Author Archives: dungntk

Tiểu máu là có máu trong nước tiểu. Vận động quá sức hoặc dùng một số loại thuốc như aspirin cũng có thể gây tiểu máu. Nhưng chảy máu đường niệu là một bệnh lý nghiêm trọng.

Vì sao bị tiểu máu

Có nhiều nguyên nhân gây ra tiểu máu: nhiễm khuẩn tiết niệu, do vi khuẩn xâm nhập từ niệu đạo vào bàng quang và phát triển trong bàng quang; nhiễm khuẩn thận; sỏi bàng quang hoặc sỏi thận; phì đại tuyến tiền liệt; nhiễm khuẩn tuyến tiền liệt; các bệnh viêm cầu thận; ung thư bàng quang, thận hoặc tiền liệt tuyến trong giai đoạn cuối; bệnh thiếu máu hồng cầu hình liềm; hội chứng Alport làm ảnh hưởng đến độ lọc cầu thận; chấn thương thận; do dùng một số loại thuốc như penicillin, aspirin, cyclophosphamide; tập thể dục quá sức có thể gây ra chấn thương bàng quang, mất nước hoặc do sự phân hủy của tế bào hồng cầu; nam trên 50 tuổi có thể bị tiểu máu do phì đại tiền liệt tuyến; quan hệ tình dục: nhiều phụ nữ bị nhiễm khuẩn tiết niệu sau khi quan hệ tình dục có thể gây tiểu máu.

Ðừng sợ khi bị tiểu máu 1

Tiểu máu đại thể (cốc trái) nhìn thấy nước tiểu đỏ. Tiểu máu vi thể (cốc phải) phải soi dưới kính hiển vi mới thấy tế bào máu.

Ðừng sợ khi bị tiểu máu 2

Bệnh nhân sỏi thận không nên ăn nhiều rau muống vì dễ tạo sỏi nặng gây tiểu máu.

Dấu hiệu nhận biết

Có hai thể tiểu máu: tiểu máu đại thể là có thể nhìn thấy máu trong nước tiểu; tiểu máu vi thể là chỉ quan sát được tiểu máu bằng kính hiển vi.

Dấu hiệu rõ ràng của tiểu máu là nước tiểu có màu hồng, đỏ, hoặc màu cola do có sự hiện diện của tế bào hồng cầu. Nếu chỉ thấy nước tiểu có màu đỏ là tiểu máu nhẹ, thường không gây đau. Nếu tiểu máu có các cục máu đông thì có thể gây đau. Trên thực tế, nhiều khi tiểu máu không kèm theo một triệu chứng nào.

Tùy theo nguyên nhân gây ra tiểu máu mà có các triệu chứng tương ứng. Tiểu máu do nhiễm khuẩn tiết niệu, các triệu chứng gồm: mót tiểu nhiều, tiểu đau, tiểu rát và nước tiểu có mùi rất khai. Nếu do nhiễm khuẩn thận: có các triệu chứng giống với viêm bàng quang nhưng viêm thận có thể gây sốt và đau vùng hông. Sỏi bàng quang hoặc sỏi thận: gây ra những cơn đau dữ dội, sỏi thận hoặc sỏi bàng quang đều có thể gây chảy máu. Phì đại tiền liệt tuyến: tiểu khó, mắc tiểu liên tục và tiểu máu. Viêm cầu thận: tiểu máu vi thể. Viêm cầu thận có thể do các bệnh tiểu đường, nhiễm virut, nhiễm liên cầu khuẩn, bệnh mạch máu. Ung thư bàng quang, thận hoặc tiền liệt tuyến trong giai đoạn cuối.

Phân tích nước tiểu vừa giúp phát hiện nhiễm khuẩn và các chất được bài tiết ra theo nước tiểu như sỏi thận, vừa phát hiện ra tiểu máu. Chẩn đoán hình ảnh: chụp phim Xquang, chụp cắt lớp, chụp cộng hưởng từ, siêu âm có thể quan sát được thận và bàng quang, thấy nguyên nhân gây tiểu máu như sỏi tiết niệu, ung thư… Tuy nhiên, trên thực tế, dù có các chẩn đoán hình ảnh và các xét nghiệm vẫn không tìm thấy nguyên nhân gây tiểu máu. Trong trường hợp đó, bệnh nhân cần thường xuyên kiểm tra, nhất là với những người có nguy cơ ung thư bàng quang như hút thuốc, tiếp xúc với các chất độc hại và tiền căn xạ trị.

Hãy yên tâm, bác sĩ luôn ở bên bạn

Bệnh tiểu máu không có thuốc điều trị đặc hiệu. Chủ yếu chỉ điều trị những nguyên nhân cơ bản, uống kháng sinh để điều trị nhiễm khuẩn đường tiết niệu, dùng thuốc phòng ngừa sự phì đại tiền liệt tuyến, thuốc làm tan sỏi, sử dụng laser tán sỏi… Nhưng bệnh nhân cũng đừng lo lắng quá.

Tuy không thể hoàn toàn phòng ngừa bệnh tiểu máu nhưng có thể làm giảm nguy cơ bị tiểu máu bằng các biện pháp: phòng tránh nhiễm khuẩn tiết niệu bằng cách uống nhiều nước, đi tiểu ngay nếu có cảm giác buồn tiểu hoặc sau khi giao hợp; vệ sinh đúng cách: lau từ trước ra sau sau khi đi tiểu có thể làm giảm nguy cơ nhiễm khuẩn tiểu.

Đối với người bị bệnh sỏi thận: cần uống nhiều nước, hạn chế ăn muối, hạn chế ăn các thực phẩm giàu protein gây sỏi urat và các thực phẩm chứa nhiều oxalate như rau bina, rau muống…

Tránh ung thư bàng quang và ung thư thận: hạn chế hoặc bỏ hẳn hút thuốc; tránh tiếp xúc với các chất độc hại; duy trì cân nặng, duy trì chế độ ăn uống và hoạt động lành mạnh.

Điều trị tích cực các bệnh dễ gây tiểu máu như: sỏi bàng quang hoặc sỏi thận; phì đại tuyến tiền liệt; nhiễm khuẩn tuyến tiền liệt; viêm cầu thận; ung thư: bàng quang, thận, tiền liệt tuyến; tránh vận động quá sức.

BS. Trần Thị Hiền Trang

Các nhà khoa học Anh đã chế tạo ra một loại thiết bị có thể “ngửi” mẫu nước tiểu để phát hiện bệnh ung thư bàng quang. Thiết bị này sử dụng cảm biến để phát hiện các chất khí tỏa ra từ nước tiểu khi có sự xuất hiện của tế bào ung thư.

Để kiểm nghiệm thiết bị, các nhà nghiên cứu sử dụng 98 mẫu nước tiểu, trong đó 24 mẫu là của những người đàn ông bị ung thư bàng quang và 74 mẫu còn lại của những người đàn ông có vấn đề về bàng quang, song không bị ung thư. Các thử nghiệm cho thấy, thiết bị kiểm tra đưa ra kết quả chính xác tới 96%. Theo GS. Chris Probert thuộc Đại học Liverpool và GS. Norman Ratcliffe thuộc Đại học West of England, thiết bị này có thể đọc được mùi ung thư “nó đọc được khí mà các hóa chất trong nước tiểu tỏa ra khi mẫu nước tiểu được đun nóng”.

Tuy nhiên, GS. Probert cũng cho biết, cần kiểm tra độ chính xác của máy trên một phạm vi rộng hơn trước khi đưa vào dùng trong bệnh viện.

PH (Theo Science Daily, 9/7/2013)

Ung thư là một căn bệnh đáng sợ đang ảnh hưởng đến cuộc sống của chúng ta trong thập kỷ qua. Nhưng bạn có thể ngăn ngừa ung thư với một chế độ ăn uống lành mạnh, tập thể dục thường xuyên và luôn thấy yêu đời.
 
Chúng tôi xin giới thiệu tới các bạn 18 loại thực phẩm có đặc tính chống ung thư.
 
Bắp cải
18 thực phẩm chống lại ung thư 1
Bắp cải là một loại rau làm cho bạn mạnh mẽ hơn và được xem là rau thuốc. Hợp chất Indole-3-carbinol có trong bắp cải ngăn chặn sự phát triển của bệnh ung thư vú. Indole-3-carbinol chuyển đổi các ảnh hưởng có hại của estrogen thành một hợp chất hữu ích.

Súp lơ

Bên cạnh bắp cải, các loại rau họ cải khác là súp lơ là thực phẩm chiến đấu lại bệnh ung thư. Súp lơ có thể lại chống ung thư bàng quang, ung thư vú, ung thư ruột kết, ung thư tuyến tiền liệt và ung thư buồng trứng. Súp lơ giúp cơ thể giải độc, nó là một chất chống oxy hóa và nó có đặc tính kháng viêm.

Nấm
 
Nấm rất giàu vitamin B và sắt. Nó cũng được biết đến có khả năng chống lại bệnh tiểu đường, ngăn ngừa các khối u, chống oxy hóa, chống dị ứng, chiến đấu cholesterol và tăng khả năng miễn dịch.
 
Bông cải xanh
18 thực phẩm chống lại ung thư 2

Sulforaphane có trong rau họ cải như bắp cải, súp lơ và bông cải xanh có thể chống ung thư. Hợp chất này giúp ngăn ngừa sự phát triển của khối u.

Cà rốt

Beta carotene và falcarinol được tìm thấy trong cà rốt giúp chống ung thư. Tiêu thụ cà rốt có thể chống lại các bệnh ung thư như: ung thư phổi, ung thư miệng, ung thư cổ họng, ung thư dạ dày, ung thư ruột, ung thư bàng quang, ung thư tuyến tiền liệt và ung thư vú.

Khoai lang

Polyphenol chất chống oxy hóa axit caffeic và tri-caffeoylquinic acid có trong khoai lang giúp chống ung thư như ung thư phổi, ung thư mật, ung thư thận, ung thư gan và ung thư vú.

Bưởi

Bưởi được được biết có khả năng chống lại bệnh tiểu đường và thúc đẩy giải độc trên cơ thể. Nó cũng là một trong những thực phẩm chiến đấu lại ung thư đại tràng. Flavonoid trong bưởi làm chậm quá trình sản xuất ra tế bào ung thư.

Nho
 
18 thực phẩm chống lại ung thư 3
 

Các nghiên cứu đã chứng minh nho là thực phẩm chiến đấu chống lại ung thư. Nhưng điều quan trọng cần lưu ý hạt nho chứa proanthocyanidins hóa chất giúp chống lại ung thư ruột kết, ung thư tuyến tiền liệt và ung thư vú .

Cà chua

Cà chua là một nguồn cung cấp vitamin A, C, và E và hợp chất chống ung thư là lycopene. Chất chống oxy hóa này giúp chống lại các gốc tự do và các tế bào ung thư. Vitamin C trong cà chua giúp ngăn ngừa tổn thương tế bào có thể dẫn đến ung thư. Cà chua là thực phẩm tuyệt vời để chống lại ung thư vú, ung thư tuyến tiền liệt, ung thư miệng, ung thư tuyến tụy và ung thư ruột kết.

Mâm xôi, dâu tây

Quả mâm xôi và dâu tây có chứa chất chống oxy hóa có thể chống lại tế bào ung thư đặc biệt là ung thư dạ dày, ung thư ruột kết và ung thư vú. Acid ellagic có trách nhiệm để ngăn ngừa ung thư da, bàng quang, phổi và thực quản.

