Author Archives: dungntk

Bên cạnh các phương pháp điều trị thông thường, hiện nay, những sản phẩm có nguồn gốc thiên nhiên cũng đem lại hiệu quả tốt trong điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng và được khẳng định qua nhiều nghiên cứu khoa học. Điển hình cho dòng sản phẩm này là thực phẩm chức năng Cốt Thoái Vương.

Nghiên cứu về phương pháp điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng 1Ảnh minh hoạ.

Theo thông tin đăng trên tạp chí Y dược lâm sàng tập 5 – số 6/2010 (bệnh viện TƯ Quân đội 108) về nghiên cứu “Tác dụng hỗ trợ điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng của Cốt Thoái Vương” do GS.TS Nguyễn Văn Thông – Chủ nhiệm khoa Thần kinh, bệnh viện TƯ Quân đội 108 cùng các cộng sự thực hiện trên 141 bệnh nhân thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng được chia thành 2 nhóm: nhóm I gồm 85 bệnh nhân điều trị theo phác đồ thông thường (vật lý trị liệu, dùng thuốc giảm đau chống viêm; tiêm hydrocortisone ngoài màng cứng) kết hợp với Cốt Thoái Vương 4 viên/ ngày; nhóm II có 56 bệnh nhân chỉ điều trị phác đồ thông thường. Kết quả cho thấy: Nhóm không dùng Cốt Thoái Vương: kết quả rất tốt và tốt 23,2%, khá 21,4%. Nhóm có sử dụng Cốt Thoái Vương đạt kết quả giảm đau, cải thiện vận động cột sống thắt lưng rất tốt và tốt chiếm 23,53%, khá 40,0% cao hơn nhóm đối chứng. Sản phẩm Cốt Thoái Vương không gây tác dụng phụ trong quá trình điều trị.

Tác dụng của Cốt Thoái Vương có được là nhờ sự phối hợp từ các thành phần thiên nhiên, đặc biệt là thành phần chính dầu vẹm xanh giúp tăng cường độ chắc khỏe của xương và nhiều thành phần khác như: thiên niên kiện, nhũ hương,… Do đó, sản phẩm giúp giảm đau, cải thiện khả năng vận động, phòng ngừa, hỗ trợ điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng nói riêng và các bệnh lý về cột sống nói chung.

Kết quả nghiên cứu trên đã phản ánh tín hiệu tích cực khi dùng Cốt Thoái Vương để hỗ trợ điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng, đồng thời có thêm lựa chọn khả quan cho các bác sĩ cũng như người bệnh.

Minh Trí

Cốt Thoái Vương – Sản phẩm hàng đầu chứa dầu vẹm xanh dành cho các bệnh về cột sống, đĩa đệm:

Thực phẩm chức năng Cốt Thoái Vương có thành phần chính là dầu vẹm xanh, kết hợp với các thành phần tự nhiên khác, hiệu quả trong hỗ trợ điều trị, phòng ngừa thoái hóa cột sống, thoát vị đĩa đệm, gai cột sống; tăng cường lưu thông máu, giúp xương chắc khỏe, giảm đau xương khớp, làm chậm quá trình thoái hóa,… mà không gây tác dụng phụ, kể cả khi dùng lâu dài. Hiệu quả của sản phẩm đã được chứng minh qua nhiều nghiên cứu tại một số bệnh viện,…

Để tăng cường hiệu quả, người bệnh nên dùng Cốt Thoái Vương mỗi ngày 4 viên chia làm 2 lần, trước bữa ăn 30 phút. Mỗi đợt sử dụng kéo dài từ 2-4 tháng. Thực tế cho thấy, nhiều bệnh nhân và bác sĩ rất hài lòng khi sử dụng Cốt Thoái Vương.

Điện thoại tư vấn: 04.37757066 / 08.39770707

* Sản phẩm này không phải là thuốc, không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh

Ung thư vú nếu không phát hiện và can thiệp kịp thời sẽ di căn vào mạch máu, mạch bạch huyết, cơ hoành và các bộ phận khác của cơ thể, phát sinh nhiều biến chứng nặng, đe dọa đến tính mạng con người. 10 phát hiện dưới đây được xem là những khám phá rất mới về căn bệnh nói trên.

Có tới 4 dạng ung thư vú

Theo nghiên cứu công bố trên tạp chí Nature số ra mới đây, đặc biệt là qua phân tích gen, các nhà khoa học phát hiện thấy có tới 4 dạng ung thư vú khác nhau. Đây là kết quả nghiên cứu hợp tác giữa Đại học Y khoa Washington và Trung tâm Ung thư Siteman. Theo TS. Mathew Ellis, trưởng nhóm nghiên cứu thì phát hiện trên rất độc đáo về mối liên quan giữa di truyền với ung thư. Nhờ phát hiện này mà trong tương lai người ta sẽ tìm ra thuốc đặc trị cho từng cá thể, nói cụ thể hơn là phù hợp với từng biến thể gen của mỗi người.

Ung thư vú ở đàn ông nguy hiểm hơn ở phụ nữ

Theo các chuyên gia Hiệp hội Phẫu thuật ung thư vú Mỹ (ASBS) thì đàn ông có tỷ lệ mắc bệnh ung thư vú thấp hơn so với phụ nữ nhưng mức độ nguy hiểm lại cao hơn. Nếu phát hiện sớm và điều trị kịp thời thì tuổi thọ vẫn ngắn hơn 2 năm so với phụ nữ mặc dù thời điểm phát hiện giống nhau. Ngoài ra, mức độ di căn ung thư vú ở đàn ông nhanh hơn, khi được phát hiện thường ở giai đoạn nặng, khối u lớn. Vì vậy, một khi có dấu hiệu bất thường, không nên chậm trễ, cần đi khám càng sớm càng tốt.

Cadmium – thủ phạm gia tăng ung thư vú

Cadmium (cadimi) là kim loại chuyển tiếp tương đối hiếm, mềm, màu trắng ánh xanh có độc tính cao, có trong các loại quặng kẽm và được sử dụng để sản xuất pin. Đây là kim loại nặng đôi khi có mặt trong thực phẩm, nhất là cá, rau xanh dạng củ, ngũ cốc… Tạp chí Nghiên cứu Ung thư của Mỹ đăng tải nghiên cứu ở 56.000 phụ nữ cho biết, những người có khẩu phần ăn giàu cadmium thì nguy cơ mắc bệnh ung thư vú cao gấp 21% so với những phụ nữ có khẩu phần ăn bình thường hoạc có hàm lượng cadmium thấp.

10 khám phá mới về bệnh ung thư vú 1
 Năm 2013, các nhà khoa học phát hiện gạo chứa chất cadmium gây ung thư ở Quảng Châu, Trung Quốc.

Ít ngủ, thủ phạm gia tăng ung thư vú

Tạp chí Breast Cancer Research and Treatment cho biết, những phụ nữ ngủ dưới 6 tiếng/đêm, nhất là nhóm sau mãn kinh thì tỷ lệ ung thư vú ở mức cao nhất, trong khi đó ở nhóm chưa mãn kinh lại không có hiệu ứng tiêu cực này. Đặc biệt, những người càng mất ngủ nhiều thì khối u “tăng trưởng” càng nhanh. Vì vậy giấc ngủ được xem là nguy cơ gia tăng bệnh ung thư vú rất cao, mọi người cần quan tâm đến giấc ngủ, mỗi ngày cố gắng ngủ 7 – 8 tiếng.

Virut đậu mùa – cứu tinh cho bệnh nhân ung thư vú?

Tại Hội nghị lâm sàng thường niên của Trường cao đẳng Phẫu thuật Mỹ tổ chức cuối năm 2012, các nhà khoa học đã công bố nghiên cứu mới cho biết về triển vọng điều trị bệnh ung thư vú của virut đậu mùa. Nhất là nhóm người mắc bệnh ung thư vú ba tiêu cực (triple-negative breast cancer). Theo nghiên cứu, sau khi điều trị bằng liệu pháp virut đậu mùa (Smallpoxvirus) có ít nhất 60% các khối u được triệt tiêu và 40% có dấu hiệu hoại tử. Ung thư vú ba tiêu cực là căn bệnh khó điều trị vì nó không đáp ứng với các thủ thuật điều trị hormon hoặc miễn dịch.

Làm việc ca đêm dễ bị ung thư vú

Tạp chí Y học nghề nghiệp và Môi trường (OEM) số ra tháng 9/2013 cho biết, những phụ nữ làm việc ca đêm có rủi ro bị ung thư vú cao, nhất là những người đi làm ca đêm 2 lần/tuần. Ngoài nghiên cứu trên, nhiều tạp chí y học danh tiếng trên thế giới cũng khẳng định điều này như tờ Toronto Sun của Canada, hoặc tạp chí Ung thư Quốc tế (IJC). Theo đó, nhóm phụ nữ đi làm ca đêm có nguy cơ mắc bệnh ung thư vú cao 30% so với nhóm đi làm truyền thống, đặc biệt càng đi ca đêm nhiều thì rủi ro bị bệnh ung thư vú càng lớn, nhất là từ 4 năm làm ca đêm, tần suất 2 – 3 lần/tuần.

