AA big book

Khi người nhà hoặc người bạn thân đang hồi phục sau cơn bệnh nặng, chúng ta thường cố gắng chăm sóc thật tận tình. Chúng ta hết sức chìu chuộng như chìu chuộng một đứa bé đang bệnh, cho ăn ngon cho đồ chơi để bé mau lành.

Bệnh nghiện rượu cần phải có một thời gian để hồi phục, bất cứ ai trải qua giai đoạn này cũng xứng đáng được sự tận tình và chìu chuộng.

Trước đây, người ta thường nghĩ rằng người đang khỏi bệnh đáng phải chịu đau khổ, bởi vì người ta nghĩ rằng chính họ gây ra bệnh của mình một cách tự nguyện, ích kỷ.

Bởi vì thành kiến đối với bệnh nghiện rượu vẫn còn đè nặng bởi những người không biết bản chất của bệnh (kể cả chúng tôi trước khi hiểu biết hơn); nhiều người chúng tôi không tử tế lắm đối với chính mình trong lúc chịu đựng vật vã sau cơn say. Chúng tôi cứ chịu đựng và nghĩ mình như là “gánh hậu quả”, cần phải tự chịu phạt vì hành vi sai trái của mình.

Bây giờ chúng tôi biết nghiện rượu không phải là hành vi phi đạo đức, chúng tôi thấy rằng nhất thiết phải điều chỉnh thái độ của chúng tôi. Chúng tôi biết rằng một trong những người ít khả năng đối xử với người nghiện rượu như một bệnh nhân nhất, đáng ngạc nhiên, lại chính là người nghiện rượu. Một lần nữa, nếp nghĩ cũ lại bất ngờ tái hiện.

Người ta thường nói người nghiện rượu là người cầu toàn, nôn nóng về bất cứ khuyết điểm nào, nhất là của bản thân. Đặt những mục tiêu bất khả thi cho chính mình, chúng tôi lại phấn đấu cật lực để đạt được những lý tưởng không thể với tới.

Rồi vì không có con người nào có thể duy trì những tiêu chuẩn cực cao như chúng tôi thường đòi hỏi, chúng tôi thấy mình thất vọng, cũng như tất cả những ai có những mục tiêu không thực tế. Và sinh ra chán nản, buồn rầu. Chúng tôi nóng giận tự trừng phạt vì mình kém hơn mức hoàn hảo.

Đó chính xác là nơi chúng tôi có thể bắt đầu đối xử tốt – ít nhất là công bình – đối với chính mình. Chúng ta không nên đòi hỏi quá sức đối với một đứa bé hoặc một người khuyết tật. Cũng vậy, có lẽ chúng tôi không có quyền mong chờ những điều kỳ diệu của chính mình khi cai rượu.

Nôn nóng khỏi bệnh hoàn toàn vào ngày thứ ba, chúng tôi lại thấy mình vừa tỉnh cơn say vào ngày thứ tư và bắt đầu oán trách chính mình. Đó là lúc thích hợp để đầu óc lui lại và nhìn về mình một cách càng khách quan càng tốt. Chúng tôi nên làm gì khi một người thân yêu hoặc một người bạn chán nản vì bệnh lâu lành và bắt đầu từ chối điều trị?

Nên nhớ rằng uống nhiều rượu tàn phá cơ thể nặng nề, gây ra những tình trạng có thể mất nhiều tháng nhiều năm để bình phục. Không ai trở thành một người nghiện rượu chỉ trong một vài tuần (hầu như không một ai). Cũng vậy, ta không thể mong bình phục thần kỳ trong phút chốc được.

Khi cảm giác chán nản xuất hiện, ta cần động viên chính mình. Nhiều chúng tôi xem đó là phương thuốc tốt để vỗ về mình, chào mừng những tiến bộ đã đạt – dĩ nhiên không tự mãn hoặc tự cao một cách nguy hiểm về nó.

Hãy kiểm điểm lại. Ta có hạn chế không uống rượu 24 giờ vừa qua không? Nó đáng để thật lòng tự khen ngợi. Ta có để mình ăn đủ hôm nay không? Ta có cố gắng hoàn tất nghĩa vụ hôm nay không? Nói ngắn gọn, hôm nay ta có làm tốt và làm đủ hết sức mình không? Nếu có, tất cả thật là đáng để mong đợi.

Có thể ta không thể trả lời có với tất cả các câu hỏi này. Có thể ta thiếu sót một cách nào đó, sai phạm một ít về suy nghĩ hoặc hành động, dù biết vậy. Rồi sao? Ta không là tạo vật hoàn chỉnh. Ta nên thu xếp để cải thiện từng bước hơn là than thở vì bất cứ thiếu sót nào.

Ta có thể làm gì vui ngay bây giờ? Ta có thể làm cái gì đó khác hơn là cầm ly rượu. Mỗi chương trong sách đều đưa ra những đề nghị loại này.

Nhưng có lẽ còn có nhiều hơn nữa. Vừa rồi ta đã thưởng thức cuộc sống chưa? Hoặc ta đã quá quan tâm đến chuyện cải thiện, quá sốt sắng chúi mũi vào việc mài dũa tự cải thiện bản thân mà không thưởng thức được buổi hoàng hôn? Một vầng trăng mới? Một bữa ăn ngon? Một chăm sóc vào ngày nghỉ đang cần? Một chuyện đùa? Một tình cảm nào đó?

Vì chính cơ thể đang cần bình thường hóa, có thể chúng vui mừng chào đón những cơ hội được nghỉ ngơi cần thiết. Hãy thưởng thức những lúc chợp mắt lơ mơ hoặc là những đêm dài ngon giấc bình yên. Hoặc có lẽ bạn còn một ít năng lượng thừa, bạn có thể dùng để chỉ vui đùa giải trí. Cũng như các lĩnh vực khác của cuộc sống, những thứ này cần để thỏa mãn toàn bộ tiềm năng con người chúng ta.

Bây giờ là lúc duy nhất ta có được. Và nếu ta không tử tế với bản thân ngay bây giờ, ta chắc chắn không lý do gì mong mỏi được người khác tôn trọng hoặc quan tâm đến mình.

Khi cai rượu rồi, chúng tôi đã thấy mình có thể thưởng thức mọi thứ hay ho mà ta đã từng thưởng thức khi còn nhậu nhẹt – và nhiều, nhiều hơn nữa. Cần một ít tập luyện, nhưng phần thưởng còn nhiều hơn là phần đền bù công sức. Để được như vậy không phải là ích kỷ, mà là tự bảo vệ. Trừ khi ta chăm sóc sự lành bệnh của chính mình, ta không thể vượt qua để trở nên vị tha, có đạo đức và có trách nhiệm với mọi người.

 

Nguồn: Alcoholics Anonymous

Trần Thanh Xuân dịch

 

16. Tốt với bản thân

Khi người nhà hoặc người bạn thân đang hồi phục sau cơn bệnh nặng, chúng ta thường cố gắng chăm sóc thật tận tình. Chúng ta hết sức chìu chuộng như chìu chuộng một đứa bé đang bệnh, cho ăn ngon cho đồ chơi để bé mau lành.

Bệnh nghiện rượu cần phải có một thời gian để hồi phục, bất cứ ai trải qua giai đoạn này cũng xứng đáng được sự tận tình và chìu chuộng.

Trước đây, người ta thường nghĩ rằng người đang khỏi bệnh đáng phải chịu đau khổ, bởi vì người ta nghĩ rằng chính họ gây ra bệnh của mình một cách tự nguyện, ích kỷ.

Bởi vì thành kiến đối với bệnh nghiện rượu vẫn còn đè nặng bởi những người không biết bản chất của bệnh (kể cả chúng tôi trước khi hiểu biết hơn); nhiều người chúng tôi không tử tế lắm đối với chính mình trong lúc chịu đựng vật vã sau cơn say. Chúng tôi cứ chịu đựng và nghĩ mình như là “gánh hậu quả”, cần phải tự chịu phạt vì hành vi sai trái của mình.

Bây giờ chúng tôi biết nghiện rượu không phải là hành vi phi đạo đức, chúng tôi thấy rằng nhất thiết phải điều chỉnh thái độ của chúng tôi. Chúng tôi biết rằng một trong những người ít khả năng đối xử với người nghiện rượu như một bệnh nhân nhất, đáng ngạc nhiên, lại chính là người nghiện rượu. Một lần nữa, nếp nghĩ cũ lại bất ngờ tái hiện.

Người ta thường nói người nghiện rượu là người cầu toàn, nôn nóng về bất cứ khuyết điểm nào, nhất là của bản thân. Đặt những mục tiêu bất khả thi cho chính mình, chúng tôi lại phấn đấu cật lực để đạt được những lý tưởng không thể với tới.

Rồi vì không có con người nào có thể duy trì những tiêu chuẩn cực cao như chúng tôi thường đòi hỏi, chúng tôi thấy mình thất vọng, cũng như tất cả những ai có những mục tiêu không thực tế. Và sinh ra chán nản, buồn rầu. Chúng tôi nóng giận tự trừng phạt vì mình kém hơn mức hoàn hảo.

Đó chính xác là nơi chúng tôi có thể bắt đầu đối xử tốt – ít nhất là công bình – đối với chính mình. Chúng ta không nên đòi hỏi quá sức đối với một đứa bé hoặc một người khuyết tật. Cũng vậy, có lẽ chúng tôi không có quyền mong chờ những điều kỳ diệu của chính mình khi cai rượu.

Nôn nóng khỏi bệnh hoàn toàn vào ngày thứ ba, chúng tôi lại thấy mình vừa tỉnh cơn say vào ngày thứ tư và bắt đầu oán trách chính mình. Đó là lúc thích hợp để đầu óc lui lại và nhìn về mình một cách càng khách quan càng tốt. Chúng tôi nên làm gì khi một người thân yêu hoặc một người bạn chán nản vì bệnh lâu lành và bắt đầu từ chối điều trị?

Nên nhớ rằng uống nhiều rượu tàn phá cơ thể nặng nề, gây ra những tình trạng có thể mất nhiều tháng nhiều năm để bình phục. Không ai trở thành một người nghiện rượu chỉ trong một vài tuần (hầu như không một ai). Cũng vậy, ta không thể mong bình phục thần kỳ trong phút chốc được.

Khi cảm giác chán nản xuất hiện, ta cần động viên chính mình. Nhiều chúng tôi xem đó là phương thuốc tốt để vỗ về mình, chào mừng những tiến bộ đã đạt – dĩ nhiên không tự mãn hoặc tự cao một cách nguy hiểm về nó.

Hãy kiểm điểm lại. Ta có hạn chế không uống rượu 24 giờ vừa qua không? Nó đáng để thật lòng tự khen ngợi. Ta có để mình ăn đủ hôm nay không? Ta có cố gắng hoàn tất nghĩa vụ hôm nay không? Nói ngắn gọn, hôm nay ta có làm tốt và làm đủ hết sức mình không? Nếu có, tất cả thật là đáng để mong đợi.

Có thể ta không thể trả lời có với tất cả các câu hỏi này. Có thể ta thiếu sót một cách nào đó, sai phạm một ít về suy nghĩ hoặc hành động, dù biết vậy. Rồi sao? Ta không là tạo vật hoàn chỉnh. Ta nên thu xếp để cải thiện từng bước hơn là than thở vì bất cứ thiếu sót nào.

