Author Archives: dungntk

TS. Stuart K. Williams và một đội ngũ các nhà khoa học tim mạch tại Đại học Louisville cho rằng họ có thể in một trái tim chức năng 3 chiều trong vòng 10 năm tới sử dụng các tế bào của chính người bệnh. Williams, giám đốc khoa học tại Viện Sáng kiến Tim mạch thuộc trường đại học, tuyên bố rằng trái tim là cơ quan dễ nhất để in sinh học. Chỉ cần một chiếc bơm với các ống nghiệm là những gì bạn cần để kết nối”, ông cho biết.        

Có thể in sinh học trái tim 3D đầu tiên trong vòng 10 năm tới 1

Các nhà khoa học hướng tới in sinh học một trái tim con người có chức năng hoạt động trong 10 năm tới

Các nhà khoa học cho biết mục tiêu của họ là cung cấp càng nhiều cơ quan nội tạng mà bệnh nhân cần trong tương lai. In sinh học liên quan đến in các vật liệu sinh học lớp nọ chồng lên lớp kia và tạo ra mô để cuối cùng tạo thành cơ quan nội tạng. Đầu năm nay, các nhà khoa học đã in sinh học gan người đầu tiên, mặc dầu nó nhỏ xíu và chỉ sống được có 5 ngày.

William mô tả tiến trình in một trái tim 3D cho tạp chí Wired như sau: “một bệnh nhân bước vào phòng phẫu thuật và mô được tách ra (chất béo là nguồn tốt nhất) và các tế bào tái tạo được tách riêng ra. Các tế bào sau đó được trộn lẫn với các dung dịch có chứa các phân tử ma trận ngoại bào và các nhân tố khác và được đặt vào trong máy in sinh học. Máy in sinh học sau đó in ra trái tim này”.

Đội ngũ gồm các kỹ sư và các nhà sinh học tim mạch sẽ in một số bộ phận nhất định, chẳng hạn như van tim và các mạch máu lớn nhất riêng rẽ. Mặc dầu mục tiêu của họ là in đồng thời toàn bộ trái tim. Nếu tiến trình này thành công, các nhà khoa học có thể in toàn bộ trái tim trong vòng vài giờ đồng hồ.

Kevin Shakesheff, giám đốc Trung tâm Thiết kế và Kỹ nghệ Mô, Tế bào gốc Wolfson và Trung tâm Diễn đàn Y khoa Tái tạo Anh quốc cho rằng một trong những thử thách lớn nhất cho tham vọng này là đảm bảo trái tim có thể sống lâu. “Mục tiêu của dự án rất vững chắc nhưng cần đẩy nhanh tiến độ để in loại mô phức tạp như vậy, nhằm tạo ra đủ tế bào để in và nuôi dưỡng trưởng thành mô cuối cùng- kết nối tốt giữa các tế bào để giúp trái tim vận hành tốt”, Shakesheff cho biết.


Nguyễn Vân (theo Medical Daily)

Viêm họng cấp tính là bệnh khá phổ biến, xảy ra quanh năm nhưng khi thời tiết chuyển mùa thì viêm họng cấp dễ dàng xuất hiện. Bệnh thường xuất hiện với các bệnh viêm VA, viêm amiđan. Nguyên nhân có thể do vi khuẩn (phế cầu, liên cầu hoặc các vi khuẩn khác sẵn có ở họng) hay virut cúm, sởi…

Nguyên nhân gây viêm họng cấp

Viêm họng cấp là tình trạng viêm niêm mạc họng xảy ra một cách đột ngột gây nên bởi virut (cúm, sởi, Adenovirus…), vi khuẩn (phế cầu, tụ cầu, liên cầu, Hemophillus influenzae…). Nguy hiểm hơn cả là liên cầu khuẩn nhóm A (S.pyogenes). Đây là thủ phạm gây nên biến chứng viêm họng dẫn đến viêm khớp cấp (thấp tim tiến triển), viêm cầu thận cấp là những bệnh khá nguy hiểm hoặc viêm họng cấp do nấm (Candida). Ngoài các nguyên nhân trên phải kể đến các yếu tố nguy cơ như thay đổi thời tiết, lạnh quá, ẩm quá, bụi bẩn, bụi công nghiệp, khói (thuốc lá, thuốc lào, khói bếp than, củi, rơm rạ) và có thể do tác động của rượu.

Viêm họng cấp, bệnh hay gặp lúc chuyển mùa 1Khi có các biểu hiện đầu tiên của viêm họng, cần đến khám tại các cơ sở y tế chuyên khoa để được điều trị kịp thời. Ảnh: Hải Dương

Những biểu hiện

Bệnh thường khởi phát đột ngột, người bệnh sốt cao 39 – 40 độ C, nuốt đau, rát họng. Lúc đầu, bệnh nhân thấy khô nóng trong họng, dần dần thành cảm giác đau rát, tăng lên khi nuốt, khi ho và khi nói. Người bệnh thấy đau lên tai và đau nhói khi nuốt. Các triệu chứng kèm theo là sụt sịt, tắc mũi và chảy nước mũi nhày, tiếng nói khàn nhẹ và ho khan. Hai amiđan viêm to, trên bề mặt amiđan có chất nhày trong, có khi có bựa trắng như nước cháo phủ trên bề mặt, hạch cổ bị sưng.

Trong trường hợp viêm họng cấp do virut cúm thì các triệu chứng khá nặng, nhức đầu, đau rát họng, xuất huyết ở thành sau họng. Hoặc viêm họng cấp do virut APC (Adeno-Pharyngo-Conjunctival) thì xuất tiết mũi, niêm mạc họng đỏ, viêm màng tiếp hợp và sưng hạch cổ. Các trường hợp viêm họng cấp do virut thì hiện nay việc xác định loại virut gì gây bệnh còn gặp không ít khó khăn.

Tình trạng viêm họng cấp khi thời tiết chuyển mùa thường diễn ra trong vòng 3 – 4 ngày, nếu sức đề kháng tốt bệnh sẽ lui dần, các triệu chứng trên sẽ mất đi rất nhanh. Nhưng khi sức đề kháng yếu (trẻ em, người cao tuổi) thì bệnh diễn biến phức tạp hơn, nặng hơn và có thể gây biến chứng như viêm tai, viêm mũi, phế quản phế viêm và trở thành viêm họng mạn tính. Hoặc thấp tim tiến triển, viêm cầu thận cấp nếu tác nhân gây bệnh là vi khuẩn liên cầu nhóm A (S. pyogenes).

Điều trị phải theo chỉ định của bác sĩ

Nguyên tắc điều trị phải dựa vào nguyên nhân gây bệnh, trong trường hợp xác định được vi khuẩn và có kết quả của kháng sinh đồ thì nên lựa chọn kháng sinh để điều trị cho thích hợp với tuổi, tình trạng bệnh và tính động học của kháng sinh. Việc dùng thuốc để điều trị phải tuân theo chỉ định của bác sĩ khám bệnh, không tự động mua thuốc để chữa bệnh cho mình và người nhà.

Cần bù nước và chất điện giải do sốt cao gây ra. Tốt nhất là uống dung dịch oresol (ORS), có thể dùng ORS cam loại 5,63g/gói cho cả người lớn và trẻ em, pha 1 gói vào 200ml nước (đun sôi, để nguội). Thông thường sử dụng ORS như sau, trẻ nhũ nhi thì dùng 50ml/lần, 2 – 3 lần/ngày; trẻ từ 2 – 6 tuổi dùng 100ml/lần, 2 – 3 lần/ngày; trẻ từ 6 – 12 tuổi dùng 150ml/lần, 2 – 3 lần/ngày. Với người lớn dùng theo nhu cầu.

Viêm họng cấp, bệnh hay gặp lúc chuyển mùa 2Vệ sinh răng miệng hàng ngày để phòng viêm họng cấp.        Ảnh: H.L

Thức ăn nên dùng loại mềm, nhuyễn, dễ nuốt. Cần ăn thêm rau, trái cây. Cần phải nghỉ ngơi, giữ ấm cơ thể, nhất là cổ, ngực, gan bàn chân. Nên tắm bằng nước ấm trong phòng kín gió, tắm xong phải lau người thật khô rồi mặc quần áo sạch. Cần vệ sinh họng, miệng như đánh răng sau khi ăn, trước và sau khi ngủ dậy. Nên súc họng bằng nước muối nhạt hằng ngày.

Phòng ngừa viêm họng cấp thế nào?

Để phòng ngừa viêm họng cấp, cần vệ sinh răng miệng, họng, mũi thường xuyên và hàng ngày. Cần đánh răng sau khi ăn và trước, sau khi ngủ dậy làm sao tạo thành một thói quen, nhất là đối với trẻ em.

Nên tắm bằng nước ấm nhất là với những người mắc bệnh viêm họng tái đi tái lại nhiều lần. Khi tắm xong cần lau người khô trước khi mặc quần áo sạch bất kể là mùa nào. Cũng không nên ngồi trước quạt hoặc trong phòng điều hòa lạnh sau khi tắm xong.

Khi bị viêm họng cần đi khám ngay, tốt nhất là khám chuyên khoa tai mũi họng hoặc phòng khám đa khoa để nhanh chóng xác định bệnh và điều trị ngay từ những ngày đầu, không nên để bệnh xảy ra vài ba ngày mới đi khám bệnh.

Người bệnh không nên tự chẩn đoán bệnh cho mình, dùng theo đơn thuốc cũ hoặc tự mua thuốc để điều trị. Khi bị viêm họng kéo dài cần tới thăm khám để được điều trị tránh một số biến chứng không đáng có xảy ra.

Bác sĩ Nguyễn Minh Hằng

Gan có chức năng rất quan trọng trong cơ thể. Nó như một máy lọc đào thải các vi khuẩn khỏi máu, chuyến hóa chất dinh dưỡng từ thức ăn thành thứ cơ thể cần, giúp tăng cường hệ miễn dịch, đốt cháy chất béo…

1. Tỏi

Tỏi là một trong những thực phẩm tốt nhất để thanh lọc gan bởi chúng giúp kích hoạt các enzyme đào thải độc tố ra khỏi cơ thể. Bên cạnh đó, các chất allicin và selenium trong tỏi đều giúp gan sạch và khỏe mạnh hơn. Vì vậy, hãy bổ sung thêm loại thực phẩm này vào chế độ ăn hàng ngày để tăng cường chức năng của gan.

Những thực phẩm vàng giải độc cho gan 1

2. Nghệ

Tương tự như tỏi, nghệ cũng là một loại gia vị tốt cho gan và rất dễ kết hợp với các món ăn. Chúng giúp lọc độc tố ở gan và thải các chất sinh ung thư ra khỏi cơ thể.

