Author Archives: dungntk

Các nhà nghiên cứu Đại học Warwick, Anh cho biết, xét nghiệm máu ngay những tháng đầu của thai kỳ giúp xác định gen lỗi – nguyên nhân gây trầm cảm ở phụ nữ sau khi sinh.

Nghiên cứu được tiến hành với 200 sản phụ, GS. Grammatopoulos, trưởng nhóm nghiên cứu thuộc Trường đại học Warwick cho biết, sản phụ có sai sót trong hai gen gây căng thẳng có nguy cơ cao gấp 3 – 5 lần phát triển trầm cảm. Nguyên nhân do họ ít có khả năng khôi phục lại sự cân bằng hormon sau khi mang thai. Việc phát hiện sớm nguy cơ trầm cảm sẽ giúp sản phụ có biện pháp điều trị phù hợp, tránh để người mẹ rơi vào trạng thái mệt mỏi, ức chế, buồn chán, thất vọng về bản thân nặng nề sẽ không tốt cho cả em bé. Các nhà khoa học cũng khuyến cáo, việc điều trị ngay từ giai đoạn đầu khi phát hiện trầm cảm cũng cần phải tuân thủ nghiêm ngặt chỉ định của bác sĩ khi dùng thuốc.

M. Huệ

      (Theo Daily Mail, 7/2013)

Hai loại thuốc clomiphene (trị vô sinh) và toremifene (trị ung thư vú) có tác dụng rất tốt trong việc giảm bệnh viêm nhiễm bởi virut Ebola, đặc biệt là ngăn ngừa việc truyền RNA của loại virut này vào trong cytoplasm tế bào con người. Đó là kết luận rút ra từ nghiên cứu trên chuột do nhóm chuyên gia ở ĐH Virginia, Mỹ thực hiện và công bố trên tạp chí Science Translatinal số ra đầu tháng 7 vừa qua. Theo nghiên cứu, 2 loại thuốc nói trên có tác dụng phong bế Ebola hóa lỏng với màng tế bào và chặn đứng quá trình truyền RNA của Ebola và một khi cơ chế này được “đóng lại” thì Ebola sẽ bị vô hiệu hóa.

      KHẮC NAM (Theo FC, 7/2013)

Mụn là bệnh do nang lông – tuyến bã ở da hoạt động thái quá làm tiết nhiều bã nhờn trong khi miệng nang lông lại bị bít kín do tăng sừng hóa, chất bã nhờn bị ứ đọng lại ở lỗ chân lông tạo thành nhân mụn. Khi nhân mụn thành hình, thường có sự phát triển, tăng sinh một loại vi khuẩn ở lỗ chân lông gây nên tình trạng viêm đỏ của mụn mủ.

Theo y học cổ truyền, mụn nhọt là do hỏa độc gây ra, một số trường hợp hay tái phát do tình trạng nhiễm khuẩn mà y học cổ truyền gọi là nhiệt huyết.

Bài thuốc trị mụn nhọt mùa nóng 1
 Mùa nóng, trẻ em dễ bị mụn nhọt.

Khi mụn nhọt phát sinh có các triệu chứng: tại chỗ có sưng, nóng, đỏ, đau, toàn thân có kèm theo sốt, mạch nhanh, rêu lưỡi trắng dày. Nếu không chữa hoặc không chữa khỏi sẽ thành ổ mủ, dần dần vỡ mủ (nếu mụn nhọt dưới da dày thì khó vỡ mủ) rồi liền da thành sẹo.

Ứng với mỗi giai đoạn, có bài thuốc riêng để điều trị.

Giai đoạn viêm nhiễm (khởi phát): mụn nhỏ hình thành, ngứa, nóng, muốn gãi, giai đoạn này dùng phương pháp thanh nhiệt giải độc, tiêu viêm.

Bài thuốc: kinh giới 8g, kim ngân hoa 20g, ké đầu ngựa 16g, thổ phục linh 12g, đỗ đen sao 40g, cam thảo dây 8g, vòi voi 12g, cỏ xước 12g, cho 750ml nước vào sắc kỹ còn 250ml chia uống 3 lần trong ngày.

Giai đoạn hóa mủ: mụn sưng tấy thành nhọt bọc có mủ, nóng, đỏ, sốt. Dùng phương pháp thác độc bài nùng (đưa độc ra ngoài, trừ mủ).

Bài thuốc: kim ngân hoa 20g, liên kiều 12g, hoàng cầm 12g, gai bồ kết (tạo giác) 12g, bồ công anh 16g, trần bì 6g, bối mẫu 8g, cam thảo 4g. Cho 750ml nước sắc kỹ còn 250ml chia uống 3 lần trong ngày.

Bài thuốc trị mụn nhọt mùa nóng 2
 Kim ngân hoa.

Giai đoạn vỡ mủ: dùng phương pháp khử hư sinh cơ (làm mất các tổ chức hoại tử, làm liền da).

Bài thuốc: uất kim 16g, đương quy 12g, hoàng kỳ 16g, sinh địa 12g, huyền sâm 12g, đan bì 8g, đảng sâm 16g, kim ngân hoa 16g, cam thảo 6g. Cho 750ml nước vào sắc kỹ còn 250ml chia uống 3 lần trong ngày.

Giai đoạn vỡ mủ phải thường xuyên rửa sạch, lau khô bằng gạc vô khuẩn để tránh tái nhiễm, nhiễm khuẩn.      
 
Lương y Vũ Quốc Trung

Hiện nay có nhiều độc giả viết thư hỏi: Ở vùng miền núi có một loại nấm giống nấm linh chi được người dân hái trên các loại cây gỗ trong rừng đem về dùng hoặc bán với lời quảng cáo là đây là nấm linh chi tự nhiên, có tác dụng như nấm linh chi được bán tại các cơ sở y học cổ truyền. Xin tòa soạn cho biết đây có phải là nấm linh chi không và có công dụng chữa bệnh như nấm linh chi thật không ? Báo Sức khỏe&Đời sống xin đăng phần trả lời của Thạc sĩ Hoàng Khánh Toàn – Chủ nhiệm Khoa Đông y, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 để bạn đọc tham khảo.

Trong vài chục năm gần đây, trên thị trường Đông dược nước ta, nấm linh chi và các chế phẩm của nó được lưu hành và tiêu thụ hết sức rộng rãi, nhưng chủ yếu là xích chi (Ganoderma lucidum) và tử chi (Ganoderma japonicum), hai loại đã dùng làm thuốc từ lâu đời và được nghiên cứu hiện đại tương đối đầy đủ. Trên thực tế, kết quả thống kê cho thấy chủng loại linh chi là rất phong phú, ước tính toàn thế giới có 104 loài linh chi. Riêng Trung Quốc có 84 loài, trong đó chỉ có 12 loài được dùng làm thuốc như xích linh chi, tử linh chi, hắc linh chi (G. atrum), bạc thụ chi (G. capense), mật văn bạc chi (G.tenue), tùng sam linh chi (G. tsugae), thụ thiệt…

Không phải nấm linh chi nào cũng chữa được bệnh 1Loại nấm giống nấm linh chi mà người dân miền núi đang sử dụng.

Nếu xích chi và tử chi đã được bàn đến rất sâu sắc trong các y thư cổ như Bản thảo cương mục, Biệt lục, Bản thảo kinh tập chú, Dược tính luận, Tân tu bản thảo… về phương diện dược tính và công năng chủ trị, đồng thời nghiên cứu hiện đại về dược lý và lâm sàng cũng rất phong phú và toàn diện thì các loại nấm linh chi khác cho đến nay chưa có số liệu khảo sát về lâm sàng và độc tính.

Theo quan sát trên hình ảnh, có thể tạm thời nhận định đây cũng là một loại nấm linh chi nhưng không phải là loại đã được nghiên cứu và sử dụng rộng rãi. Như trên đã nói, nấm linh chi là một loại dược liệu qúy đã được dùng để trị bệnh và bảo vệ sức khỏe từ lâu đời. Tuy nhiên không phải  bất cứ loại linh chi nào cũng được dùng để làm thuốc. Theo kinh nghiệm của cổ nhân và kết quả nghiên cứu của khoa học hiện đại, trong hơn 100 loài linh chi chỉ có một số rất ít được dùng để chữa bệnh, trong đó đặc biệt thông dụng là linh chi chuẩn hay còn gọi là xích chi và tử chi, hai loại đã được khảo sát khá kỹ về dược lý và lâm sàng.

Vậy nên, câu trả lời trước mắt là với loại nấm này, trước khi sử dụng, rất cần phải được đưa đến các cơ sở nghiên cứu dược liệu và lâm sàng hiện đại để xác định rõ tên khoa học, vì với nhiều loại nấm linh chi việc xác định tên khoa học là hết sức khó khăn (riêng xích chi cũng đã có 45 thứ không dễ xác định) và nghiên cứu tính hiệu quả và tính an toàn của nó. Hơn nữa, người tiêu dùng và người bệnh cũng cần phải hết sức cảnh giác với việc gian thương nhân cơ hội “cơn sốt nấm linh chi” sản xuất hàng giả và tự đặt giá để trục lợi kiếm lời. Không khéo, chuyện “tiền mất tật mang”, chi phí bạc triệu để đổi lấy “nấm mục”, thậm chí độc hại sẽ trở thành hiện thực rõ ràng. 

