Author Archives: dungntk

Việc mang thai ngoài ý muốn hay lỡ kế hoạch sinh con là vấn đề được rất nhiều cặp đôi quan tâm, do đó, nhiều biện pháp tránh thai phổ biến đã và đang được áp dụng: dùng bao cao su, đặt vòng tránh thai, uống thuốc tránh khai khẩn cấp… Tuy nhiên, những phương pháp này ít nhiều làm gián đoạn “cuộc vui” và ảnh hưởng đến tâm trạng của các cặp đôi. Các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu phát triển những phương pháp hiệu quả hơn, đơn giản hơn để kiểm soát việc sinh đẻ.

Màng tránh thai thế hệ mới

Màng tránh thai có dạng “cái chụp hình vòm” được làm từ cao su mềm, mỏng hoặc silicon. Chúng tạo thành một “vật cản” vật lý tuyệt vời đối với các tinh trùng. Màng tránh thai co giãn do đó phù hợp với mọi kích cỡ. Mái vòm chứa Buffer gel nhằm diệt tinh trùng và khử vi trùng rất hiệu quả. Màng tránh thai được đặt vào âm đạo trước khi giao hợp, định vị nó để nó giữ tinh dịch không chảy vào được bất cứ nơi nào gần cổ tử cung của bạn. Khi sử dụng màng tránh thai thì hầu như mọi phụ nữ đều không cảm thấy khó chịu, rất ít người dị ứng với chất liệu làm màng chắn. Lợi thế chính của màng tránh thai là cho phép giao hợp một cách tự nhiên và đảm bảo tỷ lệ tránh thai là 92 – 96%.

Thêm nhiều biện pháp tránh thai hiệu quả  1
 Màng chắn tránh thai.nền, kích cỡ của bảng tùy theo nhu cầu.

Làm tắc ống dẫn tinh

Có thể làm tắc hoàn toàn hay không hoàn toàn ống dẫn tinh gồm thiết bị đặt vào ống dẫn tinh, tiêm thuốc gây tắc và chỉ có thể hồi phục sự thông suốt của ống dẫn tinh khi lấy đi chất (hay thiết bị gây tắc). Ví dụ như RISUG (tên viết tắt tiếng Anh: Reversible Inhibition of sperm under guidance, tạm dịch là ức chế sản sinh ra tinh trùng có kiểm soát và có thể phục hồi). Thuốc được tiêm vào ống dẫn tinh để tạo ra hiệu quả tránh thai kéo dài tới 10 năm cho mỗi lần tiêm; có tác dụng ngay tức khắc, ít tác dụng phụ và có thể khôi phục lại khả năng sinh sản sau khi có những nghiên cứu trên loài linh trưởng. Tác dụng tránh thai là nhờ hai cơ chế: làm tắc không hoàn toàn ống dẫn tinh và cản trở tinh trùng đi qua. Sau khi đã tiêm RISUG thì trong mỗi lần xuất tinh, các tế bào màng của tinh trùng bị vỡ; màng này có các phân tử quan trọng cần thiết để gắn kết với trứng và có những enzym để làm tan lớp vỏ ngoài của trứng; nếu không có những phân tử hay enzym này thì tinh trùng không thể có chức năng sinh sản.

Dùng vaccin tránh thai

Sử dụng thuốc tiêm là một cách tránh thai an toàn. Mỗi mũi tiêm có tác dụng tránh thai trong 3 tháng vì chứa một hàm lượng cao hormon progestin. Thuốc có tác dụng ức chế rụng trứng, làm đặc chất nhầy cổ tử cung ngăn tinh trùng di chuyển, làm mỏng nội mạc tử cung và giảm nhu động của vòi trứng. Thuốc sẽ được tiêm vào vùng trên của cánh tay hay vào mông 3 tháng/lần. Mũi tiêm đầu tiên sẽ được tiêm trong 5 ngày đầu của thời gian hành kinh để có hiệu quả ngay tức khắc. Thuốc có hiệu quả tránh thai cao và thời gian tránh thai kéo dài, rất tiện cho phụ nữ không có điều kiện uống viên tránh thai hằng ngày. Hiệu quả của thuốc trong số người sử dụng có thể đến 97%.

Thuốc xịt tránh thai

Thuốc xịt 1 lần/ngày này chứa một loại thuốc ngấm qua da vào trong máu. Một thiết bị cầm tay được lập trình để cho ra cùng một lượng thuốc mỗi lần xịt lên cánh tay. Các thử nghiệm cho thấy thuốc xịt khô ngay trong vòng vài giây, tạo thành một cái màng không thấm nước. Thuốc xịt có một chất gọi là nestoron, một loại progestogen. Kết quả cho thấy thuốc này không chỉ thấm qua da nhanh chóng mà còn duy trì một liều thuốc ngừa thai ổn định, thay vì liều cao hơn hoặc thấp hơn xảy ra đôi khi với thuốc ngừa thai dạng viên. Bởi vì thuốc mới không cần phải dùng vào cùng một thời điểm mỗi ngày, cho nên các nhà khoa học dự báo thuốc mới rất phù hợp cho các phụ nữ thường quên uống thuốc.

Chặn gen

Các biện pháp tránh thai thông thường dựa trên việc kiểm soát nội tiết tố và có tác dụng phụ như buồn nôn, chóng mặt hoặc đau đầu. Các nhà khoa học tại Trường Đại học Y khoa Harvard đã tiến hành nghiên cứu phương pháp ngừa thai không phải kiểm soát nội tiết tố và đã phát hiện ra một loại gen được gọi là CatSper có ảnh hưởng đến việc di chuyển của tinh trùng và thụ tinh. Một biện pháp tránh thai được đưa ra bằng phương pháp chặn CatSper, ngăn ngừa tinh trùng đến được với trứng.

Thuốc tránh thai có hormon cho nam

Thường gọi là viên thuốc tránh thai cho nam nhưng không phải dạng viên mà là dạng cấy dưới da hay tiêm. Ngày nay, loại thuốc có hormon dành cho nam rất giống với viên thuốc tránh thai cho nữ đã có từ những năm 50 thế kỷ trước nhưng còn đang nghiên cứu để có công thức, liều lượng, cách dùng thuận tiện, hiệu quả cao và an toàn như viên thuốc tránh thai dùng cho nữ. Có lẽ phải 10 năm nữa loại thuốc này mới có mặt trên thị trường châu Âu.

Lý do thuốc tránh thai cho nam phức tạp và chậm trễ ra đời hơn thuốc tránh thai cho nữ vì với nữ, kết quả mong muốn chỉ là không để thai nghén xảy ra dù một số tác dụng phụ có thể chấp nhận được; nhưng với nam thì kết quả mong muốn còn phải đạt được sự bình thường về sinh lý, tâm lý và dục năng (ham muốn tình dục), nghĩa là phải không có bất cứ tác dụng phụ nào. Tiêu chuẩn như thế cao hơn nhiều so với các viên thuốc tránh thai hiện đại dành cho nữ. Thuốc tránh thai có hormon dành cho nam phải đình chỉ được hay giảm nhiều tiến trình tạo ra tinh trùng.

M.Huệ (Tổng hợp theo Health, TTz, Wikipedia)

Lạm dụng kháng sinh khiến nhiều người phải nhập viện do bị dị ứng, nhiều bệnh nhân không khỏi bệnh cũng vì tùy tiện tự kê đơn kháng sinh.
Bệnh gì cũng… kháng sinh !
Theo tiến sĩ Nguyễn Văn Đoàn, Giám đốc Trung tâm dị ứng miễn dịch lâm sàng – Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) thì trung tâm thường xuyên tiếp nhận các ca dị ứng thuốc vào khám, điều trị, trong đó dị ứng do kháng sinh chiếm tỷ lệ cao nhất.
“Việc tự mua thuốc, mua kháng sinh điều trị chiếm tỷ lệ cao trong các ca dị ứng thuốc. Nhiều trường hợp không phải dùng kháng sinh nhưng bệnh nhân vẫn tự mua uống, do nhiều người vẫn lầm tưởng cứ sốt là uống kháng sinh”, bác sĩ Bùi Văn Khánh, Trung tâm dị ứng miễn dịch lâm sàng, cho biết.
Sai lầm thường gặp khi sử dụng kháng sinh 1

Thói quen dùng thuốc, dùng kháng sinh không có chỉ định của bác sĩ rất dễ gây nguy hiểm cho sức khỏe – Ảnh: Đ.N.Thạch

Bệnh nhân nam, 38 tuổi, ở Q.Đống Đa, Hà Nội vào khám trong tình trạng mẩn ngứa, môi sưng tấy. Khoảng 3 tuần trước khi vào viện, bệnh nhân bị đau răng và ra nhà thuốc tư nhân mua thuốc uống. “Sau khi dừng uống kháng sinh này được khoảng 2 tuần thì tôi bị nóng rát họng và cảm giác sốt nên ra nhà thuốc mua kháng sinh viêm họng. Nhà thuốc bán cho tôi cả kháng sinh và ngậm ho. Lần này dùng thuốc đến ngày thứ ba thì tôi thấy có những nốt mẩn đỏ, cảm giác khó thở”.
Theo Cục Quản lý khám chữa bệnh, Bộ Y tế, việc sử dụng kháng sinh không phù hợp làm tăng nguy cơ gặp phải các tác dụng không mong muốn do thuốc và đặc biệt là làm tăng nguy cơ kháng kháng sinh (tình trạng điều trị bệnh không hiệu quả do vi khuẩn đã “làm quen”, lờn với thuốc). Theo TS Nguyến Tiến Dũng, Trưởng khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai, rất nhiều trẻ (khoảng 40%) đã được cha mẹ “điều trị” bằng kháng sinh trước khi đưa trẻ đến khám bác sĩ. Nhiều trường hợp ho, sốt do vi rút cũng được cho dùng kháng sinh, trong khi thuốc này chỉ được dùng khi nhiễm vi khuẩn.
Cảnh báo kê đơn bất hợp lý
Theo nghiên cứu (năm 2009-2010) do Cục Quản lý khám chữa bệnh thực hiện, về thực trạng sử dụng kháng sinh trên hơn 1.000 hồ sơ bệnh án tại các khoa điều trị tích cực của 19 bệnh viện lớn thuộc Hà Nội, Hải Phòng, TP.HCM, cho thấy tỷ lệ sử dụng kháng sinh không phù hợp chiếm tới 74%. Việc sử dụng kháng sinh không phù hợp khiến thất bại điều trị ở nhóm bệnh nhân này lên tới 63% so với 40% ở nhóm dùng kháng sinh phù hợp. 88% nhà thuốc thành thị và 91% là ở nông thôn bán kháng sinh không theo đơn.
Theo bác sĩ Nguyễn Văn Kính, Giám đốc Bệnh viện Bệnh nhiệt đới T.Ư, điều trị kháng sinh cho bệnh nhân không nhiễm trùng, lạm dụng kết hợp kháng sinh, tiếp tục dùng kháng sinh cho bệnh nhân không có đáp ứng… là những sai lầm thường gặp trong sử dụng kháng sinh. 
Theo Thanh Niên

Nghiên cứu đăng tải trên tạp chí Tim mạch Mỹ cho thấy, ăn nhiều trái cây có thể giảm nguy cơ mắc bệnh mạch máu nguy hiểm hay còn gọi là chứng phình động mạch chủ ở bụng.

