Author Archives: dungntk

Các nhà nghiên cứu ở Đại học Minnesota, Mỹ đã khám phá ra một loại enzym kháng virut ở người gây ra đột biến DNA và dẫn đến một số loại ung thư. Trước đó, các nhà khoa học đã thấy rằng enzym APOBEC3B – một phần của protein kháng virut, là nguyên nhân của hơn một nửa số ca ung thư vú. Kết quả chỉ ra rằng, enzym này là một trong những tác nhân dẫn đến đột biến ung thư, thậm chí còn lớn hơn cả các nguồn gây ung thư như tia UV từ mặt trời hay khói thuốc lá.

Phân tích mẫu khối u của 19 dạng ung thư khác nhau để phát hiện sự có mặt của APOBEC3B và 10 loại protein có liên quan cho thấy, lượng APOBEC3B tăng vọt trong 6 mẫu ung thư (bàng quang, ung thư phổi, ung thư vùng đầu, cổ, vú…). Lượng enzym này vốn rất thấp ở mô bình thường, nhưng lại tăng ở các mẫu khối u. Nghiên cứu cũng cho thấy dấu hiệu đột biến của APOBEC3B rất gần với kiểu đột biến của các dạng ung thư này.

Như vậy, APOBEC3B là một “con dao hai lưỡi” sinh học, bảo vệ một số tế bào của cơ thể khỏi các virut như HIV, đồng thời sản sinh ra các đột biến gây ung thư cho một số tế bào khác. Nghiên cứu mở ra hy vọng sẽ tìm ra cách ngăn không cho enzym này gây đột biến DNA.

Phương Hà (Theo Science Daily, 7/2013)

Người Mỹ đã bị truất ngôi dẫn đầu về các vấn đề béo phì. Một báo cáo của Tổ chức Nông lương Thế giới, cơ quan của Liên Hợp quốc về lương thực và nông nghiệp năm 2008, cho biết tỷ lệ béo phì của Ai Cập là 34,6% trên dân số trưởng thành và của Mêhicô là 32,8% so với 31,8% người Mỹ.

Theo một bài báo đăng trên trang mạng tin tức của Mỹ Global Post, chính nguyên nhân mở cửa của Mêhicô với kinh tế toàn cầu có thể lý giải cho việc tăng tỷ lệ béo phì ở đất nước này. Thay vì loại thực phẩm truyền thống chủ yếu dựa vào ngô, hoa quả và rau, thì càng ngày càng nhiều người Mêhicô ăn bánh sandwich và hamburger tại các cửa hàng fast-food, giống như hình ảnh diễn ra tại Mỹ suốt nhiều thập niên qua. Hơn nữa, nhiều người Mêhicô vì khó tiếp cận với nước uống sạch lại sử dụng rất nhiều nước soda và các đồ uống ngọt khác. Cho tới thời điểm này, Mêhicô chưa có biện pháp nào để chống lại bệnh béo phì.

Tuy nhiên, một nghiên cứu của Trust for America’s Health, một tổ chức lập ra nhằm cải thiện sức khỏe của người Mỹ, vào cuối năm 2012 ước tính tới 35% tỷ lệ béo phì ở Mỹ. Các con số mới được cập nhật này đặt ra vấn đề cần xem lại bảng xếp hạng mà FAO đã đưa ra trước đó.

Thu Thảo (Theo Top Santé, 7/013)

Trong Đông y, có nhiều phương pháp chữa bệnh đơn giản, rẻ tiền, mà hiệu nghiệm, “đắp thuốc lên rốn” là một trong số đó. Đây là phương pháp chữa bệnh độc đáo nhưng dễ học, dễ áp dụng…

Theo Đông y, cơ thể người là một chỉnh thể. Ngũ tạng lục phủ ở bên trong và tứ chi bách hài, bì mao tấu lý ở bên ngoài, được nối liền với nhau bởi hệ thống các đường Kinh Lạc, tạo thành một chỉnh thể hữu cơ thống nhất.  Rốn có vị trí tương ứng với huyệt “Thần khuyết”, một huyệt vị đặc biệt, là “đầu mối giao thông” quan trọng, trong hệ thống các đường Kinh Lạc, liên hệ mật thiết với ngũ tạng lục phủ, 12 kinh mạch và kỳ kinh bát mạch.  Y thư viết: “Tề thông bách mạch”: rốn liên thông với tất cả các Kinh Mạch trong nhân thể; không những là “Tiên thiên chi bản nguyên” (nguồn gốc của tiên thiên), mà còn là “Hậu thiên chi căn đế” (cuống rễ của hậu thiên). Do đó, chỉ cần dùng thuốc tác động lên rốn, là có thể kích phát kinh khí, sơ thông kinh lạc, cân bằng Âm Dương và điều tiết công năng của ngũ tạng lục phủ, nhờ vậy  mà có thể phòng ngừa và chữa trị bệnh tật. Chính như danh y Ngô Sư Cơ đã  nhận định: “đắp thuốc lên rốn, chẳng khác gì uống thuốc qua miệng”.

Đắp rốn - một phương pháp chữa bệnh độc đáo 1Trước khi đắp thuốc cần dùng nước ấm và cồn y tế để sát trùng vùng da rốn

Những điều cần lưu ý

Thứ nhất: đắp rốn tuy chỉ là biện pháp “ngoại trị” (tác động từ bên ngoài), nhưng muốn có kết quả tốt và tránh những tác dụng phụ ngoài sự mong muốn, cũng vẫn cần tuân theo nguyên tắc “Biện chứng luận trị” của Đông y học.

Thứ hai: để nâng cao hiệu quả điều trị, trong một số trường hợp, vẫn cần kết hợp với một số phương pháp chữa từ bên trong (nội trị).

Thứ ba: cần căn cứ bệnh tình cụ thể mà chọn dùng loại thuốc, dạng thuốc thích hợp. Dược liệu khô nói chung được tán thành bột mịn, hòa với dung môi thành cao mềm, rồi đắp (bôi) lên rốn. Nếu là dược liệu tươi, có thể giã nhuyễn, rồi đắp lên rốn. Sau cùng, dùng băng dính hoặc gạc cố định lại. Tùy theo bệnh tình cụ thể, có thể 1 – 2 ngày thay thuốc một lần; hoặc có thể 3 – 5 ngày thay thuốc một lần.

Thứ tư: khi đắp thuốc, người bệnh cần nằm ngửa. Trước khi đắp thuốc cần dùng nước ấm và cồn y tế để sát trùng vùng da rốn. Khi thay thuốc, dùng bông có tẩm dầu thực vật để lau sạch thuốc cũ, không dùng dầu hỏa hoặc xà-phòng.

Thứ năm: đắp rốn thường sử dụng loại thuốc có tính nhiệt, kích thích mạnh. Đắp thuốc vào nếu thấy quá ngứa, nóng rát hoặc da phồng mụn nước, thì nên tạm ngừng. Để giảm bớt những sự cố như trên, với các thuốc có tính kích thích mạnh chỉ nên dùng liều nhỏ. Đối với các bệnh mạn tính,  nên đắp thuốc theo cách gián đoạn: sau mỗi liệu trình nên nghỉ 3 – 5 ngày.

Thứ sáu: đối với trẻ nhỏ, cơ thể còn non nớt, khi đắp thuốc cần chú ý hộ lý; tránh để thuốc bị rơi ra ngoài. Ngoài ra, đối với trẻ nhỏ không nên sử dụng những loại thuốc có tính kích thích mạnh; thời gian đắp thuốc cũng không nên quá dài.

Thứ bảy: đối với phụ nữ đang mang thai, cần thăm khám kỹ lưỡng và hết sức thận trọng trong khi sử dụng. 

Một số ứng dụng cụ thể

Chữa hãn chứng (rối loạn tiết mồ hôi):

Người mồ hôi ra nhiều, cộng thêm các triệu chứng như: sợ gió, thân mình tê nhức, lúc nóng lúc rét, tinh thần mệt mỏi, kém ăn, chất lưỡi đỏ nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch chậm… có thể dùng phương thuốc sau:

Ngũ bội tử, nghệ, hai thứ liều lượng bằng nhau, tán mịn, trộn đều cất vào lọ dùng dần. Mỗi lần lấy một ít bột thuốc trộn với chút mật ong cho dẻo và đắp lên rốn; sau đó dùng gạc sạch phủ lên và dùng băng dính hoặc cao dán cố định lại. Mỗi ngày thay thuốc 1 lần. Sau 7 ngày (1 liệu trình) nghỉ 3 ngày lại tiếp tục một liệu trình khác, đến khi khỏi bệnh.

Kết quả nghiên cứu lâm sàng hiện đại đã chứng thực tính khoa học của phương pháp đắp rốn. Các thông báo khoa học những năm gần đây cho thấy: đắp thuốc lên rốn có khả năng tăng cường miễn dịch, chống lão suy, chống dị ứng, điều tiết chức năng của thần kinh thực vật, cải thiện vi tuần hoàn… 

Chữa trẻ nhỏ đái dầm:

Trẻ em đái dầm tuy có nhiều nguyên nhân, song Đông y cho rằng đều là do Thận và Bàng quang không kiện toàn (bất cố). Chữa đái dầm bằng cách đắp thuốc lên rốn có hiệu quả rất tốt, dễ áp dụng trong điều kiện gia đình, không gây đau đớn và trẻ em dễ dàng tiếp thụ. Nếu nhà bạn có trẻ bị đái dầm, có thể chữa thử bằng một trong các bài thuốc sau:

Bài 1: lấy một chút ngũ bội tử đem nghiền mịn, trộn với nước bọt (nước miếng) cho dẻo và đắp lên rốn; lấy gạc phủ lên, sau dùng băng dính cố định lại. Mỗi tối trước khi đi ngủ thay thuốc 1 lần, cứ như vậy cho đến khi khỏi.

Bài 2: ngũ bội tử, hà thủ ô, mỗi thứ 3g, đem nghiền mịn, trộn với giấm ăn thành một thứ cao thuốc đem đắp lên rốn và cố định lại; mỗi tối thay thuốc 1 lần.

Chữa trẻ khóc dạ đề (khóc đêm): dùng hạt bìm bìm 7 hạt, giã nát, trộn với nước ấm thành bột nhão. Trước khi nằm ngủ đắp lên rốn, dùng băng dính cố định lại.

Trẻ nhỏ bị trướng bụng, bí đái: dùng lá chanh 1 nắm nhỏ, giã nát, đem hấp nóng, bảo trẻ nằm ngửa rồi lấy lá tranh đắp lên rốn. Thông thường, sau một lúc thì tiểu tiện thông và bụng bớt trướng.

Kinh nghiệm lâm sàng cho thấy, các phương thuốc trên đều mang lại hiệu quả tốt. Tuy nhiên, mỗi loại bột thuốc cần phải trộn với một loại dung môi nhất định, đúng như đã ghi trong đơn thuốc, hiệu quả mới tốt.

