Có một số loại bệnh mà tổn thương xuất hiện ở nhiều cơ quan trên cơ thể với những đặc điểm hầu như chẳng liên quan gì đến nhau khiến cho việc chẩn đoán và điều trị gặp nhiều khó khăn. Bệnh von Hippel – Lindau là một ví dụ điển hình.
Thương tổn không chỉ tại một bộ phận
Theo các nghiên cứu đã được công bố, nếu gia đình có người bố mắc bệnh VHL mà người mẹ hoàn toàn khỏe mạnh thì 50% số con cái sinh ra sẽ bị mắc bệnh này với tần suất phân bố chia đều cho cả nam và nữ là 50/50. Đây là một bệnh hiếm gặp với tần suất mắc vào khoảng 1/35.000 đến 1/40.000 dân.
Bệnh von Hippel – Lindau (VHL) hay còn được gọi là hội chứng von Hippel – Lindau (von Hippel – Lindau syndrome) là một loại bệnh có tính chất di truyền theo nhiễm sắc thể trội. Bệnh ảnh hưởng đến nhiều cơ quan của cơ thể như não, tụy, gan, thận, mắt… và có thể diễn tiến từ tính chất lành tính sang ác tính tùy từng trường hợp.
Mặc dù có nguyên nhân do đột biến gen và có tính chất di truyền, khoảng 20% số các trường hợp mắc bệnh VHL không có tiền sử gia đình và tùy theo vị trí gen bị đột biến, bệnh VHL được phân chia thành các týp 1, týp 2, týp 3 với các tổn thương phối hợp như u tủy thượng thận, ung thư thận hay chứng đa hồng cầu (polycythaemia) kèm theo.
U máu ở não và tủy sống (đầu mũi tên) trên phim chụp cắt lớp.
Lời giải cho căn bệnh khó chẩn đoán
Người bị bệnh VHL có nguy cơ cao bị u mạch máu của hệ thần kinh trung ương, u máu võng mạc, u hệ bạch huyết, ung thư thận, u tủy thượng thận, u thần kinh – nội tiết ở tụy, u mào tinh hoàn ở nam và các khối u buồng trứng ở nữ giới.
Các u máu ở hệ thần kinh trung ương (não và tủy sống) chiếm khoảng 40 – 80% các trường hợp VHL, xuất hiện chủ yếu ở độ tuổi 30. Đây là một tổn thương lành tính, nằm rải rác ở tiểu não, tủy sống hoặc đôi khi có nhiều u liên tiếp kéo dài theo trục não – tủy sống. Thông thường, các khối u này không có biểu hiện gì đặc biệt trừ trường hợp vỡ ra gây xuất huyết tiểu não hoặc tủy sống. Việc phát hiện u máu hệ thần kinh trung ương dựa vào chụp cộng hưởng từ là chủ yếu. Điều trị các loại u này bằng phương pháp đốt bằng sóng radio hoặc phẫu thuật mở.
U máu võng mạc có ở 60% số bệnh nhân bị bệnh VHL. Đây là loại tổn thương phát triển thành nhiều ổ, nằm chung quanh hoặc gần đĩa thị giác với tần suất bị cả hai mắt vào khoảng 50% số các trường hợp với độ tuổi hay gặp là 25 tuổi. Khối u võng mạc thường không có biểu hiện gì cho đến khi phát triển lớn lên gây tổn thương đáy mắt làm giảm hoặc mất thị lực hoàn toàn. Chẩn đoán u máu võng mạc dựa vào soi đáy mắt và chụp mạch máu có tiêm fluorescein. Điều trị u máu võng mạc bằng chất ức chế các thụ thể yếu tố phát triển nội mạc mạch máu hoặc đốt bằng sóng radio có thể cải thiện được thị lực bệnh nhân.
Các khối u nang nội bạch huyết gặp ở 11% số bệnh nhân bị bệnh VHL. Khối u của nang này phát triển mạnh ở độ tuổi từ 12 – 50 tuổi với đỉnh cao là khoảng 22 tuổi. Khối u phát triển gây giảm thính lực hoặc điếc hoàn toàn. Việc phát hiện khối u dựa vào chụp CT hoặc cộng hưởng từ (MRI). Điều trị chủ yếu bằng phẫu thuật mở hoặc đốt bằng sóng radio.
Ung thư thận hay carcinomas tế bào thận là biểu hiện ung thư chính của bệnh VHL với tỷ lệ mắc từ 24 – 45% và nếu kết hợp với các nang tại thận thì tỷ lệ mắc lên tới 60%. Carcinomas thận xảy ra nhiều ở lứa tuổi trên dưới 40, phát triển âm thầm không có triệu chứng trong một thời gian khá dài và khi phát hiện thường đã có xâm lấn sang tổ chức xung quanh với các biểu hiện như đau vùng hố thắt lưng, tiểu máu. Chụp cắt lớp hoặc cộng hưởng từ ổ bụng có thể dễ dàng xác định chẩn đoán. Điều trị carcinomas thận bằng phẫu thuật cắt bỏ hoặc có thể bảo tồn trong một số trường hợp.
U tủy thượng thận có ở 10 – 20% số bệnh nhân bị VHL và lứa tuổi mắc vào khoảng 30 tuổi, 5% trong số này có biểu hiện ác tính. Triệu chứng chính của u tủy thượng thận là những cơn tăng huyết áp kịch phát, dao động và khó kiểm soát cộng với những biểu hiện do cơn tăng huyết áp gây nên như đau đầu, nôn, đột quị não. Xác định u tuyến thượng thận bằng chụp cắt lớp hoặc cộng hưởng từ ổ bụng sau đó điều trị bằng thuốc hoặc phẫu thuật nếu cần.
U nang tuyến và các khối u thần kinh – nội tiết của tụy (pancreatic) cũng là một tổn thương hay gặp ở bệnh nhân VHL với tỷ lệ mắc có thể lên tới 70% cho cả hai loại và thường có ở lứa tuổi 18 – 48. Các u nang tuyến thường lành tính và không cần điều trị đặc hiệu trong khi các u thần kinh – nội tiết tại tụy lại luôn cần được phẫu thuật do có tính chất ác tính và khả năng di căn khá cao. Nhìn chung, chỉ định mổ đối với các u tại tụy có kích thước trên 3cm ở vị trí thân và đuôi tụy, 2cm ở đầu tụy.
Ngoài các khối u tại các cơ quan nêu trên, ở người bị bệnh VHL, các khối u mào tinh hoàn ở nam và u dây chằng rộng ở nữ giới cũng cần được tìm kiếm thông qua thăm khám lâm sàng và các phương tiện chẩn đoán hình ảnh như siêu âm, chụp cắt lớp hoặc chụp cộng hưởng từ.
TS.BS. Vũ Đức Định
Cây hẹ còn có tên khác là cửu thái. Hẹ là loại rau gia vị được dùng nhiều trong các món ăn. Ngoài ra, người ta còn dùng hẹ để chữa nhiều bệnh. Bộ phận dùng làm thuốc là toàn cây.
Theo Đông y, hẹ vị cay, tính ôn; vào can, vị, thận. Có tác dụng ôn trung hành khí, kiện vị, tán ứ giải độc, bổ thận tráng dương. Dùng cho các trường hợp đau tức vùng ngực, nấc cụt, nôn thổ huyết, niệu huyết, trĩ xuất huyết, bệnh tiểu đường, dị ứng nổi ban, liệt dương di tinh. Theo kinh nghiệm dân gian, lá và thân hẹ chữa ho trẻ em, hen suyễn, giun kim, lỵ amíp, tiêu hóa kém. Hằng ngày có thể dùng 30 – 100g dưới dạng vắt ép lấy nước, xào nấu.
Chữa ho trẻ em: lá hẹ 15g, hoa đu đủ đực 15g, hạt chanh 20 hạt. Dùng tươi, giã nát, thêm 10 – 20ml nước và 1 thìa canh mật ong; hấp chín, ép lấy nước, chia uống 3 lần trong ngày. Dùng 3 – 4 ngày.
Hen suyễn nguy cấp: lá hẹ 50g, sắc với 200ml nước còn 50ml. Uống trong ngày.
Chữa giun kim, ra mồ hôi trộm ở trẻ em: lá hẹ 30g, ép lấy nước, thêm 10 – 20ml vào bã lá và ép gạn; hợp 2 nước ép, thêm mật ong đủ ngọt để uống. Có thể làm rau ăn trong ngày.
Tôm xào hẹ, gừng tươi.
Nước ép hẹ gừng tươi sữa bò: nước ép hẹ 60g, sữa bò 200ml, nước ép gừng tươi 10 – 20ml. Trộn đều, hâm nóng cho uống. Dùng cho bệnh nhân nôn do trào ngược thực quản.
Nước sắc hẹ cam thảo: hẹ tươi 30g, cam thảo 15g. Hẹ rửa sạch để ráo, cắt đoạn; cam thảo thái lát mỏng. Hãm nước cho uống. Dùng cho bệnh nhân nổi ban, mề đay.
Bún (mỳ) xào hẹ: bún (mỳ) 150 – 200g, hẹ tươi 60 -100g, có thể thêm thịt nạc hoặc tôm nõn 50g, gừng tươi. Xào với dầu thực vật, ăn nóng. Dùng cho các trường hợp ho suyễn lâu có tính chất dị ứng.
Canh hẹ: rau hẹ 200 – 300g. Luộc hay nấu canh với ít muối. Ngày 1 lần; ăn liên tục 3 – 5 tháng. Trị tiêu khát.
Cháo hẹ: hẹ tươi 60g, gạo tẻ 100g. Nấu cháo gạo, khi cháo được cho hẹ vào, thêm muối vừa ăn. Dùng cho bệnh nhân đau bụng tiêu chảy, liệt dương di tinh.
Rau hẹ, hồ đào xào dầu vừng: rau hẹ 240g, hồ đào nhân 60g. Xào với dầu vừng, ngày ăn 1 lần, dùng trong 1 tháng. Dùng cho bệnh nhân đau lưng liệt dương.
Kiêng kỵ: Người bị sốt nóng, viêm nhiễm lở ngứa, đau mắt đỏ không dùng.
Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta không thể lựa chọn khi nào bị stress, nhưng các cách dưới đây sẽ giúp bạn làm giảm hậu quả của stress đối với sức khỏe một cách hiệu quả!
10 phút đi dạo
Bất cứ cuộc đi dạo nào cũng giúp cho trí não bạn minh mẫn hơn, và thúc đẩy việc sản sinh ra chất endorphin, giúp làm giảm hóc môn gây căng thẳng. Hãy cân nhắc việc đi dạo trong công viên, hoặc ở nơi có không gian xanh, để cơ thể bạn được thực sự chìm trong trạng thái thư giãn.
Hít thở sâu
Những người tập yoga đều biết đến việc hít thở sâu đóng vai trò quan trọng như thế nào trong việc nuôi dưỡng cơ thể. Các bài tập về thở hoặc thậm chí chỉ hít thở sâu vài cái cũng giúp làm giảm căng thẳng và giải tỏa stress, giúp chúng ta bình tĩnh. Không chỉ vậy, theo nghiên cứu của Đại học Harvard, các bài tập thở đã được chứng minh có tác dụng hỗ trợ cho một vài cơ quan trong cơ thể bị tổn thương do stress: làm giảm huyết áp, và thậm chí còn có thể thay đổi trạng thái của một số gien.
