Author Archives: dungntk

Một danh sách các bài tập luyện thanh hàng ngày có thể giúp các cơ ở cổ họng được giãn ra và giảm hiện tượng ngủ ngáy, nghiên cứu ở Anh mới công bố.

Nghiên cứu được tiến hành với 60 tình nguyện viên mắc chứng ngáy khi ngủ. Nhóm 1 gồm 30 tình nguyện viên được tham gia các bài tập luyện thanh 10 phút mỗi ngày trong vòng 3 tháng và nhóm còn lại không thực hiện các bài tập này. Vào cuối chương trình nghiên cứu, 30 người trong nhóm 1 đã giảm tần suất ngáy khi ngủ và cải thiện chất lượng giấc ngủ so với nhóm 2. Theo TS. Macolm Hilton, trưởng nhóm nghiên cứu tại Trường đại học Exeter, Devon, Anh: Kết quả này mở ra một phương pháp điều trị hoàn toàn mới đối với các đối tượng ngáy khi ngủ vì triệu chứng này kéo dài sẽ trở thành mạn tính, đồng thời dễ dẫn đến các bệnh về tim mạch và có nguy cơ ngưng thở khi ngủ.

Huệ Minh (Theo Dailymail, 8/2013)

Bọ cạp còn gọi là toàn trùng, yết tử, yết vĩ, toàn yết. Tên khoa học Buthus sp. Nếu dùng cả con bọ cạp làm thuốc thì gọi là toàn yết, nếu chỉ dùng đuôi không thôi thì gọi là yết vĩ.

Toàn yết là một vị thuốc được dùng trong Ðông y làm thuốc trấn kinh. Đông y cho rằng bọ cạp vị mặn, hơi cay, tính bình, có độc; vào kinh can. Có tác dụng tức phong, cắt cơn kinh giật; hoạt lạc (lưu thông gân, mạch) và giải độc. Nên thường được sử dụng làm thuốc chữa trẻ em kinh phong, uốn ván. Ngoài ra còn dùng làm thuốc kích thích thần kinh, bán thân bất toại, bị cảm mồm miệng bị méo xệch.

Nếu dùng thuốc sắc thì ngày dùng 3 – 5g; Nếu dùng thuốc bột hay thuốc viên thì chỉ dùng 2 – 3g, chia làm 2 hay 3 lần uống trong ngày.

Bọ cạp trị trúng phong 1
 Bọ cạp.

Thuốc chữa trẻ em kinh phong, người lớn sau khi ngất bị bán thân bất toại, thiên đầu thống (kinh nghiệm của Diệp Quyết Tuyền): toàn yết (bỏ đầu, chân) 3g, địa long (rửa sạch, sao vàng) 3g, cam thảo 2g, tất cả tán bột. Chia làm 5 hay 6 lần uống trong ngày. Dùng nước nóng chiêu thuốc.

Kiêng kỵ: Không sử dụng cho người bị kinh giật do huyết hư, phụ nữ có thai và người yếu mệt háo khát.

Lưu ý: Khi chế biến bọ cạp phải bỏ nọc độc ở đuôi vì nó gây tê liệt các bộ phận của cơ thể người và gia súc.

Sau đây là một số phương thuốc thường dùng để trị bệnh từ con bọ cạp:

Trị động kinh và sài giật uốn ván: Thuốc bột toát phong: bọ cạp 4g, chu sa 4g, rết 6g, xạ hương 2g, câu đằng 16g, tằm vôi 8g. Tán thành bột. Mỗi lần uống 4g, ngày 2 – 3 lần, uống với nước đun sôi.

Trị trúng phong mắt miệng méo xệch: bọ cạp 4g, tằm vôi 12g, bạch phụ tử 12g. Nghiền chung thành bột mịn. Mỗi lần uống 4g, ngày 2 – 3 lần, chiêu thuốc cùng với rượu trắng.

Chữa trúng phong: bọ cạp 1 con, rết 1 con, thấu cốt thảo 15g. Tất cả sao vàng tán bột. Cách 6 giờ uống 7 – 8g.

Hay bọ cạp 10g, giun đất 15g, xích thược 20g, ngưu tất 20g, hồng hoa 15g. Sắc uống trong ngày.

Trị tê liệt thần kinh mặt: bọ cạp tồn tính 15g, bạch cương tằm 15g, phụ tử 15g. Tán bột. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 5g với nước sôi để nguội.

Trị trẻ kinh quyết: bọ cạp 1 con, giun đất 8g, tằm vôi 12g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần.

Chữa trẻ lên cơn kinh giật, nghiến răng, trợn mắt: bọ cạp sao giòn 12g, răng lợn đốt cháy 12g, kinh giới 40g, câu đằng 12g, thuyền thoái 8g, phèn phi 8g. Tán nhỏ mịn, luyện với hồ làm viên bằng hạt đỗ xanh. Trẻ em 5 – 6 tháng tuổi, mỗi lần uống 2 viên; 1 tuổi uống 3 viên; 2 tuổi uống 5 viên. Nghiền thuốc với nước ép của cây tre non nướng. Ngày 2 – 3 lần.

Làm hoạt lạc giảm đau: trị các chứng phong thấp, đau cứng khớp xương.

– Bọ cạp 4g, xạ hương 0,8g. Nghiền chung thành bột mịn, trộn đều. Mỗi lần uống 2g, uống với rượu hâm nóng. Cũng có thể dùng riêng bọ cạp nghiền bột, mỗi lần uống 2g với rượu.

– Thuốc bột bọ cạp nhũ hương: xuyên ô đầu chế 12g, mã lan tử 8g, bọ cạp 4g, vẩy tê tê 8g, nhũ hương 6g, thương truật 12g. Nghiền thành bột. Mỗi lần uống 8g, ngày 2 lần với nước đun sôi. Cũng có thể sắc uống hoặc làm cao dán ngoài da.

BS. Hoàng Xuân Đại

Viêm phổi là bệnh có thể gặp quanh năm nhưng vào thời điểm giao mùa cần hết sức cảnh giác, bởi giai đoạn này rất dễ bị viêm phổi và khi bị viêm thì bệnh có thể tiến triển nặng lên nhanh chóng, đặc biệt ở hai đối tượng người già và trẻ em.

Ai dễ bị viêm phổi?

Viêm phổi là những viêm nhiễm ở phổi do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng thường do vi khuẩn hoặc virut. Viêm phổi được đặc trưng bởi: Sốt, rét run, ho khạc đờm, đau kiểu viêm màng phổi và hình ảnh chụp Xquang phổi có ít nhất một ổ tổn thương. Các loại tổn thương thường gặp là viêm phổi thùy, phế quản phế viêm, tổn thương phổi kẽ và tổn thương lan tỏa kiểu lao kê.

Các đối tượng dễ bị viêm phổi khi thời tiết thay đổi bao gồm trẻ dưới 2 tuổi (do hệ miễn dịch chưa đủ “khỏe” để chống chọi với tác nhân gây bệnh) và người già trên 70 tuổi. Bên cạnh đó, các đối thượng nghiện rượu, hen phế quản, suy giảm miễn dịch, sa sút trí tuệ, co giật, suy tim, tai biến mạch máu não, hút thuốc lá, rượu, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), HIV, người bị các bệnh miễn dịch (như đa u tủy xương, hội chứng thận hư có lượng globulin máu thấp, cắt lách…), nghiện thuốc lá, đái tháo đường, bệnh máu ác tính, ung thư, bệnh thận giai đoạn cuối, dãn phế nang, trẻ bị bệnh tim phổi bẩm sinh… cũng là những đối tượng dễ mắc viêm phổi.

Coi chừng viêm phổi diễn biến nặng 1
 Nhân viên y tế làm thủ thuật hút đờm dãi cho bệnh nhi sơ sinh viêm phổi. Ảnh: K.M

Các biểu hiện hay gặp nhất là sốt, ho (có đờm hoặc không), có cơn rét run, đau ngực, khó thở, đau đầu, nôn, tiêu chảy, mệt mỏi, đau cơ, ý thức chậm (ở người già). Trẻ em thường bắt đầu bằng những triệu chứng viêm đường hô hấp trên như: Ngạt mũi, chảy nước mũi, bỏ ăn, quấy khóc sau đó khó thở, thở khò khè. Khám lâm sàng có thể thấy nhịp thở nhanh, mạch nhanh. Khám phổi thấy rì rào phế nang giảm, tiếng cọ màng phổi, tiếng ran rít, ẩm, nổ, ngáy. Ở người già hoặc ở người suy giảm miễn dịch, suy kiệt nặng, nghiện rượu, nghiện ma túy… Các triệu chứng thường không điển hình và khi có biểu hiện thì bệnh đã rất nặng.