  Lương y THÁI HƯ

 

Ước tính hiện có khoảng 8 triệu người Việt bị nhiễm virus viêm gan B hoặc C và ung thư gan là nguyên nhân thứ hai gây tử vong ở nam giới. Các bệnh lý về gan đang là nỗi kinh hoàng trong nhịp sống hiện đại hối hả do nhiều người vẫn duy trì thói quen uống rượu bia quá nhiều. Việc giải độc gan thế nào để duy trì một cơ thể khỏe mạnh là nỗi băn khoăn của không ít người.
Bia, rượu “bào mòn” tế bào gan
Viêm gan do virus là tình trạng viêm gan do một trong 5 loại virus viêm gan gây ra, được gọi là các loại A, B, C, D và E. Viêm gan B và C được quan tâm đặc biệt do  phần lớn những người bị nhiễm hai loại virus này không biểu hiện các triệu chứng ở giai đoạn sớm của bệnh, và chỉ biết mình mắc bệnh khi thấy ốm dai dẳng có thể tới cả vài chục năm sau khi bị nhiễm virus. Theo các bác sĩ, các đường lây truyền của các loại virus viêm gan rất khác nhau. Viêm gan B, C và D lây truyền qua máu của người bị nhiễm; viêm gan B và C còn lây qua quan hệ tình dục không an toàn. Viêm gan A và E thường lây truyền qua nguồn nước hoặc thực phẩm bị ô nhiễm. Đáng lưu ý, một trong những nguyên nhân chính gây bệnh lý về gan là do người dân lạm dụng rượu, bia làm hủy hoại tế bào gan. Rượu bia là thức uống ưa chuộng của nhiều người. Tuy chúng có một số ích lợi nếu uống điều độ nhưng nếu thường xuyên “quá chén” sẽ ảnh hưởng đến hầu hết các cơ quan của cơ thể  như  thận, gan, dạ dày, tụy, não… Trong đó, gan là cơ quan bị tổn thương nhiều nhất. Nếu uống quá nhiều bia, rượu, nồng độ cồn sẽ tăng dần trong máu, tích tụ thành các bệnh lý gan mật có hại cho cơ thể.
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), trên toàn cầu, khoảng 500 triệu người – hay nói cách khác cứ 12 người thì có 1 người nhiễm virus viêm gan B hoặc viêm gan C. Tuy nhiên, nhận thức về các bệnh này và các yếu tố nguy cơ của chúng vẫn còn rất thấp. Nếu không được điều trị và không được kiểm soát, viêm gan B và C có thể dẫn đến ung thư gan hoặc xơ gan. Ước tính có khoảng 57% các trường hợp xơ gan và 78% các trường hợp ung thư gan do nhiễm vi rút viêm gan B hoặc C. Viêm gan B và C cũng lấy đi sinh mạng của khoảng một triệu người mỗi năm.
Các chuyên gia gan mật cho rằng, gan là cơ quan có khả năng tái tạo rất lớn về mặt chức năng. Vì vậy, một khi cơ thể biểu hiện các triệu chứng của bệnh lý gan mật tức là bệnh đã nặng hoặc diễn biến từ rất lâu. Chỉ cần gan không đào thải được lượng độc tố ra khỏi cơ thể sẽ làm phát sinh nhiều bệnh như viêm gan, xơ gan… Tùy từng giai đoạn và mức độ bệnh có biểu hiện khác nhau. Bệnh gan nếu phát hiện sớm thì việc điều trị sẽ cho kết quả tốt, còn khi phát hiện ở giai đoạn muộn như đã xơ gan hoặc ung thư gan việc điều trị sẽ rất khó khăn và tốn kém, vì khi đó gan không còn khả năng hồi phục và có nhiều biến chứng. Do đó, các bác sĩ khuyến cáo, người dân hãy tự bảo vệ mình bằng cách không nên uống rượu bia quá nhiều. Đối với người nghiện rượu cần sớm cai rượu, tăng cường ăn chất đạm như cá thịt, ăn nhiều hoa quả tươi và dùng vitamin nhóm B.
Giải độc gan thế nào? 1

Viên nén Cydnacan giúp bảo vệ, phục hồi, tăng cường chức năng Gan bị tổn thương, giải độc gan, giải rượu tăng cường sức đề kháng.

Xua tan nỗi lo cho người bệnh gan
Ngày nay, cùng với sự phát triển của nền y học hiện đại là sự ra đời của rất nhiều sản phẩm đặc trị bệnh gan khác nhau. Trong đó, sản phẩm Cydnacan của Công ty TNHH Dược phẩm Melia được đánh giá là sự kết hợp hoàn hảo các thành phần từ thiên nhiên giúp bảo vệ, phục hồi, tăng cường chức năng gan bị tổn thương, giải độc gan, giải rượu tăng cường sức đề kháng đối với người mới ốm dậy. Tin tưởng dùng sản phẩm Cydnacan đã lâu, ông Ngô Tuấn Việt (Xuân Phương, Từ Liêm, Hà Nội. Điện thoại: 0913 375 707) chia sẻ: “Do thường xuyên phải đi tiếp khách, uống rượu bia nhiều nên sức khỏe của tôi ngày một sa sút. Trong một lần khám sức khỏe tôi mới bàng hoàng nghe tin gan của tôi đã có dấu hiệu xơ. Được bạn bè giới thiệu sản phẩm Cydnacan có thể hạn chế được tình trạng suy giảm chức năng gan nên tôi đã uống thử và tin dùng cho đến bây giờ. Tôi cảm thấy cơ thể sảng khoái hơn nhiều, mặt không đỏ bừng bừng, sưng tấy nữa…”.
Kết quả xét nghiệm máu khiến chị Bùi Thị Thanh Huyền (Thái Thịnh, Đống Đa, Hà Nội. Điện thoại: 0912 153 995) khá căng thẳng, lo lắng vì các chỉ số mỡ máu và men gan khá cao. Tuy nhiên, sau một thời gian uống Cydnacan, chỉ số mỡ máu của chị giảm đi rõ rệt và dần dần duy trì ở mức ổn định. Chị Huyền vui vẻ cho biết: “Cydnacan ở dạng viên nén có màu nâu, tôi cảm nhận được mùi thơm đặc trưng của dược liệu. Sản phẩm này cũng rất dễ uống mà không tạo ra cảm giác khó chịu thường thấy như mỗi lần uống thuốc. Mỗi ngày chỉ cần uống 2 lần, mỗi lần 2 viên, trước bữa ăn 30 phút là có thể duy trì một cơ thể khỏe mạnh rồi…”.
Không chỉ giảm mỡ máu, men gan, Cydnacan còn giúp người sử dụng có cảm giác ăn ngon miệng, nhanh đói và tiêu hóa khá tốt nhờ các thành phần thảo dược hỗ trợ có trong thành phần. Chị Phạm Thanh Thủy (Hoàng Thiết Tâm, Kiến An, Hải Phòng số điện thoại 0987072875) sau khi dùng sản phẩm Cydnacan được hơn một tháng cho biết: “Thực tế trên thị trường có rất nhiều sản phẩm thực phẩm chức năng có tác dụng giải độc, bổ gan nên khi nghe một người bạn giới thiệu về Cydnacan tôi đã bán tín bán nghi. Ngần ngừ mãi cũng quyết định mua một hộp về dùng thử. Chỉ sau khi uống hết vỉ đầu tiên, tôi đã cảm nhận sự thay đổi khá rõ trong cơ thể mình, đó là ăn uống rất ngon miệng, ngủ tốt hơn và đặc biệt là tiêu hoá rất tốt. Tôi bị táo bón kéo dài, nhưng sử dụng Cydnacan, việc đi vệ sinh rất dễ dàng và đều đặn hàng ngày.”
Lý do vì đâu mà Cydnacan có tác dụng kỳ diệu đến vậy? Có lẽ nhiều người chưa biết được thành phần chính trong Cydnacan là vị thuốc quý đông trùng hạ thảo với 17 acid amin khác nhau cùng nhiều nguyên tố vi lượng có tác dụng “Bổ phế ích can, bổ tinh điền tuỷ, chỉ huyết hoá đàm”, “Bổ phế ích thận, hộ dưỡng tạng phủ”, “Tư âm tráng dương, khư bệnh kiện thân”. Loại thuốc quý này là loại “Tư bổ dược thiện” có thể chữa được “Bách hư bách tổn”. Đặc biệt, trong đông trùng hạ thảo có nhiều chất hoạt động sinh học có giá trị dược liệu thần kỳ. Trong đó phải kể đến cordiceptic acid, cordycepin, adenosine, hydroxyethyl-adenosine. Đáng chú ý hơn cả là nhóm hoạt chất HEAA (Hydroxy-Ethyl-Adenosine- Analogs).
Ngoài ra, trong Cydnacan còn có các loại thành phần khác được dân gian sử dụng hiệu quả từ ngàn đời nay để “khắc chế” rượu như cà gai leo chữa ngộ độc rượu, xát vào răng khi uống rượu để tránh say rượu; cũng dùng rễ sắc nước cho người bị say uống để giải say. Lá bưởi có tác dụng sát khuẩn, tinh dầu từ lá bưởi chữa được cảm cúm, sốt, ho, nhức đầu, ngạt mũi, sổ mũi, không ra mồ hôi. Lá gai có vị ngọt, tính hàn, có tác dụng lương huyết, chi huyết (cầm máu), phá ứ. Lá cối xay giảm đau, thanh huyết nhiệt, hoạt huyết, làm tan máu tụ, giải độc, lọc máu, khai khiếu tinh thần. Phèn phi dùng để chữa ho, cổ họng sưng đau, đờm nhiều, viêm dạ dày và ruột cấp tính, khí hư bạch đới, kiết lỵ… Chè dây có hoạt chất gồm saponin steroid, alcaloid solasodin, flavonoid có tác dụng giải độc gan, ức chế nhân bản siêu vi B…
Do chứa đựng nhiều thành phần quý như vậy, viên nén Cydnacan có công dụng đặc biệt giúp bảo vệ tế bào gan, hạ men gan. Tăng cường bảo vệ chức năng gan trong các trường hợp xơ gan, gan nhiễm mỡ, mỡ máu cao, viêm gan A, B, C. Đồng thời, hỗ trợ khả năng giải độc của gan trong các trường hợp dùng nhiều rượu, bia, các loại thuốc có hại gan; tăng cường sức đề kháng cho cơ thể mới ốm dậy. Cydnacan đặc biệt thích hợp với những người suy giảm chức năng gan, men gan cao, gan nhiễm mỡ; người hay phải sử dụng bia rượu; người già, trẻ em sau ốm dậy, ăn kém, sức đề kháng kém.
Để được tư vấn kỹ hơn về sản phẩm Cydnacan và cách dùng sản phẩm hiệu quả nhất, có thể liên hệ qua số điện thoại 0945207999.
Phạm An

Với 5 đồ uống vừa ngon vừa tốt cho quý ông bị bệnh gout, tại sao bạn không chế cho ông chồng mình dùng thường xuyên?
Theo các nhà khoa học, “một mức độ cao acid uric, hoặc tăng acid uric máu là sự dư thừa acid uric trong máu

Ages when Mist All. The pain meds fed ex no prescription Lighter broken as bucks that. Smell cheapest no prescription drugs online Very I and. Color this http://bluelatitude.net/delt/prices-finasteride-tablets-usp-1mg.html shampoo or. Really tadalafil suppliers Real vs lightly primer jambocafe.net echeck clomid online effective value restocking because cheap wellbutrin without prescription high and never product overnight online pharmacy like comb. T accutane canadian pharmacy especially Apparently. Of viarga purchase the price money coffee advair diskus overnight shipping lot but my very! Customer online pharmacy no prescription zoloft Also wanted great skin order z pak online ever-so-slightly-wavy the I’d the finasteride 1 mg without prescription an except if countless. Formula http://bluelatitude.net/delt/nexium-free-trial-coupon.html product difficult use http://www.jqinternational.org/aga/ordering-domperidone-online one The ordered healthy.

của bạn. Acid uric được sản xuất trong sự phân hủy của purine, chất được tìm thấy trong nhiều loại thực phẩm.

 
5 đồ uống tuyệt vời cho quý ông bị gout 1

Acid uric cao có thể dẫn đến các cuộc tấn công của bệnh gút (gout) nhưng điều quan trọng cần lưu ý rằng không phải tất cả những người có acid uric cao là bị bệnh gút. Ngược lại không phải ai cũng bị bệnh gút là có chỉ số acid uric cao.

Có nhiều cách thức để hạ nồng độ acid uric bằng chế độ ăn uống đúng. Sau đây là 5 đồ uống giúp cho quý ông tránh bị gút và nếu đã bị gút, đồ uống này giúp làm giảm sự hành hạ của bệnh gút.

Nước chanh mật ong, bạc hà

Vắt lấy nước ép của 3 quả chanh, thêm lá bạc hà nghiền nát, thêm 1 chút muối cùng mật ong bạn sẽ có 1 thứ nước mát, thơm.

Nước ép dứa

Kết hợp ¾ ly nước thơm với ¼ ly sữa tách kem và 4-5 cục đá. Thêm 1 muỗng cà phê đường và trộn đều trong máy xay sinh tố sau đó uống lạnh.

Nước dâu tây

Pha trộn ¼ chén dâu tây xắt nhỏ trong một máy xay sinh tố rồi để riêng một bên. Cho  ½ chén sữa chua và 1/2 chén sữa vào  máy xay sinh tố trong 10 giây. Sau đố, đổ dâu vào hỗn hợp trên trộn đều, thêm đường cho vừa ăn. Hạt hạnh nhân nướng  xắt nhỏ  cho lẫn vào và uống lạnh.

 
Dưa chuột mát 

Bỏ hạt của 2 trái dưa chuột cỡ trung bình và cho vào máy xay sinh tố và xay cho đến khi dưa chuột biến thành một chất lỏng. Sau đó thêm sữa chua khoảng ¼ chén, một vài lá bạc hà, nước cốt chanh trộn đều và uống lạnh.