Kích thước áo nịt ngực có thể gia tăng nguy cơ mắc bệnh

Trước tiên, hệ gen cơ thể quyết định kích thước bầu vú, kết luận này được công bố trên tạp chí BMC Medical Genetics sau khi kết thúc nghiên cứu ở 16.000 phụ nữ. Trong nghiên cứu, các nhà khoa học còn phát hiện thấy 7 biến thể ADN và được đặt tên là những điểm đa hình đơn nucleotide (single – nucleotide polymorphisms), gọi tắt SNP. Theo đó, nếu ai có tới 3 SNP thì rủi ro ung thư vú cao hơn những người không có các biến thể này, còn áo nịt ngực to nhỏ là thể hiện kích thước bộ ngực mỗi người có liên quan đến hệ gen trong cơ thể.

Luyện tập có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh

Theo nghiên cứu của Đại học North Carolina thì chỉ cần luyện tập ít, nhưng đều đặn mỗi ngày có thể giúp phụ nữ giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư vú, nhất là nhóm phụ nữ sau mãn kinh. Trung bình, luyện tập 10 – 19 giờ/ tuần thì giảm được 30% ung thư vú so với nhóm không luyện tập hoặc luyện tập ít.

Bệnh đái tháo đường týp 2 có thể làm gia tăng ung thư vú

Nhóm chuyên gia ở Viện nghiên cứu Phòng bệnh Quốc tế (IPRI) mới đây đã hoàn tất nghiên cứu dài kỳ và phát hiện thấy, đối với nhóm phụ nữ mãn kinh nếu mắc bệnh đái tháo đường týp 2 thì rủi ro mắc bệnh ung thư vú rất cao, nhất là nhóm người béo phì, dư thừa trọng lượng. Lý do, bệnh đái tháo đường tác động trực tiếp đến các hoạt động, chức năng của hormon và làm cho các khối u phát triển nhanh.

Béo phì – kẻ đồng hành với ung thư vú

Dư thừa trọng lượng, béo phì không chỉ làm giảm vẻ đẹp mà còn gây bất lợi cho sức khỏe, trong đó có rủi ro gia tăng bệnh ung thư vú. Thậm chí những người đang điều trị ung thư vú nếu béo phì cũng giảm tác dụng của thuốc, thời gian phục hồi lâu hơn và nguy cơ tái phát gây tử vong cao hơn so với nhóm người có trọng lượng bình thường. Vì lý do này mà mọi người dù mắc bệnh hay không mắc bệnh cũng nên duy trì trọng lượng cơ thể ở ngưỡng hợp lý bằng cách ăn uống cân bằng, khoa học và năng luyện tập.
Khắc Nam (Theo HPC, 9/2013)

Trẻ sơ sinh ngủ chung giường với cha mẹ tăng gấp 5 lần nguy cơ đột tử (viết tắt là SIDS) so với trẻ được ngủ riêng, theo nghiên cứu ở Anh mới công bố. Các nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng này do trẻ sinh non, trẻ có vấn đề về tim trong khi cha mẹ hút thuốc hay uống rượu quá mức đặt trẻ vào tình trạng nguy hiểm. Nhưng nghiên cứu này cho thấy ngay cả với những bà mẹ chăm sóc con cẩn thận, đặt trẻ ngủ cùng để theo dõi các tình huống xảy ra: khóc, nôn trớ, đói… cũng gây nguy hiểm cho sự an toàn của trẻ. Nghiên cứu được các nhà khoa học Anh tiến hành với 1.500 trường hợp bị SIDS cho thấy, 88% các ca tử vong xảy ra khi trẻ đang ngủ chung cùng với bố mẹ.

Các chuyên gia khuyến cáo việc ngủ chung có thể dẫn đến trường hợp trẻ bị đè nén hoặc trẻ rúc vào dưới chăn và có thể tử vong vì ngạt thở hoặc quá nóng.
Minh Huệ (Theo Dailymail, 8/2013)

Các nhà nghiên cứu ở Đại học Nottingham thấy rằng vi khuẩn Helicobacter pylori (H.Pylory – một loại vi khuẩn gây ra viêm dạ dày mạn tính ở người) có khả năng đàn áp sự sản sinh thông thường “kháng thể số 1” ở con người (hβD1). Đây là kháng thể có trong lớp lót dạ dày giúp phòng chống sự xâm nhập của vi khuẩn. Nghiên cứu mẫu sinh thiết của 54 bệnh nhân ở Trung tâm y tế Queens, Nottingham, nhóm nghiên cứu chỉ ra những người nhiễm H.Pylori có lượng hβD1 ít hơn 10 lần so với những người không nhiễm loại vi khuẩn này. Những bệnh nhân có lượng hβD1 thấp nhất có nhiều vi khuẩn nhất trong lớp lót dạ dày.

Các nhà khoa học cho biết, H.Pylori gây hại bằng cách tạo ra một loại phân tử có tên gọi cagT4SS và bơm vào các tế bào ở lớp lót dạ dày, kích hoạt các quá trình hóa học đàn áp sự sản xuất hβD1. Các quá trình hóa học này cũng tham gia vào sự kích thích một phản ứng viêm, nghĩa là chủng vi khuẩn này có thể tồn tại và sinh sôi dồi dào hơn trong khi vẫn tiếp tục gây hoại tử các mô.

Phương Hà (Theo Science Daily, 9/2013)

4 lý do không nên bỏ bữa sáng 1

Bữa sáng là bữa ăn quan trọng nhất đối với sức khỏe.

 

Dưới đây là 4 lý do khiến bạn không nên bỏ qua bữa sáng:

 

1. Bệnh tiểu đường

 

Bỏ qua bữa sáng có thể làm tăng nguy cơ mắc tiểu đường ở phụ nữ.

 

Một nghiên cứu mới đây được công bố trên Tạp chí Dinh dưỡng lâm sàng Mỹ cho biết phụ nữ ăn sáng trung bình từ 0 đến 6 lần/ tuần có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường tuýp 2 cao hơn so với phụ nữ ăn sáng đều đặn mỗi ngày.

 

2. Bệnh tim

 

Một nghiên cứu được công bố trong táng 7 vừa qua trên Tạp chí Circulation cho biết ăn sáng giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tim ở nam giới từ 45 đến 82 tuổi. Nghiên cứu cũng cho biết thêm bỏ bữa sáng góp phần tăng huyết áp, kháng insulin, lượng đường trong máu cao.

 

3. Bộ nhớ

 

Tạp chí của Hiệp hội dinh dưỡng Mỹ đã xem xét 47 nghiên cứu về bữa ăn sáng và cho thấy ăn sáng giúp cải thiện khả năng nhận thức liên quan đến trí nhớ.

 

4. Giảm cân

 

Một nghiên cứu mới đây cho thấy những người coi ăn sáng là bữa ăn chính có thể giảm hơn 8kg trong ba tháng.


Theo Dân trí

Tử uyển (Aster tataricú L.J), tên khác là thanh uyển, dã ngưu bàng, là một cây thảo, sống lâu năm, cao 1-1,2m. Bộ phận dùng làm thuốc của tử uyển là rễ, thu hái quanh năm, tốt nhất là vào mùa thu, đào về rửa sạch, phơi hoặc sấy khô.

Dược liệu tử uyển có vị đắng, cay, tính ôn, không độc có tác dụng nhuận phế, hóa đờm, chỉ phái, hạ khí, chữa ho có đờm, hen suyễn, viêm họng, viêm phế quản cấp và mạn tính. Liều dùng hằng ngày 6-12g dưới dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán. Thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác theo những phương thức sau:

Chữa ho, hen có đờm khò khè: tử uyển 12g, bách bộ 12g, cát cánh 8g, mạch môn 8g, kinh giới 8g, trần bì 6g, cam thảo dây 6g. Tất cả thái nhỏ, phơi khô, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày.

Chữa ho lâu ngày, viêm phế quản mạn tính: tử uyển 10g, khoản đông hoa 10g, thổ bối mẫu 10g, hạnh nhân 10g, cát cánh 10g, cam thảo 3g. Sắc uống ngày 1 thang.

Tử uyển - Vị thuốc nhuận phế, hóa đờm 1
 Tử uyển.

Chữa ho gà ở giai đoạn hồi phục: tử uyển 8g, bách bộ 8g, rễ qua lâu 16g, sa sâm 12g, mạch môn 12g. Sắc uống trong ngày.

Chữa lao phổi: tử uyển 12g, bạch truật 12g, đảng sâm 12g, cỏ nhọ nồi 12g, thổ phục linh 8g, bách hợp 8g, cam thảo 6g, ngũ vị tử 6g, thổ bối mẫu 6g, sắc uống ngày 1 thang.

Chữa hen phế quản: tử uyển 12g, tế tân 12g, khoản đông hoa 12g, đại táo 12g, ma hoàng 10g, ngũ vị tử 10g, bán hạ (chế) 8g, xạ can 6g, gừng sống 4g. Sắc uống trong ngày.

Chữa suy nhược cơ thể do phế hư: tử uyển 12g, ngũ vị tử, tang bạch bì, thục địa, đản sâm, hoàng kỳ mỗi vị 10g. Sắc uống trong ngày.