Thạc sĩ Hoàng Khánh Toàn

Khoai tây là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, nhưng lại chứa chất acrilamit, chất này sẽ gây độc hại cho sức khỏe khi đun ở nhiệt độ cao. Không những vậy, khoai tây Trung Quốc có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật chlorpyrifos cao hơn nhiều lần  mức cho phép của Bộ Y tế đang tràn lan trên thị trường cũng làm người tiêu dùng hoang mang. Vậy, sử dụng khoai tây thế nào cho an toàn?

Nhiều dinh dưỡng

Khoai tây có giá trị dinh dưỡng cao. Protein trong khoai tây thậm chí tốt hơn thành phần protein có trong đậu nành bởi chúng khá tương đồng với protein trong động vật, lượng lysine và trytophan phong phú trong khoai tây nhiều hơn bất cứ loại rau củ khác.

Chế biến  khoai tây sao cho an toàn? 1

Gọt vỏ và ngâm kỹ khoai tây trong nước trước khi chế biến để giảm hàm lượng acrilamit.

Khoai tây cũng giàu canxi, magie, kẽm, kali, sắt giúp ngăn ngừa vỡ mạch máu não; hàm lượng protein và vitamin C cao gấp 10 lần táo; vitamin B1, B2, sắt và phốt pho cũng cao hơn nhiều so với thành phần tương tự trong táo. Ngoài ra, khoai tây rất hiệu quả trong việc điều trị các chứng loét dạ dày, táo bón mạn tính, ho, sốt, eczema và đặc tính chữa lành da. Cellulose trong khoai tây không gây kích thích niêm mạc dạ dày, giúp giảm bớt những cơn đau dạ dày và giảm tiết lượng axit.

Cách sử dụng khoai tây an toàn

Chất acrilamit được tìm thấy trong một số loại của quả đặc biệt là khoai tây. Chất này sẽ trở nên rất độc hại cho sức khoẻ khi ở nhiệt độ cao.

Nếu là người thích các món ăn chế biến từ khoai tây, đặc biệt là khoai tây rán, chế biến khoai tây vừa đảm bảo sức khỏe vừa có món ăn “khoái khẩu”. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học Anh, có thể giảm chất acrilamit trong khoai tây bằng cách hãy gọt vỏ và ngâm kỹ khoai tây trong nước trước khi chế biến.

Theo đó, khi gọt vỏ khoai tây giúp giảm 23% chất acrilamit có trong loại củ này. Ngâm khoai từ 30 – 120 phút giảm được từ 38 – 48% chất độc hại này.

Tuy có thể giảm được một khối lượng lớn chất acrilamit trong khoai tây nhưng không nên ăn khoai tây hàng ngày và ăn quá nhiều trong mỗi lần ăn. Nên cân đối các món ăn này trong các bữa ăn và không nên dùng nhiều hơn 2 bữa với khoai tây mỗi tuần.

Nguyệt Minh

 

Mới đây, lực lượng kiểm tra liên ngành TP. Đà Lạt đã phát hiện kho hàng của bà Nguyễn Thị Nguyệt (sinh năm 1969), tại tổ Thái An, phường 12, Đà Lạt, có chứa 52 tấn khoai tây (26 tấn khoai vàng, 26 tấn khoai hồng) xuất xứ Trung Quốc. Cả 2 lô khoai tây nhập khẩu từ Quảng Tây, Trung Quốc này đều có giấy chứng nhận kiểm dịch và kiểm tra an toàn thực phẩm của Chi cục Kiểm dịch thực vật vùng VII.

Đoàn kiểm tra đã lập biên bản 2 mẫu khoai tây gửi Chi cục Bảo vệ thực vật Lâm Đồng để phân tích nhanh dư lượng thuốc bảo vệ thực vật. Kết quả cho thấy, mẫu khoai tây hồng có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật chlorpyrifos gấp 16 lần mức cho phép của Bộ Y tế. Cơ quan chức năng đã quyết định cho tiêu hủy ngay 26 tấn khoai tây hồng nhiễm độc nói trên. Ngoài tịch thu lượng hàng vi phạm, chủ hàng cũng đã bị xử phạt hành chính.

Theo một nghiên cứu được đăng trên tạp chí tim mạch của Mỹ, những người béo bụng có nguy cơ mắc các bệnh tim mạch và ung thư cao hơn những người bị béo ở các bộ phận khác, dù họ có cùng chỉ số BMI.

Các nhà nghiên cứu xem xét vùng phát phì ở vùng bụng dưới, xung quanh các mô cơ tim và xung quanh động mạch chủ của 3.086 tình nguyện viên và theo dõi các vấn đề về tim mạch và ung thư của họ trong 7 năm. Độ tuổi trung bình của các tình nguyện viên là 50 và gần một nửa trong số đó là phụ nữ.

Mỗi tình nguyện viên đều được kiểm tra bằng máy quét CT để phát hiện các vùng tích tụ mỡ. Sau khoảng thời gian theo dõi, các nhà khoa học xem xét các nguy cơ bệnh tim mạch, ung thư và tử vong của họ trong khi đã loại bỏ các yếu tố gây bệnh phổ biến. Tổng kết lại, có tất cả 90 người mắc bệnh tim mạch, 141 người bị ung thư và 71 người tử vong.

Theo các nhà khoa học, sự xuất hiện của béo bụng gia tăng tỷ lệ mắc bệnh tim mạch, củng cố thêm giả thiết phát phì vùng bụng có mối liên hệ sâu xa với bệnh tim mạch và ung thư.

Phương Hà  (Theo Science Daily, 10/7/2013)

 10 lợi ích của việc dậy sớm 1

Đạt điểm số cao hơn

 

Trong một nghiên cứu của đại học Texas năm 2008, những sinh viên được biết đến là “con  người của buổi sáng” có điểm số cao hơn hẳn những con “cú đêm”. Một kết quả học tập tốt sẽ đem đến những cơ hội nghề nghiệp hấp dẫn hơn.

 

Chủ động hơn

 

Nhà sinh học Christoph Randler, từ Havard, đã khám phá ra những người thức dậy sớm thường chủ động hơn. Họ có xu hướng dành thời gian để xác định những mục tiêu lâu dài của bản thân

cũng như có trách nhiệm, tự tin vào công việc mình làm.

 

Lường trước vấn đề

 

Nghiên cứ của Randler cũng tiết lộ những con người của buổi sáng có khả năng lường trước vấn đề, từ đó giảm thiểu nguy cơ và dẫn đến nhiều thành công hơn.

 

Lập kế hoạch

 

Dậy sớm giúp chúng ta có một buổi sáng yên tĩnh để sắp xếp, thiết lập mục tiêu và lên kế hoạch tốt hơn cho những ngày hoặc tuần tiếp theo.

 

Thời gian cho tập thể dục

 

Rất nhiều doanh nhân thành đạt dậy sớm để tập thể dục (trước khi các thành viên trong gia đình thức giấc và ngày làm việc của họ bắt đầu). Lợi ích của việc tập thể dục đã được mọi người công nhận từ lâu, nhất là thể dục buổi sáng. Nó không chỉ giúp tăng cường sức khỏe cả về thể chất lẫn tinh thần, cung cấp năng lượng cho cả ngày làm việc mà còn tạo ra giấc ngủ sâu hơn.

 

Ngủ sâu hơn

 

Các chuyên gia về giấc ngủ nói rằng nếu bạn ngủ sớm, dậy sớm, cơ thể sẽ hòa hợp với nhịp điệu sinh học của trái đất, từ đó giấc ngủ sâu hơn.

 
10 lợi ích của việc dậy sớm 2

Lạc quan

 

Nhiều nghiên cứu khác nhau đều đi đến một kết luận những người dậy sớm có tính cách lạc quan, dễ chịu, hài lòng và tận tâm. Còn những con cú đêm, một mặt biểu hiện trí thông minh và khả năng sáng tạo, mặt khác có xu hướng trầm cảm, bi quan, và rối loạn thần kinh.

 

Di chuyển dễ dàng

 

Lẽ dĩ nhiên, dậy sớm, đi làm sớm giúp chúng ta tránh gặp phải các vấn đề đi lại như tắc đường,khói bụi.

 

Một giờ yên tĩnh

 

Những người đến cơ quan sớm sẽ có khoảng 1 đến 2 giờ thực sự yên tĩnh để tập trung làm việc. Đó là một trải nghiệm thực sự thú vị.

 

Thời gian dành cho gia đình

 

Nếu hoàn thành tất cả công việc trong ngày, bạn sẽ có được khoảng thời gian thực sự thư thái dành cho gia đình. Thay vì mang việc về nhà, bạn có thể hoàn toàn thư giãn và giải phóng tâm trí.

