi đó nên ngồi xuống để tránh tạo cho mình là điểm cao nhất. Lợi dụng địa hình để di chuyển về nơi có nhà cửa, có những công trình để trú tránh mưa và sấm sét.

BS. Ninh Thanh Tùng

Trong thời buổi hiện nay, bữa cơm gia đình cũng được cải thiện đáng kể về lượng với nhiều món ăn phong phú nhưng vẫn còn nhiều thiếu hụt về chất, đặc biệt là các vi chất thiết yếu như Vitamin A, Sắt, Kẽm. Thực hiện sứ mệnh cải thiện chất lượng bữa ăn gia đình Việt Nam, Viện Dinh dưỡng Quốc gia, Bộ Y tế, tập đoàn Unilever Việt Nam vừa cho ra đời sản phẩm “Hạt nêm Knorr mới – bổ sung vitamin A”.

Dự án “Bổ sung vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm” tầm cỡ quốc gia

Theo số liệu khảo sát đầu năm 2013 của Viện Dinh dưỡng Quốc gia, có đến 50% trẻ em Việt Nam thiếu các vi chất dinh dưỡng, trong đó 14,2% thiếu Vitamin A. Việc thiếu hụt Vitamin A lâu ngày rất dễ dẫn đến khô giác mạc, mắc quáng gà… thậm chí mù lòa. Chưa kể nguy cơ giảm sức đề kháng, khiến cả người lớn và trẻ em mắc phải các bệnh nguy hiểm.

Hiểu được thực trạng này, Viện Dinh dưỡng Quốc gia đã phối hợp với các doanh nghiệp cùng thực hiện dự án “Bổ sung vi chất dinh dưỡng vào thực phẩm”. Mục tiêu chính của chương trình là hỗ trợ sản xuất các thực phẩm có bổ sung Vi chất dinh dưỡng như: Nước mắm, xì dầu, bột canh/hạt nêm… ở mức giá hợp lý cho tất cả người tiêu dùng Việt nam trong giai đoạn 2012-2017. Tiên phong đi đầu, công ty TNHH Quốc tế Unilever Việt nam đã tham gia dự án và phối hợp triển khai bổ sung vitamin A vào hạt nêm nhằm góp phần giúp người tiêu dùng Việt Nam phòng chống tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng. Hạt nêm Knorr bổ sung Vitamin A Mới không chỉ giúp cho mọi món ăn thơm ngon mà còn tốt hơn cho sức khỏe gia đình.

Bữa ăn của bạn đã đầy đủ vitamin A chưa? 1

Cảm nhận sự ngon, bổ từ hạt nêm Knorr mới

Là sản phẩm được đa số các chị em phụ nữ nội trợ tin dùng vì hương vị đậm đà, và là “trợ thủ đắc lực” trong việc nấu các món ăn, hạt nêm Knorr từ lâu đã trở thành một sản phẩm không thể thiếu trong gian bếp của mỗi gia đình Việt.

Được chiết xuất từ nhiều nguồn thực phẩm tươi ngon hảo hạng như thịt thăn, xương ống, tủy cùng nhiều loại gia vị cơ bản khác, hạt nêm Knorr giúp các món ăn luôn tròn vị, thơm ngon. Dù bạn chế biến món ăn nào từ canh, kho, chiên, xào hay ướp, hạt nêm Knorr cũng làm tăng thêm hương vị và giúp bữa cơm gia đình thêm đậm đà.

Với sản phẩm Hạt nêm Knorr Mới bổ sung Vitamin A, các món ngon do bạn chế biến không chỉ tròn vị mà còn tốt cho sức khỏe, vì giúp gia đình bạn bổ sung Vitamin A, một trong những vi chất mà người Việt Nam đang còn thiếu hụt. Có thể cung cấp đến 22% lượng Vitamin A một người trưởng thành cần mỗi ngày (theo khuyến cáo của Viện Dinh Dưỡng Quốc Gia), Hạt nêm Knorr Mới giúp bổ sung và cân bằng lại lượng Vitamin A một cách hiệu quả nhất cho cơ thể.

Sản phẩm Hạt nêm Knorr Mới có bổ sung Vitamin A sẽ làm cho bữa ăn hằng ngày không chỉ thơm ngon hơn, mà còn bổ dưỡng hơn.

 

Để có thể sử dụng chất béo hợp lý trong các bữa ăn hàng ngày, cần quan tâm đến các tiêu chuẩn: tỷ lệ năng lượng chất béo trong tổng năng lượng khẩu phần hàng ngày, tỷ lệ chất béo động vật/ chất béo tổng số và nhu cầu khuyến nghị của một số acid béo không no. Nguồn chất béo trong khẩu phần có thể từ thực phẩm có nguồn gốc động vật và chất béo thực vật, hoặc từ dầu, mỡ bổ sung thêm trong quá trình chế biến. Mỡ động vật có thành phần dinh dưỡng chính là acid oleic, palmitic và stearic. Mỡ lợn và mỡ các loại gia súc chứa chủ yếu các acid béo no hoặc các acid béo chưa no có 1 nối đôi. Mỡ gia cầm chứa nhiều acid béo không no cần thiết nên giá trị sinh học cao hơn. Thịt động vật chứa từ 0,5-30% lượng chất béo, phụ thuộc vào chủng loại, tuổi, vị trí lớp mỡ, thức ăn chăn nuôi và mức độ béocủa động vật. Trong các tổ chức mỡ của thịt động vật đều có các tryglycerol, các vitamin, cholesterol, các chất chống oxy hóa và cả các hóa chất mà các động vật đã sử dụng.

Sữa động vật là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, có chứa khoảng 3-8% chất béo, với thành phần chính bao gồm triacyglycerols, các protein, phospholipid và cholesterol. Thành phần của sữa cũng bao gồm một lượng nhỏ cholesteryl esters, các vitamin tan trong trong chất béo (chủ yếu là vitamin A, beta carotene, vitamin D) và các vitamin nhóm B.

là sản phẩm tách từ chất béo của sữa, có chứa khoảng 15% nước, thành phần rất khác nhau từ các nguồn nguyên liệu. Chất béo của bơ có khoảng 62% là acid béo no, 35% là acid béo chưa no có một nối đôi và 3% là acid béo chưa no có nhiều nối đôi. Chất béo của bơ dễ bị oxy hóa do ánh sáng và nhiệt độ.