Tưởng tượng bằng hình ảnh
Một sự tưởng tượng bằng hình ảnh ngắn là cách dễ dàng để lấy lại cân bằng. Đơn giản là làm cho bản thân bạn cảm thấy thoải mái (ở bất cứ đâu: bàn làm việc, hay trong một phòng họp trống…) và cố gắng tưởng tượng ra một quang cảnh thật yên bình: một kỳ nghỉ trong tương lai hay bãi biển yêu thích của bạn. Bạn thậm chí có thể tưởng tượng ra hình ảnh bản thân đã hoàn thành được mục tiêu cho tương lai, hay như tờ tạp chí Sức khỏe Phụ nữ của Mỹ viết “Hãy tưởng tượng bản thân bạn trong một cái thang máy, rất hạnh phúc được kẹp giữa hai chàng diễn viên điển trai mà bạn yêu thích!”.
Ăn vặt
Ăn vặt để giảm stress không phải là ý tưởng tồi.
Theo một giáo sư Tâm thần học của Đại học Columbia, sự kết nối giữa dạ dày và não bộ là rất lớn, và nhiều dữ liệu thú vị hỗ trợ cho các ý tưởng rằng dạ dày là chất hòa giải cho các phản ứng với stress. Bởi suy cho cùng stress là hiện tượng điều đình giữa não bộ và hệ thống miễn dịch, mà dạ dày lại là cơ quan lớn nhất trong hệ thống miễn dịch của bạn.
Hãy chọn một món ăn vặt như nửa quả bơ, một nắm hạt khô hay một quả trứng luộc, bởi không có gì gây căng thẳng cho não bộ hơn là cảm giác bạn bị bỏ đói. Sau đó bước khỏi máy tính của bạn, và đến ngồi ở chỗ nào đó yên bình. Rồi chỉ tập trung vào món ăn của bạn, mùi vị của nó, cảm giác món ăn mang lại cho bạn. Và bằng cách đó, bạn đã biến món ăn thành một sự thư giãn giống như thiền định.
Trồng một cây cảnh
Cây cảnh trong nhà không chỉ là máy lọc không khí xinh xắn, mà chúng thực sự có thể giúp bạn bình tĩnh. Nghiên cứu của trường Đại học Washington đã phát hiện ra một nhóm người bị stress có chỉ số huyết áp giảm khi bước vào một căn phòng đầy cây xanh. Có thể thấy việc được bao bọc bởi cây xanh cũng có thể đơn giản làm giảm stress cho cơ thể.
Rời khỏi màn hình máy tính
Sử dụng máy tính liên tục không nghỉ có quan hệ mật thiết với các triệu chứng như stress, mất ngủ, và trầm cảm ở phụ nữ theo một nghiên cứu của Đại học Gothengurg, Thụy Điển. Trong cùng nghiên cứu đó cũng chỉ ra việc sử dụng máy tính ban đêm cũng liên quan đến stress ở cả nam giới và nữ giới.
Tốt nhất bạn nên nghỉ ngơi thường xuyên trong cả ngày sử dụng máy tình, và nên tắt máy tình ít nhất 1 giờ trước khi đi ngủ.
Nghe chút nhạc
Nhạc cổ điển có tác dụng xoa dịu đặc biệt: làm chậm nhịp tim, giảm huyết áp và thậm chí giảm cả nồng độ hóc môn gây tress. Tuy nhiên, bất cứ loại nhạc nào bạn thích cũng sẽ khiến não bộ có cảm giác thoải mái dễ chịu như dopamine. Do đó, âm nhạc không chỉ giúp xoa dịu các lo lắng khó chịu hàng ngày mà còn đặc biệt có ích đối với những người đang gặp phải các sự kiện dễ gây căng thẳng.
Nuông chiều bản thân với 1 chiếc kẹo
Ăn hoặc uống thứ gì đó ngọt ngào cũng có tác dụng xoa dịu bởi nó ngăn chặn sự sản sinh ra hóc môn gây tress trong cơ thể. Bạn có thể nuông chiều bản thân với 1 cái kẹo socola, hoặc thứ gì đó tương tự để tự giải tỏa stress.
Nhai kẹo cao su
Kẹo cao su không chỉ giúp bạn có hơi thở thơm tho, mà còn giảm sự lo lằng bồn chồn, cải thiện tình trạng tỉnh táo của cơ thể, và giải tỏa stress khi phải làm nhiều việc cũng lúc.
Âu yếm
Việc hôn giải tỏa stress bằng cách giúp não bộ giải phóng chất endorphin. Theo nghiên cứu của Đại học Northwestern, những người chỉ hôn khi họ làm tình được báo cáo lại có chỉ số stress và trầm cảm cao hơn 8 lần so với người thường xuyên có cử chỉ ôm hôn, âu yếm.
Xem một video hài hước
Cười sảng khoái là cách thư giãn tốt nhất. Cười giúp tăng lượng oxy nạp vào cơ thể, tăng cường sức khỏe tim, phổi và cơ, và đồng thời cũng tăng lượng endorphin trong não bộ. Hãy chọn một video hài hước để giúp bản thân tự giải tỏa stress khi cần.
Tắt máy điện thoại
Smartphone được coi là thủ phạm khiến stress tăng, bởi ngày càng nhiều người cảm thấy căng thẳng với áp lực phải trả lời các tin nhắn, email mọi lúc.
Ăn chuối hoặc khoai tây
Chất potassium trong chuối hoặc khoai tây giúp điều hòa huyết áp. Theo Hiệp hội Tâm thần học Mỹ, ăn chuối có thể giúp phục hồi và tăng cường năng lượng khi bị stress, đồng thời nó còn giúp bảo vệ cơ thể bạn khỏi các ảnh hưởng tiêu cực của stress như nguy cơ đột quỵ.
Làm đồ thủ công
Chuyển động lặp lại giống như các kĩ năng thêu thùa, may vá, đan lát…cũng giúp xoa dịu lo lắng bồn chồn theo chuyên gia Tâm thần học. Việc thêu thùa, đan lát thỏa mãn 2 tiêu chuẩn của việc thực hành lưu tâm giúp giải tỏa stress giống như thiền định. Đó là sự lặp lại của một âm thanh, lời nói, lời cầu nguyện, hay chuyển động; và sự thụ động không để suy nghĩ xâm chiếm.
TheoDân trí/HTP
Chanh là loại cây được trồng rất phổ biến ở nước ta. Ngoài tác dụng giải khát, quả chanh còn là các vị thuốc chữa bệnh rất hiệu quả.
Theo Đông y quả chanh vị chua ngọt, tính bình, vào vị. Lá chanh vị cay ngọt, tính ôn. Rễ có vị đắng, tính ôn. Quả chanh có tác dụng sinh tân chỉ khát trừ thấp an thai. Dùng trong các trường hợp thử nhiệt phiền khát (cảm nắng, mất nước, khát nước, vật vã kích động); ăn kém, nhiễm độc thai nghén nôn ói, tăng huyết áp. Lá chanh có tác dụng hoà đàm, chỉ khái, lý khí, khai vị. Rễ có tác dụng chỉ khái, bình suyễn, hành khí, chỉ thống.
Uống nước chanh hàng ngày là cách dễ nhất để bổ sung lượng vitamin C cần thiết mỗi ngày cũng như giúp cơ thể hoạt động sung sức. Đặc biệt uống nước chanh buổi sáng rất có lợi cho sức khỏe.
Ảnh minh họa.(Nguồn: internet)
Dưới đây là những tác dụng không ngờ của nước chanh khi bạn uống vào buổi sáng:
Tăng cưỡng miễn dịch
Trong nước chanh có chứa nhiều vitamin C, đây là loại chất giúp tăng cường sức đề kháng à ngăn cản các bệnh khi thời tiết lạnh. Vitamin C có trong chanh giúp chống viêm và được sử dụng trong việc điều trị bệnh hen suyễn và các bệnh về hô hấp khác.
Ngoài ra chanh còn giúp tăng cường hấp thu sắt, đóng vai trò trong khả năng miễn dịch. Nước chanh còn chứa nhiều chất kali giúp kích thích trí não phát triển và cân bằng huyết áp.
Tốt cho tiêu hóa
Nước chanh không chỉ giúp giải nhiệt và thanh lọc cơ thể nhờ đẩy độc tố ra ngoài mà thành phần có trong nước chanh còn giống như nước bọt và axit có trong hệ tiêu hoá giúp gan sản xuất ra axit cần thiết cho hệ tiêu hoá của bạn. Nước chanh còn giúp giải phóng độc tố và làm giảm các triệu chứng khó tiêu, ợ chua.
Lợi tiểu
Uống nước chanh, bạn sẽ đi tiểu nhiều hơn vì nó được coi là một chất lợi tiểu trong cơ thể, giúp làm sạch hệ tiêu hóa. Theo đó tốc độ đào thải độc tố cũng nhanh chóng hơn, giúp giữ cho đường tiết niệu của bạn khỏe mạnh.
Giảm cân
Nếu béo phì hay thừa cân, bạn không nhất thiết áp dụng chế độ ăn quá khắt khe, dễ dẫn tới tình trạng bị thiếu chất, hạ huyết áp.
Hơn nữa, vỏ chanh có các thớ pectin giúp giảm cân bằng cách ngăn dạ dày hấp thụ đường quá nhanh. Bạn có thể thêm vỏ chanh vào nước lọc hoặc nước chanh ấm. Tuy nhiên cần phải lưu ý rằng để giảm cân bạn nên duy trì thói quen uống một cốc nước chanh mỗi ngày kết hợp cùng chế độ ăn uống khoa học và tập luyện đều đặn.
Đẹp da
Vitamin C không chỉ giúp tăng cường sức đề kháng mà còn giúp chống ôxy hoá hiệu quả làm đẹp da, giảm nếp nhăn. Vitamin C giúp cho làn da khoẻ mạnh đẩy lùi một số loại vi khuẩn gây ra mụn trứng cá. Vitamin C giúp trẻ hoá làn da từ bên trong cơ thể nhờ đẩy độc tố ra bên ngoài.
Giảm các bệnh về hô hấp
Một cốc nước chanh ấm vào mỗi sáng sớm sẽ giúp loại bỏ các bệnh nhiễm trùng ở vùng ngực và dừng những cơn ho khan, ho gió lại. Nó cũng được cho là liều thuốc quý giá và hữu ích cho những người đang bị bệnh hen suyễn và thường xuyên bị dị ứng.
Giảm stress
Vitamin C có nhiều trong nước chanh là một trong những phương thuốc giúp bạn thoát khỏi tình trạng căng thẳng cho trí não và cơ thể.
Hạn chế cà phê
Sau khi uống một ly nước chanh nóng, bạn sẽ thực sự thấy không thèm uống cà phê vào buổi sáng nữa. Tuy đây là một điều khá bất ngờ và cho đến nay khoa học vẫn chưa giải thích được điều này.
TheoVnmedia
Lễ hội trăng rằm sắp đến, chắc hẳn bạn sẽ thích thú khi được nhấm nháp hương vị của từng chiếc bánh nướng, bánh dẻo. Dưới đây là một vài lưu ý bạn cần lưu tâm:
Bánh phải mới
Ngày nay các nhà sản xuất cố gắng tạo ra nhiều loại bánh khác nhau, và có thêm nhiều màu sắc để các khách hàng chọn lựa. Tuy nhiên, điều bạn cần lưu tâm khi chọn và thưởng thức bánh là ngày sản xuất.
Ngoài ra, trong mỗi lần ăn, bạn phải tính toán để không cắt quá nhiều bánh, tránh tình trạng bánh thừa để lại, phải bảo quản trong tủ lạnh sẽ khiến bánh mất độ tươi.
Nhâm nhi chén trà xanh khi ăn bánh trung thu không chỉ đỡ ngán mà còn hỗ trợ cho tiêu hoá rất nhiều.
Cần tách trà nóng
Ăn bánh trung thu rất cần một tách trà nóng. Bánh trung thu về cơ bản thành phần gồm rất nhiều bột, đường, dầu, mỡ động vật… vì vậy một tách trà nóng sẽ giúp cơ thể dễ tiêu hoá, chuyển hoá hơn. Tốt nhất là dùng trà xanh, trà nhài, trà hoa cúc.
