Nghệ đen là loại cây thảo cao từ 1 – 1,5m, thân rễ hình nón với nhiều nhánh phụ thon như hình quả trứng tỏa xung quanh như hình chân vịt. Lá có bẹ to ôm vào chân cây ở phía dưới, có đốm tía đỏ ở gần giữa mặt trên, lá dài 30 – 60cm, rộng 7 – 8cm. Cuống lá ngắn hoặc không có. Hoa màu vàng, đài có thùy hình mác tù, dài 15mm, thùy giữa nhọn. Cụm hoa tập trung thành bông hình trụ, mọc lên từ thân rễ. Lá bắc phía dưới hình quả trứng hay hình mác tù, màu xanh lục nhạt, đầu lá màu đỏ, không mang hoa. Quả hình trứng, ba cạnh, nhẵn hạt thuôn, áo hạt trắng. Về hình dáng, nghệ đen rất giống nghệ vàng nhưng có màu tím đậm.
![]() |
Cây mọc hoang ở vùng rừng núi, ven suối, vùng xốp ẩm và được trồng ở nhiều nơi để làm thuốc. Bộ phận dùng là thân, rễ tươi hoặc khô khi thu củ, vỏ ngoài vàng nâu, trong xanh thẫm, thu hái về cắt bỏ rễ
con, luộc chín. Thu hái nghệ đen vào đầu tháng 11 – 12.
Theo y học cổ truyền, nghệ đen có vị cay, đắng, tính ôn, có tác dụng hành khí, phá huyết, thông kinh, tiêu tích, hóa thực… Thường dùng chữa đau bụng, ăn không tiêu, đầy hơi, bế kinh…
Một số đơn thuốc có sử dụng nghệ đen
Chữa chứng huyết ứ, kinh nguyệt không thông, bế kinh, máu ra kéo dài, đen, đông thành khối nhỏ, kèm theo đau bụng trước khi thấy kinh: Nghệ đen 15g, ích mẫu 15g. Sắc uống ngày 1 thang. Uống 5-7 ngày trước kỳ kinh.
![]() Nghệ đen có tác dụng hành khí, phá huyết, thông kinh, tiêu tích, hóa thực…
|
Ăn không tiêu, bụng đầy trướng: Nghệ đen 25g, tim lợn 1 quả. Tim lợn làm sạch, thái miếng, nghệ đen thái lát, nấu chín, thêm gia vị. Ăn liên tục 5 – 7 ngày.
Chữa đau bụng kinh, sắc kinh xấu: Nghệ đen 20g, ích mẫu 16g, ngải cứu 8g. Sắc với 500ml nước, còn 200ml, chia 2 lần uống trước bữa ăn. Uống 5-7 ngày trước kỳ kinh.
Bổ khí, dưỡng huyết: Nghệ đen, bạch chỉ, hồi hương, cam thảo, đương quy, thục địa, bạch thược, xuyên khung mỗi vị 40g. Tất cả các vị tán bột, hoàn thành viên. Ngày uống 8 – 12g. Thích hợp dùng cho các trường hợp suy nhược, tiêu hóa hấp thu kém, thể trạng xanh xao, thiếu máu,…
Vì sao FOP lại là bệnh quái dị?
Theo Từ điển y học trực tuyến thì FOP là căn bệnh mang tính di truyền cực hiếm, lần đầu tiên được bác sĩ người Pháp, Guy Patin phát hiện ra năm 1692, được ông mô tả là “cứng như gỗ”. FOP thường xuất hiện ở trước tuổi dậy thì, trong đó các mô liên kết bị xơ cứng triệt để và phát sinh tình trạng tạo xương các bộ phận như dây chằng, cơ mô liên kết, gân và da. Sự phát triển bất thường của xương có thể dẫn đến tình trạng cứng hóa, hạn chế việc chuyển động của các khớp như đầu gối, cổ tay, vai, cột sống và cổ. Nếu nặng có thể làm tê liệt, biến cơ thể thành khối giống như một bức tượng, như nhân vật trong phim Clash of the Titans (Cuộc chiến giữa các vị thần). Nghĩa là FOP tạo ra thêm nhiều xương mới ngay trong các mô liên kết của cơ thể, vì vậy, FOP mới được dịch là “các mô liên kết mềm dần dần biến thành xương”, một dạng bệnh cực lạ, trong đó một bộ phận thường là mô mềm chuyển hóa thành một bộ phận hoàn toàn khác, đó là xương. Theo số liệu thống kê, trung bình cứ 2 triệu người thì có 1 mắc bệnh, tức khoảng trên 3.300 người lâm bệnh nhưng nay mới chỉ có 700 – 800 ca được khám và chữa bệnh.
Hai trường hợp mắc bệnh FOP mới nhất vừa được dư luận nhắc đến là một bé gái 6 tuổi ở Bellevue, bang Ohio, Mỹ tên là Ali McKean. Căn bệnh này làm cho cơ thể Ali căng cứng, không di chuyển hay cử động được, giống như một bức tượng. “Ali đang dần cứng hóa và đóng băng hoàn toàn”, chị Angela, mẹ của Ali cho biết. Trường hợp thứ hai là một thiếu nữ Seanie Nammock, 17 tuổi, ở vùng Tây Luân Đôn, Anh. Do mắc bệnh FOP di truyền nên cổ tay Seanie bị co cứng và bất động, xương hai bên bả vai bị tê liệt hoàn toàn. Bất kỳ va chạm nhỏ nào cũng có thể gây đau đớn, bởi vậy, mọi sinh hoạt của Seanie đều phải nhờ vào bố mẹ và những người xung quanh.
![]() Hội chứng người quái dị.
|
Triệu chứng ban đầu của bệnh FOP
Thông thường, ở nhóm trẻ mắc bệnh FOP thì có tới 50% tự kế thừa, đây là căn bệnh bẩm sinh phát triển ngay từ khi còn nằm trong bụng mẹ. Dấu hiệu dễ nhận biết như biến dạng ngón chân, đặc biệt ngón chân cái bị ngắn, co quắp vào trong (khoảng 50% số ca mắc bệnh), cột sống bị cứng. Ngoài ra, những đứa trẻ mắc bệnh này thường có các dị tật ở khuỷu khớp nối các xương sườn với cột sống, hạn chế phát triển vòng ngực làm cho việc hô hấp gặp nhiều khó khăn. Nếu xuất hiện sớm, trẻ không thể bò được mà thường phải kéo lê người.
Theo năm tháng, bệnh FOP phát triển, xuất hiện các khối u mềm hoặc các khối u ở cổ, lưng và vai, từ đây, nó tạo ra những xương mới tại các bộ phận này. Một bộ phận xương mới phải mất khoảng 8 tuần để phát triển, người bệnh xuất hiện tình trạng sốt nhẹ và đau, viêm nhiễm, sưng tấy khó chịu. Khi lên 10 tuổi, những đứa trẻ mắc bệnh thường nhận thức được căn bệnh và cố gắng để tồn tại. Do chứa đựng nhiều bí ẩn nên khoa học vẫn chưa hiểu hết nguyên nhân gây bệnh. Người ta mới chỉ tình nghi đến những nguy cơ như do tiêm bắp, do các thủ thuật về răng lợi, do virut cúm, do té ngã… Căn bệnh phát triển thêm xương mới này thường diễn ra từ đầu đến chân, từ phía trước cho đến phía sau, nghĩa là ảnh hưởng đến toàn bộ cơ thể. Bệnh ngày càng phát triển nên đến khoảng 20 – 30 tuổi, người bệnh mất dần khả năng đi lại, thậm chí còn gặp khó khăn khi cử động nên thường phải nằm liệt và trông chờ vào sự giúp đỡ của người thân. Ngoài ra, có tới 50% số người mắc bệnh FOP bị điếc, bất động và ảnh hưởng đến chức năng hô hấp, 95% bệnh nhân FOP bị ảnh hưởng chức năng tim mạch.