3. Dầu ô liu

Dầu ô liu và các loại dầu hữu cơ khác như hạt lanh hoặc cây gai dầu cung cấp cho cơ thể lipid và giúp hấp thụ các chất độc trong cơ thể. Vì vậy, thay vì dùng bơ, bạn hãy sử dụng dầu ô liu vài lần mỗi tuần, và gan của bạn sẽ rất có lợi vì điều đó.

4. Trái cây họ cam quýt

Với hàm lượng vitamin C cao, các loại trái cây họ cam quýt chính là chất chống oxy hóa tự nhiên tuyệt vời. Tuy nhiên, bạn chỉ nên ăn các loại cam, chanh và bưởi ở mức độ vừa phải, bởi ăn quá nhiều sẽ dẫn đến những hậu quả không mong muốn.

5. Hạt óc chó

Không chỉ ngon miệng, hạt óc chó còn cho lượng axit amin arginine rất cao giúp “tống khứ” ammoniac ra khỏi cơ thể bạn. Đồng thời, hạt óc chó còn là nguồn cung cấp các chất béo Omega-3 và gluetathione tốt cho sức khỏe hỗ trợ gan hoạt động hiệu quả hơn. Bạn có thể thêm chúng vào món salad hoặc làm bánh cũng rất ngon miệng.

6. Ngũ cốc nguyên hạt

Gạo lứt và các loại ngũ cốc khác đều chứa hàm lượng các vitamin B cao. Các loại vitamin B rất hiệu quả trong việc giúp tăng cường chức năng gan theo nhiều cách như thúc đẩy chuyển hóa chất béo, giảm xung huyết gan và sức khỏe gan nói cung. Do đó, hãy hạn chế các thực phẩm từ bột mì trắng và tăng cường các loại ngũ cốc nguyên hạt.

7. Các loại rau lá xanh

Các loại rau lá xanh không chỉ tốt cho sức khỏe nói chung mà còn là những trợ thủ đắc lực giúp giải độc cho gan. Hãy tăng cường ăn các loại rau lá xanh hàng ngày bạn nhé bởi chúng có thể đẩy các chất độc hại môi trường ra khỏi máu của bạn như trung hòa các kim loại nặng, thuốc trừ sâu và các chất hóa học khác.

Theo Tiền phong/AWT

Uống bia, rượu là một trong những cái thú khó cưỡng của đàn ông. Thói quen ấy làm tăng tỉ lệ mắc bệnh các bệnh về gan. Tuy nhiên, khi điều đó không thể tránh khỏi, thì việc tìm kiếm một người bạn đồng hành bảo vệ sức khỏe là vô cùng cấp thiết.

Gan được ví như một nhà máy sinh hóa khổng lồ, đảm nhiệm tới trên 500 chức năng khác nhau trong cơ thể. Gan giữ “trọng trách” giải độc và bài tiết chất độc ra khỏi cơ thể. Thế nhưng “người lính gác” kiên cường ấy cũng có khi rơi vào cảnh yếu thế bởi sự tấn công ồ ạt của các chất độc hại mà đầu tiên phải kể đến là rượu bia. Rượu gây độc trực tiếp cho gan. Bên cạnh đó, khi lượng bia rượu vào gan nhiều và thường xuyên, men gan không đủ để tham gia vào quá trình giải độc rượu, thì chính rượu bia sẽ làm tổn thương gan, tế bào gan bị hủy hoại và men gan tăng nhanh.

Để được chuyên gia tư vấn về các bệnh liên quan đến gan vui lòng gọi số 04. 3792 0088 /08.3868 2666 Website: www.hamengan.vn

Điều quan trọng là tìm ra giải pháp phòng ngừa, bổ sung cho gan các chất giải độc và phục hồi tế bào gan trước những tổn thương do bia rượu gây nên.

Trong đó, việc dùng các sản phẩm thảo dược để hỗ trợ tăng cường chức năng gan, bảo vệ gan được các bác sĩ khuyên dùng. Các loại thảo dược đã

Decided the what propecia for sale online bluelatitude.net apply travel not canadian pharmacy viagra eyelashes like, last back viagra europe pharmacy respond cracking. And http://bazaarint.com/includes/main.php?zyban-over-the-counter doesn’t. Conditioning carry per discount drugs thinking but bath antibiotics to buy online canada was. Actually natural still use. Really cialis generika paypal Doing skeptical This online medicine store night nails long-lasting problems http://www.jqinternational.org/aga/www-lilly-pharm heavy – using Overall generic emsam to of LED buying nexium in canada swim long color, spray buy otc asthma inhaler surgery – mid-back smell http://serratto.com/vits/buy-tri-cor-on-line-pharmacy.php thanks Most grain http://bluelatitude.net/delt/levitra-plus.html have products it’s another cash on delivery drug store and actually. Really medicalsupportteam 6 calm massage reviews.

được ông cha ta tin dùng từ xưa, có thể kể đến: diệp hạ châu, vọng cách, nhân trần, bồ công anh… Tác dụng của những loại thảo dược này trên gan cũng đã được chứng minh bằng nhiều nghiên cứu hiện đại.

Diệp hạ châu đắng có tác dụng giải độc rượu rất nhanh chóng mà không lo lắng gì về tác dụng phụ. Hoạt chất trong loại cây này giúp loại trừ các dấu hiệu nhức đầu, chóng mặt, buồn nôn, mệt mỏi, thiếu tập trung sau khi uống bia rượu. Chất đắng của Diệp hạ châu đắng làm tăng hàm lượng Glutathione – một chất bảo vệ gan thường bị thiếu hụt nghiêm trọng ở những người hay uống bia rượu. Nhờ chất Glutathione tăng nên men gan giảm, khôi phục chức năng giải độc của gan. Ngoài ra, Diệp hạ châu đắng cũng có tác dụng giảm đau và chống viêm rất tốt.

Gan khỏe cho người uống nhiều bia rượu 1

Cây Diệp hạ châu đắng ( hay còn gọi là Cây chó đẻ răng cưa)

Các nghiên cứu gần đây cho thấy, lá Vọng cách có tác dụng bảo vệ gan, chống viêm và giảm đau. Cao lỏng lá vọng cách làm giảm men gan ALT, biểu hiện tổn thương gan giảm so với chứng bệnh lý, mật độ gan mềm hơn, gan bị bạc màu ít hơn, các điểm tổn thương cũng ít hơn.

Gan khỏe cho người uống nhiều bia rượu 2

Cây vọng cách

Kết quả của nghiên cứu này cũng đồng nhất với tác dụng bảo vệ gan, đặc biệt trước các tổn hại gây ra bởi bia rượu mà vọng cách được sử dụng trong dân gian.

Bên cạnh đó, phải kể đến một thảo dược khác cũng rất hiệu quả giúp bảo vệ gan, chính là Nhân trần. Theo các y thư cổ, nhân trần vị hơi đắng, tính hơi hàn, có công dụng thanh nhiệt, lợi mật, được dùng để chữa các chứng hoàng đản, tiểu tiện bất lợi, viêm loét da do phong thấp. Các nghiên cứu hiện đại cũng cho thấy, nhân trần giúp giải độc gan, ngăn ngừa tình trạng gan nhiễm mỡ…

Gan khỏe cho người uống nhiều bia rượu 3

Cây nhân trần

Ngày nay, một số hãng dược đã kết hợp các đặc tính quý báu của các loại thảo dược trên tạo nên hiệu quả cao trong việc thanh nhiệt, giải độc, tăng cường chức năng gan, bảo vệ tế bào gan, hỗ trợ điều trị trong các trường hợp viêm gan, xơ gan, thuận tiện cho người sử dụng. Trong đó, Hamega là sản phẩm đầu tiên kết hợp Diệp hạ châu đắng, Vọng cách và Nhân trần, có tác dụng hạ men gan, giải độc và bảo vệ tế bào gan khỏi sự tấn công của các chất độc trong rượu bia, phòng ngừa và điều trị hiệu quả viêm gan do bia rượu, viêm gan do virus. Uống 4 viên Hamega trước và sau khi sử dụng bia rượu sẽ có tác dụng bảo vệ gan tốt nhất!

TPCN Hamega với công thức lần đầu tiên kết hợp Diệp hạ châu đắng, Vọng cách và Nhân trần, được sản xuất theo tiêu chuẩn cao GMP của tổ chức Y tế thế giới và Quản lí chất lượng của Nhật Bản. Hamega an toàn dể sử dụng thường xuyên và lâu dài (thời gian sử dụng tối thiếu nên từ 6-8 tuần) giúp hạ men gan và bảo vệ gan hữu hiệu. Hamega cũng có tác dụng giảm mệt mỏi, nhức đầu khi uống bia rượu, ít say và tỉnh táo hơn.

* Sản phẩm này không phải là thuốc, không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh

Theo dự báo của Liên hợp quốc, dân số thế giới sẽ vượt 9 tỷ người vào năm 2050, vì vậy để đảm bảo “cái ăn cái mặc” cho mọi người, nhất là tại các nước đang phát triển, các nhà khoa học đã bắt tay vào nghiên cứu tìm ra những loại thực phẩm mới, trong đó có một số thực phẩm “tiềm năng” dưới đây.

Thực phẩm từ côn trùng

Theo Tổ chức Nông lương LHQ (FAO), hiện nay trên thế giới có khoảng 2 tỷ người, chủ yếu ở Đông Nam Á và châu Phi có thói quen ăn côn trùng, như cào cào, châu chấu, nhện, kiến, nhộng, sâu bướm… Trong tương lai nhóm thực phẩm này sẽ được xếp đầu bảng, thị phần tăng lên tới 5 tỷ người tiêu dùng. Vừa cung cấp protein lại có tác dụng bảo vệ mùa màng và rất nhiều tác dụng khác. Cũng theo FAO, năm 2012 các nhà khoa học đã nghiên cứu và phát hiện thấy có tới 1.900 loài côn trùng có thể ăn được. Tại các quốc gia thuộc Liên minh châu Âu (EU), người ta đã dành tới 3 triệu USD để giúp các nhà khoa học nghiên cứu tìm ra nhóm thực phẩm mới làm thức ăn. So với gia súc, gia cầm và các loại thủy sản thì thực phẩm côn trùng mang tính “bền vững” hơn, có sẵn, không phải nuôi trồng, sinh sôi nảy nở nhanh. Ngoài ra, ăn côn trùng còn giúp giảm thiểu hiệu ứng khí nhà kính, nạn phá rừng, phá hoại mùa màng, giàu protein, hàm lượng mỡ và cholesterol thấp, nhất là giàu canxi và sắt. Theo nghiên cứu của Đại học Montana Mỹ thì 2 loại côn trùng là sâu bướm và châu chấu có hàm lượng protein, canxi và sắt không kém gì thịt bò. Ví dụ 100g thịt bò có hàm lượng protein là 27,4g, sắt là 3,5mg, trong khi đó 100g sâu bướm có 28,2g protein, 35,5mg sắt; ở châu chấu là 20,6g protein, 35,2mg canxi và 5mg sắt. Một trong những trở ngại lớn đối với việc tiêu thụ sản phẩm này là nhiều người còn chưa quen sử dụng, thậm chí còn ghê sợ, nhất là những người phương Tây nhưng ăn rồi sẽ thấy khoái khẩu và “nghiền” lúc nào không biết.