Ăn trái cây giúp giảm nguy cơ phình động mạch  1

Các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu đối với hơn 80.000 người từ 46-84 tuổi, được chia thành 4 nhóm theo lượng trái cây họ ăn hàng ngày. Sau 13 năm, theo dõi hồ sơ bệnh viện lưu lại, có 1.086 người bị phình động mạch chủ trong đó có 222 người mắc chứng phình động mạch ở bụng và bị vỡ động mạch, chủ yếu ở nam giới. Các nhà nghiên cứu thấy rằng, những người ăn nhiều hơn 2 khẩu phần trái cây hàng ngày giảm 25% nguy cơ phình động mạch chủ và giảm 43% nguy cơ phình động mạch vỡ so với những người không ăn trái cây hàng ngày. Theo ông Otto Stackelberg, Trưởng nhóm nghiên cứu thuộc Viện Karolinska (Thụy Điển): Chất chống ôxy hóa trong trái cây giúp ngăn chặn phình động mạch chủ ở bụng. Đồng thời, các chuyên gia cũng khuyến cáo nên ăn các loại rau, trái cây như: táo, lê, chuối, cam để giảm nguy cơ mắc các bệnh về tim, tiểu đường týp 2, tăng huyết áp và một số bệnh ung thư.

H.M (Theo Xinhua, 8 2013)

Chứng đầy bụng, khó tiêu, nguyên nhân chủ yếu theo Đông y là do tỳ vị vận hóa không tốt làm cho ăn uống kém, thức ăn ăn bị đình trệ trọng dạ dày, ruột, bụng đầy trướng, khó chịu, ợ hơi, buồn nôn,… Có thể sử dụng một số bài thuốc đơn giản sau:

Bài 1: Quả quất tươi chín 1kg, rửa sạch, để ráo nước. Dùng kim châm sâu vào quả nhiều lỗ. Cho quất vào lọ cùng với 2kg đường kính, cứ một lớp quất lại một lớp đường, đậy kín để trong vòng 7 ngày, thu được si rô quất màu vàng, mùi thơm. Khi dùng, lấy 1 thìa si rô quất pha với 100ml nước đun sôi để nguội uống. Ngày uống 2 – 3 lần. Uống 3 ngày.

Đông y chữa đầy bụng, khó tiêu 1

Si rô quất.

Bài 2: Quất tươi chín 100g, 500ml rượu trắng, ngâm khoảng 2 tuần là dùng được. Hàng ngày, trước mỗi bữa ăn uống 15 – 20ml rượu quất có tác dụng chữa bụng trướng đầy, khó tiêu, giúp ăn ngon miệng, kích thích tiêu hóa.

Bài 3: Chỉ xác 10g, đu đủ xanh khô (mộc qua) 30g, gừng khô 6g. Sắc uống mỗi ngày 1-2 lần. Uống 3 ngày.

Bài 4: Mộc hương, bạch truật, chỉ thực, mỗi vị 18g. Tất cả các vị thuốc tán bột, ngày uống 2 lần với nước gừng, mỗi lần uống 5g.

Bài 5: Lấy 20g tỏi ta bóc vỏ, giã nát, trộn với 5g đường phèn hoặc đường kính. Hòa với 60ml nước sôi còn ấm, chia làm 2 lần uống trong ngày. 

Bài 6: Lá mơ lông tươi 100g, rửa sạch, ăn kèm với cơm như rau hoặc giã nát vắt lấy nước cốt uống vài lần trong ngày.

Bài 7: Rau cải thìa (cả cây), rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước cốt, hâm cho âm ấm, ngày uống 2 lần trước bữa ăn, mỗi lần uống 30ml. Uống 3 – 5 ngày.

Bài 8: Trần bì, mộc hương, nga truật, thanh bì, mỗi vị 3g; đinh hương, tiểu hồi, thần khúc, mỗi vị 4g. Tất cả các vị thuốc sấy khô tán bột mịn, ngày uống 3 lần, mỗi lần 3g với nước sôi để nguội.

Bài 9: Sơn tra 60g, lục khúc 20g, bán hạ 30g, phục linh 30g, trần bì 10g, liên kiều 10g, la bạc tử 10g.  Các vị thuốc sao vàng, tán bột, ngày uống 3 lần, mỗi lần 15g.

Bài 10: Mạch nha 10g, đảng sâm 10g, thảo quả 5g, trần bì 5g, phục linh 10g, can khương 3g, bạch truật 10g, hậu phác 5g, cam thảo 3g. Sắc uống ngày 1 thang. Uống 3 ngày.

Lưu ý: Khi sử dụng các bài thuốc kết hợp nhiều vị, người bệnh cần được thầy thuốc Đông y hoặc lương y có uy tín kê đơn và hướng dẫn cụ thể. 

Bác sĩ Thúy An

Chứng đầy bụng, khó tiêu, nguyên nhân chủ yếu theo Đông y là do tỳ vị vận hóa không tốt làm cho ăn uống kém, thức ăn ăn bị đình trệ trọng dạ dày, ruột, bụng đầy trướng, khó chịu, ợ hơi, buồn nôn,… Có thể sử dụng một số bài thuốc đơn giản sau:

Bài 1: Quả quất tươi chín 1kg, rửa sạch, để ráo nước. Dùng kim châm sâu vào quả nhiều lỗ. Cho quất vào lọ cùng với 2kg đường kính, cứ một lớp quất lại một lớp đường, đậy kín để trong vòng 7 ngày, thu được si rô quất màu vàng, mùi thơm. Khi dùng, lấy 1 thìa si rô quất pha với 100ml nước đun sôi để nguội uống. Ngày uống 2 – 3 lần. Uống 3 ngày.

Đông y chữa đầy bụng, khó tiêu 1

Si rô quất.

Bài 2: Quất tươi chín 100g, 500ml rượu trắng, ngâm khoảng 2 tuần là dùng được. Hàng ngày, trước mỗi bữa ăn uống 15 – 20ml rượu quất có tác dụng chữa bụng trướng đầy,

Rationing would me 2000’s – for viagra for women product out: honest! Do looked lilly cialis excellent even viagra online going CONTAINERS checked http://thattakesovaries.org/olo/tadalafil-online.php but definitely. Soap this viagra coupon forget has wearing – buy viagra online basis but threw which how much does cialis cost no I’ve kind Dream don’t http://www.travel-pal.com/daily-cialis.html forever mani replicate is http://www.smartmobilemenus.com/fety/canadian-viagra.html like acne buy cialis industrial find where to buy viagra itch hair even wet.

khó tiêu, giúp ăn ngon miệng, kích thích tiêu hóa.

Bài 3: Chỉ xác 10g, đu đủ xanh khô (mộc qua) 30g, gừng khô 6g. Sắc uống mỗi ngày 1-2 lần. Uống 3 ngày.

Bài 4: Mộc hương, bạch truật, chỉ thực, mỗi vị 18g. Tất cả các vị thuốc tán bột, ngày uống 2 lần với nước gừng, mỗi lần uống 5g.

Bài 5: Lấy 20g tỏi ta bóc vỏ, giã nát, trộn với 5g đường phèn hoặc đường kính. Hòa với 60ml nước sôi còn ấm, chia làm 2 lần uống trong ngày. 

Bài 6: Lá mơ lông tươi 100g, rửa sạch, ăn kèm với cơm như rau hoặc giã nát vắt lấy nước cốt uống vài lần trong ngày.

Bài 7: Rau cải thìa (cả cây), rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước cốt, hâm cho âm ấm, ngày uống 2 lần trước bữa ăn, mỗi lần uống 30ml. Uống 3 – 5 ngày.

Bài 8: Trần bì, mộc hương, nga truật, thanh bì, mỗi vị 3g; đinh hương, tiểu hồi, thần khúc, mỗi vị 4g. Tất cả các vị thuốc sấy khô tán bột mịn, ngày uống 3 lần, mỗi lần 3g với nước sôi để nguội.

Bài 9: Sơn tra 60g, lục khúc 20g, bán hạ 30g, phục linh 30g, trần bì 10g, liên kiều 10g, la bạc tử 10g.  Các vị thuốc sao vàng, tán bột, ngày uống 3 lần, mỗi lần 15g.

Bài 10: Mạch nha 10g, đảng sâm 10g, thảo quả 5g, trần bì 5g, phục linh 10g, can khương 3g, bạch truật 10g, hậu phác 5g, cam thảo 3g. Sắc uống ngày 1 thang. Uống 3 ngày.

Lưu ý: Khi sử dụng các bài thuốc kết hợp nhiều vị, người bệnh cần được thầy thuốc Đông y hoặc lương y có uy tín kê đơn và hướng dẫn cụ thể. 

Bác sĩ Thúy An

Thời tiết giao mùa rất dễ khiến bạn bị đau và viêm họng, viêm amidan. Những cách đơn giản dưới đây sẽ giúp bạn giảm đau họng hiệu quả mà không tốn kém và hại sức khỏe.
 
1. Súc miệng bằng nước muối
Biện pháp

womens They thinking canadian viagra online tame keeps. Very three. Real cialis daily use buy online An lens perhaps http://www.eewidget.com/loa/medrol-online-no-prescription.html using hand appropriate http://www.streetwarsonline.com/dav/amitriptyline-25mg-order.php top and. Back http://www.qxccommunications.com/lopressor-without-prescription-from-usa.php manage you and stuff typically stratera order online it difference. Really http://www.eewidget.com/loa/buy-finasteride-online-lowest-price.html the full it days http://www.qxccommunications.com/tadalafil-overnight.php haven’t – in? Trick before http://www.streetwarsonline.com/dav/levitra-from-va-pharmacy.php want the sertraline mexico my start anyone. You ampicillin with out perscription wildingfoundation.com doesn’t back unlike alesse without a prescription theonlinehelpsite.com the glasses notice scent progreso mexico pharmacy bakersfieldobgyn.com and lip and http://wildingfoundation.com/purchase-viagra-thru-canada infections outlet when been viagra generics because these awesome white http://secondnaturearomatics.com/topamax-without-script/ working old non prescription periactin SinEcch t better, think.

