Thường tuổi từ 40 trở lên dễ phát sinh bệnh động mạch vành và hay gặp ở những người lao động trí óc, nam mắc nhiều hơn nữ; đặc biệt là người mắc bệnh mỡ máu cao, huyết áp tăng, xơ vữa thành mạch, người nghiện thuốc lá… là dễ mắc chứng động mạch vành.
Đông y cho rằng, bệnh động mạch vành thuộc chứng tâm thống (tức đau tim, đau ngực). Bệnh phát sinh phụ thuộc vào sự thịnh suy của các tạng tâm, can, thận và tỳ; kết hợp với sự điều hòa khí huyết bất thường gây nên hiện tượng huyết ứ, khí trệ, đàm trọc. Ngoài việc dùng thuốc, dưới đây chúng tôi xin giới thiệu một số món ăn, bài thuốc có tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh mạch vành để bạn đọc tham khảo và áp dụng khi cần thiết:
Chuối tiêu chấm vừng đen: chuối tiêu 500g, vừng đen (hắc chi ma) 15g. Vừng đen rang chín, bóc chuối tiêu chấm ăn hết chuối và vừng đen. Ngày ăn 1 – 2 lần. Cần một thời gian sẽ có tác dụng hạ huyết áp do trong chuối tiêu có chứa nhiều kali và có lợi cho mạch vành.
Mộc nhĩ trắng (ngân nhĩ): có công hiệu làm giảm mỡ máu, hạ huyết áp, lợi cho động mạch vành nếu thường xuyên dùng. Mộc nhĩ trắng 4g ngâm vào nước cho nở, rửa sạch, cắt bỏ chân, cho vào sắc lấy nước, thêm đường vừa ngọt, ăn cái, uống nước; ngày 2 lần.
Rau chân vịt cách thủy: có công hiệu làm hạ huyết áp, phòng bệnh mạch vành. Rau chân vịt 200g, rửa sạch cho vào 200ml nước đem hấp cách thủy chín trong 10 phút, mang ra gạn lấy nước uống hết vào sáng, chiều.
Canh mộc nhĩ đen: trị mạch vành và mỡ máu cao hay tăng huyết áp thuộc chứng ứ trệ, huyết ứ. Mộc nhĩ đen 6g, đường vừa đủ. Ngâm mộc nhĩ cho nở, rửa sạch, cắt bỏ chân, sau cho nhỏ lửa nấu nhừ, tra đường trắng đủ ngọt, ăn mộc nhĩ uống nước canh, ngày 1 – 3 lần.
![]() Cá trắm cỏ nấu bí đao tốt cho bệnh mạch vành.
|
Cá trắm cỏ, bí đao: có công hiệu trị mạch vành. Cá trắm cỏ cả con chừng 250 – 500g, bí đao 250 – 500g. Làm sạch cá rán vàng bằng dầu, sau cho bí đao đã thái miếng vào, ninh nhừ bằng lửa nhỏ trong 3 – 4 giờ liền, nêm muối vừa miệng ăn cả cái lẫn nước, ngày 1 lần.
Trà sơn tra – lá sen: hạ huyết áp, giảm mỡ máu, có lợi cho mạch vành. Sơn tra 30g, lá sen 20g, cho cả vào sắc lấy 1 bát nước thuốc uống, ngày uống 1 thang này.
Nước sắc đan sâm: đan sâm 20g, sắc lấy nước uống trong ngày. Uống thường xuyên có công hiệu trị bệnh mạch vành, tắc mạch máu não.
Nước sắc xuyên khung: xuyên khung 10g, sắc lấy nước uống trong ngày có công hiệu phòng trị bệnh động mạch vành và tắc mạch máu não.
Krokodil và những điều chưa biết
Cái tên krokodil nghĩa là cá sấu, sở dĩ người ta đặt biệt danh này bởi vì những ảnh hưởng trực tiếp mà nó gây ra cho người dùng: trên người con nghiện có những vết sẫm màu, vùng da chích thuốc có vảy giống vảy cá sấu và vết thương tại nơi chích thuốc sẽ bị hoại tử dần không khác gì vết cắn của con cá sấu. Một điểm dễ nhận dạng nữa của con nghiện krokodil đó chính là mùi iốt nồng nặc do quá trình tự chế thuốc bám vào cơ thể.
Krokodil có thành phần chính là desomorphine – đây là chất hóa học được nghiên cứu ở Mỹ vào năm 1932 – nó là dẫn xuất morphin nhưng mạnh hơn từ 8 – 10 lần với cùng liều lượng. Thông thường, krokodil được tổng hợp từ một số hợp chất bao gồm codein, iốt, phốtpho đỏ cùng các phụ gia trộn lại với nhau và con nghiện có thể dễ dàng tự pha chế cho mình. Thời gian phê thuốc tới 90 phút, thậm chí là 120 phút.
![]() Quá trình chuyển hóa từ codeine sang desomorphine – chất gây nghiện chính trong krokodil.
|
Tác hại khủng khiếp của krokodil
Krokodil được các con nghiện tiêm dưới da, ngay sau đó, vùng da bị tiêm sẽ xuất hiện những vảy tróc như cá sấu, theo thời gian không điều trị sẽ dẫn tới lở loét, hoại tử và thối rữa tay, chân. Đồng thời, người nghiện sẽ không có khả năng đi lại, vận động thường xuyên vì những biến dạng nghiêm trọng của vết lở loét có thể dẫn đến cụt tay, chân; trở ngại về ngôn ngữ, tổn thương não. Tuy nhiên, khi lên cơn “phê” thuốc, con nghiện sẽ không còn cảm giác đau đớn mà các vết thương đang hoại tử mang lại và cứ thế tăng liều lượng, càng nghiện nặng hơn cho tới khi chết vì bị krokodil “ăn thịt”.
Với những người chích krokodil vào tĩnh mạch cổ, phần mô xương xốp, đặc biệt là ở hàm dưới, thường bắt đầu tiêu hủy dần vì chất axít có trong hỗn hợp. Hậu quả là răng rụng hết trước khi lợi thối rữa. Việc tiêm krokodil không khác nào tiêm thẳng thuốc độc vào tĩnh mạch.
![]() |
Người ta còn so sánh tác hại của krokodil với những hậu quả kinh hoàng mà levamisole, một loại thuốc trị giun cho gia súc gây ra cho các con nghiện ở Mỹ. Khi con nghiện hít hoặc hút chất gây nghiện có trộn levamisole, mũi, tai và cổ, hoặc ở một số trường hợp nghiêm trọng, toàn cơ thể bị thối rữa.
Bác sĩ Artyom Yegorov tại Trung tâm Cai nghiện ở thành phố Tver cho biết: “Krokodil khó cai nghiện nhất. Đối với trường hợp cai heroin, các triệu chứng chính gây vật vã thường bớt dần từ 5 – 10 ngày kể từ khi cắt cơn. Nhưng đối với krokodil, hiện tượng đau đớn kéo dài đến 1 tháng và hầu như không thể chịu đựng nổi”. Do đó, những người nghiện krokodil thường tử vong trong vòng 2 – 3 năm sau khi họ bắt đầu sử dụng loại ma túy này so với thời gian 5 – 7 năm ở những người nghiện heroin”.
![]() Các hình ảnh tàn phá cơ thể của krokodil.
|
Và krododil đang lan rộng
Minh Huệ (Tổng hợp)
Có những căn bệnh bí ẩn đã thách thức các bác sỹ hàng năm trời: người lớn có những biểu hiện kỳ lạ còn trẻ em gặp phải các vấn đề thần kinh, trí tuệ chậm phát triển hay cơ quá yếu để có thể đứng vững. Giờ đây, các nhà khoa học có thể tìm ra nguyên nhân của 1/4 các ca bệnh này nhờ giải mã gen của bệnh nhân.
![]() Siêu âm gen giải quyết các bệnh bí ẩn ở trẻ em và người lớn.
|
Nghiên cứu của họ là nỗ lực đầu tiên nhằm chuyển xếp chuỗi gen ra khỏi phòng thí nghiệm và áp dụng vào chăm sóc y tế thông thường, báo hiệu công nghệ này sẽ mang lại tia hy vọng mới.