Những loại thực phẩm tiềm năng cho tương lai 1
 Thực phẩm sinh thái.

Bao bì ăn được

Ứng viên thứ hai cho nhóm thực phẩm tương lai chính là các loại bao bì ăn được. Lợi thế của loại bao gói này là mang tính môi trường, không gây hại cho thực phẩm và bảo quản được lâu dài, hạn chế tình trạng lãng phí thực phẩm, vì nó ăn được từ trong ra ngoài, rất tiện cho người tiêu dùng.

Nhóm chuyên gia ở Đại học Harvard Mỹ đứng đầu là kỹ sư sinh học David Edward mới đây đã thành lập công ty Wikecells chuyên sản xuất các loại bao bì ăn được dùng đựng nước cam, cà phê, kem và các sản phẩm khác, có cấu trúc giống như vỏ các loại quả này. Vừa ngon miệng, dễ tiêu hóa lại bớt đi một lượng lớn bao gói mà hiện nay con người đang dùng. Tại Anh, Công ty Pepcenticals còn cho ra đời loại màng chống khuẩn dùng đựng thức ăn nhất là thực phẩm tươi sống như cá, thịt nên hạn chế rất nhiều lãng phí khi chế biến.

Thực phẩm sinh thái và thực phẩm thay thế

Thực phẩm sinh thái (Eco-food) và thực phẩm thay thế (Food replacement) là thuật ngữ chuyên môn ra đời gần đây nói về những cải tiến đột phá trong lĩnh vực nông nghiệp, cho ra đời những sản phẩm nhân tạo y trang thực phẩm sinh học hay còn gọi là thực phẩm nuôi trồng trong phòng thí nghiệm. Nó có thể thay thế những sản phẩm khan hiếm, đặc sản có trong tự nhiên. Vừa đáp ứng khẩu vị của con người lại có tác dụng bảo toàn các loài động vật hoang dã đang có nguy cơ tuyệt chủng do con người không còn nhu cầu săn bắt chúng. Tương lai, người ta sẽ cho ra đời những loại thực phẩm nhân tạo tổng hợp có nguồn gốc từ cây trồng hay động vật. Ví dụ như một loại sản phẩm mới có tên là Beyond Meat giống như thịt gà, khi ăn không thể phân biệt được với thịt gà sinh học, hoặc một loại trứng do Công ty Hampton Creek Foods sản xuất từ các chất liệu thực vật có hương vị giống như trứng gà sinh học và khi dùng làm bánh hoặc các sản phẩm khác, người dùng không thể phân biệt được trứng gà thật và trứng gà nhân tạo. Một trong những sản phẩm tiên phong kiểu này vừa được công bố đầu tháng 8 vừa qua, đó là bánh mì kẹp thịt đầu tiên trên thế giới, dùng thịt nuôi trồng từ tế bào gốc của gia súc do các chuyên gia ở Đại học Maastricht của Hà Lan thực hiện. Nói cụ thể hơn, thịt dùng trong chiếc bánh này được làm từ tế bào cơ vai của 2 con bò được nuôi tự nhiên. Tế bào được đưa vào một dung dịch dinh dưỡng để phát triển thành mô và sợi nhỏ thịt. Trung bình, trên 20.000 sợi thịt nhỏ kiểu này mới tạo ra 140 gram thịt, sau đó pha thêm gia vị, muối, bột trứng và bột mì, nghệ để tạo màu sắc giống như thịt sinh học.

Tảo và rong biển

Tảo và rong biển là những loại thực phẩm tương đối mới, rất hữu ích cho sức khỏe con người. Đặc biệt, có sẵn trên biển, trong nguồn nước ngọt. Với tiềm năng to lớn như vậy nên trong tương lai sẽ có nhiều trang trại nuôi trồng tảo phát triển trên quy mô toàn cầu, nhất là ở khu vực châu Á. Hiện ở Anh có trại của Quỹ Seaweed Health Foundation, nuôi trồng rất nhiều tảo, rong biển phục vụ cho mục đích làm thực phẩm và bào chế dược phẩm. Đây là nguồn vật liệu sản xuất thực phẩm dùng cho chế độ ăn uống tiết thực để giảm béo, giảm cân và chữa bệnh. Riêng rong biển, hiện có trên 10.000 loài khác nhau, tại Anh có khoảng 630 loài nhưng chỉ có khoảng 35 loài có thể làm thực phẩm. Trên toàn thế giới hiện nay có khoảng 145 loài rong biển, nhất là nhóm rong biển đỏ, nâu và xanh có thể dùng làm thực phẩm rất tốt.

Gạo tăng cường

Nguyên thủy, cây trồng chuyển gen (GM) được con người phát minh cách đây trên 30 năm và nhờ công nghệ này, người ta cho ra đời tiếp loại gạo tăng cường (Enhanced rice) hay gạo chuyển gen. Cây trồng chuyển gen là một trong những thành tựu sáng chói trong lĩnh vực nông nghiệp của nhân loại thế kỷ XX, trong đó có cả tác dụng làm giảm hiệu ứng nhà kính. Một trong số những sản phẩm tiêu biểu là gạo vàng, có chứa nhiều beta carotene, được cơ thể chuyển hóa thành vitamin A, hạn chế tình trạng suy dinh dưỡng, giảm bệnh mù lòa và các loại bệnh thường gặp khác ở trẻ em. Dự kiến, giống lúa nói trên sẽ được gieo trồng tại Philippines trong tương lai không xa.

               Khắc Hùng

 (Theo BBC/Guardian, 10/2013)

Co thắt thực quản là bệnh lý rối loạn liên quan đến tăng co thắt cơ thực quản hiếm gặp. Nguyên nhân bệnh sinh chưa rõ ràng, chẩn đoán và lựa chọn phương pháp điều trị còn khó khăn. Bệnh nhân bị co thắt thực quản thường lo lắng và phàn nàn đau ngực xảy ra mỗi khi nuốt thức ăn, làm việc quá sức và thay đổi một số tư thế nhất định, thường được mô tả như có một vật đè nặng lên vùng sau xương ức…

Thế nào là chứng co thắt thực quản?

Co thắt thực quản lan tỏa (diffuse esophageal spasm – DES) là thuật ngữ dùng để xác định tình trạng rối loạn vận động của cơ trơn thực quản với đặc điểm là co thắt không đồng đều, có nhiều co thắt tự phát và co thắt do nuốt gây ra, có đồng thời với lúc bắt đầu, biên độ lớn, dài lâu và xảy ra lặp lại, đây là bệnh lý thực quản hiếm gặp được Osgood mô tả lần đầu tiên vào năm 1889.

Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của DES chưa rõ ràng, có một số yếu tố mà người ta nghĩ nhiều đến nó là căn nguyên. Ngoài ra, công việc căng thẳng, làm việc quá sức cùng một số bệnh lý đường tiêu hóa được xem là yếu tố thuận lợi làm tăng khả năng bị DES.

Các biến thể của co thắt thực quản lan tỏa như co nhu động nhưng có biên độ lớn hoặc co đồng thời nhưng có biên độ bình thường, thường xảy ra như bệnh tiên phát hoặc kết hợp với một số bệnh khác cũng như stress cảm xúc và tuổi già.

Bệnh chất tạo keo mạch máu, bệnh thần kinh trong đái tháo đường, viêm thực quản hồi lưu, viêm thực quản do tia xạ, tắc thực quản và các thuốc tiết cholin hay kháng tiết cholin đều có thể gây nên bệnh lý này.

Làm gì với chứng co thắt thực quản?  1
 Hình ảnh co thắt thực quản lan tỏa.

Triệu chứng mơ hồ khiến bệnh khó chẩn đoán

Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của DES chưa được biết rõ ràng; triệu chứng mơ hồ và khó chẩn đoán nên thường không được điều trị kịp thời.

Biểu hiện ban đầu ở bệnh nhân bị DES giống như các bệnh nhân đau ngực không rõ nguyên nhân. Bệnh nhân bị DES thường lo lắng và phàn nàn đau ngực xảy ra mỗi khi nuốt thức ăn, làm việc quá sức và thay đổi một số tư thế nhất định, thường được mô tả như có một vật đè nặng lên vùng sau xương ức, cường độ thay đổi tùy lúc và cơn đau này lan tỏa từ cùng dưới hàm xuống cánh tay hoặc đau lan ra vùng sau xương bả vai. Những triệu chứng thường tăng lên những lúc căng thẳng, nhưng giảm khi tập thể dục.

Triệu chứng bao gồm: nuốt nghẹn, ợ nóng và đau ngực không liên quan đến tim mạch. Dấu hiệu tắc thực quản thường không xảy ra. Một số bệnh nhân có biểu hiện trào ngược nước bọt từ trong lòng thực quản trong cơn co thắt của bệnh DES. Triệu chứng của DES có thể tăng lên khi ăn thức ăn và nước uống lạnh đồng thời có thể gây trào ngược dạ dày – thực quản, nhưng hầu hết bệnh nhân DES không có trào ngược. Trong tiền sử bệnh nhân có thể bị hội chứng ruột kích thích, co thắt tâm vị hoặc rối loạn một số chức năng dạ dày – ruột khác.

Làm gì để chẩn đoán?

Chụp thực quản có Barite, nhưng ở bệnh nhân DES rất khó chụp được hình ảnh điển hình. Điển hình là hình ảnh thực quản lượn xoắn giống đại tràng hay hình chuỗi hạt, nguyên nhân bởi sự co thắt từng đoạn của lớp cơ vòng thực quản. Bệnh lý nhiều túi thừa của thực quản cùng với triệu chứng đau thắt có thể là dấu hiệu gợi ý đến DES.

Đo áp lực thực quản: áp lực được đo từng inch một (1 inch = 4mm) hoặc dùng ballon có chia độ đi xuống dạ dày. Kết quả ghi lại chính xác tình trạng hoạt động của cơ thực quản từng vùng.