Ta có thể làm gì vui ngay bây giờ? Ta có thể làm cái gì đó khác hơn là cầm ly rượu. Mỗi chương trong sách đều đưa ra những đề nghị loại này.

Nhưng có lẽ còn có nhiều hơn nữa. Vừa rồi ta đã thưởng thức cuộc sống chưa? Hoặc ta đã quá quan tâm đến chuyện cải thiện, quá sốt sắng chúi mũi vào việc mài dũa tự cải thiện bản thân mà không thưởng thức được buổi hoàng hôn? Một vầng trăng mới? Một bữa ăn ngon? Một chăm sóc vào ngày nghỉ đang cần? Một chuyện đùa? Một tình cảm nào đó?

Vì chính cơ thể đang cần bình thường hóa, có thể chúng vui mừng chào đón những cơ hội được nghỉ ngơi cần thiết. Hãy thưởng thức những lúc chợp mắt lơ mơ hoặc là những đêm dài ngon giấc bình yên. Hoặc có lẽ bạn còn một ít năng lượng thừa, bạn có thể dùng để chỉ vui đùa giải trí. Cũng như các lĩnh vực khác của cuộc sống, những thứ này cần để thỏa mãn toàn bộ tiềm năng con người chúng ta.

Bây giờ là lúc duy nhất ta có được. Và nếu ta không tử tế với bản thân ngay bây giờ, ta chắc chắn không lý do gì mong mỏi được người khác tôn trọng hoặc quan tâm đến mình.

Khi cai rượu rồi, chúng tôi đã thấy mình có thể thưởng thức mọi thứ hay ho mà ta đã từng thưởng thức khi còn nhậu nhẹt – và nhiều, nhiều hơn nữa. Cần một ít tập luyện, nhưng phần thưởng còn nhiều hơn là phần đền bù công sức. Để được như vậy không phải là ích kỷ, mà là tự bảo vệ. Trừ khi ta chăm sóc sự lành bệnh của chính mình, ta không thể vượt qua để trở nên vị tha, có đạo đức và có trách nhiệm với mọi người.

Cây sơn ta thường mọc ở vùng núi, thân cây có nhiều nhựa (chứa một chất đặc biệt) có tính kích thích mạnh, gây viêm da dị ứng. Những người có cơ địa mẫn cảm, hay dị ứng với chất lạ khi tiếp xúc với sơn ta hoặc ngửi mùi sơn ta dễ bị ngứa, vùng da tiếp xúc trực tiếp với sơn ta sẽ phồng rộp, mặt mũi sưng, cơ thể mệt mỏi,… Dân gian thường gọi là sơn ăn (hay lở sơn).
Kinh nghiệm dân gian chữa sơn ăn 1
 Hoa kim ngân.

Để chữa sơn ăn cần dùng nước muối sinh lý 0,9% rửa vùng da bị tổn thương; Tránh gãi hoặc chà xát lên các chỗ da bị tổn thương. Có thể dùng các thuốc kháng histamin chống dị ứng, giảm đau rát, giảm ngứa theo hướng dẫn của bác sĩ.

Ngoài ra có thể sử dụng một số bài thuốc theo kinh nghiệm dân gian sau đây. Để điều trị hiệu quả nên kết hợp bài thuốc uống trong và dùng ngoài như sau:

Kinh nghiệm dân gian chữa sơn ăn 2
 Sài đất.

Thuốc uống trong:

Bài 1: Bồ công anh 20g, hoa kim ngân 20g, thổ phục linh 20g, sài đất 40g, cam thảo đất 12g. Cho tất cả các vị trên vào ấm, đổ 500ml nước sắc còn 200ml. Người lớn uống hết một lần, còn trẻ em chia làm 2 – 3 uống trong ngày. Uống 3 ngày.

Bài 2: Đỗ xanh sống 100g, hạt bo bo sống 50g, táo tàu 7 quả. Tất cả rửa sạch, cho vào nồi thêm nước ninh nhừ, khi ăn thêm 50g đường trắng, ăn hết 1 lần. Ngày ăn 1 lần. Ăn 3-4 ngày.

Kinh nghiệm dân gian chữa sơn ăn 3

Thuốc dùng ngoài:

Bài 1: Lấy 200g lá khế chua cả cành non và hoa, vò nát, nấu với 4 lít nước, khi nước sôi bỏ vào một ít muối để xông. Xông xong dùng nước này để tắm, mỗi ngày một lần.

Bài 2: Lấy quả sơn tra tươi lượng vừa đủ, thái lát, đun nước để tắm rửa.

Bài 3: Vỏ núc nác tươi giã nát, rượu trắng 30 độ, ngâm theo tỷ lệ 1 phần vỏ; 3 phần rượu, ngâm trong khoảng 2-3 giờ hoặc lâu hơn càng tốt. Dùng rượu này bôi vào vùng da bị sơn ăn. Ngày bôi 2-3 lần. Bôi 2-3 ngày.

Bài 4: Lấy 1 kg lá sen khô, sắc lấy nước đặc rửa vùng da bị sơn ăn, ngày 2 – 3 lần.

Lưu ý: Nếu dùng các bài thuốc trên sau khoảng 3 ngày không đỡ người bệnh cần đến cơ sở y tế chuyên khoa da liễu để điều trị, không tự ý mua thuốc sử dụng.

Nên ăn cả trái cây để có nhiều chất xơ hơn ép lấy nước. Đảm bảo ít nhất 3 bữa cá trong tuần. Hạn chế muối hoặc thực phẩm mặn như mắm, khô, dưa muối, đồ hộp…
Lão hóa là tiến trình không tránh được trong cuộc đời, mặc dù ai cũng muốn làm chậm lại. Dinh dưỡng hợp lý là một trong các biện pháp quan trọng giúp ngăn ngừa biến đổi và rối loạn trong các cơ quan, hệ thống cơ thể ở người lớn tuổi.
Theo tiến sĩ, bác sĩ Trần Thị Minh Hạnh, Phó giám đốc Trung tâm Dinh dưỡng TP HCM, quá trình lão hóa thường đi kèm với sự giảm nhu cầu năng lượng do giảm hoạt động thể lực và giảm chuyển hóa cơ bản. Càng lớn tuổi, nhiều người không ăn đủ nhu cầu do mệt mỏi, uể oải và thiếu sự quan tâm đến cuộc sống. Tăng cường hoạt động có thể làm tăng sự ngon miệng và vì thế giúp cơ thể nhận đủ năng lượng, đủ dưỡng chất cần thiết.
1. Protein
Lượng protein được tổng hợp mỗi ngày giảm rất ít theo tuổi. Nhu cầu chất đạm thông thường là khoảng 55-60 g mỗi ngày. Càng lớn tuổi, khả năng tiêu hóa và hấp thu đạm càng kém, khả năng tổng hợp protein của cơ thể cũng giảm nên rất dễ xảy ra tình trạng thiếu đạm.
Quá trình phân hủy đạm tại ruột già tạo ra các chất thải thối rữa và là những độc tố nếu táo bón lâu ngày ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe (nhất là đạm từ thịt). Do đó người lớn tuổi nên hạn chế các loại thịt, nhất là thịt mỡ. Thay vào đó, nên ăn cá, đảm bảo ít nhất 3 bữa cá trong tuần vì cá chứa nhiều đạm dễ tiêu hóa, lại có thêm một số acid béo cần thiết cho cơ thể có tác dụng bảo vệ. Ngoài ra, cũng nên thay đạm động vật bằng một số đạm thực vật như đậu nành, đậu đũa, đậu hà lan, đậu cô ve…
Bí quyết ăn uống để trẻ mãi 1
Dinh dưỡng hợp lý là một trong các biện pháp quan trọng giúp làm chậm lão hóa. Ảnh: forenergy.

2. Carbohydrate 
Carbohydrate được chia thành 2 nhóm carbohydrate hấp thu nhanh (gồm glucose, fructose, saccarose) và nhóm hấp thu chậm (gồm tinh bột, glycogen),
Carbohydrate chiếm thành phần chủ yếu trong thức ăn. Sự dung nạp hợp chất này ở người lớn tuổi bị giảm, do đó cần giảm sử dụng trong bữa ăn, nhất là các loại hấp thu nhanh. Cụ thể nên hạn chế các loại đường mía, bánh kẹo, nước ngọt… Nên sử dụng ngũ cốc nguyên hạt, khoai, bắp, mì, nui…
3. Chất béo
Omega-3 và omega-6 là các acid béo thiết yếu cho cơ thể. Omega-3 có nhiều trong đậu nành, dầu hạt cải, cá, tảo, rong biển, có tác dụng phòng chống bệnh tim mạch và ung thư. Omega 6 có trong dầu mè, đậu nành, đậu phộng, hướng dương, bắp.
Cholesterol là chất chủ yếu cấu tạo màng tế bào và là nguyên liệu tạo thành các hormone giới tính. Cholesterol kết hợp với acid béo và protein tạo ra các lipoprotein có tác dụng bảo vệ tim mạch. Thừa cholesterol dễ gây xơ vữa động mạch và gây tắc mạch não nhưng thiếu cũng sẽ làm màng tế bào yếu dễ gây xuất huyết não. Cholesterol có nhiều trong mỡ động vật, lòng đỏ trứng, phủ tạng. Người lớn tuổi nên hạn chế chất béo, đặc biệt là mỡ động vật và nên thay bằng dầu thực vật. Lượng cholesterol trong khẩu phần khuyến nghị là dưới 300 mg mỗi ngày.
4. Nước, vitamin và chất khoáng
Cần chú ý uống nước thường xuyên dù không khát, nhất là vào mùa hè. Hoạt động tiêu hóa và hấp thu ở người cao tuổi thường kém hơn lúc trẻ. Do đó dễ bị thiếu các vitamin, kali, magie nội bào, thiếu canxi gây loãng xương (nhất là ở các phụ nữ mãn kinh), thiếu máu thiếu sắt gây mệt mỏi, chóng mặt, giảm trí nhớ, thiếu kẽm gây biếng ăn, giảm trí nhớ, kém tập trung, khô da, sạm da…
Nguồn thực phẩm giàu canxi là sữa và sản phẩm từ sữa, tôm tép ăn cả vỏ, cá nhỏ ăn luôn xương, đậu nành, đậu hũ, rau xanh. Sữa là thực phẩm giàu canxi và chứa nhiều đạm quý. Do đó, nên uống 1-2 ly sữa mỗi ngày, chọn loại sữa chứa ít hoặc không có chất béo và đường.
Thực phẩm giàu chất sắt là thịt, cá, gan, huyết, trứng, đậu, rau xanh. Kẽm có nhiều trong thức ăn động vật, đặc biệt là cá, thịt và hải sản, đặc biệt là hàu. Kali có nhiều trong rau và trái cây. 
5. Chất xơ
Chất xơ giúp thải độc chất qua đường tiêu hóa, hạn chế táo bón, giảm hấp thu cholesterol từ chế độ ăn vào cơ thể. Chất xơ có nhiều trong ngũ cốc nguyên hạt, rau và trái cây.
Để nhận đủ vitamin và chất xơ, nên ăn khoảng 200-300 g rau và 2-3 phần trái cây mỗi ngày. 1 phần trái cây tương đương 1 trái chuối, 1 trái cam, 1 trái lê cỡ trung bình hoặc 1/2 ly nước ép trái cây. Nên chọn rau trái nhiều màu sắc, chế biến đơn giản để hạn chế mất dưỡng chất qua quá trình đun nấu. Khi dùng trái cây nên ăn cả trái sẽ nhận được nhiều chất xơ hơn là chỉ ép lấy nước.
6. Chọn lựa thực phẩm chống oxy hóa
Uống nhiều nước trà, trà xanh, ăn nhiều rau, đặc biệt là rau lá xanh như rau muống, rau ngót, rau dền, rau đay, rau mồng tơi, ăn nhiều gia vị như hành, hẹ, rau thơm… Ăn các loại củ gia vị như tỏi, gừng, riềng, nghệ…, ăn nhiều trái cây chín sẽ cung cấp cho cơ thể nhiều vitamin, muối khoáng và các chất chống oxy hóa. Hạn chế stress vì sẽ làm gia tăng gốc tự do.
7. Hạn chế muối và thực phẩm mặn
Muối là loại gia vị phổ biến hàng ngày nhưng cơ thể chỉ cần một số lượng rất ít, khoảng 3-5 g. Thói quen ăn mặn sẽ dẫn đến bệnh cao huyết áp. Do đó nên hạn chế muối hoặc các thực phẩm mặn (mắm, khô, dưa muối, đồ hộp…) trong khẩu phần.
Theo VnExpress