Tuyệt đối không ăn bánh trung thu với một cốc nước đá lạnh. Rất dễ gây tiêu chảy.
Thời gian ăn bánh
Vì bánh trung thu có nhiều chất béo, đường nên tốt nhất không nên ăn nhiều cùng một lúc. Đặc biệt là người già, trẻ em, vốn hệ tiêu hoá còn yếu.
Cũng không nên ăn bánh trung thu để trừ bữa. Tốt nhất ăn xen kẽ giữa các bữa ăn. Không ăn vào ban đêm và hai tiếng trước khi đi ngủ.
Cách ăn bánh
Bánh trung thu thường có hai vị mặn và ngọt. Vậy bạn hãy ăn bánh mặn trước, sau đó đến bánh ngọt. Với các loại bánh có nhiều loại nhân, bạn cũng nên căn cứ vào thứ tự này để chọn bánh.
Những ai không nên ăn bánh
Với những người mắc các bệnh như viêm túi mật, sỏi mật, viêm dạ dày, cao huyết áp, cholesterol cao, bệnh nhân tim mạch… nên không ăn bánh trung thu, thậm chí với các loại bánh quá ngọt hay có đậu phộng, các loại hạt khi ăn quá nhiều sẽ làm tăng gánh nặng cho chức năng lưu thông máu, làm mệt tim thậm chí gây nhồi máu cơ tim.
Loét dạ dày, loét tá tràng cũng không nên ăn bánh trung thu vì sẽ làm tăng
tiết acid khiến bệnh nặng hơn. Viêm gan cấp mãn tính cũng không ăn bánh trung thu. Ngoài ra, bệnh nhân bị sâu răng, béo phì, xơ cứng động mạch… cũng nên cân nhắc khi ăn bánh trung thu.
TheoDân Việt/MC
Nếu đang bị bệnh hen suyễn, cần phải cẩn thận với những gì bạn ăn. Có một số loại thực phẩm cần tránh nếu không muốn cơn thở khò khè bùng phát.
Khoai tây chiên không tốt cho người bị hen suyễn
Rượu vang: Dù chỉ 1 ly rượu vang cũng không tốt cho cơn hen suyễn. Nếu bạn uống rượu vang, bạn sẽ bắt đầu có vấn đề về hô hấp.
Bia: Nếu bạn thích bia và đang bị thở khò khè, tốt nhất là tránh xa nó một thời gian. Một lượng bia chỉ khoảng nửa lít không tốt cho phổi của những người đang bị hen suyễn hành hạ.
Thực phẩm chứa tinh bột: Chuối chứa lượng cao tinh bột là thực phẩm bạn nên tránh khi bị thở khò khè. Một số loại thực phẩm tương tự khác là khoai tây chiên và đồ ăn nhẹ có phủ lớp bột bắp (ngô). Tinh bột trong khoai tây chiên quá nhiều, bạn cần tránh. Ăn khoai tây luộc thì tốt hơn nhưng ở mức vừa phải.
Thơm (khóm, dứa): Các a xít có trong thơm được coi là nguy hiểm cho bệnh nhân hen suyễn.
Ớt, đồ chua: Các loại đồ chua, dưa chua, ớt thường khó mà từ chối trong bữa ăn; song nếu bạn bị chứng thở khò khè, bạn nên tránh các loại thực phẩm này.
Các thực phẩm dễ gây dị ứng: Hãy chắc chắn rằng bạn không ăn bất cứ loại nào có thành phần dễ gây dị ứng. Thực phẩm gây dị ứng có thể khiến bệnh bùng phát khi làm co thắt thanh quản, gây khó thở.
Tôm đông lạnh: Bị bệnh hen suyễn, bạn cần tránh tôm đông lạnh. Loại hải sản này chứa rất nhiều chất bảo quản không tốt cho phổi. Vì vậy, nếu muốn ăn tôm thì ăn lúc còn tươi.
Hạn chế các chất béo omega 6 có trong thực phẩm được nấu chín với dầu thực vật hoặc dầu đậu nành.
TheoThanh niên
Các nhà nghiên cứu ở Anh quốc lần đầu tiên đã thiết lập được bản đồ tiến triển của đột biến bên cạnh sự phát triển của khối u, điều này giúp tạo ra cách thức tốt hơn trong việc điều trị và phòng ngừa nhiều loại ung thư.
Người ta đã nghiên cứu hơn 7.000 hệ gen (giải mã gen) để tìm ra được các dạng đột biến AND có thể là dấu hiêụ cuả ung thư. Đây làbước rất quan trọng để khám phá ra tiến trình tạo thành khối ung thư. Thông qua phân tích chi tiết đã có thể bắt đầu dùng lượng lớn thông tin từ AND của khối ung thư để hiểu rõ hơn tại sao nó phát triển . Tất cảung thư đều gây ra bởi đột biến AND xảy ra ở tế bào của cơ thể trong giai đoạn nào đó của đời sống. Các nhà khoa học biết rõ về những điều này, chẳng hạn như các hóa chất từ khói thuốc lá gây đột biến gen tế bào phổi dẫn đến ung thư hoặc tia cực tím khởi phát đột biến tế bào da gây ra ung thư da. Nhưng tiến trình sinh học gây ra đột biến trong ung thư thì chưa được rõ ràng. Như vậy sau tất cả các vấn đề thì vấn đề gây đột biến là nguyên nhân tạo ung thư.
Nghiên cứu 7.042 mã gen của các trường hợp ung thư khắp nơi trên thế giới với 30 loại bệnh khác nhau, các chuyên gia đã tìm ra được những kiểu tiến trình đột biến khác nhau. Họ đã khám phá ra tất cả các ung thư đều chứa hai hoặc nhiều hơn các ký hiệu gây phát triển ung thư, những loại ung thư khác nhau cũng có số lượng đột biến gen khác nhau. Chẳng hạn ung thư buồng trứng thì có 2 tiến trình đột biến để phát triển ung thư, ung thư gan thì có đến 6 tiến trình đột biến. Cũng có loại tiến trình được tìm thấy ở nhiều loại ung thư khác nhau, ngoài 30 ung thư thì có đến 25 kiểu đột biến liên quan đến tích tuổi. Các nhà khoa học cũng khám phá ra họ của men được gọi là APOBEC đã gây đột biến AND, liên quan với hơn phân nửa các trường hợp ung thư.
(Theo Doctor’s Guide, 8/2013)
MINH THƯ
Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, táo mèo có tác dụng hạ huyết áp là thông qua cơ chế làm giãn mạch ngoại vi. Mặt khác, công dụng hạ mỡ máu, ức chế quá trình ngưng tập tiểu cầu, làm giãn động mạch vành, cải thiện sức co bóp cơ tim và an thần trấn tĩnh đều trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần lập lại cân bằng sinh lý và phòng chống tích cực các biến chứng do tình trạng tăng huyết áp gây ra.
Một số cách dùng cụ thể như sau:
Bài 1: Táo mèo 15g, hà diệp (lá sen) 20g. Hai thứ tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng: Hoạt huyết hóa ứ, thanh dẫn thông trệ, làm giãn mạch máu, dùng thích hợp cho người bị tăng huyết áp và béo phì có kèm theo đau đầu, hoa mắt, chóng mặt.
Bài 2: Táo mèo 10g, cúc hoa 10g, lá trà tươi 10g. Ba thứ hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng: Thanh nhiệt trừ đàm, bình can tiềm dương, dùng cho người bị tăng huyết áp, bệnh lý mạch vành và rối loạn lipit máu.
Bài 3: Táo mèo 24g, cúc hoa 15g, kim ngân hoa 15g, tang diệp (lá dâu) 12g. Tất cả sấy khô, tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng: Thanh can nhiệt, hoá ứ tích, dùng thích hợp cho những người bị tăng huyết áp thuộc thể can nhiệt ứ trở biểu hiện bằng các triệu chứng như đau đầu, chóng mặt, hoa mắt, mất ngủ, dễ cáu giận, miệng khô họng khát, đại tiện táo, chất lưỡi đỏ…
Bài 4: Táo mèo 50g, gạo tẻ 50g, đường phèn vừa đủ. Sơn tra bỏ hạt, thái phiến, đem nấu với gạo tẻ thành cháo, chế thêm đường phèn, chia ăn vài lần trong ngày. Công dụng: Khứ ứ huyết, tiêu thực tích, dùng cho những người bị tăng huyết áp, rối loạn lipid máu.
Táo mèo phối hợp với cúc hoa và lá trà tươi hãm uống tốt cho người bệnh tăng huyết áp, bệnh mạch vành và rối loạn lipit máu.
Bài 5: Táo mèo sao đen 12g, thảo quyết minh 12g, hoa cúc trắng 9g. Ba thứ sấy khô, tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng: Sơ phong, tán nhiệt, bình can, giáng áp, nhuận tràng thông tiện, dùng rất tốt cho những người bị tăng huyết áp có kèm theo táo bón kéo dài.
Bài 6: Táo mèo 16g, sinh đỗ trọng 16g, thảo quyết minh 16g, tiên ngọc mễ tu (râu ngô tươi) 62g, hoàng bá 6g, sinh đại hoàng 3g. Tất cả đem sắc với 6 bát nước, cô lại còn 3 bát, chia uống vài lần trong ngày. Công dụng: Bổ can thận, thanh can nhiệt, giáng áp, dùng thích hợp cho những người bị tăng huyết áp, béo phì.
Thạc sĩ Hoàng Khánh Toàn
Thịt cóc rất giàu dinh dưỡng nhưng những độc tố ở một số bộ phận cơ thể chúng như nhựa cóc, gan và trứng cóc có thể gây ngộ độc cấp tính, tỉ lệ tử vong rất cao.
Giá trị dinh dưỡng cao….
Cóc là động vật lưỡng cư, thuộc họ Bufonidae có nhiều loài khác nhau, cư trú ở khắp nơi trên thế giới. Thịt cóc rất giàu dinh dưỡng, cao hơn thịt bò, thịt lợn (53,37% protit, 12,66% lipit, rất ít gluxit), đặc biệt có nhiều axít amin cần thiết (Asparagine, Histidine, Tyrosine, Methionine, Leucine, Isoleucine, Phenylalanine, Tryptophan, Cystein, Threonine..) và nhiều chất vi lượng (Mangan, Kẽm…) được dùng làm thực phẩm bổ dưỡng cho người già; hỗ trợ, tăng cường dinh dưỡng sau ốm dậy; hỗ trợ điều trị trẻ em suy dinh dưỡng, chán ăn, chậm lớn, còi xương, cam tích, lở ngứa… dưới dạng ruốc, bột hoặc thịt tươi dùng để nấu cháo, làm chả cóc… Trong đông y và dân gian, nhựa cóc, gan cóc được sử dụng để chống sưng, tiêu viêm dưới dạng cao, dùng ngoài da (da chưa bị tổn thương) điều trị nhọt độc, đầu đinh, sưng tấy…
Ảnh minh họa.
Độc tố chỉ có một số bộ phận cơ thể cóc như nhựa cóc (ở tuyến sau tai, tuyến trên mắt và các tuyến trên da cóc), trong gan và buồng trứng. Độc tố của cóc là hợp chất Bufotoxin gồm nhiều chất như 5-MeO-DMT, Bufagin, Bufotaline, Bufogenine, Bufothionine, Epinephrine, Norepinephrine, Serotonin… Tác động sinh học của độc tố tùy theo cấu trúc hoá học: Bufagin tác động đến tim mạch như nhóm Glycoside tim mạch; Bufotenine gây ảo giác; Serotonin gây hạ huyết áp… Thành phần độc tố thay đổi tuỳ theo loài cóc. Độc tố xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa gây ra ngộ độc cấp tính. Độc tố hấp thu qua da bình thường, nhưng gây ra dị ứng, bỏng rát ở mắt, niêm mạc người.