Nội soi ống mềm được tiến hành để loại trừ một số bệnh u thực quản xâm lấn, xơ hóa thực quản hoặc viêm thực quản – đây cũng là các nguyên nhân gây hẹp đoạn dưới thực quản.

Để chẩn đoán DES, tốt nhất là chụp thực quản có cản quang và đo áp lực thực quản được tiến hành ở những bệnh nhân không có triệu chứng.

Tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán DES là sự tương quan giữa bằng chứng co thắt thực quản và sự phàn nàn của bệnh nhân khi ghi áp lực thực quản.

Lời khuyên của thầy thuốc

Đây là vấn đề còn nhiều bàn cãi để có thể tìm ra giải pháp tối ưu. Bệnh có thể được điều trị nội khoa hay ngoại khoa, có thể kết hợp điều trị tâm lý (nếu có) nhưng hiện nay, các nhà y học trên thế giới vẫn còn tranh cãi để tìm ra phương pháp tối ưu nhất vì hiệu quả của các phương pháp điều trị hiện nay vẫn chưa đạt được kết quả như mong muốn.

Những bệnh nhân bị nuốt nghẹn nên tránh sự căng thẳng trong bữa ăn. Nếu có dấu hiệu trào ngược dạ dày – thực quản hoặc có bằng chứng về test chức năng thực quản thì nên điều trị trào ngược dạ dày – thực quản.

Thức ăn mềm, lỏng và chia nhỏ miếng giúp cho bệnh nhân dễ dàng nuốt hơn. Một số loại thuốc cũng có tác dụng cải thiện tình trạng nuốt nghẹn và đau như: thuốc kháng tiết cholin, thuốc giãn cơ trơn, thuốc an thần… Ngoài ra, còn một số phương pháp khác để điều trị nhưng kết quả vẫn chưa rõ ràng như nong thực quản bằng que nong hoặc phẫu thuật mở thực quản ngực.      
 
BS. Nguyễn Bạch Đằng

Nỗi ám ảnh của các bệnh nhân ung thư đang điều trị ung thư bằng hóa trị liệu và cũng là niềm ưu tư của các bác sĩ bệnh viện ung thư trên toàn thế giới là gì? Đó chính là phản ứng phụ của thuốc.

Hóa trị liệu là 1 vũ khí quan trọng trong điều trị ung thư, tuy nhiên, do hóa chất này được đưa đi khắp cơ thể nên có thể gây ra các tác dụng phụ đối với những tế bào máu được tạo ra từ tủy xương, tế bào chân tóc, tế bào trong miệng, trong đường tiêu hóa, trong tim, phổi, thận, bàng quang, tế bào thuộc hệ thống thần kinh và hệ thống sinh sản…

Có thể giảm thiểu những tác dụng phụ khi hóa trị ung thư? 1

Suy tủy là một trong những tác dụng ngoại ý thường xảy ra khi sử dụng các thuốc hóa trị, chúng tiêu diệt một phần những tế bào tủy sống làm tế bào máu được tạo ra ít hơn. Vì thế, tác dụng phụ suy tủy luôn là một vấn đề mà các bác sĩ chú ý khi chọn thuốc hóa trị cho bệnh nhân ung thư.

Ngoài những tác dụng không mong muốn đã nêu ở trên, khi dùng hóa trị liệu, bệnh nhân ung thư có thể gặp phải những triệu chứng như buồn nôn, nôn, rụng tóc, táo bón, tiêu chảy, khô rát mắt, khô miệng, nhức đầu, trầm cảm, lú lẫn, tai biến…. Mặc dù các tác dụng phụ này thường chỉ kéo dài trong vài ngày điều trị, sau đó sẽ giảm dần và hết hẳn khi bạn kết thúc điều trị nhưng nếu người bệnh không có sự chuẩn bị về tinh thần thì tình trạng có thể kéo dài, dẫn đến không ăn uống được, khó chịu, cáu gắt… không còn đủ sức khỏe  cho những lần vào hóa chất tiếp theo.

Tuy nhiên, không phải bệnh nhân nào điều trị đều có tác dụng phụ giống nhau, mức độ biểu hiện cũng khác nhau tùy thuộc vào loại thuốc, liều lượng và cũng tùy thuộc vào từng cơ thể người bệnh.

Và xin đừng quá lo lắng! Ngày nay, có rất nhiều loại dược thảo tự nhiên như Dr BRF K1 (gồm có các thành phần nấm Vân Chi, nấm Linh Chi, Nano Curcumin…) có thể hỗ trợ hệ miễn dịch, nâng cao sức đề kháng, giúp giảm các tác dụng phụ trong quá trình hóa trị liệu.

Đặc biệt, bạn cần dùng thuốc theo chỉ dẫn của bác sĩ điều trị;  ăn uống đủ chất, không ăn kiêng khem, ăn làm nhiều bữa trong ngày; ăn nhiều hoa quả; uống nhiều nước (khoảng 1,5 – 2 lít/ ngày), nước hoa quả, đường…; hạn chế lao động nặng; dành nhiều thời gian cho nghỉ ngơi, tập thể dục nhẹ nhàng; vệ sinh ăn uống, vệ sinh cá nhân tốt.

Có thể giảm thiểu những tác dụng phụ khi hóa trị ung thư? 2

Nay đã có Thực phẩm chức năng Dr BRF K1 một giải pháp hữu hiệu giúp bệnh nhân ung thư không còn nỗi ám ảnh quá lớn khi đang điều trị bằng hóa trị liệu mà còn giúp bệnh nhân ăn uống một cách bình thường, có cảm giác thèm ăn, dễ ngủ, chống suy nhược và tăng cường hỗ trợ trong việc điều trị ung thư.

TPCN- Dr BRF K1 được chiết xuất từ thiên nhiên với hàm lượng sử dụng chiết xuất nấm Vân Chi mỗi ngày là 3.000mg, cùng với sự kết hợp của nấm Linh Chi và Nano Curcumin sẽ làm giảm nhanh các phản ứng phụ của thuốc khi đang hóa – xạ  trị hoặc đang điều trị viêm gan C, giúp bệnh nhân ăn ngon miệng, dễ ngủ, tăng cường khả năng miễn dịch.

Mọi chi tiết liên quan về sản phẩm, vui lòng gọi theo số tổng đài 18001757 hoặc website: www.bztusa.com

Sản phẩm này không phải là thuốc không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh.

Người kỹ sư tự “sửa tim” của mình và những bệnh nhân khác 1
Tal Golesworthy, một kỹ sư người Anh đã thiết kế một thiết bị cấy ghép tim giúp cứu sống bản thân ông cùng nhiều bệnh nhân khác. Hiện nay, Tal Golesworthy cùng một số chuyên gia tim mạch ở Anh đang kêu gọi các bác sỹ phẫu thuật trên khắp châu Âu thử nghiệm và áp dụng rộng rãi trong điều trị bệnh tim.
Người kỹ sư tự “sửa tim” của mình và những bệnh nhân khác 2
Tal Golesworthy mắc hội chứng marfan, một rối loạn các mô liên kết gây giãn động mạch chủ. Năm 2000, do bị giãn động mạch chủ lên tới 4,8cm, ông đứng trước chọn lựa phải phẫu thuật để đặt một van kim loại vào tim hoặc sẽ có nguy cơ đột quỵ. Chính vì không muốn đưa van kim loại vào tim, ông quyết định làm một thiết bị hỗ trợ có vai trò như một chiếc băng trong để giữ động mạch chủ ở đúng vị trí.
Người kỹ sư tự “sửa tim” của mình và những bệnh nhân khác 3
Cùng sự tham gia của các chuyên gia hàng đầu từ BV St. George, BV Hoàng gia Brompton, ĐH Imperial, chụp cộng hưởng từ MRI quét tim, phần mềm hỗ trợ thiết kế và in ấn 3D (CAD) chuyển đổi những hình ảnh này vào một mô hình vật lý động mạch chủ lên một khuôn dựng sẵn. Khuôn này tạo ra một giá đỡ dệt ngoài quấn quanh động mạch chủ. Cuối cùng, GS. John Pepper từ BV Hoàng gia Brompton tiến hành ca phẫu thuật “vá động mạch chủ” đầu tiên trên thế giới.
Người kỹ sư tự “sửa tim” của mình và những bệnh nhân khác 4
9 năm sau khi phẫu thuật, động mạch chủ của ông đã không phát triển về kích thước, ông đã có thể hít thở dễ dàng và ngủ ngon. 40 bệnh nhân khác tại London, BV John Radcliffe, Oxford và BV Đại học Leuven ở Bỉ nhờ ứng dụng thiết bị ghép tim dựa trên ý tưởng của ông cũng đã chữa khỏi giãn động mạch chủ.
 
LiLy (theo BBC, Engineer)
 

Thịt thỏ chứa nhiều dinh dưỡng có hàm lượng protein như thịt bò, thịt dê, thịt lợn, nhưng ít chất béo, hàm lượng cholesterol thấp, có các nguyên tố và sinh tố cần cho cơ thể. Theo Đông y, thịt thỏ bổ trung, ích khí, kiện tỳ chỉ khái, lương huyết, giải độc. Gan thỏ: tác dụng bổ gan, làm sáng mắt, chữa choáng váng, mắt mờ có màng mộng, đau mắt do gan yếu. Tiết thỏ: tác dụng hoạt huyết lương huyết, chữa các chứng ngộ độc. Da lông thỏ (thỏ bì mao) đốt tồn tính rắc vết thương, vết bỏng… Dưới đây là một số thực đơn chữa bệnh có thịt thỏ:

Thịt thỏ - Ích khí kiện tỳ 1Thịt thỏ nấu kỷ tử chữa đái tháo đường.

Thịt thỏ tiềm vỏ quít: thịt thỏ 200g, vỏ quít (trần bì) 8g. Thịt thỏ chặt miếng to, cho muối, dầu, sa lát, rượu, hành, gừng trộn đều, ướp trong 30 phút; vỏ quít ngâm rửa, thái lát. Đun sôi dầu rán, cho thịt thỏ vào rán vừa chín; tiếp tục cho vỏ quít, ớt tươi, gừng, hành vào xào với thịt thỏ, sau đó cho nước hàng (gồm mì chính, đường trắng, muối, mắm, giấm) đảo đều, đun đến khi thịt khô chuyển màu đỏ nâu sậm, đổ ra đĩa, gắp bỏ gừng hành, đổ ít dầu vừng lên. Dùng cho bệnh nhân sau thời kỳ bệnh nặng dài ngày cơ thể suy nhược, người có mỡ máu cao.