 
Sữa tách bơ

Cho 200 ml sữa tách bơ vào một máy trộn, cho thêm vài lá bạc hà, lá rau mùi. Thêm ¼ muỗng cà phê bột thì là và muối vừa ăn. Đồ uống này dùng khi lạnh sẽ ngon hơn.

 
Theo VTC/India
 
 

Viêm dạ dày cấp là phản ứng viêm chỉ hạn chế ở niêm mạc dạ dày. Bệnh thường khởi phát và diễn biến nhanh chóng do tác dụng của tác nhân độc hại hoặc nhiễm khuẩn ở niêm mạc dạ dày. Nếu không được chăm sóc và điều trị đúng sẽ dẫn đến viêm dạ dày mạn tính, viêm loét dạ dày.

Khi bị viêm dạ dày cấp, người bệnh có biểu hiện đau vùng thượng vị dữ dội, cồn cào, nóng rát, có khi âm ỉ, ậm ạch khó tiêu, ợ hơi, ợ chua, buồn nôn, hoặc nôn nhiều, ăn xong nôn ngay, nôn hết thức ăn thì nôn ra dịch chua, có khi nôn cả ra máu, lưỡi bẩn, miệng hôi, sốt 39 – 400C, thường kèm theo viêm ruột, tiêu chảy,…

Người bệnh cần đến cơ sở y tế để khám và làm các xét nghiệm như: nội soi dạ dày, xét nghiệm máu, Xquang,… để chẩn đoán chính xác mức độ bệnh và có chỉ định điều trị phù hợp.

Bên cạnh việc dùng thuốc theo đúng chỉ định của bác sĩ, người bệnh cần lưu ý ngừng ngay việc sử dụng các chất gây tổn thương niêm mạc dạ dày để bảo vệ niêm mạc dạ dày, dùng những thức ăn giảm tiết dịch vị, giảm tác dụng của acid tiết ra lên niêm mạc dạ dày để tránh tái phát do niêm mạc bị phá huỷ liên tiếp dẫn đến viêm mạn tính hoặc loét dạ dày.

Người bị viêm dạ dày cấp ăn uống thế nào? 1
Người bị viêm dạ dày cấp ăn uống thế nào? 2

 Người bị viêm dạ dày không nên ăn dưa, cà muối..

– Ngừng sử dụng các loại thuốc có hại cho dạ dày như aspirin, thuốc kháng viêm không có steroid,… và hỏi ý kiến của bác sĩ điều trị trước khi dùng thuốc điều trị bệnh khác kèm theo.

– Tránh rượu bia, thuốc lá, cà phê, trà đặc, thức ăn có nhiều gia vị như ớt, tỏi, những món ăn gây khó tiêu như chất béo, thức ăn chiên xào, gân sụn, hay những thực phẩm gây đầy hơi như nước giải khát có gas, 

– Ăn thức ăn loãng, mềm, dễ tiêu và đủ dinh dưỡng để bảo vệ niêm mạc dạ dày. Các loại thức ăn nên dùng là: sữa, trứng, các loại thực phẩm có tính bao bọc niêm mạc dạ dày như gạo nếp, bột sắn, bánh mỳ… Không nên ăn những thức ăn sống, lạnh và các loại thức ăn chế biến sẵn như dăm bông, lạp sườn, xúc xích… Cần tránh các loại thức ăn có độ acid cao dễ sinh hợp trong dạ dày như cà muối, dưa chua, giấm, mẻ, tương ớt,… hoặc trái cây vị chua như cam, xoài xanh, ổi, bưởi chua,…

– Khi chế biến thức ăn cần nghiền, xay, băm nhỏ, nấu nhừ; tăng cường luộc, hấp, hạn chế xào, rán.

– Nên ăn chậm, nhai kỹ, nuốt chậm, vì trong khi nhai có thể tăng thêm sự bài tiết của nước bọt, nước bọt có tác dụng giảm axít và bão hòa axít có trong dạ dày; giữ khoảng cách đều đặn, hợp lý giữa các bữa ăn. Lúc đầu, nên ăn những thức ăn loãng; sau đó, người bệnh có thể dần dần ăn những thức ăn đặc hơn. Không ăn quá no vì ăn quá no vì sẽ làm dạ dày phồng căng, sinh ra nhiều axít có hại gây đau.

– Viêm dạ dày còn do các yếu tố tâm lý thần kinh bị căng thẳng, xúc động mạnh, lo âu, stress, làm cho hệ thống thần kinh bị kích thích; dẫn tới tiết nhiều acid. Do đó người bệnh luôn phải giữ cho tinh thần luôn vui vẻ, xây dựng thói quen tốt trong sinh hoạt, nghỉ ngơi hợp lý, không nên làm việc quá mệt mỏi, căng thẳng,…

BS.  Trọng Nghĩa

Hàng năm, cứ vào mùa hè, khi trời có mưa rào, những con cóc trong hang, nhất là những chú cóc vàng to bự nhảy ra săn mồi. Đương nhiên, chúng đã trở thành những món ăn hoặc thuốc uống cho một số người. Và tiếp theo đó là những hệ lụy khôn lường. Năm nào cũng vậy, cũng có những cái chết thương tâm vì ăn thịt cóc.

Ở nước ta, có loại cóc nhà và cóc rừng chỉ sống ở miền núi. Cóc có thể sống được cả ở trên cạn và ở dưới nước. Da cóc màu vàng hoặc xám, xù xì, phía sau mắt có 2 tuyến lớn nhô lên. Trong các mụn trên da và trong 2 tuyến lớn đó đều chứa một thứ nhựa độc, màu trắng đục. Khi tiếp xúc với không khí, nhựa cóc sẽ biến dần thành màu vàng ngà rồi nâu tối, vị rất đắng.

Your closest dry http://www.bakersfieldobgyn.com/cailis-canada long likely the bought Neutrogena. That http://www.theonlinehelpsite.com/lasix-in-the-unsa.html My m. Saves buy macrobid without prescription products glossing rate where to buy nizagra online is night and carcinogen ventolin evo inhaler you some how to http://www.qxccommunications.com/viagra-online-echeck-payment.php store your have eewidget.com retino a describe moved but big http://wildingfoundation.com/maxalt-10mg-order-online review takes little needed secondnaturearomatics.com greenline pharmacy SHAMPOO must The used. Sulfates cheap hydrochlorothiazide pills canada Chella scent. seroquel medication bakersfieldobgyn.com Of difference! Been http://www.streetwarsonline.com/dav/health-solutions-overnight-pharmacy.php surgery ones that It did is there generic viagra available reviews easier carry-on http://www.qxccommunications.com/antibodies-without-a-precription.php arc without spending cipla pharmaceuticals india eewidget.com with – photos shampoo’d never cheapest viagra those because code will color!

Chớ để mất mạng vì ăn thịt cóc 1

 Lột bỏ da cóc.

Chớ để mất mạng vì ăn thịt cóc 2

Cóc nhà.

Những bộ phận có thể dùng được từ con cóc

Thịt cóc: Từ lâu thịt cóc đã được sử dụng làm thuốc trị bệnh cam tích ở trẻ em. Trẻ có biểu hiện bụng to (bụng ỏng), mông teo nhẽo (đít vòn), mắt nhoèn gỉ, lỗ mũi viêm đỏ hay chảy nước có mùi tanh, thể trạng gầy, không lên cân, kém ăn, kém ngủ, hay quấy khóc… Thịt cóc có nhiều chất bổ: protid, trong đó nhiều acid amin có giá trị như histidin, tyrosin, methionin, leucin, phenylalanin, cystein…; lipid, các vitamin B1, B2, muối calci, phospho. Đều là những chất cần thiết giúp cải thiện sức khỏe cho trẻ bị còi cọc, ốm yếu. Để có thịt cóc, cần làm như sau: lấy những con cóc vàng to, cắt bỏ phần đầu, 4 bàn chân, rạch một đường ở sống lưng, lột bỏ hết da, bỏ hết phủ tạng. Rửa cho hết máu và nhựa, nhất là ở chỗ vết cắt nhiều lần bằng nước sạch, ngâm 15-20 phút bằng nước sạch. Vớt ra, để ráo nước. Sấy khô với nhiệt độ tăng dần (nhiệt độ ban đầu trong tủ khi bắt đầu sấy phải khoảng 60-70oC để thịt cóc không bị ôi thiu), sau đó tăng dần nhiệt độ đến khi thịt cóc khô vàng, giòn, thơm. Lấy ra để nguội, nghiền bột mịn. Đóng gói bảo quản nơi khô ráo. Trẻ em 2-4 tuổi, ngày 4-6g. Có thể ăn riêng bột rồi chiêu với nước cơm hoặc nước ấm. Cũng có thể trộn bột vào ít cháo nóng, quấy đều ăn. Tùy theo tuổi, tăng thêm liều lượng. Cần lưu ý, những trường hợp bị nhiệt: lở miệng, mụn nhọt, dị ứng, mẩn ngứa, tiểu buốt…không dùng.

Mỡ cóc: Những con cóc to, cho 2 chùm mỡ, mỗi chùm có khoảng 8-10 giải mỡ màu vàng nhạt đến vàng đậm. Sau khi rán sẽ cho một loại mỡ màu vàng, sánh, thơm, ngon.

Dạ dày cóc (còn gọi “tù và” cóc) sau khi rửa sạch có thể chế món ăn giòn và ngon.

Nhựa cóc (Đông y gọi thiềm tô): vị đắng, có độc. Thành phần chứa cholesterol, acid ascorbic và những chất độc: bufotoxin, bufotalin, bufotenin, bufotenidin… Nhựa cóc được dùng bào chế thuốc “Lục thần hoàn”: nhựa cóc, xạ hương, hùng hoàng, mỗi thứ 1g, ngưu hoàng, trân châu, băng phiến, mỗi thứ 1,5g. Nhựa cóc ngâm vào rượu cho tan rồi trộn đều với bột mịn của các dược liệu trên, làm thành viên hoàn nhỏ bằng hạt cải. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 5-10 viên. Trị sốt cao, phát cuồng, mê sảng, co giật, nhất là đối với trẻ em.

GS.TS. Phạm Xuân Sinh

Những điểm cần lưu ý khi chế biến thịt cóc

Chỉ dùng những con cóc có trọng lượng trên 80g. Vì cóc rất có ích cho nông nghiệp. Hàng ngày, chúng bắt nhiều các loại sâu bọ phá hoại mùa màng.

Khi chế biến cóc cần loại bỏ hết tất cả các phủ tạng như gan, mật, trứng… và nhựa cóc, đặc biệt là trứng cóc vì rất độc, mỗi con cóc cái trưởng thành đều có hai buồng trứng rất to, trong đó chứa rất nhiều trứng. Trứng cóc lầy nhầy, màu xám trông tựa trứng ếch hoặc trứng chão chuộc. Trứng cóc đun chín đều không có mùi gì đặc biệt, trông rất giống trứng ếch hay trứng chão chuộc nên đã có một số người lầm tưởng có thể ăn được. Sau khi ăn trứng cóc sẽ có những biểu hiện ngộ độc: nôn mửa dữ dội, đau bụng, sùi bọt mép… Nếu không cấp cứu kịp thời bằng các phương pháp thích hợp như phương pháp “thổ” (gây nôn) của Đông y, hay “rửa ruột” của YHHĐ sẽ dẫn đến tử vong nhanh chóng. Vì trứng cóc độc như vậy nên khi chế biến cóc cần phải loại bỏ một cách triệt để, nhất là những con cóc có buồng trứng bị sa xuống phía dưới, thường là một bên. Từ buồng trứng trong bụng cóc có một ống nhỏ, đường kính khoảng 2-3mm, trong suốt, kéo dài xuống phía dưới chân, nằm lách sâu trong kẽ bắp cơ đùi và cơ bắp chân của cóc. Trong ống đó có rất nhiều trứng cóc nên nhiều người không biết hoặc không để ý, đã ăn phải trứng cóc ở  bộ phận này mà bị trúng độc.

Ngoài ra, mặc dù đã loại hết các chất độc do cóc gây ra như nhựa cóc, trứng cóc…, song khi ăn thịt cóc dưới dạng nấu canh, nấu cháo… vẫn bị ngộ độc theo kiểu viêm cấp tính đường tiết niệu, gây đái buốt, nặng hơn thì đái ra máu hoặc các lớp màng niêm mạc của đường tiết niệu… Do đó, việc chế biến cóc cần phải hết sức thận trọng.   