Ăn thịt cóc thế nào để tránh ngộ độc?
Ngộ độc thực phẩm do độc tố cóc xảy ra do ăn thịt cóc bị nhiễm độc tố (nhựa cóc, gan, mật bị dập nát dính trên thịt cóc) và có trường hợp do ăn gan, trứng cóc. Triệu chứng ngộ độc độc tố cóc biểu hiện cấp tính, xuất hiện từ 1 – 2 giờ sau khi ăn (có thể sớm hơn nếu uống rượu, bia) với các biểu hiện: bị chướng bụng, đau bụng trên rốn kèm theo nôn mửa dữ dội, có thể bị tiêu chảy; hồi hộp, đánh trống ngực, tim đập nhanh, sau đó loạn nhịp tim, rung thất, Block nhĩ – thất, truỵ tim mạch, huyết áp lúc đầu cao sau đó tụt; rối loạn cảm giác (đau như kim chích ở đầu ngón tay, chân, tê môi), chóng mặt, ảo giác, vã mồ hôi lạnh, tăng tiết nước bọt, có thể khó thở, ngừng thở, ngừng tim; bí đái, thiểu niệu, vô niệu và nặng dẫn đến suy thận cấp. Nếu nhựa cóc bắn dính vào trực tiếp niêm mạc mắt xuất hiện bỏng rát, phù nề niêm mạc…
Ngộ độc do độc tố cóc tiên lượng rất nặng, tỷ lệ tử vong rất cao nên cần phát hiện sớm, sơ cứu, cấp cứu kịp thời ở những trung tâm y tế mới có hiệu quả. Cụ thể:
– Phát hiện dấu hiệu ngộ độc sớm (người bệnh còn tỉnh táo): cần gây nôn chủ động; chuyển bệnh nhân nhanh chóng đến cơ sở có điều kiện hồi sức cấp cứu.
– Chống rối loạn tim mạch, hô hấp, thần kinh và tiết niệu bằng dịch truyền, thuốc điều trị triệu chứng, thở ô xy, thở máy, máy tạo nhịp, lợi tiểu, lọc thận….
– Thải trừ chất độc: Rửa dạ dày, uống than hoạt, thụt, tháo…
Cóc với sức khoẻ của con người bên cạnh những lợi ích là những nguy cơ rất lớn đe doạ đến sức khỏe và tính mạng người tiêu dùng. Để dự phòng ngộ độc thực phẩm do ăn thịt cóc chỉ sử dụng những sản phẩm của cóc đã qua chế biến dưới dạng thực phẩm, thuốc đã được các cơ quan chức năng cho phép lưu hành; nếu muốn sử dụng thịt cóc để ăn cần loại bỏ cóc tía (cóc có mắt mầu đỏ), thịt cóc theo đúng quy trình (cắt bỏ đầu dưới hai tuyến mang tai, chặt 4 bàn chân, lột da trong chậu nước, khoét bỏ hậu môn, loại bỏ hết ruột, trứng, gan, mật, rửa sạch nhiều lần dưới vòi nước sạch), chỉ lấy thịt, xương để chế biến thành thực phẩm.
TheoTS. Lâm Quốc Hùng
(Cục An toàn thực phẩm – Bộ Y tế)
Cá mè thịt chắc, vị ngọt, béo nhưng không ngấy. Khéo léo chế biến, các bà nội trợ có thể nấu được những món ngon như cá mè kho tiêu, cá mè kho dưa cải, canh cá mè nấu chua… Thịt cá có nhiều protid; mỡ cá có nhiều acid béo không no; mật cá chứa sterol. Trong Đông y, cá mè còn gọi là liên ngư, bạch cước liên, phường ngư. Bộ phận dùng làm thuốc là thịt, mỡ và mật cá.
Cá mè vị ngọt, tính ấm, không độc, có tác dụng bổ não tủy, nhuận phế, ích tỳ vị. Trong sách thuốc cổ có ghi: Thịt cá mà trắng có tác dụng khai vị, hạ khí, điều hòa ngũ tạng, chống hư huyết mạch, bổ gan, sáng mắt. Dùng cho các trường hợp tỳ vị hư hàn, ăn kém, đau bụng, đầy bụng, da thô ráp, tróc da và da khô. Người cao tuổi dùng cá mè thường xuyên chống được đau đầu, giảm trí nhớ, ho đờm, hen suyễn.
Dùng cho người suy nhược, sốt, chán ăn: cá mè tươi 300g, khởi tử 30g. Cá mè làm sạch, bỏ đầu và xương, thái lát mỏng; nấu kỹ với khởi tử. Trước khi ăn có thể thêm giá đỗ xanh, gừng, rau mùi, rau cần, hành, muối, hồ tiêu; đun chín. Ăn trong ngày.
Dùng cho các trường hợp huyết hư sau đẻ và thiếu sữa: cá mè 1 con, hạt mướp 30g, nghệ vàng 10g. Nấu ở dạng canh, mỗi ngày 1 lần.
Dùng cho các trường hợp tỳ vị dương hư, hư hàn, ăn kém, chậm tiêu, đầy ợ hơi, sợ lạnh, ho suyễn, nôn ói: cá mè 1 con, gừng tươi 18 – 30g. Cá mè làm sạch; gừng tươi 1 củ, cạo vỏ, đập giập nhưng vẫn còn cả thân củ; thêm hồ tiêu, hành tươi, gia vị nấu thành canh cá. Ăn liên tục đợt 5 – 7 ngày.
Dùng cho bệnh nhân phù nề, tiểu tiện ít: cá mè 1 con, đậu đỏ hạt 30g. Cá mè làm sạch, cho vào nồi hầm nhừ với đậu đỏ, thêm gia vị thích hợp. Ăn một đợt trong 5 – 7 ngày.
Dùng cho các trường hợp đau đầu hoa mắt chóng mặt (huyễn vững), mỏi tay chân: đầu cá mè 1 chiếc, thiên ma 15g. Cho đầu cá, thiên ma, thêm muối gia vị và nước với số lượng thích hợp, hầm nhừ. Ăn một đợt 5 – 7 ngày.
Mỡ cá mè có nhiều ở phần bụng cá, rán lấy mỡ, dùng chữa bỏng da độ nhẹ.
Kiêng kỵ: Cá mè tính chất ôn nhiệt, ăn nhiều sinh nội nhiệt khát nước loét miệng; vì vậy các trường hợp dương thịnh, nội nhiệt táo bón, lở ngứa, mụn nhọt không nên ăn. Không nên ăn gỏi cá mè hoặc ăn cá chưa nấu chín do cá thường mang ấu trùng sán lá gan.
Những người làm công việc văn phòng sau một thời gian thường sẽ mắc các bệnh như mỏi mắt, đau lưng, thoái hóa đốt sống cổ, hội chứng ống cổ tay, sạm hoặc khô da, béo bụng… Những “bệnh văn phòng” này gây ra không ít phiền toái trong cuộc sống của những người mắc phải. Nếu không có cách điều trị và điều chỉnh thích hợp, các bệnh tưởng không nguy hại này sẽ ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe.
Mỏi mắt: Làm việc liên tục với máy tính sẽ khiến mắt bạn không chỉ mỏi, nhức, mà còn có thể bị khô hoặc chảy nước liên tục. Đó là do mắt phải điều tiết quá nhiều trong một thời gian dài nên đã dẫn đến tình trạng trên. Đi kèm với mỏi mắt là chóng mặt, nhức đầu và có cảm giác nôn nao. Sóng máy tính gây hại cho hệ thần kinh, mắt nhức mỏi cũng khiến thần kinh căng thẳng, cùng với đó là không khí ngột ngạt của văn phòng sẽ khiến bạn dễ bị căng thẳng hơn. Nếu muốn chấm dứt tình trạng trên, sau mỗi 60 phút làm việc trước máy tính bạn nên nghỉ ngơi khoảng 5 phút. Trong thời gian nghỉ ngơi đó bạn hãy nhắm mắt lại, thả lỏng cơ thể và tưởng tượng mình đang ở một nơi có phong cảnh đẹp hay nghe một bản nhạc du dương.
Khi ngồi làm việc lâu với máy tính, dễ mỏi mắt, cần thư giãn và nghỉ ngơi 5 phút sau mỗi tiếng làm việc.
Đau lưng, nhức tay, thoái hóa đốt sống cổ: Ngồi nhiều với tư thế sai sẽ làm cơ lưng và cột sống vặn vẹo dẫn đến đau lưng. Gõ máy tính liên tục và bấm chuột sẽ khiến các khớp tay đau nhức. Cổ liên tục ở tư thế bất động, máu kém lưu thông, dần dần sẽ dẫn đến thoái hóa khớp. Đó là lý do vì sao những người làm văn phòng dễ mắc các bệnh như hội chứng ống cổ tay (cánh tay đau nhức), thoái hóa đốt sống cổ, đau thần kinh tọa. Lời khuyên hữu ích dành cho dân văn phòng là hãy điều chỉnh tư thế ngồi của mình cho đúng: lưng thẳng, không ngồi lún quá sâu vào lưng ghế. Nên tìm cho mình một chiếc ghế mềm mại và thoải mái nhất. Chú ý đến độ cao của bàn viết và ghế ngồi để hai tay của bạn vừa tầm trên bàn làm việc. Sau 2 giờ làm việc với máy tính bạn nên vươn vai, xoay người, hay tập một môn thể thao nhẹ nhàng để khí huyết được lưu thông. Đồng thời, thường xuyên tự xoa bóp các khớp ngón tay để tránh sự nhức mỏi và co rút cơ.
Hội chứng tổn thương thần kinh là những thứ mà bạn có thể gặp. Khi bạn ngoẹo đầu sang một bên để giữ điện thoại nói chuyện trong khi hai tay vẫn thoăn thoắt với máy tính, có thể bị hội chứng thoát ngực. Nó là do sự chèn ép đám rối thần kinh cánh tay do căng cơ bên của cổ vì sai vị trí đầu hay tư thế ngồi sụp. Khi duỗi ngón tay và cổ tay lặp đi lặp lại hay do quay cẳng tay sẽ làm chèn ép dây thần kinh quay, coi chừng bị hội chứng ống thần kinh quay với biểu hiện là cảm giác khó chịu từ khuỷu tay đến phần chân đế của ngón cái hoặc yếu cổ tay.
Béo bụng: Không chỉ nam giới, mà nữ giới văn phòng bụng cũng có xu hướng to hơn bình thường, đó là vì họ ít vận động, ngồi sai tư thế, khiến cho lượng mỡ tích lại ở vùng bụng nhiều hơn bình thường. Đó là chưa kể tới việc ít vận động, thừa calo còn dẫn tới béo phì. Do đó, nếu công việc của bạn ít phải vận động thì bạn hãy cố tận dụng mọi cơ hội để được đi lại, hoạt động chân tay. Thay cho đi thang máy, hãy leo cầu thang bộ… cùng với đó là tập các bài tập thể dục giữa giờ.
Các bệnh về da và hô hấp: Trong môi trường máy điều hòa tại văn phòng, lại thiếu không khí trong lành, da và hệ thống hô hấp của bạn sẽ có vấn đề. Nhẹ thì da mất nước, khô ráp, sạm màu. Nặng hơn thì da nổi mụn, dị ứng, miệng khô, khó thở và dễ bị viêm đường hô hấp. Uống nhiều nước, dùng kem dưỡng ẩm và bổ sung các thực phẩm giàu vitamin A, C, E… là điều rất cần thiết đối với nhân viên văn phòng vì chúng có tác dụng chống lão hóa, khôi phục độ ẩm cũng như độ đàn hồi cho các tế bào da. Thỉnh thoảng, bạn cố gắng ra ngoài phòng hít thở không khí trong lành để cải thiện tình trạng trên. Da bạn phải “làm việc” căng thẳng cả ngày, vì vậy buổi tối chính là lúc bạn cần dành thời gian để “cải tạo” làn da của mình thông qua việc đắp mặt nạ và mát xa cho da. Đắp mặt nạ sẽ làm giãn nở các lỗ chân lông, giúp lấy đi các tế bào da chết, lưu thông máu, từ đó làm da bạn mềm mại và mịn màng.