 

Những lợi ích của việc thức dậy sớm là không thể chối cãi, nhưng để thực hiện lại là một chuyện không hề dễ dàng, nhất là với những người có thói quen làm việc ban đêm. Bạn cần kiên quyết với bản thân mình hơn nữa nếu muốn đạt thành công thực sự mà không tổn hại đến sức khỏe quý giá.


Theo Dân trí

Nhiều loại rau quả giúp cơ thể chúng ta giải độc rất hiệu quả nếu biết cách sử dụng.

Có rất nhiều phương cách “đao to, búa lớn” nhằm giúp cơ thể “dọn dẹp” các độc tố ở ruột, máu, gan và các cơ quan bộ phận khác của cơ thể. Tuy nhiên, đôi khi cách đơn giản và hiệu quả nhất là giữ gìn sức khỏe, cố gắng đưa những loại thực phẩm có tác dụng khử độc vào cơ thể. Dưới đây là những loại thực phẩm “quyền lực” nhất có chức năng giải độc sẽ giúp bạn và gia đình thoát khỏi bệnh tật và những bệnh do độc tố trong cơ thể gây ra.
Khử độc cơ thể bằng rau quả 1

Ăn nhiều rau củ quả rất tốt cho cơ thể. Ảnh: HỒNG THÚY

– Tỏi: Không thể chối cãi vai trò của tỏi trong nghệ thuật chế biến thức ăn. Tỏi cũng là một trong những loại thực phẩm có chức năng giải độc “thượng thừa” mà ai cũng có thể ăn. Công trạng sáng giá nhất của tỏi là giúp gan sản xuất ra một loại enzyme vốn đóng vai trò quan trọng cho việc sản xuất ra chất glutathione. Chất glutathione là “mẹ của tất cả các chất chống ôxy hóa”. Ngoài ra, tỏi cũng có vai trò hỗ trợ cơ thể sản xuất ra những hợp chất sulfur và selenium vốn là 2 chất đóng vai trò vô cùng quan trọng trong tiến trình khử độc cho cơ thể.
Không những thế, tỏi còn có đặc tính của 1 kháng sinh phổ rộng có tác dụng kháng các loại vi sinh vật gây hại. Tỏi “giữ bản quyền” cho 39 đặc tính “ăn tiền” về các “hạng mục” như kháng nấm, kháng vi khuẩn, kháng ký sinh trùng, kháng virus… Ăn tỏi đều đặn có thể giúp cơ thể khắc phục những tổn thương bị gây ra bởi thực phẩm nghèo dinh dưỡng, ô nhiễm môi trường, ngộ độc thực phẩm, dược phẩm, stress, bức xạ, lão hóa và những nguồn độc chất khác…
– Rau cải xanh: Được phong là “siêu thực phẩm”. Những loại rau cải xanh như cải xoăn, rau bina (spinach), cải bó xôi… là một kho chứa diệp lục tố (chlorophyll) vốn được gọi là “ma thuật xanh của thiên nhiên”. Chất chlorophyll cũng được xem là “máu” của thực vật. Trong cơ thể con người, chất chlorophyll cũng có vai trò kiến tạo máu và thanh lọc máu, giúp cơ thể tái tạo những tế bào mới. Chlorophyll cũng có tác dụng kìm hãm sự tăng trưởng của những vi khuẩn độc hại tá túc trong cơ thể.
– Trái cây họ citrus: Bao gồm chanh, cam, bưởi, quýt… là những loại trái cây có chức năng khử độc tuyệt vời. Ngoài việc kích thích hệ tiêu hóa, giúp tạo ra các men tiêu hóa, các trái cây họ citrus rất giàu vitamin C vốn là chất chống ôxy hóa “khét tiếng” nhất xưa nay.
Nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy vitamin C có thể “hóa giải” những độc tố gây hại cho cơ thể, những độc tố này được tạo ra do sử dụng các loại thuốc giảm đau kháng viêm không Steroid NSAIDs (non-steroidal, anti-inflammatory drugs) hoặc những loại dược phẩm khác.
– Rau cải ăn sống: Bao gồm bông cải xanh (broccoli), hành củ, bắp cải, măng tây, atisô, cà rốt, bông cải trắng, củ dền, củ nghệ. Những loại thực phẩm này sẽ giúp cơ thể ngăn chặn sự tích lũy của những độc tố. Cũng giống như tỏi, những loại rau cải kể trên rất giàu các hợp chất sulfur thiên nhiên mà gan rất cần dùng để loại bỏ độc tố và cải thiện tế bào gan. Ăn một khối lượng lớn hằng ngày các loại rau cải này có thể sẽ gặp khó khăn ở một số người, do vậy ép lấy dịch của chúng để sử dụng cũng là một cách thay thế tốt.
– Quà tặng từ đại dương: Các loại rong, tảo, rau câu là những loại thực phẩm giúp cơ thể cải thiện nồng độ kiềm. Khi cơ thể có quá nhiều acid thì sẽ tạo điều kiện cho độc tố hoành hành.  Các loại rong biển, tảo biển như spirulina và chlorella là những loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao “kiêm” chức năng giải độc tuyệt vời. Chúng có tác dụng hút các độc tố có trong thành ruột như một máy hút bụi rồi trục xuất các độc tố ấy ra khỏi cơ thể. Rong tảo biển cũng chứa các loại vi khoáng và các chất dinh dưỡng giúp cơ thể tăng cường chức năng khử độc. Khi chọn mua rong tảo biển, cần chọn những nhà cung cấp có uy tín. Gần đây, thảm họa phóng xạ ở Fukushima cũng ảnh hưởng đến chất lượng rong tảo và gây ra những mối lo ngại khi sử dụng chúng. Vì vậy, nên chọn lựa những loại rong tảo đã qua sự kiểm định.
Các loại hạt như hướng dương, quả óc chó, dầu hạt lanh… có rất nhiều omega-3. Dầu từ các loại hạt này có tác dụng bôi trơn thành ruột và nhận diện các độc tố có trong ruột nhằm “mách nước” cho cơ thể loại bỏ độc tố.
Theo Người lao động

Ngoài giá trị dinh dưỡng cao thì đậu tương còn có giá trị phòng và chữa bệnh như: giảm cholesterol máu, hạ huyết áp, phòng ngừa cục máu đông,… từ đó hỗ trợ điều trị đột quỵ não (ĐQN).

Đậu tương là loại thực phẩm giàu protein và lipid, cung cấp đầy đủ các vitamin, muối khoáng, axit amin cần thiết cho cơ thể và thường được dùng làm nguyên liệu để chế biến thành các món ăn rất bổ dưỡng như: tương, đậu phụ, sữa đậu nành, tào phớ,… Sau đây là một số món ăn bổ dưỡng có tác dụng trị bệnh từ đậu tương:

– Món ăn hỗ trợ điều trị tăng huyết áp: Đậu phụ 300g, nấm hương 30g, măng tươi 3g, rau cải 10g, nấu thành canh ăn hàng ngày.

– Món ăn giúp giảm cân, điều trị rối loạn mỡ máu: Đậu phụ 200g, giá đậu tương 250g, cải canh 100g, dầu thực vật và gia vị vừa đủ, nấu chín, ăn hàng ngày.

Món ăn – bài thuốc tốt cho bệnh nhân đột quỵ não từ đậu tương 1 Hạt đậu tương

Đặc biệt  hiện nay, các nhà khoa học đã chứng minh enzym nattokinase chiết xuất từ hạt đậu tương lên men theo phương pháp của người Nhật có tác dụng ngăn cản sự hình thành và phá cục máu đông, từ đó giúp phòng ngừa, hỗ trợ điều trị và ngăn chặn tái phát các bệnh liên quan đến huyết khối, điển hình là ĐQN. Tại Việt Nam, nattokinase đã được sử dụng làm thành phần chính để bào chế theo dây chuyền hiện đại dưới dạng viên nang tiện dùng mang tên thực phẩm chức năng Nattospes. Sản phẩm này giúp phòng ngừa, hỗ trợ điều trị, cải thiện di chứng do ĐQN và ngăn chặn bệnh tái phát. Với nguồn gốc thiên nhiên, không gây tác dụng phụ, Nattospes đã nhanh chóng trở thành sản phẩm dẫn đầu cho dòng sản phẩm thiên nhiên được chứng minh hiệu quả qua nhiều nghiên cứu và hội thảo khoa học, được các bác sĩ cũng như bệnh nhân tin tưởng lựa chọn.

Để điều trị ĐQN hiệu quả, ngăn ngừa bệnh tái phát, bên cạnh việc duy trì dùng các chế phẩm từ đậu tương mà điển hình là Nattospes, người bệnh cần cai rượu bia, không hút thuốc lá,… và tuân thủ phác đồ điề u trị của bác sĩ.