Đu đủ

Đu đủ có chứa các hợp chất beta carotene và lycopene rất hiệu quả trong cuộc chiến chống các gốc tự do. Isothiocyanates từ đu đủ cũng bảo vệ các tế bào di căn thành ung thư. Do đó điều này làm cho đủ đủ trở thành “superfood” chống lại ung thư.

Cam và chanh
18 thực phẩm chống lại ung thư 4

Những thực phẩm này có chứa limonene giúp tăng khả năng miễn dịch giết chết các tế bào ung thư. Cam và chanh là một cách tuyệt vời để chống lại các gốc tự do.

Hạt lanh

Hạt lanh có thể ngăn chặn sự phát triển và lây lan của các tế bào ung thư. Hạt lanh giúp tránh được ung thư tuyến tiền liệt và ung thư vú.

Tỏi

Tỏi có thể làm giảm nguy cơ ung thư dạ dày, ung thư ruột kết, ung thư thực quản, ung thư tuyến tụy và ung thư vú.

Nghệ
18 thực phẩm chống lại ung thư 5

Curcumin trong củ nghệ là một chất chống oxy hóa mạnh mẽ làm chậm lại sự phát triển và lây lan của bệnh ung thư.

Trà xanh

Trà xanh có thể được dùng để tăng tốc độ trao đổi chất và giảm cân. Trà xanh cũng có thể ngăn chặn sự lây lan của bệnh ung thư.

Sản phẩm đậu nành

Một số chất có trong đậu nành có liên quan với việc giảm nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt và ung thư vú. Bên cạnh chống ung thư các sản phẩm đậu nành có thể giúp chống lại cholesterol xấu và huyết áp cao .

Dưa hấu

Lycopene có mặt trong cà chua cũng được tìm thấy trong dưa hấu. Lycopene là một hợp chất có thể chống ung thư.

Theo Dân Việt/Healthmeup

Chúng ta ai cũng muốn sở hữu một vóc người săn chắc, eo thon đặc biệt là chị em phụ nữ. Tuy nhiên, bạn đã bao giờ phải sử dụng đến chế độ ăn uống giảm cân hay chưa? Bạn có biết mình thừa cân vì lý do gì không?

 
Dưới đây là năm lý do hàng đầu một chế độ ăn uống thực sự có thể mở rộng vòng eo của bạn:
5 lý do khiến bạn thừa cân 1
Ảnh minh hoạ: internet

Một chế độ ăn uống không khoa học

Các cuộc khảo sát ở Anh phát hiện ra rằng, một trong ba phụ nữ bắt đầu chế độ ăn kiêng trong độ tuổi từ 15 đến 20 mà trọng lượng cơ thể vẫn không ngừng tăng. Vấn đề là, chế độ ăn uống quá chặt chẽ có thể mang lại sự trao đổi chất của cơ thể ngưng trệ dẫn đến sự mất cân bằng. Ví dụ, cắt giảm chất béo quá thấp có thể dẫn đến một thặng dư carbs mà cơ thể của bạn không “ghi nhận”, sau đó nó được chuyển đi trong các tế bào mỡ. Nếu không may, bất cứ lúc nào bạn ăn nhiều hơn nhu cầu cơ thể của bạn dù chỉ là chút ít và ngay cả những thứ lành mạnh thì mức dư thừa thức ăn đó sẽ trở thành chất làm béo cơ thể.

Dùng thực phẩm như một phần thưởng

Số một trong những điều mà làm cho chế độ ăn kiêng không bền vững là tâm lý “trên” hoặc “tắt”. Khi mọi người đi “trên” một chế độ ăn uống, sau đó trượt lên, họ cảm thấy như đang hoàn toàn làm chủ nó. Chính vì chủ quan mà họ thay đổi chúng thành các chế độ “tắt”, đồng nghĩa với việc quay lại ngay vào những thói quen ăn uống không lành mạnh. Bạn đã chuyển sang dùng thực phẩm như một phần thưởng. Thực tế là giảm cân và giữ nó song hành cùng mình đòi hỏi tính thống nhất cả ở lý trí và hành động. Theo kinh nghiệm của nhiều chuyên gia và những khách hàng của họ thì làm như vậy thường là chìa khóa thực sự để giảm cân lâu dài.

Bạn phải ăn những thức ăn bạn không thích

Không có gì tệ hơn việc phải nhịn miệng trước những đồ ăn mà bạn thèm khát. Trên thực tế, điều đó chỉ làm bạn tạo ra cảm giác thiếu thốn và thiếu thốn đồng thời có thể làm tăng kích thích thèm ăn. Ngược lại, bạn có thể ăn bữa ăn bạn mong muốn và vẫn giảm cân ( ở đây tôi muốn nhắc đến việc tìm kiếm sự cân bằng trong khẩu phần ăn). Ví dụ, bác sĩ Peter có một khách hàng yêu bánh mì bơ, và cô ấy nghĩ rằng mình phải từ bỏ nó để giảm cân. Sau một vài ngày ăn thực phẩm khác thay thế cô ấy cảm thấy không thỏa mãn. Khách hàng đó đã từ bỏ ý nghĩ ăn thay thế và trở lại bánh mì bơ. Vấn đề thực sự là bánh mì bơ của cô đã theo khẩu phần ăn như một điều không thể thiếu. Bác sĩ đã điều chỉnh tỷ lệ bánh mỳ bơ trong khẩu phần ăn và cô ấy đã có thể thưởng thức bánh mì mà vẫn giữ được vóc dáng eo thon.
 
5 lý do khiến bạn thừa cân 2

Chế độ ăn uống chứa đầy thực phẩm giả

Trong chế độ ăn uống của bạn có sử dụng thực phẩm chứa đầy các chất phụ gia nhân tạo sẽ thật không khác gì bạn đang làm ô nhiễm cơ thể. Nó sẽ khiến bạn ăn không ngon, không thoải mái vì những lo nghĩ sạch hay không sạch, độc hay không độc? Thêm vào đó, thực phẩm sau chế biến tăng cường các chất “dinh dưỡng” mà ở đây lại không phải là chất dinh dưỡng.

Một số chất bảo quản dùng không đúng quy cách, thực phẩm giả khi đi vào cơ thể bạn nó có thể tác oai, tác quái. Nó có thể khiến bạn bị ngộ độc, bị mắc bệnh này hay bệnh khác và đặc biệt là có loại thực phẩm giả rất biết cách “câu khách”. Một khi đã ăn nó bạn sẽ thèm ăn nó hơn kết quả là nhẹ thì thừa cân, nặng thì ngộ độc hay mắc bệnh mà bạn vô tình không hay biết gì.

Thực phẩm cấm bạn không thể từ bỏ

Cân bằng là một từ nhàm chán, nhưng khi bạn nghĩ về những gì nó thực sự có nghĩa thì nó lại trở thành vô cùng quyến rũ. Theo khảo sát ở Vương quốc Anh, đầu năm loại thực phẩm người thấy khó cưỡng lại là: sô cô la, khoai tây chiên, pho mát, bánh và rượu. Bạn có thể thưởng thức nó miễn là bạn tạo ra một sự cân bằng cho dinh dưỡng cơ thể. Ví dụ, nếu bạn đang đi đến một nhà hàng và bạn muốn dùng món nhiều tinh bột và chất béo thì bữa sau bạn phải ưu tiên dùng rau củ quả.
 
Theo Dân trí/Health

Tâm thần là một trong lĩnh vực “khó khăn” và ít được khai phá nhất của y học. Một bác sĩ tâm thần cũng khó có thể biết chắc những gì đang diễn ra trong đầu bệnh nhân. Chứng rối loạn tâm thần chúng ta thường biết đến như: tâm thần phân liệt, rối loạn ám ảnh cưỡng chế. Nhưng trên thực tế, có nhiều rối loạn mà hầu hết mọi người cảm thấy nó khá kỳ lạ và hiếm gặp.

Hội chứng Landau-Kleffner

Đây là một rối loạn kỳ lạ được mô tả lần đầu tiên vào năm 1957 bởi 2 bác sĩ William M. Landau và Frank R. Kleffner. Bệnh thường xảy ra với trẻ khỏe mạnh, phát triển bình thường về cử động và ngôn ngữ, ở độ tuổi từ 5-7 tuổi. Trẻ biết nói và nói được ít nhiều rồi tự nhiên mất đi khả năng này, đột ngột hoặc từ từ, có trường hợp mất cả hai khả năng nghe hiểu ngôn ngữ và nói. Một số trẻ bị co giật, động kinh. Các nhà khoa học chưa tìm được nguyên nhân gây ra chứng rối loạn này vì đa số trường hợp trẻ phát bệnh tự nhiên không có nguyên nhân.

9 chứng rối loạn tâm thần kỳ lạ 1Landau-Kleffner là một hội chứng kỳ lạ.

Hội chứng mất ý chí

Hội chứng mất ý chí không phải là một chứng rối loạn tâm thần phổ biến, nó xảy ra khi người bệnh do dự khi quyết định điều gì đó khiến não bộ bị tê liệt. Người mắc căn bệnh này phải đối mặt với những điều tưởng chừng rất khó tin vì họ gần như không làm được các việc đơn giản, thậm chí việc hỏi họ có muốn ra ngoài đi dạo không cũng có thể khiến họ rơi vào trạng thái tê liệt ý chí do phân vân lưỡng lự. Nhiều bệnh nhân cho biết mặc dù họ nhận thức rất tốt về vấn đề mọi người đang đề cập nhưng không thể diễn đạt những điều đó bằng miệng.

Rối loạn do caffein

Caffein có thể gây ra sự lo lắng nghiêm trọng. Các nhà khoa học đã thừa nhận cà phê chính là nguyên nhân tăng nguy cơ của lo lắng, trầm cảm. Vì vậy, nếu bạn là người dễ bị kích động, nên tránh sử dụng đồ uống có chứa caffein.

Hội chứng Boanthropy

Đây là một rối loạn hoang tưởng rất kỳ lạ. Theo lời kể của bệnh nhân mắc chứng Boanthropy, họ tin rằng mình là một con bò. Rối loạn này thường bắt đầu trong giấc mơ của họ, dần dần ảo giác này tràn ngập tâm trí. Họ có xu hướng hành động như một con bò, đó là thích đi bằng cả 2 tay, 2 chân và gặm cỏ.

Hội chứng cắn và nhai không kiểm soát

Hội chứng này ít được biết đến, nó là hình thức rối loạn kiểm soát xung động. Người bệnh mắc hội chứng này thường ban đầu cắn móng tay mình liên hồi  nhưng sau đó, nghiêm trọng hơn là rối loạn dẫn tới cắn và nhai cả ngón tay. 

Hội chứng cánh tay lạ

Đây là một rối loạn thần kinh khiến cho tay của người bệnh dường như tồn tại một cách độc lập với cơ thể. Đôi khi người bệnh không ý thức được bàn tay đang làm gì cho đến khi nó thực sự thu hút sự chú ý. Bàn tay tự do hoạt động, rối loạn này khiến người bệnh rơi vào trạng thái đau đớn bất ngờ.

Hội chứng rối loạn hành vi

Hội chứng này xảy ra phổ biến ở Nhật, đặc biệt đối với những người lớn lên theo khuôn khổ kỷ luật hà khắc và sự kỳ vọng tuyệt đối của cha mẹ. Người bệnh bị rối loạn do nỗi sợ hãi làm tê liệt ý chí và hành động của họ đi ngược lại nhận thức của họ về sự vật, sự việc.