Hội chứng ống cổ tay: Bệnh nhân có cảm giác đau lan xuống ngón cái, trỏ, giữa và nửa trong của ngón tay đeo nhẫn, họ cũng cảm thấy tê giống như kiến bò hoặc kim châm. Một số bệnh nhân có thể thấy đau lan cổ tay, lòng bàn tay hoặc cẳng tay, nhất là về đêm. Cảm giác đau và tê đôi khi cũng lan lên cẳng tay dẫn đến cầm nắm trở nên vụng về. Bệnh nhân thường phải lắc bàn tay để bớt khó chịu. Để phòng ngừa hội chứng ống cổ tay, các cơ bắp cần phải có nhiều thời gian để nghỉ ngơi thư giãn. Thường xuyên tập thể dục nhất là với những người mà công việc bắt buộc phải ngồi nhiều hoặc phải thực hiện những thao tác lặp đi lặp lại ở cổ tay. Khi làm việc nên ngồi ở tư thế đúng, thỉnh thoảng thay đổi tư thế hoặc đứng lên đi lại.
Chu sa, thần sa hay còn gọi là châu sa, đơn sa (Cinnabaris) là một loại khoáng thạch có màu đỏ, có nguồn gốc ở Trung Quốc. Chu sa, thần sa đã được Ðông y sử dụng tới 2.000 năm nay để làm thuốc trấn kinh, an thần trong các bệnh co giật và mất ngủ. Sau đây là một số lưu ý khi dùng chu sa, thần sa chữa bệnh.
rong Đông y, chu sa, thần sa là một thành phần trong nhiều cổ phương nổi tiếng như: Ngưu hoàng trấn kinh tán, Ngưu hoàng thiên kim tán, Ngưu hoàng bào long hoàn, Bá tử dưỡng tâm hoàn, Tiểu nhi kinh phong tán… Về thực chất, chu sa và thần sa chỉ là một, đều là khoáng thạch có chứa sunfua thủy ngân và sunfua selen. Khác là chu sa thường ở thể bột đỏ, còn thần sa thường ở thể cục thành khối óng ánh, to nhỏ không đều nhau, có màu đỏ tối hay đỏ tươi, thể chất nặng song dễ vỡ, không mùi, vị nhạt.
Theo Đông y, chu sa, thần sa đều có vị ngọt, tính hơi hàn, có độc. Nhập vào kinh tâm, có công năng thanh tâm, trấn kinh, an thần, giải độc. Được dùng để trị các chứng hay bị hoảng hốt, mất ngủ, ngủ hay mê sảng, giật mình, trẻ con hay khóc đêm, bị co giật khi sốt cao… Trong sách cổ có quy định, chu sa, thần sa bao giờ cũng phải dùng sống một cách tuyệt đối, có nghĩa là không được qua lửa hoặc không được giã nghiền trực tiếp để sinh nhiệt. Vì nếu gia nhiệt sẽ làm cho các thành phần như sunfua thủy ngân (HgS) trong đó bị phân hủy thành thủy ngân nguyên tố (Hg) gây độc cho cơ thể, nhẹ thì có thể dẫn đến thâm lợi, sưng lợi…; nặng có thể nguy hiểm cho tính mạng. Do vậy, trước khi dùng cần được chế biến đúng phương pháp (thủy phi), sử dụng đúng liều lượng quy định.
Khi chế biến và sử dụng chu sa cần đúng phương pháp nếu không sẽ gây độc cho cơ thể.
Cách chế biến thần sa, chu sa
Cách 1: Nếu dùng với số lượng ít, cho vài ba thang thuốc Đông y, có thể đem chu sa, thần sa, mài vào cái bát sứ đã chứa ít nước sạch, cho tan hết phần bột, làm nhiều lần, bỏ phần cặn, gạn hoặc dùng nam châm để hút các cặn sắt đi. Lấy phần bột mịn đỏ, hòa vào thuốc sắc đã để nguội mà uống, với liều 0,3 – 1,5g/ngày.
Cách 2: Nếu dùng với số lượng lớn hơn, chu sa, thần sa thường cho vào cối sứ hoặc lon sành, cho nước sạch vào rồi nghiền làm nhiều lần, mỗi lần gạn lấy phần nước có bột đỏ sang một dụng cụ khác như can, chậu sành…, để lắng vài giờ, gạn bỏ phần nước trong ở trên, thu lấy bột mịn màu đỏ. Có thể tinh chế vài lần như vậy. Sau đó cho ra mâm nhôm hay khay men… phơi trong bóng râm cho tới khô. Lấy phần bột mịn màu đỏ, bảo quản trong lọ thủy tinh sạch, nút kín, để nơi cao ráo, tránh ánh sáng.
Cách 3: Trong các xí nghiệp sản xuất thuốc Đông dược, khi cần sản xuất số lượng lớn thần sa, chu sa, phải xay nghiền trong các cối bằng đá, song nhất thiết phải luôn luôn xay nghiền cùng với nước sạch để làm nguội (do nhiệt sinh ra trong quá trình xay nghiền dễ tạo ra thủy ngân nguyên tố). Sau đó các quá trình tiếp theo cũng làm theo các cách trên.
Như vậy, cần hết sức lưu ý là không cho chu sa, thần sa vào sắc cùng với thang thuốc thảo mộc.
Chu sa, thần sa được dùng chữa bệnh
Chữa mất ngủ, hay giật mình, mê sảng, giấc ngủ không yên, trẻ con hay khóc đêm…: dùng riêng bột chu sa, thần sa, hòa thêm chút mật ong hay ít nước đường vào cho dễ uống.
Chữa tâm thần bất an, mất ngủ, tim loạn nhịp, di tinh: dùng tim lợn hấp chín, rồi chấm với bột chu sa, thần sa mà ăn.
Lưu ý: Nếu thần sa, chu sa là một trong nhiều vị của một thang thuốc thảo mộc khác, trước hết phải sắc các vị thuốc thảo mộc như bình thường. Gạn lấy nước sắc, để nguội, rồi cho bột chu sa, thần sa với lượng phù hợp vào, quấy đều, uống ngày 2 – 3 lần trước bữa ăn khoảng 1,5 giờ. Ngoài ra, trong sản xuất thuốc, nếu trong thành phần có chu sa, thần sa, có thể lấy chính loại bột này để bao phía ngoài của các viên thuốc hoàn.
Tóm lại, để tránh những hậu quả có thể xảy ra đối với người bệnh khi dùng chu sa, thần sa, thì cách chế biến, bào chế vị thuốc này cũng như liều dùng và cách dùng của vị thuốc, cần tuân thủ nghiêm ngặt theo các phương pháp và các quy định đã đề ra.
GS.TS. Phạm Xuân Sinh
Viêm tai giữa là bệnh thường gặp ở mọi lứa tuổi, trẻ em mắc nhiều hơn. Viêm nhiễm thường dai dẳng gây đau đớn, khó chịu cho người bệnh. Nhiều trường hợp đã điều trị thuốc nhưng chỉ khỏi tạm thời, nếu thời tiết, độ ẩm thay đổi, bệnh lại tái phát. Người bệnh có biểu hiện đau nhức trong lỗ tai, ngứa ngáy, giảm thính lực, có tiếng ù trong tai kèm theo chảy nước hôi thối… Sau đây là một số bài thuốc uống và nhỏ tai để chữa bệnh này để bạn đọc tham khảo áp dụng.
Thuốc uống
Bài 1: nam hoàng bá 16g, kim ngân hoa 10g, liên kiều 12g, thương nhĩ tử 12g, thổ phục linh 16g, kinh giới 16g, phòng phong 10g, xuyên khung 10g, thiên niên kiện 10g, bạch chỉ bắc 8g, sài đất 16g, lá cây bưởi bung 16g, thạch xương bồ 16g, hoàng kỳ 12g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Công dụng: giảm đau, chống viêm, tiêu độc. Dùng 12 – 15 ngày liền.
Cây ngũ sắc chống viêm, tiêu độc, giảm đau, là một vị trong bài thuốc nhỏ tai trị viêm tai giữa.
Bài 2: kinh giới 16g, thạch xương bồ 12g, thổ phục linh 16g, lá bưởi bung 16g, lá ngũ sắc 16g, lá đơn mặt trời 16g, bạch chỉ nam 16g, ngũ gia bì 12g, trần bì 10g, đinh lăng 16g, lạc tiên 16g, hoàng liên 10g, sài hồ 12g, cam thảo đất 16g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Công dụng: bưởi bung, ngũ sắc, đinh lăng, đơn mặt trời chống viêm mạnh; kinh giới, thạch xương bồ trừ phong ngứa; hoàng liên, sài hồ thanh nhiệt, giảm đau. Các vị hợp lại có tác dụng chống viêm, chống ngứa, diệt khuẩn.
Bài 3: xuyên khung 10g, kinh giới 16g, cỏ hàn the 12g, thương nhĩ 16g, lá đinh lăng 16g, cam thảo đất 16g, bồ công anh 10g, sâm bố chính 16g, bạch chỉ bắc 8g, thiên niên kiện 10g, nhục quế 6g, thạch xương bồ 12g, đỗ trọng 10g, hoàng kỳ 12g, xạ can 10g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần. Công dụng: chống viêm, thông nhĩ, giảm đau, tiêu độc.
Thuốc nhỏ tai
Nguyên liệu gồm kinh giới, cây ngũ sắc, thạch xương bồ, thương nhĩ tử, trần bì mỗi vị 16g. Cho các vị vào ấm, đổ 150ml nước, đun còn khoảng 50ml. Rót nước thuốc ra, dùng bông y tế lọc 2 lần, cho vào lọ nhỏ giọt để tủ lạnh. Mỗi lần nhỏ 2 – 3 giọt, ngày 3 lần, tối 1 lần. Công dụng: diệt khuẩn, chống viêm, tiêu độc, giảm đau, hết chảy nước.
Lương y Thanh Ngọc
Ngưng thở nghẽn tắc lúc ngủ (Obstructive Sleep Apnea – OSA) là tình trạng ngưng thở lúc đang ngủ do đường thở bị hẹp hoặc đóng kín. Người lớn bị ngưng thở nghẽn tắc lúc ngủ thường quá cân nặng. Các triệu chứng thường gặp của ngưng thở nghẽn tắc lúc ngủ gồm có ngáy, ngưng thở trong lúc ngủ, thức giấc thường xuyên trong đêm và khó ngủ suốt đêm. Bệnh nhân ngưng thở nghẽn tắc lúc ngủ cũng thường mệt mỏi và buồn ngủ vào ban ngày. Buồn ngủ có thể gây tai nạn lao động, năng suất lao động kém và tai nạn xe cộ. Ngưng thở nghẽn tắc lúc ngủ cũng có thể tác động xấu đến tim và mạch máu (động mạch, tĩnh mạch và mao mạch).
Loại bệnh tim mạch nào tôi có thể mắc cùng với ngưng thở nghẽn tắc lúc ngủ?
Một số tình trạng tim mạch có thể xảy ra cùng với ngưng thở nghẽn tắc lúc ngủ không được điều trị. Thí dụ nếu bạn bị ngưng thở nghẽn tắc lúc ngủ, bạn nhiều khả năng bị tăng huyết áp hoặc khó kiểm soát huyết áp. Có khoảng 30% số người tăng huyết áp bị ngưng thở nghẽn tắc lúc ngủ. Nếu bạn bị ngưng thở nghẽn tắc lúc ngủ, xác suất 50% bạn cũng bị tăng huyết áp.