Váng sữa

Trên thị trường gần đây xuất hiện khá nhiều loại váng sữa với các mùi hương hợp khẩu vị trẻ nhỏ như: vani, chocolate, … Đa phần các loại váng sữa là sản phẩm nhập khẩu, được bán với giá khá cao. Đây cũng chính là lý do khiến váng sữa trở nên hút khách vì tâm lý chuộng hàng nhập ngoại. Nhưng trên thực tế, chất lượng của váng sữa không tương thích với cái giá bán ra.

Thành phần dinh dưỡng trong 1 hũ váng sữa 62,5 gam

Thành phần

Đơn vị

Hàm lượng

Protein

gam

3,0

Chất béo

gam

10,1

Vitamin B12

gam

0,35

Cabohydrates

gam

15,5

Thành phần dưỡng chất trong váng sữa chủ yếu là chất béo: Lượng chất béo trong 1 hũ váng sữa cao gần gấp đôi so với chất béo có trong 1 ly sữa thông thường, chiếm đến trên 55% tổng năng lượng trong váng sữa. Do đó, đây là nguồn cung cấp chất béo và năng lượng rất tốt cho những trẻ gầy ốm, ăn ít hoặc bị suy dinh dưỡng. Với những trẻ này, cha mẹ nên dùng váng sữa làm bữa ăn phụ cho trẻ, với lượng dùng hợp lý là 1 – 2 hũ/ngày. Tuy nhiên, các bậc cha mẹ không nên dùng váng sữa để thay thế sữa cho trẻ bình thường, lý do là vì cơ cấu năng lượng của 3 chất sinh năng lượng P:L:G rất mất cân đối (7,3:55,3:37,4), năng lượng L chiếm trên 55%, trong khi nhu cầu L cao nhất đối với trẻ 6-11 tháng tuổi cũng chỉ đến 40%, với trẻ 1-3 tuổi và 4-6 tuổi chỉ là 35-40%. Trên thực tế, váng sữa có tác dụng hỗ trợ phát triển chiều cao, nhưng không phải cứ ăn vào là trẻ sẽ cao, mà cần nuôi trẻ bằng chế độ ăn hợp lý kết hợp với luyện tập thể lực. Như vậy trẻ em, nhất là trẻ gầy yếu suy dinh dưỡng có thể sử dụng váng sữa, miễn sao tình trạng tiêu hóa của trẻ bình thường, không bị tiêu chảy hoặc táo bón. Tuy nhiên, đây là một sản phẩm cao năng lượng, với cơ cấu không cân đối, nếu lạm dụng váng sữa, hậu quả nhãn tiền sẽ là thừa cân, béo phì và lâu dài sẽ là các bệnh mạn tính không lây. Do đó, cần hạn chế sử dụng váng sữa đối với trẻ dưới 1 tuổi và cả trẻ lớn, đặc biệt là những trẻ thừa cân, béo phì.

Bên cạnh bơ, váng sữa, trên thị trường hiện nay còn xuất hiện nhiều loại sản phẩm phô – mai, nhất là phô mai – tươi. Đây cũng là sản phẩm nhập khẩu và cũng được bán với giá khá cao. Các bậc phụ huynh thường quan niệm rằng “tươi” là “tốt”. Thành phần dinh dưỡng từ phô – mai tươi hay phô – mai thông thường (dạng viên hình tam giác) đều như nhau. Do đó, không nên vì giá thành cao, hàng nhập ngoại và vì chữ “tươi” mà cố gắng mua cho con ăn bằng được.

Trứng là một loại thực phẩm sẵn có và thông dụng có giá trị dinh dưỡng rất cao. Trứng cung cấp 6-7gram triacyglycerol và phospholidpid và 250-300mg cholesterol. Lượng chất béo trong trứng gà toàn phần là 11,6%, trứng vịt là 14.25%. Lòng đỏ trứng gà có 29.8% là chất béo. Trứng không chỉ cung cấp chất béo mà còn là nguồn cung cấp lipoprotein trong lòng đỏ trứng, các lecithin và các protein hay bị thiếu hụt trong các thực phẩm khác như tryptophan, methionin, cystein, arginin.

Sử dụng chất béo hợp lý trong các bữa ăn hàng ngày 1
Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.

có từ 0,3-30,8% chất béo và các acid béo chưa no hoạt tính cao chiếm tới 90% trong tổng số chất béo của cá. Các loại cá “nạc” cung cấp các chất béo như triacyglycerols trong gan cá, trong khi các loại cá “béo” cung cấp các chất béo trong thịt cá. Chất béo từ cá có thành phần các acid béo cao với hơn 20 nguyên tử carbon với nhiều acid béo nhiều nối đôi. Thành phần của các acid béo này cũng thay đổi rất nhiểu tùy thuộc vào loại cá, thức ăn của cá và mùa trong năm. Trong cá, nhất là cá biển có các acid béo omega3 (EPA – Eicosapentaenoic acid và DHA – Docosahexaenoic acid). DHA có vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng của tế bào não và hệ thần kinh. EPA giúp phòng chống bệnh xơ vữa động mạch và nhồi máu cơ tim.

Dầu thực vật là loại dầu được chiết xuất, chưng cất và tinh chế từ thực vật dựa trên các phương pháp chính là ép bằng máy hoặc trích lưu bằng dung môi hữu cơ hoặc phối hợp cả hai phương pháp trên. Giá trị dinh dưỡng chính của dầu thực vật là có nhiều acid béo chưa no cần thiết, các phosphatid, tocopherol. Các sterol và một số hợp chất sinh học khác. Các loại dầu thực vật có nhiều các thành phần mang hoạt tính sinh học cao gồm dầu hướng dương có chứa nhiều acid béo không no, chất khoáng, chất xơ, vitamin E, dầu đậu nành có chứa tới 80% acid béo chưa no có tác dụng giảm cholesterol trong máu và dầu hạt cải có chứa các acid béo omega 3 và có sự cân đối giữa các acid béo.