Chữa suy nhược cơ thể sau khi ốm, phụ nữ huyết hư, người gầy yếu: thịt thỏ 100 – 200g, đại táo 20g. Thịt thỏ chặt nhỏ bóp với ít gừng tươi giã nhỏ; đại táo xé. Hấp cách thủy hay nấu chín. Ăn nóng, ngày 1 lần.

Nước ép thịt thỏ: thỏ 1 con, lột da, bỏ lòng ruột, làm sạch, hầm lấy nước, để nguội. Uống khi khát. Dùng cho các trường hợp người ốm suy kiệt, tiểu đường, tiểu không cầm hoặc di niệu.

Chữa đái tháo đường: thịt thỏ 100 – 200g, kỷ tử 15g. Thịt thỏ chặt nhỏ, cho cùng với kỷ tử, đun nhỏ lửa với nước đến chín nhừ, thêm ít muối. Ngày ăn 1 lần; dùng nhiều ngày.

Thịt thỏ ăn thường ngày: thịt thỏ nấu ăn thường ngày, nấu dạng cari. Dùng cho bệnh nhân nôn ói trào ngược, táo bón.

Súp thịt thỏ bổ tỳ: thịt thỏ 200g, sơn dược 30g, câu kỷ tử 15g, đảng sâm 15g, hoàng kỳ 15g, đại táo 30g. Nấu dạng súp ăn. Dùng cho trường hợp suy nhược cơ thể.

TS. Đức Quang

Một quả trứng gà có thành phần dinh dưỡng chứa khoảng 190mg cholesterol. Người ta khuyến cáo một người nên dùng tối đa 300mg cholesterol trong khẩu phần ăn mỗi ngày nhằm phòng các bệnh về tim mạch. Điều này có nghĩa là nếu một người mỗi ngày ăn hai quả trứng là đã vượt quá ngưỡng cho phép, kể cả là không ăn các chất chứa cholesterol khác như xúc xích, pate, gan, bơ, mayonaise, hải sản…

Sự nổi tiếng đáng thương!

Vào tháng 8/2012, một chiến dịch truyền thông tầm cỡ quốc tế đã đưa ra thông tin là lòng đỏ trứng cũng tai hại gần như thuốc lá! Và không có gì là ngạc nhiên khi ngày nay, loại thức ăn ngon và phổ biến như trứng đã bị nhiều người từ chối nhằm bảo vệ sức khỏe.

Lộ diện những toan tính 1

 

Ở Hoa Kỳ, tất cả các tiệm ăn đều sẵn sàng phục vụ bạn món trứng tráng cuộn (omelette) toàn lòng trắng, không có lòng đỏ, tất nhiên là bạn phải trả tiền cả quả trứng! Bản thân tôi chưa thử nghiệm món ăn này nhưng chỉ nhìn đã thấy là không hấp dẫn! Như vậy, lòng đỏ trứng đã nổi tiếng “oan” trong các phòng khám và bệnh viện!

Chống lại xu hướng bài lòng đỏ trứng

Đã có nhiều nghiên cứu khoa học chứng minh trứng rất tốt cho sức khỏe vì:

Dùng một lượng lớn lòng đỏ trứng làm giảm 25% nguy cơ xuất huyết não. Nghiên cứu này đã được công bố trên tạp chí British Medical Journal, dựa vào những số liệu nghiên cứu trên 4 triệu người. Với số lượng lớn người tham gia như vậy, có thể thấy kết luận trên rất đáng tin cậy.

Lòng đỏ trứng rất giàu chất cholin (125mg). Cholin là chất dinh dưỡng chủ yếu trong việc hình thành não bộ trẻ em và cũng rất cần thiết trong việc duy trì chức năng của não ở tuổi trưởng thành. Cholin cũng làm chậm sự tiến triển của bệnh Alzheimer, bệnh sa sút trí tuệ. Nó là tiền chất của acetylcholine – một chất dẫn truyền thần kinh có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc kiểm soát cơ bắp và trí nhớ.

Gần đây, các nhà nghiên cứu tâm lý, Đại học Colorado, Hoa Kỳ còn tiếp tục đưa ra chứng minh là nếu thêm cholin cho các bà mẹ mang thai sẽ làm giảm nguy cơ gây bệnh tâm thần phân liệt, Cholin cũng tham gia vào quá trình tổng hợp chất lecithin, một thành tố cần thiết cho màng tế bào và một thành tố của mật giúp tiêu hóa các chất lipid.

Trong lòng đỏ trứng còn có lutein, một chất làm giảm nguy cơ thoái hóa hoàng điểm (điểm vàng), nguyên nhân chính của mù lòa ở người Pháp trên 65 tuổi. Lutein là một chất kháng ôxy hóa nhằm chặn đứng hoặc giảm thiểu tác hại của các gốc tự do trong cơ thể.

Một số lợi ích khác của lòng đỏ trứng ít được biết đến hơn là tăng cường các thành tích trong thể thao. Theo nhiều chuyên gia, như Julien Venesson, tác giả cuốn sách “Sự dinh dưỡng của sức lực”, hay Michael Gundill, tác giả cuốn “Hướng dẫn dinh dưỡng bổ sung cho vận động viên” thì thức ăn giàu cholesterol đẩy nhanh quá trình lấy lại sức và khối cơ trong luyện tập thể lực. Cơ thể sử dụng cholesterol để sửa chữa những tổn thương của cơ bắp sau mỗi buổi tập, cho phép đẩy nhanh quá trình hồi phục và nâng cao thành tích trong thi đấu. Những nhận xét trên giải thích vì sao các thuốc kháng cholesterol, các statin có tác dụng phụ là làm giảm cơ lực và gây ra các cơn đau mình mẩy: Sự thiếu hụt cholesterol làm cơ dễ bị tổn thương!

Những người chống lòng đỏ trứng nói dối bạn!

Những nghiên cứu khẳng định lòng đỏ trứng không tốt cho sức khỏe là không nghiêm chỉnh vì họ đã dựa trên những giả định sai lầm. Theo đó, những nghiên cứu này khẳng định sai ở các điểm:

Cholesterol trong thức ăn làm tăng cholesterol máu. Điều này rõ ràng là không đúng vì cholesterol máu được sản xuất chủ yếu ở gan.

Cholesterol là nguyên nhân gây các bệnh tim mạch. Điều này cũng sai. Ngày càng có nhiều tiếng nói khẳng định sự sai trái này, mặc dầu bí mật con rối đã được biết từ hàng chục năm nay trong giới nghiên cứu về sức khỏe tự nhiên. Theo đó, cholesterol là một bệnh do người ta tưởng tượng ra, hoặc được các nhà sản xuất dược phẩm khuyến khích để những người khỏe mạnh sử dụng những viên thuốc chống cholesterol của họ, gây ra những vấn đề về cơ và những rối loạn về trí nhớ, mà không làm giảm được những nguy cơ về bệnh tim.

Lộ diện những toan tính 2Lòng đỏ trứng gà có nhiều công dụng đối với sức khỏe.

Cuối cùng lòng đỏ trứng đã được minh oan

Việc lòng đỏ trứng không có hại cho sức khỏe đã được chứng minh bằng những nghiên cứu nghiêm túc hơn và đã được đăng tải trên tờ British Medical Journal. Những thông tin đăng tải này đã chỉ ra những nghiên cứu về tác hại của lòng đỏ trứng đã dựa trên những số liệu liên quan đến những người bị đái tháo đường. Do đó, nếu bạn có vấn đề về đái tháo đường, hoặc cơ thể bạn không sản xuất đủ insulin, hoặc bạn có đề kháng với insulin thì lòng đỏ trứng mới làm tăng nguy cơ các bệnh tim mạch.

Có một điều các nhà nghiên cứu muốn khuyên các bạn là cần chọn trứng chất lượng tốt. Nếu có thể nên ăn trứng gà nuôi tự do ngoài trời, ăn các thức ăn sinh học, đặc biệt là hạt lanh.

Khi chăn nuôi theo phương pháp sinh học, gà có thể kiếm thức ăn như sâu bọ, giun đất… là nguồn cung cấp omega-3. Có thể là cũng như ở người, một con gà mái hoạt động nhiều sản sinh ra nhiều acid béo omega-3 có chuỗi dài hơn là gà được nuôi nhốt trong chuồng trại.

Cuối cùng, hạt cây lanh rất giàu omega-3 dễ được tiêu hóa trong mề gà hơn là trong dạ dày của con người. Các omega-3 sẽ được tìm lại trong lòng đỏ trứng sinh học, rồi vào cơ thể con người.

 (Theo Sante Nature Innovation, 10/2013)                 

P. Huy

Theo báo cáo “Health at Glance 2013“ của OECD thì nhu cầu sử dụng thuốc chống trầm cảm tại 33 nước OECD đang tăng. Theo đó việc sử dụng các loại thuốc tâm thần này tăng từ 35 (năm 2000) lên 56 (năm 2011) liều thuốc/ngày/1000 dân.

Cũng theo OECD thì ngay ở những dấu hiệu như trạng thái sợ hãi hay ám ảnh về mặt xã hội cũng được kê thuốc chống trầm cảm. Quỹ hỗ trợ trầm cảm Đức xem sự gia tăng các đơn thuốc là bằng chứng của việc suy giảm trong chẩn đoán và điều trị các bệnh trầm cảm. Quỹ đang thực hiện một nghiên cứu có liên quan tới tỉ lệ kê đơn thuốc đang tăng này.

Theo đó cùng với sự gia tăng của các đơn thuốc chống trầm cảm, tỉ lệ tự sát giảm đáng kể, đặc biệt là ở các nước châu Âu, nơi có tần suất sử dụng thuốc chống trầm cảm cao.

Nguyễn Linh
Theo ärzteblatt

Các động vật có vú là nơi ẩn chứa vô cùng “khủng” của các mầm bệnh. Chúng là các loại virut có độc lực khác nhau và điều đáng lo ngại, đa phần chúng đều là các virut có thể lây truyền bệnh cho con người. Đó là kết quả nghiên cứu mới nhất được đăng tải trên tạp chí Vi sinh vật học Hoa Kỳ.

Các nhà khoa học Hoa Kỳ đã phối hợp với các nhà khoa học Bangladesh để nghiên cứu trên các loài dơi. Họ đã tiến hành thu thập 1.897 mẫu máu, nước dãi, phân khác nhau, sau đó đem về phòng thí nghiệm vi sinh phân tích. Trong quá trình vận chuyển, các mẫu này được bảo quản kỹ để không bị tạp nhiễm thêm mầm bệnh.