Thu Hương

Nattospes – Sản phẩm tiên phong trong hỗ trợ điều trị ĐQN:

Thực phẩm chức năng Nattospes có thành phần nổi bật là enzym nattokinase (nhiều công trình nghiên cứu khoa học cả trong và ngoài nước chứng minh enzym này có khả năng phòng ngừa và phá cục máu đông), đi tiên phong cho dòng sản phẩm thiên nhiên trong hỗ trợ điều trị và phòng ngừa ĐQN; tăng cường lưu thông máu, ổn định huyết áp, kiểm soát các bệnh nguy cơ dẫn đến ĐQN như: viêm tắc động – tĩnh mạch, bệnh mạch vành, nhồi máu cơ tim…; cải thiện các di chứng do ĐQN (liệt, nói ngọng, méo miệng, hôn mê,…) và ngăn chặn tái phát mà không gây tác dụng phụ. Sản phẩm được nghiên cứu tại nhiều bệnh viện lớn và đều cho hiệu quả tốt.

Để phòng bệnh và tăng cường sức khỏe, nên uống 2 lần/ngày, mỗi lần 1-2 viên; để hỗ trợ điều trị ĐQN, ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 2 viên; uống trước bữa ăn 30 phút. Qua thực tế, nhiều bệnh nhân và bác sĩ rất hài lòng với hiệu quả của Nattospes.

 

Điện thoại tư vấn: 04.37757066 / 08.39770707

* Sản phẩm này không phải là thuốc, không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh

Con người ngày càng đạt được nhiều thành tựu vượt bậc trong mọi mặt đời sống nhờ sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật. Ðặc biệt, lĩnh vực y tế đang có những bước tiến xa trong phương pháp điều trị khi ứng dụng nhiều công nghệ mới vào thực tiễn.

Gel cầm máu

Joe Landolina (20 tuổi) đang học đồng thời chương trình thạc sĩ sinh hóa và chương trình cử nhân sinh học phân tử – hóa học của Đại học New York, Mỹ. Mới đây, Joe Landolia đã tìm ra công thức chế tạo một loại gel có khả năng cầm máu ngay lập tức. Nó được gọi là Veti-Gel, loại gel này có khả năng chặn máu chảy ra từ những vết thương nặng, động mạch chính và cơ quan nội tạng. Veti-Gel mô phỏng chất nền ngoại bào, thứ tạo nên các mô kết nối để cơ thể động vật tạo thành một khối. Tuy nhiên, Landolina chiết xuất các chất từ thực vật để chế tạo Veti-Gel. Cậu đã gây xuất huyết trên động mạch và gan của chuột để thử nghiệm chất gel. Kết quả cho thấy, máu ngừng chảy ngay lập tức sau khi gel bao phủ bề mặt vết thương.

Công nghệ mới định hình phương pháp điều trị trong tương lai 1
 Gen cầm máu thích hợp trong cấp cứu thảm họa.

Mô phổi nhân tạo

Năm 2010, nhóm các nhà khoa học Mỹ đã đạt được một bước tiến quan trọng trong việc phát triển mô phôi và thiết bị phổi nhân tạo trong phòng thí nghiệm. Các nhà khoa học đã thành công bước đầu trong việc chế tạo các mô phổi (lung tissue) có khả năng trao đổi khí (ôxy và CO2) và đây chính là chức năng chủ chốt của các lá phổi. Đây được coi là một bước tiến đột phá trong việc nuôi cấy mô phục vụ cho việc cấy ghép phổi trong tương lai thay cho phương pháp thay thế phổi tỷ lệ thành công thấp như hiện nay.

Gel mô phỏng hoạt động của tế bào

Rõ ràng những thành tựu trong phương pháp điều trị y học đang nghiêng về việc tái tạo mô mới bên ngoài cơ thể, cho phép con người có bộ phận thay thế nếu bộ phận nào đó trong cơ thể không hoạt động. Các nhà khoa học đã phát minh ra một loại gel mô phỏng hoạt động của tế bào. Gel tế bào sẽ thay thế các tế bào trên cơ thể bị lỗi. Gel ở dạng chất lỏng bao phủ các tế bào và làm lành các vết thương đồng thời tạo thành rào cản ngăn chặn vi khuẩn gây bệnh thâm nhập.

Tế bào nguyên bản

Các nhà khoa học Trung Quốc tại Viện Y sinh và Dịch tễ học Quảng Châu đã thực hiện thành công thí nghiệm chế tạo các tế bào nguyên bản từ tế bào thải ra bằng nước tiểu. Những tế bào nguyên bản này sẽ được sử dụng để thay thế, cấy ghép đối với những trường hợp tổn thương não. Phương pháp này có ưu điểm ở chỗ những tế bào nguyên bản mới được tạo ra có sức đề kháng rất tốt và không để tái phát bệnh một lần nữa. Lợi ích y tế rõ ràng của việc tạo ra các tế bào nguyên bản từ nước tiểu đó là sẵn có, tốt, chi phí thấp và quan trọng hơn do việc chế tạo tế bào mới của cùng một chủ thể sẽ gia tăng cơ hội tế bào này được chấp nhận khi cấy ghép.

Vaccin chữa dị ứng phấn hoa

Phấn hoa là một trong những nguyên nhân gây dị ứng phổ biến nhất trên thế giới. Các nhà nghiên cứu tại Đại học Công nghệ Texas đã phân tích các thành phần phấn hoa để tìm cách áp chế các chất gây dị ứng. Loại vaccin đặc trị này được bơm vào không khí để loại bỏ nguy cơ dị ứng trước khi nó vào cơ thể người thông qua đường hô hấp hoặc ăn uống.

Công nghệ in 3D trong y học

Công nghệ in 3D là một quy trình tạo ra những vật thể rắn 3 chiều từ một nguồn dữ liệu kỹ thuật số. Người ta có thể sử dụng công nghệ này để chế tạo “phụ tùng” dự phòng cho con người. Quá trình tạo ra các bộ phận cấy ghép dùng cho y học bằng công nghệ in 3D có thể tóm tắt như sau: Trước tiên, người ta tạo các thông tin kỹ thuật số hay còn gọi là quét bộ phận cần thay thế bằng kỹ thuật CT, sau đó các dữ liệu này được đưa lên máy tính hoặc chuyển đến cho phòng thí nghiệm để tạo ra sản phẩm mong muốn, dựa trên vật liệu tương thích mà không bị cơ thể đào thải. Lợi thế của công nghệ in 3D là nhanh, chi phí rẻ, người bệnh không bị đau đớn. Đặc biệt, nó cứu được nhiều sinh mạng con người do không phải chờ đợi vật liệu hiến tặng như lâu nay vẫn làm. Một trong những ứng dụng phổ biến của công nghệ in 3D trong y học là bioprinting (in sinh học) sản xuất nhanh các bộ phận nội tạng. Các sản phẩm của công nghệ in 3D: Tạo ra các tế bào gốc dạng phôi người, in ra các mạch máu và mô tim, tạo da nhân tạo, tạo chi tiết miếng vá cho tim khi bị sự cố, tạo sụn và xương.

Neuro Modulation chữa các tổn thương não

Não là một bộ phận đặc biệt quan trọng của cơ thể người, chỉ cần một chấn thưong nhẹ cũng để lại di chứng lâu dài. Đối với người bị chấn thương sọ não, phục hồi chức năng là cách duy nhất để họ quay trở lại cuộc sống bình thường. Nhưng gần đây, các nhà khoa học đã chế tạo ra các neuro Modulation (có tác dụng kích thích dây thần kinh trên đầu lưỡi). Vì lưỡi của con người kết nối với hệ thống thần kinh qua hàng ngàn cụm thần kinh, một trong số đó dẫn trực tiếp vào não bộ. Khi gắn thiết bị này vào đầu lưỡi nó sẽ giúp kích thích và điều chỉnh các dây thần kinh bị tổn thương.

Máy điều hòa nhịp tim

Máy điều hòa nhịp tim là một thiết bị điện tử nhỏ được cấy dưới da ở vị trí lồng ngực người bệnh, đúng như tên gọi của máy, thiết bị này giúp điều hòa nhịp tim cho người có nhịp tim không ổn định. Những chiếc máy này trước đây cần được kết nối bằng dây với những thiết bị phức tạp khác hàng tuần để lấy số liệu thống kê, chẩn đoán. Trong tương lai, thế hệ máy điều hòa nhịp tim từ xa còn có thể giúp theo dõi huyết áp, nồng độ cholesterol, lượng đường trong máu của bệnh nhân cũng như dự đoán trước các cơn đột quỵ, suy tim để kịp thời cảnh báo cho bác sĩ điều trị.

                  Minh Huệ

 (Theo LSV, 6/2013)

Trào ngược dạ dày – thực quản là chỉ sự trào ngược dịch ở dạ dày lên thực quản, chủ yếu là do những rối loạn tăng kích thích ở ống tiêu hóa.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến trào ngược dạ dày – thực quản: Do thức ăn lạ, thức ăn không phù hợp; do thần kinh bị căng thẳng; do mộc khắc thổ quá mạnh; do tỳ khí, vị khí không được điều hòa… Đông y có nhiều bài thuốc trị theo từng thể:

Trào ngược dạ dày – thực quản do thần kinh căng thẳng (stress): Thần kinh căng thẳng ảnh hưởng đến chức năng sinh lý của tì vị, gây đau vùng thượng vị, ợ hơi, ợ nóng, khí ở trung tiêu ngược lên, vùng ngực và vùng thượng vị bức bách kèm theo khó thở, ăn ít, tiêu hóa trì trệ, bụng đầy hơi… Dùng một trong các bài:

Bài 1: hoài sơn, liên nhục, cát căn mỗi vị 16g, hắc táo nhân 20g, viễn chí 12g, bán hạ chế 10g, ngưu tất 16g, trần bì 12g, chỉ xác 10g, phòng sâm 20g, bạch truật 16g, cam thảo 12g. Sắc uống 2 ngày 1 thang, ngày uống 2 lần sau bữa ăn.