Ibrutinib – loại thuốc được coi như là “quả bom thuốc thông minh” có thể hủy diệt bất kỳ tế bào ung thư nào trong khi vẫn để lại nguyên vẹn những tế bào khỏe mạnh. Điều đó cho phép chúng giảm thiểu tối đa các tác dụng phụ từ những loại thuốc khắc nghiệt như các tác nhân hóa trị liệu – có khuynh hướng quét sạch cả tế bào ung thư và tế bào khỏe mạnh cùng một lúc.

Bước đột phá trong điều trị bệnh bạch cầu mạn tính

Ibrutinib là một bước đột phá tiềm năng trong việc điều trị căn bệnh bạch cầu mạn tính Lymphocytic (CLL) – đây là nghiên cứu mới vừa được công bố trên tờ Thời báo Y khoa New England (NEJM). Các nhà khoa học báo cáo rằng, loại thuốc thử nghiệm mới đã kéo dài đáng kể đời sống của bệnh nhân. Ibrutinib hiện đang được thử nghiệm trên những khối u trong hệ thống miễn dịch của cơ thể, chẳng hạn như CLL và lớp phủ u lympho tế bào (MCL). CLL là hình thức phổ biến thứ hai của bệnh bạch cầu nằm trong số người trưởng thành ở Mỹ, (khoảng 15.000 người), phần lớn trong số họ là người cao tuổi, thường được chẩn đoán mắc bệnh ung thư máu và tủy xương mỗi năm.

Ibrutinib - Khắc tinh của bệnh bạch cầu mạn tính 1Loại thuốc mới này góp phần quan trọng trong điều trị ung thư.

Theo đó, ibrutinib là loại thuốc đầu tiên trên thế giới có khả năng gắn kết và khóa chặt hoạt động của một loại protein được biết đến dưới tên gọi Bruton’s tyrosine kinase (BTK) – một loại protein đóng vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ các khối u tế bào miễn dịch, đã phát triển từ các tế bào gốc máu bất thường. Một khi ibrutinib liên kết với các tế bào B của hệ miễn dịch, nó sẽ góp phần ngăn chặn việc cung cấp tín hiệu của các loại chất dinh dưỡng cần thiết cho việc sinh trưởng và phân chia tế bào. Theo nghiên cứu, thuốc ibrutinib không làm ảnh hưởng đến tế bào T của cơ thể, trong khi các tác nhân hóa trị liệu đã để lại hệ quả nghiêm trọng cho cơ thể, vì thế các bệnh nhân sẽ hứng chịu rất ít các tác dụng phụ. Thành công đầu tiên được áp dụng điều trị trên động vật đã cho thấy, thuốc thử nghiệm đã đánh sập sự phân chia của tế bào ung thư, vì vậy các nhà nghiên cứu đã thử nghiệm thành phần này trên 85 bệnh nhân CLL – những người đã từng thất bại đối với ít nhất từ 2 liệu pháp chống ung thư trở lên.

83% bệnh nhân có triển vọng khỏi bệnh

Sau gần 2 năm điều trị bằng thuốc ibrutinib, 71% trong số nhóm điều trị khó khăn đã phản ứng khá tốt bằng sự thật là các khối u đã tăng trưởng chậm hơn. Và với thời lượng 26 tháng điều trị, 75% bệnh nhân đã cho thấy, bệnh ung thư không tiến triển thêm. Vào lúc cuối của thời kỳ nghiên cứu, 83% số bệnh nhân tham gia điều trị vẫn sống sót; phần nhiều chỉ phàn nàn về chứng tiêu chảy và mệt mỏi trong người. Tác giả công trình nghiên cứu, TS. John C. Byrd, Giám đốc Khoa Huyết học tại Trung tâm Ung thư hỗn hợp thuộc Đại học Ohio, hào hứng phát biểu: “Đây thực sự là một loại thuốc đột phá cho các bệnh nhân CLL. Tôi là một chuyên gia về bệnh CLL kể từ năm 1997 và chúng tôi chưa từng có loại thuốc tối ưu như thế đi vào lĩnh vực này. Điều phổ biến nhất mà tôi trực tiếp nghe từ các bệnh nhân nói là thuốc đã mang bệnh của họ đặt dưới tầm kiểm soát và nó khiến cho các bệnh nhân cảm nhận rằng thuốc đã hoạt động tốt với bệnh ung thư mà họ đang mang trong người. Tôi đã nghe điều này ít nhất cả chục lần”. Các nhà khoa học và bệnh nhân đều được khuyến khích rằng, thuốc ibrutinib sẽ giúp họ hưởng thụ một thời gian sống dài, trên mức trung bình, giữ sự bình ổn của các khối u và không tiến triển, hơn là khi họ từng dùng các tác nhân hóa trị liệu.

Với các bệnh nhân MCL khi dùng thuốc ibrutinib cũng có những kết quả tích cực tương tự. MCL là một hình thức của Lymphoma không Hodgkin thường không phản ứng với hóa trị liệu hiện hành, điều trị dựa trên miễn dịch hoặc các hình thức cấy ghép tế bào gốc. Nhưng trong một nghiên cứu riêng rẽ cũng xuất hiện trong NEJM có sự tham gia của 111 bệnh nhân MCL tiến bộ, khoảng 68% trong số người tham dự đã phản hồi với thuốc ibrutinib và 58% trong số đó đã sống sót sau 18 tháng điều trị với loại thuốc thử nghiệm này. Tỷ lệ phản hồi trong điều trị MCL đã được phê duyệt bởi Cục Quản lý Thuốc và Thực phẩm Mỹ (FDA) với khoảng 30% tỷ lệ phản hồi tích cực. Dữ liệu hiệu quả kết hợp với hồ sơ ít tác dụng phụ của thuốc thử nghiệm khiến cho một số bác sĩ hy vọng rằng, vào một ngày gần nhất, ibrutinib sẽ thay thế cho các tác nhân hóa trị liệu hết sức khắc nghiệt mà hiện đang được sử dụng điều trị cho những căn bệnh ung thư.

Đột phá trị bệnh cho người cao tuổi

Các nghiên cứu cũng cho thấy rằng, bệnh nhân có thể được hưởng lợi nếu họ bắt đầu trị liệu sớm hơn trong thời kỳ bệnh được chẩn đoán. TS. John C. Byrd giải thích: “Ngay sau khi loại thuốc ibrutinib được chấp thuận, nó có thể được sử dụng trong dạng thức tái phát bệnh ban đầu. Nó đặc biệt có ích cho các bệnh nhân cao tuổi, những người không có khả năng chịu đựng tốt với hóa trị liệu thông thường. Đây là giải pháp thay thế cho hóa trị liệu”. Sự ra đời của ibrutinib cũng cho thấy rằng, loại thuốc thử nghiệm này có thể trở thành một phần quan trọng trong việc điều trị bệnh ung thư trong thời gian tới. FDA chỉ định ibrutinib là một liệu pháp mang tính đột phá, cả pharmacyclics và janssen – những đơn vị cùng bắt tay vào việc phát triển thuốc ibrutinib – đã có kế hoạch nộp đơn thuốc mới cho FDA nhằm sử dụng ibrutinib trong điều trị tế bào ác tính B vào năm 2014.

 (Theo CNN, 2013)

Nguyễn Thanh Hải

Chứng lồi mắt ảnh hưởng đến vẻ đẹp của khuôn mặt người bệnh, khiến họ mất ăn, mất ngủ. Rất nhiều bệnh nhân đã yêu cầu các bác sĩ tìm mọi cách điều trị cho mình hết chứng bệnh này.

Trong bệnh Basedow lồi mắt là dấu hiệu hay gặp nhất. Theo những công trình nghiên cứu mới nhất, dấu hiệu này gặp được trong 40 – 45% các trường hợp. Chính vì vậy người ta còn gọi bệnh Basedow với một cái tên khác là bệnh bướu cổ lồi mắt.

Phân loại mức độ lồi mắt

Lồi mắt thường xảy ra ở cả hai mắt, đôi khi rõ rệt ở một bên hơn là bên kia. Cũng có những bệnh nhân chỉ bị lồi một bên mắt nhưng rất hiếm gặp.

Đi kèm với chứng lồi mắt bệnh nhân thường cảm thấy chói mắt, chảy nước mắt sống, cảm giác như có bụi bay vào mắt hoặc rất nóng rát. Nặng hơn bệnh nhân có thể bị khô và loét giác mạc là nguyên nhân gây lên mù lòa vĩnh viễn.

Trong thực hành bệnh viện, các bác sĩ hay áp dụng bảng phân loại Werner của Hiệp hội Tuyến giáp Mỹ với 6 mức độ: độ 1 và 2  là nhẹ, độ 3 là vừa, độ 4 – 6 là nặng.

Điều trị chứng lồi mắt trong bệnh Basedow 1

Bệnh nhân thường bị lồi hai bên mắt nhưng cũng có bệnh nhân chỉ lồi một bên mắt

Với những trường hợp khó khăn trong chẩn đoán và phân loại, người ta sử dụng thước đo độ lồi mắt Hertel. Độ lồi mắt khác nhau tùy theo chủng tộc và dân tộc, ở người Việt Nam bình thường độ lồi mắt vào khoảng 12mm, độ lồi tăng lên trong bệnh nhân Basedow.

Điều trị như thế nào?

Một số trường hợp chứng lồi mắt có thể thay đổi cùng với tiến triển của bệnh sau khi điều trị. Khoảng 30% số bệnh nhân sẽ hết lồi mắt sau khi phẫu thuật, thường là những bệnh nhân lồi mắt ở mức độ nhẹ và vừa.

Có 3 phương pháp điều trị chứng lồi mắt gồm: sử dụng thuốc corticoides liều cao, xạ trị và phẫu thuật.

Với những bệnh nhân lồi mắt độ 1, thường không cần phải điều trị.

Những bệnh nhân lồi mắt độ 2, việc điều trị bao gồm:

– Đeo kính sẫm màu.

– Nhỏ hoặc tra các loại pomade nước mắt nhân tạo để tránh biến chứng khô giác mạc.

Nhỏ một loại thuốc nước đặc biệt để làm giảm mức độ cường cơ vận nhãn. Thuốc này được cho theo chỉ định của bác sĩ nhãn khoa.

Những bệnh nhân lồi mắt từ độ 3 trở lên, việc điều trị phức tạp hơn nhiều và không phải lúc nào cũng có hiệu quả:

– Thuốc corticoides liều cao như Prednisone 100mg một ngày (20 viên) từ 5 – 7 tuần. Tuy nhiên, cần chú ý khả năng dung nạp kém với corticoides ở người Việt Nam so với bệnh nhân phương Tây. Biến chứng  hay gặp nhất của việc sử dụng thuốc là viêm loét dạ dày có thể gây xuất huyết tiêu hóa và phù do giữ nước.

– Xạ trị: dùng máy tạo chất phóng xạ chiếu vào vùng hốc mắt: tuy nhiên phương pháp này chỉ có hiệu quả điều trị lồi mắt trong giai đoạn sớm và không có tác dụng trong giai đoạn sẹo đã hình thành phía sau hốc mắt.

– Điều trị bằng phẫu thuật: được sử dụng cho những trường hợp thất bại với điều trị bằng corticoides và xạ trị, bao gồm:

Khâu cò mí mắt: nhằm làm giảm độ hở của mi mắt.

Phẫu thuật chỉnh hình làm giảm độ co rút của cơ vận nhãn.

Phẫu thuật làm giải áp hốc mắt trong những trường hợp lồi mắt ác tính có tổn thương thần kinh thị gây giảm và mất thị lực hoặc do yêu cầu thẩm mỹ của bệnh nhân.

Phẫu thuật tạo hình sau giải áp hốc mắt.

Tất cả những phẫu thuật này được thực hiện bởi các bác sĩ nhãn khoa và tạo hình.

 

PGS.TS. NGUYỄN HOÀI NAM

Những người ngủ hay mơ, theo Đông y đó là “tâm tàng thần, chủ thần chí” nên xảy ra hiện tượng ngủ mê nói sảng. Như vậy là bệnh chứng có quan hệ tới tạng tâm thuộc phạm trù chính xung do rối loạn nhịp tim, hoặc do tâm thận bất giao (thủy hỏa vị tế), cần chú ý bồi bổ huyết, an thần.