Ngoài ra, Tuệ Tĩnh (Nam dược thần hiệu) còn dùng tử uyển để chữa kinh nguyệt không đều với bài thuốc gồm: tử uyển, hồng hoa, nga truật, quế chi (bỏ vỏ thô), hương phụ (sao giấm), lượng bằng nhau, phơi khô tán nhỏ, rây bột mịn. Ngày uống 2 lần mỗi lần 8g với rượu.

DS. Đỗ Huy Bích

Tử uyển (Aster tataricú L.J), tên khác là thanh uyển, dã ngưu bàng, là một cây thảo, sống lâu năm, cao 1-1,2m. Bộ phận dùng làm thuốc của tử uyển là rễ, thu hái quanh năm, tốt nhất là vào mùa thu, đào về rửa sạch, phơi hoặc sấy khô.

Dược liệu tử uyển có vị đắng, cay, tính ôn, không độc có tác dụng nhuận phế, hóa đờm, chỉ phái, hạ khí, chữa ho có đờm, hen suyễn, viêm họng, viêm phế quản cấp và mạn tính. Liều dùng hằng ngày 6-12g dưới dạng thuốc sắc hoặc hoàn tán. Thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác theo những phương thức sau:

Chữa ho, hen có đờm khò khè: tử uyển 12g, bách bộ 12g, cát cánh 8g, mạch môn 8g, kinh giới 8g, trần bì 6g, cam thảo dây 6g. Tất cả thái nhỏ, phơi khô, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày.

Chữa ho lâu ngày, viêm phế quản mạn tính: tử uyển 10g, khoản đông hoa 10g, thổ bối mẫu 10g, hạnh nhân 10g, cát cánh 10g, cam thảo 3g. Sắc uống ngày 1 thang.

Tử uyển - Vị thuốc nhuận phế, hóa đờm 1
 Tử uyển.

Chữa ho gà ở giai đoạn hồi phục: tử uyển 8g, bách bộ 8g, rễ qua lâu 16g, sa sâm 12g, mạch môn 12g. Sắc uống trong ngày.

Chữa lao phổi: tử uyển 12g, bạch truật 12g, đảng sâm 12g, cỏ nhọ nồi 12g, thổ phục linh 8g, bách hợp 8g, cam thảo 6g, ngũ vị tử 6g, thổ bối mẫu 6g, sắc uống ngày 1 thang.

Chữa hen phế quản: tử uyển 12g, tế tân 12g, khoản đông hoa 12g, đại táo 12g, ma hoàng 10g, ngũ vị tử 10g, bán hạ (chế) 8g, xạ can 6g, gừng sống 4g. Sắc uống trong ngày.

Chữa suy nhược cơ thể do phế hư: tử uyển 12g, ngũ vị tử, tang bạch bì, thục địa, đản sâm, hoàng kỳ mỗi vị 10g. Sắc uống trong ngày.

Ngoài ra, Tuệ Tĩnh (Nam dược thần hiệu) còn dùng tử uyển để chữa kinh nguyệt không đều với bài thuốc gồm: tử uyển, hồng hoa, nga truật, quế chi (bỏ vỏ thô), hương phụ (sao giấm), lượng bằng nhau, phơi khô tán nhỏ, rây bột mịn. Ngày uống 2 lần mỗi lần 8g với rượu.

DS. Đỗ Huy Bích

Cây rau hẹ còn có tên gọi là cửu thái, khởi dương thảo… là cây thân thảo, có chiều cao khoảng 20-40 cm, giàu dược tính và có mùi thơm rất đặc trưng, không chỉ được dùng nhiều trong các món ăn…, mà còn là cây thuốc chữa được nhiều bệnh.

Cây rau hẹ rất dễ trồng và ít phải chăm sóc. Chỉ cần gieo hoặc trồng bằng cây con một lần, là có thể thu hoạch nhiều lứa, nhiều năm. Cây phát triển tốt quanh năm, vừa có thể làm rau ăn, vừa có thể dùng làm thuốc những khi cần thiết.

Theo Đông y, cây rau hẹ có tác dụng làm thuốc cụ thể, lá hẹ để sống có tính nhiệt, nấu chín thì ôn, vị cay; vào các kinh Can, Vị và Thận. Có tác dụng ôn trung, hành khí, tán ứ và giải độc. Thường dùng chữa ngực đau tức, nấc, ngã chấn thương,… Gốc rễ hẹ có tính ấm, vị cay, có tác dụng ôn trung, hành khí, tán ứ, thường dùng chữa ngực bụng đau tức do thực tích, đới hạ, các chứng ngứa,… Hạt hẹ có tính ấm, vị cay ngọt; vào các kinh Can và Thận. Có tác dụng bổ Can, Thận, tráng dương, cố tinh. Thường dùng làm thuốc chữa tiểu tiện nhiều lần, mộng tinh, di tinh, lưng gối yếu mềm.

Cây rau hẹ 1
 Hẹ hấp mật ong có tác dụng chữa ho.

Một số tác dụng chữa bệnh của cây hẹ

Chữa cảm mạo, ho do lạnh: Lá hẹ 250g, gừng tươi 25g, cho thêm ít đường hấp chín, ăn cái, uống nước. Dùng liền 5 ngày.

Chữa nhức răng: Lấy một nắm hẹ (cả rễ), rửa sạch, giã nhuyễn đặt vào chỗ đau, đặt liên tục cho đến khi khỏi.

Hỗ trợ điều trị đái tháo đường: Hàng ngày sử dụng từ 100-200g rau hẹ, nấu cháo, nấu canh hoặc xào ăn. Không dùng muối hoặc chỉ dùng một chút muối khi chế biến món ăn. 10 ngày một liệu trình. Hoặc dùng củ rễ hẹ 150g, thịt sò 100g, nấu canh ăn thường xuyên. Có tác dụng tốt đối với bệnh đái tháo đường đã mắc lâu ngày, cơ thể đã suy nhược.

Nhuận tràng, trị táo bón: Hạt hẹ rang vàng, giã nhỏ, mỗi lần uống 5g. Hòa nước sôi uống ngày 3 lần, dùng liền 10 ngày.

Chữa chứng đái dầm ở trẻ em: Nấu cháo gạo 50g, dùng 25g rễ hẹ vắt lấy nước cho vào cháo đang sôi, thêm ít đường, ăn nóng, dùng liên tục trong 10 ngày.

Chữa ho trẻ em do cảm lạnh: Lấy lá hẹ xắt nhỏ trộn với đường phèn hoặc mật ong vào cùng một chén, sau đưa chén vào nồi cơm hấp chín. Cho trẻ uống dần trong ngày 2 – 3 lần, mỗi lần 1 thìa cà phê. Dùng liền 5 ngày.

Giúp bổ mắt: Rau hẹ 150g, gan dê 150g, gan dê thái mỏng, ướp gia vị vừa xào với rau hẹ. Khi xào dùng ngọn lửa mạnh, lúc chín cho gia vị vừa đủ, ăn với cơm, cách ngày ăn một lần, 10 ngày một liệu trình.

Hỗ trợ điều trị xuất tinh sớm: Rau hẹ 200g, tôm nõn 200g, xào ăn với cơm.

Chữa đau lưng, gối mỏi, ăn uống kém: Hạt hẹ 20g, gạo 100g, nấu cháo ăn nóng ngày 2 lần. 10 ngày một liệu trình.

Thời tiết thay đổi bất thường, lúc nắng lúc mưa, trời chuyển se lạnh vào đêm và sáng sớm, nhiệt độ trong ngày chênh nhau nhiều khiến nhiều người mắc bệnh cảm cúm.

Bệnh cảm cúm là gì?

Cảm cúm thông thường là nhiễm virut đường hô hấp trên, mũi và cổ họng gây ra (có rất nhiều chủng khác nhau, hơn 200 loại virut có thể gây ra cảm cúm thông thường). Đối tượng dễ mắc cảm cúm là người cao tuổi, trẻ em, phụ nữ mang thai, những người có sức miễn dịch kém cũng dễ bị cảm cúm. Bệnh xảy ra quanh năm song tần suất bệnh cao nhất trong khoảng thời gian từ đầu mùa thu đến cuối mùa xuân. Nguyên nhân chủ yếu do thời tiết thay đổi từ nóng chuyển sang lạnh, ẩm thấp đột ngột, cơ thể không điều tiết thích ứng kịp thời nên dễ mắc cảm cúm.

Con đường lây nhiễm

Bệnh lây truyền từ người bị cúm sang người chưa nhiễm. Virut cúm xâm nhập vào cơ thể thông qua miệng hoặc mũi. Các virut có thể lây lan qua các giọt nhỏ trong không khí khi một ai đó bị bệnh ho, hắt hơi, nói hoặc qua tiếp xúc trực tiếp lây lan qua đồ vật, cầm nắm dụng cụ, khăn, đồ chơi hoặc điện thoại.