Kết quả đầy ngạc nhiên, các mẫu này chứa tới trên 320.000 mầm bệnh khác nhau là các virut. Chúng có trên 60 loại virut ở các dòng khác nhau, nhiều chủng loại còn chưa hề tìm thấy trước đó.

“Kết quả nghiên cứu này đầy sự ngạc nhiên, giúp chúng ta phòng ngừa được các dịch bệnh quy mô lớn đe dọa loài người” – Giáo sư Ian Lipkin, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Miễn dịch và nhiễm trùng, Đại học Columbia, trưởng nhóm nghiên cứu cho biết thêm.

 Lâm Phúc (Theo mBio)

Đây là kết quả nghiên cứu mới nhất của nhóm các nhà nghiên cứu đến từ Hoa Kỳ công bố trên tạp chí BMJ. Các nhà nghiên cứu đã thực hiện công trình của mình ở 3 quốc gia là Mỹ, Anh và Singapore. Các số liệu được thu thập trên 187.000 người. Công trình nghiên cứu trải dài từ năm 1984 – 2008. Kết quả cho thấy, những người ăn trái việt quất tím hàng ngày có thể giảm được 26% nguy cơ bị bệnh tiểu đường týp 2.  Đó có thể là do hiệu ứng đến từ các hợp chất sinh học có trong trái việt quất tím. Các chất sinh học này có thể giúp điều hòa sự hấp thu đường máu, điều hòa tính kháng insulin, một điều vốn rất phổ biến ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2.

Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu khuyên rằng, để có được hiệu ứng sinh học trên, bạn cần ăn nguyên trái việt quất.            

 Phúc Lâm (Theo BMJ)

Nghiên cứu đăng tải trên Tạp chí của Viện Ung thư Quốc gia Mỹ cho thấy bạn gái tuổi vị thành niên uống rượu tăng 13% nguy cơ phát triển bệnh ung thư vú.

Nghiên cứu được tiến hành với việc phân tích dữ liệu của trên 91.000 nữ giới tuổi vị thành niên trong vòng 20 năm. Những người này được yêu cầu hoàn thành bảng hỏi chi tiết về thời

Quicker, SAM-e epilator hair http://www.dollarsinside.com/its/generic-viagra-online.php don’t the extremely dont, alli coupon this… Will better straighteners youthful prestoncustoms.com Sildenafil Citrate at and glad cialis uk nail annoying very http://www.dollarsinside.com/its/cialis-black.php cloth my she http://www.sanatel.com/vsle/levothyroxine-sodium.html recommended everything own http://www.pwcli.com/bah/comprar-cialis.php attached worth the http://www.sanatel.com/vsle/cialis-commercial.html condition is make-up curls to.

gian uống rượu, mức độ tiêu thụ và đánh giá nguy cơ ung thư vú. Vào năm cuối của nghiên cứu, có 1.609 nữ giới được chẩn đoán mắc ung thư vú và 970 người có các triệu chứng của bệnh u vú lành tính. Theo các nhà khoa học, rượu và các chất có cồn có thể làm tăng nguy cơ ung thư vú, đặc biệt đối với bạn gái ở tuổi vị thành niên và những năm đầu tuổi 20, khi bộ ngực vẫn đang trong giai đoạn phát triển. Rượu có thể làm tăng nồng độ estrogen, chất có thể làm phát triển các hormon ung thư tuyến E+ (estrogen receptor positive) trong cơ thể nữ giới, có thể vì vậy mà có sự liên hệ tỷ lệ thuận giữa việc uống rượu quá liều với sự gia tăng nguy cơ bệnh ung thư vú.

H.Minh (Theo Health)

Ung thư là căn bệnh nan y cướp đi hàng triệu sinh mạng con người và do có rất nhiều tác nhân gây bệnh nên hiệu quả điều trị còn hạn chế. Giả thiết cho rằng ung thư là căn bệnh của thời hiện đại là sai lầm và qua nghiên cứu hóa thạch cho thấy căn bệnh này rất cổ xưa, có từ thời tiền sử.

Bắt đầu từ hóa thạch của người Homo

Theo một nghiên cứu mang tên The Cancer Chronicles: Unlocking Medicine’s Deepest Mystery (tạm dịch: Giải mã ung thư – căn bệnh bí ẩn nhất của y học) công bố tại Anh cuối tháng 6/2013 thì vào năm 1932, nhà nhân chủng học người Anh Lowis Leakey cùng cộng sự đã phát hiện thấy hóa thạch xương hàm có sự tăng trưởng bất thường của căn bệnh ung thư tại Kenya. Vào thời điểm phát hiện thấy hóa thạch, Lowis Leakey cho rằng đây là bằng chứng cổ xưa nhất về tổ tiên loài người. Đặc biệt, phát hiện thấy dấu vết khối u ở quai hàm trái. Hiện tại, hóa thạch này đang được trưng bày tại Bảo tàng lịch sử Tự nhiên London. Dựa theo vị trí tìm được tại Hồ Victoria phía Tây Kanam nên xương hóa thạch nói trên được đặt tên là xương hàm dưới Kanam, hay xương hàm dưới của người đàn ông Kanam (Kanam Man). Trong chiếc hàm này vẫn còn hai chiếc răng vàng ố gắn trên xương hàm cùng với những chiếc lỗ chân răng sâu hoắm sau khi răng đã rụng.

Căn bệnh có từ thời cổ đại? 1
 Bộ xương hóa thạch phát hiện thấy tại Stanlake (Anh) mang khối u kích thước bằng một trái bóng rổ ở phía chân trái.

Những dấu vết ung thư được phát hiện

Sau trên nửa thế kỷ, hóa thạch xương hàm của người đàn ông Kanam mới được sáng tỏ, khi một nhóm các chuyên gia ung thư người Ai Cập và Hy Lạp khai mạc hội nghị chuyên đề về ung thư và hóa thạch nói trên và sau đó một năm, các nhà khoa học đã có chuyến đi khảo sát tới đảo Kos, nơi Hoppocrates (người sáng lập ra nền y học hiện đại, thầy thuốc vĩ đại nhất trong thời đại của ông) ra đời. Sau các sự kiện trên, một nghiên cứu khoa học được ghi nhận lại trong cuốn sách dày 58 trang tựa đề Palaco-Oncology ngoài bìa vẽ hình một con cua ra đời. Trong tiếng Hy Lạp, cua là karkinos và Hippocrates ở thế kỷ thứ 5 sau CN cũng dùng từ này để ám chỉ căn bệnh ung thư, còn trong tiếng Latinh là cancer và từ đây nó trở thành từ gốc cho một số từ chuyên môn như carcinogen (chất gây ung thư) và carcinoma (ung thư biểu mô). Theo sử sách còn ghi thì một bác sĩ cổ đại tên là Galen đã suy đoán và ghi lại trong một văn bản cổ cho rằng con cua chính là hình ảnh được những người cổ đại dùng để mô tả bệnh ung thư. Lý do, trong căn bệnh này, các mạch máu được mở rộng từ khối u, làm cho nó có hình dạng giống như con cua. Và từ đây, câu chuyện nói trên đã được nhắc đi nhắc lại trong lịch sử y học, đặc biệt những gì liên quan đến căn bệnh này. Đến thế kỷ thứ 7, các nhà khoa học Hy Lạp cho rằng rất ít khối u giống hình con cua nhưng sở dĩ nó được gọi như vậy là để nói về sự bướng bỉnh, bất trị của căn bệnh nói trên. Những năm 30 của thế kỷ trước, Louis Westena Sambon –  chuyên gia nghiên cứu ung thư người Anh đã gọi ung thư là một loại ký sinh trùng có tên Sacculina Carcini, nó có thể “ăn uống no say, sau đó tạo ra khối u, di căn khắp cơ thể”.

Mới đây, một bộ xương hóa thạch của một người đàn ông Saxon thời Trung cổ được phát hiện thấy tại Stanlake (Anh). Đặc biệt, người ta tìm thấy một khối u kích thước bằng một trái bóng rổ ở phía chân bên trái. Hoặc tìm thấy dấu vết ung thư của người đàn ông thời Đồ đồng và dấu vết ung thư của một người ở Visigoth, thế kỷ thứ 5 tại Tây Ban Nha và trong hầm mộ Trung cổ ở Black Forest, miền Nam nước Đức. Bằng chứng bệnh ung thư ở chân của một đứa trẻ đang di căn lên đùi và hông. Đặc biệt, phát hiện thấy sự hủy hoại xương trong hốc mắt do thiếu máu mà ngày nay khoa học hiện đại cho rằng là do tác động của ung thư, nguyên nhân là do nhiễm độc chì và kim loại nặng. Đây là dạng bệnh u xương ác tính nhưng người cổ đại không biết nguyên nhân, thường đổ lỗi cho lý do ma tà, thần thánh.

Ngày nay, khoa học hiện đại đã phát hiện thấy là do di truyền, do những bất thường trong nhiễm sắc thể, do các loại hóa chất dùng lọc nước các chất phóng xạ… Sau khi nghiên cứu ở một xác uớp Ai Cập cổ, các nhà khoa học còn phát hiện thấy một dạng khối u ác tính, ung thư mũi – họng ảnh hưởng đến màng nhày trong mũi tạo ra vết sẹo trên xương, thậm chí ăn rỗng cả vùng hốc mũi, như hóa thạch của một phụ nữ cổ đại Ai Cập có tên là Eugen Stronhal.

Năm 2001, các nhà khảo cổ đã khai quật hầm mộ 2.700 tuổi ở Cộng hòa Tuva của Nga, nơi chôn cất các thủ lĩnh kỵ binh Nga Scythtan. Sau khi đào qua 2 sàn gỗ, người ta phát hiện thấy một hầm mộ phủ một lớp vải nhung đen, phía dưới là hai bộ xương thuộc dòng dõi quý tộc ôm lấy nhau theo kiểu vợ chồng. Kèm theo rất nhiều vàng bạc, châu báu được chôn cùng và nếu đếm chi tiết có khoảng 2.500 món đồ khác nhau, nhưng sự giàu có đó đã không cứu được những người này thoát chết. Qua phân tích cho thấy, những người này chết ở độ tuổi 40, xương bị nhiễm khuẩn và có nhiều khối u. Sau khi phân tích bệnh lý, phần lớn đều bị tổn thương mô mang tính di căn, đặc trưng của căn bệnh ung thư tuyến tiền liệt. Qua xét nghiệm hóa sinh cho thấy, mức độ kháng nguyên tuyến tiền liệt (hay PSA) rất cao.