Nên ăn cả trái cây để có nhiều chất xơ hơn ép lấy nước. Đảm bảo ít nhất 3 bữa cá trong tuần. Hạn chế muối hoặc thực phẩm mặn như mắm, khô, dưa muối, đồ hộp…
Lão hóa là tiến trình không tránh được trong cuộc đời, mặc dù ai cũng muốn làm chậm lại. Dinh dưỡng hợp lý là một trong các biện pháp quan trọng giúp ngăn ngừa biến đổi và rối loạn trong các cơ quan, hệ thống cơ thể ở người lớn tuổi.
Theo tiến sĩ, bác sĩ Trần Thị Minh Hạnh, Phó giám đốc Trung tâm Dinh dưỡng TP HCM, quá trình lão hóa thường đi kèm với sự giảm nhu cầu năng lượng do giảm hoạt động thể lực và giảm chuyển hóa cơ bản. Càng lớn tuổi, nhiều người không ăn đủ nhu cầu do mệt mỏi, uể oải và thiếu sự quan tâm đến cuộc sống. Tăng cường hoạt động có thể làm tăng sự ngon miệng và vì thế giúp cơ thể nhận đủ năng lượng, đủ dưỡng chất cần thiết.
1. Protein
Lượng protein được tổng hợp mỗi ngày giảm rất ít theo tuổi. Nhu cầu chất đạm thông thường là khoảng 55-60 g mỗi ngày. Càng lớn tuổi, khả năng tiêu hóa và hấp thu đạm càng kém, khả năng tổng hợp protein của cơ thể cũng giảm nên rất dễ xảy ra tình trạng thiếu đạm.
Quá trình phân hủy đạm tại ruột già tạo ra các chất thải thối rữa và là những độc tố nếu táo bón lâu ngày ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe (nhất là đạm từ thịt). Do đó người lớn tuổi nên hạn chế các loại thịt, nhất là thịt mỡ. Thay vào đó, nên ăn cá, đảm bảo ít nhất 3 bữa cá trong tuần vì cá chứa nhiều đạm dễ tiêu hóa, lại có thêm một số acid béo cần thiết cho cơ thể có tác dụng bảo vệ. Ngoài ra, cũng nên thay đạm động vật bằng một số đạm thực vật như đậu nành, đậu đũa, đậu hà lan, đậu cô ve…
Bí quyết ăn uống đúng cách để trẻ mãi 1
Dinh dưỡng hợp lý là một trong các biện pháp quan trọng giúp làm chậm lão hóa. Ảnh: forenergy.

2. Carbohydrate 
Carbohydrate được chia thành 2 nhóm carbohydrate hấp thu nhanh (gồm glucose, fructose, saccarose) và nhóm hấp thu chậm (gồm tinh bột, glycogen),
Carbohydrate chiếm thành phần chủ yếu trong thức ăn. Sự dung nạp hợp chất này ở người lớn tuổi bị giảm, do đó cần giảm sử dụng trong bữa ăn, nhất là các loại hấp thu nhanh. Cụ thể nên hạn chế các loại đường mía, bánh kẹo, nước ngọt… Nên sử dụng ngũ cốc nguyên hạt, khoai, bắp, mì, nui…
3. Chất béo
Omega-3 và omega-6 là các acid béo thiết yếu cho cơ thể. Omega-3 có nhiều trong đậu nành, dầu hạt cải, cá, tảo, rong biển, có tác dụng phòng chống bệnh tim mạch và ung thư. Omega 6 có trong dầu mè, đậu nành, đậu phộng, hướng dương, bắp.
Cholesterol là chất chủ yếu cấu tạo màng tế bào và là nguyên liệu tạo thành các hormone giới tính. Cholesterol kết hợp với acid béo và protein tạo ra các lipoprotein có tác dụng bảo vệ tim mạch. Thừa cholesterol dễ gây xơ vữa động mạch và gây tắc mạch não nhưng thiếu cũng sẽ làm màng tế bào yếu dễ gây xuất huyết não. Cholesterol có nhiều trong mỡ động vật, lòng đỏ trứng, phủ tạng. Người lớn tuổi nên hạn chế chất béo, đặc biệt là mỡ động vật và nên thay bằng dầu thực vật. Lượng cholesterol trong khẩu phần khuyến nghị là dưới 300 mg mỗi ngày.
4. Nước, vitamin và chất khoáng
Cần chú ý uống nước thường xuyên dù không khát, nhất là vào mùa hè. Hoạt động tiêu hóa và hấp thu ở người cao tuổi thường kém hơn lúc trẻ. Do đó dễ bị thiếu các vitamin, kali, magie nội bào, thiếu canxi gây loãng xương (nhất là ở các phụ nữ mãn kinh), thiếu máu thiếu sắt gây mệt mỏi, chóng mặt, giảm trí nhớ, thiếu kẽm gây biếng ăn, giảm trí nhớ, kém tập trung, khô da, sạm da…
Nguồn thực phẩm giàu canxi là sữa và sản phẩm từ sữa, tôm tép ăn cả vỏ, cá nhỏ ăn luôn xương, đậu nành, đậu hũ, rau xanh. Sữa là thực phẩm giàu canxi và chứa nhiều đạm quý. Do đó, nên uống 1-2 ly sữa mỗi ngày, chọn loại sữa chứa ít hoặc không có chất béo và đường.
Thực phẩm giàu chất sắt là thịt, cá, gan, huyết, trứng, đậu, rau xanh. Kẽm có nhiều trong thức ăn động vật, đặc biệt là cá, thịt và hải sản, đặc biệt là hàu. Kali có nhiều trong rau và trái cây. 
5. Chất xơ
Chất xơ giúp thải độc chất qua đường tiêu hóa, hạn chế táo bón, giảm hấp thu cholesterol từ chế độ ăn vào cơ thể. Chất xơ có nhiều trong ngũ cốc nguyên hạt, rau và trái cây.
Để nhận đủ vitamin và chất xơ, nên ăn khoảng 200-300 g rau và 2-3 phần trái cây mỗi ngày. 1 phần trái cây tương đương 1 trái chuối, 1 trái cam, 1 trái lê cỡ trung bình hoặc 1/2 ly nước ép trái cây. Nên chọn rau trái nhiều màu sắc, chế biến đơn giản để hạn chế mất dưỡng chất qua quá trình đun nấu. Khi dùng trái cây nên ăn cả trái sẽ nhận được nhiều chất xơ hơn là chỉ ép lấy nước.
6. Chọn lựa thực phẩm chống oxy hóa
Uống nhiều nước trà, trà xanh, ăn nhiều rau, đặc biệt là rau lá xanh như rau muống, rau ngót, rau dền, rau đay, rau mồng tơi, ăn nhiều gia vị như hành, hẹ, rau thơm… Ăn các loại củ gia vị như tỏi, gừng, riềng, nghệ…, ăn nhiều trái cây chín sẽ cung cấp cho cơ thể nhiều vitamin, muối khoáng và các chất chống oxy hóa. Hạn chế stress vì sẽ làm gia tăng gốc tự do.
7. Hạn chế muối và thực phẩm mặn
Muối là loại gia vị phổ biến hàng ngày nhưng cơ thể chỉ cần một số lượng rất ít, khoảng 3-5 g. Thói quen ăn mặn sẽ dẫn đến bệnh cao huyết áp. Do đó nên hạn chế muối hoặc các thực phẩm mặn (mắm, khô, dưa muối, đồ hộp…) trong khẩu phần.
Theo VnExpress

Theo một nghiên cứu mới đây, với những người đàn ông cao tuổi bị tiểu đường và ung thư tuyến tiền liệt, dùng thuốc tiểu đường metformin sẽ giúp họ duy trì sự sống lâu hơn.

Thuốc tiểu đường có ích cho bệnh nhân ung thư  1

Các nhà khoa học Canada đã nghiên cứu trên 3.847 người đàn ông trên 66 tuổi ở Orianto, Canada được xác định đã mắc bệnh tiểu đường trước khi mắc ung thư tuyến tiền liệt và xem xét thời gian những người đàn ông này dùng thuốc metformin cũng như các loại thuốc khác trong 4,5 năm. Các nhà khoa học nhận thấy, trong thời gian đó, 35% trong số họ tử vong và chỉ có 7% tử vong do ung thư tuyến tiền liệt.

Nghiên cứu cũng cho thấy, với mỗi 6 tháng dùng thuốc này, tỉ lệ tử vong do ung thư tuyến tiền liệt giảm 24%. Tuy nhiên, các nhà khoa học vẫn chưa chứng minh được cơ chế tác dụng của metformin trong việc ngăn ngừa ung thư tuyến tiền liệt.

Hà Phương (Theo Reuters, 8/2013)

Cây rau hẹ còn có tên gọi là cửu thái, khởi dương thảo… là cây thân thảo, có chiều cao khoảng 20-40 cm, giàu dược tính và có mùi thơm rất đặc trưng, không chỉ được dùng nhiều trong các món ăn…, mà còn là cây thuốc chữa được nhiều bệnh.

Cây rau hẹ rất dễ trồng và ít phải chăm sóc. Chỉ cần gieo hoặc trồng bằng cây con một lần, là có thể thu hoạch nhiều lứa, nhiều năm. Cây phát triển tốt quanh năm, vừa có thể làm rau ăn, vừa có thể dùng làm thuốc những khi cần thiết.

Theo Đông y, cây rau hẹ có tác dụng làm thuốc cụ thể, lá hẹ để sống có tính nhiệt, nấu chín thì ôn, vị cay; vào các kinh Can, Vị và Thận. Có tác dụng ôn trung, hành khí, tán ứ và giải độc. Thường dùng chữa ngực đau tức, nấc, ngã chấn thương,… Gốc rễ hẹ có tính ấm, vị cay, có tác dụng ôn trung, hành khí, tán ứ, thường dùng chữa ngực bụng đau tức do thực tích, đới hạ, các chứng ngứa,… Hạt hẹ có tính ấm, vị cay ngọt; vào các kinh Can và Thận. Có tác dụng bổ Can, Thận, tráng dương, cố tinh. Thường dùng làm thuốc chữa tiểu tiện nhiều lần, mộng tinh, di tinh, lưng gối yếu mềm.