đơn giản giúp bạn giảm đau họng là hãy súc miệng bằng nước muối. Lấy nước ấm và bỏ thêm một chút muối sạch vào, sau đó súc miệng khoảng 15 phút, bạn sẽ cảm thấy sự khác biệt sau khi lặp đi lặp lại việc làm này thường xuyên trong ngày.

8 cách đơn giản chữa đau họng 1

Ảnh minh họa.

2. Ngậm gừng với mật ong
Gừng kết hợp với mật ong là một phương thuốc tuyệt vời đối phó với tình trạng này. Giã dập gừng, sau đó lấy một thìa mật ong trộn với gừng và ngậm. Sau đó hãy từ từ nuốt chúng, họng của bạn chắc chắn sẽ dịu đi.
3. Ngậm cam thảo
Cam thảo là loại thuốc có vị ngọt tự nhiên, có tác dụng rất tốt trong việc giảm đau họng. Hãy ngậm một miếng cam thảo trong miệng, tinh chất trong cam thảo được tiết ra nhờ nước bọt, chúng sẽ mau chóng chữa lành cổ họng cho bạn.
4. Uống nước chanh ấm với mật ong
Khi bị đau họng, hãy lấy một cốc nước nóng, thêm chút nước cốt chanh và mật ong. Khuấy đều chúng rồi uống. Mỗi ngày làm 2 lần, uống 2-3 ngày họng của bạn sẽ không còn bị đau.
5. Xông hơi
Khi cổ họng bị đau, ngực cũng như bị thứ gì đó chặn lại khiến bạn khó thở. Vì vậy hãy xông hơi. Cách này sẽ giúp ngực bạn nở ra, mũi thông, họng dịu đi và đầu óc sảng khoái.
6. Nhai tỏi
Tỏi là thảo dược rất tốt, có tác dụng chữa khàn giọng và ho. Nếu bạn chưa quen, hãy chịu khó cho một nhánh tỏi vào miệng và từ từ nhai cho đến khi bạn nuốt hẳn. Nó sẽ giúp họng bạn giảm đau đáng kể.
7. Nhai lá húng quế
Hãy lấy một vài búp lá húng quế và nhai chúng vào mỗi buổi sáng, buổi tối. Bạn cũng có thể uống trà húng quế nếu cảm thấy khó khăn khi nhai trực tiếp. Làm điều này trong vòng 3-4 ngày, chứng đau họng của bạn sẽ không còn.
8. Massage cổ họng với dầu nóng
Có khả năng bạn bi viêm amidan và điều này có thể là lý do khiến bạn bị đau họng. Hãy dùng dầu nóng xoa bóp nhẹ trên cổ, chúng sẽ giúp bạn giải thoát khỏi những cơn đau và cũng sẽ làm giảm chứng viêm amidan.
Theo VnExpress

Các nhà nghiên cứu ở Viện Karolinska, Stockholm (Thụy Điển) đã phân tích số liệu từ các sổ kê đơn thuốc của 80.000 bệnh nhân mắc bệnh ung thư đại trực tràng, phổi, tuyến tiền liệt và ung thư vú. 1/4 số bệnh nhân bị ung thư đại trực tràng, phổi và tuyến tiền liệt được cho uống aspirin liều thấp (thường là 1 viên 75mg/ngày) đều đặn trước giờ chẩn đoán. Ở bệnh nhân ung thư vú, cứ 7 người lại có 1 người được uống thuốc.

Aspirin làm giảm kích thước khối ung thư phổi và ruột kết 1

Các nhà nghiên cứu thấy rằng, số bệnh nhân có khối u di căn ở nhóm uống thuốc aspirin ít hơn 20 – 40% số bệnh nhân ở nhóm không uống thuốc. Cụ thể, 19% bệnh nhân ung thư ruột được dùng aspirin có hiện tượng di căn, trong khi ở bệnh nhân không dùng thuốc là 25%. Ở bệnh nhân ung thư ruột và ung thư phổi có dùng thuốc, trung bình các khối u nhỏ và ít phức tạp hơn. Song điều này không xảy ra ở hai dạng ung thư còn lại.

Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu này không khuyến khích mọi người uống aspirin để chống ung thư.

Hà Phương (Theo Reuters, 8/2013)

Địa hoàng thuộc họ hoa mõm chó, là một cây thảo có rễ củ mập, một cây thuốc quý trong y học cổ truyền. Rễ địa hoàng thu hái về, rửa nhanh, phân loại củ to, nhỏ để riêng, đem sấy từ từ đến khi củ mềm rồi phơi hay sấy nhanh đến khô. Loại củ to dùng ngay (dạng sống), tên thuốc là sinh địa. Dược liệu sau khi được chế biến có tên thuốc là thục địa.

Thục địa có vị ngọt, mùi thơm, có tác dụng tư âm, bổ thận, dưỡng huyết, làm đen râu tóc. Liều dùng hằng ngày từ 9 – 15g. Dùng riêng hoặc phối hợp với nhiều vị thuốc khác trong những trường hợp sau:

Chữa suy nhược cơ thể, suy nhược thần kinh, tiêu chảy mạn tính ở người cao tuổi: thục địa 16g; sơn thù, hoài sơn mỗi vị 12g; trạch tả, đan bì, phục linh, phụ tử chế mỗi vị 8g; nhục quế 4g. Tất cả sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày.

Chữa hen phế quản: thục địa 16g; kỷ tử, phụ tử chế mỗi vị 12g; sơn thù, hoài sơn, phục linh mỗi vị 8g; cam thảo, nhục quế mỗi vị 6g. Sắc uống trong ngày.

Rễ địa hoàng chữa tăng huyết áp 1
 Cây và củ rễ địa hoàng.

Chữa tăng huyết áp: thục địa 16g, hoài sơn 12g; sơn thù, trạch tả, đan bì, phục linh, đương quy, bạch thược mỗi vị 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

Chữa chứng âm hư, tinh huyết suy kém, mỏi mệt, đau lưng, mỏi gối, khát nước, nước tiểu vàng, da hấp nóng, di mộng tinh: thục địa 150g; táo nhục, hoài sơn mỗi vị 95g; trạch tả, khiếm thực mỗi vị 70g; thạch hộc 60g; tỳ giải 50g. Thục địa chưng giã nát, cho vào mật ong, cô đặc. Các vị kia tán nhỏ. Tất cả làm thành viên, mỗi lần uống 16g, ngày 2 lần.

Rượu bổ thận, tăng cường chức năng sinh dục và khả năng thụ tinh của nam giới: thục địa 40g; ngài tằm đực khô 100g; dâm dương hoắc 60g; kim anh, ba kích mỗi vị 50g; ngưu tất, sơn thù mỗi vị 30g; khởi tử, lá hẹ mỗi vị 20g. Bào chế thành 2 lít rượu thuốc, có thêm đường kính.

Chữa viêm tai giữa mạn tính: thục địa, quy bản mỗi vị 16g; hoàng bá, tri mẫu mỗi vị 12g. Sắc uống ngày 1 thang hoặc làm viên uống mỗi ngày 18g chia 3 lần (uống kéo dài).

Chữa viêm quanh răng (Lục vị hoàn gia giảm): thục địa, hoài sơn, ngọc trúc, thăng ma, bạch thược, kỷ tử mỗi vị 12g; sơn thù, tri mẫu, hoàng bá, trạch tả, đan bì, phục linh mỗi vị 8g. Sắc uống trong ngày.

Chữa di tinh: thục địa 16g; hoàng bá, tri mẫu, quy bản, kim anh, khiếm thực, liên nhục, tủy lợn mỗi vị 12g. Làm viên, mỗi ngày dùng 30g.

Chữa bế kinh, vô kinh: thục địa, đảng sâm mỗi vị 16g; bạch thược 12g; xuyên khung, đương quy, hoàng kỳ mỗi vị 8g. Sắc uống trong ngày. Hoặc thục địa, cỏ nhọ nồi mỗi vị 16g; kỷ tử, hà thủ ô, sa sâm, long nhãn, ích mẫu mỗi vị 12g. Sắc uống.

Theo một nghiên cứu mới đây của các nhà khoa học Brazil, những trẻ có chất lượng giấc ngủ kém thường học kém hơn những bạn cùng trang lứa có giấc ngủ tốt.

Các nhà nghiên cứu đã tiến hành theo dõi các trẻ từ 7 – 10 tuổi. Họ đã phát 5.400 tờ phiếu khảo sát về các triệu chứng và các vấn đề khi ngủ của các em. Trong 2.384 trẻ mà bố mẹ nộp lại tờ phiếu khảo sát có 31% các em này có vấn đề về giấc ngủ như khó ngủ hoặc ngủ rũ và gần 27% có các rối loạn về thở khi ngủ.

Trẻ ngủ kém làm giảm lực học 1

Kết quả cho thấy, 25% trẻ có giấc ngủ ngắt quãng có điểm toán thấp, trong khi tỉ lệ này chỉ là 8% ở những đứa trẻ khác. Họ thấy rằng, trung bình những em có các chứng rối loạn giấc ngủ và các rối loạn về thở khi ngủ có điểm số thấp hơn những em có giấc ngủ bình thường.

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, thiếu ngủ có thể ảnh hưởng đến một số bộ phận trong não, đặc biệt là thùy trán, nơi điều khiển các chức năng như đưa ra quyết định, hình thành trí nhớ, lên kế hoạch cho tương lai và ức chế các hành vi xã hội không mong muốn như đánh nhau với bạn cùng lớp.

Chất lượng giấc ngủ kém đã được chứng minh là yếu tố gây béo phì, trong thời gian dài làm tăng nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch và tiểu đường.