Năm 2006, nhóm chuyên gia ở ĐH Pennsylvania Mỹ do tiến sĩ F. Kaplan đứng đầu đã nghiên cứu và tìm ra một đột biến trong thụ thể A của gen ACVR1 týp 1 hay còn gọi là ALK2 (activin receptor-like kinase 2), thành viên thuộc nhóm protein có tên BMP týp 1 (Bone morphogenetic protein type I receptors). Theo đó, những ai có cả hai copy gen ACVR1/ALK2 trong các tế bào cơ thể thì rủi ro mắc bệnh FOP càng lớn.
Chẩn đoán, chữa trị
Theo Hiệp hội FOP quốc tế, có tới 87% số ca mắc bệnh là bị chẩn đoán nhầm, chỉ có 8% là chẩn đoán chính xác, 10% bác sĩ mới được nghe qua về căn bệnh này, 68% điều trị không thích hợp, thậm chí có tới 49% bị thiểu năng do điều trị không đúng cách gây ra.
Khi cơ thể bỗng dưng xuất hiện một số dấu hiệu khác thường, chớ nên lơ là, bởi đó có thể là cảnh báo sức khỏe có chiều hướng xấu đi.
![]() Người có sức khỏe kém thường dễ sinh bệnh do thời tiết
|
Chiều cao giảm. Càng về già, chiều cao của chúng ta có xu hướng giảm dần. Tuy nhiên, nếu chiều cao giảm sút với tốc độ khá nhanh là dấu hiệu cho thấy bạn đang gặp phải vấn đề về xương, nhất là bệnh loãng xương. Khi mắc các bệnh về xương rất dễ dẫn đến nguy cơ gãy xương hoặc vẹo cột sống bất ngờ. Chẩn đoán sớm giúp chúng ta có biện pháp ngăn chặn những điều không mong muốn.
Dễ bị cảm lạnh.Khi cơ thể dễ bị cảm lạnh, rất có thể hệ thống miễn dịch đang gặp trục trặc. Lúc này hãy nghĩ ngay đến khả năng cơ thể đang thiếu vitamin C hoặc bị vi rút tấn công. Cần đi xét nghiệm máu để kiểm tra hệ miễn dịch có vấn đề gì không, song song đó, tập trung cải thiện sức khỏe với chế độ ăn uống, sinh hoạt lành mạnh.
Nước tiểu vàng. Màu sắc nước tiểu là chiếc gương phản chiếu rõ nét nhất tình trạng sức khỏe. Khi uống nước nhiều, nước tiểu sẽ trong; trường hợp uống nhiều nước mà nước tiểu vẫn có màu vàng đậm, hãy kiểm tra xem thận vấn đề gì không, bởi điều đó cho thấy chức năng của thận hoạt động không hiệu quả nên chất thải trong cơ thể không được xử lý tốt.
Da nhạy cảm quá mức. Khi thấy da bỗng dưng nổi mụn nhiều hơn bình thường, hoặc cảm nhận một số rối loạn khác xảy ra trên da, hãy kiểm tra xem bạn đã chăm sóc da đúng cách chưa. Da sạm đi hay nổi quá nhiều mụn là dấu hiệu cho thấy bạn đang bị dị ứng hoặc đang bị stress tấn công. Lúc này cần điều chỉnh lại cuộc sống và dành thời gian thư giãn.
Rối loạn giấc ngủ. Nếu nhận thấy giấc ngủ bị xáo trộn hoặc bị mất ngủ liên miên, khiến cơ thể mệt mỏi và đầu óc lúc nào cũng căng thẳng, thì nên tìm cách khắc phục ngay. Khi cơ thể căng thẳng hoặc lo âu, lượng cortisol (đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển hóa protein, chất béo và carbohydrate) tăng lên, khiến nhịp sinh học cơ thể bị rối loạn; từ đó gây mệt mỏi, thậm chí cơ thể càng dễ bị nhiều loại bệnh tấn công do hệ thống miễn dịch hoạt động không hết công suất.
Chụp CT không phải là nhất
Chấn thương sọ não là một tai nạn thuộc hàng phổ biến trong sinh hoạt giao thông và lao động hàng ngày. Chúng ta cần phải lưu ý tới chấn thương sọ não vì hai lý do rất thực tế. Lý do 1, não bộ là cơ quan tối quan trọng, não bộ bị tổn thương thì có thể thiệt hại tính mạng. Đó là trung tâm điều khiển mọi hoạt động sống của con người. Lý do 2, não bộ dễ bị biến chứng. Nếu không chú ý, nạn nhân có nguy cơ bị biến chứng vĩnh viễn như liệt, nói ngọng, rồi loạn tâm thần, suy giảm chức năng cao cấp của thần kinh trung ương…
Chấn thương sọ não là cụm từ chỉ tất cả mọi chấn thương, vết thương nằm trên vùng sọ não. Chúng ta có thể gặp chấn thương sọ não khi đầu bị va đập vào thứ gì đó, gặp trong nhiều tình huống như ngã từ độ cao, va quệt giao thông, vật nặng rơi vào đầu, vật cứng đập vào đầu…
![]() Cơ chế chấn thương sọ não.
|
Cách phân loại chấn thương sọ não
Đơn giản và hữu ích nhất đó là phân loại theo dạng thức tổn thương. Có 3 loại cơ bản: chấn động não, đụng giập não và máu tụ nội sọ.
Chấn động não là tình trạng não bộ bị xê dịch, rung lắc quá mạnh do va đập dẫn đến những vi tổn thương. Thường ảnh hưởng đến tuần hoàn và dịch ngoại bào giữa các khoang tế bào thần kinh. Đây là thể bệnh nhẹ nhất.
Đụng giập não là tình trạng tế bào não bị giập một phần. Các vùng này có tổ chức não bị phù nề, nhiều tế bào thần kinh rơi vào tình trạng nửa sống nửa chết. Thể bệnh này nặng hơn.
|
Nếu các ngày sau đó, người bệnh có một trong các dấu hiệu sau đây thì cần đi viện ngay và tính tới khả năng nặng lên. – Đau đầu tăng dần – Ý thức xấu dần – Nôn tăng dần |
Máu tụ nội sọ là thể bệnh nặng nhất. Bạn có thể nghe thấy bác sĩ nói chảy máu ngoài màng cứng, dưới màng cứng, trong não, trong não thất… thì tất cả đó đều ám chỉ tình trạng máu tụ nội sọ. Máu tụ nội sọ là thể bệnh nặng nhất, có thể gây tử vong ngay tức thì nếu ổ chảy máu quá nhiều và quá lớn.
Có một thực tế dễ nhận thấy, đó là cả bệnh nhân và người nhà bệnh nhân, ngay khi bị chấn thương sọ não, đều khẩn thiết yêu cầu chụp CT sọ não mặc dù giá thành xét nghiệm này không hề rẻ. Chúng ta thường quan niệm, chụp để xem có bị sao và coi đó là tiêu chuẩn vàng cho người thân của mình.
Nhưng thực tế cho thấy, chụp CT sọ não để quyết định dạng thức tổn thương không phải là tiêu chí quan trọng nhất. Và đó không phải là việc làm duy nhất lúc này có lợi cho bệnh nhân.
Điều này nghe có vẻ phi lý, song đúng là như vậy. Vì có những dạng tổn thương của chấn thương sọ não không dễ gì phát hiện ra ngay được nếu tiến hành chụp CT sọ não sau chấn thương. Ví dụ như máu tụ nội sọ ổ nhỏ, chảy máu rỉ rả. Nếu tiến hành chụp ngay sau chấn thương, có thể chúng ta không thu được hình ảnh tổn thương nào và dễ có một thái độ chủ quan nhầm là không bị nặng. Nhưng bản chất thì ẩn chứa bên trong không được bộc lộ. Nếu không cẩn thận, người bệnh vận động mạnh thì có thể bị bất tỉnh bất ngờ.
![]() Chấn thương sọ não gây xuất huyết não.
|
Vậy đâu mới là điều quan trọng nhất trong chấn thương sọ não và nếu tiến hành chụp CT sọ não thì tiến hành vào lúc nào?