Thời tiết thay đổi, dễ mắc bệnh cảm cúm 1

Các biểu hiện

Các triệu chứng của cảm cúm thường xuất hiện khoảng 1 – 3 ngày sau khi tiếp xúc với một virut cảm cúm. Các dấu hiệu và triệu chứng của cảm cúm thông thường có thể bao gồm: Cơ thể đau nhức hoặc đau đầu nhẹ, hắt hơi, chảy nước mắt, hơi sốt, người mệt mỏi, chảy nước mũi hoặc nghẹt mũi, ngứa hoặc đau họng, ho…

Điều trị muộn có nhiều biến chứng

Do bệnh cảm cúm thường có nhiều biểu hiện nhẹ với các triệu chứng rất phổ biến như sốt, ho dai dẳng trong một vài ngày nên nhiều người chủ quan cho rằng bệnh sẽ tự khỏi nên ít đến cơ sở y tế khám. Tuy nhiên, nếu không điều trị hoặc điều trị quá muộn cũng có thể gây biến chứng nguy hiểm dẫn đến viêm phổi, suy hô hấp, nhất là với những người có sức đề kháng kém như phụ nữ có thai, người già, trẻ nhỏ, người mắc bệnh tim, phổi mạn tính, mắc bệnh suy giảm miễn dịch,…

Thời tiết thay đổi, dễ mắc bệnh cảm cúm 2
 Khi bị cảm cúm nên ăn nhiều trái cây giàu vitamin C để tăng cường sức đề kháng cho cơ thể.

Những biến chứng thường gặp là:

Viêm tai giữa: Xảy ra khi vi khuẩn hoặc virut xâm nhập vào phía sau màng nhĩ. Đây là một biến chứng của cảm cúm phổ biến ở trẻ em. Dấu hiệu và triệu chứng điển hình bao gồm đau tai, và trong một số trường hợp nước mũi màu xanh hoặc màu vàng từ mũi đi kèm với một cơn sốt sau một cảm cúm thông thường. Đối với trẻ nhỏ biểu hiện đơn giản chỉ có thể khóc hoặc ngủ li bì.

Viêm xoang: Ở người lớn hoặc trẻ em, cảm cúm kéo dài không điều trị tái đi tái lại có thể dẫn đến viêm xoang.

Hội chứng Reye ở trẻ em: Nguy hiểm nhất là hội chứng Reye ở trẻ em (hội chứng Reye rất ít gặp nhưng biến chứng rất trầm trọng, tỷ lệ tử vong cao). Hội chứng Reye hay xảy ra nhất trong khoảng từ 2 – 16 tuổi, vài ngày sau khi bị cúm. Khi các triệu chứng của cúm có vẻ như đang bớt dần, trẻ đột nhiên buồn nôn và nôn mửa. Sau đó khoảng 1-2 ngày, trẻ lờ đờ hoặc mê sảng, giật kinh phong rồi đi dần vào hôn mê và có thể tử vong rất nhanh. Do vậy, khi có các triệu chứng của cảm cúm cần điều trị ngay theo chỉ định của bác sĩ, không nên coi thường bệnh mà nguy hại cho sức khoẻ.

Thời tiết thay đổi, dễ mắc bệnh cảm cúm 3
 Cảm cúm có thể gây biến chứng viêm phổi.

Không tự ý điều trị bằng kháng sinh

Khi bị cảm cúm rất nhiều người thường tự ý mua các loại thuốc kháng sinh, hạ sốt về uống mà không đến cơ sở y tế khám. Điều này hết sức nguy hiểm bởi kháng sinh chỉ tiêu diệt hoặc kìm hãm được các vi khuẩn chứ không có tác dụng đối với virut nên việc tự điều trị kháng sinh với cảm cúm là không đúng và sẽ không giúp bệnh thuyên giảm và làm gia tăng tình trạng kháng thuốc. Thuốc kháng sinh chỉ được dùng nếu có biểu hiện của nhiễm khuẩn và phải dùng theo chỉ định của thầy thuốc.

Chủ động phòng bệnh

Các chuyên gia y tế cảnh báo, bệnh cảm cúm lây truyền do virut cúm từ người bệnh phát tán vào môi trường xung quanh, gia tăng mạnh trong thời gian này là do thời tiết trở lạnh. Để phòng chống bệnh cảm cúm, mọi người cần thực hiện tốt vệ sinh cá nhân: Rửa tay hàng ngày bằng xà phòng với nước sạch, thường xuyên súc miệng với nước muối ấm, có thể nhỏ mắt, nhỏ mũi bằng dung dịch natriclorid 0,9% hàng ngày… Che miệng khi ho và hắt hơi, không khạc nhổ bừa bãi. Vệ sinh nhà ở, bếp, phòng ngủ cho thoáng, nhiều ánh sáng, không vứt rác tùy tiện…

Thời tiết thay đổi, dễ mắc bệnh cảm cúm 4
 Rửa tay thường xuyên phòng bệnh cảm cúm.

Hạn chế tiếp xúc với người bệnh, tránh đến chỗ đông người khi có dịch cảm cúm; Khi tiếp xúc phải đeo khẩu trang để tránh lây nhiễm. Người bị cảm cúm cần nghỉ ngơi, tốt nhất là hạn chế tiếp xúc với mọi người xung quanh để tránh lây lan virut. Ăn uống đủ chất, tăng cường bổ sung các loại vitamin nhất là vitamin C giúp nâng cao sức đề kháng cho cơ thể, các thực phẩm giàu vitamin C kể cả là uống thuốc hay các loại hoa quả như táo, cam, quýt, bưởi… đều có tác dụng làm giảm triệu chứng của cúm.

Do bệnh cảm cúm xảy ra quanh năm và ai cũng có thể lây cúm nên việc tiêm vắc-xin phòng bệnh là biện pháp hữu hiệu nhất, tốt nhất nên tiêm khi cơ thể khoẻ mạnh để cơ thể sinh kháng thể phòng chống cúm hiệu quả.

Cần đến cơ sở y tế khi nào?

Đối với người lớn: Cảm cúm kèm sốt 39oC trở lên, đau người và mệt mỏi, ra mồ hôi, ớn lạnh và ho khi đờm có màu, họng sưng đau,…

Đối với trẻ em: có bất cứ dấu hiệu hay triệu chứng như: Sốt 38,5oC người ớn lạnh hay ra mồ hôi, sốt kéo dài hơn ba ngày, nôn hoặc đau bụng, ngủ li bì, đau đầu dữ dội, khó thở, quấy khóc, đau tai, ho dai dẳng…cần đưa đến cơ sở y tế để được khám và điều trị tránh biến chứng nguy hiểm.

Thạc sĩ, Bác sĩ Nguyễn Văn Bắc

Theo một nghiên cứu đăng trên tờ Cancer Causes and Control, uống 4 ly cà phê mỗi ngày có thể giảm thiểu nguy cơ tái phát ung thư tuyến tiền liệt và quá trình phát triển bệnh.

Cà phê giảm nguy cơ tái phát ung thư tiền liệt tuyến 1

Các nhà khoa học bang Seattle, Mỹ đã phân tích các số liệu của 1.001 bệnh nhân tuổi từ 35 – 74 bị ung thư tuyến tiền liệt. Những bệnh nhân này được yêu cầu điền vào một phiếu trả lời câu hỏi về các loại thực phẩm thường sử dụng 2 năm trước khi được chẩn đoán bệnh và phải cung cấp thông tin về chế độ ăn cũng như lượng đồ uống tiêu thụ, lối sống, tiền sử gia đình bị ung thư, các loại thuốc đã dùng, các lần chụp khối u tuyến tiền liệt trước… Kết quả phân tích 5 năm sau lần đầu họ được chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt cho thấy, những người uống 4 ly cà phê/ngày giảm 59% nguy cơ tái phát hoặc phát triển ung thư tuyến tiền liệt so với những người chỉ uống 1 ly/tuần. Các nhà khoa học phỏng đoán sở dĩ có điều này là do trong cà phê chứa các hợp chất có tác dụng chống viêm và chống oxi hóa…

Tuy nhiên, các nhà khoa học cảnh báo, không nên vì kết quả này mà uống nhiều cà phê.
Xuân nguyên(Theo Medicalnewstoday, 8/2013)

Bệnh bạch cầu cấp là một bệnh nguy hiểm, nó thường được gọi là ung thư máu. Bệnh này nếu xảy ra ở trẻ em có thể gây ra tỷ lệ tử vong tương đối cao.

Mới đây, các nhà khoa học đã tìm ra căn nguyên gen di truyền gây bệnh bạch cầu cấp ở trẻ em. Các nhà khoa học đến từ Đại học Washington (Hoa Kỳ) đã nghiên cứu thành công và công bố công trình của mình trên tạp chí khoa học Nature Genetics.

Nhận diện gen gây bệnh bạch cầu cấp trẻ em 1

Đột biến gen của bệnh này lần đầu tiên được chú ý ở các thành viên trong vài thế hệ khác nhau của một gia đình bị mắc bệnh bạch cầu cấp đã điều trị ở Bệnh viện Memorial Sloan-Kettering (Mỹ). Gen đó là gen PAX5, chịu trách nhiệm cho việc gây ra sự hư hỏng cho tế bào lympho B, tế bào bị tác động của ung thư máu. Khi gen này bị thiếu hụt hoặc đột biến, chúng sẽ không thể kiểm soát chức năng của tế bào lympho B và dẫn tới bệnh bạch cầu cấp.

