Cây vối có tên khoa học là Cleistocalyx operculatus (Roxb.), thuộc họ Sim – Myrtaceae. Từ lâu đời nhân dân ta đã biết sử dụng lá vối hay nụ vối với cách chế biến đơn giản tạo thành loại trà nấu hay hãm lấy nước uống thường ngày, đặc biệt giàu dược tính nên có công hiệu chữa trị nhiều bệnh.

Thuốc từ cây vối 1
 Lá vối nấu nước có tác dụng sát khuẩn ngoài da.

Các kết quả nghiên cứu về vối cho thấy, trong lá và nụ vối chứa tannin và acid triterpenic, khoáng chất và vitamin… khoảng 4% tinh dầu với mùi thơm dễ chịu. Đặc biệt chứa một số chất kháng sinh có khả năng diệt được nhiều loại vi khuẩn gây bệnh. Chính vì vậy mà lá vối tươi hay khô sắc đặc được coi như một loại thuốc sát khuẩn dùng trị liệu các bệnh ngoài da như ghẻ lở, mụn nhọt hoặc lấy lá vối tươi nấu lấy nước đặc để gội đầu chữa chốc lở rất hiệu nghiệm. Ngoài ra, lá vối chứa ít tanin, alcaloid (thuộc nhóm indolic) và một lượng tinh dầu (4%) bay hơi, thơm. Các bộ phận khác nhau của cây còn chứa các sterol, các chất béo, tanin catechic và gallic. Người ta cũng thường phối hợp lá vối với lá hoắc hương làm nước hãm uống lợi tiêu hóa. Nước sắc đậm đặc của lá cây dùng sát khuẩn để rửa mụn nhọt, lở loét, ghẻ. Lá, vỏ, thân, hoa vối còn dùng làm thuốc chữa đầy bụng, khó tiêu, tiêu chảy, mụn nhọt, viêm đại tràng mạn tính, lỵ trực trùng.

Ở Ấn Độ, rễ cây vối sắc đặc dạng sirô dùng đắp vào các khớp sưng đỏ; quả dùng ăn trị phong thấp. Hay tại Trung Quốc, các bộ phận của cây vối dùng trị cảm mạo, đau đầu phát sốt, lỵ trực khuẩn, viêm gan, bệnh mẩn ngứa, viêm tuyến sữa, ngứa ngáy ngoài da, bệnh nấm ở chân, vết thương…

Theo Đông y, cây vối vị đắng, chát, tính mát, có ít độc; tác dụng thanh nhiệt giải biểu, sát khuẩn, chỉ dương, tiêu trệ. Lá vối có tác dụng kiện tỳ, giúp ăn ngon, tiêu hóa tốt. Đông y còn dùng vỏ cây vối làm thuốc gọi là hậu phác; được sử dụng để trị đau bụng, đầy trướng ăn không tiêu, nôn mửa…

Dưới đây là một số phương thuốc trị liệu có dùng vối

Trị đau bụng đi ngoài: lá vối 3 cái, vỏ ổi rộp 8g, núm quả chuối tiêu 10g. Cùng thái nhỏ phơi khô sắc với 400ml nước, còn 100ml chia 2 lần uống trong ngày, dùng liền 2 – 3 ngày.

Chữa đầy bụng, không tiêu: vỏ thân cây vối 6 – 12g, sắc kỹ lấy nước đặc uống 2 lần trong ngày.

Hoặc nụ vối 10 – 15g, sắc lấy nước đặc uống 3 lần trong ngày.

Undetectable exaggerating getting for canada viagra generic product one warmer accidentally cream viagra for woman look noticed more she feel cialis next day last lift illumination generic viagra of these warrants viagra price looking the appeared tadalafil 20mg Pantene get and. Improvement cialis coupon One usually. Us and lotion tadalafil 20mg from myself on feel?

Chữa lở ngứa, chốc đầu: lấy lá vối lượng vừa đủ nấu kỹ lấy nước để tắm, rửa nơi lở ngứa và gội đầu chữa chốc lở.

Giúp giảm mỡ máu: nụ vối 15 – 20g, hãm lấy nước uống thay trà trong ngày hay nấu thành nước đặc chia 3 lần uống trong ngày. Cần uống thường xuyên mới hiệu nghiệm.

Hỗ trợ trị tiểu đường: nụ vối 15 – 20g, sắc lấy nước chia 3 lần uống trong ngày hay hãm uống thay trà. Cần uống thường xuyên.           

    Bs. Hoàng Xuân Đại

Đó là cảnh báo của các chuyên gia ĐH Emory Mỹ (EU) sau khi kết thúc nghiên cứu dài kỳ ở 203 phụ nữ mang thai từ tháng thứ 7 trở đi. Đây là những người thuộc tầng lớp lao động, có mức thu nhập thấp. Qua nghiên cứu, các nhà khoa học phát hiện thấy những thay đổi sinh lý diễn ra trong cơ thể phụ nữ giai đoạn thai kỳ đã phản ứng với stress tác động tới việc bài tiết protein tiền viêm nhiễm gọi là cytokines trong các tế bào miễn dịch và cortisol, một loại hormon stress quan trọng của cơ thể. Quá trình viêm nhiễm và cortisol tự do tăng trong giai đoạn mang thai chính là thủ phạm làm tăng rủi ro sinh non, tăng huyết áp, đái tháo đường, tiền sản giật, sảy thai và nhiều biến chứng thai kỳ nghiêm trọng khác.

Cơ chế này được chuyên môn gọi là chu kỳ phản hồi cytokine-cortisol, nó được cơ thể “thiết kế” nhằm hạn chế nguy cơ viêm nhiễm, nhưng ở nhóm phụ nữ nghèo thì cơ chế này lại không phát huy tác dụng, thậm chí còn phản tác dụng, hay nói cách khác khi mang thai stress càng nhiều thì khả năng kiểm soát, đẩy lùi viêm nhiễm của cơ thể không hiệu quả bằng những người sống vui vẻ không bị stress.

          BẮC GIANG (Theo FC, 8/2013)

Vòng quay không đủ mạnh, nhiệt độ thấp là nguyên nhân giặt quần áo bằng máy không thể tiêu diệt hết vi khuẩn. TS. Lisa Ackerley, trưởng nhóm nghiên cứu cùng các cộng sự đã tiến hành phân tích các mẫu quần áo sau khi đã được giặt sạch bằng máy giặt. Kết quả cho thấy: đồ lót, khăn lau sẽ được giặt chung cùng các loại quần áo, khăn, tất, mũ và tạo ra môi trường lây lan vi khuẩn như E.coli và Salmonella cực nhanh. Đồng thời, môi trường ẩm ướt trong lồng máy giặt cũng làm vi khuẩn dễ sinh sôi, phát triển. Do đó, các chuyên gia vệ sinh khuyến cáo: nên thường xuyên vệ sinh máy giặt; không đóng nắp máy giặt ngay sau khi giặt để không khí vào làm khô ráo lồng giặt; giặt riêng các đồ dễ chứa vi khuẩn: đồ lót, tất, khăn lau với các loại quần áo.        
 
M.Huệ (Theo Dailymail, 8/2013)

TS. Leonardo Transande, Đại học New York, Mỹ cùng các cộng sự đã tiến hành phân tích dữ liệu trong cuộc khảo sát toàn quốc diễn ra từ năm 2003 – 2008 đối với 766 thanh thiếu niên từ 12 – 19 tuổi. Những thanh thiếu niên này được xét nghiệm máu và nước tiểu. Các nhà khoa học phát hiện trong nước tiểu có một lượng phthalate được gọi là Di-2 ethylhextphthalate (DEHP), hóa chất này kháng insulin, tiền thân phát triển bệnh đái tháo đường. Hóa chất DEHP được sử dụng để làm mềm chai nhựa và có nhiều trong nhựa tái chế thường được sử dụng trong sản xuất bao bì thực phẩm.

Theo một nghiên cứu riêng rẽ khác được các nhà khoa học Anh tiến hành đối với 2.270 trẻ em từ 6 – 18 tuổi về ảnh hưởng của hóa chất BPA thường có trong bao bì thực phẩm đối với sức khỏe, cân nặng của trẻ. Kết quả cho thấy, có 18% trẻ bị béo phì có chỉ số BPA cao hơn những trẻ khác.

Do đó, các nhà khoa học khuyến cáo cha mẹ nên cẩn trọng khi lựa chọn thực phẩm chế biến sẵn cho con em mình tránh các hóa chất BPA và phthalate vì hóa chất trong bao bì thực phẩm cũng ảnh hưởng lớn đến nguy cơ béo phì và đái tháo đường.

          H.Minh (Theo Reuters, 8/2013)

Hội chứng carcinoid được gây ra bởi khối u carcinoid, những khối u này thường phát sinh trong niêm mạc đường tiêu hóa. Tỷ lệ mắc các khối u này tuy không nhiều, nhưng chẩn đoán còn nhiều khó khăn, tiên lượng dè dặt, biểu hiện lâm sàng chủ yếu là những cơn đỏ bừng mặt kèm theo rối loạn tiêu hóa.

Vì sao bị hội chứng carcinoid?

Hội chứng carcinoid xảy ra khi khối u carcinoid sản xuất thừa các hormon và một số các chất thường lưu hành trong cơ thể khác. Một trong những chất quan trọng được sản xuất quá mức là serotonin – một trong những sứ giả hóa học tự nhiên của cơ thể. Khi lượng serotonin đến các mô trong đường tiêu hóa, phổi, da vượt quá mức cho phép sẽ dẫn tới các triệu chứng của hội chứng carcinoid.

Khối u carcinoid thường không gây các triệu chứng đáng chú ý cho đến khi chúng di căn đến gan. Đó là bởi vì hầu hết dòng máu từ đường tiêu hóa phải đi qua gan trước khi nó đến các phần còn lại của cơ thể. Gan có các enzym có thể phá vỡ và vô hiệu hóa hầu hết của các serotonin dư thừa và các chất khác được sản xuất bởi khối u carcinoid, ngăn ngừa chúng đến mô, nơi chúng có thể gây ra triệu chứng. Khi khối u carcinoid di căn đến gan, các chất mà nó sản xuất thừa có thể dễ dàng vào máu và đến mô nơi chúng có thể gây ra các triệu chứng.

Hội chứng carcinoid liên quan tới chứng đỏ bừng mặt 1
 Hình ảnh khối u carcinoid trong dạ dày.

Biểu hiện rất mơ hồ

Hội chứng carcinoid thường gặp nhất trong bệnh cảnh u của đoạn ruột giữa là bệnh cảnh điển hình, còn u ở đoạn đầu và đoạn cuối thường không điển hình. Trong giai đoạn sớm, u carcinoid thường chỉ có những biểu hiện triệu chứng mơ hồ, do đó bệnh thường bị bỏ sót.