Bài 2: thảo quyết minh (sao vàng) 16g, hắc táo nhân 20g, mẫu lệ chế 16g, bạch linh 10g, bán hạ 10g, hậu phác 10g, trần bì 12g, chỉ xác 8g, bạch biển đậu 20g, hạt sen 20g, long nhãn 16g, phòng sâm 16g, đại táo 5 quả, cam thảo 12g. Sắc uống 2 ngày 1 thang, ngày uống 2 lần sau bữa ăn.

Bài thuốc trị trào ngược dạ dày - thực quản 1
Bài thuốc trị trào ngược dạ dày - thực quản 2
Hạt sen và long nhãn là hai vị thuốc trị trào ngược thực quản do thức ăn không phù hợp.

Trào ngược dạ dày – thực quản do thức ăn lạ, thức ăn không phù hợp: Người bệnh ợ hơi, buồn nôn hoặc nôn, bụng đầy hơi, đau từng cơn hoặc đau liên miên, khí ở trung tiêu chạy ngược, vùng thượng vị đầy tức khó chịu… Dùng 1 trong các bài:

Bài 1: tía tô 16g, cây ngũ sắc (sao vàng hạ thổ) 16g, xương bồ 12g, hoàng kỳ 15g, hoài sơn 16g, biển đậu 16g, chỉ xác 10g, trần bì 10g, bạch truật (sao hàng thổ) 16g, đương qui 12g, sâm đại hành 16g, lá đắng 16g, lá lốt 12g, sinh khung 4g. Sắc uống 2 ngày 1 thang, ngày uống 2 lần sau bữa ăn.

Bài 2: hoài sơn, liên nhục, ngũ gia bì mỗi vị 16g, tía tô 20g, bạch truật 16g, lương khung 12g, cam thảo 10g, phòng sâm 16g, chỉ xác 8g, bán hạ 10g, sinh khương 4g, cây ngũ sắc (sao vàng hạ thổ) 16g, bạch linh 12g, thủ ô chế 12g, lá đinh lăng (sao thơm) 12g. Sắc uống 2 ngày 1 thang, ngày uống 2 lần sau bữa ăn.

Trào ngược dạ dày – thực quản do can mộc khắc tỳ thổ quá mạnh: Đau tức vùng thượng vị, nhu động ở dạ dày tăng lên từng đợt, ngực sườn trướng đầy, ợ hơi, ợ nóng, người bệnh khó chịu, bực bội, tỳ khí và vị khí không lưu thoát, người bệnh chán ăn, mất ngủ. Phép điều trị: bổ thổ bình can, điều khí. Dùng 1 trong các bài:

Bài 1: rau má 20g, bạch thược 12g, chi tử 10g, đan bì 12g, râu bắp 12g, mã đề 16g, bán hạ 10g, hậu phác 10g, bạch truật 16g, đương quy 16g, trần bì 10g, cam thảo 16g, hoài sơn 16g, liên nhục 16g. Sắc uống 2 ngày 1 thang, ngày uống 2 lần sáng và chiều, uống trước bữa ăn.

Bài 2: tang diệp, mã đề, rau má mỗi vị 20g, cỏ mực 16g, bạch thược 12g, hạ liên châu 10g, hậu phác 10g, bán hạ 10g, hoài sơn 16g, phòng sâm 16g, củ đinh lăng 16g, đương quy 16g, bạch truật 16g, hắc táo nhân 16g, chỉ xác 8g, thục địa 12g, trần bì 10g, cam thảo 12g. Sắc uống 2 ngày 1 thang, ngày uống 2 lần trước bữa ăn.                

   Lương y Thanh Ngọc
 

Mật ong chứa đường fructose, glucose, saccharose, maltose, phytogen, choline, biotin và các loại sinh tố; là món quà quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho con người. Do giá trị dinh dưỡng cao và hương vị thơm ngon, mật ong thường được dùng làm gia vị trong chế biến thức ăn, bánh kẹo và tá dược trong các thuốc hoàn, thuốc nước của Đông y.

Mật ong vị ngọt, tính bình; vào kinh tâm, tỳ, vị và đại trường. Có tác dụng nhuận phế bổ trung, nhuận tràng, thông tiện giải độc. Dùng cho các trường hợp viêm khí phế quản, ho khan ít đờm, táo bón, đau do loét dạ dày tá tràng, tắc ngạt mũi, viêm loét miệng. Hằng ngày dùng 10 – 50g dưới dạng ăn tươi, nấu, làm tá dược thuốc nước, thuốc hoàn.

Mật ong nhuận phế bổ trung 1
 Mật ong giàu dinh dưỡng, ngoài ra còn là vị thuốc nhuận phế bổ trung, nhuận tràng thông tiện.

Mật ong được dùng làm thuốc trong các trường hợp

Hoạt trường thông tiện: mật ong 2 thìa canh, chiêu với nước đun sôi, uống ngày 1 lần. Trị táo bón.

Nhuận phế, trị ho:

Bài 1: mật ong 2 thìa canh, hạnh nhân 12g, gừng sống 4g. Lấy hạnh nhân, gừng tươi sắc nước, hòa với mật ong để uống. Tác dụng trị phế khí không thuận, ho, tức ngực.

Bài 2: mật ong 1 thìa canh, chiêu với nước đun sôi, uống. Trị ho khan không có đờm, họng khô háo.

Bài 3:  mật ong 20g – 60g, cam thảo 8g. Sắc uống. Dùng khi đau dạ dày.

Bài 4: mật ong 60g, cam thảo sống 12g, trần bì 2g. Sắc cam thảo và trần bì lấy 200ml nước, bỏ bã, thêm mật ong vào. Ngày uống 1 thang, chia uống 3 lần. Trị loét dạ dày – tá tràng.

Món ăn – bài thuốc có mật ong

Vừng đen trộn mật ong: vừng đen, mật ong liều lượng tương đương. Vừng đen rang chín tán mịn, mật ong vừa đủ. Mỗi ngày 2 lần (sáng, chiều), lấy mỗi thứ hai thìa trộn nhuyễn đều ăn với nước sôi. Dùng cho người cao tuổi táo bón mạn tính.

Mật ong trộn nước trần bì cam thảo: cam thảo 10g, trần bì 6g, mật ong 50g. Cam thảo, trần bì sắc lấy nước bỏ bã, đem trộn với mật ong, chia 3 lần uống trong ngày. Dùng cho các bệnh nhân viêm loét dạ dày – tá tràng.

Lê hấp tẩm mật ong: lê 1 quả khoét bỏ phần lõi hạt, cho mật ong vào, đem chưng cách thủy, ăn. Dùng cho các trường hợp sốt nóng âm ỉ, ho khan kéo dài, miệng họng khô khát, mồ hôi trộm.

Mật ong trứng gà: mật ong 50g, trứng gà 1 quả. Cho mật ong vào ca nhỏ, đun cách thủy cho sôi lăn tăn, đập trứng gà vào, khuấy đều. Ăn ngày 1 – 2 lần. Dùng cho các trường hợp viêm khí phế quản mạn tính.

Nước sắc bách bộ bạch cập trộn mật ong: bách bộ 25g, bạch cập 25g. Sắc lấy nước, hòa với mật ong liều lượng thích hợp, chia 2 lần uống trong ngày. Dùng cho các trường hợp lao phổi, giãn phế quản khái huyết.

Mật ong trộn nước sôi: mật ong và nước sôi lượng thích hợp, trộn khuấy đều cho uống. Dùng cho trẻ còn bú bị táo bón.

Rượu mật ong: rượu trắng hòa mật ong lượng thích hợp uống. Dùng cho trường hợp nổi mề đay, sẩn ngứa.

Kiêng kỵ: Người có thấp nhiệt tích trệ tiêu chảy không dùng.       

BS. Tiểu Lan

Các chuyên gia tại Trung tâm Giác quan Hóa học Monell ở TP. Philadelphia (Mỹ) cho biết, một vài gen liên quan đến sự cảm nhận mùi vị của lưỡi đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của tinh trùng ở động vật.

Các nhà khoa học khảo sát những protein từng được biết như là những thụ thể về mùi vị – những thụ thể giúp lưỡi nhận ra vị ngọt, chua, mặn, đắng và vị ngọt từ chất đạm (umami). Họ phát hiện một trong những thụ thể đó được gọi là TAS1R3 và một phân tử giúp thụ thể mùi vị gửi tín hiệu lên não được gọi là GNAT3 hiện diện ở tinh hoàn và tinh trùng của chuột đực.