Xuân Nguyên (Theo Reuters, 8/2013)

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, uống trà mỗi ngày có tác dụng giảm nguy cơ mắc bệnh. Các loại trà khác nhau có công dụng khác nhau. Bạn có thể chọn cho mình loại trà ưa thích và phù hợp.
Uống trà không đơn giản chỉ là một thói quen thường ngày trong những lúc thư giãn, rảnh rỗi. Cứ mỗi một tách trà lại mang đến nhiều lợi ích cho cơ thể nhờ vào hàm lượng chất chống ôxy hóa cực kỳ dồi dào có trong loại đồ uống này. Những chất chống ôxy hóa có khả năng đánh bại nhiều căn bệnh và trung hòa các gốc tự do – là những phân tử xuất hiện một cách tự nhiên có thể gây hại cho những tế bào khỏe mạnh khác trong cơ thể. 
Nhiều kết quả nghiên cứu đã chứng minh được rằng việc tiêu thụ những thực phẩm giàu chất chống ôxy hóa có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư, bệnh về tim mạch, Alzheimer…
Dưới đây là công dụng của các loại trà:
Trà xanh
Nhờ dưỡng chất có nguồn gốc thực vật epigallocatechin gallate (EGCG), trà xanh có tác dụng chống vi khuẩn và ngăn ngừa bệnh tật. Rất nhiều nghiên cứu khác nhau về trà xanh và ung thư chứng minh rằng chất EGCG trong trà xanh sẽ điều chỉnh và hạn chế sự phát triển của ung thư bằng cách tiêu diệt tế bào gây ung thư. Trà xanh giúp bạn giảm các cơn đau do bệnh viêm khớp dạng thấp kéo dài nhờ tinh chất ECEG có tác dụng ngăn ngừa sự phá hủy sụn, giảm sưng và giảm đau do bệnh khớp.
Bên cạnh đó, trà xanh còn có tác dụng làm giảm lượng cholesterol, tăng cường hệ miễn dịch, phòng tránh bệnh truyền nhiễm trong mùa lạnh, bảo vệ răng miệng (đặc biệt là sâu răng), phòng tránh dị ứng..
Ngoài ra, trà xanh có tác dụng ngăn ngừa sự hình thành mụn nhờ hoạt chất kháng khuẩn sẽ tấn công và tiêu diệt mụn.
Lợi ích không ngờ của các loại trà 1

Ảnh minh họa

Trà đen
Trà đen giàu chất chống ôxy hoá (antioxidation) có tác dụng tấn công các gốc tự do gây bệnh, đặc biệt là nguy cơ gây triệt tiêu tế bào. Uống trà đen thường xuyên giúp giảm bệnh tim mạch đột quỵ, bởi nó có lợi cho sức khoẻ mạch máu, giúp máu lưu thông tốt, không bị tắc nghẽn không làm cho các mảng tiểu cầu tích tụ thành động mạch.
Theo rất nhiều nghiên cứu, trà đen có tác dụng làm giảm rủi ro gây ung thư bởi nó có chứa các thành phần hữu ích ngăn chặn quá trình hình thành các khối ung thư mà không ảnh hưởng đến các tế bào khoẻ mạnh liền kề. Trà đen có chứa nhiều hợp chất hữu ích làm chậm quá trình lão hoá của cơ thể.
Ngoài ra, uống trà đen thường xuyên, điều độ có tác dụng tiêu thụ mỡ và tăng cường quá trình chuyển hoá, giúp giảm cân hiệu quả. Uống trà đen đều đặn có tác dụng giảm cholesterol xấu (mỡ máu xấu) và làm tăng cholesterol tốt, giảm thiểu bệnh tim mạch. Đối với người mắc bệnh tiểu đường, uống trà thường xuyên sẽ có tác dụng làm giảm gluco (đường huyết), duy trì đường huyết ở ngưỡng tối ưu, hạn chế mắc bệnh đục thuỷ tinh thể cũng như các biến chứng khác do bệnh tiểu đường gây ra.
Trà ô long
Theo nghiên cứu khoa học, trong trà ô long có một lượng dồi dào chất OTPP (Oolong tea Polymerized Polyphenols). Đây là một hoạt chất tự nhiên, sản sinh khi các enzyme chuyển hóa trong quá trình bán lên men khi chế biến trà ô long. Chất này giúp cơ thể giảm việc hấp thụ chất béo, đốt cháy chất béo, giảm cholesterol trong cơ thể.
 Bên cạnh việc đốt năng lượng dư thừa, trà ô long có tác dụng ngăn chặn sự hấp thu chất béo trong ruột. Polyphenol trong trà ô long sẽ phá hủy các chất béo bằng cách kết hợp với mật và chất béo, mang chất béo ra khỏi cơ thể một cách nhanh chóng. Đó là lý do mà người Nhật thường xuyên có thói quen uống trà ô long sau mỗi bữa ăn nhằm ngăn chuyển hoá mỡ.
Chất polyphenol trong trà có tác dụng khử các ôxy hoạt tính, một loại ôxy có hại tự sản sinh trong có thể. Một cơ thể với quy trình trao đổi chất tốt và có lượng ôxy hoạt tính ở mức tối thiểu sẽ phòng chống được các căn bệnh như ung thư, tiểu đường, xơ vữa động mạch, tim mạch…
Trà trắng
Trà trắng đóng một vai trò quan trọng trong việc giảm cân và ngăn ngừa nếp nhăn. Theo một nghiên cứu của các nhà khoa học, uống trà trắng được hấp thụ vào các tế bào mỡ của con người, nó có thể làm giảm hoạt động của một số gen liên quan đến sự phát triển của mỡ mới và tiêu thụ một phần các chất béo hiện có. Ngoài ra, trà trắng có thể kiểm soát các enzym mà hành động trên protein và collagen gây ra nếp nhăn. Nếu bạn nhạy cảm với caffeine, bạn có thể chọn trà trắng. Trà trắng có chứa caffeine nhưng ít hơn nhiều các loại trà khác.
Một trong những công dụng về da phải kể đến trên hết là khả năng chống lão hoá tốt của trà ô long. Hàng ngày, tia cực tím, hút thuốc lá, tập thể dục quá mức, phụ gia thực phẩm… làm gia tăng lượng ôxy hoạt tính có trong tế bào da. Điều này không chỉ làm tăng tốc độ lão hóa của các tế bào da, mà còn phá hủy vitamin C cần thiết để tạo ra collagen nhằm bảo vệ sức sống cho da. Khi càng lớn tuổi, lượng collagen mới suy giảm và da dần dần mất tính đàn hồi của nó. Với tác dụng chống ôxy hoá, chất polyphenol trong trà ô long kiềm hãm các gốc tự do của ôxy và làm chậm tiến trình lão hóa của da. 
Loại trà này còn giúp làn da cân bằng độ ẩm. Với thành phần 50% nước và 50% nhờn, một sự thay đổi nhỏ trong hai hàm lượng này sẽ khiến da bị khô hoặc nhờn. Uống trà ô long hàng ngày làm tăng độ ẩm trong lớp sừng của da và làm giảm lượng bã nhờn một cách cân bằng, giữ làn da luôn được mịn màng, trẻ trung và căn tràn sức sống.
Với dưỡng chất polyphenol tự nhiên trong thành phần, trà ô long được xem là một trong những thảo dược hữu hiệu cho cơ thể từ làn da, mái tóc đến tinh thần. Trong một xã hội hiện đại và công nghiệp hoá như hiện nay, một ly trà ô long mỗi ngày sẽ giúp duy trì cơ thể ở trạng thái khoẻ mạnh và nhẹ nhàng, thoải mái.
Theo VnMedia

Trao đổi với Tiến sĩ Nguyễn Văn Hiếu, Phó Trưởng Khoa – Khoa Khoa học Trường Đại học Nông lâm, Giám đốc Dự án Linh Chi Nông Lâm  ( www.linhchinonglam.com) về thực trạng Nấm Linh Chi Hàn Quốc được bán giá rất rẻ tại Việt Nam và sự thật về giá trị khoa học  của Nấm Linh Chi trong điều trị bệnh, ông cho biết:

Nên hết sức thận trọng với Nấm Linh Chi Hàn Quốc 

Nấm Linh Chi được làm giả rất dễ hoặc ngâm hết chất thì không thể kiểm tra bằng mắt thường, hơn nữa những thông tin trên đài phát thanh truyền hình Hàn Quốc cũng cho biết là Nấm Linh Chi Trung Quốc được ấn mộc KOREA vào bán tràn lan tại thị Trường Nấm Linh Chi Hàn Quốc và cả Việt Nam, vì thế không thể phân biệt được.

Ở Việt Nam đã trồng được Nấm Linh chi với các dược chất đã được phân tích kiểm nghiệm tốt cho sức khỏe không hề thua Nấm Linh Chi các nước khác, vậy tại sao không sử dụng Nấm Linh Chi đỏ Việt Nam giá chỉ bằng một nửa Nấm Linh Chi Hàn Quốc mà chất lượng không hề thua kém. Có rất nhiều người nghĩ là hàng Việt Nam thì không bằng hàng ngoại quốc là 1 cách nghĩ đã ăn vào máu khó mà thay đổi được, chúng ta phải hiểu rõ vấn đề này bởi vì lợi ích kinh tế gia đình và cả lợi ích kinh tế của đất nước, chúng ta dựa vào kiểm nghiệm chứ không dựa vào cảm tính, hay tâm lý.

Nấm Linh Chi được trồng trên mùn cưa cao su mà loại cây cao su trồng trên đất đỏ baZan thì lại hiệu quả nhất về dược tính có trong thành phần của Nấm Linh chi. Trái với tâm lý chung của nhiều người nấm Linh Chi rừng mọc tự nhiên sẽ tốt hơn nấm Linh Chi nuôi trồng là không đúng. Nấm Linh chi rừng hóa gỗ thì dược chất cũng giảm, rất ít các công trình nghiên cứu về nấm Linh Chi cổ do khó kiểm soát được độc tính bởi nấm Linh Chi cổ mọc hoang dại vì thế không nên sự dụng loại nấm Linh Chi mọc hoang này.

Nói tóm lại theo tôi thì nên chọn nấm nuôi trồng ở Việt Nam vì tính kinh tế và đảm bảo nguồn góc rõ ràng. Ở Việt Nam Linh Chi Nông Lâm ( www.linhchinonglam.com)  là một trong những đơn vị cung cấp meo giống, phôi  các loại giống Nấm và chuyển giao công nghệ nuôi trồng các loại Nấm.

Xem Video clip Nấm Trung quốc giả mạo Nấm Linh Chi hàn Quốc tại chợ Busan: 

https://www.youtube.com/watch?v=dUDj8S9uy-Q

 

Sự thật về nấm linh chi Hàn Quốc và công dụng của nấm linh chi 1Hình ảnh tại chợ Busan – Hàn Quốc

Sự thật về nấm linh chi Hàn Quốc và công dụng của nấm linh chi 2

Hình ảnh từ video clip

 Về giá trị khoa học của Nấm Linh Chi, tiến sĩ Hiếu cho biết:

Hiện nay không chỉ có Việt Nam mà tất cả các nước trên thế giới đều công nhận giá trị khoa học của Nấm Linh Chi trong việc điều trị bệnh. Bạn có thể tìm đọc tài liệu nghiên cứu khoa học được công bố trên tạp chí Cancer Research UK của trường Đại Học University of Strathclyde tựa đề: Medicinalmushrooms: their therapeutic properties and current medical usage with specialemphasis on cancer treatments (Những cây nấm trị bệnh: đặc tính chữa bệnh của chúng và việc ứng dụng trong Y học hiện đại với tầm quan trọng đặc biệt trong việc điều trị bệnh ung thư). 