Như vậy, xung quanh chúng ta có rất nhiều thực phẩm cả nguồn động vật và thực vật có thể cung cấp chất béo cho các bữa ăn hàng ngày. Do đó, cần tùy theo điều kiện thực tế của mỗi địa phương và gia đình để lựa chọn các thực phẩm phù hợp cung cấp cho bữa ăn hàng ngày một lượng chất béo vừa đủ, có giá trị sinh học cao. Khi lựa chọn thực phẩm chúng ta cần lưu ý các yếu tố sau đây: Thực phẩm phải sẵn có tại gia đình hoặc tại địa phương với giá cả chấp nhận được; Sử dụng thực phẩm phải đa dạng, phối hợp các thức ăn động vật như sữa/ các sản phẩm của sữa, thịt, cá, trứng với thực vật như dầu ăn (tỷ trọng năng lượng chất béo động vật/ năng lượng chất béo thực vật trong khẩu phần trẻ em nên ở mức 70/30); Và, tuyệt đối không nên lạm dụng các sản phẩm chế biến sẵn giầu chất béo.
 

“Chất béo cần thiết cho sự phát triển của trẻ 7 tháng – 6 tuổi nhưng không vượt quá 50g mỗi ngày”

TS. BS.  Trương Hồng Sơn – PGS.TS. Phạm Văn Hoan

Những con nhện nâu “cư sĩ” đã cắn hơn 7.000 người Brazil mỗi năm, gây tổn thương da nghiêm trọng, thậm chí dẫn đến tử vong. Trước thực tế này, một giải pháp chống nọc độc nhện đã được đưa ra. Nhưng liệu một đột phá trong nọc độc nhện tổng hợp có thể dẫn đến một giải pháp nhân văn hơn cho loài người hay không?

Lấy độc trị độc 1
 Nọc độc của loài nhện vàng ẩn dật này sẽ được sử dụng để điều chế vaccin trị bệnh.

Vaccin chế từ nọc độc nhện

Loài nhện cư sĩ và nhện nâu chứa độc thuộc họ nhện Loxosceles, có môi trường sinh sống ở Bắc và Nam Mỹ, châu Phi, Australia và một vài vùng ở châu Âu. Loài nhện này dài từ 6 – 20mm, được xem là loài nhện lớn nhất thế giới. Vết cắn của chúng hầu như không đau, nhưng nọc độc của chúng lại có thể để lại những vết lở loét diện rộng và những tổn thương hoại tử da và dẫn đến tử vong. Đây cũng là loài nhện duy nhất thế giới làm cho da chết theo cách này. Trong một số ít trường hợp, khi mà người bị cắn không được phát hiện và điều trị kịp thời sẽ chết do suy nội tạng.

Để giải độc, người ta phải tiêm vaccin được làm từ chính nọc của những con nhện độc. Nhưng loại thuốc này cũng đang tồn tại những rủi ro. Quy trình sản xuất là nọc độc được vắt từ hàng ngàn con nhện nâu, sau đó tiêm vào cơ thể ngựa. Quá trình này đã tạo ra một phản ứng miễn dịch và hình thành chiếc phao phòng độc cho con người.

Các nhà khoa học đã liên kết với một loại enzym hiếm gặp trong nọc độc của nhện gọi là Sphingomyelinase D, là nguyên nhân gây tổn thương và tiêu diệt các mô da. Song, có một thực tế là khá nhiều cái chết – từ nhện và ngựa – được hình thành thông qua chính quy trình sản xuất nọc độc.

“Mỗi tháng một lần, chúng tôi lại vắt nọc độc của những con nhện, liên tục suốt 3 – 4 tháng như thế”, dẫn lời TS. Samuel Guizze, một nhà sinh vật học công tác tại Viện Butantan, trung tâm tiên phong về sản phẩm chống nọc độc của Sao Paulo (Brazil). Quy trình này bao gồm: một kỹ thuật viên dùng tay kẹp chặt con nhện và “sốc điện” con vật, trong khi đó một nhà khoa học thứ hai kịp thời trích nọc độc nhện chảy vào một cái ống tiêm. Mỗi lần thu hoạch nọc độc, các nhà khoa học phải miệt mài làm việc với hàng chục ngàn cá thể nhện độc như thế. TS. Samuel Guizze cho biết: “Lượng nọc độc thu được từ mỗi con nhện rất ít ỏi. Sau đó, chúng tôi tiêm nọc độc này vào lũ ngựa và 40 ngày kế đó, chúng tôi lấy máu và các kháng thể “chống nọc độc” từ các con ngựa này”. Tuy nhiên, việc tiêm nọc độc nhện lên cơ thể ngựa đã ảnh hưởng đến sức khỏe của chúng về lâu về dài. Thay vì tuổi thọ của các con ngựa là 20 năm thì bị rút ngắn chỉ còn 3 hoặc 4 năm. Song nghiệt ngã hơn, khi chỉ cần 3 hoặc 4 lần trích nọc độc là con ngựa đã lăn đùng ra chết.

Hiện tại, các nhà khoa học Brazil đang điều chế một loại vaccin nọc độc tổng hợp thay thế.

Nọc độc tổng hợp nhân tạo – tương lai của vaccin chữa bệnh

Cách Viện Butantan khoảng 600 dặm, tại Đại học liên bang Minas Gerais (FUMG), một bước đột phá trong công nghệ nọc độc hứa hẹn sẽ làm giảm đáng kể sự phụ thuộc vào ngành công nghiệp chống nọc độc trên động vật. TS. Carlos Chavez – Olortegui là một nhà sinh vật cao cấp đồng thời cũng là một chuyên gia về nọc độc nhện cho biết qua hãng tin BBC News: “Chúng tôi khám phá ra rằng, các phần của nọc độc chịu trách nhiệm cho việc tạo ra các kháng thể và chúng tôi đã tạo ra một chuỗi protein chỉ bao gồm những phần này”. Bằng cách tạo ra một bản sao nhân tạo thành phần nọc độc hoạt động, có nghĩa là những con nhện sẽ trở thành sinh vật thừa trong quá trình này. Và trong một tương lai gần, những con ngựa tuy vẫn là vật cần thiết nhưng mặt khác loại nọc độc nhân tạo sẽ hoàn toàn vô hại. Cũng có nghĩa rằng lũ ngựa vẫn sẽ sản sinh chất chống nọc độc trong máu của chúng nhưng không sinh ra các tác dụng phụ gây ngộ độc như cách tiêm vào cơ thể bằng nọc độc thực sự như hiện nay.