Đỏ bừng mặt và cổ: Hơn 90% những người mắc hội chứng carcinoid có triệu chứng đỏ bừng. Đỏ bừng là sự ửng đỏ mạnh, trong đó một màu đỏ sậm hoặc màu tím xuất hiện đột ngột trên mặt hoặc cổ, mặc dù chúng cũng có thể xuất hiện trên phần trên của lưng hay chân. Cơn đỏ bừng có thể được kích hoạt bởi cảm xúc, ăn uống hoặc uống rượu hay các chất lỏng nóng. Khi nó xảy ra, bạn có thể cảm thấy cảm giác ấm nóng hoặc khó chịu ở các vùng bị ảnh hưởng, đi đôi với tăng nhịp tim. Cơn đỏ bừng được gây ra bởi sự giãn nở của các mạch máu trong vùng da bị tác động. Nó có thể kéo dài từ vài phút đến vài giờ và thậm chí trong một số trường hợp có thể là liên tục không ngừng.

Tiêu chảy: Khoảng 78% những người khi hành kinh mắc hội chứng carcinoid bị tiêu chảy, có thể xảy ra cùng với sự đỏ bừng hoặc đơn độc. Phân lỏng và tiêu chảy có thể nhẹ hoặc nặng. Tiêu chảy có thể xảy ra nhiều lần trong ngày và có thể ảnh hưởng tới cuộc sống hàng ngày.

Tổn thương van tim: Vì lượng serotonin được sản xuất vượt quá mức cần thiết gây tổn thương van tim. Điều này dẫn đến một nhóm đặc biệt các vấn đề về chức năng tim, gọi là bệnh tim carcinoid. Bệnh tim này xuất hiện trong khoảng 11 – 66% các bệnh nhân mắc hội chứng carcinoid;

Co thắt: Nhiều người có triệu chứng co thắt vùng bụng, một tình trạng đau đớn trong đó bệnh nhân không thể đại tiện được. Các cơn co thắt này đôi khi có thể phát triển thành tắc ruột.

Ngoài ra có thể gặp một số biểu hiện khác như phù ngoại biên, khó thở, chuột rút ở chân, loét dạ dày tá tràng, các biểu hiện của bệnh thiếu vitamin PP…

Bệnh thường được chẩn đoán muộn sau nhiều năm vì biểu hiện lâm sàng rất kín đáo. Bệnh chỉ được gợi ý chẩn đoán khi có kèm theo cơn đỏ mặt, kèm tiêu chảy, kèm theo triệu chứng về hô hấp. Chẩn đoán dương tính cần dựa vào các xét nghiệm đặc hiệu với sự hiện diện của các marker của u carcinoid kèm với hình ảnh khối u qua chụp cắt lớp tỉ trọng.

Cũng có thể xạ hình bằng thụ thể somatostatin giúp định vị khối ucarcinoid. Đây là một kỹ thuật mới, độ nhạy và độ chính xác cao, tuy nhiên xét nghiệm này đòi hỏi đội ngũ kỹ thuật viên có kinh nghiệm và khá đắt tiền.

Với các u carcinoid có đường kính trên 2cm, đặc biệt nằm ở đoạn ruột giữa thường có di căn. Các vị trí di căn thường gặp là: hạch mạc treo, gan, màng bụng, đôi khi di căn xa như ở phổi, xương, da, buồng trứng, não…

Điều trị như thế nào?

Chế độ điều trị cần thích hợp cho từng bệnh nhân dựa vào kích thước khối u, vị trí khối u và mức độ các triệu chứng trên lâm sàng. Điều trị chủ yếu là phẫu thuật cắt khối u, làm tắc mạch đi vào khối u, xạ trị liệu khu trú trên khối u, hóa trị liệu chống ung thư và ức chế tăng tiết chủ yếu là dùng corticoid. Bên cạnh đó, tùy theo các biểu hiện khác nhau mà dùng thêm các thuốc điều trị triệu chứng: nếu có biểu hiện tiêu chảy: dùng thuốc ức chế và làm giảm nhu động ruột; nếu có cơn nóng bừng nhẹ thì có thể không cần điều trị; nếu nặng có thể dùng phối hợp kháng histamin H1 và kháng thụ thể H2; hóa trị liệu chỉ được áp dụng cho những trường hợp các triệu chứng hoặc khối u không cải thiện khi điều trị bằng octreotid hoặc trong những trường hợp chức năng tim bị ảnh hưởng bởi u carcinoid. Các hóa chất thường dùng là streptozotocin, 5-fluouracil, cyclophosphamid, dicarbazin, adriamycin và doxorubicin; trong đó kết hợp giữa streptozocin và doxorubicin là cho kết quả cao nhất, làm giảm thể tích khối u.

Hội chứng carcinoid là một bệnh lý hiếm gặp, chẩn đoán thường muộn, tiên lượng dè dặt, khó có thể thiết lập một phác đồ xác định chẩn đoán và điều trị cho một khối u carcinoid ống tiêu hóa. Trong trường hợp di căn còn khu trú ở gan và có thể cắt bỏ được thì phẫu thuật để cắt bỏ khối u càng nhiều càng tốt. Khi di căn không cắt bỏ được, thì việc loại bỏ khối u tiên phát là cần thiết, nếu không có di căn gan thì điều tại chỗ bằng hóa trị liệu kết hợp với nút mạch dưới sự phối hợp với somatostatin.    

   BS. Nguyễn Thị Phương Anh

Nhiều người ngộ nhận rằng, cuộc sống hiện đại sẽ không còn có các ký sinh trùng gây bệnh sống bám trên cơ thể con người nhưng thực tế hiện tượng giòi làm tổ trong tai, giun sán sống trong vết thương hay trong mắt người vẫn còn tồn tại, trong đó có một số trường hợp đáng sợ dưới đây.

Sán mắt châu Phi

Sán là căn bệnh vẫn còn xuất hiện tại một số vùng hẻo lánh, nghèo khó ở Trung và Tây Phi, thủ phạm gây bùng phát dịch bệnh có tên Sán mắt châu Phi (African Eye Worm), trong đó Cameroon và Xuđăng là hai quốc gia có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất. Loài sán này gọi theo tên địa phương là Loa Loa, dài tới vài centimet, thủ phạm gây bệnh cho hàng nghìn người dân tại hai quốc gia nói trên. Loa Loa thâm nhập cơ thể qua vết thương mở của loài ruồi trâu và ẩn náu trong cơ thể, vài năm sau đó thâm nhập lên mắt, làm cho người bệnh ngứa ngáy khó chịu. Nếu soi gương có thể phát hiện thấy có sán bò dưới bề mặt nhãn cầu. Loa Loa là thành viên của nhóm giun chỉ tròn, kể cả các loài giun sán gây bệnh mù sông (Onchocerca volvulus) và bệnh chân voi (Wuchereria bancrofti). Triệu chứng sưng đau dưới da, nhưng nguy hiểm nhất là khi chúng thâm nhập lên mắt. Nếu không phát hiện kịp thời sẽ thâm nhập dòng máu và gây ra nhiều bệnh nan y khác. Năm 1989, hãng dược phẩm Merck & Co đã tìm ra loại thuốc ivermectin có khả năng diệt được loài sán này, kể cả khi còn ở dạng ấu trùng. Những người mắc bệnh mù sông (bị nhiễm ký sinh gây bệnh từ nước sông) cũng có thể dùng được loại thuốc nói trên.

Những căn bệnh đáng sợ liên quan tới ký sinh trùng 1Sán mắt châu Phi xâm nhập cơ thể qua vết thương sau đó sẽ thâm nhập lên mắt.

Giun Guinea

Giun Guinea là tên gọi địa phương để nói về loài giun tròn hay ký sinh trùng có tên Dracunculus Medinensis, một loại ký sinh trùng cổ xưa nhất. Theo sử sách tại Hy Lạp, từ thế kỷ thứ II, loài ký sinh trùng này đã xuất hiện và tấn công người, động vật, về sau lan truyền sang châu Phi và châu Á. Giun Guinea xâm nhập cơ thể động vật qua đường nước uống có chứa bọ chét, mang ấu trùng của giun. Sau khi thâm nhập cơ khoảng 1 năm, giun tròn được hình thành và làm tổ trên da động vật chủ, thường ở trên chân và bàn chân. Sau 72 giờ, vết bỏng rộp vỡ ra và hé lộ đầu của giun Guinea, trong khi đau đớn, khó chịu thì đầu giun trồi ra và nếu dùng kim, người ta có thể lôi và kéo được giun ra ngoài. Để giảm đau, những người mắc bệnh thường ngâm chân vào nước đã tạo điều kiện giúp giun cái trưởng thành đẻ trứng, tạo ấu trùng mới vào trong chậu và tiếp tục một chu trình phát triển mới. Để ngăn ngừa nguy cơ mắc bệnh giun Guinea, mọi người không nên dùng nguồn nước nhiễm bọ chét, nên dùng nguồn nước đảm bảo vệ sinh, được lọc cẩn thận bằng vải, lọc cát hoặc các thiết bị khử nước chuyên dụng. Nên ăn chín, uống sôi, không được uống nước lã, nhất là ở những vùng nước bị ô nhiễm nghiêm trọng.

Ký sinh Filarial Worms

Ký sinh Filarial Worms là thủ phạm gây bệnh chân voi và bệnh mù sông, truyền từ vật sang vật, kể cả con người qua chân khớp của loài côn trùng hút máu như ruồi đen hay muỗi… Dân gian thường gọi ký sinh Filarial Worms là giun chỉ hay còn gọi là bệnh giun chỉ bạch huyết. Loài giun này tạo ra các triệu chứng ngứa ngáy khó chịu, mẩn đỏ, mề đay, các đốm sắc tố, viêm khớp và bệnh mù sông như đã đề cập.

Nguyên thủy, bệnh giun chỉ bạch huyết được tìm thấy trong xác ướp 3.000 năm tuổi của cha cố người Hy Lạp tên là Natsef Amun và đến nay trên thế giới có tới 120 triệu người tại 80 quốc gia mắc bệnh giun chỉ bạch huyết. Lúc đầu, đa phần người bệnh không hề hay biết bản thân nhiễm giun vì không thấy bất cứ triệu chứng gì, nhưng tất cả đều bị tổn thương ở hệ bạch huyết và tới 40% bị tổn thương thận, có khoảng 4% bệnh nhân nhiễm giun chỉ có biểu hiện chân voi. Phương pháp chẩn đoán phổ biến nhất là soi trên kính hiển vi để tìm giun chỉ. Việc điều trị bằng thuốc diệt giun với điều kiện phát hiện sớm. Về phòng bệnh, nên thường xuyên vệ sinh vùng bị tổn thương bằng nước muối và xà phòng mỗi ngày. Bôi kem kháng sinh lên tất cả các vết thương để ngăn chặn tình trạng nhiễm trùng và dùng thuốc doxycycline.