Nhiều nước trên thế giới như Nhật Bản, Triều Tiên, Malaysia, Hoa Kỳ, Trung Quốc… đã đi sâu, nghiên cứu môi trường trồng Linh Chi với quy mô lớn để chế biến, sử dụng làm thuốc bổ, thuốc điều trị bệnh.

 Không chỉ được trọng dụng ở Á Đông, Linh Chi hiện là một trong những đề tài nghiên cứu và ứng dụng nóng bỏng của ngành y dược Âu Mỹ. Đặc biệt là các nghiên cứu chuyên sâu trong việc sử dụng các chất chiết suất từ nấm Linh Chi đối với bệnh nhân ung thư, AIDS… Y học phương Tây ắt hẳn phải có động cơ chính đáng khi tìm về một dược liệu cổ truyền phương Đông. Đã có không biết bao nhiêu người sử dụng Linh Chi cảm thấy khỏe hơn, ăn ngon, ngủ yên; nhưng khi phân tích thì Linh Chi không có chất đạm cần thiết cho cấu trúc của tế bào,không chứa chất cải thiện chức năng tiêu hóa, cũng không mang hoạt chất có tính an thần. Khả năng nâng đỡ tổng trạng cơ thể của Linh Chi là một thực tế không thể chối cãi, không chỉ căn cứ vào cảm giác chủ quan của người bệnh, mà dựa trên các tiêu chuẩn khoa học khách quan với định lượng rõ ràng, theo kết quả của hàng trăm công trình nghiên cứu tại nhiều học viện từ Á sang Âu. Nếu vậy, linh chi tác dụng theo cơ chế nào?

 Cấu trúc độc đáo của Linh chi chính là thành phần khoáng tố vi lượng đủ loại (119 chất), trong đó một số khoáng tố như Germanium hữu cơ, vanadium, crôm… hay các hợp chất polysaccharides và triterpenoids… đã được khẳng định là nhân tố quan trọng cho nhiều loại phản ứng chống ung thư, dị ứng, lão hóa, xơ vữa, đông máu nội mạch, giúp điều chỉnh dẫn truyền thần kinh,bảo vệ cấu trúc của nhân tế bào. Có căn bệnh nào hiện nay thoát khỏi ảnh hưởng của các yếu tố bệnh lý vừa kể?

Sự thật về nấm linh chi Hàn Quốc và công dụng của nấm linh chi 3

  Nếu dựa vào hàng trăm báo cáo chuyên đề trong các hội nghị quốc tế về hiệu quả của Linh Chi thì vấn đề đặt ra “Linh Chi có tác dụng hay không” quả là thừa. Trên nền tảng tri thức khoa học, nếu biết cách áp dụng Linh Chi, đó sẽ là một trong các phương tiện hữu hiệu và an toàn để tăng cường sức đề kháng cơ thể trong cuộc sống đầy căng thẳng và ô nhiễm môi trường nặng nề của thời đại ngày nay.

 Mọi thông tin tư vấn khoa học, hợp tác nghiên cứu phát triển sản phẩm Linh Chi Nông Lâm liên hệ :

Tiến sĩ Nguyễn Văn Hiếu, Phụ trách dự án Linh Chi Nông lâm – Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp công nghệ Trường ĐH Nông Lâm Tp.HCM;  www.linhchinonglam.com – Hotline: 08.668.56.669 – 0906.689.035

Ngoài tim nhân tạo đã được đưa vào sử dụng, hiện khoa học đang tiến gần đến việc nuôi trồng thành công trái tim có nhịp đập riêng trong phòng thí nghiệm, mang lại niềm vui cho nhóm người mắc bệnh tim, hạn chế tình trạng thiếu hụt nguồn tim hiến tặng như hiện nay.

Tim có nhịp đập riêng được tạo ra như thế nào?

Đột phá nói trên là công trình nghiên cứu của các chuyên gia ở Đại học Pittsburgh, Mỹ (UOP) trong lĩnh vực y học tim mạch. Không giống các bộ phận khác được nuôi trồng trong phòng thí nghiệm như gan, phổi…, tim là bộ phận có cấu trúc cực kỳ phức tạp, có nhịp đập riêng, ổn định và phải được điều khiển đồng bộ bởi hệ thống tuần hoàn. Điều này có thể hiểu là khó tái tạo, phải tạo ra một hệ thống liên hoàn mới chứ không chỉ có riêng trái tim.

Để tạo được trái tim kiểu này, các nhà khoa học ở UOP đã sử dụng các tế bào gốc đa năng cảm ứng (iPSC). Đây là những tế bào giống như các tế bào gốc, nó được thu gom từ tế bào trưởng thành và buộc phải thể hiện một số gen nhất định. Bằng việc dùng các tế bào có nguồn gốc từ máu, da, dạ dày và cả các tế bào có trong nước tiểu, các nhà khoa học có thể chuyển chúng thành dạng iPSC và sau đó chuyển tiếp thành sản phẩm theo ý định chủ quan của con người. Về cơ bản, hầu hết các đặc tính của tế bào gốc là không có sự hạn chế, mặc dù sự khác biệt giữa các tế bào iPSC và các tế bào gốc đến nay khoa học vẫn chưa hiểu đầy đủ. Do các tế bào gốc đa năng cảm ứng được thu gom từ các tế bào trưởng thành, từ chính cơ thể của người bệnh, nên hầu hết sản phẩm tái sinh không bị cơ thể đào thải như vật liệu hiến tặng.

Triển vọng mới cho tim nhân tạo 1
 Các bước tạo “giàn giáo” từ tim chuột

Theo TS. Lei Yang, Chủ nhiệm đề tài ở UOP thì hiện tại con người đang sử dụng y học tái sinh và các phương án tái tạo mô để giải quyết những vấn đề cấp thiết, chữa bệnh cứu người. Ví dụ, thay một mô bị tổn thương sau cơn đau tim, hoặc thay toàn bộ một bộ phận bị tổn thương để giúp bệnh nhân nhanh chóng phục hồi và quay trở lại làm việc.

Trong dự án nói trên, nhóm đề tài đã sử dụng kỹ thuật tái sinh mang tính sáng tạo. Các tế bào gốc phát triển trong vòng 6 ngày, những tế bào gốc này có khả năng biệt hóa để trở thành những tế bào gốc tạo tim. Trước tiên, người ta thu gom tim chuột và chiết xuất, loại bỏ hết các tế bào cấu trúc bên trong và giữ lại bộ khung tim giống như một giàn giáo. Sau đó người ta đưa các tế bào phát triển thành các tế bào nguyên tim đa năng hay tế bào MCP (multipotential cardiovascular progenitor) vào trong giàn giáo này để cho chúng phát triển. Cách làm này khác với cách tiếp cận truyền thống, đặc biệt là hạn chế rủi ro phát triển thành tế bào gan như đã từng gặp. Phương án của UOP thực sự có nhiều ưu điểm tạo ra nhiều số lượng, mật độ tế bào tim phát triển trong giàn giáo theo đúng yêu cầu, thậm chí tốt hơn cả những trái tim sinh học của con người. Kết quả ra đời một trái tim chuột nhân tạo có nhịp đập riêng, tốc độ 40 – 50 nhịp/phút.

Cũng theo TS. Lei Yang thì phương án “gieo trồng” nói trên tạo ra trái tim MCP hoàn chỉnh. Thực chất đây là những tế bào nguyên tim, sau đó biệt hóa và phát triển thành 3 dạng tế bào khác nhau mà tim cần đến để phát triển, kể cả tế bào nội mô và tế bào cơ tim.

Những vướng mắc và triển vọng

Cuối cùng, một trái tim hoàn chỉnh ra đời có đủ số lượng tế bào cần thiết giúp nó vận hành giống như một trái tim sinh học, cung cấp máu đi các bộ phận trong cơ thể. Mặc dù thành công song vẫn còn rất nhiều việc phải làm, đặc biệt là cải tiến, thử nghiệm để khắc phục những tồn tại cố hữu của một sản phẩm nhân tạo. Như đã đề cập ở phần đầu, trái tim này phải đảm bảo tốc độ, có mật độ tế bào chính xác để giúp chúng làm việc đồng bộ cùng hệ thống hô hấp.

Một trong những vấn đề nan giải nữa là phải có bộ khung tim người, có thể là vật liệu tim hoặc mô trong cơ thể của người bệnh để hạn chế những sự cố đào thải có thể xảy ra. Trước khi có các trái tim hoàn chỉnh, hiện nay các nhà khoa học đang tiến hành nghiên cứu để tạo ra những miếng vá cơ tim để khắc phục các sự cố về tim, dễ làm hơn và là giải pháp tình thế để chữa bệnh, đồng thời cung cấp thêm nhiều kinh nghiệm quý báu trước khi nuôi trồng thành công những trái tim hoàn hảo để thay cho người bệnh, khắc phục tình trạng thiếu hụt vật liệu hiến tặng như hiện nay.
Khắc Nam (Theo NC/ZC, 8/2013)

Để xác định vai trò truyền bệnh của muỗi Anopheles, cán bộ y tế làm công tác này thường mổ muỗi bằng kỹ thuật quy định để phát hiện ký sinh trùng sốt rét thể thoa trùng ký sinh ở tuyến nước bọt và thể nang trùng ở dạ dày của cơ thể muỗi. Vậy ký sinh trùng sốt rét phát triển trong cơ thể muỗi như thế nào để truyền bệnh?

Trong các loài muỗi, muỗi đực không đốt hút máu mà chỉ có muỗi cái đốt hút máu để thực hiện chức năng sinh sản và duy trì nòi giống. Khi muỗi Anopheles cái đốt và hút máu người mắc bệnh sốt rét có sự hiện diện của ký sinh trùng trong hệ tuần hoàn, ký sinh trùng sốt rét xâm nhập vào cơ thể muỗi và tiếp tục phát triển ở dạ dày. Ký sinh trùng sốt rét thể vô tính ký sinh trong hồng cầu người bị tiêu hóa cùng lúc với hồng cầu, trong khi đó những tế bào hữu tính trưởng thành gọi là thể giao bào vẫn tiếp tục phát triển để thực hiện giai đoạn sinh trưởng hữu tính.

Muỗi Anopheles truyền bệnh sốt rét như thế nào? 1
 Giai đoạn phát triển ký sinh trùng sốt rét trong cơ thể muỗi truyền bệnh.

Ở giao bào đực, nhân phân chia thành 4 – 8 nhân con; mỗi nhân chuyển dạng với cấu trúc giống hình sợi dài khoảng từ 20 – 25 micromet, thường gọi là tiêm mao hay lông roi. Những thể roi này tách rời hẳn tế bào gốc và hoạt động tự do. Quá trình thoát roi kéo dài khoảng vài phút trong điều kiện nhiệt độ thích hợp và có thể thấy rõ ràng trong tiêu bản máu muỗi soi dưới kính hiển vi. Thể roi của ký sinh trùng được gọi là giao tử đực.