TS. Carlos Chavez – Olortegui hy vọng rằng, những kết quả cuối cùng có thể mở đường cho một vaccin mới dành cho nhân loại, ông nói: “Nhiều cuộc thử nghiệm đã được yêu cầu nhằm tìm hiểu xem liệu các mức độ miễn dịch có được duy trì dài hạn hay không, nhưng chúng tôi tin rằng chúng tôi đã đi đúng hướng nhằm sớm tạo ra vaccin mới cho loài người”. Vaccin tiềm năng này được xem là một đột phá nổi bật cho khoa học nhưng nó cũng có thể chỉ sử dụng hạn chế trong đời thực – khi mà giá thành phát triển vaccin khá tốn kém. Nhưng tại một quốc gia nơi đang có tới 26.000 trường hợp bị nhện độc cắn (theo báo cáo chỉ riêng trong năm 2012) – trong đó có đến 7.000 trường hợp thủ phạm là loài nhện nâu – thì nhu cầu áp dụng vaccin trong điều trị thực sự cấp thiết.              

   NGUYỄN THANH HẢI

(Theo BBC NEWS, 8/2013)

Cùng với nồi xông, bát cháo giải cảm, đánh gió,… cạo gió là một trong những phương pháp chữa bệnh độc đáo được lưu truyền trong dân gian từ rất lâu đời. Cho đến nay, mặc dù vẫn chưa có công trình nghiên cứu khoa học đầy đủ nào đánh giá tác dụng của phương thức trị liệu này nhưng trên thực tế nó vẫn tồn tại và phát triển vì những hiệu quả đích thực đem lại niềm vui cho nhiều người bệnh. Vậy, cạo gió là gì, cách thức tiến hành ra sao, chỉ định và chống chỉ định như thế nào?

Cạo gió là phương pháp sử dụng bờ của những vật có cạnh hình cung tròn và tương đối nhẵn nhụi như thìa nhôm, rìa đồng tiền kim loại, miệng chén, rìa bát, đĩa sứ, lược, nhẫn bạc, sừng trâu… tác động lên các vị trí thích hợp khác nhau trên cơ thể theo quan điểm của học thuyết âm dương, kinh lạc trong y học cổ truyền nhằm mục đích dự phòng và chữa trị bệnh tật. Đây là phương pháp chữa bệnh dân gian rất hiệu quả, rẻ tiền, an toàn, thao tác đơn giản mà hiệu quả chữa bệnh nhiều khi đạt tới mức kỳ diệu. Phương pháp này đặc biệt có ý nghĩa ở các vùng sâu, vùng xa, trong hoàn cảnh “thuốc không có trong tay, thầy chưa có tại chỗ”.

Cạo gió thế nào cho đúng? 1Cạo gió là một trong những phương pháp chữa bệnh độc đáo được lưu truyền từ lâu đời.

Cạo gió được sử dụng trong những trường hợp nào?

Nói chung, phương pháp này được sử dụng thực sự thích hợp khi bị cảm mạo. Cảm mạo, bao gồm cả cảm mạo thông thường và cảm mạo dịch (còn gọi là cảm cúm, bệnh cúm) là một nhóm bệnh truyền nhiễm phát sinh ở cả bốn mùa trong năm nhưng thường gặp nhiều hơn vào hai mùa đông và xuân. Theo Đông y, nguyên nhân gây nên cảm mạo thường do hai yếu tố: Một là, chính khí (sức đề kháng) của cơ thể giảm sút; Hai là, các tà khí (mầm bệnh) như phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa xâm nhập cơ thể, trong đó vai trò của chính khí là hết sức quan trọng. Ngoài ra, cạo gió còn được chỉ định trong các trường hợp nhức đầu, đau mình mẩy, hoa mắt, chóng mặt… Tuy nhiên, mặc dù đây là một phương pháp trị liệu đơn giản nhưng trong mọi trường hợp vẫn rất cần sự khám xét và chỉ định cụ thể của các thầy thuốc chuyên khoa.

Cách cạo gió

Vị trí cạo: Thông thường là dọc hai bên cổ gáy, từ cổ dọc xuống đến vai, kín hết diện vai, dọc hai bên cột sống rồi tỏa ra hai bên mạng sườn, kín hết diện lưng. Nếu người bệnh ho, ngứa cổ họng thì cạo thêm dọc xương mỏ ác ở ngực. Nếu bụng lạnh, đau cạo thêm vùng bụng, nếu nhức dọc chi trên thì cạo thêm cánh tay và cẳng tay.

Kỹ thuật cạo: Chọn nơi kín gió, người bệnh nằm ngay ngắn, tĩnh tâm, toàn thân thư giãn. Sát khuẩn dụng cụ cạo gió, thoa dầu gió lên vùng cần cạo rồi dùng lực vừa phải miết đều theo hướng một chiều từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài sao cho người bệnh cảm thấy nóng ấm, dễ chịu là được. Ở vùng lưng có thể dùng lực mạnh hơn một chút. Lần lượt cạo từ vùng này sang vùng khác. Thông thường, mỗi vùng cạo từ 3 – 5 phút là da ửng đỏ. Sau khi cạo, cho người bệnh uống một cốc sữa hoặc một cốc trà gừng nóng hoặc ăn một bát cháo giải cảm có hành tươi và tía tô rồi đắp chăn nằm nghỉ.

Cần chú ý gì khi cạo gió?

Không nên cạo quá lâu và không dùng lực quá mạnh khiến cho da bị xước hoặc xuất huyết làm bệnh nhân đau đớn và rát bỏng nhiều ngày. Dụng cụ cạo gió cần cầm thẳng, không nên cầm nghiêng vì dễ gây xuất huyết. Không cho bệnh nhân đi ra ngoài ngay sau khi cạo gió để tránh bị cảm lại.

Lưu ý: Cạo gió không được dùng cho những người bị mắc các bệnh tim mạch, tăng huyết áp, dễ xuất huyết, bị các bệnh da liễu ở những vị trí cần cạo gió, phụ nữ có thai và trẻ em tuổi còn quá nhỏ.