Điều quan trọng nhất với chấn thương sọ não là quan sát các triệu chứng chủ quan của bệnh nhân. Bao gồm: tình trạng chảy máu (ổ vết thương hoặc chấn thương), tình trạng thức tỉnh hay không tỉnh, có đau đầu không, có nôn hay không? Nếu như người bệnh không có các triệu chứng nặng ở trên thì có thể tạm thời chưa có bệnh nặng. Việc chụp CT không thực sự cần thiết. Và việc cần ưu tiên là cho theo dõi nạn nhân.
Nhưng việc chụp CT phải được tiến hành ngay nếu bệnh nhân có triệu chứng xấu dần, tăng dần hoặc có toàn bộ hình ảnh trên một cách đột ngột và đầy đủ
Những việc cần làm
Vì việc chụp CT sọ não không thực sự cần thiết phải tiến hành ngay nên chúng ta có thể trì hoãn. Thay vì việc phải đưa bệnh nhân bằng được lên tuyến trên hoặc các cơ sở lớn có máy chụp CT thì cần đưa bệnh nhân vào bệnh viện đa khoa gần nhất, có khoa chấn thương, khoa ngoại thần kinh hoặc có phòng hồi sức cấp cứu để được khám và chẩn đoán sơ bộ. Từ đây, bác sĩ sẽ đưa ra những phán đoán rất chính xác và hướng dẫn bạn tận tình các công việc cần làm tiếp theo với chi phí rẻ hơn rất nhiều lần chụp CT. Hiệu quả với điều trị lại cực hữu dụng.
Cũng lưu ý khi vận chuyển nạn nhân, cần cho nạn nhân nằm ngửa, đầu nghiêng về một bên và không gối cao. Nhớ nằm trên ván cứng để tránh các trường hợp tổn thương cột sống kèm theo thì sẽ không bị biến chứng sang tủy sống, nặng thêm.
Tất cả mọi vết thương chảy máu ngoài da cần phải được băng bó, cầm máu cẩn thận. Không tiến hành chuyển đi mà chưa kịp làm tốt khâu này. Bạn có thể bảo toàn tính mạng cho người bệnh tốt nhất chỉ bằng một vài phút băng bó.
Trong mọi trường hợp, không để người bệnh đi bộ, ngồi dậy hoặc chạy nhảy khắp nơi. Vì như vậy có thể làm bong các nút máu đông tạm thời và chuyển từ một ổ đụng giập não không có chảy máu sang một ổ chảy máu sọ não hoàn chỉnh. Lúc này, bạn sẽ không thể bảo toàn được mức độ bệnh cho người bệnh.
BS. Cao Hồng Đăng
Bé gái D’Zhana Simmons sống ở South Carolina, Mỹ có thể đi bộ, nói chuyện bình thường được xem là phép lạ, điều khó tin của ngành y, bởi vì bé Simmons không có tim trong vòng 118 ngày. Cô bé D’zhana mắc bệnh giãn cơ tim (DCM), chức năng tim hoạt động rất kém và không thực hiện được việc tuần hoàn máu khắp cơ thể. Các bác sĩ phẫu thuật bệnh viện Miami Holtz đã thực hiện ca cấy ghép đầu tiên vào ngày 2/7/2008 nhưng không thành công. Sau đó, bé D’zhana được duy trì sự sống bằng một thiết bị bơm máu nhân tạo và đang trong quá trình chờ đợi quả tim hiến tặng phù hợp (ảnh).
Minh Huệ (Theo TTz, 8 2013)
![]() Ảnh minh họa
|
2. Mệt mỏi
Tình trạng mệt mỏi bất thường có thể là một dấu hiệu sớm cảnh báo đau tim. Hơn 70% phụ nữ bị kiệt sức trong nhiều ngày hoặc nhiều tuần trước khi bị đau tim.
3. Khó thở
Gần 58% phụ nữ cho biết họ bị khó thở hoặc thở hổn hển không rõ nguyên nhân trước khi bị đau tim.
4. Rối loạn giấc ngủ
Gần 50% phụ nữ bị mất ngủ không rõ nguyên nhân hoặc thường xuyên tỉnh giấc vào các tuần trước khi cơn đau tim tấn công.
5. Đổ mồ hôi
Đổ mồ hôi là một dấu hiệu thường gặp ở phụ nữ bị đau tim. Ngoài ra, mặt tái xanh, lạnh người cũng có thể là một dấu hiệu cảnh báo khác.
6. Buồn nôn hoặc choáng váng
Trước khi cơn đau tim tấn công, phụ nữ thường bị choáng váng, cảm giác chóng mặt hoặc thậm chí là nôn.
Với 30 phút vận động dành cho bà bầu trên thảm chạy một ngày có thể là một thời lượng chưa đủ. Nếu muốn giảm đau lưng, dễ sinh, giảm mất ngủ và giảm rủi ro sinh nở, bà bầu có lẽ cần vận động hơn nữa. Đó là kết luận của nhóm các nhà khoa học đến từ Trường đại học Iowa (Mỹ)
Theo số liệu thống kê từ công trình nghiên cứu, bà bầu thường dùng 75% thời gian thức của mình ở trong trạng thái tĩnh tại. Điều này không có lợi cho thai kỳ của bạn.
![]() |
Để so sánh và kiểm tra trạng thái vận động của bà bầu trong quá trình mang thai, các nhà khoa học sử dụng một dụng cụ theo dõi tự động gắn ở cổ tay và một dụng cụ khác gắn ở chân trong suốt 1 tuần ở thời kỳ giữa và thời kỳ cuối của thai kỳ. Thiết bị theo dõi ở tay đo mức độ chuyển hóa, tính ra MET. Thiết bị ở chân đo mức độ vận động.
Kết quả cho thấy, những bà bầu ở trong trạng thái vận động sẽ sinh nở dễ hơn và giảm mức độ thừa cân sau sinh. Các nhà nghiên cứu trong công trình này khuyên các bà mẹ nên dành nhiều thời gian hơn cho vận động thay vì chỉ nằm và ngồi xem tivi.
Phúc Lâm (Theo SD, 9/2013)
![]() |
Kết quả, những người ăn tỏi sống 2 lần/tuần thì giảm được 44% ung thư phổi (người không hút thuốc lá) và 30% ở người hút thuốc lá thông qua cơ chế phong bế tác hại của khói thuốc. Ngoài ra, tỏi còn có tác dụng giảm bệnh ở nhóm người có nguy cơ bị ung thư phổi cao như những người phơi nhiễm độc hại và sống trong môi trường bất lợi cho cơ thể. Một trong những thành phần chính có tác dụng ngăn ngừa ung thư của tỏi là hợp chất có tên allicin, nhất là khi nó được nghiền nát hoặc đập giập và phơi ra môi trường không khí. Với phát hiện trên, các nhà khoa học khuyến cáo mọi người nên bổ sung tỏi vào khẩu phần ăn hàng ngày, kể cả tỏi ngâm giấm hoặc ăn trực tiếp đều có tác dụng tích cực cho sức khỏe.
KHẮC NAM (Theo CC, 8/2013)
Thương tổn không chỉ tại một bộ phận
|
Theo các nghiên cứu đã được công bố, nếu gia đình có người bố mắc bệnh VHL mà người mẹ hoàn toàn khỏe mạnh thì 50% số con cái sinh ra sẽ bị mắc bệnh này với tần suất phân bố chia đều cho cả nam và nữ là 50/50. Đây là một bệnh hiếm gặp với tần suất mắc vào khoảng 1/35.000 đến 1/40.000 dân. |
Bệnh von Hippel – Lindau (VHL) hay còn được gọi là hội chứng von Hippel – Lindau (von Hippel – Lindau syndrome) là một loại bệnh có tính chất di truyền theo nhiễm sắc thể trội. Bệnh ảnh hưởng đến nhiều cơ quan của cơ thể như não, tụy, gan, thận, mắt… và có thể diễn tiến từ tính chất lành tính sang ác tính tùy từng trường hợp.
Mặc dù có nguyên nhân do đột biến gen và có tính chất di truyền, khoảng 20% số các trường hợp mắc bệnh VHL không có tiền sử gia đình và tùy theo vị trí gen bị đột biến, bệnh VHL được phân chia thành các týp 1, týp 2, týp 3 với các tổn thương phối hợp như u tủy thượng thận, ung thư thận hay chứng đa hồng cầu (polycythaemia) kèm theo.