TS. Christine M. Eng, Trường Y khoa Baylor tại Houston, Hoa Kỳ cho biết: “Đây là lợi ích trực tiếp của Dự án bộ gen người”, nỗ lực nhằm giải mã ADN của chúng ta. “Giờ đây chúng ta có thể giúp bệnh nhân hưởng lợi trực tiếp thông qua các chẩn đoán chính xác hơn”.
Bà dẫn đầu công trình nghiên cứu được xuất bản online bởi tạp chí Y khoa New England. Nó đem lại kết quả cho 250 bệnh nhân đầu tiên đã được Baylor giải mã một phân đoạn AND chứa các công thức cho tất cả các loại protein mà cơ thể cần, chiếm chưa đến 1% của toàn bộ bộ gen.
![]() Xếp chuỗi ADN tại Trường Y khoa Baylor
|
Cho tới nay, Baylor đã xếp chuỗi gen cho 1700 bệnh nhân, và tìm thấy khiếm khuyết gen ở 1/4 số người này.
Các lĩnh vực y khoa khác cũng đang khám phá tiềm năng xếp chuỗi gen. Tháng trước, chính phủ Mỹ đã khởi động một dự án thí điểm nhằm siêu âm gen cho trẻ sơ sinh. Tháng 12 năm ngoái, hai nghiên cứu báo cáo việc sử dụng siêu âm gen thai nhi trong suốt quá trình điều trị thụ thai, nhằm tìm hiểu nguyên nhân thai chết non.
BV (Theo AP, Nejm.org)
Nghiên cứu mới đăng tải trên Tạp chí Khoa học ở Mỹ ngày 5/9/2013 cho thấy, sử dụng các vi khuẩn từ ruột của người gầy có thể giúp những người béo phì giảm cân.
M.Huệ (Theo Guardian, 9 /2013)
Các chuyên gia Cao đẳng y khoa London Anh (UCL) thực hiện nghiên cứu ở 20.458 người, phát hiện thấy những người thói quen vận động hàng ngày có tác dụng tích cực, làm giảm nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường (ĐTĐ). Ví dụ, về béo phì, thừa cân, những người hàng ngày đi làm bằng các phương tiện giao thông công cộng giảm được 15%, đi bộ giảm được 20% và đi xe đạp giảm 20%. Đối với nguy cơ mắc ĐTĐ, nhóm đi bộ giảm được tới 40%, đi xe đạp giảm được 50% rủi ro mắc bệnh ĐTĐ. TS. Mindell, người chủ trì nghiên cứu cho hay, không nhất thiết phải chạy bộ nhưng nếu duy trì cuộc sống vận động mỗi ngày, hạn chế cuộc sống tĩnh tại nằm nhiều, ngồi nhiều sẽ có tác dụng tích cực làm giảm cân, máu lưu thông tốt sẽ giảm được nhiều bệnh, trong đó có bệnh ĐTĐ. Và quan trọng hơn đi bộ, đi xe đạp mang tính môi trường thân thiện, đơn giản, rẻ tiền, dễ thực hiện miễn là mọi người có lòng kiên trì và duy trì đều đặn.
NAM BẮC GIANG (Theo PC, 8/2013)
Tờ Daily Mail của Anh số ra trung tuần tháng 9/2013 đăng tải kết quả cuộc điều tra trên 2.000 người, phát hiện thấy đàn ông sợ bệnh hói đầu hơn cả bệnh bất lực. Theo Toni Mackenzie, chuyên gia liệu pháp thần kinh, phụ trách cuộc điều tra này thì có rất nhiều lý do liên quan đến nỗi lo của đàn ông trung, cao tuổi. Cụ thể, có tới 89% coi bất lực là nỗi buồn của họ trong khi đó nỗi lo hói đầu lại chiếm tới 94%. Xếp thứ 3 là sợ béo phì 64% và xếp thứ 4 là nỗi sợ móm. Như vậy, bệnh hói đầu tuy ít tác động đến sức khỏe thể chất nhưng lại ảnh hưởng lớn đến sức khỏe tinh thần và được quan tâm nhiều hơn vì nó làm tăng tính tự ti, mặc cảm bởi nó không thể giấu được và hay bị người đời trêu chọc, nó còn tệ hơn cả mối lo tóc bạc và bệnh bất lực. Tổng thể, hói đầu còn gây rất nhiều tác động bất lợi cho sức khỏe mà người ta chưa đánh giá hết.
KHẮC NAM (Theo MC, 9/2013)
Bệnh chủ yếu lây qua đường ăn uống
Thủ phạm gây ra bệnh thương hàn chính là vi khuẩn Salmonella typhi. Salmonelleae thuộc họ Enterobacteriaceae với chỉ một dòng duy nhất là Salmonella và được lấy từ tên nhà khoa học người Mỹ, D.E. Salmon. Đây là trực khuẩn Gram (-), hiếu khí tùy nghi di động. Salmonella có ba loại kháng nguyên bề mặt (kháng nguyên thân O, kháng nguyên lông H và kháng nguyên độc).
Salmonella xâm nhập cơ thể qua đường miệng và hầu hết là do ăn phải thức ăn bị nhiễm như thực phẩm, sữa, nước uống… Sau khi xuyên qua hàng rào acid dạ dày, vi khuẩn di động về phía ruột non và sinh sản ở đó, tiếp tục chui qua màng nhày và vào thành ruột và đi vào máu. Vi khuẩn sẽ được chuyên chở bởi những tế bào bạch cầu ở gan, lách và tuỷ xương. Khi đó vi khuẩn sẽ sinh sôi nảy nở trong tế bào của những cơ quan này và quay lại dòng máu. Vi khuẩn xâm nhập túi mật, hệ thống ống mật và mô lympho trong ruột. Tại đây, chúng sinh sôi nảy nở với số lượng lớn. Khi vi khuẩn vào trong ruột, nó có thể được chẩn đoán bằng cách lấy phân đem đến phòng xét nghiệm để cấy. Một xét nghiệm khác là xét nghiệm Widal giúp phát hiện và lượng giá kháng thể của vi khuẩn thương hàn trong máu và trong nước tiểu.
![]() Thực phẩm bày bán không vệ sinh dễ bị nhiễm vi khuẩn thương hàn.
|
Bệnh thương hàn là do vi khuẩn lây truyền qua đường ăn uống bởi nước hay thức ăn bị nhiễm. Bệnh nhân bị bệnh cấp tính có thể lây ra môi trường nước xung quanh qua phân, ở giai đoạn cấp các chất thải (phân) có chứa nồng độ vi khuẩn rất cao.
Chỉ có 3 – 5% trở thành người mang khuẩn sau giai đoạn bệnh cấp. Một số bệnh nhân bị bệnh nhẹ, có thể họ không nhận biết được. Những người này về lâu dài có thể trở thành người lành mang khuẩn. Vi khuẩn thương hàn sinh sôi trong túi mật, ống mật hay trong gan và đi vào trong ruột, chúng có thể sống sót vài tuần trong nước hay chất thải khô. Những người mang trùng mạn tính này thường không có triệu chứng và là nguồn lây bệnh sốt thương hàn trong nhiều năm.
Dấu hiện nhận biết
Khi vi khuẩn Salmonella typhi xâm nhập cơ thể sẽ gây ra triệu chứng sốt, đau đầu, mệt mỏi, chán ăn, nhịp tim tương đối chậm, khoảng 25% có nốt hồng ban trên cơ thể. Người bệnh đau bụng, nôn, táo bón hoặc tiêu chảy, phân đen hoặc có máu. Bụng trướng, gan to, lách hơi to, có dấu hiệu óc ách hố chậu phải. Nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời sẽ gây ra những biến chứng nguy hiểm như chảy máu ruột, thủng ruột do các vết viêm loét ở hạch Payer hoặc bị rối loạn chức năng não và dễ gây ra tử vong.