Một số tác dụng chữa bệnh của cây hẹ 1
 Hẹ hấp mật ong có tác dụng chữa ho.

Một số tác dụng chữa bệnh của cây hẹ

Chữa cảm mạo, ho do lạnh: Lá hẹ 250g, gừng tươi 25g, cho thêm ít đường hấp chín, ăn cái, uống nước. Dùng liền 5 ngày.

Chữa nhức răng: Lấy một nắm hẹ (cả rễ), rửa sạch, giã nhuyễn đặt vào chỗ đau, đặt liên tục cho đến khi khỏi.

Hỗ trợ điều trị đái tháo đường: Hàng ngày sử dụng từ 100-200g rau hẹ, nấu cháo, nấu canh hoặc xào ăn. Không dùng muối hoặc chỉ dùng một chút muối khi chế biến món ăn. 10 ngày một liệu trình. Hoặc dùng củ rễ hẹ 150g, thịt sò 100g, nấu canh ăn thường xuyên. Có tác dụng tốt đối với bệnh đái tháo đường đã mắc lâu ngày, cơ thể đã suy nhược.

Nhuận tràng, trị táo bón: Hạt hẹ rang vàng, giã nhỏ, mỗi lần uống 5g. Hòa nước sôi uống ngày 3 lần, dùng liền 10 ngày.

Chữa chứng đái dầm ở trẻ em: Nấu cháo gạo 50g, dùng 25g rễ hẹ vắt lấy nước cho vào cháo đang sôi, thêm ít đường, ăn nóng, dùng liên tục trong 10 ngày.

Chữa ho trẻ em do cảm lạnh: Lấy lá hẹ xắt nhỏ trộn với đường phèn hoặc mật ong vào cùng một chén, sau đưa chén vào nồi cơm hấp chín. Cho trẻ uống dần trong ngày 2 – 3 lần, mỗi lần 1 thìa cà phê. Dùng liền 5 ngày.

Giúp bổ mắt: Rau hẹ 150g, gan dê 150g, gan dê thái mỏng, ướp gia vị vừa xào với rau hẹ. Khi xào dùng ngọn lửa mạnh, lúc chín cho gia vị vừa đủ, ăn với cơm, cách ngày ăn một lần, 10 ngày một liệu trình.

Hỗ trợ điều trị xuất tinh sớm: Rau hẹ 200g, tôm nõn 200g, xào ăn với cơm.

Chữa đau lưng, gối mỏi, ăn uống kém: Hạt hẹ 20g, gạo 100g, nấu cháo ăn nóng ngày 2 lần. 10 ngày một liệu trình.

Viêm đại tràng mạn tính do nhiều nguyên nhân gây ra như: Do nhiễm khuẩn, chế độ ăn không phù hợp, tâm lý lo lắng, stress ảnh hưởng tới sự điều tiết của hệ thống thần kinh thực vật,… dẫn tới rối loạn chức năng vận động, tiêu hóa, bài tiết và hấp thu của ruột. Do đó, bên cạnh việc dùng thuốc thì chế độ ăn cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình điều trị.

Chế độ ăn trong viêm đại tràng mạn tính trước hết cần đảm bảo đủ thành phần các chất dinh dưỡng như: Chất đạm (protein): 1g/kg/ngày; Năng lượng: 30 – 35 Kcal/kg/ngày tùy theo từng bệnh nhân; Chất béo: ăn hạn chế không quá 15g/ ngày; Uống đủ nước, muối khoáng và các vitamin.

Ăn đúng cách trong bệnh viêm đại tràng mạn tính 1

Những thực phẩm nên và không nên ăn

Người viêm đại tràng mạn nên ăn các loại thực phẩm như: Gạo, khoai tây, thịt nạc, cá, sữa đậu nành, sữa không có lactose, sữa chua. Các loại rau xanh nhiều lá: Rau ngót, rau muống, rau cải… nên nhặt phần rau non để ăn. Các rau họ cải: Bắp cải, củ cải.

Không nên ăn, uống các loại thực phẩm như: Trứng, sữa, nem rán, thịt mỡ, đậu đen, hành sống, dưa cà muối rượu bia, cà phê, nước ngọt có ga vì các loại thực phẩm này gây đầy hơi, chướng bụng. Không nên ăn các thực phẩm có nhiều lactose như sữa, nhiều đường như quả ngọt, mật ong, nhiều sorbitol (có trong một số bánh kẹo ngọt) sẽ gây chướng bụng, đầy hơi và tiêu chảy.

Ăn đúng cách trong bệnh viêm đại tràng mạn tính 2

Ăn đúng cách

– Ăn đúng giờ, không nên bỏ bữa hoặc ăn các món ăn lạ.

– Khi không có triệu chứng của bệnh như: Đau bụng, rối loạn đại tiện, mệt mỏi, kém ăn,… người bệnh nên tăng cường dinh dưỡng để tăng sức đề kháng và nâng cao thể trạng.

– Nếu bị táo bón: Cần tăng cường thêm chất xơ để cải thiện tình trạng đi tiêu đồng thời phải thực hiện tiết chế giảm chất mỡ, giảm chất béo. Cần chia các bữa ăn chính ra thành nhiều bữa ăn nhỏ trong ngày, có thể 2 – 3 giờ ăn một lần để giảm tải cho đại tràng.

– Nếu bị tiêu chảy: không nên ăn chất xơ, không ăn rau, củ, quả sống, các loại trái cây chế biến dạng khô, thực phẩm đóng hộp.

Ăn đúng cách trong bệnh viêm đại tràng mạn tính 3
 Người bệnh viêm đại tràng mạn tính không nên ăn rau sống, ngô hạt, măng… vì sẽ ảnh hưởng xấu đến vết loét.

– Khi ăn các thức ăn tanh như tôm, cua, cá, trứng nên ăn ít một và ăn ngay sau khi chế biến. Tránh dùng những thức ăn cứng như: Rau sống, ngô hạt, măng… ảnh hưởng xấu đến vết loét.

– Khi chế biến thức ăn nên hấp hoặc luộc, hạn chế xào rán.

Thực hiện chế độ ăn đủ chất, ăn đúng cách trong bệnh viêm đại tràng mạn tính góp phần làm giảm sự kích thích niêm mạc của đại tràng, nâng cao hiệu quả điều trị cho bệnh nhân viêm đại tràng mạn tính.

Bác sĩ Thanh Bình

Khi vi khuẩn lao xâm nhập vào cơ thể đi theo đường máu đến tấn công não và màng não, gây bệnh lao màng não. Bệnh này có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi. Ở người lớn, lao màng não thường gặp ở lứa tuổi 20-50, nam bị nhiều hơn nữ. Ở trẻ em, bệnh hay gặp ở lứa tuổi 1-5. Bệnh khởi đầu với những triệu chứng không đặc hiệu: nhức đầu, chóng mặt, ù tai; có người bị co giật khu trú, liệt, nói sảng, buồn bã…, khá giống với các bệnh thông thường như cảm cúm, rối loạn tiền đình, viêm xoang, rối loạn tâm lý. Nhìn chung, các triệu chứng bệnh ở giai đoạn này khó nhận biết nên rất dễ bị bỏ qua.

Theo thống kê, mặc dù chỉ chiếm tỉ lệ thấp (khoảng 5%) nhưng lao màng não là thể lao ngoài phổi có tiên lượng nặng, tỷ lệ tử vong còn cao và thường để lại di chứng nặng: Nếu nhập viện muộn (khi đã hôn mê sâu), tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân lao màng não lên đến 70-80%. Những người còn sống có thể gặp những biến chứng nặng nề như sống đời sống thực vật, động kinh, mù mắt, liệt dây thần kinh 3 hoặc 4, liệt nửa người hoặc 2 chi dưới, thiểu năng trí tuệ, thay đổi tính tình, béo phì, vô kinh ở nữ giới, đái tháo nhạt,…

Lao màng não dễ bị bỏ qua, vì sao? 1
 Hình ảnh màng não bình thường và màng não bị viêm.

Trong quá trình tiến triển của bệnh, tùy thuộc vào thời gian mắc bệnh sớm hay muộn mà các triệu chứng của lao màng não có thể rất nghèo nàn hoặc phong phú. Tuy nhiên, các dấu hiệu viêm màng não điển hình ngày càng đầy đủ và rõ như: sốt cao, kéo dài, tăng lên về chiều tối; nhức đầu khu trú hoặc lan tỏa, liên tục hoặc thành từng cơn, âm ỉ hoặc dữ dội và tăng lên khi có những kích thích tiếng động hoặc ánh sáng (nhức đầu kết hợp với tăng trương lực cơ làm bệnh nhân hay nằm ở tư thế co người, quay mặt vào trong tối); nôn (khi tăng áp lực nội sọ) tự nhiên, nôn vọt không liên quan tới bữa ăn; rối loạn tiêu hóa như táo bón hoặc tiêu chảy; đau bụng, đau các khớp, đau ở cột sống phối hợp với đau ở các chi; rối loạn cơ thắt gây bí đái, tiểu tiện hoặc đại tiểu tiện không tự chủ; liệt các dây thần kinh sọ, liệt các chi, các cơn động kinh cục bộ hoặc toàn thể, các biểu hiện rối loạn tâm thần. Các biểu hiện rối loạn ý thức có thể có với mức từ nhẹ đến nặng (hôn mê). Do các biểu hiện này cũng gặp ở các bệnh về não khác như u não, xuất huyết não, màng não, viêm màng não mủ, viêm màng não do nấm… nên bệnh nhân và ngay cả thầy thuốc cũng dễ chẩn đoán nhầm, tập trung điều trị các bệnh về não mà bỏ qua việc điều trị lao.

Đối với lao màng não, vi khuẩn lao có thể gây ra những hình thái tổn thương sau: gây viêm và làm tổn thương màng não, chủ yếu màng não ở khu vực nền sọ; gây viêm và làm hẹp động mạch cung cấp máu nuôi dưỡng não do đó có thể gây tổn thương một vùng của não; gây rối loạn lưu thông của não thất. Do đó, muốn điều trị bệnh có kết quả tốt thì cần chẩn đoán và điều trị bệnh ở giai đoạn sớm. Vì ở giai đoạn này tổn thương ở màng não và não nhẹ có thể phục hồi chức năng tốt sau quá trình điều trị.

Lao màng não dễ bị bỏ qua, vì sao? 2
 Vi khuẩn lao theo đường máu gây viêm màng não.

Chẩn đoán xác định lao màng não là một việc không dễ dàng. Phương pháp xác định hiệu quả nhất (cấy vi khuẩn) cũng chỉ cho kết quả sau 2 tháng và có đến 50% trường hợp bị âm tính giả (có bệnh nhưng xét nghiệm không tìm ra vi khuẩn). Căn bệnh này lại chưa có vắc-xin phòng ngừa đặc hiệu. Chính vì thế, để phòng bệnh, khi thấy cơ thể có những triệu chứng nhức đầu, chóng mặt, ù tai kéo dài, bệnh nhân nên đến bệnh viện để kiểm tra sức khỏe. Đặc biệt, những người đã mắc các thể lao khác (như lao phổi, lao hạch, lao tiết niệu, lao xương…); những người sức đề kháng suy giảm do suy dinh dưỡng, sau nhiễm virut, không tiêm BCG, nhiễm HIV, đái tháo đường,… cần tuân thủ tốt các hướng dẫn điều trị, có chế độ dinh dưỡng đầy đủ, không làm việc quá sức để vi khuẩn lao không có cơ hội tấn công lên não.