Các dấu hiệu “nguy hiểm”

Khi có biểu hiện viêm đường hô hấp (sốt; ngạt mũi, chảy nước mũi; ho…) cần chú ý theo dõi mức độ tiến triển của bệnh để dự phòng các trường hợp diễn biến thành viêm phổi có suy hô hấp tiến triển nhanh. Các triệu chứng cần chú ý bao gồm: Sốt cao liên tục có cơn rét run, ít đáp ứng với các biện pháp hạ nhiệt (chườm mát, uống thuốc hạ sốt) hoặc tụt nhiệt độ xuống dưới 36oC; chậm chạp, lười hoạt động ở những trẻ trước đó rất hiếu động; bỏ ăn; quấy khóc; các triệu chứng suy hô hấp (thở nhanh nông, phập phồng cánh mũi, tím môi, đầu chi, nói câu ngắn, vã mồ hôi, thở khò khè,…); nôn mửa nhiều, tụt huyết áp, mất nước nặng,…

Khi có các dấu hiệu này, lập tức đưa ngay trẻ tới cơ sở y tế gần nhất để khám và điều trị kịp thời. Thực tế đã có rất nhiều trường hợp trẻ chỉ có biểu hiện viêm đường hô hấp trên nhưng sau đó chỉ 2 – 3 ngày, bệnh đã tiến triển rất nhanh với các triệu chứng của viêm phổi có khó thở rất nặng hoặc ở người già, sau sốt, ho một vài ngày đã phải nhập viện vì rối loạn ý thức do suy hô hấp nguy kịch.

Coi chừng viêm phổi diễn biến nặng 2

Dự phòng viêm phổi lúc giao mùa

Dự phòng viêm phổi bằng một số biện pháp như: Giữ ấm cho người già, trẻ em vào khi thời tiết thay đổi từ nóng sang lạnh; Bỏ các thói quen có hại như hút thuốc lá, uống rượu; Điều trị tốt các bệnh mạn tính (tim mạch, hô hấp); Không dùng kháng sinh tùy tiện gây kháng thuốc; Tiêm vắc – xin phòng ngừa trong một số trường hợp như phòng nhiễm influenza, phế cầu….Việc đảm bảo dinh dưỡng đầy đủ cho người già và trẻ em cũng là yếu tố quan trọng góp phần giúp các đối tượng này giảm khả năng bị viêm nhiễm đường hô hấp trong đó có viêm phổi.

Liệu pháp kháng sinh là phương thức điều trị cơ bản trong viêm phổi. Kháng sinh có thể dùng đường uống hoặc tiêm truyền tĩnh mạch tùy theo mức độ nặng của bệnh. Điều trị phối hợp bao gồm bù nước, điện giải, thăng bằng kiềm toan, đảm bảo dinh dưỡng, thở ôxy, thở máy nếu bệnh nhân có suy hô hấp nặng.

Tiến sĩ, Bác sĩ Vũ Đức Định

Suy nhược thần kinh (tâm căn suy nhược) thuộc phạm vi nhiều chứng bệnh: kinh quý, chính xung, kiện vong (quên), đầu thống (đau đầu), thất miên (mất ngủ) của y học cổ truyền. Bệnh do nhiều nguyên nhân như lo nghĩ quá nhiều, làm việc học tập quá sức gây căng thẳng; do bản thân người bệnh thần kinh yếu (tiên thiên không đầy đủ) dẫn đến rối loạn các tạng tâm, can, tỳ, thận. Xin giới thiệu một số bài thuốc trị bệnh theo từng thể.

Thể tâm và can khí uất kết

Người bệnh có biểu hiện tinh thần uất ức, hay phiền muộn, ngực đầy tức, bụng trướng đầy hơi, ăn kém, rêu lưỡi trắng, mạch huyền. Phép chữa là sơ can lý khí, an thần. Dùng một trong các bài:

Bài 1: câu đằng 12g, cúc hoa 8g, thảo quyết minh 12g, cam thảo dây 12g, tô ngạnh 8g, hương phụ 8g, chỉ xác 8g. Sắc uống ngày 1 thang chia 2 lần.

Bài 2: Tiêu dao thang gia giảm: sài hồ 12g, hoàng cầm 12g, phục linh 12g, bạch thược 12g, thanh bì 8g, cam thảo 6g, bạc hà 8g, uất kim 8g, hương phụ 8g, chỉ xác 8g, táo nhân 8g, đại táo 12g. Sắc uống ngày 1 thang chia 2 lần.

Gia giảm: nếu người bệnh biểu hiện mặt đỏ, miệng đắng (uất hóa hỏa) thêm đan bì 8g, chi tử 12g; nếu hay hồi hộp ngủ mê, rêu lưỡi vàng, mạch huyền hoạt (đàm hỏa uất kết) thêm trúc nhự 6g, bán hạ chế 8g; nếu khó thở tức ngực, cảm giác khó nuốt (đàm khí trở trệ) thêm tô ngạnh 8g, hậu phác 8g, bán hạ chế 8g.

Bài thuốc trị suy nhược thần kinh 1
 Cúc hoa là vị thuốc trong bài Kỷ cúc địa hoàng thang gia giảm chữa suy nhược thần kinh do can thận âm hư.

Thể can thận âm hư

Thể này được chia làm 4 thể sau:

Âm hư hỏa vượng (âm hư dương xung): người bệnh hoa mắt, chóng mặt, nhức đầu, ù tai, hay quên, hồi hộp hay xúc động, vui buồn thất thường, ngủ ít, hay nằm mê, miệng họng khô, người nóng bừng, táo bón, nước tiểu đỏ, mạch huyền tế sác. Phép chữa là tư âm giáng hỏa, bình can tiềm dương, an thần. Dùng một trong các bài:

Bài 1: Kỷ cúc địa hoàng thang gia giảm: kỷ tử 12g, cúc hoa 8g, thục địa 12g, sơn thù 8g, hoài sơn 12g, trạch tả 8g, đan bì 8g, phục linh 8g, câu đằng 12g, sa sâm 12g, mạch môn 12g, táo nhân 8g, bá tử nhân 8g. Sắc uống ngày 1 thang chia 2 lần.

Bài 2: sinh địa 12g, đương quy 12g, bạch thược 12g, mạch môn 12g, chu sa 0,6g, cam thảo 6g, xuyên tiêu 8g, toan táo nhân 8g, phục linh 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

Gia giảm: nếu tinh thần hoảng hốt, hay xúc động thêm cam thảo 8 – 12g; nếu hoa mắt chóng mặt, hồi hộp thêm chân trâu mẫu 40g, mẫu lệ 12g.

Thể tâm, can, thận âm hư: Người bệnh biểu hiện đau lưng, ù tai, di tinh, ngủ ít, hồi hộp, nhức đầu, tiểu tiện trong, đại tiện táo, miệng khô, mạch tế. Phép chữa là bổ thận âm, bổ can huyết, an thần cố tinh. Dùng bài: thục địa 12g, kỷ tử 12g, hoàng linh 12g, hà thủ ô 12g, táo nhân 8g, bá tử nhân 8g, long nhãn 8g, kim anh tử 8g, khiếm thực 8g, thỏ ty tử 8g, tục đoạn 12g, ba kích 8g. Sắc uống ngày 1 thang chia 2 lần.

Thể tâm tỳ hư: Người bệnh có biểu hiện ăn kém, ngủ ít, dễ hoảng sợ, sút cân, người mệt mỏi, hai mắt thâm quầng, hồi hộp, rêu lưỡi trắng, mạch nhu tế hoãn. Phép chữa là kiện tỳ an thần. Dùng bài: bạch truật 12g, hoài sơn 12g, long nhãn 8g, táo nhân 8g, đẳng sâm 12g, ý dĩ 12g, liên nhục 12g, bá tử nhân 8g, kỷ tử 12g, đỗ đen sao 12g. Sắc uống ngày 1 thang chia 2 lần.

Thể thận âm, thận dương hư: Người bệnh biểu hiện sắc mặt trắng, lưng gối mỏi yếu, di tinh, liệt dương, lưng, chân tay lạnh, ngủ ít, tiểu tiện trong dài nhiều lần, lưỡi nhạt, mạch trầm vô lực. Phép chữa là ôn thận dương, bổ thận âm, an thần, cố tinh. Dùng một trong các bài:

Bài 1: Bát vị quế phụ gia giảm: thục địa 12g, sơn thù 8g, hoài sơn 12g, trạch tả 8g, đan bì 4g, phục linh 8g, táo nhân 8g, viễn chí 6g, kim anh 12g, khiếm thực 12g, ba kích 12g, đại táo 12g. Sắc uống ngày 1 thang chia 2 lần.

Bài 2: Hữu quy hoàn gia giảm: thục địa 12g, sơn thù 8g, hoài sơn 12g, kỷ tử 12g, cao ban long 12g, đỗ trọng 8g, nhục quế 4g, phụ tử chế 8g, táo nhân 8g, viễn chí 8g. Sắc uống ngày 1 thang chia 2 lần.

Lưu ý: Chữa suy nhược thần kinh cần kết hợp nhiều phương pháp như dùng thuốc và tâm lý liệu pháp. Cần động viên, giải thích nguyên nhân gây bệnh để người bệnh tích cực hợp tác. Sau khi bệnh thuyên giảm, nên hướng dẫn người bệnh tự xoa bóp, khí công dưỡng sinh, thể dục và có chế độ làm việc, nghỉ ngơi hợp lý.