![]() U máu ở não và tủy sống (đầu mũi tên) trên phim chụp cắt lớp.
|
Lời giải cho căn bệnh khó chẩn đoán
Người bị bệnh VHL có nguy cơ cao bị u mạch máu của hệ thần kinh trung ương, u máu võng mạc, u hệ bạch huyết, ung thư thận, u tủy thượng thận, u thần kinh – nội tiết ở tụy, u mào tinh hoàn ở nam và các khối u buồng trứng ở nữ giới.
Các u máu ở hệ thần kinh trung ương (não và tủy sống) chiếm khoảng 40 – 80% các trường hợp VHL, xuất hiện chủ yếu ở độ tuổi 30. Đây là một tổn thương lành tính, nằm rải rác ở tiểu não, tủy sống hoặc đôi khi có nhiều u liên tiếp kéo dài theo trục não – tủy sống. Thông thường, các khối u này không có biểu hiện gì đặc biệt trừ trường hợp vỡ ra gây xuất huyết tiểu não hoặc tủy sống. Việc phát hiện u máu hệ thần kinh trung ương dựa vào chụp cộng hưởng từ là chủ yếu. Điều trị các loại u này bằng phương pháp đốt bằng sóng radio hoặc phẫu thuật mở.
U máu võng mạc có ở 60% số bệnh nhân bị bệnh VHL. Đây là loại tổn thương phát triển thành nhiều ổ, nằm chung quanh hoặc gần đĩa thị giác với tần suất bị cả hai mắt vào khoảng 50% số các trường hợp với độ tuổi hay gặp là 25 tuổi. Khối u võng mạc thường không có biểu hiện gì cho đến khi phát triển lớn lên gây tổn thương đáy mắt làm giảm hoặc mất thị lực hoàn toàn. Chẩn đoán u máu võng mạc dựa vào soi đáy mắt và chụp mạch máu có tiêm fluorescein. Điều trị u máu võng mạc bằng chất ức chế các thụ thể yếu tố phát triển nội mạc mạch máu hoặc đốt bằng sóng radio có thể cải thiện được thị lực bệnh nhân.
Các khối u nang nội bạch huyết gặp ở 11% số bệnh nhân bị bệnh VHL. Khối u của nang này phát triển mạnh ở độ tuổi từ 12 – 50 tuổi với đỉnh cao là khoảng 22 tuổi. Khối u phát triển gây giảm thính lực hoặc điếc hoàn toàn. Việc phát hiện khối u dựa vào chụp CT hoặc cộng hưởng từ (MRI). Điều trị chủ yếu bằng phẫu thuật mở hoặc đốt bằng sóng radio.
Ung thư thận hay carcinomas tế bào thận là biểu hiện ung thư chính của bệnh VHL với tỷ lệ mắc từ 24 – 45% và nếu kết hợp với các nang tại thận thì tỷ lệ mắc lên tới 60%. Carcinomas thận xảy ra nhiều ở lứa tuổi trên dưới 40, phát triển âm thầm không có triệu chứng trong một thời gian khá dài và khi phát hiện thường đã có xâm lấn sang tổ chức xung quanh với các biểu hiện như đau vùng hố thắt lưng, tiểu máu. Chụp cắt lớp hoặc cộng hưởng từ ổ bụng có thể dễ dàng xác định chẩn đoán. Điều trị carcinomas thận bằng phẫu thuật cắt bỏ hoặc có thể bảo tồn trong một số trường hợp.
U tủy thượng thận có ở 10 – 20% số bệnh nhân bị VHL và lứa tuổi mắc vào khoảng 30 tuổi, 5% trong số này có biểu hiện ác tính. Triệu chứng chính của u tủy thượng thận là những cơn tăng huyết áp kịch phát, dao động và khó kiểm soát cộng với những biểu hiện do cơn tăng huyết áp gây nên như đau đầu, nôn, đột quị não. Xác định u tuyến thượng thận bằng chụp cắt lớp hoặc cộng hưởng từ ổ bụng sau đó điều trị bằng thuốc hoặc phẫu thuật nếu cần.
U nang tuyến và các khối u thần kinh – nội tiết của tụy (pancreatic) cũng là một tổn thương hay gặp ở bệnh nhân VHL với tỷ lệ mắc có thể lên tới 70% cho cả hai loại và thường có ở lứa tuổi 18 – 48. Các u nang tuyến thường lành tính và không cần điều trị đặc hiệu trong khi các u thần kinh – nội tiết tại tụy lại luôn cần được phẫu thuật do có tính chất ác tính và khả năng di căn khá cao. Nhìn chung, chỉ định mổ đối với các u tại tụy có kích thước trên 3cm ở vị trí thân và đuôi tụy, 2cm ở đầu tụy.
TS.BS. Vũ Đức Định
Cây hẹ còn có tên khác là cửu thái. Hẹ là loại rau gia vị được dùng nhiều trong các món ăn. Ngoài ra, người ta còn dùng hẹ để chữa nhiều bệnh. Bộ phận dùng làm thuốc là toàn cây.
Theo Đông y, hẹ vị cay, tính ôn; vào can, vị, thận. Có tác dụng ôn trung hành khí, kiện vị, tán ứ giải độc, bổ thận tráng dương. Dùng cho các trường hợp đau tức vùng ngực, nấc cụt, nôn thổ huyết, niệu huyết, trĩ xuất huyết, bệnh tiểu đường, dị ứng nổi ban, liệt dương di tinh. Theo kinh nghiệm dân gian, lá và thân hẹ chữa ho trẻ em, hen suyễn, giun kim, lỵ amíp, tiêu hóa kém. Hằng ngày có thể dùng 30 – 100g dưới dạng vắt ép lấy nước, xào nấu.
Chữa ho trẻ em: lá hẹ 15g, hoa đu đủ đực 15g, hạt chanh 20 hạt. Dùng tươi, giã nát, thêm 10 – 20ml nước và 1 thìa canh mật ong; hấp chín, ép lấy nước, chia uống 3 lần trong ngày. Dùng 3 – 4 ngày.
Hen suyễn nguy cấp: lá hẹ 50g, sắc với 200ml nước còn 50ml. Uống trong ngày.
Chữa giun kim, ra mồ hôi trộm ở trẻ em: lá hẹ 30g, ép lấy nước, thêm 10 – 20ml vào bã lá và ép gạn; hợp 2 nước ép, thêm mật ong đủ ngọt để uống. Có thể làm rau ăn trong ngày.
![]() Tôm xào hẹ, gừng tươi.
|
Nước ép hẹ gừng tươi sữa bò: nước ép hẹ 60g, sữa bò 200ml, nước ép gừng tươi 10 – 20ml. Trộn đều, hâm nóng cho uống. Dùng cho bệnh nhân nôn do trào ngược thực quản.
Nước sắc hẹ cam thảo: hẹ tươi 30g, cam thảo 15g. Hẹ rửa sạch để ráo, cắt đoạn; cam thảo thái lát mỏng. Hãm nước cho uống. Dùng cho bệnh nhân nổi ban, mề đay.
Bún (mỳ) xào hẹ: bún (mỳ) 150 – 200g, hẹ tươi 60 -100g, có thể thêm thịt nạc hoặc tôm nõn 50g, gừng tươi. Xào với dầu thực vật, ăn nóng. Dùng cho các trường hợp ho suyễn lâu có tính chất dị ứng.
Canh hẹ: rau hẹ 200 – 300g. Luộc hay nấu canh với ít muối. Ngày 1 lần; ăn liên tục 3 – 5 tháng. Trị tiêu khát.
Cháo hẹ: hẹ tươi 60g, gạo tẻ 100g. Nấu cháo gạo, khi cháo được cho hẹ vào, thêm muối vừa ăn. Dùng cho bệnh nhân đau bụng tiêu chảy, liệt dương di tinh.
Rau hẹ, hồ đào xào dầu vừng: rau hẹ 240g, hồ đào nhân 60g. Xào với dầu vừng, ngày ăn 1 lần, dùng trong 1 tháng. Dùng cho bệnh nhân đau lưng liệt dương.
Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta không thể lựa chọn khi nào bị stress, nhưng các cách dưới đây sẽ giúp bạn làm giảm hậu quả của stress đối với sức khỏe một cách hiệu quả!

Bất cứ cuộc đi dạo nào cũng giúp cho trí não bạn minh mẫn hơn, và thúc đẩy việc sản sinh ra chất endorphin, giúp làm giảm hóc môn gây căng thẳng. Hãy cân nhắc việc đi dạo trong công viên, hoặc ở nơi có không gian xanh, để cơ thể bạn được thực sự chìm trong trạng thái thư giãn.
Hít thở sâu
Những người tập yoga đều biết đến việc hít thở sâu đóng vai trò quan trọng như thế nào trong việc nuôi dưỡng cơ thể. Các bài tập về thở hoặc thậm chí chỉ hít thở sâu vài cái cũng giúp làm giảm căng thẳng và giải tỏa stress, giúp chúng ta bình tĩnh. Không chỉ vậy, theo nghiên cứu của Đại học Harvard, các bài tập thở đã được chứng minh có tác dụng hỗ trợ cho một vài cơ quan trong cơ thể bị tổn thương do stress: làm giảm huyết áp, và thậm chí còn có thể thay đổi trạng thái của một số gien.
Tưởng tượng bằng hình ảnh
Một sự tưởng tượng bằng hình ảnh ngắn là cách dễ dàng để lấy lại cân bằng. Đơn giản là làm cho bản thân bạn cảm thấy thoải mái (ở bất cứ đâu: bàn làm việc, hay trong một phòng họp trống…) và cố gắng tưởng tượng ra một quang cảnh thật yên bình: một kỳ nghỉ trong tương lai hay bãi biển yêu thích của bạn. Bạn thậm chí có thể tưởng tượng ra hình ảnh bản thân đã hoàn thành được mục tiêu cho tương lai, hay như tờ tạp chí Sức khỏe Phụ nữ của Mỹ viết “Hãy tưởng tượng bản thân bạn trong một cái thang máy, rất hạnh phúc được kẹp giữa hai chàng diễn viên điển trai mà bạn yêu thích!”.
Ăn vặt
Ăn vặt để giảm stress không phải là ý tưởng tồi.
Theo một giáo sư Tâm thần học của Đại học Columbia, sự kết nối giữa dạ dày và não bộ là rất lớn, và nhiều dữ liệu thú vị hỗ trợ cho các ý tưởng rằng dạ dày là chất hòa giải cho các phản ứng với stress. Bởi suy cho cùng stress là hiện tượng điều đình giữa não bộ và hệ thống miễn dịch, mà dạ dày lại là cơ quan lớn nhất trong hệ thống miễn dịch của bạn.
Hãy chọn một món ăn vặt như nửa quả bơ, một nắm hạt khô hay một quả trứng luộc, bởi không có gì gây căng thẳng cho não bộ hơn là cảm giác bạn bị bỏ đói. Sau đó bước khỏi máy tính của bạn, và đến ngồi ở chỗ nào đó yên bình. Rồi chỉ tập trung vào món ăn của bạn, mùi vị của nó, cảm giác món ăn mang lại cho bạn. Và bằng cách đó, bạn đã biến món ăn thành một sự thư giãn giống như thiền định.

Trồng một cây cảnh
Cây cảnh trong nhà không chỉ là máy lọc không khí xinh xắn, mà chúng thực sự có thể giúp bạn bình tĩnh. Nghiên cứu của trường Đại học Washington đã phát hiện ra một nhóm người bị stress có chỉ số huyết áp giảm khi bước vào một căn phòng đầy cây xanh. Có thể thấy việc được bao bọc bởi cây xanh cũng có thể đơn giản làm giảm stress cho cơ thể.
Rời khỏi màn hình máy tính
Sử dụng máy tính liên tục không nghỉ có quan hệ mật thiết với các triệu chứng như stress, mất ngủ, và trầm cảm ở phụ nữ theo một nghiên cứu của Đại học Gothengurg, Thụy Điển. Trong cùng nghiên cứu đó cũng chỉ ra việc sử dụng máy tính ban đêm cũng liên quan đến stress ở cả nam giới và nữ giới.
Tốt nhất bạn nên nghỉ ngơi thường xuyên trong cả ngày sử dụng máy tình, và nên tắt máy tình ít nhất 1 giờ trước khi đi ngủ.

Nghe chút nhạc
Nhạc cổ điển có tác dụng xoa dịu đặc biệt: làm chậm nhịp tim, giảm huyết áp và thậm chí giảm cả nồng độ hóc môn gây tress. Tuy nhiên, bất cứ loại nhạc nào bạn thích cũng sẽ khiến não bộ có cảm giác thoải mái dễ chịu như dopamine. Do đó, âm nhạc không chỉ giúp xoa dịu các lo lắng khó chịu hàng ngày mà còn đặc biệt có ích đối với những người đang gặp phải các sự kiện dễ gây căng thẳng.
Nuông chiều bản thân với 1 chiếc kẹo
Ăn hoặc uống thứ gì đó ngọt ngào cũng có tác dụng xoa dịu bởi nó ngăn chặn sự sản sinh ra hóc môn gây tress trong cơ thể. Bạn có thể nuông chiều bản thân với 1 cái kẹo socola, hoặc thứ gì đó tương tự để tự giải tỏa stress.
Nhai kẹo cao su
Kẹo cao su không chỉ giúp bạn có hơi thở thơm tho, mà còn giảm sự lo lằng bồn chồn, cải thiện tình trạng tỉnh táo của cơ thể, và giải tỏa stress khi phải làm nhiều việc cũng lúc.
Tắt máy điện thoại
Smartphone được coi là thủ phạm khiến stress tăng, bởi ngày càng nhiều người cảm thấy căng thẳng với áp lực phải trả lời các tin nhắn, email mọi lúc.
Ăn chuối hoặc khoai tây
Chất potassium trong chuối hoặc khoai tây giúp điều hòa huyết áp. Theo Hiệp hội Tâm thần học Mỹ, ăn chuối có thể giúp phục hồi và tăng cường năng lượng khi bị stress, đồng thời nó còn giúp bảo vệ cơ thể bạn khỏi các ảnh hưởng tiêu cực của stress như nguy cơ đột quỵ.
Làm đồ thủ công
Chanh là loại cây được trồng rất phổ biến ở nước ta. Ngoài tác dụng giải khát, quả chanh còn là các vị thuốc chữa bệnh rất hiệu quả.
Theo Đông y quả chanh vị chua ngọt, tính bình, vào vị. Lá chanh vị cay ngọt, tính ôn. Rễ có vị đắng, tính ôn. Quả chanh có tác dụng sinh tân chỉ khát trừ thấp an thai. Dùng trong các trường hợp thử nhiệt phiền khát (cảm nắng, mất nước, khát nước, vật vã kích động); ăn kém, nhiễm độc thai nghén nôn ói, tăng huyết áp. Lá chanh có tác dụng hoà đàm, chỉ khái, lý khí, khai vị. Rễ có tác dụng chỉ khái, bình suyễn, hành khí, chỉ thống.
![]() Ảnh minh họa.(Nguồn: internet)
|
Dưới đây là những tác dụng không ngờ của nước chanh khi bạn uống vào buổi sáng:
Tăng cưỡng miễn dịch
Trong nước chanh có chứa nhiều vitamin C, đây là loại chất giúp tăng cường sức đề kháng à ngăn cản các bệnh khi thời tiết lạnh. Vitamin C có trong chanh giúp chống viêm và được sử dụng trong việc điều trị bệnh hen suyễn và các bệnh về hô hấp khác.
Ngoài ra chanh còn giúp tăng cường hấp thu sắt, đóng vai trò trong khả năng miễn dịch. Nước chanh còn chứa nhiều chất kali giúp kích thích trí não phát triển và cân bằng huyết áp.
Tốt cho tiêu hóa
Nước chanh không chỉ giúp giải nhiệt và thanh lọc cơ thể nhờ đẩy độc tố ra ngoài mà thành phần có trong nước chanh còn giống như nước bọt và axit có trong hệ tiêu hoá giúp gan sản xuất ra axit cần thiết cho hệ tiêu hoá của bạn. Nước chanh còn giúp giải phóng độc tố và làm giảm các triệu chứng khó tiêu, ợ chua.