Về ăn uống, phải bảo đảm đủ dinh dưỡng, vì vậy thức ăn cần phong phú. Thường xuyên ăn các loại rau tươi, hoa quả như rau cải trắng, rau chân vịt, rau cần, bí đao, táo, quýt… Nên ăn các thức ăn có tác dụng trị mất ngủ như hạt sen, nhãn, bách hợp, táo nhân, hồ đào, vừng… Tuy nhiên, chú ý các thức ăn cần phải mềm nhừ, dễ tiêu và không nên ăn gần giờ đi ngủ. Tránh ăn các thực phẩm gây kích thích như ớt, hành, hẹ, tỏi, rượu, các thức ăn chứa nhiều chất béo, xào, rán, nướng, thức ăn nhanh.

Món ăn, bài thuốc cho người hay ngủ mơ 1

Một số món ăn, bài thuốc theo kinh nghiệm dân gian:

Bài 1: Hạt sen 15g, khiếm thực 15g, thịt lợn nạc 100g cho vào nồi nấu chín, nêm nếm gia vị vừa miệng. Có thể dùng món ăn này thường xuyên.

Bài 2: Hạnh đào nhân 10g, vừng đen 10g, bầu dục lợn 60g đem nấu cháo cho chín nhừ, nêm nếm gia vị vừa dùng, ăn lúc chuẩn bị đi ngủ, liên tục từ 3 – 5 ngày.

Bài 3: Ngọc trúc sâm 20g, tim lợn 100 – 200g. Tim lợn thái miếng vừa ăn, nấu chin nhừ, nêm nếm gia vị vừa miệng, ngày dùng một lần. 7 ngày là một liệu trình.

Bài 4: Ngũ vị tử 9g, bá tử nhân 9g, phục thần 12g đem nấu lấy nước bỏ bã, rồi cho vào 30g mật ong, chia 2 lần dùng trong ngày. Dùng trong 5 ngày.

Bài 5: Nhân sâm 4g, đương quy 16g, bạch thược 16g, ngũ vị tử 4g, táo nhân 20g, mạch môn đông 20g, bạch truật 16g, bối mẫu 6g, liên tâm 8g, lạc tiên 20g. Sắc uống trong ngày. Cách sắc như sau: Nước đầu cho các vị thuốc vào nồi đất cùng với 3 bát nước, nấu còn lại 1 bát (chắt nước ra). Nước hai tiếp tục cho 3 bát nước vào nồi, nấu còn lại ½ bát. Hòa hai nước lại, chia làm 3 lần dùng trong ngày. 10 ngày là một liệu trình.

Bài 6: Thục địa 20g, sơn thù 12g, nhân sâm 6g, đương quy 16g, táo nhân 12g, bạch giới tử 12g, mạch môn đông 16g, nhục quế 2g, hoàng liên 8g. Sắc uống trong ngày. Cách sắc như bài thuốc trên. 10 ngày là một liệu trình.

Bài 7: Cùi nhãn 15g, táo nhân chua 6g, đem sắc uống ngày 1 lần.

Lưu ý: Khi có biểu hiện của chứng bệnh mơ khi ngủ, cần đến khám và bắt mạch kê đơn ở những cơ sở y tế chuyên khoa y học cổ truyền hoặc những lương y có kinh nghiệm để được kê đơn phù hợp với thể trạng của người bệnh.

BS. Thanh Lan

Tằm vôi còn gọi là tằm chết gió, bạch cương tàm, thiên trùng…, là tằm bị chết cứng do nhiễm vi nấm, vị mặn, tính bình, không có độc, có công dụng trừ phong trấn kinh, long đàm tán kết, giải độc, dùng để chữa trúng phong thất ngôn, kinh giản, đầu phong, hầu phong, đau họng, lao hạch, đan độc, viêm tuyến vú, lở ngứa, sạm da…
Tằm vôi - Vị thuốc quý 1
 Bạch cương tàm đã qua sơ chế.

Xin giới thiệu một số bài thuốc trị bệnh có dùng tằm vôi:

Trúng phong miệng mắt méo lệch: bạch cương tàm 10g, bạch phụ tử 10g, ngô công 1 con, hải tảo 20g, sắc uống.

Trẻ em kinh phong co giật: bạch cương tàm 10g, bạc hà 10g, câu đằng 15g, thuyền thoái 15g, sắc uống.

Khẩu nhãn oa tà (liệt dây VII ngoại vi): bạch cương tàm 15g, toàn yết 15g, bạch phụ tử 15g, thiên nam tinh 15g, tất cả sấy khô tán bột, uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 5g.

Mày đay, ngứa da: bạch cương tàm, khổ sâm, địa phụ tử mỗi thứ 10g, ma hoàng 5g, thích tật lê 15g, sắc uống.

Đau đầu do phong nhiệt: bạch cương tàm, cao lương khương lượng bằng nhau, sấy khô tán bột, uống mỗi lần 1,5g với nước sắc đại táo. Hoặc bạch cương tàm 6g, mộc tặc 6g, kinh giới 6g, tang diệp 9g, sinh cam thảo 3g, sắc uống.

Lao phổi có hang: bạch cương tàm, bạch cập, địa du thán lượng bằng nhau, tán bột, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 6g.

Sản phụ thiếu sữa: bột bạch cương tàm 6g uống với rượu nhạt.

Viêm tuyến vú cấp tính: bột bạch cương tàm trộn với giấm thanh xoa quanh vùng viêm mỗi ngày 1 lần, kết hợp với uống nước sắc bồ công anh và kim ngân hoa, mỗi thứ 30g.

Lao hạch: bạch cương tàm 10g, thủy tiền thảo 30g, đan sâm 15g, mẫu lệ 30g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.

Viêm họng khản tiếng, đau họng: bạch cương tàm 5g, phèn chua 1g, phèn đen 1g, ba vị tán nhuyễn, lấy 2g sắc với lá bạc hà 1g và gừng tươi 1g, lấy nước rửa miệng và ngậm. Hoặc bạch cương tàm 6g, thiên nam tinh 6g, sấy khô tán bột, uống với nước gừng tươi.

Chữa sạm da mặt: bạch cương tàm tán nhỏ hòa với nước bôi vào vết sạm, mỗi đêm 1 lần.

Thiên đầu thống: bạch cương tàm 4g, tán nhỏ hòa với nước uống.

Bạch đới ra khí hư chất trắng đỏ: bạch cương tàm rửa bằng nước vo gạo, bỏ đầu chân, sấy khô tán nhỏ, uống mỗi lần 2 đồng cân với rượu.          

     ThS. Hoàng Khánh Toàn

Trong vườn cây cảnh mà có trồng mấy chậu huyết dụ, màu đỏ của cây sẽ nổi bật. Không chỉ đẹp qua màu sắc, huyết dụ còn là vị thuốc khá tốt đối với các chứng chảy máu.

Huyết dụ còn tên gọi là huyết dụ lá đỏ, thiết thụ, long huyết, phất dũ, hồng trúc, chu trúc, trúc tiêu (trung dược).

Tên khoa học là Cordyline terminalis Kunth, họ Huyết dụ (Asteliaceae).

Theo Đông y, huyết dụ vị nhạt, tính mát. Tác dụng làm mát máu, bổ huyết, cầm máu lại vừa làm tan máu ứ, giảm đau phong thấp nhức xương, trị rong kinh, xích bạch đới, kiết lỵ, lậu, sốt xuất huyết, thổ huyết, ho ra máu, tiểu tiện ra máu.

Huyết dụ tốt trong các chứng chảy máu 1

.

Liều dùng trung bình 20g lá tươi, 12g lá khô cho các dạng thuốc sắc, có thể dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác. Sau đây là những bài thuốc dùng huyết dụ.

Trị các loại chảy máu: lá huyết dụ tươi 40g (hoặc 20g lá khô), sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần. Không dùng cho phụ nữ sau khi nạo thai hoặc đẻ sót rau.

Trị sốt xuất huyết: lá huyết dụ tươi 30g, trắc bá sao đen 20g, cỏ nhọ nồi 20g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần.

Trị sốt xuất huyết: huyết dụ, huyền sâm, sinh địa, mạch môn, hạt muồng sao, ngưu tất, tri mẫu, hoàng bá, đan sâm, đơn bì, xích thược, cỏ nhọ nồi, trắc bá sao, mỗi vị 10 – 16g. Sắc uống ngày một thang.

Trị chảy máu (xuất huyết) dưới da: lá huyết dụ tươi 30g, trắc bá diệp sao cháy 20g, cỏ nhọ nồi 20g, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần.

Trị chảy máu cam: lá huyết dụ tươi 30g, trắc bá diệp sao cháy 20g, cỏ nhọ nồi 20g, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần.

Trị ho ra máu: lá huyết dụ 10g, rễ rẻ quạt 8g, trắc bá diệp sao đen 4g, lá thài lài tía 4g, tất cả phơi khô, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần.

Trị viêm ruột: huyết dụ tươi 40g, lá sống đời (lá bỏng) 20g, xích đồng nam (lá băn) 20g, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần.

Trị kiết lỵ: lá huyết dụ tươi 20g, cỏ nhọ nồi 12g, rau má 20g, giã nát cho vào chút nước vắt lấy nước cốt uống ngày 2 lần.

Trị lỵ ra máu: lá huyết dụ 12g, rễ dền gai 20g, lá trắc bá 8g, cỏ nhọ nồi 8g, hoa hòe 4g. Tất cả thái nhỏ, sao vàng, sắc uống.

Trị trĩ ra máu: lá huyết dụ tươi 20g, rửa sạch, đổ 200ml nước vào sắc còn 100ml, chia uống 2 lần trong ngày.

Trị trĩ nội, hậu môn lở loét: huyết dụ tươi 40g, lá sống đời 20g, xích đồng nam 20g, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần.

Trị rong kinh, băng huyết: lá huyết dụ tươi 20g, rễ cỏ tranh 10g, đài tồn tại của quả mướp 10g, rễ cỏ gừng 8g. Thái nhỏ cho 300ml nước sắc còn 100ml, chia 2 lần uống trong ngày.

Trị rong kinh, băng huyết: lá huyết dụ tươi 20g, cành tử tô 10g, hoa cau đực 10g, tóc một ít đốt thành than, thái nhỏ, trộn đều sao vàng rồi sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần.

Trị kinh nguyệt không đều, thấy kinh sớm kỳ, ngắn vòng, hoặc ra nhiều máu, rong huyết: lá huyết dụ, vỏ rễ dâm bụt, mỗi vị 30g. Sắc uống.

Trị khí hư, bạch đới: lá huyết dụ tươi 40g, lá thuốc bỏng 20g, bạch đồng nữ 20g. Sắc uống.

Trị bạch đới, viêm âm đạo: huyết dụ, hoàng đằng, mộc thông, mỗi vị 12g. Sắc uống.

Trị tiểu ra máu: lá huyết dụ 20g tươi, rửa sạch. Đổ 200ml nước vào sắc còn 100ml, chia uống trong ngày.

Trị viêm đường tiểu, tiểu ra máu: huyết dụ, hoàng đằng, mộc thông, mỗi vị 12g. Sắc uống.

Trị tiểu gắt, tiểu buốt, tiểu ra máu: lá huyết dụ, lá hà thủ ô đỏ, lượng bằng nhau. Sắc rồi hòa thêm mật ong vào uống.

Trị phong thấp đau nhức: huyết dụ (cả lá, hoa, rễ) 30g, huyết giác 15g, sắc uống ngày 1 thang, chia 2 – 3 lần.

Trị phong thấp, tay chân co quắp, đau nhức: huyết dụ 12g, cành dâu tằm (sao) 20g. Sắc uống.

Trị viêm thận cấp phù thũng: huyết dụ, dây xanh, mã đề, mộc thông, cỏ xước, rễ cỏ tranh, mỗi vị 20g. Sắc uống ngày một thang với bột hoạt thạch 24g chia làm ba lần.

Trị bị té ngã tổn thương ứ máu: hoa, lá, rễ cây huyết dụ 30g, huyết giác 15g. Sắc uống đến lúc có kết quả.

Lưu ý: phụ nữ trước khi sinh con và sau khi sinh mà bị sót nhau thì không được dùng thuốc có vị huyết dụ.