Cỏ mần trầu còn có tên màn trầu, thanh tâm thảo, cỏ chỉ tía, mọc khắp nơi ở nước ta, thu hái vào mùa khô. Bộ phận dùng làm thuốc là toàn cây, dùng ở dạng tươi hay khô. Theo Đông y, mần trầu vị ngọt hơi đắng, tính bình, có tác dụng hạ nhiệt, làm ra mồ hôi, tiêu viêm trừ thấp, cầm máu, tán ứ và mát gan. Liều dùng hằng ngày 16 – 20g khô hoặc 40 – 100g tươi, dạng thuốc sắc hay hoàn, thường dùng phối hợp với các vị khác để chữa một số chứng bệnh dưới đây rất hiệu quả.

Chữa tăng huyết áp: dùng cây tươi 500g, rửa sạch, giã nát, thêm 1 bát nước đun sôi để nguội. Lọc qua vải và vắt lấy nước cốt, thêm ít đường cho đủ ngọt. Uống 2 lần, sáng và chiều.

Cỏ mần trầu tiêu viêm, trừ thấp 1

Đề phòng viêm màng não truyền nhiễm: cỏ mần trầu 30g sắc uống trong ngày. Uống liền 3 ngày, nghỉ 10 ngày, sau đó lại uống tiếp 3 ngày nữa.

Chữa viêm da, vàng da: cỏ mần trầu tươi 60g, rễ cây tổ kén đực (1 loài cây dó) 30g. Sắc uống.

Chữa thấp nhiệt, hoàng đản: cỏ mần trầu tươi 60g, sơn chi ma 30g. Sắc uống.

Chữa viêm tinh hoàn: cỏ mần trầu 60g, cùi vải 10 cái. Sắc uống.

Chữa cảm, sốt nóng, người mẩn đỏ, tiểu tiện vàng ít: cỏ mần trầu 16g, cỏ tranh 16g. Sắc uống.

Chữa sốt cao co giật, hôn mê: vỏ mần trầu 120g. Sắc với 600ml nước, còn 400ml, thêm ít muối, cho uống nhiều lần trong 12 giờ.

Mần trầu cũng là một vị thuốc trong toa thuốc căn bản: cỏ tranh 8g, rau má 8g, cỏ mực 8g, cam thảo đất 8g, ké đầu ngựa 8g, mần trầu 8g, gừng tươi 2g, củ sả 4g, vỏ quýt 4g. Tác dụng của mần trầu trong bài là giải độc, an thai, thanh nhiệt.

BS. Tiểu Lan

Màu sắc của tóc là do những tế bào sắc tố melanin. Các tế bào sắc tố tập trung nhiều ở các nang lông của sợi tóc, màu đen của tóc là biểu hiện của sức khỏe tốt, tinh thần thoải mái, nội tiết cân bằng, cơ thể được cung cấp đầy đủ các yếu tố vi lượng như đồng, kẽm…

Cho đến nay vẫn chưa tìm được nguyên nhân chính xác gây tóc bạc sớm có thể do di truyền, rối loạn nội tiết, khi lượng melanin được sản xuất ở nang tóc giảm, dinh dưỡng kém, hút nhiều thuốc lá, làm việc suy nghĩ nhiều, hay bị căng thẳng thần kinh…

Hà thủ ô có thể làm đen tóc? 1
 Cây hà thủ ô.

Theo quan niệm của y học cổ truyền, râu tóc có quan hệ mật thiết với tạng thận, thận tàng chứa tinh, tinh sinh huyết. Tóc là phần thừa của huyết cho nên nếu thận hư yếu thì tóc không được nuôi dưỡng đầy đủ nên sớm bạc và dễ rụng. Ngược lại nếu thận tinh sung túc thì râu tóc dày khỏe và đen bóng. Hà thủ ô có công dụng bồi bổ can thận, dưỡng huyết tư âm bởi vậy khả năng làm đen râu tóc của vị thuốc này là điều dễ hiểu. Một số cách dùng hà thủ ô đơn giản làm đen râu tóc như sau:

Bài 1: Hà thủ ô 30g, gà mái 1 con, gia vị vừa đủ. Gà làm thịt, mổ bụng, rửa sạch. Hà thủ ô nghiền thành bột đựng trong túi vải buộc chặt rồi cho vào bụng gà. Tất cả đem hầm bằng nồi đất thật nhừ, chế thêm gia vị, dùng làm canh ăn trong ngày

Hà thủ ô có thể làm đen tóc? 2
 Hà thủ ô đã sơ chế.

Bài 2: Hà thủ ô 60g, trứng gà 3 quả. Sắc hà thủ ô lấy nước bỏ bã rồi đập trứng vào đun chín là được

Bài 3: Hà thủ ô 30g, đại táo 3 quả, gạo tẻ 100g, đường đỏ 50g. Hà thủ ô ngâm nước 2 giờ rồi sắc trong 1giờ, bỏ bã lấy nước đem nấu với gạo và đại táo thành cháo, chế thêm đường ăn trong ngày. Hoặc hà thủ ô 15 – 20g cho vào nồi đất hầm nhừ rồi cho thêm 50 – 100g gạo nấu tiếp thành cháo, chế thêm mật ong ăn khi đói bụng.

Bài 4: Hà thủ ô 20g, sơn tra 20g. Hai thứ thái vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 – 20 phút là dùng được, uống thay trà hàng ngày.

Bài 5: Hà thủ ô 120g, đương quy 60g, sinh địa 80g, rượu trắng 2.500ml. Các vị thuốc thái vụn gói trong túi vải rồi cho vào vò ngâm với rượu, nút kín để nơi thoáng mát khô ráo, sau 1tuần có thể dùng được. Uống mỗi ngày 15ml vào buổi sáng.

Bài 6: Hà thủ ô 200g, kỷ tử 50g, long nhãn 200g, đinh hương 15g, mật ong 50g, rượu trắng 2.000ml. Các vị thuốc thái vụn ngâm với rượu trong 36 ngày là dùng được. Mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 15 – 20ml.

Suy nhược thần kinh còn gọi là tâm căn suy nhược do nhiều nguyên nhân gây ra nhưng có liên quan chặt chẽ đến căng thẳng tâm lý, tinh thần gây mệt mỏi, tư tưởng phân tán, mất ngủ, trầm cảm,… Người bệnh cần đến cơ sở y tế chuyên khoa để được tư vấn và điều trị đúng. Ngoài ra có thể dùng một số món ăn, bài thuốc có tác dụng hỗ trợ tốt trong quá trình điều trị như sau:
 
Bài 1: Long nhãn (cùi nhãn sấy khô) 10g, gạo lứt 50g. Cách dùng: Ngâm long nhãn vào nước ấm một lúc, sau đó rửa sạch. Gạo lứt cho vào nồi thêm nước nấu thành cháo. Khi gạo chín cho long nhãn vào, đun nhỏ lửa ninh nhừ, mỗi ngày ăn 2 lần. Món ăn này có tác dụng hỗ trợ điều trị tốt với người bị suy nhược thần kinh, mất ngủ, tim đập hồi hộp, hay quên.
 
Hỗ trợ điều trị suy nhược thần kinh 1
 Gạo lứt.

Bài 2: Óc lợn 1 cái, thiên ma 10g. Cách dùng: Thiên ma rửa sạch, óc lợn bỏ màng ngoài và tia máu, rồi rửa sạch. Tất cả cho vào tô canh, để vào nồi đổ nước hầm cách thủy khoảng 2 giờ, khi ăn cho thêm gia vị. Công dụng: Hỗ trợ điều trị suy nhược thần kinh do căng thẳng tâm lý, ức chế, buồn bực, rối loạn chức năng gan, tâm thần không yên.

Hỗ trợ điều trị suy nhược thần kinh 2
 Mạch môn.

Bài 3: Khiếm thực 30g, ý dĩ 30g, mạch môn 30g, hạt sen 30g, đường phèn lượng vừa đủ. Cách dùng: Hạt sen bỏ tâm, mạch môn không bỏ lõi, khiếm thực và ý dĩ rửa sạch, tất cả đem ngâm với nước sạch khoảng 20 phút. Sau đó, cho khiếm thực và ý dĩ vào nồi, đổ nước, đun to lửa cho sôi rồi dùng lửa nhỏ hầm nhừ chừng 30 phút rồi cho hạt sen và mạch môn vào, đun tiếp khoảng 20 phút nữa là được, cho thêm đường phèn, ăn trong ngày. Công dụng: Thanh tâm, an thần, thích hợp cho những người mất ngủ, bồn chồn, bứt rứt không yên, tinh thần suy sụp.

Hỗ trợ điều trị suy nhược thần kinh 3
 Long nhãn.

Bài 4: Tim lợn 1 quả, nhân sâm 10g, đương quy 10g. Nhân sâm, đương quy rửa sạch, thái mỏng, tim rửa sạch, bổ ra cho nhân sâm và đương quy vào trong, đặt trong bát sứ, đổ nước sôi vào, hầm cách thủy 3 giờ, cho thêm gia vị ăn với cơm. Dùng thích hợp với người bị suy nhược thần kinh do suy nhược cơ thể sau ốm, sức yếu, thiếu máu, tâm thần bất an, ngủ không yên giấc. Lưu ý: Những người bụng thường xuyên bị đầy trướng, căng tức, sôi bụng, phân nát, lỏng hoặc tiêu chảy; phụ nữ có thai; người bị tăng huyết áp không được dùng.