 

Cũng giống như các bệnh lao khác, lao màng não nếu được phát hiện sớm, dùng các thuốc điều trị lao đặc hiệu và các biện pháp hồi sức tích cực, việc chẩn đoán và điều trị bệnh ngày càng đạt được kết quả khả quan, tỷ lệ tử vong và di chứng do bệnh đã giảm đáng kể.

BS. Trần Hạnh Hoa

Bên cạnh các phương pháp điều trị thông thường, hiện nay, những sản phẩm có nguồn gốc thiên nhiên cũng đem lại hiệu quả tốt trong điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng và được khẳng định qua nhiều nghiên cứu khoa học. Điển hình cho dòng sản phẩm này là thực phẩm chức năng Cốt Thoái Vương.

Nghiên cứu về phương pháp điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng 1Ảnh minh hoạ.

Theo thông tin đăng trên tạp chí Y dược lâm sàng tập 5 – số 6/2010 (bệnh viện TƯ Quân đội 108) về nghiên cứu “Tác dụng hỗ trợ điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng của Cốt Thoái Vương” do GS.TS Nguyễn Văn Thông – Chủ nhiệm khoa Thần kinh, bệnh viện TƯ Quân đội 108 cùng các cộng sự thực hiện trên 141 bệnh nhân thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng được chia thành 2 nhóm: nhóm I gồm 85 bệnh nhân điều trị theo phác đồ thông thường (vật lý trị liệu, dùng thuốc giảm đau chống viêm; tiêm hydrocortisone ngoài màng cứng) kết hợp với Cốt Thoái Vương 4 viên/ ngày; nhóm II có 56 bệnh nhân chỉ điều trị phác đồ thông thường. Kết quả cho thấy: Nhóm không dùng Cốt Thoái Vương: kết quả rất tốt và tốt 23,2%, khá 21,4%. Nhóm có sử dụng Cốt Thoái Vương đạt kết quả giảm đau, cải thiện vận động cột sống thắt lưng rất tốt và tốt chiếm 23,53%, khá 40,0% cao hơn nhóm đối chứng. Sản phẩm Cốt Thoái Vương không gây tác dụng phụ trong quá trình điều trị.

Tác dụng của Cốt Thoái Vương có được là nhờ sự phối hợp từ các thành phần thiên nhiên, đặc biệt là thành phần chính dầu vẹm xanh giúp tăng cường độ chắc khỏe của xương và nhiều thành phần khác như: thiên niên kiện, nhũ hương,… Do đó, sản phẩm giúp giảm đau, cải thiện khả năng vận động, phòng ngừa, hỗ trợ điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng nói riêng và các bệnh lý về cột sống nói chung.

Kết quả nghiên cứu trên đã phản ánh tín hiệu tích cực khi dùng Cốt Thoái Vương để hỗ trợ điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng, đồng thời có thêm lựa chọn khả quan cho các bác sĩ cũng như người bệnh.

Minh Trí

Cốt Thoái Vương – Sản phẩm hàng đầu chứa dầu vẹm xanh dành cho các bệnh về cột sống, đĩa đệm:

Thực phẩm chức năng Cốt Thoái Vương có thành phần chính là dầu vẹm xanh, kết hợp với các thành phần tự nhiên khác, hiệu quả trong hỗ trợ điều trị, phòng ngừa thoái hóa cột sống, thoát vị đĩa đệm, gai cột sống; tăng cường lưu thông máu, giúp xương chắc khỏe, giảm đau xương khớp, làm chậm quá trình thoái hóa,… mà không gây tác dụng phụ, kể cả khi dùng lâu dài. Hiệu quả của sản phẩm đã được chứng minh qua nhiều nghiên cứu tại một số bệnh viện,…

Để tăng cường hiệu quả, người bệnh nên dùng Cốt Thoái Vương mỗi ngày 4 viên chia làm 2 lần, trước bữa ăn 30 phút. Mỗi đợt sử dụng kéo dài từ 2-4 tháng. Thực tế cho thấy, nhiều bệnh nhân và bác sĩ rất hài lòng khi sử dụng Cốt Thoái Vương.

Điện thoại tư vấn: 04.37757066 / 08.39770707

* Sản phẩm này không phải là thuốc, không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh

Ung thư vú nếu không phát hiện và can thiệp kịp thời sẽ di căn vào mạch máu, mạch bạch huyết, cơ hoành và các bộ phận khác của cơ thể, phát sinh nhiều biến chứng nặng, đe dọa đến tính mạng con người. 10 phát hiện dưới đây được xem là những khám phá rất mới về căn bệnh nói trên.

Có tới 4 dạng ung thư vú

Theo nghiên cứu công bố trên tạp chí Nature số ra mới đây, đặc biệt là qua phân tích gen, các nhà khoa học phát hiện thấy có tới 4 dạng ung thư vú khác nhau. Đây là kết quả nghiên cứu hợp tác giữa Đại học Y khoa Washington và Trung tâm Ung thư Siteman. Theo TS. Mathew Ellis, trưởng nhóm nghiên cứu thì phát hiện trên rất độc đáo về mối liên quan giữa di truyền với ung thư. Nhờ phát hiện này mà trong tương lai người ta sẽ tìm ra thuốc đặc trị cho từng cá thể, nói cụ thể hơn là phù hợp với từng biến thể gen của mỗi người.

Ung thư vú ở đàn ông nguy hiểm hơn ở phụ nữ

Theo các chuyên gia Hiệp hội Phẫu thuật ung thư vú Mỹ (ASBS) thì đàn ông có tỷ lệ mắc bệnh ung thư vú thấp hơn so với phụ nữ nhưng mức độ nguy hiểm lại cao hơn. Nếu phát hiện sớm và điều trị kịp thời thì tuổi thọ vẫn ngắn hơn 2 năm so với phụ nữ mặc dù thời điểm phát hiện giống nhau. Ngoài ra, mức độ di căn ung thư vú ở đàn ông nhanh hơn, khi được phát hiện thường ở giai đoạn nặng, khối u lớn. Vì vậy, một khi có dấu hiệu bất thường, không nên chậm trễ, cần đi khám càng sớm càng tốt.

Cadmium – thủ phạm gia tăng ung thư vú

Cadmium (cadimi) là kim loại chuyển tiếp tương đối hiếm, mềm, màu trắng ánh xanh có độc tính cao, có trong các loại quặng kẽm và được sử dụng để sản xuất pin. Đây là kim loại nặng đôi khi có mặt trong thực phẩm, nhất là cá, rau xanh dạng củ, ngũ cốc… Tạp chí Nghiên cứu Ung thư của Mỹ đăng tải nghiên cứu ở 56.000 phụ nữ cho biết, những người có khẩu phần ăn giàu cadmium thì nguy cơ mắc bệnh ung thư vú cao gấp 21% so với những phụ nữ có khẩu phần ăn bình thường hoạc có hàm lượng cadmium thấp.

10 khám phá mới về bệnh ung thư vú 1
 Năm 2013, các nhà khoa học phát hiện gạo chứa chất cadmium gây ung thư ở Quảng Châu, Trung Quốc.

Ít ngủ, thủ phạm gia tăng ung thư vú

Tạp chí Breast Cancer Research and Treatment cho biết, những phụ nữ ngủ dưới 6 tiếng/đêm, nhất là nhóm sau mãn kinh thì tỷ lệ ung thư vú ở mức cao nhất, trong khi đó ở nhóm chưa mãn kinh lại không có hiệu ứng tiêu cực này. Đặc biệt, những người càng mất ngủ nhiều thì khối u “tăng trưởng” càng nhanh. Vì vậy giấc ngủ được xem là nguy cơ gia tăng bệnh ung thư vú rất cao, mọi người cần quan tâm đến giấc ngủ, mỗi ngày cố gắng ngủ 7 – 8 tiếng.

Virut đậu mùa – cứu tinh cho bệnh nhân ung thư vú?

Tại Hội nghị lâm sàng thường niên của Trường cao đẳng Phẫu thuật Mỹ tổ chức cuối năm 2012, các nhà khoa học đã công bố nghiên cứu mới cho biết về triển vọng điều trị bệnh ung thư vú của virut đậu mùa. Nhất là nhóm người mắc bệnh ung thư vú ba tiêu cực (triple-negative breast cancer). Theo nghiên cứu, sau khi điều trị bằng liệu pháp virut đậu mùa (Smallpoxvirus) có ít nhất 60% các khối u được triệt tiêu và 40% có dấu hiệu hoại tử. Ung thư vú ba tiêu cực là căn bệnh khó điều trị vì nó không đáp ứng với các thủ thuật điều trị hormon hoặc miễn dịch.

Làm việc ca đêm dễ bị ung thư vú

Tạp chí Y học nghề nghiệp và Môi trường (OEM) số ra tháng 9/2013 cho biết, những phụ nữ làm việc ca đêm có rủi ro bị ung thư vú cao, nhất là những người đi làm ca đêm 2 lần/tuần. Ngoài nghiên cứu trên, nhiều tạp chí y học danh tiếng trên thế giới cũng khẳng định điều này như tờ Toronto Sun của Canada, hoặc tạp chí Ung thư Quốc tế (IJC). Theo đó, nhóm phụ nữ đi làm ca đêm có nguy cơ mắc bệnh ung thư vú cao 30% so với nhóm đi làm truyền thống, đặc biệt càng đi ca đêm nhiều thì rủi ro bị bệnh ung thư vú càng lớn, nhất là từ 4 năm làm ca đêm, tần suất 2 – 3 lần/tuần.

Kích thước áo nịt ngực có thể gia tăng nguy cơ mắc bệnh

Trước tiên, hệ gen cơ thể quyết định kích thước bầu vú, kết luận này được công bố trên tạp chí BMC Medical Genetics sau khi kết thúc nghiên cứu ở 16.000 phụ nữ. Trong nghiên cứu, các nhà khoa học còn phát hiện thấy 7 biến thể ADN và được đặt tên là những điểm đa hình đơn nucleotide (single – nucleotide polymorphisms), gọi tắt SNP. Theo đó, nếu ai có tới 3 SNP thì rủi ro ung thư vú cao hơn những người không có các biến thể này, còn áo nịt ngực to nhỏ là thể hiện kích thước bộ ngực mỗi người có liên quan đến hệ gen trong cơ thể.

Luyện tập có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh

Theo nghiên cứu của Đại học North Carolina thì chỉ cần luyện tập ít, nhưng đều đặn mỗi ngày có thể giúp phụ nữ giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư vú, nhất là nhóm phụ nữ sau mãn kinh. Trung bình, luyện tập 10 – 19 giờ/ tuần thì giảm được 30% ung thư vú so với nhóm không luyện tập hoặc luyện tập ít.

Bệnh đái tháo đường týp 2 có thể làm gia tăng ung thư vú

Nhóm chuyên gia ở Viện nghiên cứu Phòng bệnh Quốc tế (IPRI) mới đây đã hoàn tất nghiên cứu dài kỳ và phát hiện thấy, đối với nhóm phụ nữ mãn kinh nếu mắc bệnh đái tháo đường týp 2 thì rủi ro mắc bệnh ung thư vú rất cao, nhất là nhóm người béo phì, dư thừa trọng lượng. Lý do, bệnh đái tháo đường tác động trực tiếp đến các hoạt động, chức năng của hormon và làm cho các khối u phát triển nhanh.