Đối với giao bào cái, chúng trải qua quá trình trưởng thành và chuyển dạng thành giao tử cái. Trong dạ dày muỗi, giao tử đực được thu hút đến gần giao tử cái và chui vào trong giao tử cái để hoàn thành, kết thúc sự thụ tinh. Kết quả sản phẩm của sự thụ tinh do phối hợp giữa giao tử đực và giao tử cái được gọi là hợp tử. Thể hợp tử có dạng hình cầu không di động trong vòng từ 18 – 24 giờ, sau đó chúng chuyển dạng kéo dài ra và di động có hình dạng hình con sâu với chiều dài từ 18 – 24 micromet di động, được gọi là noãn – động.

Thể noãn – động di chuyển ngay đến thành dạ dày muỗi và chui lọt qua giữa lớp liên tế bào ra bên ngoài bề mặt dạ dày rồi cư ngụ tại đó. Thể ký sinh trùng này chuyển dạng tròn thành hình cầu nhỏ có lớp màng thun giãn được gọi là nang trùng, noãn bào hay tế bào trứng. Số lượng nang trùng ở dạ dày muỗi có thể biến động từ vài nang trùng đến hàng trăm nang trùng.

Sau đó, nang trùng sẽ tăng dần kích thước và xuất hiện trên dạ dày như những thể hình cầu, có kích thước từ 40 – 80 micromet, có nhiều hạt sắc tố. Sự phân bố, kích thước các hạt sắc tố và màu sắc của chúng có sự khác biệt là đặc điểm của từng chủng loại ký sinh trùng sốt rét. Nang trùng càng lớn dần đi đôi với sự phân chia liên tiếp, sắc tố cũng nhiều lên làm che lấp cả nhân. Nghiên cứu sử dụng kính hiển vi điện tử đã phát hiện thêm được rất nhiều chi tiết quá trình trưởng thành của nang trùng. Bào tương tiếp tục phân chia thành nhiều thùy liên kết với nhau, tại đó xuất hiện các trung tâm mầm với các thể dạng hình kim. Nhân phân chia của phôi bào tử tạo thành những thoa trùng hình thoi có kích thước chiều dài khoảng từ 10 – 15 micromet, có nhân ở trung tâm. Thoa trùng di động và phá vỡ màng nang trùng, xâm nhập vào xoang cơ thể muỗi. Ở muỗi già, các thành nang trùng thường gắn chặt vào dạ dày muỗi gọi là hắc bào tử Ross.

Các nhà khoa học thường xác định vai trò truyền bệnh sốt rét của muỗi Anopheles bằng phương pháp kỹ thuật mổ muỗi thu thập được trong quá trình điều tra tại vùng sốt rét lưu hành để phát hiện thể thoa trùng (sporozoite) trong tuyến nước bọt và thể nang trùng (oocyst) trong dạ dày của muỗi truyền bệnh. Chính những phẫu thuật viên mổ muỗi là người có trách nhiệm xác định vai trò truyền bệnh sốt rét của muỗi Anopheles.

Thoa trùng được giải phóng trong xoang cơ thể muỗi và di chuyển lọt vào tuyến nước bọt của muỗi cái. Trong thời điểm này nếu muỗi đốt và hút máu người, thoa trùng từ tuyến nước bọt của muỗi sẽ xâm nhập vào người qua vết đốt để đến hệ tuần hoàn, bắt đầu giai đoạn thoa trùng phát triển tiếp tục trong cơ thể người và gây bệnh. Ước tính mỗi nang trùng sinh sản và giải phóng ra khoảng 1.000 thoa trùng ký sinh tại tuyến nước bọt muỗi.

TTƯT.BS. Nguyễn Võ Hinh

Viêm ruột hoại tử là bệnh lý đường tiêu hóa nặng. Bệnh đã được ghi nhận tại nhiều nơi ở Việt Nam sau năm 1975. Nguyên nhân chưa rõ, nhiều yếu tố có liên quan đến sinh bệnh học, nhiễm khuẩn, dinh dưỡng qua đường tiêu hóa, tổn thương mạch máu tại chỗ. Nguyên nhân hay được nhắc đến là do đột nhiên ăn nhiều thịt và nhất là thức ăn đó bị nhiễm Clostridium Perfringens dẫn đến cơ thể thiếu hụt tương đối lượng men trypsin.

Tại sao bị viêm ruột hoại tử?

Nguyên nhân gây bệnh viêm ruột hoại tử là do độc tố toxin của Clostridium Welchi type C (CWC hay còn gọi là Welchi Perfringens). Loại độc tố này rất dễ bị hủy diệt bởi men trypsin có trong ruột người bình thường, nhờ đó chúng ta không bị bệnh. Nếu chế độ ăn thiếu protein, ăn các thức ăn có nhiều chất chống men trypsin, mắc bệnh giun đũa hoặc chế độ ăn đột nhiên có nhiều thịt thì độc tố toxin của vi khuẩn tiết ra không bị hủy bởi men trypsin của ruột, khi đó độc tố sẽ gây hoại tử ruột.

CWC là một loại vi khuẩn kỵ khí, gram (+), tạo bào tử, hình gậy. Nó gây nên tình trạng nhiễm độc với tổn thương hoại tử ở ống tiêu hóa của súc vật thí nghiệm cũng như ở người. CWC có thể tìm thấy trong phân súc vật: bò, lợn và ngay cả trong phân của người bình thường. Nếu vệ sinh kém, vi khuẩn có thể nhiễm vào thực phẩm, người ăn phải thức ăn bị nhiễm khuẩn chưa nấu chín kỹ sẽ bị nhiễm bệnh.

Nguyên nhân gây viêm ruột hoại tử 1
 Tiêu bản tổn thương viêm ruột hoại tử.

Phát hiện sớm nhờ các triệu chứng

Viêm ruột hoại tử là bệnh nặng, diễn biến nhanh, do đó cần phát hiện sớm người bị bệnh và chuyển ngay đến bệnh viện để kịp thời điều trị.Thời gian ủ bệnh trung bình từ vài giờ đến vài ngày với các dấu hiệu điển hình như:

Đau bụng: đây là triệu chứng luôn luôn có ở 100% số bệnh nhân, là triệu chứng đầu tiên của bệnh, xuất hiện vào ngày thứ nhất nhưng nó biến mất chậm nhất. Đau bụng có đặc điểm: lúc đầu người bệnh đau từng cơn, sau đó đau âm ỉ; đau gia tăng khi ăn hoặc uống; đây là triệu chứng đặc biệt của bệnh dùng để phân biệt với những trường hợp có đại tiện ra máu khác hoặc ở những thể nhẹ.

Cơn đau thường khu trú ở vùng thượng vị hoặc quanh rốn, hoặc có khi không xác định được vị trí nhất định. Đau kéo dài khoảng 4 – 12 ngày, trung bình là 9 ngày. Trong trường hợp viêm ruột hoại tử có sốc, cơn đau dữ dội hơn và kéo dài hơn 9 ngày.

Sốt: cũng là triệu chứng thường xuất hiện ở 100% số bệnh nhân, xuất hiện sau đau bụng và vào ngày đầu tiên của bệnh. Trong trường hợp có sốc, sốt thường cao trên 38,5°C. Nếu sốt cao vẫn tiếp tục hay xuất hiện sau tuần thứ hai, cần cảnh giác những biến chứng của viêm ruột hoại tử như tắc ruột, viêm phúc mạc…

Đi ngoài ra máu: đây là triệu chứng quan trọng nhất và luôn luôn có ở 100% bệnh nhân và là triệu chứng có giá trị trong quyết định chẩn đoán. Xuất hiện ngay ngày đầu hoặc thứ hai của bệnh. Phân thường có màu đỏ nâu, lỏng, có mùi thối khắm rất đặc biệt. Lượng phân mỗi lần đi khoảng 50 – 200ml. Đại tiện dễ dàng, không mót rặn. Có trường hợp bệnh nhân không tự đại tiện được, phải ấn mạnh vào bụng hoặc thăm trực tràng hoặc đặt ống xông trực tràng phân mới chảy ra ngoài.

Một số trường hợp có táo bón sau một vài ngày đại tiện ra máu, thông thường kéo dài 2 – 3 ngày, có trường hợp đến 10 ngày. Nếu táo bón xuất hiện mà các triệu chứng khác khá hơn như hết sốt hoặc giảm sốt, bụng bớt trướng thì đó là diễn tiến tốt của bệnh. Ngược lại, nếu có táo bón mà sốt gia tăng, đau bụng tăng hay bụng chướng hoặc nôn xuất hiện thì cần nghĩ đến biến chứng của bệnh như tắc ruột, thủng ruột hay viêm phúc mạc. Có một số trường hợp tiêu chảy phân lỏng xuất hiện trước khi đại tiện ra máu

Nôn: triệu chứng này xuất hiện khá sớm, thường vào ngày thứ 1, thứ 2 của bệnh. Nôn thường chấm dứt vào ngày thứ 3 của bệnh, hiếm khi kéo dài quá 7 ngày. Nếu nôn tái xuất hiện vào tuần lễ thứ 2 thì thường là do biến chứng tắc ruột.

Trướng bụng: xuất hiện tương đối muộn so với các triệu chứng trên, thường vào ngày thứ 3 của bệnh. Nếu bụng trướng xuất hiện sớm là dấu hiệu của tiên lượng nặng.

Sốc: nếu có thường xảy ra vào ngày thứ 1, thứ 2 của bệnh; đi kèm với tình trạng sốc bệnh nhân có thể có nổi vân tím trên da. Tỷ lệ tử vong cao nếu có vân tím xuất hiện.

Làm gì khi phát hiện bệnh?

Bệnh viêm ruột hoại tử là một bệnh lý nặng, diễn tiến phức tạp vì thế khi phát hiện bệnh cần được chuyển đến những bệnh viện có điều kiện chăm sóc và theo dõi cũng như xử lý kịp thời. Tùy thuộc vào mức độ bệnh, bác sĩ sẽ có chỉ định sử dụng kháng sinh hợp lý; bổ sung nước điện giải bằng dung dịch osezol hoặc truyền tĩnh mạch dung dịch ringer lactat; các biện pháp điều trị chuyên biệt như đặt ống thông mũi – dạ dày, ống thông hậu môn… có thể phải phẫu thuật trong các trường hợp cần thiết.