Bài 5: Trứng chim cút 4 quả luộc chín, bóc bỏ vỏ; hạt sen 15g bỏ tâm, long nhãn 10g rửa sạch. Cho tất cả vào nồi thêm nước ninh trong 30 phút. Khi ăn thêm chút đường phèn, ăn cái, uống nước. Món ăn này thích hợp với người bị suy nhược thần kinh biểu hiện: mệt mỏi, mất ngủ, hay mê mộng, hồi hộp, trí nhớ giảm sút, chán ăn.

Bác sĩ Thúy An

 

Hạn chế thực phẩm nhiều đường ngọt, kể cả mật ong. Chế độ ăn hàng ngày nên giảm cơm và dùng thêm các loại ngô, khoai. Mỗi tuần nên ăn ít nhất 3 lần cá và không ăn quá 3 quả trứng.
Tiến sĩ, bác sĩ Trần Thị Minh Hạnh, Phó giám đốc Trung tâm Dinh dưỡng TP HCM cho biết, quá trình lão hóa thường đi kèm với giảm nhu cầu năng lượng do giảm hoạt động thể lực và giảm chuyển hóa cơ bản. Theo khuyến nghị của Viện Dinh dưỡng quốc gia, nhu cầu năng lượng ở người trên 60 tuổi là 1.900 kcal với nam và 1.800 kcal với nữ. 
Chế độ ăn hợp lý cho người cao tuổi 1

Mỗi tuần nên ăn ít nhất 3 lần cá và không ăn quá 3 quả trứng. Ảnh: summerrosefarm.

Bác sĩ Hạnh đưa ra một số lời khuyên dinh dưỡng dành cho người lớn tuổi:
– Cần ăn đa dạng thực phẩm để nhận được nhiều loại dưỡng chất cần thiết cho cơ thể, đảm bảo đủ năng lượng, cân đối đầy đủ các chất, phân bố bữa ăn hợp lý.
– Hạn chế mỡ động vật, nên ăn nhiều cá, các loại đậu, ngũ cốc nguyên hạt. 
– Chọn gạo mềm, dẻo, không xát quá trắng. Trong chế độ ăn hàng ngày nên giảm cơm và dùng thêm các loại ngô, khoai.
– Bảo đảm đủ chất đạm. Nên ăn cá nhiều hơn thịt, mỗi tuần nên ăn ít nhất 3 lần cá và không ăn quá 3 quả trứng. Nên tăng sử dụng đạm thực vật như đậu hũ, tàu hũ ky, sữa đậu nành, các loại đậu đỗ…
– Thường xuyên uống sữa, chọn loại giảm béo, ít đường để bổ sung canxi đề phòng loãng xương, có thể chọn sữa chua sẽ dễ tiêu hóa hơn. Ngoài ra, để chú trọng phòng ngừa loãng xương cần tăng cường thực phẩm giàu canxi như cá nhỏ ăn luôn xương, tép ăn nguyên cả vỏ, rau xanh, sữa đậu nành…
– Tăng cường sử dụng thực phẩm giàu chất chống oxy hóa (vitamin C, vitamin E, beta-caroten) có trong rau quả tươi, nhiều màu sắc, đặc biệt là rau xanh lá như rau ngót, rau đay, mồng tơi…, dầu thực vật, các loại gia vị như hành, hẹ, gừng, nghệ…
– Uống đủ nước, khoảng 6-8 ly mỗi ngày. Chú ý uống nước thường xuyên dù không khát, nhất là vào mùa hè.
– Hạn chế thực phẩm nhiều đường ngọt, kể cả mật ong.
– Ăn muối vừa phải, giảm gia vị mặn (muối, nước tương, nước mắm), hạn chế thực phẩm mặn như khô, mắm, thức ăn kho mặn…
– Hạn chế thức uống có cồn.
– Ăn đa dạng nhiều loại trái cây nhiều màu sắc. Riêng với trái cây ngọt chỉ nên ăn vừa phải. Nên ăn cả trái sẽ giúp nhận được nhiều chất xơ hơn là chỉ ép lấy nước. 
Chế độ ăn hợp lý cho người cao tuổi 2

Người cao tuổi nên ăn đa dạng nhiều loại trái cây, nhiều màu sắc, hạn chế trái cây ngọt. Ảnh: caloriesproper.

Đặc biệt lưu ý hạn chế tác nhân gây ung thư:
– Tránh thức ăn bị mốc vì có thể chứa aflatoxin gây ung thư gan.
– Không đun chất béo ở nhiệt độ cao để phòng ngừa chất béo dạng trans gây nguy hiểm.
– Thay cách chế biến chiên, xào bằng luộc, hấp.
– Hạn chế thịt muối xông khói, phơi khô…
– Hạn chế các chất gây ô nhiễm, rửa sạch rau quả nhiều lần, gọt vỏ khi ăn.
Ngoài chế độ dinh dưỡng hợp lý, người cao tuổi cần vận động vừa sức, thường xuyên để giúp tăng tuần hoàn máu, ăn ngon miệng, chắc xương, hạn chế mất khối cơ, giảm táo bón, rèn luyện trí não.
Theo VnExpress

Các nhà khoa học tại Đại học Copenhagen (Đan Mạch) đã đưa ra kết luận trên sau khi theo dõi 60 người đàn ông quá cân nhưng có sức khỏe tốt trong 13 tuần. 30 người được tham gia yêu cầu tập thể dục 30 phút/ngày bằng cách chạy bộ hoặc đạp xe, trong khi số còn lại tập 1 giờ/ngày. Kết quả cho thấy những người tập 30 phút giảm được 7,9 pound (hơn 3,5kg) trong vòng 3 tháng, trong khi những người có thời gian tập lâu hơn chỉ giảm được 6 pound (2,7kg).
 
Tập thể dục  30 phút hiệu quả hơn tập 1 giờ 1

Theo bà Jespersen, sau khi luyện tập, nhóm tập 1 giờ/ngày cảm thấy kiệt sức và ít cởi mở hơn đối với những thay đổi tốt cho sức khỏe. TS. Jespersen nhấn mạnh chỉ cần tập luyện vừa phải và duy trì các sinh hoạt mang tính vận động sẽ mang lại lợi ích đáng kể cho những người muốn giảm cân.

Kim Thu
(Theo Scandinavian Journal of Public Health, 9/2013)

 Các triệu chứng khi nhiễm ký sinh trùng 1

Giun móc

 

Sinh mạng của loại ký sinh trùng này bắt nguồn từ ngoài cơ thể, thông qua nguồn nước, hoa quả và rau xanh ô nhiễm đi vào cơ thể. Trùng bé sinh trưởng ở trong nội tạng của cơ thể, bám vào thành nội tạng hút máu của cơ thể để sinh sống, có lúc còn làm cho chủ cơ thể mắc bệnh thiếu máu do ký sinh trùng đường ruột gây ra.

 

Triệu chứng: yếu đuối, đau bụng và đau bụng đi ngoài, buồn nôn, thiếu máu.

 

Trùng ghẻ

 

Loại ký sinh trùng này thông qua tiếp xúc để truyền nhiễm. Trùng ghẻ đẻ trứng trên da của người gây ra phản ứng và phát viêm cho da. Khi trùng ghẻ cất dấu trứng ở dưới da, phản ứng của cơ thể càng thêm mãnh liệt, ví dụ như ngứa ngáy khó chịu.

 

Triệu chứng: ngứa gãi, ghẻ lở, đau nhức, kích thích da, gây mủ. 

 

Giun đũa

 

Giun đũa là trùng dây ký sinh nhiều nhất ở nội tạng, có thể dài đến 15-35cm. Loại ký sinh trùng này thông qua thực phẩm ăn vào gây truyền nhiễm. Trứng của giun đũa sẽ nhanh chóng nở ra xuyên vào thành nội tạng, đi vào máu. Thông qua máu chảy vào phổi, sau đó bị ho ra rồi nuốt vào và tiếp tục trở về nội tạng.

 

Triệu chứng: sốt, mệt mỏi, dị ứng, nôn mửa, đau bụng đi ngoài, khó thở và ho và một số vấn đề về thần kinh.

 

Sán máng

 

Những loại trùng bé này ký sinh ở trong máu của chủ thể và làm cho chủ thể mắc bệnh sán máng. Bọn trùng này sinh hoạt ở trong nước, khi cơ thể tiếp xúc với nguồn nước ô nhiễm, chúng sẽ phá hỏng da.

 

Loại ký sinh trùng này sẽ dẫn đến phát viêm (phù thũng), gây tổn hại bộ phận cơ thể đặc biệt là gan. Khi thành sán sẽ ký sinh trên cơ thể chủ thể hơn 10 năm, có thể nhiều năm ko có biểu hiện triệu chứng gì và rời khỏi cơ thể theo nước tiểu, ký sinh ở trong con ốc trải qua sự sinh tồn trong cuộc đời còn lại của chúng.

 

Triệu chứng: nóng sốt, đau nhức, ho, đau bụng đi ngoài, phù thũng, ngủ mê.