Trục trặc về nhịp tim có thể xảy ra, thí dụ như rung nhĩ và chậm nhịp tim. Người bệnh ngưng thở nghẽn tắc lúc ngủ nặng có khả năng bị rung nhĩ cao gấp bốn lần người bình thường. Nếu không điều trị ngưng thở lúc ngủ, rung nhĩ khó kiểm soát được. Như trong số người bị rung nhĩ đã điều trị, người không điều trị ngưng thở nghẽn tắc lúc ngủ có khả năng tái phát rung nhĩ cao hơn 25%.
Bệnh nhân ngưng thở nghẽn tắc lúc ngủ cũng có nhiều khả năng mắc bệnh động mạch vành. Bệnh động mạch vành xuất hiện khi các mạch máu nhỏ cung cấp máu và oxy cho tim bị hẹp lại. Động mạch vành hẹp có thể dẫn đến đột quị tim. Nếu bạn bị ngưng thở nghẽn tắc lúc ngủ nặng không được điều trị, bạn có khả năng đột quị tim cao gấp hai lần người không bị. Ngoài ra, tới 70% số lượng bệnh nhân nhập viện vì bệnh mạch vành mắc bệnh ngưng thở nghẽn tắc lúc ngủ. Nếu bạn bị suy tim, ngưng thở nghẽn tắc lúc ngủ có thể làm bệnh nặng hơn. Người bệnh ngưng thở nghẽn tắc lúc ngủ không được điều trị có thể phát sinh suy tim. Khả năng bị ngưng thở nghẽn tắc lúc ngủ cao nếu bạn suy tim.
Ngưng thở nghẽn tắc lúc ngủ gây bệnh tim bằng cách nào?
Lý do các bệnh nhân ngưng thở nghẽn tắc lúc ngủ phát sinh bệnh tim không được biết chính xác. Ngưng thở nghẽn tắc lúc ngủ khiến hô hấp của bạn thường xuyên ngưng lại, những lần ngưng này có nghĩa là bạn thực sự ngừng thở và điều này khiến bạn thức giấc ban đêm. Khi xảy ra ngưng thở, nồng độ oxy trong máu xuống thấp. Người ta cho rằng những lần nồng độ oxy xuống thấp trong lúc ngủ thường xuyên này làm tổn thương các mạch máu nuôi tim. Ngoài ra mỗi lúc như vậy, cơ thể yêu cầu tim đập nhanh hơn và huyết áp tăng cao. Ngưng thở nghẽn tắc lúc ngủ nặng cũng làm tăng gánh nặng của tim, khiến tim to ra. Tim to khiến tim nhận oxy ít hơn và hoạt động kém hiệu quả hơn.
Điều trị ngưng thở nghẽn tắc lúc ngủ có phải là điều trị bệnh tim?
Cách điều trị ngưng thở nghẽn tắc lúc ngủ thường gặp nhất là sử dụng một thiết bị cơ khí gọi là máy thở áp suất dương liên tục (continuous positive airway pressure – CPAP). Máy CPAP thổi khí vào một mặt nạ trùm khít lên mũi hoặc miệng. Khí này đi vào trong phổi và giữ đường thở không đóng lại trong lúc ngủ. Nó trị ngưng thở lúc ngủ, ngăn không cho nồng độ oxy trong máu xuống thấp trong lúc ngủ và cho phép bạn ngủ ngon. Sử dụng CPAP đều đặn về đêm theo chỉ định của thầy thuốc cũng làm giảm gánh nặng của tim. Nếu bạn bị rung nhĩ, CPAP cũng có thể kiểm soát được nhịp tim không đều của bạn. Nếu bạn bị cả ngưng thở lúc ngủ nặng lẫn tăng huyết áp, CPAP có lẽ sẽ giúp bạn kiểm soát được huyết áp.
Bệnh nhân thích nghi dần với máy CPAP. Người mang CPAP về đêm thường nói rằng họ có được giấc ngủ tốt nhất so với một thời gian dài trước đó. Tuy vậy có một số người không quen được với việc ngủ mang máy CPAP. Nếu gặp khó khăn, bạn hãy nói chuyện với chuyên gia giấc ngủ tại bệnh viện để được đặt mặt nạ mũi phải hoặc cả mặt và được cài đặt máy phù hợp với bạn. Có nhiều lý do rất chính đáng để thử và sử dụng CPAP mỗi đêm. Liệu pháp CPAP có thể giúp bạn kiểm soát các triệu chứng ngưng thở lúc ngủ và ngăn ngừa hoặc kiểm soát được các vấn đề của tim đi cùng với ngưng thở lúc ngủ, vốn thường rất nghiêm trọng và rút ngắn cuộc sống.
Một nghiên cứu mới chỉ ra rằng nam giới tập thể dục nhiều khi ở tuổi thanh thiếu niên có thể giúp giảm nguy cơ mắc bệnh động kinh về sau.
Trưởng nhóm nghiên cứu, tiến sĩ Elinor Ben- Menachem thuộc Đại học Gothenburg ở Thụy Điển cho biết, tập thể dục được chứng minh có lợi cho não bộ và giảm nguy cơ mắc các bệnh về não, theo hãng tin New Kerala.
Khảo sát ở 1,17 triệu nam giới ở Thụy Điển, các chuyên gia nhận thấy cánh mày râu nào tập thể dục ở mức độ cao giảm được 79% nguy cơ bị động kinh so với những người tập thể dục ở mức độ thấp và giảm được 36% so với nhóm tập thể dục ở mức trung bình.
Nghiên cứu này được công bố trên chuyên san Neurology.
TheoThanh niên
Vừa qua, tại Sóc Sơn, Hà Nội có rất nhiều người dân đã bị chó dại cắn gây hoang mang trong dư luận. Bệnh dại là một bệnh truyền nhiễm cấp tính tối nguy hiểm vì khi bệnh dại đã lên cơn thì vô phương cứu chữa cho dù là Tây y hay Đông y. Tuy vậy, bệnh có thể phòng được.
Vì sao bị bệnh dại?
Bệnh dại do virut dại thuộc họ Rahabdovirus gây ra. Đây là loại bệnh từ động vật lây sang cho người. Ngoài chó, mèo, chuột, dơi còn có một số loài gặm nhấm và động vật khác có thể truyền bệnh dại cho người. Bệnh dại hay gặp nhất là do chó dại cắn. Ở nước ta, tình trạng nuôi chó thả rông, không tiêm phòng hoặc tiêm phòng không đúng quy cách còn gặp khá nhiều, đặc biệt ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Từ đầu năm đến nay, số người bị mắc bệnh dại do chó dại cắn khá nhiều. Bản chất của bệnh dại là gây viêm não cấp tính.
Bệnh dại xuất hiện là do virut dại từ tuyến nước bọt của chó lây sang cho người. Chó trưởng thành mắc bệnh dại hay chó con mang mầm bệnh dại, khi cắn hoặc liếm vào vết thương của người (da xây xát) hoặc da tiếp xúc trực tiếp với virut dại khi làm thịt chó. Lúc này, virut dại chui qua da, niêm mạc (bình thường, virut dại không qua da và niêm mạc nhưng khi da và niêm mạc bị tổn thương, ẩm ướt thì chúng mới có điều kiện xâm nhập) rồi đi vào máu, đến các tổ chức của cơ thể, đặc biệt là tổ chức thần kinh ngoại biên, sau đó đi đến não (thần kinh trung ương). Tại đây, virut dại theo dây thần kinh đi đến tuyến nước bọt, tản ra khắp hệ thống thần kinh và gây tổn thương tổ chức não, gây viêm não cấp, thể hiện bằng các triệu chứng lâm sàng là rối loạn tâm thần hoặc bị liệt.
Cần tiêm phòng cho chó tránh mắc bệnh dại.
Khi đã lên cơn thì vô phương cứu chữa
Thời kỳ ủ bệnh của bệnh dại rất khác nhau tùy theo vết cắn và độc lực của virut, có thể từ 10 ngày đến 1 năm (trung bình từ 20 – 60 ngày). Nếu vết cắn ở gần thần kinh trung ương, độc lực của virut dại mạnh thì thời kỳ ủ bệnh ngắn hơn các nơi khác. Trước khi xuất hiện các triệu chứng của bệnh thì có thể có các triệu chứng như lo lắng, thay đổi tính tình, đau ở nơi vết cắn. Thời kỳ toàn phát của bệnh, thông thường có 2 thể bệnh là thể hung dữ và thể liệt.
Thể hung dữ: Biểu hiện chủ yếu là sự kích thích tâm thần như hung dữ, điên khùng, hoảng loạn, đập phá và nhanh chóng đi đến hôn mê rồi tử vong. Thể hung dữ còn có thể chỉ bị kích thích vận động là chủ yếu như co cứng, run rẩy, giật, co thắt họng, khí quản, đồng thời người bệnh sợ nước, sợ gió. Những lúc này, bệnh nhân khát mà không dám uống, chỉ cần nghe thấy tiếng nước chảy róc rách cũng đã lên cơn co thắt thanh, khí quản, họng, rất đau đớn và có thể bị nghẹt thở. Các triệu chứng kích thích sẽ tăng lên khi có các tác động mạnh như gió thổi, mùi vị, ánh sáng chói chang. Người bệnh luôn luôn trong trạng thái sợ sệt, hoảng hốt, lo lắng, mắt đỏ ngầu, sáng long lanh. Bệnh nhân rất thính, chỉ cần có tiếng động nhẹ hay ai đó nói gì đều có thể nhận biết và người bệnh lại lên cơn tiếp. Ngoài ra, người bệnh có sốt cao và tăng tiết đường hô hấp trên cho nên rất nhiều đờm, dãi. Dần dần, người bệnh bị rối loạn tim mạch, hô hấp và xuất hiện ảo giác. Bệnh tiến triển càng ngày càng xấu đi và có thể tử vong trong vòng từ 3 – 5 ngày.
Với thể liệt, chiếm tỷ lệ thấp hơn. Người bệnh ít gặp triệu chứng sợ nước, gió. Lúc đầu đau cột sống thắt lưng, sau đó liệt cơ vòng (đại, tiểu tiện không tự chủ) rồi liệt chi trên. Khi tổn thương lan đến hành não thì bắt đầu xuất hiện liệt thần kinh sọ. Bệnh nhân sẽ tử vong do ngừng hô hấp và tuần hoàn.
Cần lưu ý rằng khi bệnh dại đã lên cơn thì vô phương cứu chữa, 100% bệnh nhân tử vong. Cho đến nay, chưa có một loại thuốc nào (cả Tây y lẫn Đông y) dùng để điều trị bệnh dại khi đã lên cơn. Tuy vậy, cần chẩn đoán phân biệt với một số trường hợp bệnh hoang tưởng. Một thời gian sau khi bị chó cắn (con chó này không mắc bệnh dại), người bị chó cắn vẫn lên cơn dại như bệnh dại nhưng thực chất không phải bệnh dại.
Đề phòng bệnh dại, nên làm gì?
Khi chó cắn nghi dại, chỉ có biện pháp để cứu sống bệnh nhân là tiêm huyết thanh kháng dại và vaccin dại kịp thời. Trước hết, cần nhanh chóng rửa vết thương thật kỹ bằng xà phòng và rửa lại thật sạch vết thương bằng nước sạch, sát khuẩn bằng cồn, cồn iốt hoặc bêtadin để phòng nhiễm khuẩn vết thương, sau đó khẩn trương đưa người bệnh đến cơ sở y tế để khâu vết thương (nếu bị rách nhiều) và tiêm huyết thanh kháng dại, vaccin dại và huyết thanh chống uốn ván (đề phòng bệnh uốn ván).