Lợi tiểu
Uống nước chanh, bạn sẽ đi tiểu nhiều hơn vì nó được coi là một chất lợi tiểu trong cơ thể, giúp làm sạch hệ tiêu hóa. Theo đó tốc độ đào thải độc tố cũng nhanh chóng hơn, giúp giữ cho đường tiết niệu của bạn khỏe mạnh.
Giảm cân
Nếu béo phì hay thừa cân, bạn không nhất thiết áp dụng chế độ ăn quá khắt khe, dễ dẫn tới tình trạng bị thiếu chất, hạ huyết áp.
Hơn nữa, vỏ chanh có các thớ pectin giúp giảm cân bằng cách ngăn dạ dày hấp thụ đường quá nhanh. Bạn có thể thêm vỏ chanh vào nước lọc hoặc nước chanh ấm. Tuy nhiên cần phải lưu ý rằng để giảm cân bạn nên duy trì thói quen uống một cốc nước chanh mỗi ngày kết hợp cùng chế độ ăn uống khoa học và tập luyện đều đặn.
Đẹp da
Vitamin C không chỉ giúp tăng cường sức đề kháng mà còn giúp chống ôxy hoá hiệu quả làm đẹp da, giảm nếp nhăn. Vitamin C giúp cho làn da khoẻ mạnh đẩy lùi một số loại vi khuẩn gây ra mụn trứng cá. Vitamin C giúp trẻ hoá làn da từ bên trong cơ thể nhờ đẩy độc tố ra bên ngoài.
Giảm các bệnh về hô hấp
Một cốc nước chanh ấm vào mỗi sáng sớm sẽ giúp loại bỏ các bệnh nhiễm trùng ở vùng ngực và dừng những cơn ho khan, ho gió lại. Nó cũng được cho là liều thuốc quý giá và hữu ích cho những người đang bị bệnh hen suyễn và thường xuyên bị dị ứng.
Giảm stress
Vitamin C có nhiều trong nước chanh là một trong những phương thuốc giúp bạn thoát khỏi tình trạng căng thẳng cho trí não và cơ thể.
Hạn chế cà phê
Ngày nay các nhà sản xuất cố gắng tạo ra nhiều loại bánh khác nhau, và có thêm nhiều màu sắc để các khách hàng chọn lựa. Tuy nhiên, điều bạn cần lưu tâm khi chọn và thưởng thức bánh là ngày sản xuất.
![]() Nhâm nhi chén trà xanh khi ăn bánh trung thu không chỉ đỡ ngán mà còn hỗ trợ cho tiêu hoá rất nhiều.
|
Cần tách trà nóng
Ăn bánh trung thu rất cần một tách trà nóng. Bánh trung thu về cơ bản thành phần gồm rất nhiều bột, đường, dầu, mỡ động vật… vì vậy một tách trà nóng sẽ giúp cơ thể dễ tiêu hoá, chuyển hoá hơn. Tốt nhất là dùng trà xanh, trà nhài, trà hoa cúc.
Tuyệt đối không ăn bánh trung thu với một cốc nước đá lạnh. Rất dễ gây tiêu chảy.
Vì bánh trung thu có nhiều chất béo, đường nên tốt nhất không nên ăn nhiều cùng một lúc. Đặc biệt là người già, trẻ em, vốn hệ tiêu hoá còn yếu.
Cũng không nên ăn bánh trung thu để trừ bữa. Tốt nhất ăn xen kẽ giữa các bữa ăn. Không ăn vào ban đêm và hai tiếng trước khi đi ngủ.
Bánh trung thu thường có hai vị mặn và ngọt. Vậy bạn hãy ăn bánh mặn trước, sau đó đến bánh ngọt. Với các loại bánh có nhiều loại nhân, bạn cũng nên căn cứ vào thứ tự này để chọn bánh.
Với những người mắc các bệnh như viêm túi mật, sỏi mật, viêm dạ dày, cao huyết áp, cholesterol cao, bệnh nhân tim mạch… nên không ăn bánh trung thu, thậm chí với các loại bánh quá ngọt hay có đậu phộng, các loại hạt khi ăn quá nhiều sẽ làm tăng gánh nặng cho chức năng lưu thông máu, làm mệt tim thậm chí gây nhồi máu cơ tim.
tiết acid khiến bệnh nặng hơn. Viêm gan cấp mãn tính cũng không ăn bánh trung thu. Ngoài ra, bệnh nhân bị sâu răng, béo phì, xơ cứng động mạch… cũng nên cân nhắc khi ăn bánh trung thu.
Nếu đang bị bệnh hen suyễn, cần phải cẩn thận với những gì bạn ăn. Có một số loại thực phẩm cần tránh nếu không muốn cơn thở khò khè bùng phát.
|
Rượu vang: Dù chỉ 1 ly rượu vang cũng không tốt cho cơn hen suyễn. Nếu bạn uống rượu vang, bạn sẽ bắt đầu có vấn đề về hô hấp.
Bia: Nếu bạn thích bia và đang bị thở khò khè, tốt nhất là tránh xa nó một thời gian. Một lượng bia chỉ khoảng nửa lít không tốt cho phổi của những người đang bị hen suyễn hành hạ.
Thực phẩm chứa tinh bột: Chuối chứa lượng cao tinh bột là thực phẩm bạn nên tránh khi bị thở khò khè. Một số loại thực phẩm tương tự khác là khoai tây chiên và đồ ăn nhẹ có phủ lớp bột bắp (ngô). Tinh bột trong khoai tây chiên quá nhiều, bạn cần tránh. Ăn khoai tây luộc thì tốt hơn nhưng ở mức vừa phải.
Thơm (khóm, dứa): Các a xít có trong thơm được coi là nguy hiểm cho bệnh nhân hen suyễn.
Ớt, đồ chua: Các loại đồ chua, dưa chua, ớt thường khó mà từ chối trong bữa ăn; song nếu bạn bị chứng thở khò khè, bạn nên tránh các loại thực phẩm này.
Các thực phẩm dễ gây dị ứng: Hãy chắc chắn rằng bạn không ăn bất cứ loại nào có thành phần dễ gây dị ứng. Thực phẩm gây dị ứng có thể khiến bệnh bùng phát khi làm co thắt thanh quản, gây khó thở.
Tôm đông lạnh: Bị bệnh hen suyễn, bạn cần tránh tôm đông lạnh. Loại hải sản này chứa rất nhiều chất bảo quản không tốt cho phổi. Vì vậy, nếu muốn ăn tôm thì ăn lúc còn tươi.
Các nhà nghiên cứu ở Anh quốc lần đầu tiên đã thiết lập được bản đồ tiến triển của đột biến bên cạnh sự phát triển của khối u, điều này giúp tạo ra cách thức tốt hơn trong việc điều trị và phòng ngừa nhiều loại ung thư.
Người ta đã nghiên cứu hơn 7.000 hệ gen (giải mã gen) để tìm ra được các dạng đột biến AND có thể là dấu hiêụ cuả ung thư. Đây là bước rất quan trọng để khám phá ra tiến trình tạo thành khối ung thư. Thông qua phân tích chi tiết đã có thể bắt đầu dùng lượng lớn thông tin từ AND của khối ung thư để hiểu rõ hơn tại sao nó phát triển . Tất cả ung thư đều gây ra bởi đột biến AND xảy ra ở tế bào của cơ thể trong giai đoạn nào đó của đời sống. Các nhà khoa học biết rõ về những điều này, chẳng hạn như các hóa chất từ khói thuốc lá gây đột biến gen tế bào phổi dẫn đến ung thư hoặc tia cực tím khởi phát đột biến tế bào da gây ra ung thư da. Nhưng tiến trình sinh học gây ra đột biến trong ung thư thì chưa được rõ ràng. Như vậy sau tất cả các vấn đề thì vấn đề gây đột biến là nguyên nhân tạo ung thư.