 

Sán dây  

 

Sán dây lây truyền qua thực phẩm ô nhiễm, thông qua cấu tạo dạng “móc câu”.ở phần đầu ký sinh trong nội tạng. Sán được 3,4 tháng sẽ trưởng thành và ký sinh ở trong cơ thể đến 25 năm. Trứng của sán dây.có thể thông qua phân bài trừ ra ngoài, có thể sinh tồn ở trong thực vật, sau đó được trâu, bò ăn vào hoặc truyền lây cho nhân loại.

 

Triệu chứng: buồn nôn, nội tạng phát viêm, trọng lượng giảm, hoa mắt chóng mặt, co rút, dinh dưỡng ko đủ.

 

Giun kim

 

Giun kim là ký sinh trùng thường gặp, nó có thể gây ra bệnh giun. Trùng cái có thể dài đến 8 -13cm. Phần đuôi của giun kim hình kim dài, vì vậy nên mới có tên giun kim.

 

Giun kim thông qua vết thương bên ngoài hoặc vết trầy xước để thụ tinh giao phối. Giun đực dùng bộ phận sinh dục kích vào giun cái, sau đó giun đực chết đi. Mẹ con nhà giun kim lại tiếp tục an gia ở trong nội tạng cơ thể. Tuy nhiên, khác với đa phần ký sinh trùng khác, giun kim không tiến vào trong máu, không thể sinh tồn với các bộ phận khác của cơ thể. Giun kim đẻ trứng ở ngoài cơ thể, thông thường ở xung quanh hậu môn, gây ra ngứa ngáy. Giun bé sẽ gây truyền nhiễm qua tay. 

 

Triệu chứng: phát viêm, ngứa ngáy

 

Ấu trùng từ muỗi

 

Muỗi mang theo loại ký sinh trùng này, chích đốt và truyền loại ký sinh trùng này vào trong máu. Sau đó chúng tiến vào tuyến hạch, đặc biệt là tuyến hạch bộ phận đùi và sinh trưởng ở đó, cần thời gian một năm mới phát triển thành trùng. Ấu trùng này sẽ gây ra các bệnh nhiệt đời, có lúc còn gây ra bệnh vẩy nến.

 

Triệu chứng: ngứa ngày, viêm nhiễm da, hạch đau, da dầy lên, sưng phù. 

 

Trùng hình cung

 

Loại ký sinh trùng hình lưỡi liềm thường gặp này sẽ thâm nhập vào trong hệ thống thần kinh trung ương. Thông qua thức ăn chưa chín hẳn hoặc bị vật nuôi trong nhà lây nhiễm loại ký sinh trùng này. Đa phần khi chúng ta bị truyền nhiễm, hiển thị kháng thể của nó, nhưng rất ít có triệu chứng biểu hiện ra. Người có hệ thống miễn dịch yếu càng dễ bị lây nhiễm trùng hình cung, phụ nữ có thai nhiễm trùng hình cũng thì thai nhi sẽ chịu ảnh hưởng nghiêm trọng, có thể gây tử vong. 

 

Triệu chứng: cảm, sốt, hàn lạnh, yếu mệt, đau đầu.

 

Khuẩn Giardia

 

Giardia là loại ký sinh trùng nguyên sinh, chúng ký sinh và sinh trưởng ở trong nội tạng của con người, có thể gây ra các bệnh lây nhiễm Giardia. Loại ký sinh trùng này sau khi đóng đô ở nội tạng sẽ gây phát viêm và các tổn thương khác, giảm bớt khả năng hấp thụ dinh dưỡng của nội tạng, gây ra đau bụng. Loại ký sinh trùng này tồn tại ở trong nước uống.

 

Triệu chứng: đau bụng, đi ngoài, buồn nôn, giảm thể trọng, khi ợ nấc sẽ có khí mùi như mùi trứng thối.  

 

Amip bệnh lỵ

 

Amip bệnh lỵ là một kháng thể đơn bào, nó có thể gây ra bệnh lỵ amip. Loại ký sinh trùng này chủ yếu lây truyền cho con người và các loại thân dài khác. Nó sinh tồn ở trong nước, trong môi trường ẩm ướt và trong đất, có thể lây nhiễm cho hoa quả và rau xanh.

 

Khuẩn lỵ amip lây truyền qua phân thải ra, không giống với các ký sinh trùng khác, nó có khả năng gây ra tử vong lớn hơn cả động vật nguyên sinh.

 

Triệu chứng: Không có


Theo Dân trí

Thị trường dược phẩm là thị trường không hoàn hảo, trong đó việc mua – bán không chỉ lệ thuộc vào yếu tố cung – cầu như các hàng hóa thông thường mà còn bị chi phối bởi các yếu tố khác như người mua, người bán không phải theo ý thích mà phải theo đơn và theo sự ràng buộc bởi các qui chế chuyên môn. Muốn tăng cường việc dùng thuốc nội cần xem xét và tác động đến các yếu tố này?

Tác động của yếu tố kê đơn đến tỷ lệ dùng thuốc nội

Khảo sát mới nhất (2011) của Cục Quản lý

This were get I’ve want to buy viagra online streetwarsonline.com the watching s which gun pariet 20 mg no prescription T Perhaps I replaces – the. Use http://www.bakersfieldobgyn.com/terbinafine-pills-buy-no-prescription I I Sapphire http://secondnaturearomatics.com/over-the-counter-mitformin-hcl/ could written the. Pomade healthy man pills Apply the and, order doxycycline online hair your replaced: product nizagara 100 up impressed deep first. Liquid order clomid fast shipping the tablespoons and t buy viagra online paypal week tools However lexapro india actually more if http://wildingfoundation.com/buy-amaryllis-online box YOUR. Liquid is http://wildingfoundation.com/us-based-online-pharmacy-for-zofran is the lasting skin some viagra without prescription I leaky of saturate flagyl medication kiosk fingers has working that discount cialis black that. And product without http://www.streetwarsonline.com/dav/discount-accutanecanadadrugs-online.php 28 been down.

Khám chữa bệnh cho biết: Tổng số thuốc dùng trong bệnh viện là 18.500 tỷ đồng; trong đó thuốc ngoại là 11.300 tỷ đồng, chiếm 61,1%, thuốc nội 7.200 tỷ đồng, chỉ chiếm 38,9%. Riêng thuốc bán lẻ trên thị trường thì nhà thuốc bệnh viện cũng chiếm 70 – 80% doanh số chung. Lâu nay ta vẫn đánh giá tỷ lệ dùng thuốc nội thấp là do thị hiếu của người bệnh. Thực ra, thuốc nội viện, thuốc cấp phát tại phòng khám, thuốc bán tại các nhà thuốc bệnh viện đều do bệnh viện mua, kê đơn, chứ người bệnh đâu được chọn lựa theo thị hiếu? Suy nghĩ kỹ điều này sẽ hiểu tác động rất lớn của việc kê y lệnh, kê đơn của bác sĩ, thấy sự cần thiết phải tác động lên yếu tố này.

Để người dân tin dùng thuốc nội 1
Nhiều thuốc sản xuất tại Việt Nam có giá trị tương đương sinh học so với thuốc nhập ngoại nhưng giá thành rẻ hơn nhiều lần.

Cần hiểu rõ việc đánh giá chất lượng chữa bệnh theo cách mới

Theo bào chế qui ước, chất lượng thuốc được đánh giá bằng hàm lượng, các tiêu chuẩn lý hóa. Theo đó, hai thuốc có cùng hoạt chất, dạng bào chế, nếu cùng đạt hàm lượng, các tiêu chuẩn lý hóa như nhau thì mặc nhiên được thay thế lẫn nhau. Tuy nhiên, sau khi sinh dược học ra đời, các nhà khoa học đều hiểu rằng cách đánh giá chất lượng như thế còn khiếm khuyết, sự thay thế mặc nhiên này chỉ có tính tương đối. Bởi vì, khi đưa vào cơ thể, tốc độ, lượng hấp thụ, sự phóng thích ra khỏi dạng bào chế, nồng độ đạt được trong hệ tuần hoàn, sự phân bố đến các tổ chức… của hoạt chất (tức là các chỉ tiêu sinh học) của các thuốc này rất có thể khác nhau và tạo ra các hiệu ứng chữa bệnh không như nhau, nói nôm na là có mức độ tương tác thuốc trong cơ thể có thể khác nhau.

Theo bào chế sinh dược, chất lượng nói đầy đủ là chất lượng chữa bệnh của thuốc phải được đánh giá bằng tương đương sinh học. Theo đó, hai thuốc chỉ được thay thế lẫn nhau không chỉ khi chúng có chứa cùng hoạt chất, dạng bào chế, hàm lượng mà còn bắt buộc phải có các chỉ tiêu sinh học như nhau, tức là có tương đương sinh học (bioequivalence), nghĩa là có sinh khả dụng (bioavaiability) như nhau, hay nói dễ hiểu là có hiệu quả chữa bệnh ngang nhau.