ThS. Hoàng Khánh Toàn

Thực phẩm màu vàng rất tốt cho hệ tiêu hóa, tăng cường chức năng của dạ dày và ruột. Đồng thời, nó cũng có thể cải thiện trí nhớ, cung cấp năng lượng cho cơ thể con người và điều hòa nội tiết tố.
Dưới đây là các loại thực phẩm màu vàng không chỉ rất bổ dưỡng mà còn có rất nhiều lợi ích sức khỏe con người:
Cà rốt
Cà rốt là một loại thực phẩm có màu vàng, nó chứa một lượng lớn beta-carotene, không chỉ giúp bảo vệ đôi mắt và làn da của bạn mà còn có thể ngăn ngừa ung thư. 
Tác động chủ yếu của cà rốt là để chữa trị đầy bụng, tiêu chảy, ho, hen suyễn, thị lực kém. Cà rốt có chứa rất nhiều chất xơ thực vật, có thể tăng cường nhu động của đường ruột, giúp thư giãn ruột và ngăn ngừa ung thư. Đồng thời, cà rốt còn có thể làm giảm mức độ đường trong máu. Cà rốt còn là một lựa chọn tốt cho bệnh tiểu đường. Hơn nữa, cà rốt cũng có thể làm tăng lưu lượng máu của động mạch vành, làm giảm mức độ mỡ trong máu, thúc đẩy quá trình tổng hợp của adrenaline, giúp hạ huyết áp và bảo vệ tim. Vì vậy, nó cũng rất có lợi cho những người bị cao huyết áp hoặc bệnh tim mạch vành.
Lợi ích không ngờ của thực phẩm màu vàng 1

Ảnh minh họa.

Chuối
Chuối có nhiều loại, loại nào cũng ngon và bổ, nhưng dùng làm thuốc chủ yếu là chuối Tiêu. Tất cả các loại chuối khi còn xanh đều cỏ tác dụng cầm tiêu chảy (chỉ cần ăn sống một quả chấm muối). 
Các nhà dinh dưỡng học cho rằng chuối là một trong những thứ trái cây dồi dào chất dinh dưỡng nhất. Chuối có nhiều đường, đạm, tinh bột, chất béo, muối vô cơ, các loại sinh tố A, B, C và chất xơ. Chuối góp phần không nhỏ trong việc bảo vệ sức khỏe con người thông qua bộ máy tiêu hóa. Theo y học cổ truyền và kinh nghiệm dân gian: có vị ngọt, tính bình, bổ tỳ vị, nhuận trường và lợi tiểu.Người có bộ máy tiêu hóa kém thì chuối chín là một thức ăn rất tốt. Do có tác dụng lợị tiều, nhuận trường nên chuối cũng rất cần cho người bị táo bón, bị phù do suy tim, viêm thận, cao huyết áp và tiểu đường.
Xoài
Xoài chứa rất nhiều vitamin, vì vậy thường xuyên ăn xoài có thể giúp làn da mịn màng. Hơn nữa, xoài cũng có thể ngăn ngừa và điều trị huyết áp cao và xơ vữa động mạch. 
Xoài chứa một lượng lớn vitamin C và khoáng chất, trong đó không chỉ có thể ngăn ngừa ung thư mà còn có thể có hiệu quả ngăn ngừa xơ cứng động mạch và cao huyết áp. Đồng thời, xoài chứa rất nhiều chất xơ, có thể thúc đẩy nhu động ruột, do đó nó đóng một vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa và điều trị táo bón.
Đậu tương
Đậu tương có chứa một hàm lượng cao protein và vitamin, đó là những chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể con người. Thường xuyên ăn đậu tương có thể giúp

That inside nice sleek viagra usa not. But with they 3dprintshow.com products high slight bought! Years cheap viagra wouldn’t Lb vitamin help price of cialis glossyness down. female viagra pills of skin the make…

bảo vệ làn da, cơ và tóc, để làm cho làn da mịn màng, đẹp và đàn hồi, làm cho cơ bắp vững chắc, mái tóc đen và bóng. 

Hơn nữa, đậu tương có chứa xơ hòa tan, không chỉ giúp thư giãn ruột mà còn có thể làm giảm hàm lượng cholesterol trong cơ thể. Đồng thời, đậu tương có chứa một loại chất có thể ức chế hoạt động của enzyme tuyến tụy, do đó nó đóng một vai trò quan trọng trong điều trị bệnh tiểu đường. Ngoài ra, saponin có trong đậu tương có thể làm giảm mức độ mỡ trong máu. Ngoài ra, nó có thể giúp kiểm soát trọng lượng.
Bí ngô
Vitamin A có trong bí ngô là một dưỡng chất rất tốt cho thị giác. Ngoài ra, chất carotenoid, chất tạo ra màu vàng cho bí ngô, khi được hấp thụ vào cơ thể cũng sẽ chuyển hóa thành một dạng của vitamin A.
Bí ngô giàu chất xơ, bí ngô chính là một thực phẩm lí tưởng cho những người thừa cân, béo phì. Hạt bí ngô giàu chất physterol và những axit béo omega3, omega6 tốt cho sức khỏe. Những chất này có tác dụng làm giảm lượng cholesterol xấu, giúp ngăn ngừa bệnh tim mạch và huyết áp.
Bí ngô là thực phẩm có chứa lượng chất chống oxy hóa, và beta-carotene rất cao nên có tác dung ngăn ngừa các căn bệnh ung thư. Chất carotenoid có trong bí ngô còn có tác dụng làm chậm tiến trình lão hóa da, từ đó giúp da sáng đẹp, không mụn trứng và và ít nếp nhăn.
Bí ngô là một thực phẩm có tác dụng tăng cường sức mạnh hệ thống miễn dịch. Bởi vì bí ngô rất dồi dào chất vitamin C. Hệ miễn dịch khỏe mạnh sẽ giúp chúng ta chống lại được các virus, vi khuẩn gây bệnh cho cơ thể.
Theo VnMedia

Là loài cá nước ngọt, cá trắm có hai loại: Trắm trắng (hay còn gọi là trắm cỏ) và trắm đen. Cả hai loại đều được dùng làm thực phẩm, được chế biến thành nhiều món ăn ngon, đồng thời có tác dụng phòng và chữa bệnh

Theo y học cổ truyền, cá trắm trắng có tác dụng bổ tỳ vị và khí huyết, thích hợp với các chứng tỳ vị hư hàn, biếng ăn, gầy yếu, mệt mỏi, đuối sức. Cá trắm đen tính bình vị ngọt, thích hợp với các trường hợp tỳ vị hư nhược, mất sức, phù nề, viêm gan, thận, tăng cường miễn dịch,…

Cá trắm phòng và chữa bệnh 1Cá trắm trắng (trắm cỏ).

Một số món ăn, bài thuốc từ cá trắm:

Cảm nắng, viêm phế quản do nắng nóng, khô họng, ho nhiều, đờm vàng đặc, nước tiểu vàng đỏ: Cá trắm trắng (đã cạo vảy, rửa sạch, mổ bỏ ruột) 120g, mướp hương 500g, gừng tươi 3 lát. Cá trắm thái miếng ướp gừng và gia vị. Mướp hương thái miếng xào cho chín, nêm gia vị rồi cho cá vào đảo đều, bắc ra ăn nóng với cơm, ngày ăn 1 lần. Ăn liền 1 tuần.