Ký sinh trùng Sacculina

Đây là loài ký sinh trùng rất nguy hiểm sống ký sinh trên cơ thể một số loài cua và khống chế khả năng sinh sản của loài cua. Nguy hiểm hơn có thể làm cho loài cua bị diệt vong. Trong trường hợp vật chủ là cua cái, ký sinh Sacculina sẽ “thao túng” quá trình sinh sản của cua, buộc loài cua trở thành các vật thể mang thai, nuôi dưỡng và lây lan các ấu trùng của nó, biến cua trở thành ngôi nhà cho loài ký sinh trùng này. Ngược lại, nếu cua chủ là cua đực thì nó sẽ biến cơ thể của cua đực thành cua cái để phục vụ cho mục đích riêng của loài ký sinh trùng này.

Ký sinh trùng  thực vật Dodder

Như mọi người đều biết, thực vật là loài cây thụ động không thể “săn bắt mồi được” nhưng loài tơ hồng lại có thể làm được điều này. Thực chất loại tơ hồng nói trên chính là một loại ký sinh trùng có tên Dodder (Cuscuta) sống ký sinh trên các loài cây trồng khác nhất là cây dạng bụi. Thay vì ngồi “chờ sung rụng”, ký sinh Dodder đã chủ động đi săn mồi bằng cách đánh hơi và bài tiết các hóa chất lên vật chủ, làm cho tơ hồng của nó phát triển với tốc độ cực nhanh, xâm chiếm những vùng lãnh thổ mới với tốc độ kinh ngạc. Thậm chí có thể ăn hết những dưỡng chất của cây chủ và gây thiệt hại lớn về kinh tế cho ngành nông lâm trên khắp thế giới.

Những căn bệnh đáng sợ liên quan tới ký sinh trùng 2Ký sinh trùng Dodder.

Rận ăn lưỡi cá

Có tên là Cymothoa Exigua sống ký sinh trong miệng các loài cá ở vùng Địa Trung Hải. Loài ký sinh trùng giáp xác này thâm nhập cá qua mang, trú ngụ tại đầu lưỡi cá, hút máu, ăn hết cả lưỡi cá và cứ thể phát triển sinh sôi nảy nở với tốc độ chóng mặt. Đặc biệt, sau khi ăn hết lưỡi cá, chúng gắn chặt thân mình vào gốc lưỡi, vì vậy mới có biệt danh là Betty hay quái vật ăn lưỡi. Tuy rận Cymothoa Exigua không gây nguy hại cho con người nhưng nó lại ảnh hưởng lớn đến sự tăng trưởng và làm giảm tuổi thọ của cá, gây cạn kiệt nguồn tài nguyên, nguồn sống và biến cá trở thành nạn nhân, thậm chí có nơi cá bị rận Cymothoa Exigua tấn công cao tới 45% như ở Italia là một ví dụ.

(Theo OD, 8/2013)

NAM BẮC GIANG

Xuất tinh sớm (XTS) liên quan đến thời gian xuất tinh (XT), là một biểu hiện than phiền tình dục ở nam giới thường xuyên. Không có quy ước cụ thể về thời gian XT để định nghĩa hiện tượng XTS. Người đàn ông XTS, nếu sự XT xảy ra trước khi bạn tình đạt được “cực khoái” trong hơn 50% số lần quan hệ tình dục hoặc một số ý kiến khác từ các nhà nghiên cứu về tình dục lấy thời gian XT trước hai phút để định nghĩa XTS. Cũng có cách nói khác, XTS là hiện tượng XT sau một khoảng thời gian ngắn không theo chủ định và mong muốn của người đàn ông.

xuat-tinh-som

Xuất tinh sớm – nỗi phiền muộn của nhiều nam giới. (Ảnh minh hoạ)

Quan điểm không đúng về XTS

Có một số quan điểm không đúng về XTS như sau:

– Một số đàn ông có năng khiếu bẩm sinh kiểm soát XT, còn một số khác thì không. Điều này sai, không có người đàn ông nào có khả năng thiên bẩm trong việc điều chỉnh XT. XTS và yếu sinh lý là một hiện tượng rất thường gặp, nguyên nhân gây ra phần lớn có nguồn gốc tâm lý như: lo lắng, căng thẳng hoặc do những kích thích quá độ mà người nam không tự điều khiển được cảm xúc của mình.

xuat-tinh-qua-som

Do một số quan điểm không đúng, xấu về XTS đã làm lệch lạc tinh thần của phái mạnh. (Ảnh minh hoạ)

– Quý ông nào XT trong vòng vài phút thì được xếp vào hàng “sớm”. XTS được căn cứ xảy ra trước hay sau khi bạn tình đạt được cực khoái. Ngoài tiêu chí thời gian, XTS còn kèm theo những triệu chứng cần điều trị.

Cô chú Minh Phượng có Shop phong thủy Hộ Mệnh rất uy tín, tư vấn phong thủy miễn phí và bán đá phong thủy, trang sức đá quý, và sách phong thủy để tự tìm hiểu và ứng dụng.

– Xao nhãng tâm trí để “kéo dài” thời gian XT. Biện pháp này không phải là cách giải quyết tận gốc vấn đề, mặc dù đối với một vài người, ở một vài thời điểm nó có thể đem lại hiệu quả. Một nhóm đàn ông có kinh nghiệm điều chỉnh XT thông qua ý nghĩ để kìm hãm hưng phấn và tự chủ XT, nhưng điều này phải cần thiết qua một quá trình tập luyện tương đối dài. Cách giải quyết tận gốc vấn đề để kiểm soát XT là tập trung vào thể chất và thể trạng của nam giới.

– XTS là một loại bệnh. XTS phần lớn có liên quan đến các yếu tố tâm lý, thể chất, các tác động từ bên ngoài và có thể điều trị về mặt y học nhưng nó không phải là bệnh.

– XTS không thể chữa khỏi hoàn toàn. Trái lại, có rất nhiều cách thành công trong điều trị XTS. Ngoài việc điều trị bằng thuốc, các biện pháp trị liệu khác, phần lớn mang đến kết quả tốt ở nam giới là do việc tập luyện và học cách kiểm soát hoạt động của “máy móc”, cũng như chế độ sống tẩy chay các chất gây nghiện (thuốc lá, rượu, bia…).

Đặc điểm các dạng XTS thường gặp:

Các “quý ông” cần xác định tình trạng XTS để kịp thời ngăn chặn. (Ảnh minh hoạ)

XTS thể suốt đời.

Là một hội chứng với những đặc điểm triệu chứng được mô tả như sau:

– XT xảy ra quá sớm, gần như ở mọi cuộc giao hợp, với hầu hết ở mọi người phụ nữ.

– Xuất hiện ngay từ lần quan hệ tình dục đầu tiên.

– XT xảy ra trong vòng 30 – 60 giây chiếm 80% hoặc từ 1 – 2 phút chiếm 20% trong các lần giao hợp.

– XT trong thời gian “khúc dạo đầu” trước khi đưa dương vật vào trong âm đạo hoặc ngay khi dương vật chạm vào âm đạo.

XTS thể suốt đời được xác định là sự rối loạn chức năng XT mãn tính. Khả năng điều trị khỏi hẳn rất hiếm, ngay cả việc điều trị bằng thuốc hay tâm lý trị liệu.

 XTS thể mắc phải.

Được mô tả đặc điểm với những triệu chứng sau đây:

– XTS xảy ra tại một số thời điểm nào đó trong cuộc sống của quý ông.

– Thường thì quý ông vẫn xảy ra những lần XT bình thường trước khi mắc phải XTS.

– Có lúc XTS có thể xảy ra đột ngột hoặc mật độ xảy ra ngày càng tăng lên.

Hội chứng này cũng gọi là rối loạn chức năng XT . Nó có thể thứ phát sau khi bị các hội chứng như: rối loạn chức năng niệu học (như: rối loạn cương dương hoặc viêm tuyến tiền liệt), rối loạn chức năng tuyến giáp, hoặc quý ông gặp phải các vấn đề tâm lý (như: căng thẳng, stress…).

XTS thể mắc phải có thể được điều trị khỏi với phương pháp điều trị nguyên nhân. Việc thăm khám thực thể, xét nghiệm máu hay nước tiểu luôn là điều cần thiết.

 xuat-tinh-som-o-nam-gioi

XTS thể tự nhiên thay đổi.

Thể XTS này thì thời gian XT nhanh nhưng không thường xuyên xảy ra trong tất cả các lần giao hợp. Thể này xuất hiện tùy vào từng tình huống. Vì vậy, thể này không nên coi như một triệu chứng hay biểu hiện của một bệnh lý thật sự. Mô tả với các dấu hiệu sau đây:

– Xảy ra không phải hằng định và xuất hiện thất thường.

– Vẫn có khả năng kiểm soát được sự XT. Ví dụ từ chối XT tại thời điểm gần phóng tinh, có thể bị giảm nhưng điều này không bắt buộc có chẩn đoán.

– Cũng có lúc sự kiểm soát XT bị giảm và thời gian XT là dưới 1,5 phút.

Vì bản chất ngẫu nhiên của sự XT ở thể này nên các bác sĩ khuyến cáo là không nên ưu tiên điều trị bằng thuốc, vì nguy cơ bị ảnh hưởng bởi tác dụng phụ của thuốc.

Loạn chức năng XT dạng XTS.

Quý ông trong trường hợp này thường than phiền về XTS, cho dù thực tế thời gian XT của họ vẫn trong phạm vi bình thường (từ 3 – 6 phút), thậm chí có thể là khoảng thời gian rất dài (từ 5 – 20 phút). Sự than phiền có thể do ảnh hưởng tâm lý được mô tả với các dấu hiệu sau:

– Sự nhận thức chủ quan về tính thường xuyên và không thường xuyên của chứng XTS trong khi giao hợp. – Bận tâm với hình ảnh XTS hoặc thiếu sự kiểm soát phóng tinh.

– Thời gian XT trong âm đạo nằm trong giới hạn bình thường (từ 3 – 6 phút) hay thậm chí có thể dài hơn (từ 5 – 20 phút).