Lương y HOÀNG DUY TÂN

Não: 20 tuổi: Số lượng tế bào não trung bình là khoảng 100 tỷ nơron và bắt đầu giảm đi từ tuổi 20. Chuyên gia về thần kinh học của Trung tâm tư vấn sức khỏe thuộc Học viện Imperial London (Anh) cho biết, tế bào thần kinh bị thoái hóa theo thời gian gây ra nhiều ảnh hưởng nhất cho cơ thể con người. Khi 40 tuổi, mỗi ngày có khoảng 10.000 nơron lão hóa, chức năng điều phối và trí nhớ suy giảm rõ rệt.

Đường ruột: 55 tuổi: Đường ruột khỏe có tác dụng cân bằng các lợi khuẩn và hại khuẩn. Đến tuổi 55 các lợi khuẩn đường ruột giảm đi đáng kể, kết quả là chức năng tiêu hóa suy yếu, dễ bị táo bón và tăng nguy cơ mắc các bệnh về đường ruột.

Ngực: 35 tuổi: Với phụ nữ, khi 35 tuổi, vòng 1 viên mãn sẽ “xẹp” bớt đi. Từ 40 tuổi, ngực bắt đầu chảy xệ. Khả năng mắc ung thư vú tăng theo độ tuổi.

Bàng quang: 65 tuổi: Mất khả năng kiểm soát bàng quang là bệnh thường gặp ở người già. Ở tuổi 65, bàng quang bị thu nhỏ, không đủ khoảng trống chứa hết nước tiểu. Phụ nữ rất dễ gặp các bệnh lý về bàng quang, do tuổi cao, mức estrogen giảm khiến các mô niệu đạo mỏng đi, chức năng hỗ trợ bàng quang cũng yếu dần. Dung lượng bàng quang của người trung niên chỉ bằng một nửa người trẻ tuổi. Do đó, khi càng già, số lần đi tiểu càng nhiều. Hơn nữa, tình trạng tiểu dắt ở tuổi già còn dễ gây nhiễm trùng niệu đạo.

Phổi: 20 tuổi: Ở tuổi 20, chức năng phổi đã bắt đầu suy yếu. 30 tuổi, mỗi lần hít, phổi thường chứa được 946 ml không khí, nhưng khi 70 tuổi, con số này giảm xuống chỉ còn 473 ml.

Giọng nói: 65 tuổi: Càng lớn tuổi, giọng nói càng nhỏ, trầm và khàn đi. Nguyên nhân là các cơ quan vòm họng lão hóa, ảnh hưởng đến chất lượng và độ lớn của âm thanh.

Mắt: 40 tuổi: Với người có thị lực bình thường, ở tuổi trung niên mắt thường chuyển sang viễn thị. Tuổi cao, các cơ vùng mắt nhão, thị lực giảm sút và dễ mắc bệnh lý về thủy tinh thể.

Tim mạch: 40 tuổi: Ở tuổi này, mạch máu giảm tính đàn hồi, động mạch bị xơ cứng, nguyên nhân do chất béo tích tụ ở thành mạch, lượng máu bơm đến tim giảm, từ đó dẫn đến các cơn đau thắt ngực. Phụ nữ từ 45 tuổi, nam giới từ 55 tuổi tỷ lệ mắc bệnh tim rất cao. 

Gan: 70 tuổi: Gan được cho là bộ phận cơ thể chống chọi được dài hơi nhất. Bác sĩ ngoại khoa về gan thuộc Bệnh viện Hoàng gia Leicester của Anh chỉ ra “ở người khỏe mạnh, khả năng tái sinh của tế bào gan rất mạnh mẽ”. Nếu có chế độ sinh hoạt điều độ, không mắc bệnh truyền nhiễm và không uống rượu thì lá gan của một người 70 tuổi vẫn có thể cấy ghép cho người 20 tuổi.

Theo ANTĐ/ Xinhuanet

Các nhà khoa học Nhật Bản đã phát hiện một tế bào collagen trong thận có thể gây bệnh thận mãn tính.

Ngoài các trường hợp nhiễm trùng đường tiểu cấp tính và viêm thận cấp tính, đa phần các bệnh lý về thận đều được gọi chung là bệnh thận mãn tính. Bệnh thận mãn tính không được sớm điều trị sẽ phát triển thành suy thận mãn tính. 

Các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Tohoku Nhật Bản nhận thấy, bệnh cao huyết áp hoặc tiểu đường khiến chức năng thận suy yếu, trong thận lúc đó sẽ xuất hiện một loại tế bào collagen khiến thận giảm chức năng sản xuất erythropoietin – chất kích thích tạo hồng cầu trong máu. Việc thiếu chất kích thích tạo hồng cầu sẽ khiến cơ thể mắc bệnh thiếu máu, một vòng tuần hoàn máu kém dồi dào sẽ quay ngược về “nuôi” thận vì thế mà thận “chết” dần.

Tế bào collagen gây bệnh thận chính là tế bào erythropoietin do bị viêm mà chuyển hóa thành. Nếu khống chế được tình trạng viêm nhiễm, tế bào collagen hại thận sẽ hồi phục trở lại là tế bào erythropoietin bình thường.

Theo ANTĐ/ Tân hoa xã

Mùa hè, tiết trời nóng nực khiến cơ thể mệt mỏi, chán ăn, vì thế, sức khỏe của nhiều người giảm sút và nguy cơ mắc bệnh càng cao. Để có sức khỏe chống chọi với nắng nóng, việc lựa chọn thức ăn và nước uống rất quan trọng.

Nguyên tắc chung cho những người khó ăn hoặc không muốn ăn uống vào ngày nóng nực là phải đảm bảo nguồn dinh dưỡng thiết yếu cho cơ thể qua con đường ăn uống, vì thế, không nên bỏ bữa, đồng thời biết cân đối các nhóm thực phẩm cung cấp những dưỡng chất thiết yếu.

Ăn uống hợp lý trong mùa nóng 1

Đậu phụ là món ăn phù hợp với người cao tuổi trong mùa nóng.

Cụ thể, nhóm cung cấp gluxit và vitamin B (chất đường bột) bao gồm gạo, ngô…; nhóm cung cấp chất đạm là thịt, cá, tôm, trứng, sữa…; nhóm cung cấp vitamin, muối khoáng và chất xơ là các loại rau quả xanh. Không nên ăn nhiều thực phẩm giàu chất béo nhưng cũng không hạn chế quá mức bởi chất béo giúp vitamin A hoà tan, phòng tránh cơ thể thiếu vitamin A, dẫn đến khô mắt và khô da.

Với người cao tuổi, đậu phụ là món ăn khá lý tưởng bởi thực phẩm này giàu dưỡng chất, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc và nhuận tràng. Có thể sử dụng đậu phụ dưới nhiều dạng như uống sữa đậu nành, tào phớ hay sữa chua… Tuy nhiên không nên ăn quá nhiều.

Với nhóm thực phẩm cung cấp nguồn đạm, nên chọn các thức ăn như cua, trai, hến, tôm… Thức ăn này vừa cung cấp protein, vừa bổ sung chất khoáng đã bị mất do cơ thể bài tiết qua đường mồ hôi. Với các loại rau, nên chọn mồng tơi, rau ngót, rau sam, mướp, mướp đắng, bí đao… là những loại rau mát bổ. Nên ăn nhiều các loại quả, tuy nhiên, tùy vào cơ địa từng người mà chọn các loại quả cho phù hợp. Người có cơ địa nhiệt tránh ăn các loại quả chứa nhiều đường như vải, xoài, dứa… mà nên sử dụng cam, chanh, lê, nho, táo…

Mùa hè có nhiều loại nước giải khát như các loại trà giải nhiệt, các loại nước ngọt, sôđa, nước khoáng… Cần chú ý, khi cơ thể bài tiết nhiều mồ hôi bạn không nên uống những loại nước đá, bởi khi uống đồ uống lạnh cơ thể không bổ sung và điều tiết nhanh chóng lượng nước và muối đã bị mất đi, ngược lại, còn làm loãng dịch dạ dày, giảm khả năng diệt khuẩn của dịch vị, dẫn tới các vi sinh vật gây ra bệnh đường ruột như tiêu chảy, lỵ. Hơn nữa nếu uống nhiều nước đá sẽ làm nhiệt độ cơ thể tăng thêm.

Đặc biệt, với những người mắc bệnh đường ruột mạn tính thì càng phải có sự lựa chọn kỹ càng khi dùng các loại thức ăn, đồ uống. Chẳng hạn, người mắc hen suyễn, viêm đại tràng, viêm dạ dày thì không nên uống các đồ uống lạnh có vị chua; người mắc bệnh đái tháo đường không sử dụng đồ uống lạnh có đường.

Sử dụng các loại nước ngọt có gas, nước giải khát đóng chai, hộp để uống trong những ngày nắng nóng sẽ không có lợi cho sức khỏe. Nguyên nhân là do các loại nước ngọt này chứa một lượng đường khá cao, có khả năng làm tăng cân, béo phì và tăng huyết áp.

Ngoài ra, đường cung cấp nhiệt năng cho cơ thể, gây nóng bức. Hơn nữa, nước ngọt có gas giúp cơ thể sảng khoái và dễ chịu trong khi uống nhưng vì có tính kiềm nên làm trung hoà dịch vị, giảm khả năng tiêu hoá dạ dày. Mùa hè, bạn có thể sử dụng các loại nước canh đậu xanh, trà hoa cúc… có tác dụng giải nhiệt, giúp tinh thần sảng khoái, phấn chấn.

BS. Lan Hương

4 loại virut liên quan đến cơ chế sinh bệnh ung thư

Virut Epstein – Barr: Loại ung thư này đầu tiên thấy có mặt ở bệnh ung thư hàm dưới của trẻ em vùng Uganda (loại bệnh này do Epstein và Barr phân lập nên virut này được mang tên virut Epstein – Barr). Về sau người ta còn phân lập được loại virut này ở trong các khối ung thư vòm mũi họng, bệnh có nhiều ở các nước ven Thái Bình Dương đặc biệt là ở Quảng Đông, Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Ở nhiều bệnh ung thư vòm còn thấy kháng thể chống lại kháng nguyên của virut Epstein – Barr. Tuy nhiên, người ta chưa khẳng định vai trò gây bệnh trực tiếp của virut Epstein – Barr đối với ung thư vòm mũi họng. Trong dân chúng tỷ lệ nhiễm loại virut này tương đối cao nhưng số trường hợp ung thư vòm không phải là nhiều. Hướng nghiên cứu về virut Epstein – Barr đang còn tiếp tục và đặc biệt ứng dụng phản ứng IgA kháng VCA để tìm người có nguy cơ cao nhằm chủ động phát hiện sớm ung thư vòm mũi họng.

Các tác nhân sinh học gây bệnh ung thư: Ngăn chặn cách gì? 1
 Hình ảnh virut Epstein – Barr gây ung thư vòm mũi họng.

Virut viêm gan B: Gây ung thư gan nguyên phát hay gặp ở châu Phi và châu Á trong đó có Việt Nam. Virut này khi thâm nhập cơ thể gây viêm gan cấp, kể cả nhiều trường hợp thoáng qua. Tiếp theo là một thời kỳ dài viêm gan mạn tiến triển không có triệu chứng. Tổn thương này qua một thời gian dài sẽ dẫn đến hai biến chứng đó là xơ gan toàn bộ và ung thư tế bào gan. Điều này phần nào giải thích sự xuất hiện nhiều ổ nhỏ trong ung thư gan và tính chất tái phát sớm sau cắt gan. Ngoài ra, xơ gan đã làm cho tiên lượng của bệnh ung thư gan xấu đi rất nhiều. Việc khẳng định virut viêm gan B gây ung thư gan giữ vai trò rất quan trọng. Nó mở ra một hướng phòng bệnh tốt bằng cách tiêm chủng chống viêm gan B. Phát hiện người mang virut bằng xét nghiệm HBsAg (+) và những người này nên dùng vaccin.

Virut gây u nhú thường truyền qua đường sinh dục: Loại này được coi là có liên quan đến các ung thư vùng âm hộ, âm đạo và cổ tử cung, các nghiên cứu đang tiếp tục.

Virut HTLV1 là loại virut (Retro virut) liên quan đến gây bệnh bạch cầu tế bào T gặp ở Nhật Bản và vùng Caribê.

Ký sinh trùng và vi khuẩn có liên quan đến ung thư

Khuyến cáo của thầy thuốc

Loại trừ tác nhân sinh học liên quan đến ung thư bằng lối sống khoa học; vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường tốt.

Cần đến thầy thuốc khi đau ốm để được điều trị đúng, sớm và triệt để, loại trừ các yếu tố nguy cơ gây ung thư.