Rối loạn Erotomania

Đây là một rối loạn khá kỳ lạ, về cơ bản, hội chứng này được hiểu: người bệnh tự hoang tưởng về việc bản thân họ đang có mối quan hệ yêu đương với người khác. Nhưng điều làm cho rối loạn này đặc biệt ở chỗ bệnh nhân thường nghĩ mình là người có địa vị cao, người nổi tiếng đang có quan hệ tình cảm với người bình thường. Ảo tưởng rất khó bị phá vỡ, nó thậm chí còn khiến bệnh nhân hành động cực đoan để bảo vệ suy nghĩ của mình và kiểm soát, thậm chí sát hại đối tượng mình yêu để giữ cho riêng mình.

Hội chứng rối loạn di truyền học

Hội chứng riley hay còn gọi là hội chứng rối loạn di truyền học ảnh hưởng đến hệ thống thần kinh trung ương. Bệnh nhân thường phải đối mặt với những cơn buồn nôn, khó khăn khi nhai, nuốt. Ở nhiều trường hợp, người bệnh vô cảm với đau đớn. Điều này rất nghiêm trọng khi bệnh nhân bị thương hay đau nhức trong cơ thể nhưng hệ thống thần kinh trung ương lại không ghi nhận tín hiệu này dẫn tới các vết thương trở nên hoại tử thì bệnh nhân mới được đưa tới bác sĩ. Các nhà khoa học xác định, một trong những nguyên nhân mắc hội chứng này do di truyền.         

(Theo LSV, 6/2013)

Minh Huệ

Xoắn đại tràng là một bệnh gây tắc nghẽn và thiếu máu cục bộ, hay gặp ở đại tràng xích ma và manh tràng, ít gặp hơn là xoắn tràng ngang và đại tràng góc lách. Vòng xoắn có thể có từ 180 – 540 độ. Xoắn đại tràng gây trướng ruột cục bộ, do nhu động ruột đẩy phân và khí đến vị trí xoắn gây tăng áp lực. Áp lực này có thể cao hơn áp lực tĩnh mạch thì tâm trương. Tắc nghẽn tĩnh mạch và giảm tưới máu động mạch do xoắn mạc treo dẫn đến thiếu máu cục bộ, hoại tử và thủng đại tràng.

Các dạng bệnh thường gặp

Xoắn đại tràng xích ma là loại phổ biến nhất, chiếm khoảng 8% các trường hợp tắc ruột, gặp ở mọi lứa tuổi. Bệnh có thể tiến triển mạn tính, bán cấp hay cấp tính. Tuy nguyên nhân gây xoắn đại tràng xích ma chưa được biết rõ, nhưng các nhà chuyên môn biết các yếu tố dễ gây bệnh là: đại tràng xích ma dài, hai chân đại tràng xích ma gần nhau; người bị bệnh táo bón; bệnh nhân bị phình đại tràng bẩm sinh.

Xoắn manh tràng chiếm khoảng 1-3% các trường hợp tắc ruột, hay gặp ở người độ tuổi 20-40. Sự bất thường về cố định đại tràng lên và manh tràng vào thành bụng là nguyên nhân chính gây ra xoắn manh tràng. Các yếu tố dễ gây bệnh là: phụ nữ có thai, u vùng chậu, người có thói quen ăn quá nhiều, quá no. Có hai thể xoắn manh tràng là xoắn thật sự do manh tràng xoay quanh trục đại tràng lên, chiếm 2/3 số ca bệnh, dễ dẫn đến hoại tử; hai là gập góc manh tràng, manh tràng bị gập lên trên và vào giữa theo trục ngang.

Biến chứng nguy hiểm do xoắn đại tràng 1

Đại tràng xoắn theo chiều mũi tên (trái) gây tổn thương (phải).

Biến chứng nguy hiểm do xoắn đại tràng 2

Chụp cắt lớp thấy tổn thương xoắn đại tràng.

Bệnh nhân bị xoắn đại tràng thường có các dấu hiệu gì?

Đau bụng dữ dội, khởi đầu đau khu trú, sau cơn đau có thể lan rộng khắp vùng bụng. Trướng bụng là một triệu chứng quan trọng, nếu trướng ở bên phải cần nghĩ đến xoắn manh tràng; trướng bụng ở phía bên trái thường là xoắn đại tràng xích ma. Chỉ trong vài giờ, toàn bộ bụng phình to. Buồn nôn xảy ra trước khi nôn, nấc cục. Bí trung và đại tiện. Nếu không được phát hiện bệnh và điều trị sớm có thể dẫn đến sốc với biểu hiện: mạch nhanh, yếu, tụt huyết áp, nhiễm khuẩn huyết, khó thở, sốt. Bệnh nhân bị xoắn đại tràng xích ma mạn tính thường trướng bụng, nặng bụng dưới và táo bón. Xoắn manh tràng mạn tính thường biểu hiện bằng hội chứng bán tắc ruột.

Trên thực tế rất khó phân biệt giữa xoắn đại tràng xích ma cấp tính và xoắn manh tràng cấp tính. Xoắn đại tràng xích ma thường gặp ở người lớn tuổi. Triệu chứng xoắn đại tràng cấp tính: đau bụng, bụng trướng nhanh; nôn ói; bí trung và đại tiện; bụng trướng hơi nhiều và trướng không đều. Nếu xoắn đại tràng hoại tử có biểu hiện: sốt, bụng ấn đau; khi thủng đại tràng có triệu chứng viêm phúc mạc toàn thể với sốc và triệu chứng nhiễm khuẩn nhiễm độc. Bác sĩ thăm trực tràng thấy bóng trực tràng trống. Chụp Xquang bụng có thể chẩn đoán xác định 60-70% các trường hợp xoắn đại tràng xích ma. Chụp Xquang bụng cũng có thể chẩn đoán xác định hầu hết các trường hợp xoắn manh tràng.

Điều trị như thế nào?

Xoắn đại tràng xich ma: tháo xoắn qua ngả trực tràng khi chưa hoại tử đại tràng. Bệnh nhân nằm nghiêng trái, luồn ống thông mềm vào trực tràng dưới sự hướng dẫn của màn huỳnh quang hay nội soi trực tràng. Khi hơi và dịch phân thoát ra thì lưu ống trong 48 giờ. Sau khi tháo xoắn, bệnh nhân được theo dõi sát trong vòng 12 giờ đầu để phát hiện sớm hoại tử đại tràng tiếp diễn. Phẫu thuật cấp cứu: khi thủng hay hoại tử đại tràng; trước đó tháo xoắn qua ngả trực tràng thất bại.

Xoắn manh tràng: chưa có dấu hiệu hoại tử, cố gắng điều trị bảo tồn bằng tháo xoắn qua thụt barium (hay nội soi đại tràng). Sau đó xếp lịch mổ để đính manh tràng và đại tràng lên vào thành bụng. Nếu tháo xoắn qua thụt barium thất bại hoặc có dấu hiệu hoại tử manh tràng, phải phẫu thuật điều trị.

Lời khuyên của bác sĩ

Trong các yếu tố gây xoắn đại tràng, ngoại trừ các yếu tố bẩm sinh  có những yếu tố có thể phòng tránh được như: bệnh táo bón, người có thói quen ăn quá nhiều. 

Bạn có thể thực hiện các biện pháp phòng bệnh táo bón và xoắn đại tràng như sau: uống đủ nước hàng ngày, đối với trẻ em lứa tuổi còn bú sau các bữa ăn bà mẹ cần cho con uống thêm nước, tốt nhất là nước cam, chanh… Trẻ em ở tuổi đi học, cần chú ý cho các cháu uống đủ nước. Đối với người cao tuổi và người lớn, ngoài bữa ăn cần uống ít nhất 1 lít nước mỗi ngày, trong những ngày nắng nóng cần uống 2 lít/ngày. Những người bệnh sốt cao có thể mất 2-3 lít nước mỗi ngày qua mồ hôi, nên sau khi hết sốt thường bị táo bón, vì vậy, khi đang sốt phải thường xuyên cho uống nước hoặc ăn các thức ăn lỏng như cháo, súp, nước trái cây. Mọi người cần ăn đủ chất xơ như rau xanh, trái cây. Tập thói quen đi đại tiện vào một giờ cố định, tốt nhất là vào sáng sớm. Mọi người chỉ nên ăn vừa no, tránh thói quen ăn quá no, quá nhiều để vừa tránh bệnh thừa cân béo phì, vừa tránh được bệnh táo bón.

BS. Bùi Thị Thu Hương

 Mật ong được con người dùng làm thuốc và thực phẩm từ rất lâu. Các công trình nghiên cứu về mật ong của các nhà khoa học mỗi ngày một dày thêm mà vẫn còn nhiều bí ẩn cần giải quyết.

Mật ong, tên khác là bách hoa tinh, bách hoa cao, phong đường. Tên khoa học. Mật ong là một sản phẩm tươi sống, không được phép chế biến hoặc thêm chất gì (chỉ được phép loại bớt nước để đảm bảo độ ẩm an toàn của mật ong: 15 – 18,5%).

Ngày nay, người ta sử dụng cả mật ong rừng và mật ong nuôi.  Các nhà khoa học đã biết đến 85 loại mật ong. Nêpan là nơi quy tụ nhiều giống ong mật nhất thế giới.

Thành phần hóa học: mật ong có thành phần hóa học  rất phức tạp tùy theo loại hoa mà ong lấy mật. Vì vậy, mật ong có hàng trăm chất khác nhau, có chất tạo nên hương vị đặc trưng cho từng loại mật ong (hương nhãn, hương bạc hà…).

Mật ong - phong phú tính năng chữa bệnh 1

 Các thành phần chủ yếu:

– Carbohydrat: fructose 38,5%, glucose 31%, maltose 7,1%, sucrose 5%.

 – Các acid hữu cơ 0,45%  gồm có: acetic, butyric, citric, formic, lactic, malic, oxalic, tartric. 

 – Protid  0,3% (đáng chú ý là protid defensin-1 có tác dụng chữa bỏng và nhiễm trùng ngoài da).  Mật ong giàu protid đặc sánh hơn bình thường.

– Các vitamin:  B1, B2, B3, B5, B6;  beta caroten, E, K.    

– Các chất khoáng và nguyên tố vi lượng cần thiết cho cơ thể 0,2%: kali, magie, natri, canxi,  Fe, Cu Al, Ag, Au, Ba,  Bi, Bo, Cr, Co, Ir, Li,  Mn. Mo, Si, Sn, Ti,  Cl, I, P, S…    

– Các enzyme: amylase, galactase, invertase, lipase.

– Các  chất chống  oxy hóa: chrysin, pinobanksin, pino cembrin, vitamin C, catalase… 

Mật ong được dùng làm phụ gia chế biến thức ăn, làm thuốc , làm chất ngọt thay đường cho người bệnh ung thư, làm mỹ phẩm.

Làm phụ gia chế biến món ăn: chân gà tẩm mật ong nướng. Vịt tẩm mật ong quay…

Làm thuốc:

Trị ho: chanh quả khía múi khế sâu, ngâm trong 1 thìa mật ong 2 giờ sau tách miếng chanh ngậm nuốt nước, liên tục đến khi hết chanh.

Trị tưa lưỡi trẻ em do nấm Candida abicans: nhỏ 1 giọt mật ong lên lưỡi trẻ, chúng sẽ đưa lưỡi liên tục làm sạch nấm.

Chữa viêm loét dạ dày hành tá tràng: pha 10ml mật ong với 100ml nước hơi ấm rồi uống từ từ vào buổi sáng liên tục đến khi khỏi, hoặc trộn 12g bột nghệ vàng với 6ml mật ong, ăn liên tục trong 8 – 10 tuần. 

Chữa mất ngủ: uống sữa pha với 20ml mật ong trước khi ngủ tối.