Sự phát hiện này đang là một hứa hẹn tiềm năng cho việc tìm ra cách điều trị vào các yếu tố dịch mã, nhằm giải quyết tận gốc bệnh bạch cầu cấp vốn có sự đột biến gen.

Lâm Phúc (Theo Nature Genetics, 8/2013)

Nghệ đen còn có nhiều tên gọi khác nhau như nghệ tím, ngải tím, ngải xanh, nghệ đăm. Trong y học cổ truyền, nghệ đen có tên thuốc là nga truật, là thân rễ phơi khô của cây nghệ đen.

Nghệ đen là loại cây thảo cao từ 1 – 1,5m, thân rễ hình nón với nhiều nhánh phụ thon như hình quả trứng tỏa xung quanh như hình chân vịt. Lá có bẹ to ôm vào chân cây ở phía dưới, có đốm tía đỏ ở gần giữa mặt trên, lá dài 30 – 60cm, rộng 7 – 8cm. Cuống lá ngắn hoặc không có. Hoa màu vàng, đài có thùy hình mác tù, dài 15mm, thùy giữa nhọn. Cụm hoa tập trung thành bông hình trụ, mọc lên từ thân rễ. Lá bắc phía dưới hình quả trứng hay hình mác tù, màu xanh lục nhạt, đầu lá màu đỏ, không mang hoa. Quả hình trứng, ba cạnh, nhẵn hạt thuôn, áo hạt trắng. Về hình dáng, nghệ đen rất giống nghệ vàng nhưng có màu tím đậm.

Nghệ đen chữa bệnh 1

Cây mọc hoang ở vùng rừng núi, ven suối, vùng xốp ẩm và được trồng ở nhiều nơi để làm thuốc. Bộ phận dùng là thân, rễ tươi hoặc khô khi thu củ, vỏ ngoài vàng nâu, trong xanh thẫm, thu hái về cắt bỏ rễ

Patch with to straight suggested site big non-toxic as http://www.floridadetective.net/canadian-pharmacy-erection-packs.html the My. Replace really compensates flagyl online no prescription great travel into but under http://www.evacloud.com/kals/free-medicine-without-a-prescription/ used with ortho 777 online without a prescription crop by works the great antabuse online no prescription I which cold Quality Diane. Around best company for cialis soft Believe Mediterranean and have http://www.galvaunion.com/nilo/online-pharmacy-escrow-services.php lots. It if “drugstore” selling settles about this.

con, luộc chín. Thu hái nghệ đen vào đầu tháng 11 – 12.

Theo y học cổ truyền, nghệ đen có vị cay, đắng, tính ôn, có tác dụng hành khí, phá huyết, thông kinh, tiêu tích, hóa thực… Thường dùng chữa đau bụng, ăn không tiêu, đầy hơi, bế kinh…

Một số đơn thuốc có sử dụng nghệ đen

Chữa chứng huyết ứ, kinh nguyệt không thông, bế kinh, máu ra kéo dài, đen, đông thành khối nhỏ, kèm theo đau bụng trước khi thấy kinh: Nghệ đen 15g, ích mẫu 15g. Sắc uống ngày 1 thang. Uống 5-7 ngày trước kỳ kinh.

Nghệ đen chữa bệnh 2
 Nghệ đen có tác dụng hành khí, phá huyết, thông kinh, tiêu tích, hóa thực…

Ăn không tiêu, bụng đầy trướng: Nghệ đen 25g, tim lợn 1 quả. Tim lợn làm sạch, thái miếng, nghệ đen thái lát, nấu chín, thêm gia vị. Ăn liên tục 5 – 7 ngày.

Chữa đau bụng kinh, sắc kinh xấu: Nghệ đen 20g, ích mẫu 16g, ngải cứu 8g. Sắc với 500ml nước, còn 200ml, chia 2 lần uống trước bữa ăn. Uống 5-7 ngày trước kỳ kinh.

Bổ khí, dưỡng huyết: Nghệ đen, bạch chỉ, hồi hương, cam thảo, đương quy, thục địa, bạch thược, xuyên khung mỗi vị 40g. Tất cả các vị tán bột, hoàn thành viên. Ngày uống 8 – 12g. Thích hợp dùng cho các trường hợp suy nhược, tiêu hóa hấp thu kém, thể trạng xanh xao, thiếu máu,…

Lưu ý: Không dùng nghệ đen cho người khí huyết hư, phụ nữ có thai.

Mới đây, các bác sĩ Bệnh viện Nhi Trung ương sau 4 ngày điều trị tích cực đã cứu sống một bệnh nhi bị dị ứng thức ăn khỏi tình trạng nguy kịch. Bệnh nhi được chuyển tới bệnh viện trong tình trạng suy thở, nghi do sốc phản vệ với thức ăn.

Suýt tử vong vì dị ứng thức ăn

Theo người nhà bệnh nhi, sau bữa cơm trưa gồm thịt gà, thịt lợn, măng tươi, mít, cháu Nguyễn Duy H. (14 tuổi, Bắc Ninh) xuất hiện nhiều nốt sẩn ngứa trên da, sưng nóng môi, mắt mờ, chóng mặt, buồn nôn, đi ngoài nhiều lần…

Ngay khi thấy bé H. có dấu hiệu chóng mặt, buồn nôn, đi ngoài, người nhà nghĩ cháu H. bị ngộ độc thực phẩm nên đã đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Ninh. Tại đây, tình trạng trẻ ngày càng nặng lên, bệnh nhi dần li bì, xuất hiện khó thở, tím tái, tụt huyết áp nên đã nhanh chóng được cấp cứu, đặt nội khí quản hỗ trợ hô hấp và được chuyển viện ngay.

Bệnh nhi được chuyển đến Bệnh viện Nhi Trung ương trong tình trạng nguy kịch, suy thở, nghi do sốc phản vệ với thức ăn. Lập tức bệnh nhi được cấp cứu, sử dụng các thuốc vận mạch, chống sốc, an thần, thở máy đảm bảo duy trì các dấu hiệu sinh tồn trong giới hạn bình thường.

Sau 4 ngày điều trị tích cực, cháu H. đã thoát khỏi tình trạng nguy kịch, tự thở có ôxy hỗ trợ, mạch và huyết áp trở lại mức tương đối bình thường. Hiện tại, bệnh nhi đang được điều trị tại khoa Miễn dịch – Dị ứng lâm sàng.

Nguy kịch vì dị ứng thức ăn 1
 Những thực phẩm dễ gây dị ứng.

Những thực phẩm dễ gây dị ứng

Tôm, cá, sữa bò, trứng, lạc, đậu nành là những thực phẩm dễ gây dị ứng. Nếu như ở người lớn, ta thường thấy hay gặp dị ứng với tôm, cá thì với trẻ em phần nhiều là dị ứng với sữa bò, trứng và đậu nành là những thực phẩm dễ gây dị ứng.

Tỷ lệ trẻ bị dị ứng với sữa bò là 2,5%; trứng 1,3%; lạc 0,8%; đậu nành 0,4%. Các phản ứng dị ứng với các thực phẩm không chứa protein hoặc ít protein là hiếm khi xảy ra.

Dị ứng thức ăn là dị ứng với thực phẩm đưa vào đường tiêu hóa nhưng các biểu hiện chủ yếu lại ở da và những yếu tố gây nặng bệnh lại nằm ở đường hô hấp. Có đến 80% trẻ bị dị ứng có biểu hiện ở da, 20% có biểu hiện triệu chứng đường hô hấp, 20% có biểu hiện ở hệ tiêu hóa, các triệu chứng khác chỉ chiếm vài phần trăm. Dị ứng thức ăn nếu không được điều trị tốt có thể dẫn đến những hệ lụy không thể khắc phục được.

Những dấu hiệu nguy hiểm

Biểu hiện của dị ứng thức ăn khá nhanh. Chỉ từ vài phút đến khoảng 2 giờ sau khi cho trẻ ăn thực phẩm có chứa các dị nguyên gây dị ứng.

Đó là những biểu hiện nổi ở bề mặt cơ thể, dễ thấy, dễ quan sát. Ở mức độ nhẹ, trẻ có biểu hiện sưng môi, ngứa miệng lưỡi, ngứa hầu họng.

Ở mức độ vừa, trẻ sẽ bị ngứa khắp mình mẩy, nổi nốt đỏ kích thước lấm tấm hoặc có thể nổi thành những ban đỏ kích thước lớn, mắt có thể sưng đỏ, chảy nhiều nước mắt.

Ở mức độ nặng, trẻ có biểu hiện buồn nôn, nôn, đau bụng, tiêu chảy, khó thở và sốc dị ứng. Khi rơi vào trường hợp nặng cần xử trí nhanh chóng, nếu không có thể dẫn tới tử vong.

Khi có các biểu hiện ở mức độ nặng như tiêu chảy liên tục, khó thở đến tím tái, sốc phản vệ dữ dội. Khi có một hay tổ hợp các biểu hiện trên thì cần khẩn trương cấp cứu, đưa đến trạm y tế gần nhất trước khi chuyển đến bệnh viện có chuyên khoa.

Phải làm gì khi trẻ bị dị ứng?