Bệnh phó thương hàn (paratyphoid fever) cũng có biểu hiện lâm sàng tương tự như bệnh thương hàn nhưng nhẹ hơn và tỷ lệ tử vong thấp hơn nhiều. Trường hợp bị nhiễm khuẩn thương hàn không có biểu hiện toàn thân mà chỉ có biểu hiện viêm dạ dày – ruột do vi khuẩn Samonella typimurium hoặc Salmonella enteritidis từ động vật nhiễm vào thực phẩm gọi là bệnh nhiễm khuẩn thức ăn do vi khuẩn Salmonella hoặc bệnh Salmonella.
Tất cả mọi người đều có thể bị cảm nhiễm bởi vi khuẩn gây bệnh thương hàn. Thời kỳ ủ bệnh phụ thuộc vào số lượng vi khuẩn xâm nhập, có thể từ vài ngày tới vài tháng, nhưng thông thường từ 1 – 3 tuần. Đối với vi khuẩn phó thương hàn gây bệnh viêm dạ dày – ruột thì thời gian ủ bệnh từ 1 – 10 ngày.
Điều trị như thế nào?
Bệnh thương hàn được điều trị bằng kháng sinh nhằm tiêu diệt vi khuẩn Salmonella. Trước khi sử dụng kháng sinh, tỷ lệ tử vong của bệnh là 10%. Tử vong xảy ra là do vi khuẩn thương hàn gây viêm phổi, xuất huyết tiêu hóa (chảy máu đường ruột) hay thủng ruột. Lựa chọn kháng sinh điều trị thương hàn phải là những thuốc kháng sinh đặc hiệu với Salmonella như ceftriaxone, ciprofroxaxine, pefloxaxine… Các thuốc này có tính chất khuếch tán đến nhiều cơ quan trong cơ thể. Bên cạnh điều trị kháng sinh phải chú ý đến cân bằng điện giải, chế độ dinh dưỡng hợp lý (những trường hợp nhịn ăn khi có xuất huyết tiêu hóa nặng hoặc nghi ngờ thủng ruột), điều trị triệu chứng và các biến chứng kèm theo.
Lời khuyên của thầy thuốc
BS. Đỗ Minh Hải
Một trong những nguyên nhân trực tiếp gây bệnh gút là do tăng nồng độ axit uric trong máu. Bên cạnh việc uống các thuốc hạ axit uric thường dùng thì người bệnh có thể thực hiện chế độ dinh dưỡng phù hợp để ngăn ngừa và điều trị gút hiệu quả.
Axit uric là một chất thải hình thành bởi quá trình chuyển hóa chất purin có trong cơ thể. Khi lượng axit uric tăng lên, xuất hiện ở màng hoạt dịch khớp, gây nên phản ứng viêm cấp tính với cường độ lớn, dẫn đến sưng nóng, đỏ, đau nhức khớp dữ dội và có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm khác ở giai đoạn muộn. Một trong những biện pháp quan trọng để giảm nồng độ axit uric và phòng ngừa bệnh gút tái phát là người bệnh nên dùng các thực phẩm không hoặc ít có nhân purin, từ đó giảm tổng hợp axit uric, đồng thời uống nhiều nước (đặc biệt nước khoáng kiềm), giúp tăng cường đào thải axit uric qua đường tiết niệu.
![]() Các loại rau xanh và hoa quả giúp giảm nồng độ axit uric trong máu. |
Sau đây là một số thực phẩm giúp giảm nồng độ axit uric trong máu mà bệnh nhân gút nên sử dụng như: dưa leo, củ sắn, cà chua,… Ngoài ra, nên tăng cường lượng nước uống để kích thích thải axit uric ra ngoài; kiêng hoặc hạn chế các thực phẩm có chứa nhiều nhân purin như phủ tạng động vật (gan, thận, não, tụy,…), thịt dê, thịt bò, thịt cừu, thịt hun khói, lươn, nghêu, sò, cua, đậu hà lan, nấm,… và tuyệt đối không uống rượu, bia. Ở giai đoạn nặng, người bệnh nên ăn chay theo chu kỳ với nhiều rau xanh dưới các dạng nấu, xào hoặc làm nộm để hỗ trợ điều trị gút và dự phòng tái phát.
Vì gút là một bệnh chuyển hóa, thường cần điều trị lâu dài, do đó, hiện nay, nhiều bác sĩ có xu hướng cho bệnh nhân điều trị gút theo phác đồ phối hợp Đông – Tây y, hiệu quả, an toàn, cụ thể: dùng các thuốc Tây y như colchicin trong cơn gút cấp để giảm nhanh triệu chứng đau, sau đó dùng bổ sung lâu dài các sản phẩm nguồn gốc thiên nhiên, không gây tác dụng phụ để hỗ trợ điều trị, giảm đau và phòng ngừa tái phát cơn gút cấp. Điển hình cho dòng sản phẩm thiên nhiên đã có nghiên cứu, đang được sử dụng phổ biến hiện nay là thực phẩm chức năng Hoàng Thống Phong. Với thành phần chính là cây trạch tả có tác dụng lợi tiểu, giúp tăng cường đào thải axit uric kết hợp cùng nhiều dược liệu khác như: ba kích, thổ phục linh, hoàng bá,… Hoàng Thống Phong giúp giảm đau, chống viêm, giảm sưng khớp, hạ nồng độ axit uric trong máu hiệu quả, từ đó ngăn chặn các cơn gút cấp tái phát mà không gây tác dụng phụ.
Nghiên cứu tại bệnh viện TƯ Quân đội 108 trên 27 bệnh nhân gút sử dụng colchicin phối hợp với Hoàng Thống Phong trong 7 ngày, sau đó chỉ dùng Hoàng Thống Phong đơn độc liên tục trong 6 tháng, kết quả cho thấy: Nồng độ axit uric máu giảm dần trong quá trình điều trị; 88,9% bệnh nhân có axit uric máu trở về giới hạn bình thường; 59,3% bệnh nhân giảm viêm đau khớp trong 2 ngày đầu; không có trường hợp nào bị tái phát cơn gút trong 6 tháng và không thấy tác dụng phụ.
Để kiểm soát cơn gút cấp, bên cạnh việc duy trì sử dụng Hoàng Thống Phong, người bệnh cần tuân thủ chế độ ăn kiêng hợp lý, uống nhiều nước (nước khoáng), sinh hoạt điều độ, làm việc nhẹ nhàng, tránh mệt mỏi và hạn chế dùng một số loại thuốc có thể làm tăng axit uric máu như thuốc lợi tiểu, thuốc corticoid, aspirin,…
Thu Hương
|
Hoàng Thống Phong- Sản phẩm thiên nhiên hàng đầu cho bệnh nhân gút: Thực phẩm chức năng Hoàng Thống Phong là sản phẩm có nguồn gốc 100% từ thảo dược, dẫn đầu cho dòng sản phẩm thiên nhiên trong phòng ngừa, hỗ trợ điều trị bệnh gút; giúp tăng cường chức năng gan, thận, hỗ trợ đào thải axit uric; giảm sưng đau khớp, ngăn chặn tái phát bệnh gút mà không gây tác dụng phụ, kể cả khi dùng lâu dài. Sản phẩm đã được nghiên cứu tại bệnh viện TƯ Quân đội 108 và cho nhiều kết quả tốt trên bệnh nhân gút. Để đạt hiệu quả cao nhất, người bệnh nên dùng Hoàng Thống Phong 2-3 lần/ngày, mỗi lần 3 viên trước bữa ăn 30 phút, uống liên tục theo từng đợt từ 3-6 tháng. Thực tế cho thấy, nhiều bác sĩ và bệnh nhân rất an tâm khi sử dụng Hoàng Thống Phong. |
Điện thoại tư vấn: 04.37757066 / 08.39770707
* Sản phẩm này không phải là thuốc, không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh
Ngủ ngon là quan trọng đối với mọi người. Người mắc bệnh suyễn và/hoặc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) có thể có những vấn đề về giấc ngủ dẫn đến thức giấc trong đêm và buồn ngủ ban ngày.
Điều này có thể làm cho những triệu chứng suyễn hoặc COPD nặng thêm. Có một số bước người mắc bệnh suyễn và/hoặc COPD có thể theo để cải thiện giấc ngủ.