Ngừa tăng huyết áp: mật ong 20ml pha với 5ml nước ép gừng tươi, ngày uống 2 lần sáng và tối. 

Điều trị loét cho bệnh nhân đái tháo đường: theo tiến sĩ Peter Molan thuộc Đại học Waikato New Zealand, vi khuẩn gây loét kháng thuốc rất mạnh, mọi loại kháng sinh đều không có tác dụng; dùng mật ong bôi vào vết loét rồi băng bó lại, sau hơn 1 tháng vết loét biến mất mà không có sẹo, ít gây đau cho người bệnh, chi phí cực rẻ.

Tăng cân cho người gầy yếu: sau mỗi bữa ăn, uống 20ml mật ong pha với nước ấm.

Giảm cân cho người dư cân: sáng sớm ngủ dậy, uống 50ml mật ong pha với nước ấm. Bữa tối nhịn ăn, thay bằng uống 100ml mật ong pha với nước ấm. Mật ong sẽ làm giảm tiết dịch dạ dày, làm tan mỡ dự trữ một cách âm thầm và có cảm giác no lâu (thực hiện trong 3 ngày liên tục).

Chống hạ đường huyết ở những người dùng thuốc hạ đường huyết quá liều hoặc vận động viên tập luyện quá mức: uống 20ml mật ong pha với 100ml nước ấm.

Chữa bỏng và vết thương: bôi mật ong rồi băng kín lại.

Trị bệnh đái tháo đường: nhiều tài liệu ghi: cấm dùng mật ong cho người bệnh đái tháo đường. Nhưng các nhà khoa học Trung Quốc đã nghiên cứu  chọn lọc trong số 50 vị thuốc y học cổ truyền có tác dụng điều chỉnh đường huyết thấy 35 vị thuốc hạ chỉ số đường huyết ở mức 10% so với trị số ban đầu, trong đó 11 vị có tác dụng rõ rệt: mật ong, tang bạch bì, tang thầm, tang diệp, đương quy, ngũ bội tử… Mật ong có tác dụng hồi phục và nâng cao năng lực hoạt động của tế bào beta tuyến tụy làm tăng tiết insulin và cải thiện tính mẫn cảm của tế bào các tổ chức với insulin. Các bài thuốc có vị mật ong để trị bệnh đái tháo đường týp 2:

Bổ trung ích khí, cường thận ích vị (người gầy yếu): hoàng tinh 30g,  đậu đen 30g.  Rửa sạch hoàng tinh và đậu đen, ngâm 30 phút trong 1.500ml nước rồi đun sôi, để nhỏ lửa trong 2 giờ cho nhừ nát. Khi nguội cho 10g mật ong, trộn đều. Chia làm 2 lần ăn trong ngày. 

Tư âm thanh nhiệt, nhuận phế chỉ khát (người gầy yếu, cao huyết áp, viêm phế quản mãn tính, táo bón, hay sốt về chiều): lê tươi đã gọt vỏ 750g, mật ong 100g.  Lê bỏ hạt, ép lấy nước rồi hòa với mật ong để uống (không dùng bài này cho người rối loạn tiêu hóa, đi lỏng mãn tính). 

Tỏi ngâm mật ong: tỏi bóc sạch vỏ 15g đập dập để 15 phút sau đó ngâm vào 100ml mật ong, sau 3 tuần là dùng được. Chữa các bệnh đau dạ dày (viêm loét dạ dày hành tá tràng do HP) ho, cúm. Ngày uống 3 lần mỗi lần 20ml dịch mật ong – tỏi  đến khi khỏi bệnh.

Làm mỹ phẩm: xóa nếp nhăn, chống khô da, vết nám trên da:  lòng trắng trứng gà  1 cái trộn đều với 10ml mật ong. Thoa 1 lớp mỏng lên da, 15 phút sau rửa sạch. Mỗi ngày làm 1 lần.

Làm đẹp da mặt: nước chanh mới vắt lọc sạch 10ml, trộn đều với 20ml mật ong, thoa 1 lớp mỏng lên mặt, 15 phút sau rửa sạch. Mỗi ngày làm 1 lần

Mật ong - phong phú tính năng chữa bệnh 2Mỹ phẩm chế biến từ mật ong dùng để xóa nếp nhăn, chống khô da, vết nám trên da

Hạn dùng: trước đây người ta cho rằng mật ong không bao giờ hỏng, để càng lâu càng tốt, vì thấy mật ong trong Kim tự tháp Ai cập đã hơn 3.000 năm mà vẫn thơm ngon. Nay nghiên cứu thấy: mật ong mới thu hoạch (bằng cách ly tâm lấy mật, không đun nóng quá 60oC để giảm lượng nước) hàm lượng HMF rất nhỏ (1 – 5mg/kg). Sau 100 – 300 ngày bảo quản ở nhiệt độ 30 – 35oC đã tăng lên 40mg/kg. Sau vài năm bảo quản trong nhiệt độ như trên, HMF đã tăng lên đến 200 – 300mg/kg (HMF là chất độc gây chết ong khi hàm lượng trên 200mg/kg). Vì vậy,  người ta khuyên không nên dùng mật ong để quá 2 năm.

Phân biệt thật giả: có nhiều cách thử như:

  Cho mật ong vào ngăn làm đá của tủ lạnh trong 24 giờ, khi đưa ra ngoài mật vẫn như ban đầu (không bị đông).

– Nhỏ 1 giọt mật ong trên giấy thấm (giấy lau tay, giấy vệ sinh) giấy không bị thấm ướt, giọt mật vẫn tròn như ban đầu.

– Dùng cốc nước trong: nhỏ 1 giọt mật ong váo cốc nước, mật vẫn giữ hình tròn khi rơi xuống đáy cốc.

Mật ong hỏng: khi thấy mật ong có bọt là đã bị nấm men phát triển, không nên dùng.

  

DS. TRẦN XUÂN THUYẾT

Lời khuyên của thầy thuốc

Những trường hợp không được dùng mật ong:

– Trẻ em dưới 12 tháng tuổi, do cơ thể trẻ chưa có đủ các loại vi khuẩn tốt để tiêu diệt bào tử clostridiumbotulium có thể có trong mật ong (khoảng 5% mật ong có nhiễm bào tử này).

– Người có hệ tiêu hóa suy yếu (sôi bụng, ỉa chảy, đầy bụng).

– Sức đề kháng kém.  

– Người bị dãn tĩnh mạch dưới da. 

– Xơ gan.

– Người mang thai.

Tránh ăn mật ong cùng với: đậu phụ, tỏi, hành, hẹ, thì là, cá chép, cơm  (có tài liệu ghi hấp mật ong với hẹ để chữa ho).

Khi uống mật ong: nên pha loãng với nước lạnh hoặc nước hơi ấm. Không dùng nước nóng quá 50oC. Không ngậm mật ong nguyên chất trong miệng, nếu uống mật ong nguyên chất nên nuốt ngay khi cho mật ong vào miệng có trường hợp ngậm mật ong nguyên chất trong miệng 5 phút, sau đó vòm khẩu cái bị phồng lên, chữa trị liền 3 tháng mới đỡ được 70%.

Trên thực tế có một số trường hợp bệnh nhân sốt rét được điều trị tại các cơ sở y tế xuất viện về nhà nhưng sau đó bị sốt trở lại. Do sốt rét tái phát nên người bệnh phải đến lại cơ sở y tế để tiếp tục điều trị. Việc điều trị không dứt điểm, không đúng quy định, sốt rét lại tái phát hết đợt này đến đợt khác làm cho người bệnh hiểu nhầm sốt rét là một bệnh mạn tính khó chữa khỏi. Vì vậy, cần hiểu đúng về vấn đề này.

Sốt rét tái phát, vì sao?

Sốt rét tái phát do nhiều nguyên nhân khác nhau. Nguyên nhân thường gặp do ký sinh trùng sốt rét thể vô tính trong hồng cầu còn sót lại từ đợt trước tiếp tục phát triển, vượt ngưỡng gây sốt. Chủng loại ký sinh trùng Plasmodium falciparum và Plasmodium vivax thường gây nên hiện tượng tái phát gần trung bình từ sau 7 – 14 ngày; còn được gọi là bột phát. Đối với những người đã mắc sốt rét trước đây do nhiễm ký sinh trùng Plasmodium falciparum có một lần miễn dịch sốt rét, hiện tượng tái phát có thể xuất hiện từ sau 3 – 6 tháng.

Tại sao sốt rét lại tái phát? 1Ký sinh trùng Plasmodium falciparum và Plasmodium vivax thường gây nên sốt rét tái phát.

Ngoài ra, chủng loại ký sinh trùng sốt rét có thể ngủ (hypnozoite) ở trong gan có điều kiện hoạt hóa phát triển và phóng thích vào máu các ký sinh trùng non merozoites từ gan cũng có thể gây nên hiện tượng tái phát. Chủng loại ký sinh Plasmodium vivax và Plasmodium ovale có thể ngủ ở gan nên gây hiện tượng tái phát phát xa xuất hiện từ sau vài tuần đến 9-10 tháng.

Một số trường hợp hãn hữu, khi bị nhiễm chủng loại ký sinh trùng Plasmodium malariae do chu kỳ phát triển vô tính của ký sinh trùng tiềm tàng trong hồng cầu được hoạt hóa cũng gây nên hiện tượng tái phát.

Biểu hiện của sốt rét tái phát

Sốt rét tái phát thường gây nên triệu chứng sốt thành cơn điển hình của sốt rét với 3 giai đoạn rét run, nóng sốt và vã mồ hôi một cách có chu kỳ ngay từ lúc khởi phát bệnh.

Trong giai đoạn rét run, cơn rét chạy dọc từ sống lưng truyền ra toàn thân; hai hàm răng đập vào nhau; run bần bật; đắp nhiều chăn nhưng vẫn thấy rét; kèm theo đó là môi tím tái, đôi mắt quầng thâm; nổi gai ốc; mạch nhanh, nhỏ; lách sưng to; đi tiểu nhiều… Cơn rét run thường kéo dài từ 15 phút đến khoảng 1-2 giờ.

Trong giai đoạn nóng sốt, sau khi hết cơn rét run, bệnh nhân chuyển sang giai đoạn nóng bức, tung bỏ hết chăn đắp ra; mặt đỏ bừng, mắt đỏ, da khô nóng, nhức đầu, chóng mặt, hay nôn; nhiệt độ tăng cao từ 40 – 41oC; mạch đập mạnh và nhanh; nhịp thở nhanh; có thể hơi đau vùng gan và lách; nước tiểu ít và sẫm màu… Giai đoạn nóng sốt trung bình kéo dài từ 2 – 4 giờ hoặc hơn tùy theo thể bệnh nặng hay nhẹ.

Trong giai đoạn vã mồ hôi, sau khi hết nóng sốt nhiệt độ cơ thể giảm dần; bệnh nhân vã ra nhiều mồ hôi ở trán, đầu, mặt đến toàn thân nếu bị bệnh nặng; triệu chứng nhức đầu giảm, hết nôn; gan và lách hơi co lại, bớt đau; người bệnh có cảm giác dễ chịu hẳn, chỉ còn biểu hiện khát nước, đôi khi ngủ thiếp đi vì mệt nhọc.