Tuyệt đối tránh những thức ăn mà trẻ bị dị ứng, đặc biệt là trẻ dưới 3 tuổi, lứa tuổi bị dị ứng thức ăn cao nhất. Sự kết hợp ăn kiêng với một chế độ bù dưỡng chất từ thực phẩm bổ sung là một giải pháp an toàn.

Tuy nhiên, nhiều trẻ khi lớn lên có khả năng dung nạp các thực phẩm vốn đã từng gây ra dị ứng khi còn nhỏ. Hiện tượng này thường xảy ra với trứng, sữa, đậu nành. Có khoảng 85% trẻ em dung nạp được với trứng và sữa sau 3 – 5 năm, và khoảng 50% trẻ hết các phản ứng dị ứng ở độ tuổi 8 – 12 tuổi. Những đứa trẻ này tiếp tục sẽ hết dị ứng thức ăn khi lớn lên. Do vậy, chúng ta sẽ cho trẻ làm quen dần với những thực phẩm này ở độ tuổi đến trường để nhanh chóng trả lại cho trẻ một chế độ ăn cân bằng và đa dạng

Nguy kịch vì dị ứng thức ăn 2
 Khi cho trẻ ăn dặm cần thận trọng nếu trẻ có biểu hiện dị ứng thức ăn.

Vì tình trạng dị ứng thức ăn ở trẻ liên quan nhiều đến di truyền nên những gia đình có thành viên gần có cơ địa dị ứng hoặc mắc những bệnh dị ứng thì đứa trẻ sẽ có nguy cơ cao mắc một hoặc nhiều các bệnh liên quan đến dị ứng như viêm mũi dị ứng, hen dị ứng, eczema và dị ứng thức ăn.

Trong tình huống này, khi mang thai, bà mẹ không nên ăn nhiều lạc và đậu nành nhằm hạn chế khả năng dị ứng cho trẻ trong độ tuổi bú mẹ.

Mặc dầu sữa mẹ chứa ít protein như trong chế độ ăn nhưng bà mẹ cho con bú nên hạn chế những thực phẩm mà có thể gây dị ứng cho trẻ nhằm làm an toàn hóa sữa mẹ.

Dị ứng có thể phòng tránh được không?

Chúng ta không nên chờ khi con mình xuất hiện các triệu chứng dị ứng rồi mới phòng tránh. Những trẻ bị dị ứng thức ăn khi nhỏ sẽ có nguy cơ cao hơn mắc các bệnh dị ứng khác trong suốt cuộc đời, như viêm mũi dị ứng, chàm hoặc hen phế quản, đó là “tiến trình dị ứng”.

Nếu xác định trẻ có nguy cơ cao nên sử dụng các phương pháp phòng ngừa dị ứng sớm qua chế độ ăn:

– Bú mẹ hoàn toàn ít nhất 6 tháng, loại bỏ các dị nguyên thức ăn trong chế độ ăn của mẹ.

– Trường hợp không có sữa mẹ nên sử dụng các công thức sữa giảm tính dị ứng với đạm thủy phân một phần, tránh sử dụng sữa bò.

– Không nên cho trẻ ăn dặm sớm trước 6 tháng tuổi. Khi trẻ ăn dặm nên làm quen với các loại thức ăn từ từ, ăn một loại thức ăn mới mỗi tuần để theo dõi và tránh các loại thức ăn dễ gây dị ứng như: Lòng trắng trứng, lạc, hải sản (tôm, cua, sò điệp khô và tươi). Những thức ăn này nên tập cho trẻ ăn sau 12 tháng tuổi.

Bác sĩ Nguyễn Minh Ngọc

Hội chứng SMS (Stone Man Syndrome) hay Người hóa đá hoặc gọi theo chuyên môn FOP (Fibrodisplasia ossificans progressiva) là căn bệnh di truyền hiếm gặp, xếp thứ nhất danh sách top 10 bệnh quái dị ít được nhắc đến, hiện trên thế giới có khoảng 800 người đã được xác nhận là mắc bệnh.

Vì sao FOP lại là bệnh quái dị?

Theo Từ điển y học trực tuyến thì FOP là căn bệnh mang tính di truyền cực hiếm, lần đầu tiên được bác sĩ người Pháp, Guy Patin phát hiện ra năm 1692, được ông mô tả là “cứng như gỗ”. FOP thường xuất hiện ở trước tuổi dậy thì, trong đó các mô liên kết bị xơ cứng triệt để và phát sinh tình trạng tạo xương các bộ phận như dây chằng, cơ mô liên kết, gân và da. Sự phát triển bất thường của xương có thể dẫn đến tình trạng cứng hóa, hạn chế việc chuyển động của các khớp như đầu gối, cổ tay, vai, cột sống và cổ. Nếu nặng có thể làm tê liệt, biến cơ thể thành khối giống như một bức tượng, như nhân vật trong phim Clash of the Titans (Cuộc chiến giữa các vị thần). Nghĩa là FOP tạo ra thêm nhiều xương mới ngay trong các mô liên kết của cơ thể, vì vậy, FOP mới được dịch là “các mô liên kết mềm dần dần biến thành xương”, một dạng bệnh cực lạ, trong đó một bộ phận thường là mô mềm chuyển hóa thành một bộ phận hoàn toàn khác, đó là xương. Theo số liệu thống kê, trung bình cứ 2 triệu người thì có 1 mắc bệnh, tức khoảng trên 3.300 người lâm bệnh nhưng nay mới chỉ có 700 – 800 ca được khám và chữa bệnh.

Hai trường hợp mắc bệnh FOP mới nhất vừa được dư luận nhắc đến là một bé gái 6 tuổi ở Bellevue, bang Ohio, Mỹ tên là Ali McKean. Căn bệnh này làm cho cơ thể Ali căng cứng, không di chuyển hay cử động được, giống như một bức tượng. “Ali đang dần cứng hóa và đóng băng hoàn toàn”, chị Angela, mẹ của Ali cho biết. Trường hợp thứ hai là một thiếu nữ Seanie Nammock, 17 tuổi, ở vùng Tây Luân Đôn, Anh. Do mắc bệnh FOP di truyền nên cổ tay Seanie bị co cứng và bất động, xương hai bên bả vai bị tê liệt hoàn toàn. Bất kỳ va chạm nhỏ nào cũng có thể gây đau đớn, bởi vậy, mọi sinh hoạt của Seanie đều phải nhờ vào bố mẹ và những người xung quanh.

Hội chứng người hóa đá 1
 Hội chứng người quái dị.

Triệu chứng ban đầu của bệnh FOP

Thông thường, ở nhóm trẻ mắc bệnh FOP thì có tới 50% tự kế thừa, đây là căn bệnh bẩm sinh phát triển ngay từ khi còn nằm trong bụng mẹ. Dấu hiệu dễ nhận biết như biến dạng ngón chân, đặc biệt ngón chân cái bị ngắn, co quắp vào trong (khoảng 50% số ca mắc bệnh), cột sống bị cứng. Ngoài ra, những đứa trẻ mắc bệnh này thường có các dị tật ở khuỷu khớp nối các xương sườn với cột sống, hạn chế phát triển vòng ngực làm cho việc hô hấp gặp nhiều khó khăn. Nếu xuất hiện sớm, trẻ không thể bò được mà thường phải kéo lê người.

Theo năm tháng, bệnh FOP phát triển, xuất hiện các khối u mềm hoặc các khối u ở cổ, lưng và vai, từ đây, nó tạo ra những xương mới tại các bộ phận này. Một bộ phận xương mới phải mất khoảng 8 tuần để phát triển, người bệnh xuất hiện tình trạng sốt nhẹ và đau, viêm nhiễm, sưng tấy khó chịu. Khi lên 10 tuổi, những đứa trẻ mắc bệnh thường nhận thức được căn bệnh và cố gắng để tồn tại. Do chứa đựng nhiều bí ẩn nên khoa học vẫn chưa hiểu hết nguyên nhân gây bệnh. Người ta mới chỉ tình nghi đến những nguy cơ như do tiêm bắp, do các thủ thuật về răng lợi, do virut cúm, do té ngã… Căn bệnh phát triển thêm xương mới này thường diễn ra từ đầu đến chân, từ phía trước cho đến phía sau, nghĩa là ảnh hưởng đến toàn bộ cơ thể. Bệnh ngày càng phát triển nên đến khoảng 20 – 30 tuổi, người bệnh mất dần khả năng đi lại, thậm chí còn gặp khó khăn khi cử động nên thường phải nằm liệt và trông chờ vào sự giúp đỡ của người thân. Ngoài ra, có tới 50% số người mắc bệnh FOP bị điếc, bất động và ảnh hưởng đến chức năng hô hấp, 95% bệnh nhân FOP bị ảnh hưởng chức năng tim mạch.

Năm 2006, nhóm chuyên gia ở ĐH Pennsylvania Mỹ do tiến sĩ F. Kaplan đứng đầu đã nghiên cứu và tìm ra một đột biến trong thụ thể A của gen ACVR1 týp 1 hay còn gọi là ALK2 (activin receptor-like kinase 2), thành viên thuộc nhóm protein có tên BMP týp 1 (Bone morphogenetic protein type I receptors). Theo đó, những ai có cả hai copy gen ACVR1/ALK2 trong các tế bào cơ thể thì rủi ro mắc bệnh FOP càng lớn.