Béo phì – kẻ đồng hành với ung thư vú

Dư thừa trọng lượng, béo phì không chỉ làm giảm vẻ đẹp mà còn gây bất lợi cho sức khỏe, trong đó có rủi ro gia tăng bệnh ung thư vú. Thậm chí những người đang điều trị ung thư vú nếu béo phì cũng giảm tác dụng của thuốc, thời gian phục hồi lâu hơn và nguy cơ tái phát gây tử vong cao hơn so với nhóm người có trọng lượng bình thường. Vì lý do này mà mọi người dù mắc bệnh hay không mắc bệnh cũng nên duy trì trọng lượng cơ thể ở ngưỡng hợp lý bằng cách ăn uống cân bằng, khoa học và năng luyện tập.
Khắc Nam (Theo HPC, 9/2013)

Trẻ sơ sinh ngủ chung giường với cha mẹ tăng gấp 5 lần nguy cơ đột tử (viết tắt là SIDS) so với trẻ được ngủ riêng, theo nghiên cứu ở Anh mới công bố. Các nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng này do trẻ sinh non, trẻ có vấn đề về tim trong khi cha mẹ hút thuốc hay uống rượu quá mức đặt trẻ vào tình trạng nguy hiểm. Nhưng nghiên cứu này cho thấy ngay cả với những bà mẹ chăm sóc con cẩn thận, đặt trẻ ngủ cùng để theo dõi các tình huống xảy ra: khóc, nôn trớ, đói… cũng gây nguy hiểm cho sự an toàn của trẻ. Nghiên cứu được các nhà khoa học Anh tiến hành với 1.500 trường hợp bị SIDS cho thấy, 88% các ca tử vong xảy ra khi trẻ đang ngủ chung cùng với bố mẹ.

Các chuyên gia khuyến cáo việc ngủ chung có thể dẫn đến trường hợp trẻ bị đè nén hoặc trẻ rúc vào dưới chăn và có thể tử vong vì ngạt thở hoặc quá nóng.
Minh Huệ (Theo Dailymail, 8/2013)

Các nhà nghiên cứu ở Đại học Nottingham thấy rằng vi khuẩn Helicobacter pylori (H.Pylory – một loại vi khuẩn gây ra viêm dạ dày mạn tính ở người) có khả năng đàn áp sự sản sinh thông thường “kháng thể số 1” ở con người (hβD1). Đây là kháng thể có trong lớp lót dạ dày giúp phòng chống sự xâm nhập của vi khuẩn. Nghiên cứu mẫu sinh thiết của 54 bệnh nhân ở Trung tâm y tế Queens, Nottingham, nhóm nghiên cứu chỉ ra những người nhiễm H.Pylori có lượng hβD1 ít hơn 10 lần so với những người không nhiễm loại vi khuẩn này. Những bệnh nhân có lượng hβD1 thấp nhất có nhiều vi khuẩn nhất trong lớp lót dạ dày.

Các nhà khoa học cho biết, H.Pylori gây hại bằng cách tạo ra một loại phân tử có tên gọi cagT4SS và bơm vào các tế bào ở lớp lót dạ dày, kích hoạt các quá trình hóa học đàn áp sự sản xuất hβD1. Các quá trình hóa học này cũng tham gia vào sự kích thích một phản ứng viêm, nghĩa là chủng vi khuẩn này có thể tồn tại và sinh sôi dồi dào hơn trong khi vẫn tiếp tục gây hoại tử các mô.

Phương Hà (Theo Science Daily, 9/2013)

4 lý do không nên bỏ bữa sáng 1

Bữa sáng là bữa ăn quan trọng nhất đối với sức khỏe.

 

Dưới đây là 4 lý do khiến bạn không nên bỏ qua bữa sáng:

 

1. Bệnh tiểu đường

 

Bỏ qua bữa sáng có thể làm tăng nguy cơ mắc tiểu đường ở phụ nữ.

 

Một nghiên cứu mới đây được công bố trên Tạp chí Dinh dưỡng lâm sàng Mỹ cho biết phụ nữ ăn sáng trung bình từ 0 đến 6 lần/ tuần có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường tuýp 2 cao hơn so với phụ nữ ăn sáng đều đặn mỗi ngày.

 

2. Bệnh tim

 

Một nghiên cứu được công bố trong táng 7 vừa qua trên Tạp chí Circulation cho biết ăn sáng giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tim ở nam giới từ 45 đến 82 tuổi. Nghiên cứu cũng cho biết thêm bỏ bữa sáng góp phần tăng huyết áp, kháng insulin, lượng đường trong máu cao.

 

3. Bộ nhớ

 

Tạp chí của Hiệp hội dinh dưỡng Mỹ đã xem xét 47 nghiên cứu về bữa ăn sáng và cho thấy ăn sáng giúp cải thiện khả năng nhận thức liên quan đến trí nhớ.

 

4. Giảm cân

 

Một nghiên cứu mới đây cho thấy những người coi ăn sáng là bữa ăn chính có thể giảm hơn 8kg trong ba tháng.


Theo Dân trí

Tử uyển (Aster tataricú L.J), tên khác là thanh uyển, dã ngưu bàng, là một cây thảo, sống lâu năm, cao 1-1,2m. Bộ phận dùng làm thuốc của tử uyển là rễ, thu hái quanh năm, tốt nhất là vào mùa thu, đào về rửa sạch, phơi hoặc sấy khô.

Dược liệu tử uyển có vị đắng, cay, tính ôn, không độc có tác dụng nhuận phế, hóa đờm, chỉ phái, hạ khí, chữa ho có đờm, hen suyễn, viêm họng, viêm phế quản cấp và mạn tính. Liều dùng hằng ngày 6-12g dưới dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán. Thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác theo những phương thức sau:

Chữa ho, hen có đờm khò khè: tử uyển 12g, bách bộ 12g, cát cánh 8g, mạch môn 8g, kinh giới 8g, trần bì 6g, cam thảo dây 6g. Tất cả thái nhỏ, phơi khô, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày.

Chữa ho lâu ngày, viêm phế quản mạn tính: tử uyển 10g, khoản đông hoa 10g, thổ bối mẫu 10g, hạnh nhân 10g, cát cánh 10g, cam thảo 3g. Sắc uống ngày 1 thang.

Tử uyển - Vị thuốc nhuận phế, hóa đờm 1
 Tử uyển.

Chữa ho gà ở giai đoạn hồi phục: tử uyển 8g, bách bộ 8g, rễ qua lâu 16g, sa sâm 12g, mạch môn 12g. Sắc uống trong ngày.

Chữa lao phổi: tử uyển 12g, bạch truật 12g, đảng sâm 12g, cỏ nhọ nồi 12g, thổ phục linh 8g, bách hợp 8g, cam thảo 6g, ngũ vị tử 6g, thổ bối mẫu 6g, sắc uống ngày 1 thang.

Chữa hen phế quản: tử uyển 12g, tế tân 12g, khoản đông hoa 12g, đại táo 12g, ma hoàng 10g, ngũ vị tử 10g, bán hạ (chế) 8g, xạ can 6g, gừng sống 4g. Sắc uống trong ngày.

Chữa suy nhược cơ thể do phế hư: tử uyển 12g, ngũ vị tử, tang bạch bì, thục địa, đản sâm, hoàng kỳ mỗi vị 10g. Sắc uống trong ngày.

Ngoài ra, Tuệ Tĩnh (Nam dược thần hiệu) còn dùng tử uyển để chữa kinh nguyệt không đều với bài thuốc gồm: tử uyển, hồng hoa, nga truật, quế chi (bỏ vỏ thô), hương phụ (sao giấm), lượng bằng nhau, phơi khô tán nhỏ, rây bột mịn. Ngày uống 2 lần mỗi lần 8g với rượu.

DS. Đỗ Huy Bích

Tử uyển (Aster tataricú L.J), tên khác là thanh uyển, dã ngưu bàng, là một cây thảo, sống lâu năm, cao 1-1,2m. Bộ phận dùng làm thuốc của tử uyển là rễ, thu hái quanh năm, tốt nhất là vào mùa thu, đào về rửa sạch, phơi hoặc sấy khô.

Dược liệu tử uyển có vị đắng, cay, tính ôn, không độc có tác dụng nhuận phế, hóa đờm, chỉ phái, hạ khí, chữa ho có đờm, hen suyễn, viêm họng, viêm phế quản cấp và mạn tính. Liều dùng hằng ngày 6-12g dưới dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán. Thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác theo những phương thức sau:

Chữa ho, hen có đờm khò khè: tử uyển 12g, bách bộ 12g, cát cánh 8g, mạch môn 8g, kinh giới 8g, trần bì 6g, cam thảo dây 6g. Tất cả thái nhỏ, phơi khô, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày.

Chữa ho lâu ngày, viêm phế quản mạn tính: tử uyển 10g, khoản đông hoa 10g, thổ bối mẫu 10g, hạnh nhân 10g, cát cánh 10g, cam thảo 3g. Sắc uống ngày 1 thang.

Tử uyển - Vị thuốc nhuận phế, hóa đờm 1
 Tử uyển.

Chữa ho gà ở giai đoạn hồi phục: tử uyển 8g, bách bộ 8g, rễ qua lâu 16g, sa sâm 12g, mạch môn 12g. Sắc uống trong ngày.

Chữa lao phổi: tử uyển 12g, bạch truật 12g, đảng sâm 12g, cỏ nhọ nồi 12g, thổ phục linh 8g, bách hợp 8g, cam thảo 6g, ngũ vị tử 6g, thổ bối mẫu 6g, sắc uống ngày 1 thang.

Chữa hen phế quản: tử uyển 12g, tế tân 12g, khoản đông hoa 12g, đại táo 12g, ma hoàng 10g, ngũ vị tử 10g, bán hạ (chế) 8g, xạ can 6g, gừng sống 4g. Sắc uống trong ngày.

Chữa suy nhược cơ thể do phế hư: tử uyển 12g, ngũ vị tử, tang bạch bì, thục địa, đản sâm, hoàng kỳ mỗi vị 10g. Sắc uống trong ngày.

Ngoài ra, Tuệ Tĩnh (Nam dược thần hiệu) còn dùng tử uyển để chữa kinh nguyệt không đều với bài thuốc gồm: tử uyển, hồng hoa, nga truật, quế chi (bỏ vỏ thô), hương phụ (sao giấm), lượng bằng nhau, phơi khô tán nhỏ, rây bột mịn. Ngày uống 2 lần mỗi lần 8g với rượu.

DS. Đỗ Huy Bích

Cây rau hẹ còn có tên gọi là cửu thái, khởi dương thảo… là cây thân thảo, có chiều cao khoảng 20-40 cm, giàu dược tính và có mùi thơm rất đặc trưng, không chỉ được dùng nhiều trong các món ăn…, mà còn là cây thuốc chữa được nhiều bệnh.

Cây rau hẹ rất dễ trồng và ít phải chăm sóc. Chỉ cần gieo hoặc trồng bằng cây con một lần, là có thể thu hoạch nhiều lứa, nhiều năm. Cây phát triển tốt quanh năm, vừa có thể làm rau ăn, vừa có thể dùng làm thuốc những khi cần thiết.