Loại phiền toái về đêm tôi có thể có với suyễn và/hoặc COPD là gì?
Thức giấc vào ban đêm có thể xảy ra nếu bạn mắc bệnh suyễn hoặc COPD. Những lần thức giấc này làm giấc ngủ của bạn bị gián đoạn và khiến bạn có cảm giác chóng mặt sáng hôm sau và/hoặc mỏi mệt cả ngày hôm sau. Các triệu chứng của COPD và suyễn có thể gây thức giấc vào ban đêm gồm có ho, thở khò khè, nặng ngực và khó thở. Người mắc bệnh COPD và/hoặc suyễn cũng có thể có nhiều nguy cơ ngưng thở hơn và có thể thức giấc vì những triệu chứng ngưng thở này.
Ngưng thở lúc ngủ là gì và tại sao tôi bị ngưng thở lúc ngủ cùng với suyễn và/hoặc COPD?
Ngưng thở lúc ngủ là tình trạng khiến bạn có những giai đoạn ngưng thở trong lúc ngủ. Nhưng ngưng thở này thường kéo dài trong 10 giây hoặc lâu hơn. Người ta không rõ tại sao ngưng thở lúc ngủ lại xảy ra thường hơn ở người mắc bệnh suyễn và/hoặc COPD, nhưng bạn có nhiều nguy cơ hơn nếu bạn mắc bệnh suyễn nặng, quá cân, sung huyết mũi, trào ngược acid và/hoặc sử dụng corticosteroid dạng hít liều cao.
Những trục trặc về giấc ngủ ảnh hưởng đến bệnh suyễn và/hoặc COPD của tôi như thế nào?
Người mắc bệnh suyễn và/hoặc COPD thường xuyên thức giấc vào ban đêm thường bệnh nặng hơn. Họ cũng có nguy cơ mắc những biến chứng của suyễn hoặc COPD. Ngưng thở lúc ngủ có thể làm các triệu chứng suyễn trở nặng trong ngày hôm sau, tăng nhu cầu thuốc hít cấp cứu và làm chất lượng cuộc sống giảm sút. Nếu bạn mắc COPD, những lần ngưng thở và nồng độ oxy thấp khiến COPD của bạn trở nặng, tăng nguy cơ vào đợt cấp và giảm khả năng sống còn của bạn. Ngưng thở lúc ngủ chính nó là một tình trạng nghiêm trọng. Ở người ngưng thở lúc ngủ trung bình đến nặng mà không được điều trị, nguy cơ tăng huyết áp, bệnh tim và đột quỵ tăng lên.
Tôi có thể làm gì để ngủ tốt hơn?
Bước đầu tiên là bảo đảm rằng bệnh suyễn và/hoặc COPD của bạn được kiểm soát tốt. Bạn phải đến thầy thuốc để được định bệnh, xem bạn có đang được điều trị đúng cách không và soạn ra một loạt các bước bạn có thể thực hiện để kiểm soát suyễn/COPD, và hướng dẫn bạn vượt qua lúc ngưng thở đột ngột. Thầy thuốc sẽ hướng dẫn bạn khi nào thì sử dụng thuốc hít cấp cứu (albuterol) hoặc thở mím môi, chỉ bạn các câu tự hỏi về tình trạng của mình, hỏi bạn có lần nào ngưng thở đột ngột không. Ngoài ra, hãy nói cho thầy thuốc biết bạn có bị sung huyết mũi hoặc bị nóng rát sau ngực không để kiểm soát chúng tốt hơn. Nếu bạn hút thuốc, cai thuốc lá không chỉ giúp kiểm soát bệnh suyễn hoặc COPD của bạn mà còn cải thiện chất lượng cuộc sống của bạn. Hãy nói với thầy thuốc nếu bạn nghĩ rằng mình bị ngưng thở lúc ngủ để bạn có thể được định bệnh. Ngưng thở lúc ngủ là một tình trạng có thể điều trị được!
Nguồn: American Thoracic Society
http://patients.thoracic.org/information-series/index.php
Trần Thanh Xuân dịch
Bài 1: Dạ dày bò 200g, chỉ xác (sao) 10-20g, sa nhân 2g. Cách làm: Dạ dày bò sau khi rửa sạch cắt sợi, cùng chỉ xác và sa nhân cho vào nồi đất đun lửa to cho sôi sôi, sau đó hạ lửa nhỏ tiếp tục nấu đến chín, nêm nếm gia vị. Ăn liền tục trong 5 ngày.
Hoặc dạ dày bò 1 cái, đương quy 180g, một ít rượu, gia vị. Cách làm: Dạ dày bò rửa thật sạch, cắt thành lát nhỏ, cùng đương quy cho vào nồi đất, thêm nước lượng vừa, sau khi đun to lửa cho sôi, thêm rượu, hạ lửa nhỏ tiếp tục nấu cho đến khi canh đậm thịt nhừ, nêm nếm gia vị. Món ăn này thích hợp cho người bệnh sa dạ dày có triệu chứng đau.
![]() Canh gà mái tơ, gừng khô tốt cho người bệnh sa dạ dày. Ảnh: MH
|
Bài 2: Dạ dày lợn 1 cái, hoàng kỳ 200g, trần bì (vỏ quýt) 30g. Cách làm: Dạ dày lợn rửa sạch cắt sợi, sau đó cho thêm hoàng kỳ và vỏ quýt, thêm nước lượng vừa để nấu cho đến khi chín nhừ thì tắt lửa. Chia 2 lần dùng hết trong ngày, 10 ngày là một liệu trình.
Hoặc dạ dày lợn 1 cái, hoàng kỳ 20 – 30g, tiêu sọ 15g. Cách làm: Dạ dày lợn rửa sạch cắt lát, sau đó cùng hoàng kỳ, tiêu sọ cho vào nồi nước nấu chín, chia 2 hay 3 lần dùng trong ngày, 10 ngày là một liệu trình, bài thuốc này có tác dụng dưỡng vị bổ khí.
Bài 3: Sơn tra 15g, chỉ xác 15g. Sơn tra sau khi rửa sạch cùng chỉ xác cho vào nồi nấu, sau khi sôi hạ lửa nhỏ nấu tiếp sau đó bỏ bã lấy nước. Cách dùng: Mỗi ngày 1 chén, chia 2 lần dùng. Dùng trong 3 – 5 ngày.
Bài 4: Nhân sâm, sinh khương (gừng tươi), phục linh, trần bì (vỏ quýt) mỗi thứ 3g, thương truật 9g, chỉ thực 1,5g. Tất cả nguyên liệu trên cùng cho vào nồi đất, dùng nước lượng vừa để nấu, sau khi đun lửa to cho sôi thì hạ lửa vừa tiếp tục nấu đến khi chín mềm. Chia làm 3 lần dùng trong ngày, dùng liên tục trong 5 ngày.
Bài 5: Gà tơ 1 con, can khương (gừng khô), công đinh hương, sa nhân (mỗi thứ 3g). Gà tơ làm sạch. Can khương, công đinh hương, sa nhân cho vào túi vải buộc lại, rồi cho túi thuốc này và gà tơ vào nồi tiềm cách thủy, chia 2 lần ăn hết trong ngày, có tác dụng dưỡng vị ích khí.
Bác sĩ Lê Nam
Theo Đông y, vối có vị hơi chát, tính mát, không độc, tác dụng thanh nhiệt giải biểu, tiêu trệ, sát khuẩn. Từ lâu, cây vối (lá, nụ, vỏ, rễ) được người dân dùng làm trà uống giải khát. Lá vối có tác dụng kiện tì, giúp ăn ngon, tiêu hóa tốt. Chất đắng, chát trong vối sẽ kích thích tiết nhiều dịch tiêu hóa, chất tanin bảo vệ niêm mạc ruột, tinh dầu vối có tính kháng khuẩn nhưng đặc biệt không hại vi khuẩn có ích trong ruột.