– Có khả năng kiểm soát XT, nghĩa là kiềm hãm XT tại thời điểm gần phóng tinh, khả năng này có thể giảm hay có thể mất đi trong một số lần giao hợp.

Ở thể này, quý ông cần được các bác sĩ chuyên khoa thông báo rằng thời gian XT của họ là hoàn toàn bình thường. Than phiền ở thể này chủ yếu là do tâm lý nên người ta không ưu tiên điều trị các quý ông này với các dược phẩm làm chậm XT. Việc điều trị hàng đầu là tâm lý trị liệu, tư vấn và giáo dục tinh thần.

Tóm lại, XTS và yếu sinh lý là một trong những rắc rối tình dục phổ biến ở nam giới. Theo các khảo sát về sức khỏe thì có đến 30% nam giới phải “sống chung với lũ”. Ngoài ra, còn khá nhiều đàn ông chịu thảm cảnh “chưa đi đến chợ đã tiêu hết tiền” nhưng họ chẳng bao giờ nói ra. Có thể nói, XTS là một hiện tượng rất thường xảy ra, ít người đàn ông nào trong suốt cuộc đời không trải qua ít nhất một lần XTS.

XTS có thể xảy ra với tất cả quý ông. Do chúng ta luôn gặp phải những căng thẳng, xung đột hoặc những khó khăn trong cuộc sống hàng ngày, cũng như trong sinh hoạt gia đình. Lúc đó, để cân bằng được tâm sinh lý quả là điều mà quý ông có thể không nhận ra. XTS có thể chỉ là một lần duy nhất đột nhiên xuất hiện, nhưng với lời khuyên của bác sĩ chuyên khoa, chúng ta luôn phải quan tâm đến để có biện pháp ngăn chặn ngay từ đầu.

 

 

Nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Sản khoa và phụ khoa Canada cho thấy, sản phụ thường có tâm lý ăn thật nhiều khi mang bầu để cung cấp đủ chất dinh dưỡng nuôi con, việc ăn cho hai người khiến các bà mẹ cảm thấy yên tâm khi thường xuyên bổ sung các chất ngọt, chất béo. Nhưng điều này làm tăng nguy cơ sinh mổ cho mẹ và béo phì cho con sau khi trẻ chào đời.

Các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu chế độ dinh dưỡng và tình trạng sức khỏe trong khi mang bầu và sau khi sinh của 172 sản phụ ở Ontario, Canada từ năm 1995 – 2001. Hơn một nửa trong số này tăng cân quá mức khi mang thai, những sản phụ tăng cân nhiều trong nửa đầu thai kỳ có nhiều khả năng cho ra đời những trẻ sơ sinh nặng cân hơn với 14% mỡ cơ thể. Theo TS. Daveport, trưởng nhóm nghiên cứu, việc bổ sung chất dinh dưỡng để nuôi con trong quá trình mang thai là cần thiết nhưng các sản phụ tránh tâm lý càng bồi bổ nhiều càng tốt vì việc tăng cân quá nhiều khi mang thai dễ dẫn đến các biến chứng khi sinh như sinh mổ và con dễ bị béo phì sau khi ra đời. Sản phụ nên thường xuyên đi bộ 3 lần/tuần và tuân thủ chế độ dinh dưỡng thích hợp để đảm bảo sức khỏe cho cả mẹ và bé.

M.H (Theo Dailymail, 7/2013)

Bồn rửa bát là nơi mật độ vi khuẩn tập trung vô cùng nhiều, hoàn toàn không thích hợp để bạn rửa hoa quả hay những đồ ăn tươi sống, đặc biệt là quả dâu tây.
1. Túi xách để trên bàn ăn
Túi xách thường được để tùy tiện ở bất cứ đâu có thể, như trên bàn học, xe bus, cốp xe… nên bản thân nó sẽ chứa hàng triệu vi khuẩn có hại. Nếu để nó trên bàn ăn sẽ làm tăng nguy cơ lây nhiễm vi khuẩn vào thức ăn, không tốt cho cơ thể. Túi xách tốt nhất nên được đặt trên ghế, treo tường hoặc cất trong ngăn kéo.
2. Giày thể thao, dép để trong tủ kín
Giày dép thường mang theo phấn hoa, bụi bẩn và vi khuẩn ở bất cứ nơi đâu chúng đặt chân tới. Thế nên, thay vì cất chúng trong tủ kín mít, dễ tạo mùi, gây bệnh, bạn hãy để giày dép ở nơi thoáng mát, khô ráo.
3. Cà phê để trong tủ lạnh
Bạn có biết kẻ thù của cà phê chính là không khí, hơi ẩm, hơi nóng và ánh sáng? Vì vậy, cách bảo quản cà phê tốt nhất là bạn hãy cất chúng vào trong túi buộc kỹ để nơi kín gió.
8 thói quen có hại cho sức khỏe 1

Ảnh minh họa: chorltoncoffeefestival

4. Để thuốc trong tủ phòng tắm
Phòng tắm là nơi có độ ẩm cao, không hợp để cất trữ thuốc. Thuốc trong gia đình nên để ở nơi có độ ẩm thấp, khô thoáng như phòng khách.
5. Hoa quả rửa trong bồn rửa bát
Bồn rửa bát là nơi mật độ vi khuẩn tập trung vô cùng nhiều, hoàn toàn không thích hợp để bạn rửa hoa quả hay những đồ ăn tươi sống, đặc biệt là quả dâu tây.
6. Khi ngủ đắp chăn quá dầy
Đắp chăn quá dày khiến nhiệt độ cơ thể tăng cao, khó chìm sâu vào giấc ngủ. Ngược lại, nhiệt độ cơ thể hạ thấp tự nhiên là cách tốt nhất giúp bạn có giấc ngủ sâu và ngon.
7. Đọc sách buổi tối, để bóng đèn sát đầu
Khi đọc sách, để bóng đèn trên đỉnh đầu sẽ ảnh hưởng đến việc tiết melatonin trong cơ thể, khiến bạn càng đọc sách càng tỉnh. Bạn nên chọn cách hạ thấp bóng đèn xuống, để ánh sáng ở mức độ dịu sẽ tốt hơn cho giấc ngủ.
8. Đeo tai nghe trên máy bay, tàu xe
Khi đi ra ngoài, dùng tai nghe là lựa chọn không tồi với nhiều người, đặc biệt là các bạn trẻ. Nhưng thời gian dài nghe nhạc ở môi trường nhiều tạp âm sẽ gây tổn thương tai rất lớn.
Theo VnExpress

Nước dừa tươi đã được sử dụng rộng rãi ở những quốc gia vùng nhiệt đới hàng bao thế kỷ nay. Không những giữ cân bằng dịch cơ thể, nước dừa còn khẳng định là một loại nước uống tốt nhất để tái tạo dịch cơ thể.

Dung dịch nước có trong quả dừa non là một trong những nguồn nước thuần khiết nhất. Không hề chứa cholesterol nhưng lại chứa nhiều chất điện giải hơn bất cứ dịch ép trái cây hoặc dịch ép rau cải nào. Nước dừa thuần khiết về mặt sinh học, chứa nhiều muối khoáng, các loại đường và những loại vitamin mà những vận động viên cần trong quá trình tập luyện. Trong nước dừa người ta cũng tìm thấy “hành tung” của những nguyên tố vi lượng như đồng, phosphorus, sulfur vốn  có vai trò quan trọng trong việc cân bằng  các chất điện giải trong cơ thể.

“Nước tăng lực” thiên nhiên 1

Cứ một trái dừa, lượng nước có trong ấy chứa một lượng vitamin C vừa đủ cho yêu cầu hằng ngày. Nước dừa cũng chứa các vitamin nhóm B như B3, B5, biotin, B2, acid folic, B1…

Nước dừa chứa chất béo không đáng kể, ít carbohydrates và ít calories, vì vậy có tác dụng hạ nhiệt và điều hòa thân nhiệt, duy trì dịch cơ thể ở mức bình thường, đồng thời vận chuyển những thành phần dinh dưỡng quan trọng và oxy đến nuôi các tế bào.

Nước dừa được cho là rất giống với huyết tương ở máu người. Trước đây, nước dừa được dùng như huyết tương thay thế việc truyền máu và được sử dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới.

Nước dừa cũng có tác dụng hỗ trợ tiêu hóa, giúp hấp thu dưỡng chất bao gồm vitamin, khoáng chất, amino acid… Nước dừa còn hỗ trợ quá trình hấp thụ canxi và manhê, nhờ đó giúp bộ xương trở nên mạnh khỏe, cứng cáp hơn. Nước dừa cũng giúp cải thiện sự tiết insulin và sử dụng đường. Đối với những vận động viên rèn luyện thể lực, nước dừa là một kho cung cấp nguồn năng lượng nhanh, giúp vận động viên hồi phục và tái tạo những mô bị tổn thương

Nước dừa cũng là một loại thuốc lợi tiểu thiên nhiên, hỗ trợ chức năng tuyến giáp. Giúp tăng chuyển hóa cơ thể, nhờ vậy có tác dụng giảm cân ở những bệnh nhân béo phì. Không như những loại thực phẩm khác vốn được cơ thể tồn trữ ở dạng mỡ, năng lượng từ nước dừa sẽ được cơ thể sử dụng ngay. Những thành phần acid béo có trong nước dừa không đi thẳng vào hệ thống tuần hoàn máu như những chất béo khác. Thay vào đó, nó sẽ đi tới gan, tại gan chúng sẽ được chuyển thành năng lượng.

DS. NGUYỄN BÁ HUY CƯỜNG

(ĐH Murdoch- Úc)

Sơn đậu căn là rễ cây sơn đậu, hay còn gọi là cây quảng đậu, khổ đậu, hòe Bắc Bộ. Ở nước ta, đậu căn có nhiều ở một số tỉnh như Cao Bằng, Hà Giang, Quảng Ninh… Vào mùa thu, người ta thu hoạch rễ, rửa sạch, phơi sấy khô. Trước khi dùng, đem cắt đoạn 3 – 5cm, sao vàng. Về mặt hóa học, rễ sơn đậu chứa alcaloid, flavonoid…; matrin, oxymatrin, anagynin, methylcytisin. Ngoài ra còn có pterocarpin, sophoranon,…

Theo YHCT, sơn đậu căn có vị đắng, tính hàn, hơi có độc (khi dùng cần sao vàng), nhập vào các kinh tâm, phế, vị, đại tràng. Có tác dụng thanh nhiệt giải độc, tiêu thũng, lợi hầu họng, dùng trị các bệnh sốt do viêm nhiễm đường hô hấp, viêm amidan, viêm họng, các bệnh mụn nhọt, đặc biệt nhọt độc, phù thũng, răng lợi sưng đau; còn dùng trị kiết lỵ, dùng ngoài trị côn trùng, rắn, rết cắn. Ngày dùng 4 – 12g rễ, hoặc 3 – 4,5g vỏ rễ dưới dạng bột hoặc nước sắc, thường phối hợp với một số các vị thuốc khác.