Đối với sốt rét tái phát, cơn sốt kéo dài trung bình khoảng từ 2 – 4 giờ, thường ngắn hơn cơn sốt của sốt rét sơ nhiễm. Tuy vậy, cũng cần lưu ý ba giai đoạn của cơn sốt điển hình gồm rét run, nóng sốt, vã mồ hôi không phải bệnh nhân sốt rét tái phát nào cũng có đầy đủ. Hết cơn sốt, người bệnh có thể ăn uống, lao động, làm việc, nghỉ ngơi trở lại bình thường cho đến khi cơn sốt quay trở lại theo chu kỳ. Đặc điểm thực tế cho thấy, thời gian cơn sốt rét tái phát có xu hướng ngắn lại dần và nhẹ hơn ở người lớn, người có tiền sử mắc sốt rét nhiều năm khi sống trong vùng sốt rét lưu hành vì đã có tính miễn dịch. Cần chú ý đối với các trường hợp sốt rét sơ nhiễm, khi bệnh nhân đã chuyển sang giai đoạn cơn sốt có chu kỳ, cơn sốt cũng có đủ 3 giai đoạn điển hình như cơn sốt rét tái phát.

TTƯT.BS. Nguyễn Võ Hinh

Có người ví thực phẩm tươi sống là những loại thuốc mạnh nhất bởi nó điều chỉnh tất cả các chức năng sinh học của cơ thể. Thực vậy, những rắc rối về sức khỏe thông thường từ da khô, khó ngủ đến tâm trạng không thoải mái đều có thể giải quyết bằng giải pháp dinh dưỡng.
 
Trị bệnh thông thường bằng thực phẩm 1
 
Đầy hơi – rau quả nhiều nước

Khi đầy hơi, chướng bụng, nhiều người sợ thực phẩm có nước vì bụng có thể nặng thêm. Nhưng không phải vậy, ăn dưa hấu, dưa chuột, cần tây là cách tuyệt vời để giảm tải cho cơ thể. Theo giải thích của chuyên gia thì chúng ta cần muối natri để tồn tại, nhưng vì ăn quá nhiều nên cơ thể giữ lại nước để pha loãng máu, đưa nồng độ natri về mức cho phép. Lúc này, dùng thực phẩm có hàm lượng nước cao sẽ hỗ trợ quá trình pha loãng này, để cơ thể có thể bài tiết natri và chất lỏng dư thừa.

Ngoài ra, thỉnh thoảng bạn cảm thấy đầy hơi ngay sau ăn, hãy nghĩ đến đu đủ. Ăn đu đủ vài lần một tuần sẽ giúp trẻ hóa hệ tiêu hóa do đu đủ nhiều chất xơ giúp đẩy thức ăn qua đường ruột, đồng thời enzyme tiêu hóa có tên papain làm cho quá trình chuyển hóa protein nhanh chóng hơn.

Tâm trạng thất thường – nên ăn sáng

Người nào sau khi ngủ dậy 1-2 tiếng mà dùng bữa sáng sẽ có tâm trạng khá hơn trong suốt cả ngày cũng như làm việc hiệu quả hơn. Các nhà nghiên cứu của Anh đã tìm thấy so với những người đã ăn sáng, những người tham gia nghiên cứu khi bỏ bữa sáng cho kết quả kiểm tra trí nhớ kém hơn, buổi trưa họ cũng cảm thấy mệt mỏi hơn. 

Một thông tin khác mà có lẽ bạn cần lưu ý là phụ nữ có chế độ ăn thiếu khoáng chất selenium (có nhiều trong cá ngừ, trứng, gà tây)… dễ gặp cảm giác chán nản. Tại sao vậy? Selen là khoáng chất rất quan trọng cho các thế hệ của kích thích tố tuyến giáp, bộ phận chi phối sự trao đổi chất và tâm trạng.

Mặt mụn – ăn hành 

Thông tin này sẽ hữu ích cho những người bị mụn trứng cá. Các chất chống oxy hóa trong hành tây và rau giàu chất lưu huỳnh sẽ kiểm soát quá trình viêm nang lông dẫn đến mụn trứng cá. Một nghiên cứu năm 2011 cho biết, lưu huỳnh trong hành tây, tỏi tây và hành lá sẽ giúp tạo ra một phân tử giải độc glutathione vốn có hàm lượng thấp ở da của những ai dễ bị mụn. Bên cạnh đó, bổ sung thêm vitamin B6 và B12 cũng giúp tăng hàm lượng glutathione.

Trằn trọc khó ngủ – “chiều” dạ dày một chút

Tránh ăn đêm là điều rất tốt cho sức khỏe nhưng với nhiều người, quy tắc này khiến họ sẽ khó ngủ vì… đói. Thử tưởng tượng đúng lúc bạn cần phải được thư giãn để đi vào giấc ngủ thì bụng cứ sôi lên làm cho bạn phân tâm, thành ra trằn trọc mãi. Gặp tình huống này, tốt nhất là trong khoảng 30 phút đến 1 tiếng trước giờ đi ngủ, hãy ăn nhẹ với thực phẩm thành phần chính là carbohydrate, ví dụ như bánh mì, pho mát hay một quả chuối để “chiều” dạ dày.

Da nhạy cảm – bổ sung vi chất

Thời tiết mùa hè chẳng hạn, chế độ ăn cũng có thể giúp chúng ta tăng cường sức đề kháng cho da trước tác hại của tia cực tím. Một nghiên cứu khoa học gần đây cho hay, vi chất dinh dưỡng được gọi là carotenoid trong trái cây và rau quả tươi nếu được bổ sung đầy đủ có thể hấp thụ ánh sáng cực tím và ngăn ngừa tổn hại của nó.  Carotenoid có trong cà rốt, rau đắng còn chất lycopene sẵn trong cà chua và dưa hấu. Lưu ý, để có được công dụng này, bạn sẽ cần phải ăn một chế độ ăn uống giàu carotenoid ít nhất 10 đến 12 tuần, khi đó, phần thưởng giành được từ sự kiên nhẫn là làn da ít bị bắt nắng, giảm nếp nhăn.

Theo ANTĐ/ Health.com

Viêm họng thanh quản là tình trạng tổn thương do viêm nhiễm niêm mạc vùng hầu họng, thanh quản. Có nhiều nguyên nhân khác nhau như ô nhiễm môi trường, thời tiết thay đổi bất thường, cơ thể không thích nghi kịp thời gây đau rát khó chịu vùng hầu họng, thậm chí làm mất tiếng.

Viêm họng thanh quản gặp ở những người làm việc với cường độ giao tiếp cao hay ô nhiễm như: giáo viên, ca sĩ, luật sư, công nhân mỏ, đốt lò… Bệnh có thể gây ra nhiều biến chứng… Tuy nhiên, viêm họng thanh quản hoàn toàn có thể phòng và trị được. Xin giới thiệu bài thuốc kinh nghiệm chữa viêm họng, thanh quản từ lá xương sông để độc giả tham khảo áp dụng khi cần thiết.

Lá xương sông bánh tẻ 5 – 10 lá. Giấm ăn 20 – 30ml (giấm nuôi bằng chuối là tốt nhất). Lá xương sông rửa sạch để ráo nước, đập nhẹ cho ra tinh dầu nhúng giấm. Súc miệng bằng nước muối nhạt (0,9%) rồi ngậm nuốt nước dần ngày 2 – 3 lần cho tới khi khỏi, thường là 5 – 7 ngày bệnh sẽ tiến triển rõ rệt. Kinh nghiệm cho thấy, bài thuốc có tác dụng tốt với các chứng bệnh: viêm họng cấp mạn tính, viêm amiđan, viêm thanh quản kể cả đã mất tiếng…

Lá xương sông chữa viêm họng, thanh quản 1

Lá xương sông

Tại sao xương sông kết hợp với giấm lại trị được viêm hầu họng, thanh quản?

Theo YHHĐ, lá xương sông chứa tinh dầu (0,24%), methylthymol (94,96%), p-cymen (3,28%), limonene  (0,12%). Trong giấm, thành phần chính là acid acetic (acid acetic có tác dụng ức chế, diệt khuẩn rất tốt, đặc biệt là các vi khuẩn như: Streptococcus, Diplococcus pneumoniae, Staphylococcus…).

Theo Đông y, xương sông vị cay, tính bình, có tác dụng khu phong trừ thấp; tiêu thũng chỉ thống, thông kinh hoạt lạc. Thích dụng để trị các chứng bệnh: cảm sốt, ho, viêm họng, viêm phế, thanh quản; trắng lưỡi, viêm miệng; đầy bụng đi ngoài, nôn mửa; đau nhức xương khớp, mày đay, sốt co giật ở trẻ em… Theo y văn cổ, giấm đã được xếp vào vị thuốc chữa bệnh, đặc biệt là kháng viêm từ hơn 2000 năm trước, kinh nghiệm cho thấy giấm vị đắng chua, tính ấm, quy kinh can, vị, có tác dụng hoạt huyết hóa ứ, sơ thông hầu họng, tiêu thũng, giải độc, sát khuẩn, chỉ huyết (cầm máu)…

Chính vì vậy, khi phối hợp hai vị thuốc này với nhau trở thành một phương thuốc kháng viêm, giảm đau, chống phù nề tiêu ứ trệ đem lại cảm giác dễ chịu và tiếng nói thanh thoát cho những ai mắc bệnh trên.

Cần chú ý: Bài thuốc này chỉ chữa được chứng viêm họng, thanh quản thể thông thường, người bệnh cần khám cụ thể để phát hiện những căn nguyên và biến chứng như: nhân xơ thanh quản, u hay K vòm họng…

Trong quá trình điều trị, cần giữ ấm cổ, mũi họng, răng miệng, nhất là khi thay đổi thời tiết, không ăn uống đồ lạnh, đồ ướp đá, uống đủ nước…

Lương y Chu văn Tiến

Trong y học cổ truyền, thịt hến có tên gọi là nghiễn nhục, có vị ngọt mặn, tính hàn, không độc; có tác dụng hoạt tràng, thông khí, mát gan, thanh nhiệt giải độc, lợi tiểu. Vỏ hến (nghiễn xác) có vị mặn, tính ấm, không độc; có tác dụng cố tinh, làm se, long đờm, chống nôn,…

Hến là một thực phẩm chứa nhiều vitamin B12 và sắt, rất tốt cho những người thiếu máu. Hến cũng ít chất béo, ít cholesterol và nhiều axit béo omega-3, thích hợp cho người bệnh tim mạch.

Món ăn chữa bệnh từ hến 1Canh hến nấu bầu, món ăn – bài thuốc chữa bệnh.

Một số món ăn chữa bệnh từ hến

Bồi bổ sức khoẻ, thanh nhiệt, giải khát, trừ phiền: Hến 2kg, bầu 1 quả non. Mỡ, mắm, muối, hành, thì là, gia vị vừa đủ. Luộc hến gạn lấy nước, đãi lấy thịt để riêng. Bầu gọt vỏ băm nhỏ hoặc thái miếng. Đun sôi nước luộc hến thả bầu vào nấu chín, cho hành và thì là vào. Đun sôi mỡ, phi thơm hành rồi cho thịt hến và gia vị vừa đủ, đảo đều đến khi thịt hến săn lại. Cho thịt hến vào canh bầu hoặc để riêng ăn.

Chữa chứng mồ hôi trộm ở trẻ em: Thịt hến 100g, sò biển 100g, gạo tẻ 50g, rễ hẹ 3g, gia vị vừa đủ. Thịt hến, sò hấp cách thủy, băm nhỏ, ướp gia vị; rễ hẹ giã nhỏ; gạo nấu thành cháo. Khi cháo chín, cho sò hến và hẹ vào đun chín. Ăn 1 ngày 1 lần. Dùng 5 – 7 ngày.