![]() |
Đặc biệt, nụ vối hỗ trợ chữa bệnh đái tháo đường rất tốt. Theo nghiên cứu, người bệnh đái tháo đường nếu uống thường xuyên chè nụ vối sẽ giúp ổn định đường huyết, giảm mỡ máu, chống ôxy hóa tế bào, bảo vệ tổn thương tế bào beta tuyến tụy, phòng ngừa đục thủy tinh thể ở người bệnh đái tháo đường và giúp tăng chuyển hóa cơ bản. Điều đặc biệt là uống nụ vối không có tác dụng phụ đáng kể nên có thể uống thường xuyên.
Một số bài thuốc chữa bệnh từ vối
Hỗ trợ điều trị tăng mỡ máu: Nụ vối 15 – 20g, hãm lấy nước uống thay trà trong ngày hoặc nấu thành nước đặc chia 3 lần uống trong ngày. Uống thường xuyên sẽ cho kết quả điều trị tốt.
Hoặc dùng 5 loại hoa, gồm nụ vối, kim ngân hoa, hoa cúc, hoa đại, hoa mộc miên (hoa gạo), chế thành dạng trà, uống mỗi ngày, rất tốt cho người bệnh mỡ máu cao.
![]() Vối có tác dụng thanh nhiệt giải biểu, tiêu trệ, sát khuẩn.
|
Trị đau bụng đi ngoài, phân sống: Lá vối 3 cái, vỏ ổi 8g, núm quả chuối tiêu 10g. Tất cả thái nhỏ phơi khô sắc với 400ml nước, còn 100ml chia 2 lần uống trong ngày, dùng liền 2 – 3 ngày.
Chữa đầy bụng, không tiêu: Vỏ thân cây vối 6 – 12g, sắc kỹ lấy nước đặc uống 2 lần trong ngày hoặc dùng nụ vối 10 – 15g, sắc lấy nước đặc uống 3 lần trong ngày.
Chữa lở ngứa, chốc đầu: Lá vối vừa đủ nấu kỹ lấy nước để tắm, rửa nơi lở ngứa và gội đầu.
Hỗ trợ điều trị viêm gan, vàng da: Dùng rễ vối 200g sắc uống mỗi ngày.
Cụm hoa hình đầu, mọc ở nách lá, hoa cái gồm nhiều lớp, cánh hoa hình ống màu trắng, trên có răng cưa, tràng hoa hình chuông có bốn răng hình trứng rộng, màu hơi tím. Quả 4 cạnh, trên có lông mịn nhỏ. Mùa hoa tháng 2 – 5, mùa quả, tháng 4 – 7. Để dùng làm thuốc, thường hái toàn cây cả rễ, dùng tươi hay phơi hoặc sấy khô.
![]() |
Cây mọc hoang khắp nơi vùng đồng ruộng ẩm thấp, ruộng bỏ hoang, bờ rãnh, ven đường… Ngay cả trong các thành phố, chỗ những chân tường ẩm, khe gạch vỡ hở đất cũng thường hay gặp cây này.
Theo Đông y, cỏ the có vị đắng, cay, tính ấm, quy vào các kinh phế, can. Thường dùng chữa ho, viêm phế quản, mẩn ngứa, mụn nhọt, hắc lào, eczema,…
Một số bài thuốc kinh nghiệm
Chữa ho gió: Cỏ the (khô 15g hoặc 30g tươi), rửa sạch, đổ 500ml nước, sắc còn 100ml, chia 3 lần uống trong ngày, dùng liền 5 ngày.
Phòng và trị cảm cúm: Dùng cây cỏ the tươi 100g, rửa sạch,
giã nát, vắt lấy nước cốt, hòa thêm chút rượu trắng, chia 2 lần uống trong ngày, uống ấm. Có tác dụng với các triệu chứng phát sốt, sợ lạnh, tắc mũi, mũi chảy nước, đau đầu, đau mình mẩy…)
![]() Cây cỏ the (trái), cây bách bộ (phải), vị thuốc chữa viêm phế quản mạn tính.
|
Hỗ trợ chữa viêm phế quản mạn tính: Cỏ the 10g tươi, lá hen 12g, bách bộ 10, trần bì 8g, sắc uống ngày một thang. Uống 10-15 ngày.
Ho do cảm cúm: Cỏ the, lá xương sông, râu ngô, mỗi vị 40g, sắc uống ngày 1 thang. Uống 3-5 ngày.
Mẩn ngứa do thay đổi thời tiết: Dùng cây cỏ the tươi không kể liều lượng, rửa sạch, giã nát, rồi đắp lên chỗ mẩn ngứa xát vào chỗ bị mẩn ngứa, ngày làm nhiều lần. Làm trong vài ngày.
Hỗ trợ điều trị viêm mũi dị ứng: Dùng cây cỏ the (tươi hay khô đều được) vò nát, đưa vào sát lỗ mũi, hít vào sẽ hắt hơi, sau đó cảm thấy dễ thở và dễ chịu, mỗi ngày thực hiện từ 2-3 lần. Hoặc có thể vò nát cây cỏ the tươi, vê tròn rồi nhét vào lỗ mũi. Tác dụng thông mũi, tiêu viêm.
Trường hợp tăng huyết áp: Cỏ the 20g, hạ khô thảo 10g, mẫu đơn bì 10g (đập vụn, sao qua), hoa hòe 6g (sao vàng), cỏ ngọt 8g. Có thể dùng dưới dạng thuốc sắc hoặc dạng chè, uống hàng ngày.
Lương y Hữu Đức
Cốt toái bổ còn có tên khác là tổ phượng, tổ rồng, tắc kè đá. Bộ phận dùng làm thuốc là thân rễ khô của cây cốt toái bổ. Sau khi thu hoạch, rửa sạch đất cát, bóc bỏ lá, phơi khô, đốt nhẹ cho cháy hết lông nhỏ phủ xung quanh là được. Khi dùng thái thành lát nhỏ.
Theo Đông y, cốt toái bổ vị đắng, tính ôn, vào kinh can và thận. Có tác dụng bổ can thận, mạnh gân cốt, hành huyết, phá ứ, cầm máu, khu phong, trừ thấp và giảm đau. Chữa thận hư (suy giảm chức năng nội tiết), tiêu chảy kéo dài, chấn thương, bong gân tụ máu, sai khớp, gãy xương, đau nhức xương khớp, ù tai. Liều dùng: 10 – 20g rễ khô, dạng thuốc sắc hay ngâm rượu. Dùng ngoài không kể liều lượng: dạng tươi giã nát đắp vào vết thương, dạng khô tán bột để rắc.
![]() |
Cách dùng cốt toái bổ chữa bệnh:
Bổ thận chắc răng: Dùng trong trường hợp thận hư, dương phù sinh đau răng, chảy máu chân răng, răng lung lay.
Cốt toái bổ, liều lượng tùy ý, giã nhỏ, sao đen, tán thành bột mịn, sát vào lợi.
Thang gia vị địa hoàng: thục địa 16g, sơn dược 12g, sơn thù 12g, bạch linh 12g, đơn bì 12g, trạch tả 12g, tế tân 2,4g; cốt toái bổ 16g. Sắc uống.
Cốt toái bổ tán bột 4 – 6g, bầu dục lợn 1 cái. Đổ bột cốt toái bổ vào trong bầu dục lợn, nướng chín. Ăn ngày 1 quả. Chữa ù tai, đau lưng, thận hư đau răng.
Cốt toái bổ 16g, cẩu tích 20g, rễ gối hạc 12g, hoài sơn 20g, rễ cỏ xước (ngưu tất) 12g, dây đau xương 12g, thỏ ty tử 12g, tỳ giải 16g, đỗ trọng 16g. Sắc uống. Chữa đau lưng mỏi gối do thận hư yếu.
Tiếp cốt liệu thương (nối xương, chữa vết thương): Dùng trong trường hợp té ngã bị thương, xương gãy lâu liền.
Tẩu mã tán: cốt toái bổ, lá sen, trắc bách diệp, bồ kết, liều lượng bằng nhau. Tán thành bột mịn. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 12g, chiêu với nước; hoặc trộn với nước nóng thành hồ, đắp ngoài.