Vậy khi nào thì tiêm vaccin phòng dại? Chó cắn hoặc liếm vào vết thương (ngay cả chó con cắn, liếm) hoặc chó cắn vào vùng gần thần kinh trung ương (đầu, mặt, cổ…); Chó cắn xong chạy mất hoặc chó bị đánh chết, chó đang ốm thì phải tiêm ngay huyết thanh chống virut dại và tiêm cả vaccin dại. Nếu sau khi chó cắn mà con chó vẫn bình thường, cần nhốt chó để theo dõi chó (phải chăm sóc chó cẩn thận không để chó đói chết). Sau 10 ngày, nếu chó vẫn bình thường thì không cần thiết tiêm vaccin dại. Nhưng nếu sau 10 ngày mà con chó đó bị chết thì phải tiêm vaccin dại đủ liều. Vì vậy, những người bị chó cắn nghi dại cần đến các trung tâm y tế dự phòng để được hướng dẫn tiêm huyết thanh kháng dại, vaccin phòng dại và vaccin phòng chống bệnh uốn ván đúng quy định.
Trong khi bạn ngủ, cơ thể đang làm rất nhiều điều “điên rồ” mà chính bạn cũng không thể tưởng tượng ra.
1. Nhiệt độ cơ thể giảm xuống
Ngay khi bạn chuẩn bị đi vào giấc ngủ, nhiệt độ cơ thể của bạn bắt đầu giảm. Tiến sĩ Michael Breus, nhà tâm lý học lâm sàng, chuyên gia về giấc ngủ ở Scottsdale, AZ, Mỹ và là tác giả của “The Sleep Doctor’s Diet Plan” cho biết, giấc ngủ sẽ giúp bạn giảm cân tốt hơn. Dấu hiệu giảm nhiệt độ này giúp bộ não giải phóng melatonin, ảnh hưởng đến nhịp sinh học và báo cho cơ thể của bạn biết rằng đã đến lúc đi ngủ. Nhiệt độ cơ thể thấp nhất là khoảng 2h30 sáng, vì vậy nếu có thể, hãy tăng nhiệt độ tại thời điểm đó cho một hay hai giờ bằng cách dùng lò sưởi hoặc ôm vợ/chồng bạn khi ngủ để cơ thể cảm thấy ấm hơn.
2. Cân nặng giảm
Theo tiến sĩ Breus, bạn bị mất nước qua mồ hôi và thở ra không khí ẩm vào ban đêm. Nếu ngủ chỉ bốn hoặc năm giờ mỗi đêm, bạn có thể hủy bỏ bất cứ chế độ ăn uống và tập thể dục nào mà bạn đang làm trong ngày. Để giảm bớt vòng eo, hãy ngủ ít nhất bảy giờ mỗi đêm.
Ảnh minh họa( Nguồn: internet)
3. Chiều cao tăng lên
Bạn sẽ không nhận thấy chính xác điều này, nhưng cơ thể có thể cao lên trong khi bạn ngủ. “Các đĩa trong cột sống hoạt động giống như miếng đệm giữa các xương và sẽ trở nên lớn hơn bởi trọng lượng của cơ thể không tạo áp lực và đè lên chúng như là khi bạn đang đứng”, tiến sĩ Breus nói. Nếu bạn có nệm tốt, hãy nghiêng người về một bên và ngủ cuộn tròn như tư thế bào thai. Đây là tư thế tốt nhất để bạn có thể cao hơn vì nó giúp giảm tải áp lực trên lưng của bạn.
4. Huyết áp và nhịptim giảm
Khi đang nghỉ ngơi, cơ thể bạn không cần làm việc vất vả để bơm nhiều máu, vì vậy hệ thống cơ quan đều hoạt động chậm lại. Huyết áp cần giảm vào ban đêm để cơ tim và hệ tuần hoàn có thời gian thư giãn và sửa chữa, tiến sĩ Breus cho biết. Điều này đặc biệt quan trọng đối với những người có huyết áp cao. Họ cần phải ngủ ít nhất bảy giờ để giảm nguy cơ bị bệnh tim. Và nếu bạn mắc chứng ngưng thở khi ngủ, hãy điều trị ngay lập tức vì nó có thể làm tăng huyết áp ban đêm.
5. Cơ bắp tạm thời bị tê liệt
Tiến sĩ y khoa Lisa Shives, chuyên gia về giấc ngủ tại Evanston, nhà sáng lập của Y học Giấc ngủ Northshore (Mỹ), đồng thời là chuyên gia y tế cho trangSleepBetter.org cho biết, cơ bắp tạm thời bị tê liệt có vẻ rất đáng sợ, nhưng nó thực sự giúp bạn kiểm soát hành động của mình trong những giấc mơ. Diễn viên hài Mike Birbiglia (Mỹ), một nhà văn và ngôi sao của bộ phim mộng du With Me đã gặp tình trạng hiếm gọi là rối loạn hành vi REM. Trong các buổi biểu diễn của mình, anh chia sẻ mức độ nguy hiểm của việc bị mộng du – khi bạn có thể làm bất cứ điều gì kỳ lạ vào giữa đêm. Vì vậy, hiện tượng cơ bắp bị tê liệt khi ngủ là rất hữu ích.
6. Đôi mắt bị co giật
Trong giai đoạn ngủ REM (chuyển động mắt nhanh), đôi mắt của bạn sẽ đảo từ bên này sang bên kia. Giấc mơ xảy ra trong giấc ngủ REM. Bạn có thể cảm thấy tỉnh táo nhất nếu thức dậy ngay sau khi đã trải qua tất cả giai đoạn của một chu kỳ giấc ngủ, trong đó REM xảy ra vào đoạn cuối chu kỳ này. Mặc dù có khác nhau ở mỗi người, nhưng một chu kỳ giấc ngủ thường kéo dài 90 phút, do đó bạn nên cố gắng ngủ trọn vẹn theo chu kỳ 90 phút này. Chẳng hạn, bạn có thể thấy sẽ thức giấc dễ dàng hơn sau khi ngủ 7,5 giờ (5 chu kỳ) so với sau khi ngủ 8 giờ (5 ⅓ chu kỳ).
7. Bạn có khả năng đạt “cực khoái”
Cũng giống như người đàn ông có khả năng cương cứng trong giấc ngủ REM, phụ nữ cũng được kích thích tình dục khi đó. Bộ não hoạt động nhiều hơn trong giai đoạn REM (khi đó bạn đang mơ), vì vậy nó đòi hỏi nhiều oxy. Kết quả là lưu lượng máu ở khắp cơ thể tăng lên. “Có sự co giãn âm vật tự nhiên bởi vì máu sẽ chảy đến khu vực đó và làm nó giãn ra”, tiến sĩ Shives nói. Điều đó làm cho bạn nhiều khả năng đạt cực khoái. Điều này chưa được các nhà khoa học khẳng định, tuy nhiên bạn hãy tiếp tục thử nghiệm.
8. Bạn có nhiều khả năng “xì hơi”
Bạn sẽ cảm thấy kỳ lạ khi nghe điều này, nhưng vào ban đêm, cơ thắt hậu môn được nới lỏng một chút, do đó sẽ dễ dàng hơn để cho ra một hoặc hai tiếng “xì hơi”. Thật may mắn, khứu giác của bạn (và chồng/vợ bạn) đang giảm trong khi ngủ, đó là lý do tại sao hệ thống báo cháy đã được phát minh, bởi vì thật khó để ngửi thấy mùi gì trong khi bạn đang chìm vào giấc ngủ. Vì vậy, ngay cả khi bạn đang bị đầy hơi, hãy yên tâm: Không ai có thể phát hiện ra điều đó.
9. Toàn bộ cơ thể bị co thắt
“Khi mọi người đang chìm trong giấc ngủ, nhiều người trong số họ có thể phải trải nghiệm một cơn giật toàn thân, và đó là điều hoàn toàn bình thường”, tiến sĩ Shives nói. Và có khoảng 70% số người gặp hiện tượng này, trong đó cơ bắp đột nhiên bị giật (hypnic jerk) trong khi họ ngủ.
10. Da sản xuất nhiều collagen hơn
Collagen là loại protein giúp tăng cường các mạch máu và tạo độ đàn hồi cho da. Khi ngủ, bạn ở trong trạng thái đói, vì vậy hormone tăng trưởng được tạo ra cho các tế bào mỡ để giải phóng năng lượng tích trữ, như là khi nó bị đốt cháy, hormone tăng trưởng cũng kích thích sự phát triển collagen. “Trước khi ngủ, bạn nên sử dụng kem dưỡng ẩm da mặt. Vì chúng có chứa retinols và retinoids làm tăng lượng collagen, giúp da chống lại các gốc tự do có hại và nếp nhăn”, Melanie Palm, MD, bác sĩ da liễu của Solana Beach, CA, trợ
giảng lâm sàng tại ĐH California, San Diego, cho biết.
TheoVnExpress/Womansday
Tiết thu, dương khí dần dần thu liễm bế tàng, âm khí từ từ tăng trưởng, thời tiết chuyển dần từ nóng sang lạnh, là giai đoạn quá độ của “dương tiêu âm trưởng”. Lúc này, mưa ít gió nhiều, độ ẩm trong không khí giảm đi, “táo” với đặc tính khô hanh là chủ khí. Do đó, ăn uống vào mùa thu trước hết cần phải tuân thủ nguyên tắc “thu đông dưỡng âm”, “phòng táo giữ âm, tư thận nhuận phế”, nghĩa là nên bổ sung đầy đủ tân dịch và trọng dụng những thực phẩm có công dụng dưỡng âm nhuận táo. Dưới đây, xin giới thiệu phép ăn uống dưỡng sinh mùa thu để bạn đọc tham khảo:
Đầu thu ôn táo nên chọn những thứ có tính mát để thanh nhiệt dưỡng âm, sinh tân dịch như củ cải, giá đỗ, củ đậu, ngó sen, khoai sọ, khoai môn, củ từ, mía, lê, táo, hồng xiêm, nho, trứng vịt, thịt thỏ, tiểu mạch, bách hợp, trà mạch môn…
Cuối thu lương táo nên chọn dùng những thực phẩm có tính bình hòa để tư âm dưỡng huyết nhuận táo như củ mài, vừng, mộc nhĩ trắng (ngân nhĩ), thịt rùa, thịt ba ba, sò, gà ác, tổ yến, sữa bò, mật ong, nước dâu, kỷ tử, hà thủ ô…
Cháo bách hợp hạt sen, cháo hồng táo – gạo nếp là món ăn bổ dưỡng vào mùa thu rất có ích cho sức khỏe.
Để bồi bổ tân dịch, sách Y học nhập môn khuyên nên trọng dụng các loại cháo như cháo bách hợp hạt sen, cháo hồng táo gạo nếp, cháo đường phèn, cháo sa sâm, cháo hoàng tinh… với phương thức “sáng sớm dùng cháo có tác dụng tốt cho quá trình trao đổi chất, lợi cho dạ dày, sinh tân dịch…”. Theo cổ nhân, ăn cháo vào mùa thu rất có ích cho sức khỏe, nhất là vào tiết đầu thu khi khí trời vẫn còn nóng ẩm dễ gây ra các bệnh lý đường tiêu hóa.
Để tư thận, nhuận phế, theo học thuyết Ngũ hành, vị chua vào can, vị cay vào phế. Phế thuộc kim, can thuộc mộc. Mùa thu, vạn vật thu vào, khí kim ở phế vượng thịnh. Nếu ăn uống nhiều đồ có vị cay thì sẽ trợ giúp cho phế khí khiến phế khí càng thịnh, phế kim khắc can mộc thái quá dẫn đến công năng của tạng can bị rối loạn. Vì vậy, cổ nhân khuyên về mùa thu nên ăn uống “thiểu tân tăng toan” (ít cay nhiều chua, cần trọng dụng nhiều thực phẩm có vị chua nhằm tăng cường chức năng của can và phòng ngừa phế khí quá thịnh làm hại đến can và dùng ít thực phẩm có vị cay như hành, gừng, tỏi, ớt, hạt tiêu.