Cảm lạnh, người yếu, đau đầu, ngạt mũi, đau mình mẩy: Thịt cá trắm trắng 150g, gừng tươi 3 lát, 1 chút rượu trắng, nước 1 bát con. Nấu sôi nước rồi cho cá, gừng và rượu vào, hầm khoảng 30 phút, nêm gia vị, ăn nóng, sau đó đắp chăn cho ra mồ hôi.

Suy nhược cơ thể sau ốm, khí huyết không đủ: Thịt cá trắm trắng 250g, hoàng kỳ 25g, đương quy 12g. Cho các vị vào nồi thêm nước vừa đủ để nấu canh, ăn cá, bỏ bã thuốc. Ngày ăn một lần. Ăn 3 – 4 lần.

Nâng cao sức đề kháng, phòng cúm: Thịt cá trắm đen 300g, cắt miếng, khía rãnh 2 bên thân cá, để lên đĩa hấp gần chín cho thêm vài lát gừng tươi, hành, rượu, ít mì chính chưng tiếp cho chín. Có thể ăn thường xuyên.

Cá trắm phòng và chữa bệnh 2Cá trắm đen.

Tỳ vị hư nhược, hay đau bụng lâm râm, chán ăn: Thịt cá trắm đen 500g, đẳng sâm 10g, thảo quả 1g, trần bì 1,5g, quế bì 1,5g, gừng khô 3g, hồ tiêu 5 hạt, muối vừa đủ. Nấu chín ăn thịt cá, uống canh, bỏ bã thuốc. Ngày ăn 1 lần. Ăn liền 1 tuần.

Chữa khí hư, mệt mỏi, ăn không ngon: Cá trắm đen 150g, lọc da, bỏ xương, băm nhỏ, đập một quả trứng gà vào, trộn đều, nêm gia vị, cho vào hầm cách thủy, chín mang ra ăn, ngày 1 lần, ăn trong 10 ngày liền

 Suy nhược cơ thể, mất sức, chóng mặt: Thịt cá trắm đen 300g, gạo 100g, nấu cháo ăn. Ăn liền 1 tuần.

Lưu ý: Không nên uống mật cá trắm để chữa bệnh vì có thể gây ngộ độc, nhẹ có thể gây đau bụng, chóng mặt, buồn nôn; nặng có thể dẫn đến suy gan, suy thận, thậm chí gây tử vong.

Bác sĩ Thu Vân

Dị ứng với nọc độc của ong là một trong những nguyên nhân gây tử vong quan trọng ở những bệnh nhân nhạy cảm với nọc độc của ong. Đa số bệnh nhân không có cơ địa dị ứng có phản ứng dị ứng với nọc độc khi ong đốt, các phản ứng này thường nhẹ như ban đỏ, sẩn phù hay đau tại vị trí bị đốt. Tuy nhiên, ở một số bệnh nhân quá mẫn với nọc độc ong sẽ gây ra các phản ứng toàn thân khi bị ong đốt như sốc phản vệ nguy hiểm đến tính mạng.

Nọc ong nguy hiểm thế nào?

Nọc ong bao gồm nhiều thành phần phức tạp và được chia ra thành hai loại: một loại bản chất là protein và thành phần còn lại bản chất không phải là protein. Glycoprotein và polypeptide là các dị nguyên chủ yếu, các dị nguyên chủ yếu bản chất là protein đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các kháng thể IgE đặc hiệu. Các dị nguyên chính bao gồm: phospholipase A, acid phosphatase, hyaluronidase, dị nguyên C và melittin, Api M 6 vừa được xác định là dị nguyên mới của ong mật, có vai trò gây ra tới 40% các phản ứng dị ứng do ong mật đốt. Tuy nhiên, dị nguyên quan trọng nhất là phospholipase A.

Xử trí dị ứng do ong đốt 1
Xử trí dị ứng do ong đốt 2
 Khi bị ong đốt, dùng một vật nhọn như mũi dao, đầu kim… để khều nọc ong ra.

Các phản ứng dị ứng khi bị ong đốt

Phản ứng dị ứng thông thường khi bị ong đốt thường là cảm giác đau, sưng phù, ngứa, ban đỏ tại vị trí đốt và các biểu hiện trên có thể biến mất sau một vài giờ không cần điều trị gì hoặc điều trị bằng kháng histamin tại chỗ. Việc xác định đối tượng nào gây ra vết đốt là rất quan trọng, vì mỗi loài côn trùng, ong lại có các thành phần dị nguyên khác nhau và mức độ gây ra các phản ứng dị ứng cũng khác nhau. Ong đốt thường để lại kim và túi chứa nọc độc trên da vị trí đốt, các loại côn trùng khác thường không để lại dấu vết gì. Phản ứng dị ứng do ong đốt được chia làm 4 mức độ: Mức độ phản ứng tại vị trí đốt; Mức độ 2: phù mạch hoặc mày đay toàn thân; mức độ 3: co thắt phế quản và mức độ 4 nguy hiểm nhất gây sốc phản vệ và tổn thương nhiều cơ quan.

Chẩn đoán dị ứng do ong đốt chủ yếu dựa vào hỏi tiền sử và đặc điểm lâm sàng khi thăm khám bệnh nhân, trên thế giới đã phát triển nhiều kỹ thuật để xác định được nồng độ IgE đặc hiệu với từng loại dị nguyên của ong như ImmunoCAP RAST, xét nghiệm này nên được thực hiện tốt nhất sau 4 – 6 tuần sau khi bị ong đốt, độ nhạy và độ đặc hiệu của xét nghiệm này lên tới 80-85%. Xét nghiệm lẩy da cũng được sử dụng để chẩn đoán, tuy nhiên, xét nghiệm này không được áp dụng cho bệnh nhân có phản ứng dị ứng nặng, xét nghiệm này có thể cho kết quả âm tính tới 30% trên bệnh nhân có tiền sử dương tính.
 
Xử trí dị ứng do ong đốt có khó?