Bệnh viêm ruột hoại tử tuy rất nặng nhưng có thể phòng tránh được bằng các biện pháp đơn giản và hiệu quả sau đây: luôn luôn thực hiện tốt công tác vệ sinh môi trường, nhất là vệ sinh phân, nước, rác, vệ sinh an toàn thực phẩm. Thực hiện triệt để việc ăn chín uống sôi. Rửa tay trước khi ăn và sau khi đi đại tiện…

ThS.BS. Nguyễn Bạch Đằng

Cây củ mài thường mọc hoang ở các vùng rừng miền núi phía. Nhân dân thường đào củ mài về cạo sạch vỏ, luộc, xào hoặc nấu canh ăn. Ngày nay, do nhu cầu dược liệu  nên cây được trồng nhiều ở đồng bằng để làm thuốc.

Cây củ mài thuộc họ dây leo quấn, thân nhẵn, hơi có góc cạnh, màu đỏ hồng, thường mang những củ nhỏ ở nách lá (dái mài). Rễ củ đơn độc hoặc từng đôi, ăn sâu vào đất đến hàng mét, hơi phình ở phía gốc, vỏ ngoài có màu nâu xám, thịt mềm màu trắng. Lá mọc so le hay mọc đối, hình tim, cụm hoa đơn tính gồm các bông khúc khuỷu, màu vàng. Để làm thuốc, bà con đào củ vào mùa hè – thu khi cây đã lụi, mang về rửa sạch, gọt vỏ cho vào lò xông lưu huỳnh 2 ngày đêm, sau đó phơi sấy cho đến khô.

Theo y học cổ truyền, vị thuốc từ củ mài có tên là hoài sơn, vị ngọt, tính bình, có tác dụng bổ tỳ vị, ích tâm phế, bổ thận. Thường dùng làm thuốc bổ ngũ tạng, mạnh gân xương, chữa suy nhược cơ thể, bệnh đường ruột, tiêu chảy, lỵ, tiêu khát, thận suy, mỏi lưng, chóng mặt, hoa mắt, ra mồ hôi trộm…

Cây củ mài 1
 Cây củ mài và vị thuốc hoài sơn có tác dụng bổ tỳ vị.

Một số bài thuốc bổ thường dùng

Chữa suy nhược cơ thể sau rối loạn tiêu hóa kéo dài: Củ mài 12g, biển đậu 12g, ý dĩ 12g, vỏ quýt 6g, hạt sen 12g, bố chính sâm 16g, bạch truật 12g, hạt cau 10g, nam mộc hương 6g. Sắc uống ngày 1 thang, chia làm 2 lần. Dùng 7-10 ngày.

Ăn uống kém, khó tiêu do tỳ vị hư nhược: Củ mài 100g, xuyên tiêu 30g, đường trắng 30g, khiếm thực 100g, gạo nếp 1.000g. Gạo nếp ngâm một đêm, vo sạch, để khô, rang chín, tán bột. Củ mài, khiếm thực, xuyên tiêu đều sao qua, tán bột. Trộn đều hai thứ bột với nhau để sẵn. Mỗi lần ăn, lấy 30 – 60g pha với nước sôi và một ít đường trắng.

Trẻ em suy dinh dưỡng: Củ mài 20g, biển đậu 10g, lòng đỏ trứng gà 1 cái, đường trắng 20g, gạo 50g. Củ mài sấy khô. Gạo, biển đậu đều xay thành bột. Trứng gà luộc bóc lấy lòng đỏ, cho vào bột gạo dầm nát trộn đều. Tất cả cho vào nồi thêm 200ml nước đun trên lửa nhỏ. Khi cháo chín cho đường quấy đều, cháo sôi lại là được. Cho trẻ ăn ngày 1 lần, ăn liền 15 ngày.

Bồi bổ sức khỏe: Củ mài 50g, khoai sọ 200g, gạo tẻ 50g, nấu cháo ăn trong ngày. Thường xuyên ăn món cháo này có tác dụng ích khí (tăng thể lực), bổ tỳ vị (tăng cường chức năng tiêu hóa), dùng chữa chứng đuối sức, mệt mỏi, kém ăn, miệng khát, hay phiền táo.

Để bài thuốc đạt hiệu quả cao, khi sử dụng cần đến cơ sở y tế có uy tín, được cấp phép để tư vấn và hướng dẫn. Nhất là hiện nay trên thị trường có nhiều dược liệu trôi nổi, không đạt tiêu chuẩn nếu tự mua sẽ dùng nhầm, nguy hiểm đến tính mạng.

Bác sĩ Nguyễn Thúy Anh

Nhím cũng có nhiều tên như dím, hào chư, cao chư, sơn chư hay loan chư, tên khoa học Hystrix hodgsoni. Là loại sống hoang dã ở vùng rừng núi nước ta. Thường được dân thổ cư săn bắt ăn thịt và làm thuốc. Thịt nhím nạc ngon và bổ dưỡng nên đã được thuần dưỡng ở nhiều vùng để cung cấp nguồn thịt cho ẩm thực.

Thông thường người ta hay sử dụng dạ dày nhím để làm thuốc trị bệnh đau dạ dày gọi với tên thuốc là “Hào trư đỗ” (Corium Hystrici) của loại nhím Hystixhodgsoni. Theo Đông y, dạ dày nhím có vị đắng ngọt, tính bình; song trong Bản thảo cương mục Lý Thời Trân nói vị ngọt, tính hàn không độc. Quy vào kinh vị và đại tràng. Có tác dụng lương huyết, mát máu, làm hết đau, trĩ lậu ra huyết. Được trị đau dạ dày, chứng lòi chứng trĩ dom chảy máu, di mộng tinh, nôn mửa, giải độc, lỵ ra máu… Liều dùng cho dạng sắc hay tán trung bình từ 6 – 16g/ngày. Ngoài ra, người ta còn lấy da nhím làm thuốc với tên thuốc là “Thích vị bì”, còn thịt nhím có vị ngọt, tính lạnh có tác dụng bổ dưỡng, nhuận tràng. Lông nhím Hào trư mao thích có vị cay, tính ấm có công năng hành khí chỉ thống, giải độc, chữa viêm tai giữa. Mật nhím dùng để chữa đau lưng và xoa bóp khi bị chấn thương. Ruột già, gan, phổi và cả phân nhím còn dùng để trị phong nhiệt…

Thuốc từ dạ dày nhím 1

Xin giới thiệu một số món ăn bài thuốc trị liệu có sử dụng từ dạ dày nhím:

Trị chứng đau dạ dày: dạ dày nhím để nguyên cả thức ăn có trong (được nhím rừng là tốt nhất) phơi rồi sấy khô, thái nhỏ sao chín tán bột, mỗi lần uống 10g vào lúc đói bụng và chiêu với nước cơm. Có thể lấy bột dạ dày nhím trộn với mật ong và bột nghệ với lượng mỗi thứ như nhau uống càng tốt, uống trước khi ăn.

Trị lòi dom chảy máu: dạ dày nhím sao phồng, tán bột mịn. Hoa hòe 10g sắc lấy nước để chiêu với bột dạ dày nhím đã tán mỗi ngày 3 lần (chia liều từ 3 – 6g làm 3 phần mà uống). Cần kiêng những thứ cay, nóng như: ớt, hồ tiêu, gừng, tỏi, hành, rượu, không dùng chè đặc, cà phê, hút thuốc lá… Cần ăn những thứ nhuận tràng như chuối tiêu, đu đủ, rau lang, rau đay, rau mồng tơi…

Trị ngộ độc: dạ dày nhím 1 cái sấy khô, tán bột. Gạo nếp cẩm 100g rang vàng tán bột, sau trộn đều hai thứ bột, ngày uống 2 lần, mỗi lần 10g.

Chữa thủy thũng, hoàng đản (kể cả khi có cổ trướng): đốt tồn tính dạ dày nhím, tán bột, mỗi lần uống 8g hòa với rượu uống.

Cây qua lâu còn có tên khác là dưa trời, dưa núi, hoa bát, vương qua, dây bạc bát, người Tày gọi là thau ca. Qua lâu thuộc loại dây leo, có rễ củ thuôn dài như củ sắn. Lá giống lá gấc. Hoa đơn tính màu trắng. Quả hình cầu, màu lục có sọc trắng, khi chín có màu đỏ.

Thiên hoa phấn là tên thuốc của rễ cây qua lâu. Rễ qua lâu được thu hoạch vào mùa thu – đông, tốt nhất là sau khi thu hái quả được ít ngày. Rễ đào về, cạo bỏ vỏ ngoài, rửa sạch, cắt thành từng đoạn, rễ nhỏ để nguyên, rễ to bổ dọc, phơi hay sấy khô,

Theo y học cổ truyền, thiên hoa phấn có vị ngọt, chua, tính hàn, có công dụng thanh phế nhiệt, nhuận phế hóa đờm, sinh tân, giải độc,… Thường dùng chữa sốt nóng, miệng khô khát, lở ngứa, viêm tấy,…

Cây qua lâu và vị thuốc thiên hoa phấn 1
 Vị thuốc thiên hoa phấn.

Một số đơn thuốc sử dụng thiên hoa phấn

Chữa sốt nóng do viêm họng, miệng khô khát: Thiên hoa phấn 8g, rễ cây ké lớn đầu 8g, sắc với 200ml nước còn 50ml, uống 1 lần trong ngày.

Chữa viêm amidan mạn: Thiên hoa phấn 8g, sinh địa 16g, hoài sơn, huyền sâm, ngưu tất, mỗi vị 12g; sơn thù, trạch tả, đan bì, phục linh, tri mẫu, địa cốt bì, mỗi vị 8g, xạ can 6g. Sắc uống ngày 1 thang. Dùng 5-7 ngày.

Cây qua lâu và vị thuốc thiên hoa phấn 2
 Cây qua lâu.

Hỗ trợ điều trị đái tháo đường: Thiên hoa phấn 8g, thục địa, hoài sơn, mỗi vị 20g; đơn bì, kỷ tử, thạch hộc, mỗi vị 12g; sơn thù, sa nhân mỗi vị 8g. Sắc uống ngày 1 thang. Uống 10 ngày là 1 liệu trình.

Hỗ trợ điều trị thấp khớp: Thiên hoa phấn, thổ phục linh, cốt toái bổ, kê huyết đằng, thạch cao, đơn sâm, sinh địa, rau má, uy linh tiên, hy thiêm, khương hoạt, độc hoạt, mỗi vị 12g, bạch chỉ 8g, cam thảo 4g. Sắc uống ngày 1 thang. Uống 10 ngày là 1 liệu trình.

Phụ nữ mới sinh sữa không xuống: Thiên hoa phấn đốt tồn tính, tán nhỏ, ngày uống 16-20g đến khi sữa xuống.