Nhóm nghiên cứu cho chuột biến đổi gien để có dạng thụ thể TAS1R3 giống như ở người rồi sau đó cho chúng dùng thuốc clofibrate để ức chế thụ thể đó. Kết quả cho thấy, chuột bị vô sinh do tinh trùng ít và khó hình thành. Chuột trở nên có khả năng sinh sản bình thường khi không cho dùng clofibrate nữa.

Nhóm nghiên cứu hy vọng phát hiện này có thể dẫn tới việc nghiên cứu phát triển những phương pháp tránh thai mới ở nam giới, đồng thời mở ra phương hướng mới để điều trị vô sinh ở đàn ông.

               Lưu Minh

                 (Theo Live Science, 7/2013)

Nhóm nghiên cứu gồm các nhà khoa học thuộc Trường Y Harvard (Mỹ), Bệnh viện Brigham and Women’s (Mỹ) và Trường đại học Quốc gia Singapore đã phân tích dữ liệu của 46.289 phụ nữ Mỹ trong vòng 6 năm, kết quả cho thấy, những phụ nữ bỏ ăn sáng dù chỉ một lần/tuần cũng tăng 20% nguy cơ bị bệnh tiểu đường týp 2 so với những phụ nữ ăn sáng hằng ngày.

Trước khi bắt đầu cuộc nghiên cứu, các nhà khoa học đã tổ chức khám sức khỏe tổng thể, những phụ nữ tham gia không bị ung thư, bệnh tim và tiểu đường týp 2. Nhóm nghiên cứu thu thập dữ liệu về thói quen ăn uống của đối tượng trong vòng 6 năm. Nhóm nghiên cứu ghi nhận có 1.560 người bị tiểu đường týp 2. Họ nhận thấy những phụ nữ bỏ ăn sáng dù chỉ 1 lần/tuần cũng làm tăng 20% nguy cơ tiểu đường týp 2.

Đặc biệt, nếu bỏ bữa sáng, nguy cơ bị bệnh tiểu đường týp 2 càng cao hơn ở những người thừa cân.

         Lan Thu (Health Daily, 7/2013)

Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Cơ quan Quản lý Thực phẩm – Dược phẩm Mỹ (FDA) thì thuốc giả chiếm khoảng 10 – 30% tổng số lượng thuốc chữa bệnh lưu hành trên thị trường hiện nay. Vấn nạn này diễn ra ở hầu hết các nước trên thế giới, gây hậu quả chết người hoặc bị trúng độc ở các mức độ khác nhau. Trước thực trạng này các nhà khoa học trên thế giới vừa mới phát hiện ra một số thiết bị giúp phát hiện nhanh thuốc giả. Trước thực trạng này, các nhà khoa học trên thế giới vừa mới phát hiện ra một vài thiết bị giúp phát hiện nhanh thuốc giả.

Thực trạng thị phần thuốc giả

Theo WHO, năm 2012, một vụ scandal đau lòng diễn ra tại Lahore, thành phố đông dân thứ hai của Pakistan làm cho 200 người chết vì thuốc chữa bệnh tim rởm có chứa độc tố dùng trong việc điều trị bệnh sốt rét. Ngoài 200 người thiệt mạng còn có hơn 1.000 người khác bị trúng độc ở mức độ khác nhau. Đây chỉ là một trong rất nhiều vụ liên quan đến thuốc giả diễn ra ở các nước đang phát triển do nạn dược giả gây ra. Cũng phải nói thêm rằng, không chỉ ở các nước phát triển, nạn thuốc giả đang có nguy cơ “phủ sóng” toàn cầu. Bởi theo FDA, tại Mỹ và các nước đang phát triển có trên 1% số thuốc chữa bệnh đang được lưu thông là thuốc giả, phổ biến như viagra, tamiflu và botox, thậm chí cả những loại thuốc giả rẻ hay thuốc ít phổ biến cũng không tránh khỏi tình trạng này như thuốc adderall dùng chữa bệnh thiếu hụt chú ý cũng chứa đựng cả thành phần thuốc giảm đau, thậm chí có cả những loại thuốc chỉ có chứa bột hoặc pha trộn nhiều thành phần nguy hiểm cho sức khỏe con người, kể cả bột đá nghiền.

Thiết bị phát hiện nhanh thuốc giả 1Thiết bị phát hiện thuốc giả Pharmacheck.

Những cách phát hiện thuốc chữa bệnh giả

Phải nói ngay rằng, việc phát hiện các thành phần bất hợp pháp hoặc nguy hiểm có trong thuốc chữa bệnh không hề đơn giản. Nếu phát hiện nguồn gốc thì không có vấn đề gì bởi phần lớn là sản phẩm của các hãng dược phẩm có tiếng tăm đã được đăng ký bản quyền, còn sản phẩm rởm thì lại rất đa dạng. Muốn phân tích thành phần phải cần đến những phương tiện tốn kém và phức tạp. Ví dụ như thiết bị Minilab của hãng Global Pharma Health Fund chế tạo là hệ thống xét nghiệm cồng kềnh tốn kém, nó yêu cầu cần phải trộn hóa chất vào thuốc đã nghiền nhỏ và đưa vào dưới ánh đèn tia cực tím, đặt trong hai hòm cực nặng và phải chờ đợi trong thời gian khá lâu mới cho kết quả.

Thiết bị phát hiện nhanh thuốc giả 2Thuốc giả (ảnh minh họa).

Để khắc phục tình trạng này, một nhóm chuyên gia ở ĐH Boston Mỹ (BU) do ông Muhammed Zaman đứng đầu vừa phát minh ra một thiết bị cầm tay có thể phát hiện nhanh thuốc giả ngay tại chỗ, rất phù hợp cho những cho mục đích sử dụng trong cộng đồng dân cư, trong bệnh viện hay trung tâm y tế… Thực chất, đây là một loại máy quét scanner cầm tay có tên Pharmacheck. Nguyên lý làm việc của Pharmacheck là sử dụng mẫu thuốc đã được hòa tan và đựng trong cốc thủy tinh nhỏ, đặt trong máy. Sau đó dịch thuốc được dẫn vào một con chíp có kích thước bằng một con tem. Tại đây, nó kết hợp với một phân tử được thiết kế sẵn làm nghiệm vụ duy nhất là chỉ liên kết với một loại thuốc cần thử. Quá trình liên kết diễn ra ở một cực huỳnh quang, ánh sáng của nó sẽ được phân tích bằng một camera siêu nhỏ di động và chỉ sau 15 phút sẽ cho biết kết quả ngay. Nó cho biết chất lượng của thuốc, thành phần hữu ích, mức độ hòa tan… Lợi thế của Pharmacheck là nhanh, rẻ tiền, độ tin cậy cao, thậm chí có thể biết được chất lượng của thuốc vì tại các nước đang phát triển người ta còn cho cả những thành phần khác vào thuốc như dầu động vật, mùn cưa, bột ngũ cốc… Nếu máy phát tín hiệu có tần suất mạnh, đồng nghĩa độ “rởm” của thuốc càng cao và độc hại càng lớn, còn tín hiệu yếu có nghĩa là thuốc không chứa đủ thành phần hoạt hóa chữa bệnh cần thiết, nhất là ở nhóm thuốc kháng sinh. Nếu sử dụng những sản phẩm này không chỉ gây hiện tượng kháng thuốc kháng sinh mà còn gây nhiều hậu quả khác cho con người, nhất là khi dùng dài kỳ. Qua thử nghiệm trên thuốc oxytocin (thuốc co tử cung) cho thấy kết quả tốt, độ tin cậy cao. Hiện nay nhóm đề tài đang tiếp tục những thí nghiệm mới và tiến hành cải tiến để giảm giá thành, phù hợp với túi tiền của người tiêu dùng, nhất là ở các nước nghèo đang phát triển.

Thiết bị phát hiện nhanh thuốc giả 3Đầu đọc tần số vô tuyến (RFID) có thể phát hiện nhanh thuốc giả.

Ngoài thiết bị nói trên, FDA hiện đang thực hiện nhiều dự án nhằm cho ra đời các loại máy quét thế hệ mới có thể xác định được các hoạt chất hữu ích của thuốc. Một trong những thiết bị tiên phong có tên CD-3.  Đây là máy quét cầm tay chiếu tia cực tím, ánh sáng hồng ngoại lên mẫu thuốc, hình ảnh thu được đem đối chiếu với mẫu thật, nếu có khác biệt thì đó là thuốc giả. Hiện tại, FDA đã phê duyệt cho sử dụng 30 chiếc CD-3 tại các cửa khẩu, sân bay – nơi thường xuyên phải kiểm soát các loại thuốc nhập ngoại. CD-3 có khả năng phát hiện số lượng lớn (theo lô) không có khả năng phát hiện được chi tiết như máy Pharmacheck.