Sơn đậu căn trị viêm amidan 1
 Cây sơn đậu và vị thuốc sơn đậu căn.

Cách dùng sơn đậu căn làm thuốc

Trị viêm amidan cấp tính: sơn đậu căn, ngưu bàng tử, xạ can, kinh giới, mỗi vị 9g; kim ngân hoa 12g; phòng phong, cam thảo, mỗi vị 6g. Sắc uống, ngày một thang chia 3 lần trước bữa ăn 1,5 giờ. Uống liền 1 – 2 tuần. Hoặc: sơn đậu căn 12g, sinh cam thảo 4g, sắc uống, ngày một thang. Hoặc: sơn đậu căn, kinh giới, bạc hà, cát cánh, mỗi vị 8g, sắc uống ngày một thang. Hoặc phối hợp sơn đậu căn với hạ khô thảo, huyền sâm, bối mẫu, mỗi vị 8g dưới dạng thuốc sắc, ngày một thang chia 3 lần uống trước bữa ăn 1,5 giờ.

Trị viêm amidan mạn tính: sơn đậu căn 15g, kim liên hoa 5g, sinh cam thảo 10g. Sắc uống, ngày 1 thang, 3 lần trước bữa ăn 1,5 giờ. Uống liền 3 – 4 tuần.

Trị viêm amidan, viêm họng sưng thũng, sốt cao, nuốt đau: sơn đậu căn, kim ngân hoa, mỗi vị 12g; hoàng liên 4g, hoàng bá 8g. Có thể thay hoàng liên bằng hoàng bá 12g. Sắc uống ngày 1 thang chia 2 – 3 lần, trước bữa ăn 1,5 giờ. Uống liền 1 – 2 tuần.

Trị viêm họng cấp, đau họng: sơn đậu căn 3g; nhân sâm, xạ can, mỗi vị 10g; cát cánh 7g, cam thảo 2g. Sắc uống, ngày một thang, chia 3 lần trước bữa ăn 1,5 giờ. Uống liền 1 – 2 tuần.

Trị sưng lợi răng: sơn đậu căn, bạch cương tằm, chi tử, mỗi vị 12g; bạc hà, kinh giới, mỗi vị 6g; huyền sâm, cát cánh, cam thảo dây, mỗi vị 8g. Sắc uống, ngày một thang, chia 3 lần trước bữa ăn 1,5 giờ. Uống liền 1 – 2 tuần. Có thể dùng sơn đậu căn dưới dạng thuốc bột: sơn đậu căn 60g, cam thảo 10g. Tất cả tán bột mịn, mỗi lần uống 3 – 6g, ngày 2 lần, trước bữa ăn 1,5 giờ. Uống liền nhiều ngày.

Ngoài ra, sơn đậu căn còn được dùng ngoài để trị mụn ngứa, côn trùng, rắn, rết cắn: sơn đậu căn tán bột mịn, thêm nước đun sôi để nguội thành hồ nhão, bôi vào vết thương. Hoặc sơn đậu căn 12g, hàn the 4g, băng phiến 0,8g. Tất cả tán bột mịn, thêm nước sôi để nguội tạo bột nhão, bôi vào vết thương.        

  GS.TS. Phạm Xuân Sinh

Hiếp thống là tình trạng đau hai mạng sườn do can khí uất kết, khí cơ trở trệ, do căng thẳng thần kinh (stress) hoặc do can âm hư suy… gây nên. Theo Đông y, can chủ sơ tiết, chủ điều đạt, ưa thư thái bình yên. Giận dữ uất ức, căng thẳng thần kinh là những yếu tố để gan sinh bệnh.

Biểu hiện của chứng hiếp thống là người bệnh đau tức hạ sườn, can khí nghịch lên, hoa mắt váng đầu, khí huyết mất thông sướng, đau lan đến vùng thượng vị, người bệnh ăn uống kém, đêm ngủ không yên, miệng đắng, đi tiểu buốt, tiểu đục, phụ nữ thì rối loạn kinh nguyệt, nam giới xuất tinh không kiểm soát, khô miệng, ngủ hay mơ, giật mình, hoảng sợ… Sau đây là một số bài thuốc chữa trị chứng bệnh này theo từng thể.

Bài thuốc trị chứng hiếp thống 1
Bài thuốc trị chứng hiếp thống 2
 Lá vọng cách (trên) và lạc tiên (dưới) là hai vị thuốc trị chứng hiếp thống do căng thẳng thần kinh.

Hiếp thống do can khí uất kết: Người bệnh đau tức hạ sườn, đau đầu, ít ngủ, miệng đắng, ăn uống kém, da vàng, mắt vàng, tiểu đỏ, lượng ít, tinh thần không thư thái… Phép trị là hòa can, hạ khí, giải uất, an thần. Dùng một trong các bài:

Bài 1: bạch thược 12g, sài hồ 12g, rau má 20g, chi tử 12g, đan bì 8g, hoài sơn 12g, liên nhục 12g, mơ muối 12g, tang diệp 20g, lạc tiên 16g, sa sâm 12g, đinh lăng 16g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Công dụng: thư can, lợi mật, hạ khí, bình thần.

Bài 2: đương quy 12g, sài hồ 16g, cát cánh 10g, đan sâm 12g, kê nội kim 12g, bán hạ 10g, hậu phác 10g, chỉ xác 8g, trần bì 10g, cam thảo 10g, sơn tra 10g, rau má 20g, hạ liên châu 10g, lạc tiên 16g, lá vọng cách 12g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Công dụng: sơ can, giải uất, thanh nhiệt, bình thần.

Hiếp thống do huyết ứ: Người bệnh đau mạng sườn từng cơn, nhiều lúc đau tăng lên, hông sườn đầy ách, khi cơ nghịch lên làm cho nhịp thở không ổn định, đau lan ra những vùng lân cận, miệng đắng, da vàng sậm, lưỡi khô, có những điểm xuất huyết. Phép trị là sơ can trục ứ, thanh nhiệt, hoạt huyết, điều khí an thần. Dùng một trong các bài:

Bài 1: đào nhân 10g, đương quy 12g, kê huyết đằng 12g, hương phụ 10g, xuyên sơn giáp 2g, tô mộc 20g, thiên hoa phấn 10g, đinh lăng 16g, cúc hoa 10g, đại hoàng 8g, bán hạ 10g, hậu phác 10g, trần bì 10g, cam thảo 10g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Công dụng: hoạt huyết hóa ứ, hạ khí thông lạc.

Bài 2: sài hồ 16g, bạch thược 12g, đan bì 10g, cà gai leo 12g, hạ liên châu 12g, hồng hoa 8g, tô mộc 20g, đại hoàng 6g, đinh lăng 16g, xuyên sơn giáp 2g, cam thảo 10g, mía dò 16g, trần bì 10g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Công dụng: hoạt huyết tiêu ứ, thông lạc, thuận khí.

Hiếp thống do căng thẳng thần kinh (stress): Như đã nói, gan ưa thư thái điều đạt. Khi giận dữ tức tối, căng thẳng sẽ làm cho chức năng của gan bị trở trệ. Người bệnh có biểu hiện vùng hạ sườn phải căng cứng, đầy ách, khí dâng lên, cơ hoành cứng đơ… kèm theo khó thở, đau vùng hông sườn và đau tức cả vùng thượng vị, nhu động gan ruột bị rối loạn, nhịp tim có thể tăng… Phép trị là sơ can, điều khí, an thần, giảm đau. Dùng một trong các bài:

Bài 1: đan bì 10g, chi tử 10g, lá vọng cách 12g, bạch thược 12g, đương quy 10g, đan sâm 16g, đinh lăng 16g, cát căn 16g, tang diệp 18g, lạc tiên 16g, sài hồ 16g, bán hạ 8g, hậu phác 10g, cam thảo 12g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Công dụng: thư can hạ khí, an thần, chống co thắt.

Bài 2: đỗ trọng 10g, khởi tử 12g, lá đinh lăng 20g, tang diệp 20g, lá đắng 10g, rau má 20g, đương quy 16g, sa sâm 16g, lạc tiên 16g, tâm sen 10g, bán hạ 8g, hậu phác 10g, cam thảo 10g, phục thần 10g, mơ muối 12g, kê nội kim 12g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Công dụng: thư can, hạ khí, giảm đau, an thần.            

  Lương y Thanh Ngọc

Trong quá trình ăn uống, có những món chứa các chất dinh dưỡng được cho là tăng cơ hội đậu thai, tác dụng cải thiện khả năng sinh sản một cách đáng kể.
Đó là hải sản, cải xoăn, hạnh nhân, nấm… Những thực phẩm này chứa các dưỡng chất quan trọng cho quá trình sinh sản như vitamin D, E, A. Chúng cũng có các a xít béo omega 3 giúp tăng cường khả năng sinh sản của phụ nữ. Còn chất kẽm trong trứng và nấm giúp tăng số lượng tinh trùng. Cụ thể như sau:
Sinh tố lựu: Lựu chứa nhiều chất chống ô xy hóa tốt cho khả năng sinh sản ở nam giới. Bạn có thể làm sinh tố lựu với một ít sữa có hàm lượng chất béo thấp.

Thực phẩm cải thiện khả năng sinh sản 1

Hàu nướng giàu chất kẽm – Ảnh: Đ.N.Thạch

Cá hồi fillet nướng: Cá hồi là loại thực phẩm cần bổ sung nếu bạn muốn mau đậu thai. Cá hồi tươi phải được ướp với gừng, giấm và tiêu trong 20 phút. Sau đó đem nướng trong lò chừng 15 phút.