Theo Đông y, cây rau hẹ có tác dụng làm thuốc cụ thể, lá hẹ để sống có tính nhiệt, nấu chín thì ôn, vị cay; vào các kinh Can, Vị và Thận. Có tác dụng ôn trung, hành khí, tán ứ và giải độc. Thường dùng chữa ngực đau tức, nấc, ngã chấn thương,… Gốc rễ hẹ có tính ấm, vị cay, có tác dụng ôn trung, hành khí, tán ứ, thường dùng chữa ngực bụng đau tức do thực tích, đới hạ, các chứng ngứa,… Hạt hẹ có tính ấm, vị cay ngọt; vào các kinh Can và Thận. Có tác dụng bổ Can, Thận, tráng dương, cố tinh. Thường dùng làm thuốc chữa tiểu tiện nhiều lần, mộng tinh, di tinh, lưng gối yếu mềm.

Cây rau hẹ 1
 Hẹ hấp mật ong có tác dụng chữa ho.

Một số tác dụng chữa bệnh của cây hẹ

Chữa cảm mạo, ho do lạnh: Lá hẹ 250g, gừng tươi 25g, cho thêm ít đường hấp chín, ăn cái, uống nước. Dùng liền 5 ngày.

Chữa nhức răng: Lấy một nắm hẹ (cả rễ), rửa sạch, giã nhuyễn đặt vào chỗ đau, đặt liên tục cho đến khi khỏi.

Hỗ trợ điều trị đái tháo đường: Hàng ngày sử dụng từ 100-200g rau hẹ, nấu cháo, nấu canh hoặc xào ăn. Không dùng muối hoặc chỉ dùng một chút muối khi chế biến món ăn. 10 ngày một liệu trình. Hoặc dùng củ rễ hẹ 150g, thịt sò 100g, nấu canh ăn thường xuyên. Có tác dụng tốt đối với bệnh đái tháo đường đã mắc lâu ngày, cơ thể đã suy nhược.

Nhuận tràng, trị táo bón: Hạt hẹ rang vàng, giã nhỏ, mỗi lần uống 5g. Hòa nước sôi uống ngày 3 lần, dùng liền 10 ngày.

Chữa chứng đái dầm ở trẻ em: Nấu cháo gạo 50g, dùng 25g rễ hẹ vắt lấy nước cho vào cháo đang sôi, thêm ít đường, ăn nóng, dùng liên tục trong 10 ngày.

Chữa ho trẻ em do cảm lạnh: Lấy lá hẹ xắt nhỏ trộn với đường phèn hoặc mật ong vào cùng một chén, sau đưa chén vào nồi cơm hấp chín. Cho trẻ uống dần trong ngày 2 – 3 lần, mỗi lần 1 thìa cà phê. Dùng liền 5 ngày.

Giúp bổ mắt: Rau hẹ 150g, gan dê 150g, gan dê thái mỏng, ướp gia vị vừa xào với rau hẹ. Khi xào dùng ngọn lửa mạnh, lúc chín cho gia vị vừa đủ, ăn với cơm, cách ngày ăn một lần, 10 ngày một liệu trình.

Hỗ trợ điều trị xuất tinh sớm: Rau hẹ 200g, tôm nõn 200g, xào ăn với cơm.

Chữa đau lưng, gối mỏi, ăn uống kém: Hạt hẹ 20g, gạo 100g, nấu cháo ăn nóng ngày 2 lần. 10 ngày một liệu trình.

Thời tiết thay đổi bất thường, lúc nắng lúc mưa, trời chuyển se lạnh vào đêm và sáng sớm, nhiệt độ trong ngày chênh nhau nhiều khiến nhiều người mắc bệnh cảm cúm.

Bệnh cảm cúm là gì?

Cảm cúm thông thường là nhiễm virut đường hô hấp trên, mũi và cổ họng gây ra (có rất nhiều chủng khác nhau, hơn 200 loại virut có thể gây ra cảm cúm thông thường). Đối tượng dễ mắc cảm cúm là người cao tuổi, trẻ em, phụ nữ mang thai, những người có sức miễn dịch kém cũng dễ bị cảm cúm. Bệnh xảy ra quanh năm song tần suất bệnh cao nhất trong khoảng thời gian từ đầu mùa thu đến cuối mùa xuân. Nguyên nhân chủ yếu do thời tiết thay đổi từ nóng chuyển sang lạnh, ẩm thấp đột ngột, cơ thể không điều tiết thích ứng kịp thời nên dễ mắc cảm cúm.

Con đường lây nhiễm

Bệnh lây truyền từ người bị cúm sang người chưa nhiễm. Virut cúm xâm nhập vào cơ thể thông qua miệng hoặc mũi. Các virut có thể lây lan qua các giọt nhỏ trong không khí khi một ai đó bị bệnh ho, hắt hơi, nói hoặc qua tiếp xúc trực tiếp lây lan qua đồ vật, cầm nắm dụng cụ, khăn, đồ chơi hoặc điện thoại.

Thời tiết thay đổi, dễ mắc bệnh cảm cúm 1

Các biểu hiện

Các triệu chứng của cảm cúm thường xuất hiện khoảng 1 – 3 ngày sau khi tiếp xúc với một virut cảm cúm. Các dấu hiệu và triệu chứng của cảm cúm thông thường có thể bao gồm: Cơ thể đau nhức hoặc đau đầu nhẹ, hắt hơi, chảy nước mắt, hơi sốt, người mệt mỏi, chảy nước mũi hoặc nghẹt mũi, ngứa hoặc đau họng, ho…

Điều trị muộn có nhiều biến chứng

Do bệnh cảm cúm thường có nhiều biểu hiện nhẹ với các triệu chứng rất phổ biến như sốt, ho dai dẳng trong một vài ngày nên nhiều người chủ quan cho rằng bệnh sẽ tự khỏi nên ít đến cơ sở y tế khám. Tuy nhiên, nếu không điều trị hoặc điều trị quá muộn cũng có thể gây biến chứng nguy hiểm dẫn đến viêm phổi, suy hô hấp, nhất là với những người có sức đề kháng kém như phụ nữ có thai, người già, trẻ nhỏ, người mắc bệnh tim, phổi mạn tính, mắc bệnh suy giảm miễn dịch,…

Thời tiết thay đổi, dễ mắc bệnh cảm cúm 2
 Khi bị cảm cúm nên ăn nhiều trái cây giàu vitamin C để tăng cường sức đề kháng cho cơ thể.

Những biến chứng thường gặp là:

Viêm tai giữa: Xảy ra khi vi khuẩn hoặc virut xâm nhập vào phía sau màng nhĩ. Đây là một biến chứng của cảm cúm phổ biến ở trẻ em. Dấu hiệu và triệu chứng điển hình bao gồm đau tai, và trong một số trường hợp nước mũi màu xanh hoặc màu vàng từ mũi đi kèm với một cơn sốt sau một cảm cúm thông thường. Đối với trẻ nhỏ biểu hiện đơn giản chỉ có thể khóc hoặc ngủ li bì.

Viêm xoang: Ở người lớn hoặc trẻ em, cảm cúm kéo dài không điều trị tái đi tái lại có thể dẫn đến viêm xoang.

Hội chứng Reye ở trẻ em: Nguy hiểm nhất là hội chứng Reye ở trẻ em (hội chứng Reye rất ít gặp nhưng biến chứng rất trầm trọng, tỷ lệ tử vong cao). Hội chứng Reye hay xảy ra nhất trong khoảng từ 2 – 16 tuổi, vài ngày sau khi bị cúm. Khi các triệu chứng của cúm có vẻ như đang bớt dần, trẻ đột nhiên buồn nôn và nôn mửa. Sau đó khoảng 1-2 ngày, trẻ lờ đờ hoặc mê sảng, giật kinh phong rồi đi dần vào hôn mê và có thể tử vong rất nhanh. Do vậy, khi có các triệu chứng của cảm cúm cần điều trị ngay theo chỉ định của bác sĩ, không nên coi thường bệnh mà nguy hại cho sức khoẻ.

Thời tiết thay đổi, dễ mắc bệnh cảm cúm 3
 Cảm cúm có thể gây biến chứng viêm phổi.

Không tự ý điều trị bằng kháng sinh

Khi bị cảm cúm rất nhiều người thường tự ý mua các loại thuốc kháng sinh, hạ sốt về uống mà không đến cơ sở y tế khám. Điều này hết sức nguy hiểm bởi kháng sinh chỉ tiêu diệt hoặc kìm hãm được các vi khuẩn chứ không có tác dụng đối với virut nên việc tự điều trị kháng sinh với cảm cúm là không đúng và sẽ không giúp bệnh thuyên giảm và làm gia tăng tình trạng kháng thuốc. Thuốc kháng sinh chỉ được dùng nếu có biểu hiện của nhiễm khuẩn và phải dùng theo chỉ định của thầy thuốc.

Chủ động phòng bệnh

Các chuyên gia y tế cảnh báo, bệnh cảm cúm lây truyền do virut cúm từ người bệnh phát tán vào môi trường xung quanh, gia tăng mạnh trong thời gian này là do thời tiết trở lạnh. Để phòng chống bệnh cảm cúm, mọi người cần thực hiện tốt vệ sinh cá nhân: Rửa tay hàng ngày bằng xà phòng với nước sạch, thường xuyên súc miệng với nước muối ấm, có thể nhỏ mắt, nhỏ mũi bằng dung dịch natriclorid 0,9% hàng ngày… Che miệng khi ho và hắt hơi, không khạc nhổ bừa bãi. Vệ sinh nhà ở, bếp, phòng ngủ cho thoáng, nhiều ánh sáng, không vứt rác tùy tiện…

Thời tiết thay đổi, dễ mắc bệnh cảm cúm 4
 Rửa tay thường xuyên phòng bệnh cảm cúm.

Hạn chế tiếp xúc với người bệnh, tránh đến chỗ đông người khi có dịch cảm cúm; Khi tiếp xúc phải đeo khẩu trang để tránh lây nhiễm. Người bị cảm cúm cần nghỉ ngơi, tốt nhất là hạn chế tiếp xúc với mọi người xung quanh để tránh lây lan virut. Ăn uống đủ chất, tăng cường bổ sung các loại vitamin nhất là vitamin C giúp nâng cao sức đề kháng cho cơ thể, các thực phẩm giàu vitamin C kể cả là uống thuốc hay các loại hoa quả như táo, cam, quýt, bưởi… đều có tác dụng làm giảm triệu chứng của cúm.

Do bệnh cảm cúm xảy ra quanh năm và ai cũng có thể lây cúm nên việc tiêm vắc-xin phòng bệnh là biện pháp hữu hiệu nhất, tốt nhất nên tiêm khi cơ thể khoẻ mạnh để cơ thể sinh kháng thể phòng chống cúm hiệu quả.

Cần đến cơ sở y tế khi nào?

Đối với người lớn: Cảm cúm kèm sốt 39oC trở lên, đau người và mệt mỏi, ra mồ hôi, ớn lạnh và ho khi đờm có màu, họng sưng đau,…

Đối với trẻ em: có bất cứ dấu hiệu hay triệu chứng như: Sốt 38,5oC người ớn lạnh hay ra mồ hôi, sốt kéo dài hơn ba ngày, nôn hoặc đau bụng, ngủ li bì, đau đầu dữ dội, khó thở, quấy khóc, đau tai, ho dai dẳng…cần đưa đến cơ sở y tế để được khám và điều trị tránh biến chứng nguy hiểm.