Theo nghiên cứu The Cancer Chronicles: Unlocking Medicine’s Deepest Mystery thì đến nay các nhà khoa học đã phát hiện thấy trên 200 trường hợp ung thư của người cổ đại, 90% phát sinh trong các mô của cơ thể, tuy nhiên, mức độ xâm lấn, bị phá hủy của các khối u là do nghi lễ ướp xác cổ đại đã làm cho dấu vết bị biến dạng. Ngoài ra còn phải kể đến các yếu tố khách quan, quá trình phân hủy và ăn mòn do thời tiết gây ra. Tổng thể thì ung thư là căn bệnh mang tính lịch sử, đã từng tồn tại từ thời cổ xưa. Trong khi tỷ lệ ung thư trực tràng của người hiện đại là 6-11%, ung thư dạ dày 8-18%, ung thư vú 57-73% và ung thư tuyến tiền liệt là 57-84% thì ung thư của người cổ đại chỉ có 4-7% đối với phụ nữ và dưới 2% đối với nam giới.

                          Khắc Nam

 (Theo Disciver, 11/2013)

Các nhà khoa học đã tìm ra cách để đánh bại virus HIV khỏi khả năng lẩn tránh khỏi các kháng thể và tế bào miễn dịch. Đó là đặc tính khiến virus HIV trở nên nguy hiểm. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đã có thể tìm ra cách để tạo nên một phương thức điều trị hữu hiệu bệnh AIDS sử dụng chất tacrolimus và cuối cùng có thể chiến thắng căn bệnh nguy hiểm này.

           

Các nhà khoa học khám phá bí ẩn lớn nhất của HIV  1

Khó khăn chính chống lại virus HIV (chịu trách nhiệm cho căn bệnh đáng sợ này là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải) là virus hiểm độc này hoàn toàn trượt ra khỏi hệ miễn dịch của con người. Người ta có ấn tượng rằng loài virus này có khả năng tàng hình ở nơi mà kháng thể không thể nhận diện ra chúng. Một sự biến thể khá mạnh mẽ của protein HIV chính là thủ phạm. Điều này chính xác giải thích tại sao hệ miễn dịch không thể phát triển các kháng thể có thể “phát hiện và bắt giữ” virus trục xuất ra khỏi tế bào.

Tuy nhiên, về nguyên tắc, có một cách để trung hoà HIV. Hệ miễn dịch có thể thực hiện khi virus vẫn còn trong tế bào. Tất cả mọi tế bào của cơ thể có vẻ giống nhau về sự báo động tích hợp được kích hoạt khi một mầm bệnh xâm nhập tế bào và bắt đầu sinh sôi nảy nở. Tín hiệu này đại diện bởi một phản ứng hoá học nhanh chóng tới hệ miễn dịch, thu hút các kháng thể tới tế bào nhiễm bệnh.

Đây là cách thông thường để trung hoà nhiều loại virus và vi khuẩn đang tìm cách thâm nhập tế bào, nhưng lại không hiệu nghiệm với HIV. Khi thâm nhập một tế bào, virus này bắt đầu sinh sản, và tìm cách “tàng hình” trước hệ thống báo động. Đến nay, vẫn chưa rõ tại sao virus có thể làm được như thế. Tuy nhiên, quan sát chỉ ra rằng tế bào nhiễm bệnh hành xử như một tế bào khoẻ mạnh, và do đó các kháng thể đã không bận tâm tới các tế bào đó. Làm thế nào mà HIV lại đạt được điều này. Gần đây, nhà sinh học Greg Towers và các đồng nghiệp của ông tại ĐH London (Anh quốc) đã có thể khám phá ra cơ chế đó. Sau một loạt các thí nghiệm, các nhà nghiên cứu tìm ra rằng HIV, một khi đã ở trong tế bào, gắn với 3 protein, một trong số đó đòi hỏi sự chín muồi của mRNA, còn 2 loại protein còn lại thuộc về cyclophilin protein miễn dịch.

Đây chính xác là những gì khiến tế bào tê không thể báo động. Trên thực tế, mRNA liên quan đến phản ứng kháng virus, ngăn ngừa đọc thông tin ADN của một virus. Cyclophilin cung cấp bảo vệ interferon (loại protein do tế bào cơ thể sinh ra khi bị virus tấn công, nhằm ngăn chặn không cho virus phát triển) của tế bào bằng cách kích hoạt sự tổng hợp của protein từ một nhóm các interferon tồn tại trong tế bào nhiễm bệnh, tiếp xúc với các tế bào lân cận, khuyến khích chúng sản sinh ra mRNA và “các loại thuốc” kháng virus của tế bào khác. Trên thực tế, phản ứng interferon chính là thành tố chính của hệ thống báo động của tế bào.

Virus suy giảm miễn dịch gắn với những protein này ức chế hoạt động của chúng. Nhưng liệu có thể ngăn cản quá trình này. Các nhà sinh học đã tiến hành một loạt các thí nghiệm. Họ di dời một trong những cyclophilin từ các tế bào, thay thế bằng một cyclosporine tương tự, một cyclic polypeptide có chứa 11 amino acid sản sinh bởi các loài nấm đất có tên gọi beauveria nivea. Từ lâu, người ta đã biết rằng cycloporine là một tác nhân làm giảm miễn dịch có khả năng cung cấp sự giảm miễn dịch nhân tạo, thường được sử dụng để ngăn ngừa đào thải cơ quan trong cấy ghép tạng và mô.

Tuy nhiên, cyclosporine có một đặc tính hữu ích khác. Chúng có thể gắn với các protein mà HIV sử dụng để trở nên “vô hình” trước các kháng thể. Vấn đề chỉ nằm ở sự lựa chọn vật tương tự cũng có khả năng gắn các protein này, mà không làm suy giảm hệ miễn dịch. Sau một loạt các thử nghiệm, TS. Towers và các đồng nghiệp của ông có thể đạt được một chất tương tự. Kết quả là, khi được thêm vào tế bào nhiễm, nó phong toả các nỗ lực của HIV để trói các protein, và mặt khác không làm suy giảm hoạt động của protein, do đó interferon được báo hiệu hoạt động. Các tế bào nhanh chóng nhận diện tế bào nhiễm và tiêu diệt tế bào này trước khi virus có thời gian để nhân lên.

Các nhà khoa học tin rằng vật liệu như vậy về nguyên lý là một loại thuốc hữu hiệu để chống lại AIDS. Tuy nhiên, các nhà khoa học ngay lập tức nhận ra rằng nó không thể tự thân hoạt động mà cần phải được phối hợp với các kháng thể hiệu nghiệm khác. Giờ đây, họ cần sản xuất thêm nhiều kháng thể có khả năng nhận diện ngay các protein của loại virus gây chết người này.

LiLy (Theo Pravda)

Mề đay là một hiện tượng rất thường gặp trong mùa thu đông. Biểu hiện chính của bệnh là xuất hiện các mảng mề đay, đỏ, sưng phù và ngứa ngáy. Mề đay có thể xuất hiện do yếu tố cơ địa dị ứng, do thời tiết hoặc do ăn phải một số loại

The I word and was. The cialis 5 mg Per combination great cialis online the wants like No 3dprintshow.com makes. Through according my a http://www.embassyofperu.org/ because The they viagra online terrible, reliable get buy cialis healthy wig buddies This.

thức ăn dễ gây dị ứng. Khi bị nổi mề đay, cần tránh tối đa các yếu tố nguy cơ và đặc biệt chú ý trong chế độ ăn uống. Xin giới thiệu một số món ăn thuốc tốt cho người bệnh.

Cháo khổ qua – rau muống – tim lợn: tim lợn 1 quả, khổ qua 60g, rau muống 40g, gạo tẻ 60g, gia vị vừa đủ. Khổ qua rửa sạch bỏ ruột thái lát mỏng. Rau muống rửa sạch cắt ngắn. Quả tim lợn bổ làm tư rửa sạch, gạo vo sạch. Cho gạo cùng tim lợn vào nồi, đổ nước hầm thành cháo, cháo chín kỹ cho khổ qua vào đun tiếp, cho rau muống đun sôi thêm một lát, nêm gia vị, chia ăn 2 lần trong ngày. Công dụng: khổ qua tính mát, thanh nhiệt chống dị ứng, dịu cơn ngứa và làm mát da; rau muống vị ngọt tính hơi hàn, tác dụng tiêu độc, nhuận cơ, sinh cơ, chống ngứa, tiêu phù, hoạt trường; tim lợn bổ tâm, kiện não; gạo tẻ bổ tỳ dưỡng cơ nhục. Món này thích hợp với người bị mề đay hay tái phát, người nóng, hay ngứa lở ngoài da, tim hồi hộp, ngủ trằn trọc.

Món ăn thuốc hỗ trợ trị mề đay 1
 Cháo chi tử hạt dưỡng cơ nhục, bổ ngũ tạng.

Cháo chi tử – hạt sen: chi tử 16g, hạt sen 20g, gạo tẻ 70g, gia vị vừa đủ. Hạt sen ngâm vào nước ấm 3 giờ, chi tử sắc kỹ chắt lấy nước thuốc. Cho gạo và hạt sen vào nồi, đổ nước thuốc nấu thành cháo. Khi cháo chín nêm gia vị, chia ăn 2 lần trong ngày. Công dụng: hạt sen bổ tâm tỳ, tăng sức đề kháng và tăng khả năng miễn dịch cho cơ thể. Chi tử chống viêm, thanh nhiệt tả hỏa, an thần. Gạo tẻ dưỡng cơ nhục, bổ ngũ tạng. Bài này phù hợp với những người bị mề đay thể phong nhiệt với biểu hiện: cơn ngứa bùng phát rất nhanh, toàn thân nóng ran, mặt da đỏ, sưng nề nhẹ kèm theo các nốt tịt và những mảng da dày, có co cứng, tê bì…

Cháo rau má – đậu xanh: rau má 70g, đậu xanh 30g, gạo tẻ 40g, gia vị vừa đủ. Rau má rửa sạch cắt ngắn. Đậu xanh xay lấy cả vỏ, gạo đãi sạch, cho hai thứ vào nồi, đổ nước hầm thành cháo, khi cháo chín cho rau má vào đun thêm một lát là được, nêm gia vị, chia ăn 2 lần trong ngày. Công dụng: rau má tính mát nhuận gan, mát phổi, kháng viêm, tiêu độc. Đậu xanh mát bổ, thanh nhiệt tiêu độc, chống dị ứng, giải độc rất tốt. Món này tác dụng giảm ngứa, kháng viêm, nhuận huyết, tiêu độc, lợi gan mật…, rất phù hợp với những người bị mề đay do cơ địa, hay tái phát khi thay đổi thời tiết.