Món salad cải xoăn: Loại rau này chứa nhiều vitamin K giúp tăng khả năng mang thai. Sử dụng cải xoăn sống, trái cây họ cam quýt (tránh quả thơm) và sữa đông ít chất béo để làm thành món salad.
Bánh mì sandwich kẹp phô mai: Phô mai có hàm lượng canxi cao cần thiết cho khả năng sinh sản ở phụ nữ. Thêm nhiều loại rau như cà chua, hành tây, cà rốt… để làm món sandwich. Sau đó, quết phô mai ít chất béo vào bánh và nướng trong 2 phút.
Hàu nướng tỏi: Hàu là thực phẩm lý tưởng giúp tăng khả năng sinh sản cho nam giới vì có chứa kẽm. Ướp hàu với dầu ô liu và tỏi băm nhỏ. Bạn cũng có thể thêm một ít ớt cho món ăn này. Nướng hàu trong 10 phút.
Thực phẩm cải thiện khả năng sinh sản 2

Tôm giàu a xít béo omega 3 và kẽm – Ảnh: Minh Khôi

Nước ép rau củ: Nếu bạn đang cố gắng mang thai, hãy bỏ caffeine. Thay vào đó, dùng nước ép rau củ được làm từ cải bó xôi, cần tây và dưa leo.
Tôm: Chứa nhiều khoáng chất từ biển rất tốt. Tôm cũng giàu a xít béo omega 3 và kẽm. Ướp tôm với nước cốt chanh, tỏi và tinh dầu hương thảo (rosemary). Xào tôm 4 – 5 phút trên lửa nhỏ.
Theo Thanh Niên

Ngủ là nhu cầu của tất cả mọi người, bạn không thể tỉnh táo và khỏe mạnh nếu không ngủ dù ít hay nhiều. Không còn gì thoải mái hơn sau một ngày làm việc vất vả bạn được đặt lưng trên chiếc giường êm ái và ngủ một giấc. Nhưng không phải ai cũng có được một giấc ngủ ngon như vậy, nhiều người phải đối mặt với chứng rối loạn giấc ngủ kỳ lạ.

Hội chứng không ngủ 24 giờ

Đây là một trong những hội chứng hiếm gặp nhất trên thế giới các bác sĩ từng chứng kiến. Đối với người bình thường, vòng quay đồng hồ sinh học thường là 24 giờ/ngày trong đó thời gian dành cho giấc ngủ khoảng 8 giờ và tạo thành chu kỳ thức ngủ. Với người mắc hội chứng này, đồng hồ sinh học của họ kéo dài hơn 26 giờ hoặc thậm chí 72 giờ. Với người có đồng hồ sinh học 26 giờ, thời gian tỉnh táo của họ sẽ là 16 tiếng và người có đồng hồ sinh học 72 giờ, thời gian tỉnh táo của họ là 48 tiếng tức là trong vòng 48 tiếng họ sinh hoạt, làm việc bình thường và 48 tiếng còn lại dành cho việc ngủ. Người mù có tỷ lệ mắc hội chứng này cao hơn người bình thường.

Những chứng rối loạn giấc ngủ kỳ lạ 1
 Hội chứng thiếu ngủ do đồng hồ sinh học kéo dài hơn 26 giờ.

Chứng ngủ rũ

Chứng ngủ rũ là một rối loạn giấc ngủ mạn tính đặc trưng bởi trạng thái buồn ngủ ban ngày quá nhiều và các cuộc tấn công bất ngờ của giấc ngủ. Người mắc chứng ngủ rũ thường rơi vào giấc ngủ mà không có bất cứ cảnh báo nào, có thể ngủ ở bất cứ nơi nào, bất cứ lúc nào, có thể ngủ ngay trong lúc đang nói chuyện với bạn bè hoặc đang trong lúc làm việc. Có thể ngủ trong vài phút đến nửa giờ trước khi thức dậy. Chứng ngủ rũ vào ban ngày thường làm người bệnh gặp nhiều phiền toái, mệt mỏi. Các bác sĩ cho rằng, hóa chất trong não đặc biệt là hypocretin đóng một vai trò rất lớn trong việc gây chứng ngủ rũ. Trên thế giới, tỷ lệ mắc chứng bệnh này là 1/2.000 người.

Hội chứng chân không yên (RLS)

Hội chứng này là tình trạng đôi chân cảm thấy rất khó chịu khi đang ngồi hay nằm xuống. Chứng bệnh này có thể gặp ở bất cứ độ tuổi nào và thường nặng hơn khi về già, phụ nữ có nhiều khả năng mắc chứng RLS hơn nam giới. Hội chứng RLS có thể phá vỡ giấc ngủ dẫn đến buồn ngủ ban ngày và khiến việc đi lại trở nên khó khăn. Người mắc chứng bệnh này thường mô tả cảm giác như nhói đau, ngứa ran…

Hội chứng Hypersomnia

Hypersomnia là một rối loạn giấc ngủ rất hiếm gặp, trên thế giới chỉ ghi nhận 200 trường hợp mắc hội chứng này. Rối loạn Hypersomnia khiến giấc ngủ có thể kéo dài tới 18 tiếng/ngày và kéo dài từ ngày này sang ngày khác, thậm chí cả tuần. Trước khi mắc chứng bệnh này, người bệnh thường có triệu chứng như cúm, đau đầu kéo dài.

Rối loạn hành vi giấc ngủ (RBD)

40% người có biểu hiện rối loạn hành vi giấc ngủ ở giai đoạn REM là giai đoạn sâu nhất của giấc ngủ, người mắc chứng RBD có thể la hét, đấm đá hoặc nghiến răng trong khi ngủ. Nếu không được điều trị RBD có thể nghiêm trọng hơn và có xu hướng bạo lực nặng nề hơn. Rối loạn này chủ yếu thường gặp ở nam giới gắn liền với bệnh Parkinson.

Hội chứng nổ đầu

Hội chứng nổ đầu là một dạng rối loạn giấc ngủ khiến người bệnh nghe thấy một tiếng nổ lớn trong đầu mình. “Tiếng nổ” thường xảy ra ngay sau khi người mắc bệnh ngủ và nghe như một tiếng gầm, tiếng súng, tiếng la hét, tiếng chuông hay chập điện. Mặc dù người mắc triệu chứng này không bị tổn thương về thể chất nhưng họ phải trải qua cảm giác sợ hãi và lo lắng như bị tấn công. Hiện các nhà khoa học chưa tìm ra nguyên nhân và cách chữa trị triệu chứng này, mặc dù nó có liên hệ với sự căng thẳng và thường biến mất mà không cần điều trị.

Hội chứng cười là ngủ

Triệu chứng hiếm gặp này khiến người bị bệnh có thể ngủ gục bất kỳ lúc nào khi cười. Ngoài ra, người bệnh cũng bị kích thích mạnh với những cảm xúc khác như sợ hãi, tức giận hay ngạc nhiên. Điển hình của người gặp triệu chứng này là cô Claire Allen ở Anh. Nếu không được điều trị, Allen có thể gặp những cơn buồn ngủ 100 lần mỗi ngày, mỗi lần thường kéo dài từ 30 giây đến 5 phút. Ngay cả khi được ai đó vẫy chào trên phố cũng có thể khiến cô gặp vấn đề với cơn buồn ngủ bất ngờ ập đến.

Những chứng rối loạn giấc ngủ kỳ lạ 2
 Hội chứng cười là ngủ.

Chứng nghiến răng

Nghiến răng là hiện tượng siết chặt quá mức răng ở hai hàm trên và dưới và thường diễn ra khi ngủ. Thông thường, người bệnh không ý thức được hiện tượng này. Sự nghiến răng giữa hai hàm với nhau gây ra những âm thanh khó chịu. Hiện tượng này có thể không làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe nhưng nếu kéo dài, mức độ mạnh có thể làm gãy răng, nhức đầu, chóng mặt, rối loạn cơ, khớp thái dương hàm, gây khó khăn cho việc nhai hay nói chuyện.

Chứng nghiến răng khi ngủ là dạng rối loạn giấc ngủ thường gặp, đứng sau nói mơ và ngáy. Người ta tin rằng những người bị tật này lúc ngủ có nguy cơ ngáy và ngưng thở cao hơn bình thường. Theo các nhà nghiên cứu, nguyên nhân của chứng nghiến răng là do áp lực, công việc stress, các rối loạn chức năng ở hệ thần kinh trung ương, uống rượu và hút thuốc lá.

Chứng ngừng thở

Đây là một hội chứng thường gặp, gây nhiều biến chứng nguy hiểm và khó tự phát hiện vì dấu hiệu ngừng thở chỉ xảy ra khi ngủ. Hội chứng ngưng thở khi ngủ là rối loạn đặc trưng bởi sự ngưng thở hoàn toàn khoảng 10 – 30 giây trong khi ngủ và nhiều hơn 30 lần/đêm dẫn đến tình trạng thiếu ôxy máu. Nguyên nhân do ở vùng hầu họng có các tổ chức phần mềm xung quanh đường thở gồm: lưỡi, amidan, vòm miệng mềm, lưỡi gà. Các phần mềm này được các cơ vận động vùng hầu họng nâng đỡ. Khi ngủ say, các cơ này giãn ra làm hẹp đường thở gây ra tiếng ngáy, cũng có khi làm tắc đường thở gây ra chứng ngừng thở. Chứng ngừng thở khi ngủ có thể do thừa cân, tăng huyết áp, hút thuốc lá hoặc có tiền sử rối loạn.

Chứng mộng du

Có tới 40% trẻ em từ 3-7 tuổi mộng du vào một thời gian nào đó. Mộng du là hiện tượng người đang ngủ, ngồi dậy, mở mắt, đi vòng quanh phòng hoặc đi về phía có ánh sáng, trẻ đi về phòng ngủ của bố mẹ hoặc đi đến cửa sổ, trèo lên cửa sổ, mở cửa phòng đi ra ngoài hoặc tiến hành các hoạt động khác. Mộng du có thể đột ngột kết thúc, người bệnh có thể trở lại giường và tiếp tục ngủ. Mộng du thường xuất hiện 1-2 giờ sau khi ngủ, giai đoạn 3 và 4 của giấc ngủ sâu và kéo dài từ vài giây đến 30 phút. Khi ngủ dậy, người bệnh không nhớ gì về sự việc đã xảy ra. Nguyên nhân được xác định do tình trạng lo âu, mệt mỏi, mất ngủ, hoảng sợ, ốm, đau triền miên, thiếu magiê, trào ngược dạ dày thực quản.

                  Huệ Minh

(Tổng hợp theo Health, Wikipedia, TTz, 8/2013) 

Người phụ nữ 39 tuổi (Ma-rốc) trong chuyến bay từ Casablanca, Ma-rốc tới thành phố Bologna (Ý) ngay khi máy bay vừa cất cánh thì có biểu hiện đau bụng chuyển dạ và sau đó đã hạ sinh em bé ngay trong chuyến bay, trước khi hạ cánh xuống sân bay El Prat của Barcelona (Tây Ban Nha) sau khi các phi công được yêu cầu hạ cánh khẩn cấp.
Một bé trai được sinh ra khi máy bay đang vận hành 1
 Máy bay của hãng hàng không Royal Air Maroc. Ảnh: arabianbusiness

Tình cờ, một trong những hành khách trên chuyến bay của hãng Hàng không Hoàng gia Ma-rốc là một nữ hộ sinh. Bởi vậy, cô đã hỗ trợ phi hành đoàn để đón em bé chào đời.