Chứng hay đi tiểu đêm: Thịt hến 50g, thịt lợn nạc 100g. Tất cả ninh nhừ, thêm gia vị vừa đủ. Ăn trong ngày. Có thể dùng thường xuyên.

Chữa dương nuy, ít tinh: Thịt hến 300g, lá hẹ 100g, dầu ăn 50ml, gia vị vừa đủ. Lá hẹ rửa sạch thái khúc. Đổ dầu vào chảo, đun nóng, cho hến vào thêm gia vị, xào cho săn, cho lá hẹ vào, đảo đều với hến khoảng 5 phút, bắc ra ăn nóng.

Hỗ trợ điều trị tăng huyết áp: Hến 1kg, lá dâu bánh tẻ 30 – 50g, hành hoa, gia vị vừa đủ. Hến rửa sạch luộc đãi lấy ruột, nước để lắng gạn lấy phần nước trong bên trên. Lá dâu rửa sạch để ráo, thái sợi. Phi thơm hành mỡ cho hến vào xào săn, tiếp đó cho lá dâu vào xào chín, cho thêm ít nước hến, nêm gia vị vừa đủ, múc ra bát rắc rau răm, hành hoa lên ăn nóng. Có thể dùng thường xuyên. Công dụng: bổ âm, hạ áp, an thần, lợi tim mạch, nhuận gan mật, lợi tiểu,… dùng tốt cho người bệnh tăng huyết áp, tim mạch, bí đại tiểu tiện,…

Lưu ý: Hiện nay có nhiều vùng sông, suối, mương,… bị ô nhiễm nặng do nước thải của các cơ sở sản xuất, nhà máy. Các loài cua, cá, trai, hến sống ở vùng nước bị ô nhiễm cũng có thể bị nhiễm độc. Do đó người dân không nên cào hến ở những khu vực này làm thức ăn. 

Bác sĩ Thu Vân

Theo các nhà khoa học ở Đại học Montreal, Canada, một loại protein vốn được cho là chỉ hoạt động ở gan lại đóng vai trò cốt yếu trong sự mang thai ở chuột và là chìa khóa cho chu kì kinh nguyệt ở người. Những con chuột bị biến đổi gen để không thể sản sinh ra các phân tử Lrh-1 (liver receptor homolog-1) đã không thể tạo ra trạng thái tử cung cần thiết cho việc có thai và duy trì thai, dẫn đến kết quả là sự hình thành một nhau thai bị khiếm khuyết. Các nhà nghiên cứu sau đó đã chỉ ra sự có mặt của Lrh-1 trong tử cung người và trong các quá trình thiết yếu liên quan đến sự thành công của giai đoạn đầu mang thai.

Trước đây, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra vai trò quan trọng của Lrh-1 trong sự kích thích rụng trứng. Theo kết quả của nghiên cứu mới này, họ dự đoán rằng có thể sự thiếu hụt Lrh-1 đã góp phần vào sự suy thai ở người.

Phương Hà (Theo Science Daily, 6/2013)

Các nhà khoa học phát hiện ra rằng, tập yoga 20 phút mỗi ngày giúp tăng cường trí nhớ và rèn luyện sự tập trung tốt hơn tập trên máy chạy bộ, nghiên cứu đăng trên tạp chí Hoạt động thể chất và sức khỏe, Mỹ.

GS. Neha Gothe, chuyên nghiên cứu về chuyển động của con người – trưởng nhóm nghiên cứu thuộc Đại học Wayne State, Detroit cho biết, các bài tập yoga bao gồm việc chuyển động các cơ khác nhau, trong đó các cơ bắp căng ra và thoải mái mà không phải di chuyển bất kỳ chi nào. Hơi thở và các bài tập thiền định làm dịu tâm trí, thả lỏng cơ thể và giữ tập trung cao độ. Các nhà khoa học tiến hành so sánh giữa nhóm người tập thể dục trên máy chạy bộ trong 20 phút, đồng thời giữ nhịp tim của họ tăng từ 60, 70 lên mức tối đa. Và nhóm thứ 2 gồm những người ngồi thiền định yoga cùng các bài tập theo hướng dẫn. Kết quả cho thấy, nhóm 1 ít có khả năng tập trung tinh thần vào công việc hơn so với những người nhóm 2. Bên cạnh đó, tập yoga giúp giảm lo âu, căng thẳng và cải thiện trí nhớ tốt hơn.

M.Huệ (Theo Daily mail, 6/2013)

Côn bố, còn được gọi là hải đới, nga chưởng thái…, là toàn cây khô của một loại tảo dẹt có tên khoa học là Laminaria japonica. Areschong thuộc họ côn bố. “Côn” có nghĩa là cùng, là giống, “bố” là vải, vì vị thuốc này dài như tấm vải nên được đặt tên như vậy. Vào hai mùa hạ và thu, người ta vớt côn bố ở biển lên, nhặt bỏ tạp chất, ngâm nước rửa sạch để héo, cắt nhỏ thành sợi phơi khô để dùng. Người châu Á hay nấu côn bố với đậu cho mau mềm và ăn dễ tiêu. Ngoài ra, còn dùng côn bố xào nấu với cà rốt, củ cải để làm thức ăn và chữa bệnh.

Theo y dược học cổ truyền, côn bố vị mặn, tính lạnh, có công dụng nhuyễn kiên hóa đàm, lợi thủy tiết nhiệt, thường được dùng để chữa lao hạch, bướu cổ, thủy thũng, tích tụ (hòn cục), tinh hoàn sưng đau, cước khí… Xin được giới thiệu một số bài thuốc dùng côn bố chữa bệnh:

Bài 1: côn bố, hải tảo và phục linh lượng bằng nhau 10g, xuyên sơn giáp 5g, toàn yết 3g, long đởm thảo 10g, đương quy 10g và đào nhân lượng bằng nhau 6g, tất cả sấy khô tán bột, làm hoàn, mỗi lần uống 6g, ngày 2 lần hoặc dùng côn bố, huyền sâm đều 10g, mẫu lệ, hạ khô thảo lượng bằng nhau 15g, cương tàm 5g, sấy khô tán bột, mỗi lần uống 10g, ngày 2 lần để chữa chứng sưng đau hạch lymphô.

Côn bố - Thực phẩm tốt, vị thuốc hay 1
 Cây côn bố ở biển.

Bài 2: côn bố 30g, sò 30g, sứa 30g, hạ khô thảo 15g, sắc uống hoặc dùng côn bố và tảo đuôi ngựa (sargassum) lượng bằng nhau, rang khô, nghiền bột, hoàn thành viên với nước cơm, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 3g, 30 ngày là một liệu trình để chữa bướu giáp trạng và sưng tuyến lymphô ở cổ.

Bài 3: côn bố sấy khô, tán thành bột, mỗi lần dùng 4g, bọc vào trong bông, dùng giấm hay rượu tốt ngâm, ngậm và nuốt dần nước cốt, hễ hết hơi thuốc lại thay miếng khác để chữa tràng nhạc, lao hạch, đờm hạch và bướu cổ. Hoặc dùng côn bố, huyền sâm, cải rừng tía, bán biên liên, mỗi vị 12 – 20g sắc uống để chữa tuyến giáp trạng sưng to, lâu kết hạch, đờm tụ thành khối.

Bài 4: côn bố 10g, sinh khương 3 lát, đường đỏ lượng vừa đủ, sắc uống hoặc dùng côn bố 100g, bách bộ 100g, tri mẫu 200g, tất cả đem sao với mật rồi ngâm với rượu trắng cao độ, sau 7 ngày thì dùng được, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 10ml để chữa viêm phế quản mạn tính. Côn bố 12g kết hợp với quất hạch 12g, mẫu lệ 12g và tiểu hồi 8g, sắc uống để chữa trị đới hạ (khí hư) và tinh hoàn sưng đau. Côn bố 60g, hành tươi 1 nắm thái nhỏ, hai thứ sắc kỹ cho nhừ rồi chế thêm gừng tươi, hạt tiêu và gia vị vừa đủ, dùng làm canh ăn để chữa thủy thũng, khí kết tụ ở bàng quang, bướu cổ.

Ngoài ra, côn bố thường được dùng để trị các chứng phù do viêm thận, suy dinh dưỡng, các chứng nấc, nghẹn và tăng huyết áp.    
 
ThS. Hoàng Khánh Toàn

Mới đây, tại Hội thảo quốc tế về thực trạng và vai trò dịch tễ của bọ xít hút máu tại Việt Nam, các giáo sư, chuyên gia về côn trùng học đã đưa ra thông tin cần cảnh giác với bọ xít hút máu người.

GS.TS Vũ Quang Côn, Chủ tịch Hội Côn trùng học Việt Nam cho biết: so với những loại côn trùng khác như ruồi, muỗi, bọ xít hút máu người là loại côn trùng nguy hại. Tháng 6, 7, 8, 9 là thời kỳ sinh sản của bọ xít hút máu người. Tại thời điểm này, ổ bọ xít hút máu người đã phát tán tại 20 tỉnh phía Bắc và 29 quận, huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội. Theo thống kê, trong 68 trường hợp bị bọ xít hút máu người đốt có đến gần 50% là trẻ em. Mỗi năm loài này chỉ cần hút máu từ 1 – 3 lần là có thể sống sót suốt vòng đời.

Cần cảnh giác với bọ xít hút máu người 1
Cần cảnh giác với bọ xít hút máu người 2Bọ xít hút máu người gây tổn thương ở da.

Chuyên gia về côn trùng Viện Nghiên cứu phát triển Pháp  cho biết: Khi nghiên cứu tại Việt Nam, tôi nhận thấy tốc độ lan rộng của loài bọ xít này. Trước đây, nó thường xuất hiện ở các vùng ven bờ biển, nhưng ngày càng đi sâu vào đất liền và phát triển nhanh ở các vùng nhiệt đới; Trong khi đó, tại châu Mỹ La tinh đang lan rộng một bệnh dịch mới mang tên Chagas – một căn bệnh nhiệt đới do ký sinh trùng truyền vào cơ thể con người.

Theo Chủ tịch Hội Côn trùng học Việt Nam, GS.TS. Vũ Quang Côn, loài bọ xít này truyền ký sinh trùng cho người, gây bệnh Chagas – một loại bệnh tim mạch, thần kinh do ký sinh trùng gây ra. Khi ký sinh trùng vào cơ thể người sẽ gây bệnh về huyết khối gây tắc mạch. Người nhiễm ký sinh trùng này không tử vong ngay mà chết từ từ do sức khỏe suy yếu dần. Người bị bệnh có biểu hiện mệt mỏi, chóng mặt, đau đầu và ngủ vặt nhiều. Chúng ta còn rất ít hiểu biết về loài côn trùng này, vì vậy chưa thể lượng hết các nguy hại do chúng gây nên. Theo kết quả điều tra cũng cho thấy tỷ lệ có mặt loài bọ xít hút máu ở các đồ đạc trong phòng ngủ là cao nhất (chiếm 53,37%), tiếp đến là ở trên giường ngủ (chiếm 29,33%) và tỷ lệ thấp nhất là các vị trí khác trong phòng chiếm 17,31%. 

Các chuyên gia nhận định, tuy chưa có bằng chứng lây bệnh từ bọ xít hút máu người nhưng sự xuất hiện tràn lan và không được kiểm soát như hiện nay, khó đoán định được chúng sẽ gây hiểm họa như thế nào. Các chuyên gia khuyến cáo người dân khi bị bọ xít đốt không nên gãi để tránh nhiễm khuẩn, sưng tấy. Nếu vết bọ xít cắn sưng to, kèm theo sốt, người dân cần đi khám để được điều trị. Người dân cũng nên soi tìm bọ xít bằng đèn pin và diệt bằng tay, tìm kiếm tại các khe tối trong nhà (kẽ tủ, kẽ giường…) là nơi chúng thường ẩn nấp, làm tổ. Chú ý diệt cả trứng, con non và trưởng thành, phát quang cây cỏ quanh nhà vì đây là nơi các động vật, côn trùng trú ẩn và có thể sẽ xâm nhập vào nhà gây nguy hiểm. 