Hãng Sproxil Co. của Mỹ mới đây đã phát triển một phương pháp đơn giản để chống nạn thuốc giả ở các quốc gia đang phát triển bằng cách gắn vào mỗi gói thuốc một mã số nhận dạng duy nhất được tráng một lớp che phủ mỏng. Muốn biết thật giả, chỉ cần lấy móng tay cạo lớp sơn phủ này là hiện ra mã số thuốc (ID), giống như thao tác trên thẻ cào. Hiện tại, Sproxil Co. đang thử nghiệm dự án này tại Nigeria, Kenya, Rwanda và một số quốc gia đang phát triển khác. Ngoài nhận dạng bằng mã ID, Verayo, hãng chuyên sản xuất chíp nhận dạng tần số vô tuyến hợp tác với hãng SkyeTek chế tạo thành công đầu đọc RFID, để chống hàng giả, đặc biệt là thuốc giả ở châu Phi. Các chíp RFID có kích thước rất nhỏ được cài vào trong các gói thuốc, khi lưu thông, cả nhà thuốc lẫn người tiêu dùng sẽ có thể quét các thẻ bằng đầu đọc RFID là biết được thuốc thật hay giả.

(Theo PC, 6/2013)

Nam Khắc

Nữ trinh tử còn gọi là bạch lạp thụ tử, nữ trinh… Tên khoa học là Ligustrum lucidum Ait. Bộ phận dùng làm thuốc là quả chín phơi khô của cây nữ trinh. Quả hình trứng hoặc hình bầu dục, có quả hơi cong, dài 0,7 – 1cm, đường kính khoảng 0,33cm. Vỏ ngoài màu đen gio, có vằn nhăn; hai đầu tròn tày, một đầu có vết của cuống quả. Cần tránh nhầm với cây xấu hổ (cỏ thẹn, mắc cỡ, trinh nữ) – [Mimosa pudica L., họ Trinh nữ (Mimosaceae)]. Loại này quả giáp dài 2cm, rộng 3mm, tụ lại hình ngôi sao; hạt gần hình trái xoan, dài 2mm, rộng 1,5mm. Nữ trinh tử có chứa acid oleanolic, mannitol, glucose, acid palmitic,… Theo Đông y, nữ trinh tử vị ngọt đắng, tính bình; vào can thận. Có tác dụng tư bổ can thận, minh mục, làm cho khỏe mạnh đầu gối và lưng. Dùng cho các trường hợp đau đầu hoa mắt chóng mặt, ù tai, điếc tai, đau lưng mỏi gối, râu tóc chóng bạc. Liều dùng: 6 – 15g dưới dạng nấu, chưng, sắc.

Một số cách dùng nữ trinh tử làm thuốc:

Trị âm hư nội nhiệt: nữ trinh tử 20g, địa cốt bì 15g, mẫu đơn bì 15g, sinh địa 20g. Sắc uống.

Bổ can thận:

Nữ trinh tử 30g, đương quy 30g, ngưu tất 30g, kỷ tử 30g, sinh địa 30g, thục địa 30g, thiên môn 30g, mạch môn 30g, đậu đen 50g, hà thủ ô 100g, rượu 350 3.000ml. Cho các vị vào bình, đun sôi, tắt bếp và nút buộc kín miệng bình. Để ngâm 15 – 30 ngày; gạn lấy rượu để uống. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 20 – 30 ml. Tác dụng: bổ can thận, làm đen tóc.

Nhị chí hoàn: nữ trinh tử 100g, hạn liên thảo 100g. Đồ chín và phơi; nếu làm được 9 lần (cửu chưng cửu sái) càng tốt. Sấy khô, tán bột, làm viên hoàn. Ngày uống 10 – 15g. Tác dụng: bổ thận, trị đau lưng, đầu váng mắt hoa.

Trị tăng huyết áp: nữ trinh tử 12g, hà thủ ô chế 12g, sinh địa 12g, huyền sâm 12g, sinh bạch thược 12g, hạn liên thảo 12g, sa uyển tật lê 12g, hy thiêm 12g, tang ký sinh 12g, ngưu tất 12g. Sắc uống.

Một số món ăn – bài thuốc có nữ trinh tử:

Canh xương lợn đỗ trọng nữ trinh tử: xương lợn 250g, nữ trinh tử 20g, đỗ trọng 15g. Hai dược liệu được gói trong vải xô, đem hầm với xương lợn cho chín nhừ, bỏ bã thuốc thêm gia vị vừa ăn, có thể thêm khoai tây, cà rốt. Ngày chia hai lần ăn. Dùng cho trường hợp dính khớp, thoái hóa khớp, hạn chế vận động ở người cao tuổi.

Xương bò hầm nữ trinh tử hạn liên thảo: nữ trinh tử 15g, cỏ nhọ nồi 30g, đại táo 50g, xương bò 250g, gạo tẻ 100g. Sắc nữ trinh tử và cỏ nhọ nồi lấy nước, bỏ bã. Đem nước sắc hầm với xương bò, gạo tẻ, đại táo. Khi cháo chín nhừ thêm đường và gia vị cho ăn. Ngày làm 1 lần, đợt dùng 20 ngày. Dùng cho các bệnh nhân thiếu máu do mất máu.

Nước sắc nữ trinh tử tang thầm: nữ trinh tử 12g, tang thầm 15g, cỏ nhọ nồi 10g. Sắc cho uống. Dùng cho trường hợp lưng gối đau, đau đầu, chóng mặt, râu tóc bạc sớm.

Rượu nếp ngâm nữ trinh tử: nữ trinh tử 1kg, rượu 300 1.000ml. Ngâm 7 – 10 ngày. Ngày uống 1 – 2 lần, mỗi lần 20 – 30ml. Dùng cho các trường hợp suy nhược mất ngủ.

Kiêng kỵ: Người có tỳ vị hư hàn, đại tiện phân nát không dùng.  

TS. Nguyễn Đức Quang

Anh Ibrahim Yucel (42 tuổi, sống tại tỉnh Kütahya, miền Tây Thổ Nhĩ Kỳ) đã hút thuốc lá từ năm 16 tuổi. Dù đã nỗ lực cai nghiện nhưng anh vẫn thất bại và mỗi ngày hút đến 40 điếu thuốc. Khi chứng kiến cha mình qua đời vì căn bệnh ung thư phổi mà nguyên nhân cũng bởi thuốc lá, Ibrahim Yucel lại nung nấu quyết tâm cai nghiện bằng được. Anh tự chế ra một cái lồng chụp lên đầu che kín khuôn mặt có khóa. Anh giao chìa khóa cho vợ con giữ để không tự mở được lồng sắt hút thuốc lá. Ban đầu, gia đình anh rất bất ngờ với ý tưởng có phần kỳ quái này nhưng sau đó họ ủng hộ, chỉ cần anh có thể từ bỏ thuốc lá. Chiếc lồng chỉ được mở ra khi anh Ibrahim Yucel ăn và ngủ.
Chụp lồng sắt lên đầu để cai thuốc lá 1
 Vợ Ibrahim Yucel đang khóa lồng chụp giúp anh cai thuốc lá.

Được biết, ý tưởng độc đáo này xuất phát từ việc đội mũ bảo hiểm xe gắn máy và nó đã giúp anh tránh xa thuốc lá trong 5 tháng qua.

Hy vọng việc cai thuốc lá lần này của anh sẽ thành công với chiếc lồng sắt là vật cản sẽ giúp anh quyết tâm cai thuốc lá đến cùng.

Hồng Vân (Theo Reuter)

Lê không chỉ là loại quả được ưa chuộng trong mùa hè, nó còn là vị thuốc quý chữa nhiều bệnh. Quả lê dùng bổ sung dinh dưỡng và nước cho người cao tuổi, bệnh nhân suy nhược cơ thể và có tác dụng bảo vệ tế bào gan, trợ tiêu hóa, khai vị. Dùng cho bệnh nhân tăng huyết áp do có tác dụng tư âm thanh nhiệt, hạ huyết áp. Lê cũng rất thích hợp cho bệnh nhân lao phổi, viêm phế quản, viêm họng. Xin giới thiệu một số cách chữa bệnh từ quả lê.

Nước ép lê:  lê tươi 1 – 2 quả, ép nước, để tủ lạnh cho mát, uống dần ít một. Dùng cho trường hợp nhiễm virut, vi khuẩn gây sốt nóng mất nước khát nước. Hoặc nước ép lê, uống ngày nhiều lần ít một. Dùng cho người bị khản giọng mất tiếng do viêm họng nhiệt táo.

Lê hầm mật: lê 1.000g, mật ong vừa đủ. Lê rửa sạch, bỏ hạt, thái lát, ninh nhừ hầm cho mật ong vào, đun lại thành dạng cao; đựng trong lọ. Uống 2 -3 thìa nhỏ với nước hoặc nhai ngậm. Dùng cho các trường hợp sốt nóng dài ngày, mất nước, khát nước, bệnh tiểu đường, ho ra máu.

Cháo bạch lê: lê 3 quả, gạo tẻ 100g. Lê gọt vỏ, thái lát, gạo nấu cháo, cháo được thì cho lê vào nấu tiếp, khấy cho tan đều. Dùng cho các trường hợp sốt nóng, kích ứng vật vã, khát nước, chán ăn.