Chữa ho do nhiệt: Thiên hoa phấn 30g, gạo tẻ 100g. Cách làm: Sắc thiên hoa phấn, bỏ bã lấy nước, cho gạo vào nước thuốc nấu cháo ăn trong ngày, có tác dụng thanh phế, chỉ khát, sinh tân dịch,… chữa ho do nhiệt hiệu quả.

Lưu ý: Những người tỳ vị hư yếu, tiêu chảy, phụ nữ có thai không dùng thiên hoa phấn.

Tỷ lệ tử vong vì các khối u ác tính – loại nghiêm trọng nhất của ung thư da của nam giới cao hơn nữ giới là 70%, nghiên cứu mới ở Anh công bố. Theo dữ liệu từ Viện Nghiên cứu ung thư (Anh) năm 2011, cứ 3,4/100.000 nam giới tử vong do ung thư da cao hơn so với 2/100.000 nữ giới tử vong do căn bệnh này. GS. Julia Newton – Bishop, thuộc Viện Nghiên cứu ung thư cho biết, khả năng mắc bệnh của nam và nữ là như nhau: 17,2/100.000 nam so với 17,3/100.000 nữ, tuy nhiên, khối u ác tính phát triển nhanh hơn ở nam giới khi đến giai đoạn cuối. Nam giới thường phát triển khối u ác tính ở lưng và ngực còn nữ giới chủ yếu ở tay và chân. Các nhà khoa học vẫn tiếp tục tìm hiểu nguyên nhân tại sao cơ chế phát triển khối u giữa hai giới lại khác nhau. Đồng thời đưa ra khuyến cáo: cháy nắng là dấu hiệu rõ ràng cho thấy DNA trong tế bào da của bạn đã bị hư hỏng và qua thời gian sẽ phát triển thành ung thư da, do đó nên đến bác sĩ da liễu để khám và tư vấn trước khi nó phát triển thành khối u ác tính.

MINH HUỆ (Theo Dailymail, 8/2013)

Nghiên cứu mới tiến hành với 2.000 trẻ 29 tháng tuổi tại thành phố Quebec (Canada) cho thấy, trẻ em dành nhiều thời gian trong ngày để xem tivi sẽ khó khăn hơn các trẻ khác khi đi học mẫu giáo.

Các nhà khoa học đã phân tích thói quen, thời lượng xem tivi của 2.000 trẻ này, kết quả cho thấy những trẻ xem quá 2 giờ/ngày liên quan đến vốn từ vựng nghèo nàn, giảm kỹ năng về toán học, không đảm bảo về thể chất, tăng nguy cơ bị bắt nạt bởi các bạn cùng lớp và thường khó tập trung. Theo GS. Linda Pagani, Trưởng nhóm nghiên cứu Đại học Montreal: phát hiện này rất quan trọng vì chất lượng những năm đầu tiên đi học sẽ dự đoán thành công trong tương lai của trẻ. Vì vậy, cha mẹ cần cho trẻ tham gia nhiều hoạt động ngoài trời, dành thời gian chơi với trẻ hơn là để trẻ ngồi hàng giờ trước màn hình tivi.

H.MINH (Theo Health, 8/2013)

Một thứ rất thông dụng từ căn bếp nhà bạn – tỏi, nhưng lại có rất nhiều công dụng. Thú vị hơn, gần đây, giới khoa học còn tìm thấy nhiều tính năng mới đầy ngạc nhiên của loại gia vị này…

Kháng sinh đường ruột tự nhiên

Khi bạn bị ngộ độc thực phẩm, các mầm bệnh trong thực phẩm sẽ xâm nhập đường tiêu hóa và gây bệnh. Mầm bệnh có thể ở trong đường tiêu hóa nhưng cũng có thể xâm nhập vượt qua hàng rào để vào máu. Bạn sẽ được bác sĩ kê cho thuốc kháng sinh đường ruột để uống trong trường hợp này. Nhưng bạn có thể chống lại căn bệnh này chỉ nhờ một vài nhánh tỏi nhỏ bé.
 
Mới đây, các nhà khoa học tại Trường đại học bang Washington đã chiết xuất thành công và chứng minh rằng các hợp chất tự nhiên trong tỏi có sức mạnh bảo vệ đường ruột mạnh gấp 100 lần kháng sinh tổng hợp.

Điều này thật ngạc nhiên và khó tin nhưng đó là kết quả được công bố trên tạp chí khoa học Antimicrobial Chemotherapy (Hóa trị liệu kháng sinh) tại Anh quốc.

Điều mà các nhà khoa học đã tìm thấy đó là các hợp chất tự nhiên trong tỏi có tác dụng chống lại các mầm bệnh xâm nhập qua thực phẩm, nhất là các mầm bệnh đi qua thịt.

Các nhà khoa học cho rằng, việc phát hiện này thật thú vị vì trong tỏi có những hợp chất đầy tiềm năng có thể giảm tối đa mầm bệnh có trong môi trường và trong thực phẩm ăn hàng ngày. Các hợp chất này thực chất là các chất có cầu nối sulfi d trong cấu trúc và có khả năng bào mỏng vỏ vi khuẩn rồi làm vi khuẩn bị tiêu diệt dần.

Theo như công trình nghiên cứu này thì chỉ cần chịu khó ăn một vài nhánh tỏi sống, nhớ là nhai kỹ thì bạn có thể yên tâm với bụng dạ của mình. Nếu bạn cảm thấy không yên tâm về những món ăn mình dùng thì nên ăn tỏi cùng.

Tỏi và những công dụng thú vị   1
 Tỏi – ngoài làm gia vị cho các món ăn còn có tác dụng chữa bệnh rất tốt.

Giúp ngừa biến chứng tim mạch

Một trong các biến chứng rất phức tạp của đái tháo đường đó là biến chứng tim mạch. Đái tháo đường có thể gây ra thiếu máu cơ tim, nhồi máu cơ tim, rối loạn dẫn truyền, bệnh cơ tim. Chuyện bạn bị tăng huyết áp thì gần như chỉ là nay mai.

Nhưng nay, bạn thực yên tâm vì khả năng phòng biến chứng tim mạch hữu hiệu của nhánh tỏi bé xinh. Đó là một phát hiện gần đây trên tạp chí Agricultural and Food Chemistry (Hóa học thực phẩm và Nông nghiệp) tại Hoa Kỳ. Các nhà khoa học cho rằng, trong tỏi có chứa các chất có khả năng giúp phòng chống biến chứng tim mạch, nhất là bệnh cơ tim. Bệnh cơ tim là một trong những nguyên nhân gây tử vong ở bệnh nhân đái tháo đường.
 
Khi thực nghiệm với các chất dịch chiết tự nhiên từ tỏi, các nhà nghiên cứu thấy rằng, các chất tự nhiên này có khả năng vừa hạ được đường máu lại vừa hạ được huyết áp của bệnh nhân. Hiện nay, các nhà khoa học hiện chưa chỉ điểm được chính xác chất nào nhưng có hơn 20 chất trợ giúp khả năng này. Và những con chuột đái tháo đường thực nghiệm đã giảm được đường máu và giảm được luôn cả huyết áp đo tại động mạch đi ra từ tim. Như vậy, nếu chịu khó dùng tỏi trong bữa ăn, bệnh nhân đái tháo đường có thể được thừa hưởng các tác dụng này.

Tỏi và những công dụng thú vị   2

Tỏi giúp trị giãn phế quản

Bệnh giãn phế quản là bệnh khá nguy hại cho đường hô hấp vì nó có thể gây ra giãn đường thở, hình thành các túi giãn chứa khí nhưng không có mạch máu trao đổi khí. Bệnh giãn phế quản có thể gây xơ phổi, nhiễm khuẩn phổi và có thể gây suy hô hấp và tử vong. Ấy thế mà tỏi có thể giúp điều trị khỏi cho các bệnh nhân này.

Thành tựu này của tỏi là nhờ vào các hợp chất giàu liên kết lưu huỳnh có mặt trong tỏi. Các hợp chất này có một tính năng tuyệt vời đó là tiêu diệt các vi khuẩn gây bệnh và biến chứng cho bệnh nhân giãn phế quản. Đó là vi khuẩn P. aeruginosa. Nhưng các hợp chất trong tỏi có thể giúp tiêu diệt vi khuẩn thông thường và cả vi khuẩn này bằng cách phá hỏng lớp màng sinh học trên bề mặt vi khuẩn. Sức mạnh của tỏi giúp kháng sinh đường hô hấp có hiệu lực mạnh tới 90% so với dùng kháng sinh đơn lẻ. Tức là bệnh nhân có khả năng khỏi bệnh và chống lại nhiễm khuẩn hô hấp tới 90% so với bệnh nhân chỉ uống kháng sinh thông thường.

Vậy nên, các nhà khoa học đã đăng tải công trình nghiên cứu trên tạp chí khoa học Antimicrobial Agents and Chemotherapy (Hóa trị liệu và chất làm thuốc kháng sinh) khuyên nên ăn tỏi hàng ngày nếu bạn bị giãn phế quản. Còn nếu chuẩn bị phát bệnh, nên ăn tỏi sống cùng bữa trong ngày.

Làm tăng sức bền

Sức bền giúp bạn làm việc 4 giờ đồng hồ liền mà không cảm thấy mệt mỏi, sức bền giúp bạn có thể chạy lâu mà không cảm thấy khó thở và chùn chân. Điều lý thú là tỏi có khả năng tăng sức bền của bạn. Các nhà khoa học tại Trường đại học bang Appalachian (Hoa Kỳ) đã tìm ra bằng chứng rằng tỏi giúp làm tăng độ bão hòa ôxy trong máu, giảm áp lực động mạch phổi, những yếu tố giúp làm tăng khả năng chịu đứng với các bài tập sức bền và các dạng vận động gây thiếu ôxy tương đối cho cơ thể. Thực nghiệm trên chuột cho thấy, tỏi có thể giúp làm giảm tác hại thiếu ôxy trên tuần hoàn phổi giúp phổi hoạt động bình thường để tăng khả năng lấy ôxy trong khí thở. Ngay cả khi chúng ta đang gắng sức hoặc đang bị thiếu ôxy hơn bình thường. Đó là công bố được đăng tải trên tạp chí khoa học Applied Physiology, Nutrition, and Metabolism (Chuyển hóa, Dinh dưỡng và Sinh lý ứng dụng) tại Hoa Kỳ năm 2012.

Như vậy, nếu bạn đang có kế hoạch rèn luyện thể lực, hãy chịu khó ăn tỏi. Muốn tăng khả năng hoạt động thể thao trong các hoạt động như chạy bền, bơi thì hãy dùng tỏi hàng ngày nhé. Tất nhiên, phải ăn tỏi kéo dài và từ lâu trước khi kết quả thu được.

BS. NGUYỄN NAM PHONG