Thu Hương

Những rau quả giúp bảo vệ gan 1
  

Tỏi

 

Tỏi tính chát, ấm, vị cay, là loại củ người bị bệnh gan chuyên dùng. Tỏi chứa vitamin V, vitamin B, vitamin C vv, chất chiết xuất từ có tác dụng chống khuẩn, chống vi rút, mềm hóa huyết quản vv. 

 

Rau muống

 

Rau muống tính ngọt, bình, chứa protit, chất béo, muối vô cơ, carotene, niacin… có tác dụng giải độc, thanh nhiệt, mát máu vv.

 

Nấm

 

Nấm có nhiều chủng loại như nấm kim châm, nấm hương, nấm sò, bao gồm cả mộc nhĩ vv. Nấm có tính bình, vị ngọt, chứa nhiều loại đường, nhiều loại vitamin, chất đạm, chất béo và muối vô cơ. Thực nghiệm chứng minh nhiều loại chất trong nấm có tác dụng điều tiết miễn dịch, kháng u, ung thư, người bệnh gan nên thường xuyên ăn. 

 
Những rau quả giúp bảo vệ gan 2

Hạt sen

 

Hạt sen tính bình, vị ngọt, hàm chứa protein, chất béo, có tác dụng ích khí bổ trung, lợi phổi chặn ho, đồng thời giúp an thần. Thường xuyên ăn hạt sen giúp còn giúp phòng tránh và chữa trị gan xơ cứng.

 

Cà rốt

 

Cà rốt tính hơi ấm, vị ngọt, giàu nguồn vitamin A (carotene). Cà rốt giàu dinh dưỡng, mạnh khỏe dạ dày, tiêu hóa thức ăn, ăn sống hay chín đều giúp nâng cao mức vitamin A cho người bệnh gan, có tác dụng gián tiếp phòng chống phát sinh ung thư biến chứng.


Những rau quả giúp bảo vệ gan 3 

Xà lách

 
Xà lách tính bình, vị ngọt, hàm chứa vitamin B, vitamin C, carotene, niacin và muối vô cơ. Thực nghiệm trên động vật cho biết, xà lách rút ngắn thời gian đông máu, có công hiệu cầm máu, thích hợp với người bệnh gan có các triệu chứng như chảy máu mũi, cháy máu răng lợi vv.
 
Cà chua

 

Cà chua tính bình, vị chua hơi ngọt, giàu protein, chất béo, muối vô cơ, niacin, vitamin C, vitamin B1,B2 và cả carotene, có công hiệu  thanh nhiệt, giải độc, mát máu cân bằng gan, ăn sống hay chín đều được.

 

 

Bí tính hơi hàn, vị ngọt, có protein, vitamin,niacin. Vỏ bí có lợi cho tiêu sưng, thịt bí hóa đờm chặn ho, thanh nhiệt chống khát đồng thời có thể giải độc của cua, cá.
 

 Những rau quả giúp bảo vệ gan 4

Rong biển

Rong biển tính hàn, vị mặn, chứa đại lượng I ốt, vitamin, chất đạm, chất béo… có tác dụng hóa đờm tản hạch. Theo nghiên cứu, chất chiết xuất từ rong biển khống chế tiểu cầu kết tập và ô xy hóa chất béo rất tốt, đồng thời còn có tác dụng chống viêm loét.

Dưa chuột

 

Dưa chuột tính hàn, vị ngọt, giàu vitamin B1, B2, niacin, protein. Chất xơ trong dưa chuột có tác dụng thúc đẩy đường ruột đào thải độc tố và giảm cholesterol, phù hợp để chữa trị bệnh gan nhiễm mỡ.

Theo Dân trí

Cá nóc, bạch tuộc, sò huyết sống… là những thực phẩm ngon miệng nhưng lại là nguyên nhân gây nên những vụ ngộ độc thực phẩm chết người.
1. Cá nóc – Nhật Bản
Trong gan và nội tạng của cá nóc có chứa chất độc tetrodotoxin, đây là một loại chất độc mà chưa có thuốc giải. Đối với người Nhật, nhất là ở thành phố Shimonoseki thì cá nóc thành một món ăn tuyệt hảo. Cá nóc được người dân ở đây chế biến thành nhiều món ăn ngon như sashimi, chiên, luộc hay nấu với miso. 
9 thực phẩm ngon miệng chết người 1
Ảnh minh họa.

Tuy nhiên, đây là thực phẩm mang tính hai mặt, nếu chẳng may dính phải một hàm lượng nhỏ độc tố nó cũng đủ lấy mất tính mạng của bạn. Một ví dụ là cái chết của Mitsugoro, diễn viên Kabuki nổi tiếng, qua đời sau khi ăn thịt cá nóc. Nếu bạn muốn mạo hiểm với món ăn này thì hãy đến Shimonoseki, nơi chưa có trường hợp tử vong nào liên quan đến cá nóc từng được báo cáo.
2. Quả Ackee – Jamaica
9 thực phẩm ngon miệng chết người 2

Ảnh minh họa.


Đây là một loại quả giàu vitamin A và protein rất được người Jamaica ưa thích. Nhưng, bạn cần lưu ý khi ăn quả Ackee, phải ăn trước khi nó chín muồi, không được ăn hạt của nó hoặc để vỏ tiếp xúc với hạt. Trong hạt quả Ackee có một chất độc làm ngăn chặn quá trình sản sinh đường gluco, làm giảm lượng đường trong máu và có thể gây tử vong.
3. Ễnh ương khổng lồ – Namibia
9 thực phẩm ngon miệng chết người 3

Ảnh minh họa.

Những con ễnh ương khổng lồ là món ăn quen thuộc ở quốc gia châu Phi này. Đây là món ngon chết người nên bạn cần phải tuân thủ một số nguyên tắc khi ăn thịt con vật này. Những kinh nghiệm của người dân ở đây là ăn thịt chúng khi chúng bước vào mùa sinh sản, chặt bỏ hết chân. Nếu không làm như vậy, chất độc có trong con vật này sẽ làm bạn bị suy thận, người dân địa phương gọi là Oshiketakata.
4. Bạch tuộc sống San Nak ji – Hàn Quốc
9 thực phẩm ngon miệng chết người 4

Ảnh minh họa.


Không mất nhiều thời gian để chế biến món ăn này, những con bạch tuộc sống được thái thành từng miếng trên một cái đĩa và ăn kèm với dầu mè. Chúng vẫn còn sống khi bạn ăn nên cần phải nhai thật kỹ trong khi những xúc tu đang cố gắng bám chặt vào lưỡi, vòm họng để chống lại bạn. Trung bình mỗi năm có 6 người chết vì mắc nghẹn bởi những con bạch tuộc còn sống này.
5. Hạt Apricot (hạt mơ) – Thổ Nhĩ Kỳ
9 thực phẩm ngon miệng chết người 5

Ảnh minh họa.

Những hạt giống của anh đào, mận, đào, hạnh nhân, mơ hay thậm chí táo đều có chứa chất glycoside cyanogenetic mà khi hấp thu vào cơ thể, nó chuyển đổi thành hydrogen cyanide. Đây là chất có thể gây tổn thương hệ thần kinh, mệt mỏi chân tay, đi không vững, tai ù, nôn ói…, nặng hơn sẽ gây triệu chứng thở gấp, tăng nhịp tim, huyết áp hạ, đau đầu, hôn mê và khả năng tử vong cao.
Thổ Nhĩ Kỳ là nơi có số lượng tiêu thụ hạt này lớn nhất thế giới. Bí quyết của người dân ở đây là rang hạt trước khi chế biến món ăn và thường ăn kèm với sữa trong bữa sáng hàng ngày.
6. Cây sắn (khoai mì)  – châu Phi và Nam Mỹ
9 thực phẩm ngon miệng chết người 6

Ảnh minh họa.

Cây sắn là loại cây lương thực quen thuộc ở Việt Nam, các vùng đất châu Á, châu Phi và Nam Mỹ. Trong lá và củ khoai mì tươi có chứa chất cyanogen, hóa chất kích thích sự hình thành xyanua, một chất độc gây tử vong cho người và gia súc. 
Khoai mì khi được nấu chín thì không còn độc tố. Tuy nhiên khi sơ chế bạn không nên nếm và nhớ rửa sạch nhựa khoai mì bám trên tay, dao, thớt để không nhiễm phải chất độc.
7. Casu marzu – Italy
Đây là một loại pho mát làm từ sữa cừu có nguồn gốc từ đảo Sardinia, Italy. Điểm để nhận biết loại pho mát này là bên trong luôn có một số lượng lớn những con dòi sống. Khi chế biến loại pho mát này, người ta thường để pho mát cho ruồi bu đẻ trứng rồi phát triển thành dòi. Các con dòi trắng dài khoảng 1cm nhúc nhích trong ổ phó mát. Khi ăn, có người gạt bỏ dòi, có người ăn luôn cùng với phó mát.
9 thực phẩm ngon miệng chết người 7

Ảnh minh họa.

Người ta tính được mỗi miếng casu marzu có thể chứa hàng nghìn con dòi bên trong. Đó là một số lượng quá lớn cho dạ dày của bạn. Để giảm bớt số lượng này, người Italia thường uống rượu vang khi ăn món này. Theo luật an toàn thực phẩm của Liên minh Châu Âu (EU), casu marzu bị cấm bán nhưng vẫn có những nhà sản xuất địa phương chế biến và bán lậu. 
8. Elderberries (quả cây cơm cháy) – châu Âu
Cũng giống như quả Ackee, bạn phải xơi quả này khi nó chưa chín muồi. Đây có lẽ là thực phẩm nguy hiểm nhất trong danh sách các trái cây chín được ăn trên toàn thế giới. Hoa và trái được dùng để chế biến nhiều thức ăn như mứt dâu, bánh, syrup; thức uống như rượu ngọt (sambuca) hoặc “purple juice” và cả dược phẩm chữa cảm cúm.
9 thực phẩm ngon miệng chết người 8

Ảnh minh họa.

Lá, cành, rễ và hạt đều chứa cyanide nên không bao giờ được ăn lá hay cành của chúng. Người dân châu Âu thường không cho trẻ em và động vật tiếp xúc với loại cây này.
9. Sò huyết – Thượng Hải, Trung Quốc
9 thực phẩm ngon miệng chết người 9

Ảnh minh họa.

Sò huyết thịt có màu đỏ tươi được người Trung Hoa xem là chất cường dương, bổ huyết và là món ăn được ưa chuộng. Khi ăn, chỉ hấp sơ hoặc nướng sơ, đôi khi ăn sống, đó là điều kiện tuyệt vời để các vi khuẩn viêm gan A (hepatitis A virus) và gây bệnh truyền nhiễm như dịch tả, thương hàn phát triển vì cách nấu ăn sơ sài kể trên không diệt được vi khuẩn và siêu vi khuẩn. Có một khuyến cáo là chỉ ăn sò huyết khi đã được làm chín.
Theo VnExpress

Bị ngộ độc rượu chứa ethanol và methanol, từ 12 – 24 giờ sau khi uống, nạn nhân cảm thấy chóng mặt, lú lẫn, yếu cơ, nhức đầu, buồn nôn, nôn và đau bụng. Tuy nhiên, nếu là cồn ethanol thì sẽ gây ngộ độc rượu rồi lại tỉnh nhưng nếu là cồn methanol thì nạn nhân uống say dễ gây tử vong nhanh chóng. Người thân cần biết xử trí đúng cách khi nạn nhân có biểu hiện ngộ độc rượu để tránh những tai biến đáng tiếc.