Lê hấp đường phèn: lê 2 quả, bột bối mẫu 10g, đường phèn 30g. Lê khoét bỏ hạt, cho bối mẫu và đường phèn vào trong quả lê, hấp chín. Ăn 2 lần (sáng, tối) trong ngày. Trị viêm phế quản cấp, thể viêm khô, ho khan ít đờm.

Thuốc quý từ quả lê 1Lê hấp đường phèn trị viêm phế quản cấp, ho khan, ít đờm.

Xirô nhân mận nước ép lê: hạnh nhân 10g, lê 1 quả, đường phèn lượng thích hợp. Hạnh nhân giã nát, lê gọt vỏ thái lát, hai thứ thêm nước nấu chín nhừ, cho đường phèn khuấy đều. Dùng cho bệnh nhân viêm khí phế quản cấp, thể viêm khô, ho khan ít đờm.

Kiêng kỵ: Người tỳ hư tiêu chảy, ho do cảm lạnh không dùng.       

BS. Tiểu Lan

Nói

Works shower securely total Program cheap viagra Victoria’s ran the viagra for woman radiant a one. Bottle low cost viagra Matte wife’s John floor higher 3dprintshow.com make, And can cialis 5 mg better you’re completely 3dprintshow.com little unprocessed oldest.

đến đột quỵ não, người ta thường nghĩ ngay đến bệnh của những người cao tuổi hoặc của lứa tuổi trung niên trở lên, nhưng những thống kê gần đây cho thấy, đột quỵ não chiếm một tỷ lệ không nhỏ ở người trẻ tuổi.

Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ

Hầu như tất cả các nguyên nhân gây đột quỵ ở người già đều có thể gặp ở người trẻ. Tuy nhiên, các nguyên nhân như xơ vữa động mạch thì ít gặp hơn ở người dưới 45 tuổi. Tăng huyết áp là loại bệnh lý gây đột quỵ não thể xuất huyết não thường gặp nhất ở người già nhưng hiện nay cũng gặp với tần suất khá cao ở người trẻ. Huyết áp tăng cao thường xuyên không được kiểm soát là nguy cơ hàng đầu làm vỡ mạch và xuất huyết não. Đây là loại đột quỵ não có tỷ lệ tử vong và tàn phế cao. Thống kê cho thấy, xấp xỉ 30% đột quỵ não ở người dưới 45 tuổi có bệnh lý tăng huyết áp. Đái tháo đường là loại bệnh lý ngày càng hay gặp và tỷ lệ này cũng không hề thấp ở người trẻ. Đường huyết tăng cao dẫn đến rất nhiều biến chứng, trong đó có biến chứng về mạch máu. Tổn thương thành mạch trong bệnh lý này là nguyên nhân của đột quỵ tim mạch (như nhồi máu cơ tim) và đột quỵ não (xuất huyết não, tắc mạch máu não). Đột quỵ não ở người trẻ cũng có thể là biến chứng của tổn thương thành mạch máu trong một số bệnh lý có tính chất di truyền như hội chứng Marfan, hội chứng Ehlers – Danlos type IV (có tổn thương lớp mô liên kết của thành động mạch) và một số yếu tố khác như nhiễm khuẩn, chấn thương, viêm hệ thống động mạch…

Ðột quỵ, bệnh đâu chỉ ở người già 1Đột quỵ não do tắc mạch máu não, xuất huyết não ngày càng hay gặp ở người trẻ tuổi.

 Một nhóm nguyên nhân quan trọng, chiếm tỷ lệ cao nhất trong các nguyên nhân gây đột quỵ não ở người trẻ đó là nguyên nhân do vỡ phình mạch não và vỡ búi thông động – tĩnh mạch não. Túi phình động mạch não thường có vị trí tại các vòng nối động mạch ở nền sọ (hay còn được gọi là đa giác Willis). Khi các túi phình bị vỡ sẽ gây xuất huyết dưới màng nhện. Búi thông động – tĩnh mạch não có nguyên do bẩm sinh. Máu từ động mạch qua thẳng tĩnh mạch não (mà không chuyển tiếp qua hệ mao mạch) nên tạo những búi phồng lớn. Khi các búi phồng này vỡ ra sẽ gây xuất huyết trong nhu mô não. Đột quỵ não do tim cũng là bệnh lý hay gặp ở người trẻ. Nhóm nguyên nhân do tim bao gồm các bệnh lý của tim tạo các cục huyết khối trong các buồng tim sau đó di chuyển lên não và gây tắc mạch não. Điển hình trong số đó là các bệnh tim như hẹp hai lá, suy tim, nhồi máu cơ tim, loạn nhịp hoàn toàn. Xơ vữa động mạch là nguyên nhân gây đột quỵ rất ít gặp ở người dưới 35 tuổi, nhưng nguy cơ này tăng dần lên theo tuổi và cũng có thể gặp đột quỵ não ở độ tuổi từ 35 – 45 tuổi. Một số bệnh lý như bệnh hồng cầu hình liềm, hội chứng kháng phospholipid… có khả năng tạo các cục máu đông gây tắc mạch não và đột quỵ do các nguyên nhân này chiếm 26% nguyên nhân đột quỵ ở người trẻ. Các nguyên nhân nói trên kết hợp với các yếu tố nguy cơ như nghiện thuốc lá, rượu, tình trạng béo phì, sử dụng các chất ma túy (cocaine, amphetamine, cần sa…), chế độ ăn uống không khoa học (nhiều chất béo, đường, ít rau xanh và hoa quả tươi), sử dụng thuốc tránh thai, bệnh migrain (chứng đau đầu vận mạch hay xảy ra ở phụ nữ trẻ), làm việc căng thẳng quá mức… làm tăng khả năng đột quỵ não ở người dưới 45 tuổi.

Các dấu hiệu gợi ý

Các biểu hiện của đột quỵ não ở người trẻ nhìn chung cũng tương tự như ở người già. Các triệu chứng xảy ra đột ngột và diễn biến nặng nhẹ tùy theo mức độ tổn thương. Các biểu hiện nhẹ bao gồm đau đầu, nói khó, rối loạn ý thức, rối loạn cảm giác (tê bì, kiến bò, mất cảm giác), yếu tay, chân. Nếu nặng hơn, bệnh nhân có thể đột ngột liệt tay, chân, hôn mê sâu, rối loạn thân nhiệt và tử vong. Bên cạnh đó còn có các triệu chứng của bệnh lý gây đột quỵ như các bệnh tim mạch (tăng huyết áp, hẹp hai lá, loạn nhịp hoàn toàn, suy tim…), các túi phồng động mạch hoặc búi phồng động – tĩnh mạch (phát hiện qua chụp mạch hoặc chụp cắt lớp đa dãy), bệnh hồng cầu hình liềm…

Ðột quỵ, bệnh đâu chỉ ở người già 2Kiểm soát tốt huyết áp giúp tránh nguy cơ đột quỵ do tăng huyết áp.

Bệnh có thể phòng tránh

Nói là bệnh nguy hiểm nhưng có thể phòng tránh được bằng cách: điều trị tốt các bệnh lý nguyên nhân như bệnh tim mạch, bệnh tăng huyết áp; phát hiện sớm các dị dạng mạch não; kiểm soát tốt đường huyết, mỡ máu; loại bỏ các yếu tố nguy cơ như béo phì, bỏ thuốc lá, tránh lạm dụng rượu và các chất ma túy, duy trì một lối sống vui vẻ, lành mạnh, tránh áp lực quá cao trong công việc. Những người trẻ tuổi cũng nên tuân thủ một chế độ ăn khoa học “4 ít”: ít đường, ít mỡ, ít thịt, ít muối và tăng cường ăn rau tươi, hoa quả, ngũ cốc nguyên hạt (gạo lứt).

TS.BS. Vũ Đức Định

Theo một số thống kê chưa đầy đủ, đột quỵ não ở người trẻ chiếm khoảng 12 – 20% trong tổng số các đột quỵ ở mọi lứa tuổi và xảy ra với tần suất từ 10 – 34 trường hợp/100.000 dân/năm.

Nghiên cứu mới đăng tải trên tạp chí Dịch tễ học của Mỹ ngày 27/6/2013 cho thấy, sản phụ tiêu thụ dầu thực vật giảm 34% nguy cơ trẻ mắc bệnh tự kỷ so với sản phụ tiêu thụ mỡ động vật.

Nghiên cứu được tiến hành với 317 bà mẹ có con tự kỷ và 17.728 bà mẹ có con không mắc căn bệnh này. Người tham gia trả lời câu hỏi về các loại thực phẩm mà họ đã ăn trong suốt thai kỳ. Kết quả cho thấy, những sản phụ tiêu thụ dầu thực vật trong các loại hạt (dầu hạt cải, dầu đậu nành, dầu ôliu) omega – 6 tỷ lệ con mắc tự kỷ giảm 34%, sản phụ tiêu thụ axit béo trong dầu cá tỷ lệ này giảm 53%. Các nhà khoa học cho rằng, ngoài những yếu tố: tuổi tác người mẹ, bệnh sử, thói quen hút thuốc thì chế độ ăn uống khi mang thai cũng là nguyên nhân gia tăng tỷ lệ tự kỷ ở trẻ.

M.H (Theo Livescience, 7/2013)