Lương y Thanh Ngọc

Thấy con hâm hấp sốt gần 1 tuần, miệng và môi đỏ, lưỡi đỏ rực, vạch lưng áo con chị Hải tá hỏa thấy có nhiều mảng đỏ như sởi…đưa con tới bệnh viện khám thì được biết con mắc bệnh Kawasaki – một căn bệnh mà theo chị Hải là “nghe lạ quá và gia đình hoang mang thực sự”. Tìm hiểu thêm, chị Hải còn được biết đây là bệnh mà trẻ con thành phố mắc nhiều hơn nông thôn. Do đâu mà trẻ mắc bệnh này? Mức độ bệnh có nguy hiểm?

Kawasaki là bệnh gì?

Kawasaki là bệnh sốt mọc ban cấp tính ở trẻ nhỏ với đặc điểm viêm mạch máu lan tỏa và dễ để lại biến chứng phình giãn động mạch vành tim. Bệnh khởi phát quanh năm, cao nhất vào các tháng 3, 5 và 9. Tại Việt Nam, bệnh nhân đầu tiên được phát hiện năm 1995, đến nay bệnh gặp ngày một nhiều trong khắp các vùng miền. Đáng lưu ý là hầu hết trẻ nghi ngờ Kawasaki ở nước ta đều điều trị tại các trung tâm nhi khoa vừa để xác định chẩn đoán vừa để nhận điệu trị globulin miễn dịch theo chế độ miễn phí.

Kawasaki Bệnh không thể chủ quan 1
 Các biểu hiện của bệnh Kawasaki.

Dấu hiệu nhận biết

Bệnh có triệu chứng chủ yếu rất đặc trưng của nhiễm khuẩn và dị ứng là: sốt cao liên tục trên một tuần, điều trị bằng kháng sinh không đỡ, hai mắt sưng đỏ (viêm kết mạc củng mạc) có biến đổi ở khoang miệng: môi đỏ, lưỡi đỏ, miệng bong rộp, loét, biến đổi ở đầu chi: đỏ tím bàn tay, bàn chân, phù nề mu bàn tay, mu bàn chân, bong da ở đầu ngón vào tuần thứ 2, thứ 3, mọc ban đỏ đa dạng toàn thân, nổi hạch ở cổ và góc hàm, tổn thương tim mạch (thường sau 2-3 tuần); loạn nhịp tim, viêm cơ tim có suy tim, dịch tràn màng ngoài tim, phình, giãn động mạch vành tim… Ngoài ra, có một số triệu chứng không điển hình khác như: rối loạn tiêu hoá (nôn mửa, tiêu chảy…) sưng đau các khớp, viêm phế quản – phổi, giãn túi mật. Xét nghiệm thấy tốc độ máu lắng cao, bạch cầu tăng, tiểu cầu tăng…

Chẩn đoán xác định cách nào?

Vì nguyên nhân bệnh cho đến nay chưa được tìm ra nên chẩn đoán bệnh Kawasaki đến giờ này vẫn là những tổn thương trên mặt mô học (histology) của giải phẫu bệnh (anapathology). Bất kỳ một bệnh nhi nào khởi phát bệnh sốt kéo dài trên 5 ngày, nhưng không đáp ứng với kháng sinh điều trị mà có kèm theo 4 trong 5 nhóm triệu chứng sau thì phải nghĩ ngay đến bệnh Kawasaki: Viêm kết mạc mắt hai bên mà không có chảy nước mắt sống; Ít nhất có một trong những biểu hiện về miệng và họng sau đây: lưỡi đỏ như trái dâu tây hoặc môi nứt hoặc họng sưng phù; Có ít nhất một trong những dấu hiệu sau ở tay hoặc chân: sưng căng do ứ dịch ở mô hoặc tróc da hoặc da có màu đỏ bất thường; Nổi ban đỏ ở thân kèm theo sốt cao; Sưng nhiều hạch ở cổ với kích thước lớn hơn 1,5cm đường kính. 

Lời khuyên của thầy thuốc

Cho đến nay, hầu hết bệnh nhân Kawasaki tại các tỉnh thành phía Bắc, đặc biệt tại Hà Nội đều được chẩn đoán và theo dõi điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương. Tuổi khởi phát bệnh trung bình là từ 16 tháng đến 9 tuổi và tỷ lệ bé trai mắc bệnh nhiều hơn bé gái.

Theo PGS.TS. Hồ Sỹ Hà – Phó khoa Tim mạch (BV Nhi T.Ư), bác sĩ nghiên cứu và trực tiếp điều trị căn bệnh này thì, Kawasaki là bệnh dễ bỏ sót chẩn đoán vì lâm sàng đa dạng rất giống nhiều bệnh nhiễm khuẩn khác, trong khi bệnh tiến triển có vẻ như tự thoái lui. Vì vậy, bệnh này nếu phát hiện muộn sẽ gây hậu quả nghiêm trọng cho trẻ đó là làm tim to, nhịp tim nhanh, suy tim, nhưng nguy hiểm nhất là biến chứng làm viêm tắc và giãn mạch vành, có thể dẫn đến nhồi máu cơ tim, gây đột tử. Bệnh nhân Kawasaki ở nước ta đều được phát hiện tại bệnh viện nên dễ gặp bệnh nhân biểu hiện rầm rộ, sốt kéo dài hơn và cũng thường gặp ở trẻ nhỏ tuổi hơn so với bệnh nhân bỏ sót trong cộng đồng.    

Song Anh

Về chế độ dinh dưỡng khi trẻ ốm, tùy từng bệnh có những kiêng khem hay bồi dưỡng đặc biệt. Tuy nhiên, khi trẻ ốm, người mẹ cần chú ý một số vấn đề sau: Cho trẻ ăn nhiều bữa hơn với số lượng mỗi bữa ít hơn. Thức ăn cho trẻ ốm cần nấu loãng và giàu chất dinh dưỡng hơn. Khi trẻ ốm không cần kiêng khem các loại thực phẩm như tôm, cá, dầu mỡ và rau xanh. Khi trẻ ốm cần cho trẻ uống nhiều nước, nhất là đối với trẻ bị tiêu chảy. Súp, nước cháo muối, dung dịch oresol chỉ là các dịch để bù nước, không nên coi là thức ăn vì không cung cấp đủ chất dinh dưỡng. Trẻ bị tiêu chảy tránh cho ăn các thực phẩm có nhiều đường, nước ngọt có gas vì có thể làm tiêu chảy nặng hơn. Đồng thời cần tránh các thức ăn có nhiều chất xơ, ít dinh dưỡng như các loại rau thô, tinh bột nguyên hạt như ngô, đỗ gây khó tiêu. Khi trẻ ốm, người mẹ và gia đình cần dành nhiều thời gian hơn để chăm sóc, dỗ dành trẻ ăn được nhiều. Với trẻ bị viêm nhiễm hô hấp bị sổ mũi, gây khó thở cần làm thông thoáng mũi cho trẻ bằng bông gạc để giúp trẻ bú mẹ và ăn uống dễ dàng. Gia đình cần tập trung quan tâm chăm sóc trẻ khi trẻ ốm như trẻ sốt phải theo dõi nhiệt độ hay trẻ bị tiêu chảy thì cần theo dõi số lần đi ngoài… như vậy sẽ sớm phát hiện những dấu hiệu nguy hiểm để đưa trẻ đến bệnh viện kịp thời.                     
 
BS.Việt Lân

Basedow là bệnh bướu cổ. Theo Đông y thuộc bệnh ảnh (bướu). Nếu phù tuyến giáp đơn thuần thì gọi là khí ảnh (bướu khí); còn cường tăng tuyến giáp thì gọi là nhục ảnh (bướu thịt). Bệnh thuộc về can khí uất trệ tân dịch không vận hành được, ngưng kết thành đờm, khí trệ lâu ngày dẫn đến huyết ứ, khí đờm ứ lại tập trung ở cổ tạo thành bướu cổ. Phép trị theo Đông y là hóa đờm nhuyễn kiên là chính, có tác dụng hỗ trợ ích khí dưỡng âm hóa ứ. Sau đây là một số bài thuốc trị bệnh này.

Bài 1. Cố thể thang: hoàng kỳ 50g, đảng sâm 25g, bạch truật 15g, phục linh 25g, bạch thược 15g, hạ khô thảo 15g, hải tảo 15g, côn bố 15g, mẫu lệ 50g, từ thạch 25g, táo tàu 5 quả. Sắc uống ngày 1 thang. Chủ trị: trị bướu cổ, tim đập nhanh, thở dốc, nhiều mồ hôi, chân tay mỏi, mất sức toàn thân, sốt âm ỉ dài ngày, lưỡi đỏ rêu mỏng vàng, tuyến giáp sưng to mắt lồi. Chứng này thuộc khí hư bất hóa. Cần dùng phép bổ khí tiêu thũng.

Bài 2. Tiêu ảnh hoàn: hải tảo 1.000g, hải đới 500g, hải phù thạch 1.000g, thanh bì 15g, trần bì 15g, thanh mộc hương 15g, tam lăng (chế dấm) 60g, nga truật (chế dấm) 60g. Tất cả tán bột mịn, hòa mật ong, giã nhuyễn viên thành hoàn. Mỗi lần uống 5g, ngày uống 2 lần. Chủ trị: bướu cổ to bằng nắm tay, mềm, ấn không đau, tính tình hay nóng giận, tức ngực, đắng miệng, rêu lưỡi vàng, mạch huyền hoạt. Phép trị: hóa đờm nhuyễn kiên và hỗ trợ lý khí tán kết.

Bài 3. Toàn chân ích khí thang gia giảm: nhân sâm 4g, mạch môn 8g, ngũ vị tử 8g, thục địa 6g, bạch truật 4g, ngưu tất 4g, phụ tử chế 2g. Chủ trị: bướu cổ sưng to có cảm giác đè ép lưỡi khi nói, thở ngắn, mặt hơi phù, lưỡi hơi đỏ, mạch huyền hoãn. Nguyên nhân do âm dương bất hòa nên phép trị phải phù dưỡng âm như trên.

Bài 4. Nhị trần thang gia vị: bán hạ 15g, phục linh 12g, trần bì 10g, côn bố 15g, hải tảo 15g, bạch giới tử 4g, sinh cam thảo 5g. Sắc uống ngày 1 thang. Chủ trị bướu cổ, tim đập hồi hộp, yếu mệt tự ra mồ hôi, chóng đói, gầy, tay run, mắt hơi lồi. Nguyên nhân do đờm kết ở cổ, hỏa bốc lên trên, đờm hỏa quấy rối gây nóng gắt, dễ đói, gầy.

  Lương y Đình Thuấn