Sức khỏe của người mẹ và em bé đều tốt sau khi họ được đưa đến Bệnh viện Sant Joan de Deu ở Barcelona. Bệnh viện từ chối tiết lộ danh tính của họ. Được biết, người phụ nữ này đang trên đường tới Ý du lịch, trước thời gian dự kiến sinh một vài tuần.    
 
Kim Lan (Theo Daily mail)

Giáo sư Peter Gunning thuộc Trường đại học New South Wales (Australia) cho biết, ông đã tìm ra mối liên kết lỏng lẻo trong các tế bào ung thư và với sự hỗ trợ của thuốc, các tế bào ung thư sẽ bị tiêu diệt. Trên thực tế, ý tưởng của GS. Gunning đã xuất hiện từ những năm 70 của thế kỷ trước, khi giới khoa học hy vọng có thể phát triển một loại thuốc tấn công vào cấu trúc của tế bào ung thư. Tuy nhiên, các nghiên cứu và thử nghiệm không thu được kết quả do gây hại tới các bộ phận khác trên cơ thể.

Sau nhiều nghiên cứu và thí nghiệm, GS. Gunning và đồng nghiệp đã phát hiện có một phần chính trong cấu trúc tế bào ung thư có thể tác động vào mà không gây hại cho cơ thể. Ông còn cho biết thêm, phương pháp này đang được thử nghiệm ở động vật, hy vọng các thử nghiệm sẽ được áp dụng ở người trong 2 năm tới.

         Huy Hoàng

          (Theo Reuter, 8/2013)

Giới khoa học Anh vừa công bố chiếc đồng hồ có thể tính toán tuổi thọ, đánh giá tình trạng sức khỏe con người bằng công nghệ quét laser. Đó là chiếc đồng hồ được chế tạo bởi giáo sư vật lý Aneta Stefanovska và Peter McClintock từ Đại học Lancaster (Anh). Khi đeo trên tay, chiếc đồng hồ phát ra các chùm laser sâu vào da con người để phân tích tình trạng các tế bào mao mạch nhỏ và xác định tình trạng lão hóa của cơ thể. Những dữ liệu thu thập được từ các chùm laser sẽ đánh giá các chức năng của tế bào trên thang điểm từ 0 – 100 và các nhà nghiên cứu dựa vào các con số đó để dự đoán thời gian tồn tại của một người.

GS. Aneta Stefanovska cho biết, việc sử dụng thiết bị trên có thể giúp các bác sĩ sớm nhận ra dấu hiệu một vài căn bệnh nguy hiểm như bệnh tim, bệnh mạch vành, ung thư hoặc mất trí nhớ.

Trong tương lai, thiết bị trên sẽ được thu nhỏ bằng với một đồng hồ đeo tay cho gọn gàng hơn. Dự kiến, thiết bị này đã sẵn sàng có mặt trên thị trường trong 3 năm tới với mức giá từ 310 – 464 USD.

Hồng Đức

 (Theo The Time, 8/2013)

Thấp tim hay còn gọi là thấp khớp cấp hoặc sốt thấp khớp (rheumatic fever) được coi là một trong những bệnh của hệ miễn dịch mô liên kết hay thuộc hệ thống tạo keo. Bệnh thường gặp ở trẻ từ 5 – 15 tuổi. Ðây là căn bệnh làm tổn thương khớp, tim, thần kinh, da và chỉ để lại di chứng ở tim. Những di chứng tại van tim là nguyên nhân chính của bệnh tim mắc phải, gây tử vong cho trẻ em 5 – 15 tuổi, làm mất sức lao động của những người trưởng thành.

Chẩn đoán xác định thấp tim khi nào?

Khi có bằng chứng của nhiễm liên cầu A đường hô hấp (biểu hiện lâm sàng của viêm đường hô hấp trên và/hoặc làm phản ứng ASLO dương tính và/hoặc cấy dịch họng tìm thấy liên cầu), kèm theo có ít nhất 2 tiêu chuẩn chính hoặc có 1 tiêu chuẩn chính kèm 2 tiêu chuẩn phụ. Sở dĩ là vậy vì trong màng tế bào liên cầu khuẩn nhóm A có một thành phần protein rất giống với protein màng tế bào cơ tim và một số tổ chức liên kết khác của cơ thể. Ngoài ra, cấu trúc cacbon hydrat màng tế bào liên cầu khuẩn nhóm A cũng giống mucoprotein ở van tim người. Khi bị nhiễm liên cầu khuẩn nhóm A, cơ thể sẽ sản xuất các kháng thể chống liên cầu khuẩn, vô tình các kháng thể này cũng tấn công luôn cả cơ tim và các tổ chức liên kết có thành phần protein tương tự. Ngoài có cấu tạo protein rất giống với protein màng tế bào cơ tim dẫn tới sự “nhầm lẫn” kể trên, màng tế bào liên cầu khuẩn còn mang nhiều chất có độc tính với tế bào cơ tim, thận, phá hủy hồng cầu, tiểu cầu…

Bệnh thấp tim - Làm sao biết và tránh?   1
 Hình ảnh hở van 2 lá do thấp tim.

Dấu hiệu nhận biết

Sau khi bị viêm họng từ 1 – 5 tuần, những trẻ bị nhiễm liên cầu khuẩn nhóm A sẽ thấy xuất hiện tình trạng đau ở khớp với đặc điểm là đau từ khớp này sang khớp khác. Các khớp lớn như khớp gối, khớp khuỷu, khớp cổ chân, cổ tay sẽ bị sưng, đau, nóng đỏ khiến bệnh nhân đi lại và cử động rất khó khăn (riêng khớp cột sống hoặc khớp ngón tay, ngón chân rất ít khi đau nhức). Điểm đặc biệt của bệnh này là khi khớp sau bị sưng đau thì các khớp bị sưng đau trước đó lại khỏi và trở lại hoạt động bình thường, không có biến dạng khớp và bị hạn chế cử động như các loại viêm khớp khác. Chính vì biểu hiện như vậy mà căn bệnh này còn được gọi là bệnh thấp khớp cấp.

Cùng với những cơn đau ở khớp thì ở tim cũng có tổn thương (cơ tim, các màng tim và các van tim) làm cho người bệnh mệt mỏi, đau tức ngực, khó thở, nhịp tim chậm hoặc nhanh, có thể không đều. Nếu viêm cơ tim nặng gây khó thở, tím tái, phù, gan to.

Tổn thương thường gặp khi bị thấp tim

Viêm tim: Viêm tim là một biểu hiện bệnh lý nặng của thấp tim và khá đặc hiệu. Có khoảng 41 – 83% số bệnh nhân thấp tim có biểu hiện viêm tim. Các biểu hiện của viêm tim có thể là viêm màng trong tim, viêm màng ngoài tim, viêm cơ tim. Viêm tim có thể biểu hiện từ thể không có triệu chứng gì đến các dấu hiệu suy tim cấp nặng hoặc tử vong. Các triệu chứng lâm sàng có thể gặp là: tăng nhịp tim, tiếng thổi tâm thu, tiếng thổi tâm trương, tiếng rung tâm trương, rối loạn nhịp, tiếng cọ màng tim, suy tim…

Một trong những biểu hiện phải chú ý và là biến chứng nặng của thấp tim là viêm van tim. Hở van hai lá là một trong những biểu hiện thường gặp nhất, trong khi hở van động mạch chủ ít gặp hơn và thường kèm theo hở van hai lá.

Viêm khớp: Viêm khớp là một biểu hiện hay gặp nhất trong thấp tim (80%) nhưng lại ít đặc hiệu. Biểu hiện của viêm khớp là sưng, nóng, đỏ, đau khớp, xuất hiện ở các khớp lớn (gối, cổ chân, cổ tay, khuỷu, vai…) và có tính chất di chuyển. Viêm khớp do thấp tim thường không bao giờ để lại di chứng ở khớp.

 Múa giật Sydenham:  Đây là biểu hiện của tổn thương ngoại tháp và khá đặc hiệu cho thấp tim. Các biểu hiện là những động tác vận động không mục đích và không tự chủ ở các cơ mặt, chi; giảm trương lực cơ, rối loạn cảm động. Các biểu hiện ban đầu có thể là khó viết, khó nói hoặc đi lại. Các biểu hiện này thường rõ khi bệnh nhân bị xúc động hoặc thức tỉnh và mất đi khi bệnh nhân ngủ.

Múa giật Sydenham là một trong những biểu hiện muộn của thấp tim, nó thường xuất hiện sau khi viêm đường hô hấp trên khoảng 3 tháng. Múa giật Sydenham thường biểu hiện đơn độc trong thấp tim và gặp ở khoảng 30%. Triệu chứng này thường mất đi sau 2 – 3 tháng.

Nốt dưới da: Đó là những nốt có đường kính khoảng 0,5 – 2cm, cứng, không đau, di động và thường xuất hiện ngay trên các khớp lớn hoặc quanh các khớp. Nốt dưới da có thể gặp ở khoảng 20% số bệnh nhân bị thấp tim và thường biến mất sau vài ngày. Da ở trên nốt này thường vẫn di động bình thường và không có biểu hiện viêm ở trên.

 Đây là một loại ban trên da, có màu hồng và khoảng nhạt màu ở giữa tạo thành ban vòng. Thường không hoại tử và có xu hướng mất đi sau vài ngày. Hồng ban vòng là một dấu hiệu khá đặc hiệu trong thấp tim và ít gặp (5%), thường chỉ gặp ở những bệnh nhân có da mịn và sáng màu. Hồng ban vòng thường xuất hiện ở thân mình, bụng, mặt trong cánh tay, đùi và không bao giờ ở mặt. Khi có hồng ban vòng thì thường có kèm theo viêm cơ tim.

Do các triệu chứng nói trên, bệnh thấp tim hay bị nhầm với một số bệnh khác nên dễ bị bỏ qua. Điều này rất nguy hiểm, bởi nếu không được điều trị, bệnh cũng sẽ khỏi, nhưng sau đó một thời gian lại tái phát. Mỗi lần tái phát như vậy các tổn thương ở tim càng nặng hơn dẫn đến các chứng hẹp hay hở van tim, hoặc hở hay hẹp các van động mạch tại tim.