Thạc sĩ, Bác sĩ Nguyễn Văn Bắc

Theo một nghiên cứu đăng trên tờ Cancer Causes and Control, uống 4 ly cà phê mỗi ngày có thể giảm thiểu nguy cơ tái phát ung thư tuyến tiền liệt và quá trình phát triển bệnh.

Cà phê giảm nguy cơ tái phát ung thư tiền liệt tuyến 1

Các nhà khoa học bang Seattle, Mỹ đã phân tích các số liệu của 1.001 bệnh nhân tuổi từ 35 – 74 bị ung thư tuyến tiền liệt. Những bệnh nhân này được yêu cầu điền vào một phiếu trả lời câu hỏi về các loại thực phẩm thường sử dụng 2 năm trước khi được chẩn đoán bệnh và phải cung cấp thông tin về chế độ ăn cũng như lượng đồ uống tiêu thụ, lối sống, tiền sử gia đình bị ung thư, các loại thuốc đã dùng, các lần chụp khối u tuyến tiền liệt trước… Kết quả phân tích 5 năm sau lần đầu họ được chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt cho thấy, những người uống 4 ly cà phê/ngày giảm 59% nguy cơ tái phát hoặc phát triển ung thư tuyến tiền liệt so với những người chỉ uống 1 ly/tuần. Các nhà khoa học phỏng đoán sở dĩ có điều này là do trong cà phê chứa các hợp chất có tác dụng chống viêm và chống oxi hóa…

Tuy nhiên, các nhà khoa học cảnh báo, không nên vì kết quả này mà uống nhiều cà phê.
Xuân nguyên(Theo Medicalnewstoday, 8/2013)

Bệnh bạch cầu cấp là một bệnh nguy hiểm, nó thường được gọi là ung thư máu. Bệnh này nếu xảy ra ở trẻ em có thể gây ra tỷ lệ tử vong tương đối cao.

Mới đây, các nhà khoa học đã tìm ra căn nguyên gen di truyền gây bệnh bạch cầu cấp ở trẻ em. Các nhà khoa học đến từ Đại học Washington (Hoa Kỳ) đã nghiên cứu thành công và công bố công trình của mình trên tạp chí khoa học Nature Genetics.

Nhận diện gen gây bệnh bạch cầu cấp trẻ em 1

Đột biến gen của bệnh này lần đầu tiên được chú ý ở các thành viên trong vài thế hệ khác nhau của một gia đình bị mắc bệnh bạch cầu cấp đã điều trị ở Bệnh viện Memorial Sloan-Kettering (Mỹ). Gen đó là gen PAX5, chịu trách nhiệm cho việc gây ra sự hư hỏng cho tế bào lympho B, tế bào bị tác động của ung thư máu. Khi gen này bị thiếu hụt hoặc đột biến, chúng sẽ không thể kiểm soát chức năng của tế bào lympho B và dẫn tới bệnh bạch cầu cấp.

Sự phát hiện này đang là một hứa hẹn tiềm năng cho việc tìm ra cách điều trị vào các yếu tố dịch mã, nhằm giải quyết tận gốc bệnh bạch cầu cấp vốn có sự đột biến gen.

Lâm Phúc (Theo Nature Genetics, 8/2013)

Mới đây, các bác sĩ Bệnh viện Nhi Trung ương sau 4 ngày điều trị tích cực đã cứu sống một bệnh nhi bị dị ứng thức ăn khỏi tình trạng nguy kịch. Bệnh nhi được chuyển tới bệnh viện trong tình trạng suy thở, nghi do sốc phản vệ với thức ăn.

Suýt tử vong vì dị ứng thức ăn

Theo người nhà bệnh nhi, sau bữa cơm trưa gồm thịt gà, thịt lợn, măng tươi, mít, cháu Nguyễn Duy H. (14 tuổi, Bắc Ninh) xuất hiện nhiều nốt sẩn ngứa trên da, sưng nóng môi, mắt mờ, chóng mặt, buồn nôn, đi ngoài nhiều lần…

Ngay khi thấy bé H. có dấu hiệu chóng mặt, buồn nôn, đi ngoài, người nhà nghĩ cháu H. bị ngộ độc thực phẩm nên đã đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Ninh. Tại đây, tình trạng trẻ ngày càng nặng lên, bệnh nhi dần li bì, xuất hiện khó thở, tím tái, tụt huyết áp nên đã nhanh chóng được cấp cứu, đặt nội khí quản hỗ trợ hô hấp và được chuyển viện ngay.

Bệnh nhi được chuyển đến Bệnh viện Nhi Trung ương trong tình trạng nguy kịch, suy thở, nghi do sốc phản vệ với thức ăn. Lập tức bệnh nhi được cấp cứu, sử dụng các thuốc vận mạch, chống sốc, an thần, thở máy đảm bảo duy trì các dấu hiệu sinh tồn trong giới hạn bình thường.

Sau 4 ngày điều trị tích cực, cháu H. đã thoát khỏi tình trạng nguy kịch, tự thở có ôxy hỗ trợ, mạch và huyết áp trở lại mức tương đối bình thường. Hiện tại, bệnh nhi đang được điều trị tại khoa Miễn dịch – Dị ứng lâm sàng.

Nguy kịch vì dị ứng thức ăn 1
 Những thực phẩm dễ gây dị ứng.

Những thực phẩm dễ gây dị ứng

Tôm, cá, sữa bò, trứng, lạc, đậu nành là những thực phẩm dễ gây dị ứng. Nếu như ở người lớn, ta thường thấy hay gặp dị ứng với tôm, cá thì với trẻ em phần nhiều là dị ứng với sữa bò, trứng và đậu nành là những thực phẩm dễ gây dị ứng.

Tỷ lệ trẻ bị dị ứng với sữa bò là 2,5%; trứng 1,3%; lạc 0,8%; đậu nành 0,4%. Các phản ứng dị ứng với các thực phẩm không chứa protein hoặc ít protein là hiếm khi xảy ra.

Dị ứng thức ăn là dị ứng với thực phẩm đưa vào đường tiêu hóa nhưng các biểu hiện chủ yếu lại ở da và những yếu tố gây nặng bệnh lại nằm ở đường hô hấp. Có đến 80% trẻ bị dị ứng có biểu hiện ở da, 20% có biểu hiện triệu chứng đường hô hấp, 20% có biểu hiện ở hệ tiêu hóa, các triệu chứng khác chỉ chiếm vài phần trăm. Dị ứng thức ăn nếu không được điều trị tốt có thể dẫn đến những hệ lụy không thể khắc phục được.

Những dấu hiệu nguy hiểm

Biểu hiện của dị ứng thức ăn khá nhanh. Chỉ từ vài phút đến khoảng 2 giờ sau khi cho trẻ ăn thực phẩm có chứa các dị nguyên gây dị ứng.

Đó là những biểu hiện nổi ở bề mặt cơ thể, dễ thấy, dễ quan sát. Ở mức độ nhẹ, trẻ có biểu hiện sưng môi, ngứa miệng lưỡi, ngứa hầu họng.

Ở mức độ vừa, trẻ sẽ bị ngứa khắp mình mẩy, nổi nốt đỏ kích thước lấm tấm hoặc có thể nổi thành những ban đỏ kích thước lớn, mắt có thể sưng đỏ, chảy nhiều nước mắt.

Ở mức độ nặng, trẻ có biểu hiện buồn nôn, nôn, đau bụng, tiêu chảy, khó thở và sốc dị ứng. Khi rơi vào trường hợp nặng cần xử trí nhanh chóng, nếu không có thể dẫn tới tử vong.

Khi có các biểu hiện ở mức độ nặng như tiêu chảy liên tục, khó thở đến tím tái, sốc phản vệ dữ dội. Khi có một hay tổ hợp các biểu hiện trên thì cần khẩn trương cấp cứu, đưa đến trạm y tế gần nhất trước khi chuyển đến bệnh viện có chuyên khoa.

Phải làm gì khi trẻ bị dị ứng?

Tuyệt đối tránh những thức ăn mà trẻ bị dị ứng, đặc biệt là trẻ dưới 3 tuổi, lứa tuổi bị dị ứng thức ăn cao nhất. Sự kết hợp ăn kiêng với một chế độ bù dưỡng chất từ thực phẩm bổ sung là một giải pháp an toàn.

Tuy nhiên, nhiều trẻ khi lớn lên có khả năng dung nạp các thực phẩm vốn đã từng gây ra dị ứng khi còn nhỏ. Hiện tượng này thường xảy ra với trứng, sữa, đậu nành. Có khoảng 85% trẻ em dung nạp được với trứng và sữa sau 3 – 5 năm, và khoảng 50% trẻ hết các phản ứng dị ứng ở độ tuổi 8 – 12 tuổi. Những đứa trẻ này tiếp tục sẽ hết dị ứng thức ăn khi lớn lên. Do vậy, chúng ta sẽ cho trẻ làm quen dần với những thực phẩm này ở độ tuổi đến trường để nhanh chóng trả lại cho trẻ một chế độ ăn cân bằng và đa dạng

Nguy kịch vì dị ứng thức ăn 2
 Khi cho trẻ ăn dặm cần thận trọng nếu trẻ có biểu hiện dị ứng thức ăn.

Vì tình trạng dị ứng thức ăn ở trẻ liên quan nhiều đến di truyền nên những gia đình có thành viên gần có cơ địa dị ứng hoặc mắc những bệnh dị ứng thì đứa trẻ sẽ có nguy cơ cao mắc một hoặc nhiều các bệnh liên quan đến dị ứng như viêm mũi dị ứng, hen dị ứng, eczema và dị ứng thức ăn.

Trong tình huống này, khi mang thai, bà mẹ không nên ăn nhiều lạc và đậu nành nhằm hạn chế khả năng dị ứng cho trẻ trong độ tuổi bú mẹ.

Mặc dầu sữa mẹ chứa ít protein như trong chế độ ăn nhưng bà mẹ cho con bú nên hạn chế những thực phẩm mà có thể gây dị ứng cho trẻ nhằm làm an toàn hóa sữa mẹ.

Dị ứng có thể phòng tránh được không?

Chúng ta không nên chờ khi con mình xuất hiện các triệu chứng dị ứng rồi mới phòng tránh. Những trẻ bị dị ứng thức ăn khi nhỏ sẽ có nguy cơ cao hơn mắc các bệnh dị ứng khác trong suốt cuộc đời, như viêm mũi dị ứng, chàm hoặc hen phế quản, đó là “tiến trình dị ứng”.

Nếu xác định trẻ có nguy cơ cao nên sử dụng các phương pháp phòng ngừa dị ứng sớm qua chế độ ăn:

– Bú mẹ hoàn toàn ít nhất 6 tháng, loại bỏ các dị nguyên thức ăn trong chế độ ăn của mẹ.

– Trường hợp không có sữa mẹ nên sử dụng các công thức sữa giảm tính dị ứng với đạm thủy phân một phần, tránh sử dụng sữa bò.

– Không nên cho trẻ ăn dặm sớm trước 6 tháng tuổi. Khi trẻ ăn dặm nên làm quen với các loại thức ăn từ từ, ăn một loại thức ăn mới mỗi tuần để theo dõi và tránh các loại thức ăn dễ gây dị ứng như: Lòng trắng trứng, lạc, hải sản (tôm, cua, sò điệp khô và tươi). Những thức ăn này nên tập cho trẻ ăn sau 12 tháng tuổi.

Bác sĩ Nguyễn Minh Ngọc