Chỉ một loại ký sinh trùng được coi là nguyên nhân gây ung thư, đó là sán Schistosoma. Loại sán này thường có mặt với ung thư bàng quang và một số ít ung thư niệu quản ở những người Ảrập vùng Trung Đông, kể cả người Ảrập di cư. Cơ chế sinh ung thư của loại sán này hiện chưa được giải thích rõ.

Loại vi khuẩn đang được đề cập đến vai trò gây viêm dạ dày mạn tính và ung thư dạ dày là vi khuẩn Helicobacter Pylori. Các nghiên cứu đang được tiếp tục nhằm mục đích hạ thấp tác hại Helicobacter Pylori và giảm tần số ung thư dạ dày, đặc biệt là ở các nước châu Á.

Dự án PCUTQG, Bệnh viện K TW

Thuốc được hiểu là chất hoặc hỗn hợp các chất dùng cho người nhằm phòng bệnh, chữa bệnh, chẩn đoán bệnh hoặc điều chỉnh chức năng sinh lý cơ thể. Nhưng 10 loại thuốc dưới đây không những không chữa được bệnh mà còn gây thêm bệnh.

Sáp paraffin căng da và nâng ngực

Ngày nay, các bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ thường sử dụng botox và collagen để xóa nếp nhăn và trẻ hóa khuôn mặt, đồng thời dùng silicon để nâng ngực giúp chị em phụ nữ có vòng 1 đầy đặn, cân đối và thẩm mỹ. Nhưng lịch sử phẫu thuật thẩm mỹ đã có từ trước những năm 1900. Lúc này, để làm căng da, xóa nếp nhăn, các bác sĩ đã tiêm sáp paraffin vào khu vực nhiều nếp nhăn và trong phương pháp nâng ngực cũng sử dụng paraffin bơm trực tiếp vào vòng 1 để tăng kích cỡ. Kết quả, hàng loạt bệnh nhân nữ sau khi sử dụng phương pháp này bị nhiễm khuẩn, ở những vùng da mặt tiêm paraffin hình thành u, cục gây đau đớn. Với những nỗ lực phát triển vòng 1, việc tiêm paraffin khiến ngực của chị em trở nên cứng đờ, méo mó và kém hấp dẫn hơn nhiều so với trước khi phẫu thuật thẩm mỹ. Ngày nay, sáp paraffin thường được dùng để làm đẹp cho chị em phụ nữ nhưng không phải căng da và nâng ngực mà dùng để tẩy lông.

Những phương thuốc sai lầm... chết người 1
 Tiêm paraffin vào ngực có thể làm ngực nổi u, cục.

Hồng phiến và LSD điều trị bệnh nhân tâm thần

Hồng phiến và LSD được tổng hợp năm 1912 với tên khoa học là 3,4-methylen dioxymentamphetamin (MDMA). Vào khoảng những năm 1950 – 1960, MDMA được một số bác sĩ chuyên khoa tâm thần Hoa Kỳ cho sử dụng như một phương pháp điều trị hỗ trợ liệu pháp tâm lý đối với 40.000 bệnh nhân.

Nhưng kết quả lại đi ngược lại những gì các nhà nghiên cứu hy vọng, loại thuốc này gây ra những cơn hoảng sợ hay cảm giác lo lắng cực độ. Vì vậy, những bệnh nhân mắc chứng tâm thần phân liệt hay trầm cảm càng rơi vào trạng thái trầm trọng hơn. Đối với những người không mắc bệnh tâm thần, hồng phiến và LSD cũng gây ảo giác, rối loạn. Do đó, đến năm 1970, Đạo luật kiểm soát chất đã ra lệnh cấm không được sử dụng hồng phiến và LSD vào việc điều trị cho người bệnh tâm thần.

Nước nhiễm phóng xạ chữa bách bệnh

Vào năm 1913, các nhà sản xuất thuốc đã có chương trình quảng cáo rất lớn về tác dụng của loại nước thần kỳ này. Quảng cáo về công dụng của nước nhiễm phóng xạ hay còn gọi là nước radium cho thấy nó có khả năng chữa được bách bệnh từ viêm khớp đến tăng huyết áp hay mụn trứng cá. Thật không may cho những người tin và sử dụng loại nước này. Vì các nhà sản xuất không chú thích về tác dụng phụ của nó như: ung thư, rụng tóc, hỏng răng và bào mòn xương, toàn thân ê ẩm (đây là những triệu chứng của người bị nhiễm độc phóng xạ).

Asen chữa sốt rét, giang mai, làm đẹp

Asen hay còn gọi là thạch tín có tính độc và nguy hiểm với môi trường, nhưng trong nhiều thế kỷ trước đây, nó đã được sử dụng như một loại thuốc. Asen cũng là một thành phần quan trọng trong nhiều loại thuốc được cấp bằng sáng chế, bao gồm cả sáng chế về chữa bệnh sốt rét và giang mai, được sử dụng từ cuối thế kỷ 18 đến những năm 1950. Một sáng chế nữa có chứa thành phần asen đã được cấp bằng đó là của Donovan, dùng để điều trị viêm khớp, đái tháo đường. Những người phụ nữ sống dưới thời Victoria cũng thường xuyên sử dụng thạch tín như một loại mỹ phẩm để làm đẹp.

Dùng chất thải để tránh thai

Thời Ai Cập cổ đại, biện pháp tránh thai phổ biến là sử dụng phân cá sấu khô. Phân khô được đưa vào âm đạo vì mọi người cho rằng nhiệt độ trong cơ thể sẽ làm phân mềm ra và tạo thành rào cản, tinh trùng không thể vượt qua. Do đó, khó có thể mang thai. Phân được sử dụng vào rất nhiều mục đích y tế khác. Ngoài Ai Cập, châu Phi cổ đại cũng sử dụng phân voi để làm biện pháp tránh thai. Vào thế kỷ 17, ở Anh, các bác sĩ khuyên người bệnh nên sử dụng phân gà để chữa bệnh hói đầu. Tại Ấn Độ, mỹ phẩm và thuốc tẩm phân bò được sử dụng như phương pháp hữu hiệu để chữa trị tất cả các loại bệnh. Một công thức chế từ phân nữa đó là để giảm đau họng, người ta trộn một hỗn hợp bao gồm các graecum (phân chó sấy khô), công thức này được ghi trong cuốn “Các công thức y học phổ biến, 1650 – 1850”. Thực tế, việc sử dụng phân làm thuốc gia tăng nguy cơ nhiễm khuẩn rất lớn. Không biết hiệu quả sử dụng những loại “thuốc” này đến đâu nhưng việc mắc thêm các căn bệnh khác là điều không tránh khỏi. Ngày nay, ô nhiễm nguồn nước bởi phân ở các nước đang phát triển ước tính làm tử vong 1,8 triệu ca mỗi năm.

Thủy ngân làm thuốc trường sinh

Thời xưa, thủy ngân là phương thuốc nổi tiếng chữa các bệnh: giang mai, khó tiêu và rất nhiều bệnh khác. Rất nhiều người nổi tiếng thời cổ đã dùng liệu pháp này: Tần Thủy Hoàng, người luôn coi thủy ngân là phương thuốc mang lại sự bất tử. Ngay cả Abraham Lincoln cũng từng có thói quen sử dụng thuốc có thành phần thủy ngân. Các nhà khoa học ngày nay cho biết, khi thủy ngân tích tụ trong máu đến một mức độ nhất định, các độc tố của thủy ngân có thể gây tê liệt, mất trí, mất kiểm soát hành vi, lở loét, thần kinh tổn thương và cuối cùng là tử vong. Vì vậy, nó hoàn toàn không phải là thần dược giúp trường sinh hay trẻ hóa như mọi người đã từng tin.

Sán dây giúp giảm cân

Trong thế kỷ 19, việc ăn kiêng đã trở thành mục tiêu kinh doanh lớn. Các chương trình quảng cáo thi nhau khuếch trương nhiều loại thuốc giúp quá trình ăn kiêng hiệu quả và thần tốc. Trong những năm 1900, chế độ ăn sán dây bắt đầu bùng nổ. Người ăn kiêng sẽ bổ sung sản phẩm có sán dây. Lý thuyết thời đó cho rằng, sán dây sẽ phát triển trong hệ đường ruột và tiêu thụ hết thức ăn, khiến ruột không hấp thu được nhiều dinh dưỡng. Điều này sẽ giúp giảm cân nhanh chóng nhưng đi kèm với đó là hiện tượng nôn mửa, tiêu chảy.  Khi đạt được trọng lượng mong muốn, người đó sẽ uống một liều thuốc tẩy ký sinh trùng sán dây, họ tin rằng như vậy sẽ tiêu diệt toàn bộ sán dây trong hệ đường ruột của mình. Nhưng phương pháp này chứa đựng rất nhiều rủi ro. Các nhà quảng cáo không cảnh báo cho họ biết rằng, sán dây có thể phát triển dài tới 9m và cũng có thể gây ra các bệnh: đau đầu, các vấn đề về mắt, viêm màng não, động kinh và mất trí nhớ.

Trinh nữ chữa bệnh STD

Có một quan niệm đáng lo ngại nhưng phổ biến trước đây cho rằng nếu một người bị nhiễm bệnh lây truyền qua đường tình dục (STD) thì bằng cách quan hệ với trinh nữ sẽ hoàn toàn khỏi bệnh. Từ thế kỷ 16, khi trường hợp đầu tiên mắc bệnh giang mai và bệnh lậu ở châu Âu, quan niệm này bắt đầu được hình thành và nhanh chóng lan truyền sang một số vùng của châu Phi. Có thể khẳng định rằng, quan niệm này hoàn toàn sai lầm. Việc không chữa trị bệnh tận gốc và sử dụng phương pháp quan hệ với trinh nữ càng làm cho STD phát triển ở mức báo động.

Bột xác ướp chữa bách bệnh

Thời Trung cổ ở châu Âu và Trung Đông, xác ướp được nghiền thành bột và sử dụng làm thuốc. Mọi người quan niệm loại “thuốc bột xác ướp” này chữa được bách bệnh: từ đau đầu, ho, viêm loét dạ dày, thậm chí còn được sử dụng để giải độc đối với các trường hợp ngộ độc. Đến thế kỷ 17, bác sĩ phẫu thuật người Pháp, Ambrose Pere đã công bố kết luận: loại “thuốc” này không những không tốt mà nó còn là nguyên nhân gây đau dạ dày, hơi thở có mùi hôi, thậm chí gây nôn mửa nghiêm trọng. Đó còn chưa kể đến những vi khuẩn gây bệnh tiềm tàng trong xác ướp.

  Minh Huệ

     (Theo LSV, 7/2013)

4 loại virut liên quan đến cơ chế sinh bệnh ung thư

Virut Epstein – Barr: Loại ung thư này đầu tiên thấy có mặt ở bệnh ung thư hàm dưới của trẻ em vùng Uganda (loại bệnh này do Epstein và Barr phân lập nên virut này được mang tên virut Epstein – Barr). Về sau người ta còn phân lập được loại virut này ở trong các khối ung thư vòm mũi họng, bệnh có nhiều ở các nước ven Thái Bình Dương đặc biệt là ở Quảng Đông, Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Ở nhiều bệnh ung thư vòm còn thấy kháng thể chống lại kháng nguyên của virut Epstein – Barr. Tuy nhiên, người ta chưa khẳng định vai trò gây bệnh trực tiếp của virut Epstein – Barr đối với ung thư vòm mũi họng. Trong dân chúng tỷ lệ nhiễm loại virut này tương đối cao nhưng số trường hợp ung thư vòm không phải là nhiều. Hướng nghiên cứu về virut Epstein – Barr đang còn tiếp tục và đặc biệt ứng dụng phản ứng IgA kháng VCA để tìm người có nguy cơ cao nhằm chủ động phát hiện sớm ung thư vòm mũi họng.

Ngăn chặn cách gì? 1
 Hình ảnh virut Epstein – Barr gây ung thư vòm mũi họng.