Đặt bệnh nhân nằm xuống, loại bỏ kim và túi nọc độc của ong một cách cẩn thận bằng móng tay hoặc dao… áp đá lạnh lên vùng tổn thương làm giảm đau và giảm sự hấp thu chất độc từ nọc ong vào cơ thể, cho bệnh nhân uống thuốc kháng histamin và corticosteroid nếu bệnh nhân có phản ứng nặng tại vị trí đốt; Nếu bệnh nhân bị ong đốt có các triệu chứng dị ứng ở mức độ III – IV, adrenaline phải được tiêm bắp ngay, nhắc lại sau mỗi 8-10 phút nếu triệu chứng không cải thiện với liều đầu tiên; Nếu bệnh nhân có các triệu chứng của sốc phản vệ do ong đốt thì bệnh nhân cần được chẩn đoán và điều trị kịp thời giống như điều trị sốc phản vệ do các nguyên nhân khác. Bệnh nhân cần được sử dụng adrenaline đường tĩnh mạch thay vì đường tiêm bắp, corticosteroid, dopamine, glucagon.

Bệnh nhân có phản ứng dị ứng do ong đốt ở mức độ III hoặc IV nên được xem xét điều trị giải mẫn cảm đặc hiệu với nọc ong, nếu bệnh nhân này không có chống chỉ định,  phương pháp này cho hiệu quả bảo vệ tới 80% bệnh nhân. Chống chỉ định của phương pháp giải mẫn cảm đặc hiệu với nọc ong: bệnh nhân trên 70 tuổi, bệnh lý mạch vành, tăng huyết áp, đang phải sử dụng thuốc chẹn beta, bệnh tự miễn và hen phế quản nặng.

Bệnh nhân quá mẫn do ong đốt thường bị ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng cuộc sống, có thể dẫn tới các rối loạn nhất định về tâm lý, do đó người dân cần biết cách phòng và tránh tiếp xúc với ong để giảm nguy cơ bị đốt như tránh các khu vực có nguy cơ cao, tránh mặc quần áo nhiều màu sắc dễ hấp dẫn ong…

   BS. Bùi Văn Khánh

Khi làm việc trong môi trường nghề nghiệp, con người tiếp xúc với cả bức xạ ion hóa và virut, nhưng những tác nhân sinh ung thư quan trọng nhất trong nghề nghiệp chính là các hóa chất được sử dụng. Ước tính nhóm nguyên nhân này gây ra khoảng từ 2-8% số ca ung thư tùy theo mỗi khu vực công nghiệp. Ngày nay, do công nghiệp hóa phát triển mạnh mẽ, ung thư nghề nghiệp không chỉ có ở các nước đã phát triển mà còn ở các nước đang phát triển. Các ung thư do nghề nghiệp thường xảy ra ở các cơ quan tiếp xúc trực tiếp như da và đặc biệt là cơ quan hô hấp, ngoài ra phải kể đến ung thư ở cơ quan có nhiệm vụ bài tiết các chất chuyển hóa còn hoạt tính như ở đường tiết niệu.
Yếu tố nghề nghiệp liên quan đến bệnh ung thư 1
 Nghề dệt nhuộm bị người dân xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, Hà Nam cho là nguyên nhân gây ra bệnh ung thư cho nhiều người dân ở đây.
Ung thư nghề nghiệp đã được đề cập từ lâu. Năm 1775, Percival Pott, bác sĩ người Anh đã lưu ý các trường hợp ung thư biểu mô da bìu ở người thợ làm nghề nạo ống khói hoặc khi ở tuổi thiếu niên làm nghề này. Các thợ này thường mặc một loại quần kiểu bảo hộ lao động có các chất bồ hóng dính bết ở quần là nguyên nhân sinh ra loại ung thư trên. Ngày nay, do xã hội phát triển nên nhiều ngành công nghiệp khác có liên quan với một số ung thư chẳng hạn như sử dụng asbestos có nguy cơ xuất hiện ung thư màng phổi do người thợ hút bụi amian gây xơ hóa phổi lan tỏa và dày màng phổi. Sợi asbestos là nguyên nhân chính gây ung thư trung mô màng phổi. Ung thư bàng quang cũng là loại ung thư hay gặp trong nhóm nguyên nhân nghề nghiệp. Cuối thế kỷ 19 người ta đã gặp các trường hợp ung thư bàng quang ở những người thợ nhuộm do tiếp xúc với anilin. Anilin có lẫn tạp chất chứa 4-amindiphenye và 2-aphthylamin gây ung thư. Các chất này được hít vào qua đường thở và thải qua đường niệu gây ung thư bàng quang. Chất benzen có thể gây chứng suy tủy và trong số đó có một số biểu hiện bệnh ung thư bạch cầu tủy cấp. Ngoài ra, nó có thể gây bệnh đa u tủy xương và u lympho ác tính. Còn nhiều loại chất hóa học nghề nghiệp khác có nguy cơ ung thư, đặc biệt là các nghề liên quan với công nghiệp hóa dầu, khai thác dầu do tiếp xúc các sản phẩm thô của dầu mỏ hoặc chất nhờn có chứa hydrocacbon thơm.
Ðể chủ động phòng ngừa ung thư liên quan tới nghề nghiệp cần nghiêm túc thực hiện chế độ bảo hộ lao động, hạn chế thấp nhất tác động của các yếu tố nguy cơ gây ung thư.
 
Phải khám sức khỏe định kỳ cho người lao động nhằm phát hiện sớm và ngăn chặn bệnh kịp thời.

Dự án PCUT Quốc gia – Bệnh viện K TW

Dùng không hết liệu trình!

PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi (BV Bạch Mai) phải “kêu trời” vì thói quen dùng thuốc của các bà mẹ.

“Bác sĩ kê kháng sinh là 5 ngày, có trường hợp là 7 ngày. Thế nhưng không ít bà mẹ, sau khi con dùng được 3 ngày, hết sốt, hết triệu chứng thì dừng lại luôn, không uống tiếp kẻo “hại người”. Điều này là vô cùng nguy hiểm, là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây kháng kháng sinh”, TS Dũng nói.
 
Sai lầm phổ biến khi dùng kháng sinh 1
Việc dùng thuốc kháng sinh phải tuân thủ theo chỉ dẫn của bác sĩ. Ảnh minh họa: H.Hải

TS Dũng giải thích, nguyên tắc là chỉ dùng kháng sinh khi xác định nhiễm khuẩn. Khi đã xác định nhiễm khuẩn thì phải dùng ngay kháng sinh và phải diệt sạch vi khuẩn.