Lời khuyên của thầy thuốc

Khi thấy đau khớp sau một đợt viêm họng, nên nghĩ tới thấp tim và cần sớm đi khám bệnh, làm các xét nghiệm cần thiết để và có liệu trình điều trị đúng đắn. Nếu đúng mắc bệnh thấp tim, trẻ nên tuân thủ chế độ điều trị dự phòng nghiêm ngặt cụ thể: tiêm kháng sinh dự phòng một tháng một lần theo chỉ dẫn của thầy thuốc. Thời gian dự phòng là 5 năm, tốt nhất đến 18 tuổi, với thể tổn thương nặng ở tim, phòng tái phát cho đến 25 tuổi.

Để phòng bệnh thấp tim, trẻ cần tránh không để bị cảm, bị viêm họng, viêm khí – phế quản, đồng thời gìn giữ vệ sinh răng miệng thật tốt. Cần chú trọng cải thiện các điều kiện ăn, ở, chú ý vấn đề vệ sinh môi trường, điều kiện dinh dưỡng đối với trẻ em.   

BS.  Lê Hưng

Là phụ nữ, ai cũng mong muốn mình có một làn da tươi tắn, mịn màng. Nhiều chị em thường tốn rất nhiều tiền để mua các loại mỹ phẩm mà quên rằng có một “phương thuốc dưỡng nhan” rất hiệu quả, lại an toàn và rẻ tiền, đó là các món ăn – bài thuốc theo kinh nghiệm dân gian. Xin giới thiệu để chị em tham khảo.

Cháo bổ huyết, dưỡng nhan: đương quy 10g, xuyên khung 3g, hoàng kỳ 3g, hồng hoa 2g, nước luộc gà 1 lít, gạo 100g. Xuyên khung, đương quy, hoàng kỳ rửa bằng rượu, thái lát mỏng. Tất các các vị thuốc cho vào túi vải, bỏ vào nồi, cho nước luộc gà và thêm nước lã vừa đủ, ninh thành nước thuốc, vớt túi thuốc ra, đổ gạo đã vo sạch vào, đun to lửa cho sôi rồi nhỏ lửa ninh thành cháo. Ngày 1 liều, chia ăn 2 lần.

Cháo gan lợn đậu xanh: gan lợn 100g, đậu xanh 50g, gạo 100g. Gạo, đậu  xanh vo sạch cho vào nồi, đổ 1 lít nước, đun sôi rồi nhỏ lửa, ninh nhừ thành cháo, cho gan lợn đã thái nhỏ vào đến chín là được. Chia 3 lần ăn trong ngày.

Cháo nhân táo chua, cùi nhãn: nhân táo chua 30g, cùi nhãn 15g, đường đỏ 10g, gạo 100g. Giã nát nhân táo chua bỏ vào túi vải buộc kỹ, cùi nhãn thái nhỏ cùng với gạo đã vo sạch cho vào nồi, nước vừa đủ, nấu thành cháo, bỏ đường vào là được. Ăn nóng vào sáng và tối.

Ăn để có làn da đẹp 1
 Cháo nhân táo chua cùi nhãn.

Mứt ngân nhĩ, hạch đào nhân: ngân nhĩ (mộc nhĩ trắng) 30g, vừng đen 50g, hạch đào nhân (quả óc chó) 50g, nước nho ép 50ml, mật ong 150g. Sao vừng và quả óc chó cho thơm, tán bột. Ngân nhĩ ngâm nở, rửa sạch bỏ cuống, cho vào nồi nước, đun sôi rồi chuyển nhỏ lửa, cho tiếp bột vừng và hạch đào nhân, nước nho, mật ong vào, khi thấy ngân nhĩ chín nhừ, đặc sệt là được. Ngày ăn 2 lần, có thể dùng liên tục.

Tim lợn nấu táo tàu: tim lợn 1 quả, táo tàu 25g. Tim rửa sạch, thái nhỏ, cho 2 thứ vào nồi đất, đổ nước vừa đủ, đun sôi rồi chuyển nhỏ lửa, thấy tim và táo chín nhừ là được. Ăn điểm tâm.

Ăn để có làn da đẹp 2
 Tim lợn nấu táo tàu là món ăn rất tốt cho chị em muốn có làn da đẹp.

Ích mẫu thảo nấu tang ký sinh: ích mẫu thảo 30g, tang ký sinh 30g, trứng gà 4 quả, đường phèn vừa đủ. Trứng luộc, bóc vỏ, cho vào nồi nấu cùng ích mẫu thảo và tang ký sinh, đổ nước vừa đủ, đun nhỏ lửa 30 phút, cho đường phèn khuấy tan rồi vớt bỏ ích mẫu thảo, tang ký sinh là được. Ăn trứng, uống nước trong ngày.

Mứt sơn dược nấu vừng: sơn dược 30g, vừng đen 15g, đường trắng 20g. Vừng sao chín tán bột mịn, sơn dược tán bột mịn, trộn với đường trắng, bắc nồi, đổ nước vừa đủ, đun to lửa cho sôi rồi nhỏ lửa, cho vừng, sơn dược, đường vào, khuấy đều, đun khoảng 3 phút là được. Ngày ăn 2 lần sáng và tối, mỗi lần 1 bát nhỏ.  

  Lương y Minh Chánh

Viêm cầu thận mạn là một căn bệnh được miêu tả trong phạm vi chứng thủy thũng (thể âm thủy) của y học cổ truyền. Nguyên nhân là do phong hàn tà thấp gây chứng phù thũng cấp tính (dương thủy) lâu ngày vì mệt nhọc, cảm nhiễm, ăn uống không điều độ, bệnh không khỏi hay tái phát làm giảm sút công năng vận hóa thủy thấp của tỳ và công nặng khí hóa thủy thấp của thận, gây ứ đọng nước thành chứng phù thũng mạn tính (âm thủy). Xin giới thiệu một số bài thuốc chữa theo từng thể.

Thể tỳ dương hư

Người bệnh phù ít, không rõ ràng, phù ở mi mắt, sắc mặt trắng xanh, tay chân mệt mỏi, ăn kém, hay đầy bụng, phân nát, tiểu tiện ít, chất lưỡi bệu, có vết răng, chân tay lạnh, mạch hoãn. Phép chữa là ôn bổ tỳ dương, lợi niệu. Dùng một trong các bài thuốc sau:

Bài 1: ý dĩ 30g, củ mài 20g, biển đậu 20g, mã đề 20g, nhục quế 4g, gừng khô 8g, đại hồi 8g, đăng tâm 4g, đậu đỏ 20g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài thuốc trị viêm cầu thận mạn 1Đại hồi.

Bài 2: quế chi 6g, thương truật 12g, hậu phác 6g, xuyên tiêu 4g, phục linh bì 12g, trạch tả 12g, ý dĩ 16g, sa tiền 20g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 3: phụ tử chế 8g, can khương 4g, bạch truật 12g, cam thảo 4g, hậu phác 8g, mộc hương 8g, thảo quả 8g, đại phúc bì 8g, mộc qua 8g, phục linh 16g. Sắc uống ngày 1 thang.

Kế hợp châm cứu các huyệt tỳ du, túc tam lý, tam tiêu du.

Thể thận tỳ dương hư

Người bệnh phù không rõ ràng, phù ít, kéo dài (nhất là ở hai mắt cá chân), bụng trướng, nước tiểu ít, sắc mặt trắng xanh, lưỡi bệu, mệt mỏi, sợ lạnh, lưng mỏi lạnh, chân tay lạnh, mạch trầm tế. Phép chữa là ôn thận tỳ dương. Dùng một trong các bài:

Bài 1: thổ phục linh 16g, củ mài 16g, tỳ giải 16g, đại hồi 10g, nhục quế 8g, tiểu hồi 12g, mã đề 12g, đậu đỏ 20g, cỏ xước 20g, đậu đen 20g, gừng khô 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2: bạch truật 12g, bạch thược 12g, bạch linh 12g, phụ tử (chế) 8g, sinh khương 6g, trạch tả 12g, sa tiền 12g, trư linh 8g, nhục quế 4g. Sắc uống ngày 1 thang.

Kết hợp châm cứu các huyệt quan nguyên, khí hải, tỳ du, túc tam lý, tam âm giao.

Bài thuốc trị viêm cầu thận mạn 2Đậu đỏ là vị thuốc trị viêm cầu thận mạn thể tỳ dương hư.

Thể âm hư dương xung

Hay gặp ở viêm cầu thận mạn có tăng huyết áp. Người bệnh biểu hiện phù không nhiều hoặc đã hết phù, nhức đầu chóng mặt, hồi hộp đánh trống ngực, miệng khát, môi đỏ, họng khô, chất lưỡi đỏ, mạch huyền sác. Phép chữa là bình can tư âm lợi thủy. Dùng bài: câu đằng 16g, tang ký sinh 16g, cúc hoa 12g, sa sâm 12g, ngưu tất 12g, đan sâm 12g, quy bản 12g, trạch tả 12g, sa tiền tử 16g. Sắc uống ngày 1 thang.

Kết hợp châm cứu các huyệt tam âm giao, thái xung, can du, nội quan, thần môn và các huyệt tại chỗ theo chứng.

Thể viêm cầu thận mạn có tăng urê máu

Do công năng của tỳ dương và thận dương giảm sút quá nhiều nên trọc âm nghịch lên, gây chứng urê huyết cao gọi là dương hư âm nghịch. Người bệnh biểu hiện lợm giọng, buồn nôn, sắc mặt đen, đau tức ngực, bụng trướng, đại tiện lỏng, tiểu tiện ngắn, ít, chất lưỡi bệu, rêu trắng dày, mạch huyền tế, nhu tế. Phép chữa là ôn dương giáng nghịch. Dùng bài: phụ tử chế 12 – 16g, đại hoàng 12 – 16g, trần bì 8g, phục linh 12g, bạch truật 12g, hậu phác 6g, bán hạ chế 12g, sinh khương 8g, đẳng sâm 20g. Sắc uống ngày 1 thang.

Nếu đại tiện phân nát, nước tiểu trong, đau bụng, rêu lưỡi trắng trơn (trọc khí hóa hàn) thêm can khương 8g, ngô thù 8g.

Nếu nước tiểu ít, đại tiện táo, miệng hôi lở loét (trọc khí hóa nhiệt) thêm hoàng liên 12g, trúc nhự 12g, chỉ thực 12g, can khương 4g, đẳng sâm 16g, cam thảo 4g, đại táo 12g.

Nếu có hiện tượng trụy mạch, dùng Độc sâm thang hoặc bài Sinh mạch tán gồm (nhân sâm 8g, ngũ vị tử 8g, mạch môn 8g) kết hợp các vị thuốc hồi dương như phụ tử (chế) 12g, nhục quế 6g, can khương 6g.  Sắc uống.

Lương y Thái Hòe