Nghiên cứu 7.042 mã gen của các trường hợp ung thư khắp nơi trên thế giới với 30 loại bệnh khác nhau, các chuyên gia đã tìm ra được những kiểu tiến trình đột biến khác nhau. Họ đã khám phá ra tất cả các ung thư đều chứa hai hoặc nhiều hơn các ký hiệu gây phát triển ung thư, những loại ung thư khác nhau cũng có số lượng đột biến gen khác nhau. Chẳng hạn ung thư buồng trứng thì có 2 tiến trình đột biến để phát triển ung thư, ung thư gan thì có đến 6 tiến trình đột biến. Cũng có loại tiến trình được tìm thấy ở nhiều loại ung thư khác nhau, ngoài 30 ung thư thì có đến 25 kiểu đột biến liên quan đến tích tuổi. Các nhà khoa học cũng khám phá ra họ của men được gọi là APOBEC đã gây đột biến AND, liên quan với hơn phân nửa các trường hợp ung thư.
(Theo Doctor’s Guide, 8/2013)
MINH THƯ
Một số cách dùng cụ thể như sau:
Bài 1: Táo mèo 15g, hà diệp (lá sen) 20g. Hai thứ tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng: Hoạt huyết hóa ứ, thanh dẫn thông trệ, làm giãn mạch máu, dùng thích hợp cho người bị tăng huyết áp và béo phì có kèm theo đau đầu, hoa mắt, chóng mặt.
![]() |
Bài 2: Táo mèo 10g, cúc hoa 10g, lá trà tươi 10g. Ba thứ hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng: Thanh nhiệt trừ đàm, bình can tiềm dương, dùng cho người bị tăng huyết áp, bệnh lý mạch vành và rối loạn lipit máu.
Bài 3: Táo mèo 24g, cúc hoa 15g, kim ngân hoa 15g, tang diệp (lá dâu) 12g. Tất cả sấy khô, tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng: Thanh can nhiệt, hoá ứ tích, dùng thích hợp cho những người bị tăng huyết áp thuộc thể can nhiệt ứ trở biểu hiện bằng các triệu chứng như đau đầu, chóng mặt, hoa mắt, mất ngủ, dễ cáu giận, miệng khô họng khát, đại tiện táo, chất lưỡi đỏ…
Bài 4: Táo mèo 50g, gạo tẻ 50g, đường phèn vừa đủ. Sơn tra bỏ hạt, thái phiến, đem nấu với gạo tẻ thành cháo, chế thêm đường phèn, chia ăn vài lần trong ngày. Công dụng: Khứ ứ huyết, tiêu thực tích, dùng cho những người bị tăng huyết áp, rối loạn lipid máu.
![]() Táo mèo phối hợp với cúc hoa và lá trà tươi hãm uống tốt cho người bệnh tăng huyết áp, bệnh mạch vành và rối loạn lipit máu.
|
Bài 5: Táo mèo sao đen 12g, thảo quyết minh 12g, hoa cúc trắng 9g. Ba thứ sấy khô, tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng: Sơ phong, tán nhiệt, bình can, giáng áp, nhuận tràng thông tiện, dùng rất tốt cho những người bị tăng huyết áp có kèm theo táo bón kéo dài.
Thạc sĩ Hoàng Khánh Toàn
![]() Ảnh minh họa. |
Cá mè thịt chắc, vị ngọt, béo nhưng không ngấy. Khéo léo chế biến, các bà nội trợ có thể nấu được những món ngon như cá mè kho tiêu, cá mè kho dưa cải, canh cá mè nấu chua… Thịt cá có nhiều protid; mỡ cá có nhiều acid béo không no; mật cá chứa sterol. Trong Đông y, cá mè còn gọi là liên ngư, bạch cước liên, phường ngư. Bộ phận dùng làm thuốc là thịt, mỡ và mật cá.
Cá mè vị ngọt, tính ấm, không độc, có tác dụng bổ não tủy, nhuận phế, ích tỳ vị. Trong sách thuốc cổ có ghi: Thịt cá mà trắng có tác dụng khai vị, hạ khí, điều hòa ngũ tạng, chống hư huyết mạch, bổ gan, sáng mắt. Dùng cho các trường hợp tỳ vị hư hàn, ăn kém, đau bụng, đầy bụng, da thô ráp, tróc da và da khô. Người cao tuổi dùng cá mè thường xuyên chống được đau đầu, giảm trí nhớ, ho đờm, hen suyễn.
![]() |
Dùng cho người suy nhược, sốt, chán ăn: cá mè tươi 300g, khởi tử 30g. Cá mè làm sạch, bỏ đầu và xương, thái lát mỏng; nấu kỹ với khởi tử. Trước khi ăn có thể thêm giá đỗ xanh, gừng, rau mùi, rau cần, hành, muối, hồ tiêu; đun chín. Ăn trong ngày.
Dùng cho các trường hợp huyết hư sau đẻ và thiếu sữa: cá mè 1 con, hạt mướp 30g, nghệ vàng 10g. Nấu ở dạng canh, mỗi ngày 1 lần.
Dùng cho các trường hợp tỳ vị dương hư, hư hàn, ăn kém, chậm tiêu, đầy ợ hơi, sợ lạnh, ho suyễn, nôn ói: cá mè 1 con, gừng tươi 18 – 30g. Cá mè làm sạch; gừng tươi 1 củ, cạo vỏ, đập giập nhưng vẫn còn cả thân củ; thêm hồ tiêu, hành tươi, gia vị nấu thành canh cá. Ăn liên tục đợt 5 – 7 ngày.
Dùng cho bệnh nhân phù nề, tiểu tiện ít: cá mè 1 con, đậu đỏ hạt 30g. Cá mè làm sạch, cho vào nồi hầm nhừ với đậu đỏ, thêm gia vị thích hợp. Ăn một đợt trong 5 – 7 ngày.
Dùng cho các trường hợp đau đầu hoa mắt chóng mặt (huyễn vững), mỏi tay chân: đầu cá mè 1 chiếc, thiên ma 15g. Cho đầu cá, thiên ma, thêm muối gia vị và nước với số lượng thích hợp, hầm nhừ. Ăn một đợt 5 – 7 ngày.
Mỡ cá mè có nhiều ở phần bụng cá, rán lấy mỡ, dùng chữa bỏng da độ nhẹ.
Mỏi mắt: Làm việc liên tục với máy tính sẽ khiến mắt bạn không chỉ mỏi, nhức, mà còn có thể bị khô hoặc chảy nước liên tục. Đó là do mắt phải điều tiết quá nhiều trong một thời gian dài nên đã dẫn đến tình trạng trên. Đi kèm với mỏi mắt là chóng mặt, nhức đầu và có cảm giác nôn nao. Sóng máy tính gây hại cho hệ thần kinh, mắt nhức mỏi cũng khiến thần kinh căng thẳng, cùng với đó là không khí ngột ngạt của văn phòng sẽ khiến bạn dễ bị căng thẳng hơn. Nếu muốn chấm dứt tình trạng trên, sau mỗi 60 phút làm việc trước máy tính bạn nên nghỉ ngơi khoảng 5 phút. Trong thời gian nghỉ ngơi đó bạn hãy nhắm mắt lại, thả lỏng cơ thể và tưởng tượng mình đang ở một nơi có phong cảnh đẹp hay nghe một bản nhạc du dương.
![]() Khi ngồi làm việc lâu với máy tính, dễ mỏi mắt, cần thư giãn và nghỉ ngơi 5 phút sau mỗi tiếng làm việc.
|
Đau lưng, nhức tay, thoái hóa đốt sống cổ: Ngồi nhiều với tư thế sai sẽ làm cơ lưng và cột sống vặn vẹo dẫn đến đau lưng. Gõ máy tính liên tục và bấm chuột sẽ khiến các khớp tay đau nhức. Cổ liên tục ở tư thế bất động, máu kém lưu thông, dần dần sẽ dẫn đến thoái hóa khớp. Đó là lý do vì sao những người làm văn phòng dễ mắc các bệnh như hội chứng ống cổ tay (cánh tay đau nhức), thoái hóa đốt sống cổ, đau thần kinh tọa. Lời khuyên hữu ích dành cho dân văn phòng là hãy điều chỉnh tư thế ngồi của mình cho đúng: lưng thẳng, không ngồi lún quá sâu vào lưng ghế. Nên tìm cho mình một chiếc ghế mềm mại và thoải mái nhất. Chú ý đến độ cao của bàn viết và ghế ngồi để hai tay của bạn vừa tầm trên bàn làm việc. Sau 2 giờ làm việc với máy tính bạn nên vươn vai, xoay người, hay tập một môn thể thao nhẹ nhàng để khí huyết được lưu thông. Đồng thời, thường xuyên tự xoa bóp các khớp ngón tay để tránh sự nhức mỏi và co rút cơ.