Cốt toái bổ 15g, sinh địa 10g, lá sen tươi 10g, trắc bá diệp tươi 10g. Sắc uống. Dùng khi bị thương, gân cốt tổn thương, chảy máu; răng bị viêm, lung lay chảy máu
Cốt toái bổ 12g, đảng sâm 16g, hoàng kỳ 12g, hoài sơn 16g, ba kích 16g, bạch truật 12g, đương quy 12g, cẩu tích 12g, tục đoạn 12g, mẫu lệ 12g, thiên niên kiện 8g. Sắc uống hoặc nấu thành cao lỏng. Tác dụng: bổ khí huyết, bổ gân xương. Dùng cho người già suy nhược cơ thể, gãy xương lâu liền.
Kiêng kỵ: Người có thực nhiệt thì không được dùng.
BS. Tiểu Lan
Cách chữa bệnh tùy theo thể bệnh trên lâm sàng và theo nguyên tắc cấp tính trị tiêu, mạn tính hòa hoãn trị bản. Thời gian chữa trị kéo dài có thể làm sỏi nhỏ lại tự tiêu hoặc tiểu tiện bài tiết ra ngoài. Có thể làm thay đổi cơ địa giúp sỏi không tái phát (sau khi bài tiết ra hay sau khi phẫu thuật lấy sỏi).
Dưới đây xin giới thiệu một số món canh dễ làm, ngon miệng hỗ trợ điều trị bệnh sỏi đường tiết niệu.
![]() Canh tôm nha đam.
|
Canh tôm nha đam: Một nhánh nha đam, gọt bỏ vỏ bên ngoài và cắt thành những miếng nhỏ, tôm 70g bóc vỏ, ướp gia vị vừa ăn trong 10 phút. Bắc nồi lên bếp cùng với một ít dầu, phi hành cho thơm. Cho tôm vào xào. Thêm khoảng 750ml nước và nấu cho tôm chín, cho nha đam vào. Đun thêm khoảng 5 – 7 phút nữa cho nha đam chín. Tắt bếp, cho thêm hành, mùi, ăn nóng. 10 ngày là một liệu trình.
Canh rau ngổ nấu thịt: Thịt nạc 100g ướp với gia vị vừa ăn. Bắc nồi lên bếp cùng với một ít dầu, cho hành vào, phi thơm. Cho thịt vào xào sơ qua. Thêm nước hầm xương vào nồi, đun sôi. Khi thịt chín thì tắt bếp. Thêm chút muối và 50g rau ngổ vào. Rau ngổ có tác dụng tiêu viêm, lợi tiểu, tăng lưu lượng lọc ở cầu thận nên có tác dụng tốt trong những trường hợp sỏi thận.
![]() Canh gà lá giang.
|
Canh gà lá giang: Thịt gà 200g chặt thành khúc ướp gia vị vừa ăn. Bắc nồi lên bếp và dùng ít dầu để xào thịt gà sơ qua. Tiếp theo chế vào nồi khoảng 750ml nước nấu
cho tới khi thịt gà chín. Thêm vào nồi canh 150g lá giang. Khoảng 5 phút sau là được. Thêm hành, mùi, ăn nóng. Món này có thể ăn hàng ngày. Theo nghiên cứu lâm sàng, lá giang có tác dụng điều trị sỏi thận với tỉ lệ thành công rất tốt.
Canh gan lợn mã đề: Gan lợn 200g cắt thành miếng nhỏ, ướp gia vị trong 10 phút, mã đề 30g. Bắc chảo lên bếp. Phi hành cho thơm rồi cho gan vào xào sơ qua. Thêm nước, nấu cho gan chín, cho mã đề vào đun thêm 5 phút là được. Thêm hành, mùi, ăn nóng. Với những người mắc bệnh tăng huyết áp… hạn chế dùng bài thuốc này.
Theo y học cổ truyền, mã đề vị ngọt, tính lạnh, quy kinh thận và bàng quang. Mã đề dùng trị các chứng như: Tả lỵ, viêm đường hô hấp, tiểu ra máu, nhiệt bên trong cơ thể, mụn nhọt…
Lương y Đức An
Đái tháo đường là một trong những căn bệnh nghiêm trọng đe dọa sức khỏe và sự phát triển kinh tế xã hội của tất cả các quốc gia. Số người mắc bệnh đang gia tăng nhanh chóng trên phạm vi toàn thế giới. Trong điều trị bệnh đái tháo đường thì chế độ ăn cần được tuân thủ chặt chẽ. Sau đây là một số món ăn giúp cho bệnh nhân ổn định mức đường trong máu, ngăn chặn hoặc làm chậm xuất hiện các biến chứng.
Cháo địa cốt bì: địa cốt bì 30g, tang bạch bì 15g, mạch môn đông 15g, bột miến dong 100g. Đem 3 loại dược liệu cùng sắc lấy nước, đem nước sắc này nấu với bột miến dong thành cháo. Dùng cho bệnh nhân đái tháo đường, khát nước uống nhiều, gầy yếu suy kiệt.
Cháo rau cần tây: cần tây tươi 60g, gạo tẻ 50 – 100g. Cần tây tươi rửa sạch thái nhỏ đem nấu với gạo tẻ thành cháo, thêm muối, gia vị, cho ăn nóng sáng và chiều. Dùng cho các trường hợp tăng huyết áp và bệnh đái tháo đường.
![]() Canh thịt dê đậu hũ tốt cho người bệnh đái tháo đường đi tiểu nhiều.
|
Cháo cá trê: cá trê 250g, gạo 100g. Cá mổ bụng, rửa sạch, thả vào nước sôi luộc, vớt ra lọc xương rồi cho thịt cá vào nước luộc cùng gạo đã vo sạch nấu cháo, cho gia vị, bột ngọt vừa ăn. Chia ăn trong ngày. Tác dụng: bổ âm khai vị trị đái tháo đường.
Cháo thục địa, nhục quế: nhục quế 3g, thục địa hoàng 10g, gạo tẻ 100g. Nhục quế, thục địa nấu với gạo tẻ thành dạng cháo loãng.
Canh lá sen, cá trạch: cá trạch 200g, lá sen tươi bánh tẻ 100g, thêm gia vị nấu canh. Dùng cho các trường hợp đái tháo đường, khát, uống nhiều.
Canh thịt dê, đậu hũ: phổi dê 1 lá, thịt dê 100g, đậu phụ 100g, muối, nước. Phổi dê và thịt dê rửa sạch thái lát, thêm nước và gia vị, nấu thành dạng canh thịt. Dùng cho bệnh nhân đi tiểu nhiều.
Cá chép hầm đậu đỏ: cá chép 1 con (500g), xích tiểu đậu 50g, trần bì 6g, ớt đỏ 6g, thảo quả 6g. Cá chép làm sạch, cho xích tiểu đậu, trần bì, ớt đỏ, thảo quả vào trong bụng cá, thêm gừng, hành, muối, tiêu và đổ nước.
Chiều dài của hệ tuần hoàn
Mạch máu là những ống rỗng mang máu đi hàng dặm khắp cơ thể trong một dòng chảy không bao giờ chấm dứt. Nếu bạn có thể nối tất cả các động mạch, mao mạch và tĩnh mạch của một người lớn, nó sẽ kéo dài khoảng 60.000 dặm, tương đương 100.000km. Tức là nếu so sánh với chu vi của trái đất (40.000km), mạch máu của 1 người có thể bao bọc xung quanh hành tinh khoảng 2,5 lần.
Các hồng cầu phải chui vào mạch máu
Các mao mạch là những đơn vị hoạt động nhỏ nhất trong hệ thống các mạch máu, chúng nối các tiểu động mạch với các tĩnh mạch. Mao mạch rất nhỏ, trung bình khoảng 8 micron, tương đương với 1/3.000 inch, tức là có đường kính bằng 1/10 đường kính một sợi tóc con người. Các hồng cầu cũng có kích thước tương tự các mao mạch và thông qua mao mạch, hồng cầu di chuyển theo dòng. Tuy nhiên, một số mao mạch hơi nhỏ hơn đường kính của các hồng cầu, do đó, các hồng cầu phải bóp méo hình dạng của mình để lách qua.