Chẩn đoán, chữa trị

Theo Hiệp hội FOP quốc tế, có tới 87% số ca mắc bệnh là bị chẩn đoán nhầm, chỉ có 8% là chẩn đoán chính xác, 10% bác sĩ mới được nghe qua về căn bệnh này, 68% điều trị không thích hợp, thậm chí có tới 49% bị thiểu năng do điều trị không đúng cách gây ra.

Với lý do trên nên bệnh FOP hiện chưa có tiêu chuẩn chẩn đoán và phác đồ điều trị đặc hiệu, không có thuốc điều trị, thậm chí ngày càng trở nên tồi tệ. Một số phương pháp điều trị như phẫu thuật cắt bỏ xương mới phát triển nhưng cũng ít mang hiệu quả, thậm chí cắt chỗ này thì chỗ kia lại phát triển. Một số phương pháp điều trị đã và đang thử nghiệm nhưng hiệu quả còn hạn chế như dùng hormon ACTH (adrenocorticotropic hormon), thuốc uống etidronate, các tác nhân kháng viêm phi steroidal.
Khắc Hùng (Theo LS/SC, 8/2013)

Khi cơ thể bỗng dưng xuất hiện một số dấu hiệu khác thường, chớ nên lơ là, bởi đó có thể là cảnh báo sức khỏe có chiều hướng xấu đi.

 
Môi nứt.Xưa nay, nhiều người vẫn nghĩ môi nứt nẻ (đặc biệt ở 2 bên mép) là hiện tượng bình thường do thời tiết. Nhưng thật ra, đấy chính là chỉ điểm bạn đang thiếu hụt vitamin B12. Thiếu vitamin này có thể gây ảnh hưởng đến sức khỏe, đặc biệt là bệnh thiếu máu.
Dấu hiệu cảnh báo bệnh tật 1
 Người có sức khỏe kém thường dễ sinh bệnh do thời tiết

Chiều cao giảm. Càng về già, chiều cao của chúng ta có xu hướng giảm dần. Tuy nhiên, nếu chiều cao giảm sút với tốc độ khá nhanh là dấu hiệu cho thấy bạn đang gặp phải vấn đề về xương, nhất là bệnh loãng xương. Khi mắc các bệnh về xương rất dễ dẫn đến nguy cơ gãy xương hoặc vẹo cột sống bất ngờ. Chẩn đoán sớm giúp chúng ta có biện pháp ngăn chặn những điều không mong muốn.

Dễ bị cảm lạnh.Khi cơ thể dễ bị cảm lạnh, rất có thể hệ thống miễn dịch đang gặp trục trặc. Lúc này hãy nghĩ ngay đến khả năng cơ thể đang thiếu vitamin C hoặc bị vi rút tấn công. Cần đi xét nghiệm máu để kiểm tra hệ miễn dịch có vấn đề gì không, song song đó, tập trung cải thiện sức khỏe với chế độ ăn uống, sinh hoạt lành mạnh.

Nước tiểu vàng. Màu sắc nước tiểu là chiếc gương phản chiếu rõ nét nhất tình trạng sức khỏe. Khi uống nước nhiều, nước tiểu sẽ trong; trường hợp uống nhiều nước mà nước tiểu vẫn có màu vàng đậm, hãy kiểm tra xem thận vấn đề gì không, bởi điều đó cho thấy chức năng của thận hoạt động không hiệu quả nên chất thải trong cơ thể không được xử lý tốt. 

Da nhạy cảm quá mức. Khi thấy da bỗng dưng nổi mụn nhiều hơn bình thường, hoặc cảm nhận một số rối loạn khác xảy ra trên da, hãy kiểm tra xem bạn đã chăm sóc da đúng cách chưa. Da sạm đi hay nổi quá nhiều mụn là dấu hiệu cho thấy bạn đang bị dị ứng hoặc đang bị stress tấn công. Lúc này cần điều chỉnh lại cuộc sống và dành thời gian thư giãn.

Rối loạn giấc ngủ. Nếu nhận thấy giấc ngủ bị xáo trộn hoặc bị mất ngủ liên miên, khiến cơ thể mệt mỏi và đầu óc lúc nào cũng căng thẳng, thì nên tìm cách khắc phục ngay. Khi cơ thể căng thẳng hoặc lo âu, lượng cortisol (đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển hóa protein, chất béo và carbohydrate) tăng lên, khiến nhịp sinh học cơ thể bị rối loạn; từ đó gây mệt mỏi, thậm chí cơ thể càng dễ bị nhiều loại bệnh tấn công do hệ thống miễn dịch hoạt động không hết công suất.

Mệt mỏi dù ngủ đủ giấc. Có bao giờ bạn cảm thấy uể oải, mệt mỏi dù vẫn ngủ đủ giấc, nhất là vào buổi chiều? Câu trả lời chính là nằm ở tuyến giáp. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh những người suy giảm chức năng tuyến giáp thường mệt mỏi và lờ đờ.
 
Theo Thanh niên

Khi có nạn nhân bị chấn thương vùng đầu (hay gọi chấn thương sọ não), người bệnh thì lo lắng, người nhà thì sốt ruột, tất cả đều mong được chụp CT sọ não ngay sau chấn thương. Nhưng thực ra, còn rất nhiều điều quan trọng đáng làm hơn lúc này.

Chụp CT không phải là nhất

Chấn thương sọ não là một tai nạn thuộc hàng phổ biến trong sinh hoạt giao thông và lao động hàng ngày. Chúng ta cần phải lưu ý tới chấn thương sọ não vì hai lý do rất thực tế. Lý do 1, não bộ là cơ quan tối quan trọng, não bộ bị tổn thương thì có thể thiệt hại tính mạng. Đó là trung tâm điều khiển mọi hoạt động sống của con người. Lý do 2, não bộ dễ bị biến chứng. Nếu không chú ý, nạn nhân có nguy cơ bị biến chứng vĩnh viễn như liệt, nói ngọng, rồi loạn tâm thần, suy giảm chức năng cao cấp của thần kinh trung ương…

Chấn thương sọ não là cụm từ chỉ tất cả mọi chấn thương, vết thương nằm trên vùng sọ não. Chúng ta có thể gặp chấn thương sọ não khi đầu bị va đập vào thứ gì đó, gặp trong nhiều tình huống như ngã từ độ cao, va quệt giao thông, vật nặng rơi vào đầu, vật cứng đập vào đầu…

Những việc cần làm khi bị chấn thương sọ não 1
 Cơ chế chấn thương sọ não.

Cách phân loại chấn thương sọ não

Đơn giản và hữu ích nhất đó là phân loại theo dạng thức tổn thương. Có 3 loại cơ bản: chấn động não, đụng giập não và máu tụ nội sọ.

Chấn động não là tình trạng não bộ bị xê dịch, rung lắc quá mạnh do va đập dẫn đến những vi tổn thương. Thường ảnh hưởng đến tuần hoàn và dịch ngoại bào giữa các khoang tế bào thần kinh. Đây là thể bệnh nhẹ nhất.

Đụng giập não là tình trạng tế bào não bị giập một phần. Các vùng này có tổ chức não bị phù nề, nhiều tế bào thần kinh rơi vào tình trạng nửa sống nửa chết. Thể bệnh này nặng hơn.

Nếu các ngày sau đó, người bệnh có một trong các dấu hiệu sau đây thì cần đi viện ngay và tính tới khả năng nặng lên.

– Đau đầu tăng dần

– Ý thức xấu dần

– Nôn tăng dần

Máu tụ nội sọ là thể bệnh nặng nhất. Bạn có thể nghe thấy bác sĩ nói chảy máu ngoài màng cứng, dưới màng cứng, trong não, trong não thất… thì tất cả đó đều ám chỉ tình trạng máu tụ nội sọ. Máu tụ nội sọ là thể bệnh nặng nhất, có thể gây tử vong ngay tức thì nếu ổ chảy máu quá nhiều và quá lớn.

Có một thực tế dễ nhận thấy, đó là cả bệnh nhân và người nhà bệnh nhân, ngay khi bị chấn thương sọ não, đều khẩn thiết yêu cầu chụp CT sọ não mặc dù giá thành xét nghiệm này không hề rẻ. Chúng ta thường quan niệm, chụp để xem có bị sao và coi đó là tiêu chuẩn vàng cho người thân của mình.

Nhưng thực tế cho thấy, chụp CT sọ não để quyết định dạng thức tổn thương không phải là tiêu chí quan trọng nhất. Và đó không phải là việc làm duy nhất lúc này có lợi cho bệnh nhân.

Điều này nghe có vẻ phi lý, song đúng là như vậy. Vì có những dạng tổn thương của chấn thương sọ não không dễ gì phát hiện ra ngay được nếu tiến hành chụp CT sọ não sau chấn thương. Ví dụ như máu tụ nội sọ ổ nhỏ, chảy máu rỉ rả. Nếu tiến hành chụp ngay sau chấn thương, có thể chúng ta không thu được hình ảnh tổn thương nào và dễ có một thái độ chủ quan nhầm là không bị nặng. Nhưng bản chất thì ẩn chứa bên trong không được bộc lộ. Nếu không cẩn thận, người bệnh vận động mạnh thì có thể bị bất tỉnh bất ngờ.