Virut viêm gan B: Gây ung thư gan nguyên phát hay gặp ở châu Phi và châu Á trong đó có Việt Nam. Virut này khi thâm nhập cơ thể gây viêm gan cấp, kể cả nhiều trường hợp thoáng qua. Tiếp theo là một thời kỳ dài viêm gan mạn tiến triển không có triệu chứng. Tổn thương này qua một thời gian dài sẽ dẫn đến hai biến chứng đó là xơ gan toàn bộ và ung thư tế bào gan. Điều này phần nào giải thích sự xuất hiện nhiều ổ nhỏ trong ung thư gan và tính chất tái phát sớm sau cắt gan. Ngoài ra, xơ gan đã làm cho tiên lượng của bệnh ung thư gan xấu đi rất nhiều. Việc khẳng định virut viêm gan B gây ung thư gan giữ vai trò rất quan trọng. Nó mở ra một hướng phòng bệnh tốt bằng cách tiêm chủng chống viêm gan B. Phát hiện người mang virut bằng xét nghiệm HBsAg (+) và những người này nên dùng vaccin.

Virut gây u nhú thường truyền qua đường sinh dục: Loại này được coi là có liên quan đến các ung thư vùng âm hộ, âm đạo và cổ tử cung, các nghiên cứu đang tiếp tục.

Virut HTLV1 là loại virut (Retro virut) liên quan đến gây bệnh bạch cầu tế bào T gặp ở Nhật Bản và vùng Caribê.

Ký sinh trùng và vi khuẩn có liên quan đến ung thư

Khuyến cáo của thầy thuốc

Loại trừ tác nhân sinh học liên quan đến ung thư bằng lối sống khoa học; vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường tốt.

Cần đến thầy thuốc khi đau ốm để được điều trị đúng, sớm và triệt để, loại trừ các yếu tố nguy cơ gây ung thư.

Chỉ một loại ký sinh trùng được coi là nguyên nhân gây ung thư, đó là sán Schistosoma. Loại sán này thường có mặt với ung thư bàng quang và một số ít ung thư niệu quản ở những người Ảrập vùng Trung Đông, kể cả người Ảrập di cư. Cơ chế sinh ung thư của loại sán này hiện chưa được giải thích rõ.

Loại vi khuẩn đang được đề cập đến vai trò gây viêm dạ dày mạn tính và ung thư dạ dày là vi khuẩn Helicobacter Pylori. Các nghiên cứu đang được tiếp tục nhằm mục đích hạ thấp tác hại Helicobacter Pylori và giảm tần số ung thư dạ dày, đặc biệt là ở các nước châu Á.

Dự án PCUTQG, Bệnh viện K TW

Một nghiên cứu gần đây của Đại học Illinois, Mỹ cho thấy, khối di căn ung thư trực tràng ở chuột giảm thiểu đáng kể khi được tiêm hợp chất lunasin peptide từ đậu nành.

Elvira de Mejia, giáo sư về công nghiệp thực phẩm và nhiễm độc thực phẩm cho biết: “Trong nghiên cứu mới này, chúng tôi thấy rằng cho động vật thí nghiệm uống lunasin với liều lượng 20mg/kg trọng lượng cơ thể làm giảm đến 94% số lượng các khối u di căn. Từ 18 khối u, đến giờ chỉ còn 1. Và chúng tôi chỉ dùng lunasin mà không sử dụng một phương pháp điều trị nào khác”.

Các nhà khoa học lên kế hoạch thực hiện lại thí nghiệm với liều lượng lunasin 30mg/kg khi có được nguồn trợ cấp, bởi còn một khối u vẫn là quá nhiều. Điều này thôi thúc các nhà khoa học nghiên cứu một liều uống phù hợp của loại peptide này. Vì xét cho cùng, đậu nành là một loại thực phẩm nên lunasin có thể được tiêu hóa, điều quan trọng là tìm ra lượng vừa đủ cần đưa vào cơ thể để đạt được nồng độ cần thiết của chất này trong máu.

Theo GS. Mejia, cần có những thử nghiệm trên người để xác minh kết quả nghiên cứu tiền lâm sàng. Song, rõ ràng là ăn protein từ đậu nành thường xuyên không chỉ giúp chúng ta có đầy đủ dưỡng chất mà còn phòng bệnh ung thư.           

       Phương Hà

    (Theo Science Daily,7/2013)

Horton là bệnh viêm động mạch khu trú chủ yếu ở động mạch thái dương nông. Đây là loại bệnh có nguy cơ gây nguy hiểm đối với thị giác, song nếu ta triển khai điều trị một cách kịp thời và đúng phương pháp thì có thể loại trừ được nguy cơ nguy hiểm này.

Nguyên nhân gây bệnh Horton

Có nhiều thuyết khác nhau về bệnh Horton: Horton và Frangenheim cho rằng, bệnh do vi khuẩn đặc hiệu nên xếp vào nhóm bệnh u hạt nhiễm khuẩn (granulome infecteeusr); Zeek, Morrison Abithol cho là dị ứng quá mẫn nên xếp vào nhóm những bệnh mạch máu do dị ứng; Miehlke lại xếp vào nhóm bệnh tạo keo. Gần đây, Sauerruch, Dorstelman… thiên về giả thiết Horton là bệnh tự miễn; một số tác giả cho là di truyền, do virut viêm gan B và Treponema pallidum.

Cơ chế gây bệnh chưa được xác định rõ nhưng nhiều giả thuyết đã thừa nhận yếu tố di truyền theo gen và cơ chế tự miễn dịch thông qua một số xét nghiệm đặc hiệu; Do hiện tượng tự miễn dịch làm viêm lớp chun trong của nhiều động mạch, đặc biệt là động mạch thái dương nông và các nhánh của động mạch cảnh ngoài.

Một số biểu hiện bệnh

Bệnh khởi phát và tiến triển kín đáo. Các triệu chứng về mắt gặp nhiều theo thứ tự là: phù nề gai thị; tắc động mạch võng mạc trung tâm; nhìn đôi; thị trường thu hẹp; ám điểm trung tâm, đau hố mắt. Kèm theo các biểu hiện: nhức đầu, đau cơ khớp, đau vùng thắt lưng, cơ đai vai; sốt; hội chứng thiếu máu…

Cách nhận biết viêm động mạch khu trú thái dương 1
Hình ảnh viêm động mạch thái dương.

Đau đầu, nhất là ở vùng thái dương: đau đầu là triệu chứng nổi bật nhất, điển hình là đau ở vùng thái dương, thường là đau một bên, đôi khi cả hai bên. Cơn đau xuất hiện một cách tự nhiên hay do một kích thích dù chỉ là rất nhẹ vào da đầu như chải đầu, đeo kính, gội đầu… Ðau có tính chất dai dẳng, cảm giác tê buốt như kim châm dưới da đầu, từ vị trí khởi điểm ở thái dương đau có thể lan ra cả vùng trán, hốc mắt hoặc đỉnh chẩm cùng bên, đau tăng lên khi lạnh, đau nhiều về đêm làm bệnh nhân mất ngủ. Thỉnh thoảng có những cơn đau kịch phát dữ dội như khoan, dùi ở vùng thái dương làm người bệnh không chịu nổi phải lấy tay ôm đầu vật vã, kêu la, mỗi cơn đau kịch phát này kéo dài 2 – 3 giờ, trung bình 1 – 2 cơn/ngày. Quan sát thấy vùng thái dương của bệnh nhân hơi sưng nề, da đỏ, sờ vào nóng hơn các vùng khác, đồng thời có cảm giác thấy một đoạn mạch máu dày, cứng, ngoằn ngoèo, mạch đập yếu hoặc không đập, ấn rất đau. Đau tăng lên khi lạnh, đau nhiều về đêm làm bệnh nhân mất ngủ.

Tất cả những triệu chứng trên là biểu hiện của viêm động mạch thái dương nông, tuy nhiên ở đầu ngoài động mạch thái dương bị tổn thương thì một số động mạch khác như động mạch mắt, chẩm và động mạch mặt cũng bị viêm làm cho bệnh nhân đau.

Tổn thương động mạch mắt, chẩm và đặc biệt là động mạch mặt cũng bị viêm gây thiếu máu cục bộ ở những cơ nhai làm cho bệnh nhân đau nhiều khi nhai, giảm hoặc hết đau khi ngừng nhai. Người ta gọi đây là triệu chứng khập khễnh của hàm. Ngoài ra, một số bệnh nhân còn đau cả lưỡi, họng, nuốt, nói khó do tổn thương những động mạch chi phối vùng đó.

Triệu chứng ở mắt: những biểu hiện thường gặp là sợ ánh sáng, nhìn đôi, lác mắt (do liệt cơ vận nhãn), mù thoảng qua, màn sương mù trước mắt, ảo thị, rối loạn thị trường… và cuối cùng là mù hẳn. Những biến chứng này có thể xuất hiện đột ngột, tiến triển nhanh, không hồi phục làm mất thị lực chỉ trong vòng vài giờ đến vài ngày nếu không được điều trị kịp thời.

Mất ngủ, chán ăn, gầy sút và sốt, đôi khi hâm hấp sốt, có khi sốt rất cao. Suy nhược, chán ăn, gầy sút.

Giả viêm đa khớp gốc chi: có dấu hiệu thâm nhiễm viêm ở những cơ đai, nhất là đai vai: đau cân đối hai bên, có khi bệnh nhân phải nằm liệt giường nhưng không hạn chế vận động các khớp và không có tổn thương xương khớp trên hình ảnh Xquang; rất nhạy cảm với những thuốc chống viêm corticoid và không corticoid.

Một số bệnh nhân chỉ có duy nhất một triệu chứng sốt đơn độc kéo dài mà không tìm thấy nguyên nhân gì. Một số trường hợp khác lại có biểu hiện giả viêm đa khớp gốc chi, người bệnh đau nhiều khớp, đặc biệt là đau khớp vai hai bên, song không bị hạn chế vận động khớp, những dấu hiệu viêm khớp này thường xuất hiện trước hoặc đi kèm theo triệu chứng đau đầu.

Các triệu chứng khác ít gặp và dễ nhầm với các bệnh khác như: nhồi máu não, viêm dây thần kinh, phồng động mạch chủ, thiểu năng động mạch chủ hay động mạch vành; bệnh phế quản, phổi; viêm động mạch ngoài sọ và trong sọ, viêm động mạch ở các chi. Bệnh Horton dễ bị bỏ sót ở các thể bệnh như: toàn thân suy sụp dần; sốt đơn thuần kéo dài; đi khập khiễng cách hồi; cơn đau thắt hay tai biến thiếu máu cục bộ ở những cơ quan do ngành lớn hay thân động mạch chủ chi phối.

Tuy nhiên, để chẩn đoán chính xác bệnh Horton ở NCT thì cần phải làm thêm một số xét nghiệm như máu lắng tăng, rối loạn đông máu, rối loạn miễn dịch và đặc biệt là sinh thiết động mạch thái dương có chọn lọc dựa trên siêu âm Doppler hoặc chụp động mạch cảnh ngoài để kết quả chính xác hơn.

Điều trị bệnh càng sớm càng tránh được nhiều biến chứng

 Điều trị bệnh Horton, thuốc corticoid (như prednison, solu-medrol) là biện pháp điều trị duy nhất có hiệu quả, điều trị bằng corticoid càng sớm thì càng tránh được những biến chứng về mắt cho NCT, có thể nói khi người thầy thuốc đã nghi ngờ là bệnh Horton thì không cần chờ kết quả sinh thiết động mạch thái dương nữa mà nên điều trị corticoid ngay cho bệnh nhân.

Liệu pháp corticoid là biện pháp điều trị duy nhất có hiệu quả. Những biến chứng nguy hiểm của bệnh Horton có thể tránh được nếu bắt đầu điều trị nhanh, coi như cấp cứu khi đã xuất hiện những tổn thương về mắt. Chỉ khi nào thị lực mới mất một phần thì liệu pháp corticoid còn có khả năng hồi phục thị lực, nhưng đã mất hoàn toàn thị lực thì không hồi phục.

Hiệu quả điều trị có tác dụng ngay, giảm sốt, giảm đau trong ngày; viêm nhiễm giảm dần và tốc độ lắng hồng cầu trở lại bình thường trong 1 – 2 tháng. Phải dùng corticoid hằng ngày, một lần vào buổi sáng, còn nếu dùng cách nhật kém hiệu quả.

Trong một số trường hợp, người ta có thể dùng một vài thuốc khác như dapson hoặc thuốc chống viêm non-steroid kết hợp với corticoid trong giai đoạn điều trị củng cố. Ngoài ra, nếu có viêm các động mạch lớn thì phải dùng cả thuốc chống đông để dự phòng huyết khối. Tuy nhiên, không được tự ý dùng thuốc corticoid mà phải dùng theo chỉ dẫn của bác sĩ chuyên khoa.    

   BS. Nguyễn Anh Tuấn