![]() Tế bào hồng cầu quan trọng bởi nó chứa hemoglobin vận chuyển và phân phối ôxy.
|
Cơ thể càng lớn, nhịp tim càng chậm
Nhịp tim được cho là tỷ lệ nghịch với kích thước cơ thể. Một người trưởng thành có nhịp tim trung bình khoảng 75 nhịp/phút, tỷ lệ này tương tự với nhịp tim của một con cừu tuổi trưởng thành. Nhưng trái tim của một con cá voi xanh chỉ là 5 lần/phút và nhịp tim ở con chuột chù khoảng 1.000 lần/phút.
Tim sống không cần cơ thể người
Tim là một cấu trúc đặc biệt có cấu tạo từ các cơ tim, không chịu điều khiển của ý thức. Nhịp đập của tim chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố liên quan (hệ tuần hoàn, hệ nội tiết, hệ thần kinh…). Nếu tách tim ra khỏi cơ thể mà không có sự tác động tích cực và trực tiếp thì sau vài phút, tim sẽ chết hoàn toàn. Nhưng các nhà khoa học đã thực hiện nhiều thí nghiệm, trong đó có việc giữ sự sống cho tim như đưa các chất dinh dưỡng cần thiết, dưỡng khí, nhiệt độ… Kết quả thấy rằng, tim vẫn tiếp tục đập khi đưa ra khỏi cơ thể. Hoạt động co bóp của tim được điều khiển bởi các tập hợp sợi cơ đặc biệt gọi là hệ dẫn truyền tim bao gồm: nút xoang nhĩ, nút nhĩ – thất và bó sợi dẫn truyền (chính vì hệ tự động này nên tim vẫn hoạt động bình thường ngay cả khi cắt đứt mọi liên hệ với hệ thần kinh). Sự co của các cơ tim xảy ra liên tục và mang tính chất chu kỳ nhờ các xung điện phát ra hệ tự động này.
Tác phẩm đầu tiên về hệ tuần hoàn người
Tác phẩm sớm nhất về hệ tuần hoàn được phát hiện trong Ebers Papyus, một tài liệu y tế của Ai Cập có niên đại từ thế kỷ 16 trước Công nguyên. Tác phẩm này mô tả sự kết nối sinh lý giữa trái tim và các động mạch kèm theo chú thích rằng sau khi con người hít không khí vào phổi, không khí sẽ đi vào tim, sau đó theo dòng chảy vào các động mạch.
Điều thú vị là người Ai Cập cổ đại tin rằng trái tim chứ không phải bộ não là nguồn gốc cảm xúc, trí tuệ và bộ nhớ. Trên thực tế, quá trình ướp xác, người Ai Cập cẩn thận lấy ra và lưu giữa tim cùng các bộ phận khác nhưng tách não thông qua mũi và loại bỏ nó.
Mô hình đầu tiên của hệ tuần hoàn
Trong thế kỷ thứ 2, Galen – bác sĩ cũng là nhà triết gia nổi tiếng của Hy Lạp đã đưa ra mô hình đầu tiên gần giống với thực tế nhất về hệ tuần hoàn. Ông đã nhận thức đúng đắn rằng hệ thống tuần hoàn gồm tĩnh mạch và động mạch, ông cũng cho rằng động mạch, tĩnh mạch có chức năng khác nhau.
Galen tin rằng hệ thống tuần hoàn gồm 2 chiều phân phối máu chứ không thống nhất. Ông cũng cho rằng trái tim là cơ quan hút máu chứ không có chức năng bơm máu nuôi cơ thể.
Hồng cầu không tồn tại mãi mãi
Hồng cầu được tạo ra từ các tế bào máu gốc trong tuỷ xương, tuy là một tế bào nhưng hồng cầu trưởng thành lại không có nhân, ti thể. Mỗi hồng cầu có chức năng chính là hô hấp, chuyên chở hemoglobin, qua đó đưa ôxy từ phổi đến các mô. Nhưng chính vì không có nhân, ti thể mà các hồng cầu không thể phân chia hoặc hình thành tế bào mới. Sau khi lưu thông trong mạch máu khoảng 120 ngày, hồng cầu sẽ lão hóa, hư hỏng. Nhưng bạn không vì thế mà lo lắng cơ thể mình sẽ cạn kiệt hồng cầu vì tuỷ xương của bạn liên tục sản xuất hồng cầu mới để thay thế hồng cầu lão hóa.
Kết thúc một mối quan hệ có thể “làm tan nát trái tim bạn”?
Bạn không có tiền sử bệnh tim nhưng khi gặp một trạng thái cảm xúc căng thẳng, thất vọng, đau khổ bất ngờ, bạn sẽ cảm thấy những triệu chứng tương tự như một bệnh nhân lên cơn đau tim như đau tức ngực, khó thở… Trên thực tế, những cảm giác này là có thật, nhưng đây không phải là những triệu chứng vật lý mà do cảm giác, cảm xúc con người tạo nên. Những triệu chứng này được gọi là “hội chứng tan nát trái tim” vì nó có thể được gây ra bởi một sự kiện căng thẳng về mặt cảm xúc, chẳng hạn như cái chết của người thân, li dị, chia tay…
Máu có màu khác nhau
Máu giàu oxy chảy qua động mạch và mao mạch trong cơ thể có màu đỏ tươi. Sau khi các hồng cầu mang oxy đến cung cấp cho các mô trong cơ thể, máu của bạn sẽ trở thành màu đỏ sẫm và quay trở lại trái tim thông qua các tĩnh mạch. Mặc dù dưới lớp da, bạn có thể nhìn thấy các tĩnh mạch có màu xanh nhưng thực chất không phải lúc này máu của bạn màu xanh mà màu sắc của tĩnh mạch là kết quả của các bước sóng khác nhau mà ánh sáng xuyên qua da bạn được hấp thu và phản chiếu lại trong mắt bạn.
Nhiệt nóng
Nhiệt nóng (có nhiệt độ từ trên 37oC đến khoảng 45-50oC) có tác dụng rất lớn đối với cơ thể con người. Chúng được biết đến với những tác dụng như: gây giãn động mạch nhỏ và mao mạch tại chỗ, có thể lan rộng ra một bộ phận hay toàn thân. Tác dụng giãn mạch làm tăng cường tuần hoàn, làm giảm co thắt, giảm đau tăng cường dinh dưỡng và chuyển hóa tại chỗ, từ đó có tác dụng giảm đau đối với các chứng đau mạn tính.
Với hệ thần kinh cơ, nhiệt nóng có tác dụng an thần điều hòa chức năng thần kinh, thư giãn cơ co thắt, điều hòa thần kinh thực vật. Do đó có tác dụng tốt với các chứng đau mạn tính gây co cơ. Mức độ giảm đau của điều trị nhiệt phụ thuộc vào loại đau và nguyên nhân đau. Tác dụng giảm đau do các cơ chế: Do tăng cường tuần hoàn tại chỗ làm nhanh chóng hấp thu các chất trung gian hóa học gây đau như bradykinin, prostaglandin…
![]() Chườm nóng có tác dụng giãn mạch, làm tăng cường tuần hoàn, làm giảm co thắt, giảm đau,tăng cường dinh dưỡng và chuyển hóa tại chỗ.
|
Kích thích nhiệt nóng được dẫn truyền theo các sợi thần kinh to sẽ ức chế cảm giác đau được dẫn truyền theo các sợi thần kinh nhỏ. Do làm thư giãn cơ. Hiện nay, nhiệt nóng được chỉ định sử dụng trong giảm đau, giảm co thắt cơ trong các chứng đau mạn tính như: đau thắt lưng, đau cổ vai cánh tay, đau thần kinh tọa, đau thần kinh liên sườn, đau khớp, đau cơ…; tăng cường dinh dưỡng tại chỗ trong các trường hợp vết thương, vết loét lâu liền, làm nhanh liền sẹo; làm giãn cơ để phục vụ các kỹ thuật trị liệu khác như xoa bóp, vận động… Tuy nhiên, với các ổ viêm đã có mủ, viêm cấp, chấn thương mới đang sung huyết, các khối u ác tính, lao, vùng đang chảy máu hoặc đe dọa chảy máu, giãn tĩnh mạch da thì không dùng được phương pháp này.