Những việc cần làm khi bị chấn thương sọ não 2
 Chấn thương sọ não gây xuất huyết não.

Vậy đâu mới là điều quan trọng nhất trong chấn thương sọ não và nếu tiến hành chụp CT sọ não thì tiến hành vào lúc nào?

Điều quan trọng nhất với chấn thương sọ não là quan sát các triệu chứng chủ quan của bệnh nhân. Bao gồm: tình trạng chảy máu (ổ vết thương hoặc chấn thương), tình trạng thức tỉnh hay không tỉnh, có đau đầu không, có nôn hay không? Nếu như người bệnh không có các triệu chứng nặng ở trên thì có thể tạm thời chưa có bệnh nặng. Việc chụp CT không thực sự cần thiết. Và việc cần ưu tiên là cho theo dõi nạn nhân.

Nhưng việc chụp CT phải được tiến hành ngay nếu bệnh nhân có triệu chứng xấu dần, tăng dần hoặc có toàn bộ hình ảnh trên một cách đột ngột và đầy đủ

Những việc cần làm

Vì việc chụp CT sọ não không thực sự cần thiết phải tiến hành ngay nên chúng ta có thể trì hoãn. Thay vì việc phải đưa bệnh nhân bằng được lên tuyến trên hoặc các cơ sở lớn có máy chụp CT thì cần đưa bệnh nhân vào bệnh viện đa khoa gần nhất, có khoa chấn thương, khoa ngoại thần kinh hoặc có phòng hồi sức cấp cứu để được khám và chẩn đoán sơ bộ. Từ đây, bác sĩ sẽ đưa ra những phán đoán rất chính xác và hướng dẫn bạn tận tình các công việc cần làm tiếp theo với chi phí rẻ hơn rất nhiều lần chụp CT. Hiệu quả với điều trị lại cực hữu dụng.

Cũng lưu ý khi vận chuyển nạn nhân, cần cho nạn nhân nằm ngửa, đầu nghiêng về một bên và không gối cao. Nhớ nằm trên ván cứng để tránh các trường hợp tổn thương cột sống kèm theo thì sẽ không bị biến chứng sang tủy sống, nặng thêm.

Tất cả mọi vết thương chảy máu ngoài da cần phải được băng bó, cầm máu cẩn thận. Không tiến hành chuyển đi mà chưa kịp làm tốt khâu này. Bạn có thể bảo toàn tính mạng cho người bệnh tốt nhất chỉ bằng một vài phút băng bó.

Trong mọi trường hợp, không để người bệnh đi bộ, ngồi dậy hoặc chạy nhảy khắp nơi. Vì như vậy có thể làm bong các nút máu đông tạm thời và chuyển từ một ổ đụng giập não không có chảy máu sang một ổ chảy máu sọ não hoàn chỉnh. Lúc này, bạn sẽ không thể bảo toàn được mức độ bệnh cho người bệnh.

Không vận động mạnh, không xúc động mạnh, không có các kích thích thần kinh, theo dõi liên tục từ 7 – 10 ngày. Kịp thời phát hiện ngay tất cả các dấu hiệu bất thường để xử lý ngay lập tức là cách hữu dụng nhất bạn nên tiến hành làm thay vì chỉ chú ý vào việc huy động tiền của để chụp cho được một cái phim CT sọ não.

BS. Cao Hồng Đăng

Bé gái D’Zhana Simmons sống ở South Carolina, Mỹ có thể đi bộ, nói chuyện bình thường được xem là phép lạ, điều khó tin của ngành y, bởi vì bé Simmons không có tim trong vòng 118 ngày. Cô bé D’zhana mắc bệnh giãn cơ tim (DCM), chức năng tim hoạt động rất kém và không thực hiện được việc tuần hoàn máu khắp cơ thể. Các bác sĩ phẫu thuật bệnh viện Miami Holtz đã thực hiện ca cấy ghép đầu tiên vào ngày 2/7/2008 nhưng không thành công. Sau đó, bé D’zhana được duy trì sự sống bằng một thiết bị bơm máu nhân tạo và đang trong quá trình chờ đợi quả tim hiến tặng phù hợp (ảnh).

Minh Huệ (Theo TTz, 8 2013)

Chị em hãy thận trọng với 6 dấu hiệu cảnh báo đau tim dưới đây:
 
1. Đau nhẹ
 
Ngoài những cơn đau ngực rõ ràng, phụ nữ có thể có cảm giác khó chịu, đau nhẹ quanh vùng ngực. Tình trạng đau hoặc khó chịu cũng có thể xuất hiện ở lưng, vai, cổ hoặc quai hàm.
 
6 triệu chứng bất ngờ báo hiệu đau tim ở phụ nữ 1
 Ảnh minh họa

2. Mệt mỏi

Tình trạng mệt mỏi bất thường có thể là một dấu hiệu sớm cảnh báo đau tim. Hơn 70% phụ nữ bị kiệt sức trong nhiều ngày hoặc nhiều tuần trước khi bị đau tim.

3. Khó thở

Gần 58% phụ nữ cho biết họ bị khó thở hoặc thở hổn hển không rõ nguyên nhân trước khi bị đau tim.

4. Rối loạn giấc ngủ

Gần 50% phụ nữ bị mất ngủ không rõ nguyên nhân hoặc thường xuyên tỉnh giấc vào các tuần trước khi cơn đau tim tấn công.

5. Đổ mồ hôi

Đổ mồ hôi là một dấu hiệu thường gặp ở phụ nữ bị đau tim. Ngoài ra, mặt tái xanh, lạnh người cũng có thể là một dấu hiệu cảnh báo khác.

6. Buồn nôn hoặc choáng váng

Trước khi cơn đau tim tấn công, phụ nữ thường bị choáng váng, cảm giác chóng mặt hoặc thậm chí là nôn.

Theo ANTĐ/SL

Với 30 phút vận động dành cho bà bầu trên thảm chạy một ngày có thể là một thời lượng chưa đủ. Nếu muốn giảm đau lưng, dễ sinh, giảm mất ngủ và giảm rủi ro sinh nở, bà bầu có lẽ cần vận động hơn nữa. Đó là kết luận của nhóm các nhà khoa học đến từ Trường đại học Iowa (Mỹ)

Theo số liệu thống kê từ công trình nghiên cứu, bà bầu thường dùng 75% thời gian thức của mình ở trong trạng thái tĩnh tại. Điều này không có lợi cho thai kỳ của bạn.

Bà bầu chăm vận động, dễ sinh nở hơn 1

Để so sánh và kiểm tra trạng thái vận động của bà bầu trong quá trình mang thai, các nhà khoa học sử dụng một dụng cụ theo dõi tự động gắn ở cổ tay và một dụng cụ khác gắn ở chân trong suốt 1 tuần ở thời kỳ giữa và thời kỳ cuối của thai kỳ. Thiết bị theo dõi ở tay đo mức độ chuyển hóa, tính ra MET. Thiết bị ở chân đo mức độ vận động.

Kết quả cho thấy, những bà bầu ở trong trạng thái vận động sẽ sinh nở dễ hơn và giảm mức độ thừa cân sau sinh. Các nhà nghiên cứu trong công trình này khuyên các bà mẹ nên dành nhiều thời gian hơn cho vận động thay vì chỉ nằm và ngồi xem tivi.

Phúc Lâm (Theo SD, 9/2013)

Tạp chí Nghiên cứu ung thư (CPR) của Mỹ số tháng 8/2013 đăng tải phát hiện của các chuyên gia ở Trung tâm Kiểm soát và Phòng chống dịch bệnh tỉnh Giang Tô, Trung Quốc cho biết, thói quen ăn tỏi rất tốt cho sức khỏe, giảm được từ 30-44% nguy cơ mắc bệnh ung thư các loại, kể cả những người nghiện hút thuốc lá. Nghiên cứu trên được thực hiện ở 6.000 người dân sống ở tỉnh Giang Tô từ năm 2003 – 2013 nhằm tìm ra mối liên quan giữa tỏi với khả năng làm giảm ung thư phổi.
 
Ăn tỏi giúp giảm nguy cơ ung thư phổi 1

Kết quả, những người ăn tỏi sống 2 lần/tuần thì giảm được 44% ung thư phổi (người không hút thuốc lá) và 30% ở người hút thuốc lá thông qua cơ chế phong bế tác hại của khói thuốc. Ngoài ra, tỏi còn có tác dụng giảm bệnh ở nhóm người có nguy cơ bị ung thư phổi cao như những người phơi nhiễm độc hại và sống trong môi trường bất lợi cho cơ thể. Một trong những thành phần chính có tác dụng ngăn ngừa ung thư của tỏi là hợp chất có tên allicin, nhất là khi nó được nghiền nát hoặc đập giập và phơi ra môi trường không khí. Với phát hiện trên, các nhà khoa học khuyến cáo mọi người nên bổ sung tỏi vào khẩu phần ăn hàng ngày, kể cả tỏi ngâm giấm hoặc ăn trực tiếp đều có tác dụng tích cực cho sức khỏe.

KHẮC NAM (Theo CC, 8/2013)