Thêm nữa, mùa thu là giai đoạn quá độ từ nóng chuyển sang lạnh, vì vậy, không nên ăn quá nhiều đồ sống lạnh hoặc bổ béo khó tiêu dễ gây thương tổn tỳ và vị.
Cuối cùng, mùa thu, ăn uống bồi bổ nên điều hòa (bình bổ) vì thời tiết mát mẻ, âm dương tương đối cân bằng, đồ ăn thức uống không nên quá nóng và quá lạnh. Ví như về mùa hạ, các loại dưa như dưa hấu, dưa chuột, dưa gang… là thực phẩm thượng hạng vì có tác dụng thanh nhiệt tiêu thử mạnh, nhưng sau tiết lập thu thì bất luận loại dưa nào dù ngon đến mấy cũng không nên ăn nhiều vì dễ làm cho dương khí của tỳ vị hư hao. Sách thuốc cổ đã viết: “Thu qua hoại đỗ” (mùa thu ăn dưa thì có hại cho đường tiêu hóa).
Mùa hạ đã qua, mùa thu đã tới, nhắc lại một vài quan niệm về ăn uống trong mùa thu của cổ nhân những mong chúng ta hiểu thêm đôi nét đặc sắc trong khoa học và nghệ thuật ẩm thực phương Đông xa xưa. Vẫn biết rằng trong thời buổi công nghiệp hiện nay, khi hội nhập và hòa đồng đang là xu thế của thời đại, nhiều nếp cũ không còn giữ nữa, người ta có thể ăn dưa hấu quanh năm, thịt chó, thịt dê và các loại rượu mạnh được tiêu thụ bốn mùa, đồ ăn Âu Mỹ không còn là của hiếm… nhưng ngẫm cho kỹ, con người ta đâu có dễ gì thoát khỏi sự chi phối của quy luật tạo hóa, bởi vậy, dưỡng sinh ăn uống theo mùa xem ra vẫn là điều khiến chúng ta phải lưu tâm nghiên cứu.
BS. Xuân Mai
Trà dược là một trong những loại thực – dược phẩm được mọi người ưa dùng để phòng chống bệnh tật, bảo vệ và nâng cao sức khỏe trong mùa thu. Nhưng cần phải biết lựa chọn và sử dụng loại nào cho phù hợp để đạt được hiệu quả cao nhất và phòng tránh được các tác dụng không mong muốn. Dưới đây xin được giới thiệu một số loại trà dược thường dùng trong mùa thu để độc giả tham khảo và vận dụng.
Bài 1: Nhân sâm 120g, thiên môn 240g, mạch môn 240g, sinh địa 240g, thục địa 240g. Các vị sấy khô, thái vụn, trộn đều, mỗi ngày dùng 30g hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng: Ích khí dưỡng âm, phù chính cố bản, dùng rất thích hợp cho những người trung lão niên, hình thể gầy yếu, mắc các bệnh đường hô hấp, ho khan, khó thở, môi khô miệng khát, dễ mỏi mệt, đại tiện táo… Người cao tuổi bị viêm phế quản mạn tính và hen phế quản dùng khá công hiệu.
Ngân nhĩ…
…Mạch môn – các vị thuốc làm trà dược dưỡng sinh mùa thu.
Bài 2: Nấm linh chi 9g, ngân nhĩ (mộc nhĩ trắng) 12g, đường phèn vừa đủ. Hai vị thái vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 20 phút thì dùng được, hòa với đường phèn uống thay trà trong ngày. Công dụng: Dưỡng âm nhuận phế, giảm ho trừ đờm, an thần ích trí, dùng rất thích hợp cho những người bị ho hen lâu ngày, môi khô miệng khát, mất ngủ, đầu choáng mắt hoa, hay quên, tinh thần mỏi mệt, đại tiện táo kết…
Bài 3: Nhân sâm 10g, mạch môn, ngũ vị tử 10g. Các vị sấy khô tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng: Ích khí sinh tân dịch, dưỡng âm cầm mồ hôi, dùng rất thích hợp cho những người suy nhược sau ốm dậy, dễ mỏi mệt, khó thở, miệng khô họng khát, ngủ kém hay mê mộng, hồi hộp, mắc các bệnh lý đường hô hấp lâu ngày gây ho kéo dài, ho khan, khó khạc đờm…
Bài 4: Ngọc trúc 12g, mạch môn 12g, sa sâm 12g, sinh địa 12g. Các vị sấy khô tán vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau chừng 15 phút thì dùng được, uống thay trà trong ngày. Công dụng: Dưỡng âm, sinh tân dịch, nhuận táo, dùng rất tốt cho những người bị các bệnh có sốt giai đoạn hồi phục như sốt xuất huyết, viêm phế quản, viêm phổi, viêm cơ khớp… có các triệu chứng như mệt nhiều, miệng khô họng khát, lưỡi đỏ, người gầy, có thể có ho khan, đổ mồ hôi trộm, đại tiện táo, tiểu tiện vàng… Khi dùng, nếu có hiện tượng đầy bụng, chậm tiêu và đi lỏng thì cho thêm bạch biển đậu sao vàng 10g, mạch nha 15g, gừng tươi 1 lát.
Thạc sĩ Hoàng Khánh Toàn
Vừa qua, ở bệnh viện Bệnh Nhiệt đới thành phố Hồ Chí Minh đã có bệnh nhân bị viêm màng não do ăn ốc sên. Thời gian trước đây cũng có những ca bệnh viêm não, màng não tương tự cũng do bệnh nhân ăn loại ốc này. Do đó việc hiểu biết để tránh nguy cơ bị mắc bệnh trở nên quan trọng đối với mọi người.
Vì sao ăn ốc sên bị viêm não?
Ốc sên có ở mọi vùng miền của nước ta, chúng là vật chủ mang mầm bệnh gây viêm não và màng não do bị nhiễm ấu trùng của giun tròn Angiostrongylus cantonensis. Giun tròn có ở nhiều nơi trên thế giới như Nhật Bản, Trung Quốc, Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Ở nước ta các công trình nghiên cứu khoa học đã phát hiện giun tròn phân bố từ Bắc đến Nam, hiện diện ở cả người và động vật; xác định nguồn bệnh chủ yếu là các loại ốc, tôm, cua, cá… bị nhiễm mầm bệnh; bệnh được lây truyền theo đường tiêu hóa do ăn phải các loại thức ăn, nước uống bị nhiễm ấu trùng giun tròn còn sống; mọi lứa tuổi đều có thể bị nhiễm bệnh.
Sơ đồ gây bệnh viêm não của ốc sên.
Giun tròn trưởng thành có màu trắng đục, dài từ 17 – 25 mm, đường kính từ 0,26 – 0,36 mm. Đầu giun tròn, có miệng nhỏ, hơi lõm vào, có ba răng. Giun tròn trưởng thành ký sinh ở động mạch phổi của chuột. Trứng giun theo máu đi đến các phế nang và nở ra ấu trùng. Ấu trùng di chuyển lên cuống phổi, qua thực quản, đi xuống ruột, theo phân chuột thải ra ngoài. Ấu trùng giun ở đất thì xâm nhập vào ký sinh ở sên. Ấu trùng giun xuống nước thì đến ký sinh ở các loại ốc sống dưới nước và các loài thủy sản khác như tôm, cua, cá.
Trong cơ thể ốc, ấu trùng giun biến thành kén. Chuột ăn phải ốc, tôm, cua, cá, rau… có nhiễm ấu trùng giun tròn thì bị nhiễm bệnh. Vào cơ thể chuột, ấu trùng giun sẽ phát triển thành giun trưởng thành và ký sinh ở động mạch phổi của chuột. Người bị nhiễm ấu trùng giun tròn do ăn phải ốc sên, ốc khác, tôm, cua, cá… hoặc ăn rau sống, uống nước lã có ấu trùng. Ấu trùng giun tròn vào cơ thể người qua đường tiêu hóa, chúng xuyên qua thành ruột, theo đường máu đến não hoặc đến các phủ tạng khác. Ấu trùng giun tròn gây ra bệnh viêm não, màng não rất nguy hiểm.
Chu kỳ phát triển của giun tròn ở chuột gồm các giai đoạn: phát triển ở hệ thần kinh trung ương, rồi ở phổi. Còn ở người, giun tròn chỉ ký sinh ở hệ thần kinh trung ương, không đi đến phổi được nên không thể hoàn thành chu kỳ phát triển. Nhưng trên thực tế, ở nước ta đã gặp trường hợp giun tròn ở phổi của người; ấu trùng giun lạc chỗ vào gây bệnh ở mắt.
Biểu hiện viêm não, màng não do nhiễm giun tròn
Sau khi ấu trùng giun tròn xâm nhập vào cơ thể người sẽ gây ra triệu chứng viêm não, viêm màng não biểu hiện: bệnh nhân bị nhức đầu dữ dội, nhưng chỉ sốt nhẹ hoặc không sốt; có khoảng 15% bệnh nhân bị kích thích màng não. Bệnh nhân có thể bị viêm các dây thần kinh gây liệt mặt, mắt nhìn đôi, rối loạn cảm giác; hội chứng não, tâm thần: nói lảm nhảm, mất thăng bằng, mất trí nhớ, hôn mê… Xét nghiệm thấy bạch cầu ái toan tăng cao trong dịch não tủy và trong máu. Protein trong dịch não tủy cũng tăng. Nếu bệnh nhân tử vong, mổ tử thi thấy ấu trùng giun tròn ở trong não.
Giun tròn Angiostrongylus cantonensis.
Chẩn đoán xác định bệnh phải dựa vào : kết quả xét nghiệm dịch não tủy thấy bạch cầu ái toan tăng cao, có triệu chứng lâm sàng của hội chứng não và tâm thần, trước đó bệnh nhân có ăn các loại ốc sên, ốc, tôm, cua, cá… chưa nấu chín hoặc uống nước lã , ăn rau sống; sống sinh hoạt trong vùng có dịch bệnh.
Khi đã phát hiện bệnh nhân bị nhiễm ấu trùng giun tròn với các triệu chứng bị viêm não, màng não cần phải điều trị tích cực. Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, mà chủ yếu là điều trị triệu chứng. Thuốc để diệt ấu trùng giun tròn có thể dùng là : thiabendazole là loại có hiệu lực cao đối với ấu trùng giun mới xâm nhập vào cơ thể. Đến giai đoạn sau, phải điều trị triệu chứng kết hợp với thuốc corticoide.
Lời khuyên của thầy thuốc
Để phòng bệnh viêm não do ấu trùng giun tròn mọi người cần thực hiện ăn chín uống sôi. Cụ thể không nên ăn ốc, tôm, cua, cá… còn sống hoặc chưa nấu chín kỹ. Hạn chế ăn rau sống, nhất là rau thủy sinh như rau muống, rau cần, rau ngổ ( ngò trâu), rau răm, sen, súng…Không uống nước lã, nước đá vì đá có thể làm từ nước chưa nấu chín bị nhiễm bẩn. Tích cực diệt chuột bằng mọi phương pháp để tránh nguy cơ chuột sống gần khu dân cư thải phân lẫn mầm bệnh ra môi trường sống. Không nên ăn ốc sên, nhất là ăn ốc sên chế biến chưa chín kỹ. Người lớn và trẻ em không nên tắm ở ao, hồ, sông, suối, đặc biệt không để nước xâm nhập vào miệng, mũi khi tắm rửa.
BS. Bùi Thị Thu Hương
Tuyển dụng nhân viên
Our Spring Sale Has Started
You can see how this popup was set up in our step-by-step guide: https://wppopupmaker.com/guides/auto-opening-announcement-popups/