Hội chứng tổn thương thần kinh là những thứ mà bạn có thể gặp. Khi bạn ngoẹo đầu sang một bên để giữ điện thoại nói chuyện trong khi hai tay vẫn thoăn thoắt với máy tính, có thể bị hội chứng thoát ngực. Nó là do sự chèn ép đám rối thần kinh cánh tay do căng cơ bên của cổ vì sai vị trí đầu hay tư thế ngồi sụp. Khi duỗi ngón tay và cổ tay lặp đi lặp lại hay do quay cẳng tay sẽ làm chèn ép dây thần kinh quay, coi chừng bị hội chứng ống thần kinh quay với biểu hiện là cảm giác khó chịu từ khuỷu tay đến phần chân đế của ngón cái hoặc yếu cổ tay.
Béo bụng: Không chỉ nam giới, mà nữ giới văn phòng bụng cũng có xu hướng to hơn bình thường, đó là vì họ ít vận động, ngồi sai tư thế, khiến cho lượng mỡ tích lại ở vùng bụng nhiều hơn bình thường. Đó là chưa kể tới việc ít vận động, thừa calo còn dẫn tới béo phì. Do đó, nếu công việc của bạn ít phải vận động thì bạn hãy cố tận dụng mọi cơ hội để được đi lại, hoạt động chân tay. Thay cho đi thang máy, hãy leo cầu thang bộ… cùng với đó là tập các bài tập thể dục giữa giờ.
Các bệnh về da và hô hấp: Trong môi trường máy điều hòa tại văn phòng, lại thiếu không khí trong lành, da và hệ thống hô hấp của bạn sẽ có vấn đề. Nhẹ thì da mất nước, khô ráp, sạm màu. Nặng hơn thì da nổi mụn, dị ứng, miệng khô, khó thở và dễ bị viêm đường hô hấp. Uống nhiều nước, dùng kem dưỡng ẩm và bổ sung các thực phẩm giàu vitamin A, C, E… là điều rất cần thiết đối với nhân viên văn phòng vì chúng có tác dụng chống lão hóa, khôi phục độ ẩm cũng như độ đàn hồi cho các tế bào da. Thỉnh thoảng, bạn cố gắng ra ngoài phòng hít thở không khí trong lành để cải thiện tình trạng trên. Da bạn phải “làm việc” căng thẳng cả ngày, vì vậy buổi tối chính là lúc bạn cần dành thời gian để “cải tạo” làn da của mình thông qua việc đắp mặt nạ và mát xa cho da. Đắp mặt nạ sẽ làm giãn nở các lỗ chân lông, giúp lấy đi các tế bào da chết, lưu thông máu, từ đó làm da bạn mềm mại và mịn màng.
rong Đông y, chu sa, thần sa là một thành phần trong nhiều cổ phương nổi tiếng như: Ngưu hoàng trấn kinh tán, Ngưu hoàng thiên kim tán, Ngưu hoàng bào long hoàn, Bá tử dưỡng tâm hoàn, Tiểu nhi kinh phong tán… Về thực chất, chu sa và thần sa chỉ là một, đều là khoáng thạch có chứa sunfua thủy ngân và sunfua selen. Khác là chu sa thường ở thể bột đỏ, còn thần sa thường ở thể cục thành khối óng ánh, to nhỏ không đều nhau, có màu đỏ tối hay đỏ tươi, thể chất nặng song dễ vỡ, không mùi, vị nhạt.
Theo Đông y, chu sa, thần sa đều có vị ngọt, tính hơi hàn, có độc. Nhập vào kinh tâm, có công năng thanh tâm, trấn kinh, an thần, giải độc. Được dùng để trị các chứng hay bị hoảng hốt, mất ngủ, ngủ hay mê sảng, giật mình, trẻ con hay khóc đêm, bị co giật khi sốt cao… Trong sách cổ có quy định, chu sa, thần sa bao giờ cũng phải dùng sống một cách tuyệt đối, có nghĩa là không được qua lửa hoặc không được giã nghiền trực tiếp để sinh nhiệt. Vì nếu gia nhiệt sẽ làm cho các thành phần như sunfua thủy ngân (HgS) trong đó bị phân hủy thành thủy ngân nguyên tố (Hg) gây độc cho cơ thể, nhẹ thì có thể dẫn đến thâm lợi, sưng lợi…; nặng có thể nguy hiểm cho tính mạng. Do vậy, trước khi dùng cần được chế biến đúng phương pháp (thủy phi), sử dụng đúng liều lượng quy định.
![]() Khi chế biến và sử dụng chu sa cần đúng phương pháp nếu không sẽ gây độc cho cơ thể.
|
Cách chế biến thần sa, chu sa
Cách 1: Nếu dùng với số lượng ít, cho vài ba thang thuốc Đông y, có thể đem chu sa, thần sa, mài vào cái bát sứ đã chứa ít nước sạch, cho tan hết phần bột, làm nhiều lần, bỏ phần cặn, gạn hoặc dùng nam châm để hút các cặn sắt đi. Lấy phần bột mịn đỏ, hòa vào thuốc sắc đã để nguội mà uống, với liều 0,3 – 1,5g/ngày.
Cách 2: Nếu dùng với số lượng lớn hơn, chu sa, thần sa thường cho vào cối sứ hoặc lon sành, cho nước sạch vào rồi nghiền làm nhiều lần, mỗi lần gạn lấy phần nước có bột đỏ sang một dụng cụ khác như can, chậu sành…, để lắng vài giờ, gạn bỏ phần nước trong ở trên, thu lấy bột mịn màu đỏ. Có thể tinh chế vài lần như vậy. Sau đó cho ra mâm nhôm hay khay men… phơi trong bóng râm cho tới khô. Lấy phần bột mịn màu đỏ, bảo quản trong lọ thủy tinh sạch, nút kín, để nơi cao ráo, tránh ánh sáng.
Cách 3: Trong các xí nghiệp sản xuất thuốc Đông dược, khi cần sản xuất số lượng lớn thần sa, chu sa, phải xay nghiền trong các cối bằng đá, song nhất thiết phải luôn luôn xay nghiền cùng với nước sạch để làm nguội (do nhiệt sinh ra trong quá trình xay nghiền dễ tạo ra thủy ngân nguyên tố). Sau đó các quá trình tiếp theo cũng làm theo các cách trên.
Như vậy, cần hết sức lưu ý là không cho chu sa, thần sa vào sắc cùng với thang thuốc thảo mộc.
Chu sa, thần sa được dùng chữa bệnh
Chữa mất ngủ, hay giật mình, mê sảng, giấc ngủ không yên, trẻ con hay khóc đêm…: dùng riêng bột chu sa, thần sa, hòa thêm chút mật ong hay ít nước đường vào cho dễ uống.
Chữa tâm thần bất an, mất ngủ, tim loạn nhịp, di tinh: dùng tim lợn hấp chín, rồi chấm với bột chu sa, thần sa mà ăn.
Lưu ý: Nếu thần sa, chu sa là một trong nhiều vị của một thang thuốc thảo mộc khác, trước hết phải sắc các vị thuốc thảo mộc như bình thường. Gạn lấy nước sắc, để nguội, rồi cho bột chu sa, thần sa với lượng phù hợp vào, quấy đều, uống ngày 2 – 3 lần trước bữa ăn khoảng 1,5 giờ. Ngoài ra, trong sản xuất thuốc, nếu trong thành phần có chu sa, thần sa, có thể lấy chính loại bột này để bao phía ngoài của các viên thuốc hoàn.
GS.TS. Phạm Xuân Sinh




