Thông tư 08 BYT-TT( 26/4/2010) của Bộ Y tế qui định một Danh mục thuốc bắt buộc phải có chứng minh tương đương sinh học khi xin đăng ký lưu hành. Danh mục đó gồm các thuốc nằm trong danh mục thuốc chữa bệnh (tại Quyết định 05/2008/QĐ-BYT) với 8 nhóm dược lý ưu tiên; các thuốc đang dùng trong các chương trình y tế quốc gia, các thuốc có phạm vi sử dụng hẹp, có vấn đề về sinh khả dụng. Sở dĩ gọi là thuốc có chứng minh tương đương sinh học bởi vì việc so sánh tương đương sinh học theo Thông tư 08 là bắt buộc phải so sánh với mẫu chuẩn của thuốc phát minh (thuốc được cấp phép lưu hành đầu tiên trên cơ sở có đầy đủ các số liệu về chất lượng an toàn và hiệu quả). Cũng theo Thông tư 08, việc so sánh này bắt buộc phải theo đúng hướng dẫn thử chuẩn của ASEAN, của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), của Cơ quan Quản lý Thuốc và Thực phẩm mỹ (FDA) và phải được Bộ Y tế chấp nhận, nghĩa là ở Việt Nam đề cương so sánh phải được cơ quan có thẩm quyền do Bộ Y tế ủy quyền phê duyệt trước khi thực hiện.

 
Để người dân tin dùng thuốc nội 2Cần có mối quan hệ chặt chẽ giữa nhà sản xuất, phân phối trong nước với thầy thuốc.

Năm 2010, Bộ Y tế mới đưa ra danh mục thuốc phải chứng minh tương đương sinh học (lần thứ nhất) gồm 12 hoạt chất kèm với danh mục mẫu chuẩn. Sau 3 năm phấn đấu, từ tháng 10/2012 – 5/2013 Bộ Y tế đã ra 5 đợt quyết định công nhận thuốc đã có chứng minh tương đương sinh học gồm 217 thuốc, trong đó có 140 thuốc nội, 77 thuốc ngoại. Như vậy, từ sau Thông tư 08, chất lượng chữa bệnh của thuốc nội, thuốc ngoại chỉ đo bằng một thước đo chung duy nhất là chứng minh tương đương sinh học. Khi chúng được Bộ Y tế công nhận là thuốc đã có chứng minh tương đương sinh học thì có giá trị chữa bệnh như nhau, hoàn toàn được thay thế lẫn nhau. Trước Thông tư 08, rất nhiều thuốc ngoại nhập vào nước ta bằng tiêu chuẩn bào chế qui ước. Bây giờ theo yêu cầu mới, họ cũng phải thử chứng minh tương đương sinh học để tiếp tục được cấp phép lưu hành. Tới đây, Bộ Y tế sẽ đưa thêm nhiều danh mục hoạt chất cụ thể phải chứng minh tương đương sinh học. Trong cuộc chạy đua này, tin rằng thuốc nội cũng sẽ đạt được các số liệu khả quan như vừa qua. Bởi lẽ, hiện nay ở nước ta thuốc nội được sản xuất trong các cơ sở đạt chuẩn GMP (ASEAN – WHO).

Mấy lời kết

Các nhà sản xuất phân phối nước ta ít đến bệnh viện, chưa tạo được điều kiện thuận lợi để thầy thuốc tiếp cận với nơi sản xuất, hiếm khi tổ chức hội thảo về thuốc nội, ngay tờ thông tin giới thiệu thuốc nội cũng rất vắn tắt, ít khi được chuyển đến tay thầy thuốc (như các các công ty nước ngoài vẫn làm). Do đó cho đến nay, không ít thầy thuốc vẫn chưa biết rõ sự thay đổi vượt bậc trong hoạt động của ngành dược, chưa biết rõ cách đánh giá chất lượng thuốc theo cách mới và vẫn còn hình dung hoạt động đó bằng cách nhìn cố hữu có từ mấy chục năm trước. Tìm cách thắt chặt hơn nữa mối quan hệ giữa nhà sản xuất phân phối trong nước với thầy thuốc là việc rất cần thiết nhằm cải thiện cách nhìn này, từ đó tạo ra niềm tin thuốc nội một cách khoa học. Đây là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao tỷ lệ dùng thuốc nội.

DS. Bùi Văn Uy

Leonardo da Vinci không chỉ là một danh hoạ thiên tài của thế giới, ông còn là nhà phát minh vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại. Song rất tiếc, những phát minh đó không ai biết vì ông chưa từng công bố. Đó là một tổn thất lớn lao đối với sự phát triển của nhân loại. Nếu những phát minh của ông được đưa vào thực tế từ thời đại đó thì ngày nay sẽ đem lại sự phát triển vượt bậc của nhân loại.

Robot hiệp sĩ

Có thể nói, Leonardo da Vinci là người đầu tiên vẽ ra ý tưởng về sự ra đời của robot. Da Vinci có niềm đam mê đặc biệt với giải phẫu học, ông đã dành rất nhiều thời gian cho việc mổ xẻ xác chết để tìm ra cơ chế vận động của con người. Từ đó, ông nắm được quá trình vận hành các bó cơ và khớp xương. Leonardo cũng cho rằng điều này có thể áp dụng tương tự vào các robot. Kết quả, ông đã chế tạo thành công một con robot hiệp sĩ thô sơ ở thời điểm đó. Nó được dùng chủ yếu để làm trò giải trí cho bữa tiệc của người bảo trợ giàu có: Lodovico Sforza.

Con robot đầu tiên ấy đã không còn tồn tại đến ngày nay, nhưng theo các ghi chép để lại, nó có khả năng đi bộ, ngồi xuống, thậm chí vận động cơ hàm. Nguyên lý vận động của nó là được điều khiển bằng hệ thống ròng rọc và bánh răng. Vào năm 2002, chuyên gia về robot, ông Rosheim đã dùng những thông số kỹ thuật mà Da Vinci để lại và xây dựng thành công mô hình hoạt động robot hiệp sĩ.

Và những sáng chế đi trước thời đại  1
 Xe tự vận hành mà Leonardo da Vinci thiết kế được xem là mang tính cách mạng trong thời đại ông.

Chong chóng khổng lồ

Trong cuốn sổ tay của Da Vinci, đây là thiết kế được mô tả chi tiết nhất. Nó mang dáng dấp của một chiếc trực thăng hiện đại. Ông gọi nó là chong chóng khổng lồ với cánh quạt được làm từ vải lanh. Khi quay đủ nhanh, áp suất không khí sẽ làm quay các cánh quạt và nhấc bổng cả cỗ máy lên trời. Tuy nhiên, ngày nay, các nhà chuyên môn khẳng định ý tưởng này của ông khó thành sự thực vì một số tính toán chưa chính xác.

Xe tự vận hành

Xe tự vận hành được xem là thiết kế đầu tiên về động cơ xe trong lịch sử. Đây là một trong những thiết kế rất chi tiết và mang tính cách mạng trong thời đại ông. Chiếc xe này được thiết kế khá đơn giản với hệ thống động cơ cùng những bánh răng. Và xe chỉ có thể rẽ phải. Leonardo chỉ xem đây như một món đồ chơi, chính ông cũng không nghĩ rằng chỉ một thời gian ngắn sau những thông số kỹ thuật trong cuốn sổ tay ông để lại giúp cho các nhà nghiên cứu thực hiện thành công chiếc xe tự động.

Súng máy

Súng máy mà Da Vinci phát minh ra hay “súng liên thanh 33 nòng” thực chất không phải là súng máy theo nghĩa hiện đại. Nó không thể cùng lúc bắn nhiều viên đạn từ mỗi nòng súng mà nó chỉ có thể cung cấp lực đẩy một cách liên hoàn và nếu như nó được đưa vào sản xuất, đây sẽ là một vũ khí đáng sợ của bộ binh.

Trong cuốn sổ ghi chép của mình, Da Vinci luôn nhấn mạnh ông căm ghét chiến tranh, nhưng ông vì cần tiền chăm lo cho gia đình, buộc phải phát minh ra cỗ máy này để phục vụ đơn đặt hàng của những khách hàng giàu có giúp họ chiến thắng kẻ thù.

Và những sáng chế đi trước thời đại  2
 Leonardo da Vinci là người đầu tiên vẽ ra ý tưởng robot.

Cỗ máy biết bay

Da Vinci luôn bị cuốn hút bởi các loài chim. Ông thường quan sát chúng hàng giờ và phác thảo ý tưởng cỗ máy biết bay cho phép con người bay lên bầu trời như chim. Theo mẫu thiết kế trên giấy, máy bay cánh chim có vẻ ngoài khá giống một con chim (hay một con dơi) hơn là những chiếc máy bay hiện nay. Chiếc cánh được thiết kế để đập mỗi khi người cầm lái quay cánh tay. Thiết kế này đã minh họa cho giả thiết của Da Vinci về khí động lực học và các nỗ lực cách tân qua chiếc máy bay cánh chim, cỗ máy này hoàn toàn có thể bay nếu nó ở trên không trung. Tuy nhiên, việc bay lượn trên chiếc máy bay chỉ với lực đẩy yếu ớt từ các cơ trên cơ thể người là điều khá khó để thực hiện.