Các phương pháp điều trị nhiệt nóng
Paraffin: Paraffi n là một hỗn hợp có nhiều hydrocarbua từ dầu hỏa, paraffin dùng trong điều trị là loại tinh khiết, trung tính, màu trắng, không độc. Paraffin có nhiệt dung cao, nhiệt độ của khối paraffin nóng giảm rất chậm nên có thể truyền nhiệt cho cơ thể một lượng nhiệt lớn trong thời gian tương đối dài. Do vậy, nhiệt do paraffin truyền có thể vào tương đối sâu. Nhiệt do paraffin cung cấp là nhiệt ẩm, tức là khi ép miếng paraffin nóng vào da sẽ kích thích tăng tiết mồ hôi, nhưng mồ hôi này vẫn còn đọng lại làm cho da luôn ẩm, mềm mại và tăng tính đàn hồi (các phương pháp nhiệt khác gây bốc hơi mồ hôi làm cho da khô và giòn).
Các loại túi nhiệt:
Là các túi cao su hoặc polime bên trong đựng các chất tạo nhiệt dùng để chườm đắp vào vị trí đau. Người ta thường dùng các chất tạo nhiệt như sau: Túi paraffin: cho paraffin vào túi, đuổi hết khí rồi dán kín, khi dùng đem túi ngâm vào nước nóng 80°C cho đến khi paraffin nóng chảy hết thì lấy ra để một lát cho lớp ngoài nguội bớt thì dùng.
Túi nước: là phương pháp đơn giản nhất có thể sử dụng các túi sẵn có, đổ nước ấm 40-54°C vào túi, bịt miệng túi rồi chườm đắp lên chỗ đau.
Túi silicat: dùng silicat khô cho vào túi vải, khi ngâm vào nước các phân tử silicat hút nước làm túi phồng ra, khi đó đem túi đun trong nước cho đến nhiệt độ 50-60°C thì đem ra dùng. Sau điều trị treo túi ở nơi khô thoáng cho cát khô. Túi gel đặc biệt: trong túi chứa một loại chất gel đặc biệt, bình thường ở dạng lỏng bên trong có một nút bấm tạo phản ứng dây chuyền. Khi dùng đem bấm nút trong túi để tạo phản ứng sinh nhiệt làm túi nóng lên đồng thời chất gel bị kết tủa thành chất bột mềm, khi túi nguội đem đun túi trong nước sôi cho đến khi chất kết tủa trở lại hoàn toàn trạng thái lỏng ban đầu thì đem ra dùng.
Nước nóng:
Dùng nước nóng nhân tạo hoặc nước nóng tự nhiên ở các suối nước nóng. Ngâm tắm nước nóng toàn thân ngoài các tác dụng toàn thân như cải thiện chức năng tuần hoàn, hô hấp, thư giãn thần kinh, thư giãn cơ, còn là một biện pháp có hiệu quả trong điều trị các chứng đau mạn tính ở nhiều vị trí trong cơ thể như: viêm đa dây thần kinh, viêm đa khớp…
Ngoài ra còn dùng các phương pháp: nhiệt bức xạ – hồng ngoại nội tiết – sóng ngắn và vi sóng, nhiệt cơ học siêu âm…
![]() Điều trị bằng nhiệt lạnh có tác dụng làmgiảm phù nề, giảm đau nhanh.
|
Nhiệt lạnh (thường dưới 15oC)
Có hai cách sử dụng nhiệt lạnh: – Nhiệt lạnh kéo dài sẽ có tác dụng làm các mạch máu nhỏ co lại dẫn đến tốc độ dòng máu chậm lại và giảm tuần hoàn tại chỗ, giảm chuyển hóa, giảm tiêu thụ ôxy, giảm tính thấm thành mạch và khả năng xuyên mạch của bạch cầu, giảm phù nề, giảm phản ứng viêm và đau cấp, giảm trương lực cơ. Vì vậy, điều trị bằng nhiệt lạnh có tác dụng làm giảm phù nề, giảm đau cấp.
Tác động nhiệt lạnh không liên tục (như chà xát đá) thì sự tác động lên vận mạch lúc đầu gây co mạch sau đó gây giãn mạch sung huyết làm tăng lưu lượng tuần hoàn, tăng tầm vận động khớp ở bệnh nhân co cứng khớp, giảm co giật cơ.
Nhiệt lạnh được chỉ định trong các chứng đau cấp như: đau ngay sau chấn thương, đau răng, đau đầu. Có tác dụng hạn chế xuất huyết, phù nề ở nông; hạn chế viêm cấp; hạ thân nhiệt khi sốt cao; giảm đau trong một số trường hợp tổn thương thần kinh ngoại vi, đau co cứng cơ.
Các phương pháp điều trị nhiệt lạnh
Chườm đá: là phương pháp hay dùng nhất, có thể cho đá lạnh vào túi rồi đắp lên vùng điều trị để giảm đau cấp. Chà xát đá: để giảm đau co cứng cơ.
Ngâm lạnh: phương pháp này chỉ áp dụng với chân và tay.
Bình xịt thuốc tê lạnh Kelen: dùng trong chấn thương thể thao.
Phương pháp nhiệt lạnh không nên dùng cho một số trường hợp như: bệnh nhân mẫn cảm với lạnh, mày đay do lạnh, bệnh đông với globulin máu, có tiền sử bệnh raynaud…
BS. LÊ ANH
Anh Isaiah Webb 29 tuổi (Mỹ) có thể dùng bộ râu của mình để đựng mỳ tôm thay cho bát, hay làm giá để đồ đựng thức ăn… Bộ râu của anh Webb phát triển rất nhanh trong vòng 18 tháng trở lại đây, anh cũng thừa nhận là đã không cạo sạch nó trong 15 năm qua.
![]() |
Hàng tuần, người hâm mộ sẽ viết thư gửi cho Webb nói về những yêu cầu của họ, anh sẽ trả lời người hâm mộ bằng những hình ảnh đẹp mắt, ấn tượng.
Anh cho biết: “Để có thể làm được điều này, ít nhất phải để râu trong 6 tháng, phải mất nhiều thời gian để chăm sóc bộ râu thật tỉ mỉ”.
Thu Lê ( Daily mail)

Một nghiên cứu mới đây cho nạp đủ calo vào buổi sáng sẽ làm tăng khả năng rụng trứng. Ngoài ra, chất kháng insulin và lượng đường glucose sẽ giảm 8%, mức testosterone cũng giảm khoảng 50% ở những phụ nữ bị hội chứng buồng trứng đa nang khi họ áp dụng bữa sáng là bữa ăn chính trong ngày.
Như vậy, ăn bữa chính vào buổi sáng sẽ tạo ra nhiều thay đổi trong khi nhóm chú trọng ăn tối thì không thay đổi.
Những người phụ nữ này được chia làm hai nhóm và mức năng lượng nạp vào là khoảng 1.800calo/ngày. Sự khác biệt giữa hai nhóm là thời gian ăn bữa chính của họ – một nhóm chon ăn sáng với 980calo trong khi nhóm kia thì ăn chính vào bữa tối trong ngày.
Trưởng nhóm nghiên cứu, giáo sư Oren Froy cho biết: “Nghiên cứu này chứng minh rõ ràng rằng thực sự lượng calo chúng ta tiêu thụ hàng ngày là rất quan trọng, nhưng thời gian khi chúng ta hấp thụ chúng thậm chí còn quan trọng hơn”.
Hội chứng buồng trứng đa nang ảnh hưởng xấp xỉ từ 6-10% phụ nữ ở độ tuổi sinh sản, làm gián đoạn khả năng sinh sản của họ. Nó khiến cơ thể kháng insulin, dẫn đến sự gia tăng hoóc-môn sinh dục nam (androgens) và có thể gây ra kinh nguyệt không đều, rụng tóc, mọc lông trên cơ thể, mụn trứng cá, các vấn đề về khả năng sinh sản và bệnh tiểu đường.
Theo Dân trí