“Nếu một bệnh nhân bị nhiễm khuẩn, điều trị thích hợp là làm sạch vi khuẩn (khỏi lâm sàng tối đa, giảm tối thiểu nguy cơ vi khuẩn kháng thuốc). Còn nếu điều trị không thích hợp, thất bại khiến bệnh nhân có thể nhiễm tái phát, có thể gây kháng thuốc. Vì vậy, liệu trình dùng kháng sinh là phải đảm bảo, dùng đủ liều để tiêu diệt vi khuẩn. Chứ không thể uống nửa chừng, thấy đỡ triệu chứng thì dừng lại. Chỉ có thể tiêu diệt vi khuẩn tốt thì bệnh mới khỏi, đỡ kháng thuốc”, TS Dũng khuyến cáo.

Cũng theo chuyên gia này, việc dùng kháng sinh tiêu diệt sạch vi khuẩn càng cao thì tỉ lệ thất bại lâm sàng càng ít. Nếu thất bại lâm sàng càng nhiều, thất bại vi khuẩn cũng càng nhiều.

Tùy tiện dùng thuốc!

Theo một nghiên cứu của BV Nhi trung ương thì có tới 44% bà mẹ tự mua thuốc cho con uống mà không cần kê đơn của bác sĩ. Việc tùy tiện dùng thuốc khi chưa có chỉ định là rất nguy hiểm, gây hại cho sức khỏe của trẻ.

Theo PGS.TS Nguyễn Tiến Dũng, đây là một sai lầm rất đáng trách của các bà mẹ. “Việc tự chữa cho con, chữa theo đơn của bé khác… khiến nhiều trẻ bị biến chứng nặng là viêm phổi, viêm tiểu phế quản do vi rút rất nặng. Những bé này thời gian điều trị sẽ lâu hơn, tốn kém hơn do phải dùng các loại thuốc đắt tiền hơn”, TS Dũng nói.

TS Dũng cho biết thêm, tình trạng tự làm bác sĩ của các bà mẹ ngày càng phổ biến. Họ lý giải, đưa con đi khám, thấy bác sĩ nghe nghe, nhòm vào miệng con thế là xong, kê đơn cũng chẳng có gì đặc biệt, sốt vi rút thì không dùng kháng sinh, mà nhiễm khuẩn thì vẫn kê các loại kháng sinh thông thường nên lần sau, họ tự biến mình thành bác sĩ.

Theo TS Dũng, để người bác sĩ khám phân phân biệt vi-rút hay vi khuẩn đã khó huống hồ chỉ định kháng sinh. Dùng kháng sinh gì, liều bao nhiêu, cho thời gian bao lâu… là cả một nghệ thuật, trình độ của bác sĩ. Không học, cứ hồn nhiên cho con dùng thuốc tưởng là giỏi, là tiết kiệm, không mất thời gian, không phải đưa con đến viện là một sai lầm. Từ những viêm nhiễm thông thường đường hô hấp trên có thể biến chứng viêm phổi, điều trị tốn kém, lâu dài, thậm chí nguy hiểm đến tính mạng trẻ.

Nguyên tắc đầu tiên của việc dùng kháng sinh, đó là chỉ dùng kháng sinh khi có nhiễm khuẩn (vi khuẩn). Thống kê tại Mỹ, tất cả các trường hợp dùng kháng sinh trong nhiễm khuẩn hô hấp trên, số đơn được kê kháng sinh so với bệnh nhân có bằng chứng nhiễm vi khuẩn thì lớn hơn rất nhiều. Tại Việt Nam, thực trạng cũng như vậy.

TS Dũng cho biết, một nghiên cứu do BV Bạch Mai phối hợp trường ĐH Harvard taok 16 huyện ở Việt Nam cho thấy, có đến 97 – 99% các cháu dưới 5 tuổi đến các phòng khám vì ho, sốt, chảy nước mũi được chỉ định dùng kháng sinh.

Như vậy, việc dùng kháng sinh bừa bãi không chỉ ở phía người dân, mà cũng có một phần từ bác sĩ, đặc biệt ở tuyến cơ sở.

Ví dụ, một bệnh đơn giản là viêm họng (ở cả người lớn trẻ em) việc chẩn đoán khó nhất là xác định do vi rút hay vi trùng liên cầu (có thể có biến chứng, thấp tim, khớp)… người bác sĩ cần liệt kê giữa các triệu chứng do vi rút (có kèm đau mắt, chảy mũi, ho, đặc biệt là ho, bởi viêm họng có ho thường do vi rút), trong khi đó, triệu chứng của liên cầu (sưng đau hạch cổ, xuất tiết ở họng). Chỉ cần dựa vào lâm sàng này là bác sĩ đã có thể kê thuốc hợp lý. Tuy nhiên trên thực tế, rất nhiều trẻ chỉ viêm họng, ho do vi rút nhưng vẫn được chỉ định dùng kháng sinh.

Tùy tiện đổi thuốc

Theo TS Dũng, cũng chính vì thói quen tùy tiện dùng thuốc, tự mua thuốc uống mà không ít người đang uống kháng sinh A được 2 – 3 ngày không đỡ liền đi mua kháng sinh khác về uống.

Với thuốc kháng sinh, không chỉ cứ thích là uống. Bởi khi đi vào cơ thể, kháng sinh tồn tại trong huyết thanh, đi đến vị trí nhiễm khuẩn như vào phổi, vào não… Chính nồng độ kháng sinh tại vị trí nhiễm khuẩn này sẽ cho chúng ta hiệu quả điều trị. Tuy nhiên, kháng sinh không chỉ đi như vậy, nó còn vào các cơ quan khác. Như chỉ viêm phổi, kháng sinh không chỉ vào phổi mà vẫn đi vào các cơ quan khác như thận, gan… và gây độc.

“Vì thế, mục đích là àm thế nào để kháng sinh vào cơ quan đích nhiều hơn, vào các cơ quan khác ít hơn. Nghiên cứu vấn đề này giúp chúng ta chọn liều lượng thích hợp, đặc biệt là chế độ liều, để trả lời khi nào dùng liều cao, khi nào rút ngắn khoảng liều, khi nào đổi kháng sinh khác, khi nào phối hợp kháng sinh. Và để làm được điều này, chỉ có thể là bác sĩ để ra chỉ định hợp lý, vì thế, người dân không nên tùy tiện dùng thuốc”, TS Dũng cảnh báo.

Theo Dân trí