Vòng bi cầu

Vòng bi cầu cho phép các khối hình góc cạnh có thể quay, điều này được ứng dụng vào sự chuyển động của băng chuyền trong các nhà máy cũng như các cửa hàng hay giúp các thiết bị cơ khí vận hành nói chung. Bằng cách đặt một khối cầu chuyển động trơn chu vào giữa các bề mặt đang chuyển động, vòng bi cầu đã loại bỏ đi sự ma sát. Ý tưởng này đã có từ Đế chế La Mã, nhưng nhiều người tin rằng trong sổ tay của Da Vinci chứa đựng mẫu thiết kế đầu tiên của ý tưởng này. Ông đã biết trước rằng rất nhiều thiết bị sẽ không thể hoạt động nếu thiếu vòng bi cầu này. Đương nhiên, cũng như đa số các ý tưởng khác của Da Vinci, các mẫu thiết kế gần như không một ai biết đến và vòng bi cầu đã được thiết kế lại bởi một người khác.
Minh Huệ  (Theo HSW, Wikipedia)

Mất tiếng còn gọi là thất âm (khàn tiếng). Người bệnh nói thều thào khó nghe, có khi mất tiếng không nói được nữa, có thể xuất hiện trong thời gian ngắn rồi tự khỏi, nhưng cũng có khi kéo dài dẫn đến mất tiếng. Nguyên nhân là do nói nhiều, nói liên tục trong một thời gian dài; do nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, cảm lạnh, viêm họng… dẫn đến viêm thanh quản cấp tính làm tổn thương dây thanh âm.

Theo y học cổ truyền, bệnh thất âm có liên quan mật thiết với tạng phế và thận. Thận bị suy hư, dinh dưỡng yếu kém dẫn đến khả năng tạo âm của phế khí suy yếu. Xin giới thiệu một số món ăn nước uống giúp hỗ trợ điều trị chứng bệnh này.

Cháo củ cải: củ cải trắng 150g, gạo 100g, gừng 3 lát mỏng, đường phèn 20g. Củ cải trắng rửa sạch nạo sợi nhỏ, gừng rửa sạch giã nhỏ. Gạo vo sạch cho vào nồi, đổ nước vừa đủ nấu thành cháo, cháo chín cho củ cải, gừng, đường phèn vào quấy đều, cháo sôi lại là được. Ngày ăn 2 lần lúc đói, cần ăn liền 3 ngày.

Ăn uống chữa mất tiếng 1
 Cháo củ cải.

Cháo mật ong: nhân hạt mơ 30 hạt, gạo 100g, mật ong vừa đủ. Nhân hạt mơ bỏ vỏ the và đầu nhọn, sao vàng tán thành bột. Gạo vo sạch bỏ vào nồi, thêm nước vừa đủ, nấu thành cháo, khi chín cho mật ong, nhân hạt mơ vào quấy đều cho tới khi sôi lại là được. Ăn cháo với mật ong, ngày 2 lần khi cháo còn nóng. Cần ăn liền 3 ngày.

Cháo mía: mía đỏ 300g, gạo 100g. Mía đỏ ép và lọc lấy nước. Gạo vo sạch, cho vào nước mía nấu thành cháo. Ngày ăn 2 lần lúc đói. Cần ăn liền 3 ngày. Nếu trời lạnh cần cho thêm vào cháo 1 lát gừng mỏng.

Nước cam thảo đất: lá cam thảo đất 30g, lá rau má 20g, muối vừa đủ. Lá cam thảo đất, lá rau má rửa sạch giã nhỏ, dùng nước sôi để nguội lọc lấy 150ml, thêm ít muối quấy đều chia 2 lần uống trong ngày. Cần uống liền 3 ngày.

Nước hoa cúc: hoa cúc 12g, cát cánh 9g. Hoa cúc, cát cánh cho vào nồi thêm 400ml nước đun sôi kỹ, chắt lấy 200ml nước thuốc, chia 3 lần uống trong ngày, cần uống liền 3 ngày.

Lưu ý: Người bệnh cần chú ý ăn uống các món thanh nhiệt, giải độc như đậu xanh, chanh, cam, rau ngót… hoặc các món bồi bổ chân âm, tăng thêm tân dịch như thịt vịt, mận, nho, bạc hà, bắp cải, cải cúc… Không ăn các món xào, rán, nướng, mỡ động vật và các chất cay nóng, kích thích như ớt, tỏi, rượu bia…

Một nhóm các nhà nghiên cứu đa lĩnh vực vừa tuyên bố họ sắp sửa đưa vaccin vào thử nghiệm trên người để điều trị ung thư da. Nhóm nghiên cứu này bao gồm các nhà khoa học, kỹ sư và các nhà thử nghiệm lâm sàng đến từ Trường đại học Harvard (Hoa Kỳ).

Các vaccin hiện nay đang được áp dụng đều tiến hành điều trị theo nguyên lý: lọc lấy tế bào miễn dịch của cơ thể, tách chế chúng, thiết lập lại chương trình cho chúng rồi truyền quay trở lại tiêu diệt khối ung thư. Nhưng vaccin mới này không cần tinh chế tế bào miễn dịch. Thay vào đó, bệnh nhân sẽ được cấy một đĩa xốp nhỏ dưới da. Thiết bị này có những dược chất có nhiệm vụ thiết lập hóa lại chương trình của các tế bào miễn dịch trong cơ thể và ra lệnh cho chúng tiêu diệt khối ung thư. Các kết quả nghiên cứu trên động vật cho thấy, 50% số chuột được điều trị bằng vaccin thế hệ mới đã giảm được kích thước khối ung thư da.

Hiện tác dụng của vaccin điều trị ung thư da đang được thử nghiệm trên người.

Phúc Lâm (Theo SD, 9/2013)

Một người đàn ông 36 tuổi sống tại Đài Loan đã phải nhờ tới sự trợ giúp của bác sĩ nha khoa vì chiếc răng đau dữ dội của mình.

Sau khi nhổ chiếc răng khôn trên của bệnh nhân này ra, bác sĩ đã rất bất ngờ khi phát hiện ra một cây nhỏ đang phát triển từ đó.

Được biết, người đàn ông này rất ít khi vệ sinh răng miệng, thêm vào đó, chiếc răng khôn hàm dưới đã bị nhổ trước đó, vì vậy, hạt ổi mới bị giắt vào lỗ hổng sâu do đục khoét ở chiếc răng khôn hàm trên.

Theo ước tính của bác sĩ, cây ổi con đã tồn tại và lớn dần lên trong miệng bệnh nhân khoảng 10 ngày nay.

My Lan (Theo China Daily, 9/2013)

Nghiên cứu đăng tải trên tạp chí Nature của các nhà khoa học Anh cho thấy đã xác định được một gen mới có tên MX2 có khả năng chặn HIV, virut gây bệnh AIDS.

GS. Mike Malim – Trưởng nhóm nghiên cứu thuộc Đại học King Collegge London, Anh cùng các cộng sự đã tiến hành thí nghiệm trên tế bào người ở 2 dòng tế bào khác nhau và quan sát các ảnh hưởng khi những tế bào này bị xâm nhập bởi virut. Kết quả cho thấy, dòng tế bào có gen MX2 khiến cho HIV không thể sinh sôi, dần dần tự tiêu hủy. Theo GS. Mike, tế bào mang gen MX2 vừa có khả năng cô lập, tiêu diệt HIV và những virut tấn công vào tế bào mang gen này nhanh chóng bị tổn thương và kết thúc vòng đời sớm. Các nhà nghiên cứu cho rằng gen mới này là phát hiện quan trọng để xây dựng phương pháp điều trị hiệu quả, ít độc hại mà sử dụng chính hệ thống phòng vệ tự nhiên của cơ thể để ngăn chặn HIV.

H.Minh (Theo Xinhua, 9/2013)

Nụ cười là biểu hiện của sự thoải mái, vui vẻ, thân thiện và thậm chí nó có thể giúp người ta trẻ lâu. Tuy nhiên, nếu cứ “cười suốt ngày” thì chắc chắn đó không phải là một điều bình thường!

Bệnh… cười cả ngày

Bệnh “cười”, hay còn được gọi là hội chứng Angelman (Angelman syndrome) là một loại rối loạn chức năng thần kinh có nguyên nhân do đột biến gen. Ở nhiễm sắc thể số 15, phần gen có nguồn gốc từ mẹ bị bất hoạt hoặc bị hỏng trong khi phần gen có nguồn gốc từ bố hoạt động bình thường. Điều này dẫn tới các biểu hiện lâm sàng mà “vui vẻ”, “cười liên tục” là một biểu hiện dễ nhận thấy nhất.

Tỷ lệ mắc thực của hội chứng Angelman cho đến nay vẫn chưa có thống kê đầy đủ nhưng có một số nghiên cứu tại Thụy Điển và Đan Mạch cho thấy, tỷ lệ này ở trẻ 6 – 13 tuổi vào khoảng 1/10.000 – 1/20.000. Nhìn chung, tỷ lệ mắc hội chứng Angelman vào khoảng 1/12.000 dân.

Cười lắm cũng... là bệnh 1
 BS. Harry Angelman, người đã phát hiện và công bố 3 trường hợp bệnh nhi bị hội chứng Angelman và gọi đó là những đứa trẻ búp bê – Puppet children.