Khi thấy nạn nhân có biểu hiện ngộ độc rượu, người nhà cần kê gối thấp cho bệnh nhân nằm nhằm làm nôn hết rượu ra. Sau đó, để bệnh nhân ngủ, cứ vài tiếng phải đánh thức bệnh nhân dậy cho ăn cháo loãng. Tránh trường hợp để bệnh nhân đói sẽ bị hạ đường huyết nguy hiểm. Nếu bệnh nhân lâu không tỉnh hoặc không ăn uống được gì hoặc cứ ăn vào là nôn thì cần đưa ngay đến cơ sở y tế để được xử trí kịp thời.

Xử trí khi bị ngộ độc rượu 1

Không nên cho nạn nhân uống những loại thuốc có tác dụng bổ gan để giải độc rượu. Không nên uống thêm vitamin B1, B6, acid folic… để làm giảm đau đầu khi say, bởi sẽ có hại cho gan. Paracetamon, aspirin và một số loại thuốc giảm đau, hạ sốt khi uống với rượu sẽ kích ứng niêm mạc dạ dày, gây chảy máu đường tiêu hoá.

Khi say rượu, không nên uống các loại thuốc chống nôn vì sẽ làm giữ chất độc lại trong cơ thể, gan không thể lọc chất độc kịp càng tổn hại nghiêm trọng, lâu ngày sẽ xơ gan, ung thư gan. Một số người còn cho người say uống mật ong pha loãng nhưng nếu người say vẫn còn một lượng rượu trong người thì khi kết hợp với mật ong sẽ dễ lên men, gây say hơn.

Nên uống nhiều nước để không bị mất nước khi nôn liên tục. Uống nước ấm tốt hơn là nước lạnh.

Nước chè xanh đậm giúp khử độc cồn cấp tính, hoặc uống sữa nóng, nước gừng tươi (thái lát đun sôi kỹ) để máu lưu thông, hóa giải nhanh chất cồn.

Các loại nước mía, nước chanh, cam vắt, nước cà chua, nước ép bưởi, sinh tố chuối, nước các loại đậu ninh nhừ… uống nhiều lần sẽ giải được ngộ độc rượu dạng nhẹ.

Có thể dùng 3 lát gừng tươi giã nát, trộn với một ít giấm và đường, ép lấy nước để uống. Hoặc 1 nắm đậu xanh giã nát, ít trà mạn và 1 chén nước, đun lên để uống. Nếu bị say kèm đau đầu, hãy giã rau cần tươi hoặc lá dong rồi vắt lấy nước cốt để uống sẽ rất hiệu quả.

Người ngộ độc rượu không tắm ngay vì dễ bị hạ đường huyết, giảm thân nhiệt có thể gây đột quỵ, trụy tim mạch. Nên ăn nhiều rau xanh, hoa quả, đậu nành để cung cấp vitamin và chất chống ôxy hóa, hạn chế tác hại của cồn trong rượu tới hoạt động của gan.

Để phòng ngộ độc rượu, khi uống rượu nên chọn loại có thương hiệu, đảm bảo an toàn thực phẩm. Không uống rượu khi đói và chỉ nên uống khoảng 30ml. Đối với bia chỉ nên uống khoảng 300 – 500ml là hợp lý.

Bác sĩ  Minh Ngọc

Trong y học cổ truyền, rối loạn giấc ngủ thuộc phạm vi chứng “thất miên” và tùy theo tính chất mức độ cụ thể mà được chia ra làm nhiều thể bệnh khác nhau. Bài viết này xin được giới thiệu với bạn đọc một số món cháo thuốc an thần để tham khảo và vận dụng khi cần thiết.

Bài 1:  Long nhãn 30g, hạt sen 30g, đại táo 5 quả, gạo nếp 60g, đường trắng lượng vừa đủ. Hạt sen bỏ tâm và vỏ, đại táo bỏ hạt, gạo nếp đãi sạch, tất cả đem nấu thành cháo, chế thêm đường trắng, ăn trong ngày. Công dụng: ích tâm an thần, dùng cho người bị mất ngủ kèm theo tình trạng mệt mỏi nhiều, hay có cảm giác khó thở, hồi hộp trống ngực, hay quên, thiếu máu, đại tiện lỏng nát. Trong bài, hai vị thuốc có tác dụng an thần là long nhãn và hạt sen. Long nhãn vị ngọt, tính ấm, có công dụng bổ tâm dưỡng huyết, sinh tân nhuận táo. Hạt sen có tác dụng bổ tâm ích trí, phối hợp với long nhãn có khả năng an thần bổ hư khá tốt.

Cháo thuốc an thần 1Cháo long nhãn, hạt sen có tác dụng bổ tâm dưỡng huyết, an thần bổ khí rất tốt.

Bài 2:  Viễn chí 10g, toan táo nhân sao thơm 10g, gạo tẻ 50g, tất cả đem ninh thành cháo, ăn trong ngày. Công dụng: bổ can, dưỡng tâm, an thần. Trong bài, viễn trí vị cay đắng, tính hơi ấm, có công dụng trừ đàm khai khiếu và an thần. Các sách thuốc cổ như “Dược tính luận”, “Trấn nam bản thảo”, “Bản thảo tái tân”… đều cho rằng: viễn chí có khả năng bổ dưỡng tâm huyết, làm dịu trạng thái căng thẳng, hoảng hốt, cải thiện trí nhớ và an thần. Táo nhân vị ngọt, tính bình có công dụng bổ âm, dưỡng tâm, an thần và cầm mồ hôi, thường dùng trong các trường hợp mất ngủ do âm hư có kèm theo tình trạng vã mồ hôi hoặc ra mồ hôi trộm.

Bài 3: Bách hợp 10g, long nhãn 10g, a giao 6g, liên nhục 12g, hoài sơn 12g, mộc nhĩ trắng 6g, biển đậu 12g, ý dĩ 12g, tiểu mạch 12g, đại táo 5 quả bỏ hạt. Tất cả đem ninh nhừ thành cháo, ăn trong ngày. Công dụng: kiện tỳ hòa vị, dưỡng tâm an thần, dùng thích hợp cho những người mất ngủ do suy nhược thần kinh kèm theo các triệu chứng hay hồi hộp, lo lắng thái quá, giấc ngủ hay mê mộng, trí nhớ suy giảm. Nên dùng liên tục trong 1 tháng.

Bài 4:  Tim lợn 1 quả, gạo tẻ 100g, gia vị vừa đủ. Tim lợn rửa sạch, thái miếng, đem nấu với gạo thành cháo, chế đủ gia vị, chia ăn vài lần trong ngày. Công dụng: dưỡng tâm an thần. Trong bài, tim lợn vị mặn ngọt, tính bình, có công dụng bổ tâm khí, an tâm thần, thường được cổ nhân sử dụng để chế biến các món ăn có tác dụng điều trị các chứng hồi hộp, mất ngủ, hay ngất, hoảng loạn, dễ đổ mồ hôi. Sách “Chứng trị yếu quyết” khuyên đối với những trường hợp mất ngủ do tâm hư có kèm theo tình trạng dễ đổ mồ hôi thì nên ăn nhiều cháo nấu tim lợn hoặc dùng tim lợn 1 quả, rửa sạch máu đọng, lấy nhân sâm và đương quy mỗi thứ 2 lạng ta cho vào trong quả tim rồi đem nấu chín rồi bỏ bã thuốc, ăn tim và uống nước cốt.

Bài 5: Dạ giao đằng 30g, đại táo 5 quả, gạo tẻ 50g, đường trắng lượng vừa đủ. Sắc dạ giao đằng lấy nước nấu với gạo và đại táo đã bỏ hạt thành cháo, chế thêm đường, ăn trong ngày. Công dụng: dưỡng tâm an thần, thông lạc khứ phong. Trong bài, dạ giao đằng, còn gọi là thủ ô đằng, vị ngọt, tính bình, có công dụng dưỡng tâm an thần, khu phong trừ thấp, thường được dùng trong các trường hợp mất ngủ kèm theo triệu chứng bồn chồn, lo lắng, nhiều mộng mị, nhiều mồ hôi, tay chân đau mỏi rã rời. Loại cháo này ngoài công dụng dưỡng tâm an thần còn có công hiệu trong các trường hợp viêm khớp, đau dây thần kinh…

Thạc sĩ  Hoàng Khánh Toàn

Việc chẩn đoán đái tháo đường (ĐTĐ) týp 1 thường khó khăn, tiên lượng xấu. Các chuyên gia Đức cho biết có thể tiên đoán được những ai phát triển căn bệnh mãn tính này. Bằng một mẫu máu lấy từ đứa trẻ có thể phân tích để xác định nguy cơ cao đối với ĐTĐ týp 1. Việc tiên đoán dựa trên sự có mặt của hai tự kháng thể liên quan đến ĐTĐ.

Theo tiến sĩ Jay Skyler, phó giám đốc của Viện nghiên cứu ĐTĐ và giáo sư ở Đại học y khoa Miami Miller, nếu người nào đó có nhiều hơn hai tự kháng thể thì gần như không thể tránh khỏi phát triển ra bệnh ĐTĐ và gần như thầy thuốc không đánh giá cao nguy cơ này. Gần 70% người trẻ tuổi có hai tự kháng thể liên quan ĐTĐ phát triển bệnh ĐTĐ týp 1 trong thời gian 10 năm khi so sánh với những trẻ chỉ có một tự kháng thể (15%). Skyler cho rằng phát hiện mới giúp đề ra những chiến lược ngăn ngừa ĐTĐ týp 1.

ĐTĐ týp 1 được tin là một bệnh tự miễn dịch, trong đó hề miễn dịch của cơ thể đã phạm sai lầm khi hủy hoại các tế bào bêta ở tuyến tụy, những tế bào này tiết ra insulin làm giảm lượng đường trong máu. Để điều trị thì người ĐTĐ týp 1 phải tiêm insulin và kiểm soát chặt chẽ chế độ ăn. ĐTĐ týp 1 có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi và hiện chưa có cách phòng ngừa cũng như điều trị hiệu quả.

Trong khi đó thì ĐTĐ týp 2 có liên quan chặt chẽ đến lối sống.

Nghiên cứu thực hiện trên hơn 13.000 trẻ em ở Colorado, Phần Lan và Đức trong thời gian từ lúc sinh đến 15 tuổi. Trong thời gian theo dõi có khoảng 1.100 trẻ (khoảng 8%) có nhiều hơn một tự kháng thể phá hủy tế bào bêta tuyến tụy, có 585 trẻ có nhiều hơn hai tự kháng thể. Ở nhóm trẻ có nhiều tự kháng thể thì 43,5% phát triển ĐTĐ týp 1 trong vòng 5 năm, khoảng 70% trong khoảng 10 năm và 84% trong 15 năm. Ở nhóm trẻ có một tự kháng thể thì sau 10 năm chỉ có khoảng 14,5% phát triển ĐTĐ týp 1. Với kết quả này, chúng ta có thể tiên đoán được việc phát triển ĐTĐ týp 1 rất sớm và có thời gian dài đủ để ngăn chặn khởi phát bệnh.

(Theo Journal of the American Medical Association, 6/2013)

MINH THƯ