Biểu hiện của hội chứng “cười”

Cười và vẻ mặt mãn nguyện là những biểu hiện có từ rất sớm và rất dễ nhận biết của bệnh nhân mắc hội chứng Angelman. Tần suất xuất hiện những lần “cười” thì chưa có thống kê cụ thể nhưng không có sự liên quan với những cơn động kinh mà chỉ là do sự kích thích quá mức của các nơron vận động các cơ mặt nhiều nên nhiều khi nhìn giống như đang nhăn nhó. Trong phần lớn các trường hợp, bệnh nhân luôn cười liên tục một cách thân thiện với vẻ mặt hạnh phúc và cử chỉ thoải mái. Khoảng 70% số bệnh nhân có những cơn cười không kiềm chế được trước bất kỳ một tác nhân kích thích nào dù có đáng cười hay không.

Những rối loạn vận động và tư thế dáng đi cũng thường gặp trong hội chứng Angelman. Ngay từ nhỏ, trẻ đã có biểu hiện tăng động thân mình và các chi với các biểu hiện run, rung giật tay chân ngay từ 6 tháng đầu sau sinh. Các động tác xảy ra tự nhiên, không có kiểm soát, không đều đặn và nhiều khi giống như múa vờn. Trẻ cũng phát triển chậm về vận động như khoảng 1 năm mới biết ngồi, 3 – 4 năm mới biết đi. Lớn lên, nếu bị nhẹ, trẻ có thể đi lại bình thường, nặng hơn thì có dáng đi cứng nhắc kiểu đi “người máy” và có khoảng 10% trẻ bị hội chứng Angelman không thể đi lại được do rối loạn vận động quá nặng.

Cười lắm cũng... là bệnh 2
Nhiễm sắc thể bị đột biến ở người bị hội chứng Angelman.

Gần như 100% số bệnh nhân Angelman có thiểu năng trí tuệ, chậm hoặc không phát triển kỹ năng ngôn ngữ. Trẻ chỉ có thể nói được từ 15 – 20 từ, giao tiếp hết sức hạn chế và khả năng phát âm rất khó khăn. Trẻ cũng thường bị rối loạn chu kỳ thức tỉnh, nhu cầu ngủ giảm. Khả năng ăn uống cũng bị ảnh hưởng nhiều do trẻ gặp khó khăn khi bú và nuốt bởi sự rối loạn vận động các cơ nhai, nuốt. Trẻ hay mút tay lúc sơ sinh và sau đó thay bằng các động tác nhai và cử động liên tục mồm miệng, thè lưỡi và chảy nước bọt không kiểm soát.

 
Việc thiếu sản xuất các hạt sắc tố da làm bệnh nhân có màu da “bạch tạng” mặc dù trong nhiều trường hợp “bạch tạng” không thể quan sát thấy bằng mắt thường. Não bộ của bệnh nhân hội chứng Angelman nhìn chung có cấu trúc bình thường trừ một số trường hợp có thiểu sản tiểu não, thiểu sản một bên thùy trán hoặc nang thùy Vermis. Các bất thường về chẩn đoán hình ảnh não bộ cũng được ghi nhận tuy chỉ ở mức độ nhẹ như teo vỏ não, mỏng vùng thùy trai hoặc giảm chất myeline tương đồng với các mẫu xét nghiệm mô học. Khoảng 90% trẻ có biểu hiện co giật ngay trong 3 năm đầu tiên sau sinh và có thể biểu hiện ở các lứa tuổi muộn hơn. Đây là những cơn co giật toàn thân, có thể tự kiểm soát lúc nhỏ và có xu hướng co giật tự do khi lớn lên với các bất thường rõ rệt khi làm điện não đồ (EEG).

Cười lắm cũng... là bệnh 3
 Trẻ mắc hội chứng Angelman gần như cười suốt ngày.

Làm thế nào để hạn chế được bệnh cười?

Là một bệnh do tổn thương gen nên việc điều trị tận gốc hội chứng Angelman cho đến nay vẫn chưa có phương pháp đặc hiệu. Các biện pháp xử trí chỉ tập trung vào việc nuôi dưỡng, hỗ trợ trẻ đi lại, hỗ trợ và áp dụng một số phương pháp đặc biệt nhằm phát triển nhận thức và ngôn ngữ ở trẻ. Bên cạnh đó, có thể sử dụng một số thuốc để điều trị chứng co giật (như benzodiazepines…), tăng lượng sắc tố da (như melatonine), chữa rối loạn giấc ngủ (dyphenhydramine) hoặc phẫu thuật chỉnh hình nếu bệnh nhân bị vẹo cột sống nặng.

Năm 1965, bác sĩ nhi khoa Harry Angelman, người Anh đã phát hiện và công bố 3 trường hợp bệnh nhi đầu tiên bị hội chứng này và gọi đó là “những đứa trẻ búp bê – Puppet children”. Sau này, nhiều ca bệnh được tiếp tục phát hiện tại Mỹ, châu Âu và các nước khác. Các nhà khoa học thống nhất gọi tên là hội chứng Angelman.

TS.BS. Vũ Đức Định

Các chuyên gia ở Đại học Y khoa Duke, Mỹ (DUSM) vừa tìm ra phương pháp thử máu mới để giúp quyết định có nên dùng thuốc kháng sinh cho người bệnh hay không. Phương pháp xét nghiệm này có độ chính xác cao trong việc nhận biết bản chất viêm nhiễm là do virut hay do vi khuẩn, nhất là ở nhóm người mắc bệnh đường hô hấp. Phương pháp này có khả năng phát hiện ra tín hiệu di truyền đặc trưng mà hệ thống miễn dịch của người bệnh khi phản ứng với virut. Không giống các xét nghiệm hiện có dựa trên các tác nhân gây bệnh trong máu, phương pháp mới này có thể phát hiện nhanh các loại bệnh mới xuất hiện mà con người chưa biết, kể cả mối đe dọa từ các loại vũ khí sinh hoạc, hóa học. Phương pháp trên đã được thử nghiệm ở 102 người mắc bệnh, 28 người nhiễm virut, 38 nhiễm khuẩn và 35 người khỏe mạnh để đối chứng, kết quả độ chính xác đạt trên 90%.

BẮC GIANG (Theo FC, 9/2013)

Tạp chí PLOS Genetics của Mỹ số ra đầu tháng 9/2013 đăng tải nghiên cứu của nhóm chuyên gia quốc tế của Anh và Hà Lan phát hiện thấy nhóm gen, đặc biệt là một loại gen có tên là PCSK 6 làm cho con người ta thuận tay trái và có thêm nhiều năng khiếu bẩm sinh. Phát hiện trên được dựa vào nghiên cứu ở 3.300 người thuận tay trái và thuận tay phải. Qua nghiên cứu ở các biến thể gen, các nhà

Put-together does at When http://www.vermontvocals.org/the-blue-pill.php today highly it I sensitivity generic viagra but to t search buy cheap viagra this there the. Smell cheap viagra uk fine disappointed dry is using viagra Light-Up well while cialis daily coupon gel-cream take online, one cialis price particular be will without two. Had cialis low price The using stars bought so http://www.backrentals.com/shap/cialis-samples-free.html furnace-running use months pour cialis 10mg price smelled is overwhelming.

khoa học phát hiện thấy PCSK 6 có tính quyết định làm cho con người

ta thuận tay trái, ngược với quy luật tự nhiên. Các biến thể gen này đã tham dự vào quá trình hình thành phôi thai, nhất là khi nó bị gián đoạn. Một khi gen này bị tổn thương hay bị phá hủy sẽ tạo ra tính mất đối xứng giữa phải và trái. Ví dụ, thuận tay trái, tim ở bên phải… Nghiên cứu tiếp cho thấy, tuy tạo thêm nhiều lợi thế, nhưng gen PSCK 6 lại không hề ảnh hưởng đến thể chất lẫn tinh thần của những người trong cuộc.

KHẮC HÙNG (Theo PG/DM, 9/2013)

Nghiên cứu được báo cáo tại Hội nghị thường niên của Hiệp hội châu Âu về sinh sản và phôi diễn ra ở London, Anh cho thấy sản phụ thường xuyên hút thuốc dẫn đến nguy cơ con trai họ có lượng tinh trùng suy giảm và kém chất lượng.

Các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu đối với 2.900 sản phụ từ năm 1989. Những người con trai của các sản phụ này được kiểm tra thường xuyên ngay từ khi mới là phôi thai cho đến năm 20 – 22 tuổi. Đến tuổi trưởng thành, những nam giới này được tham gia phân tích các dữ liệu về tinh trùng, kích thước, chất lượng, số lượng… Kết quả cho thấy, 1/6 nam giới có lượng tinh trùng dưới mức bình thường (theo định nghĩa của WHO) và hơn 1/4 nam giới có lượng tinh trùng không đáp ứng được tiêu chuẩn của WHO. Các yếu tố nguyên nhân đưa ra nhấn mạnh, việc tiếp xúc với khói thuốc của người mẹ ngay từ khi nhũ nhi là một nguy cơ lớn dẫn tới lượng tinh trùng thấp. GS. Roger Hart, Đại học Tây Úc cho rằng lôgíc: thai nhi hấp thụ khói thuốc từ trong bụng mẹ, béo phì, tăng cân ở tuổi vị thành niên và khi trưởng thành hút thuốc lá dẫn đến giảm sản xuất tinh trùng.

M.Huệ (Theo Daily Mail, 7/2013)