Author Archives: dungntk

Không chỉ là thực phẩm phổ biến trong mùa thu – đông, củ cải trắng còn là một vị thuốc chữa bệnh. Theo Đông y, củ cải tươi sống có vị cay, tính mát, củ cải nấu chín có vị ngọt, tính bình, quy kinh phế và vị, có công dụng chữa một số bệnh đường hô hấp, tiêu hóa, tiết niệu,…

Một số đơn thuốc sử dụng củ cải trắng

Chữa ho nhiều, người mệt mỏi, suy nhược: Củ cải trắng 1kg, lê 1kg, gừng tươi 250g, sữa tươi 250g, mật ong 250g. Lê gọt vỏ, bỏ hạt, giã nhỏ; củ cải, gừng tươi rửa sạch, giã nhỏ. Cho từng thứ vào vải xô vắt lấy nước cốt để riêng. Đổ nước củ cải, lê vào nồi đun sôi, sau đó bớt lửa đun cho đến khi đặc dính thì cho nước gừng, sữa, mật ong vào khuấy đều, đun sôi lại. Khi nguội thì cho vào lọ đậy kín dùng dần, mỗi lần uống 10 -15ml, pha với nước ấm nóng uống, ngày uống 2 lần.

Củ cải trắng chữa bệnh 1

Củ cải trắng

Hỗ trợ điều trị viêm phế quản mạn ở người cao tuổi: Củ cải trắng 250g, đường phèn, mật ong vừa đủ, một bát con nước. Sắc đến khi còn nửa bát con nước, ăn củ cải và uống nước. Mỗi ngày 2 lần vào buổi sáng và tối. Dùng 7 – 10 ngày là một liệu trình.

Chữa ho do hen phế quản, nhiều đờm: Hạt củ cải rửa sạch, phơi khô, tẩm nước gừng tươi, sao vàng, tán thành bột mịn. Lấy 5 vỏ quýt và 1 nhánh gừng cho vào nồi đun sôi kỹ lấy 40 – 50ml nước đặc, gạn trong, sau đó cho thêm một thìa bột

gạo quấy đều đun chín. Lấy nước hồ đó cho vào bột hạt củ cải, trộn đều đem viên thành viên nhỏ bằng hạt đỗ đen, uống 15 – 20 viên/lần, hằng ngày uống trước bữa ăn.

Chữa táo bón, miệng khô đắng: Dùng củ cải tươi xào với tỏi ăn trong bữa cơm. Ngày 2 lần. Ăn trong 3 – 5 ngày.

Chữa khản tiếng, mất tiếng: Dùng nước ép củ cải tươi, trộn thêm nước ép của 2 – 3 lát gừng tươi, ngậm nuốt dần. Ngậm nhiều lần trong ngày.

Viêm loét miệng do nhiệt: Củ cải tươi giã vắt lấy nước cốt ngậm rồi súc miệng nhiều lần trong ngày.

Hỗ trợ điều trị đái tháo đường: Củ cải 200g, gạo tẻ 50g, gạo nếp 50g, nấu thành cháo. Ăn nóng, ngày 1 lần. Có thể ăn thường xuyên.

Phòng và điều trị viêm loét dạ dày: Ăn củ cải thường xuyên có tác dụng tốt cho tiêu hóa do củ cải có khả năng hấp thụ tinh bột trong thực phẩm, có thể hóa giải thức ăn tích trữ trong dạ dày, có tác dụng chữa khó tiêu, kích thích tiêu hóa, phòng và điều trị viêm loét dạ dày.

Bác sĩ  Thúy An

Nhiều người cho rằng, để chăm sóc gan cho bản thân, chỉ cần đơn giản là áp dụng các biện pháp giải độc gan, tuy nhiên quan điểm đó là hoàn toàn sai lầm.

Chúng ta thường lầm tưởng những triệu chứng như mệt mỏi, chán ăn, tiêu hóa kém, mẩn ngứa, mụn nhọt, tiểu vàng… là do nóng gan, yếu gan. Tuy nhiên, đó lại là những triệu chứng báo hiệu tình trạng gan đang hư tổn và tế bào gan đang mất dần khả năng tự vệ trước sự tấn công của vi-rút nên khiến nguy cơ mắc viêm gan siêu vi. Lúc này, nếu chỉ giải độc và làm mát gan thôi là chưa đủ. Gan cần được bảo vệ tốt hơn trước nguy cơ mắc các bệnh lý nghiêm trọng như viêm gan, xơ gan, ung thư gan.

Làm thế nào để nhận biết tình trạng của gan?

Gan là cơ quan thải độc chính nên khi cơ thể tiếp nhận càng nhiều chất độc hại thì càng khiến gan phải tăng cường làm việc. Nếu tình trạng đó kéo dài, gan sẽ càng suy yếu và hư tổn. Khi gan hư tổn, các chức năng khác của gan cũng vì thế mà suy giảm khả năng làm việc khiến cơ thể xuất hiện một số triệu chứng như:

Mệt mỏi: đây là một triệu chứng điển hình của tình trạng suy giảm hoạt động của gan. Ngoài thải độc, gan còn là nhà máy chuyển hóa và dự trữ của cơ thể nên khi gan hư tổn sẽ khiến cơ thể thiếu năng lượng và thiếu chất. Đây là lý do khiến cơ thể uể oải và mệt mỏi.

Chán ăn, tiêu hóa kém: gan là nơi sản xuất dịch mật và một số dịch tiêu hóa khác. Nếu gan hư tổn, lượng dịch mật và dịch tiêu hóa được sản xuất ra bị giảm sút khiến hoạt động tiêu hóa gặp khó khăn và gây tình trạng chán ăn.

Mẩn ngứa, hay dị ứng: chất độc hại nếu không được gan đào thải hết ra ngoài sẽ được máu đưa đi khắp nơi khiến tình trạng mẩn ngứa, mụn nhọt xảy ra.

Giải độc gan thôi chưa đủ! 1Mệt mỏi, chán ăn, tiêu hóa kém , mẩn ngứa là các triệu chứng báo hiệu gan hư tổn

Đây là 3 trong số những triệu chứng khá phổ biến giúp chúng ta có thể phát hiện ra tình trạng hư tổn của gan. Giải độc gan chỉ hỗ trợ làm giảm các triệu chứng xuất hiện bên ngoài chứ không mang lại tác động bảo vệ tối ưu cho tế bào gan trước sự tấn công của các tác nhân gây bệnh. Xem nhẹ những triệu chứng này hoặc không có giải pháp phù hợp và kịp thời sẽ khiến gan gặp nhiều nguy cơ bệnh lý nghiêm trọng.

Giải pháp nào cho gan hư tổn?

Chúng ta nên có giải pháp phù hợp để chủ động ngăn ngừa các nguy cơ trong tình trạng các tác nhân gây hại đang bủa vây như hiện nay. Dưới đây là 2 giải pháp nền tảng giúp giảm nguy cơ mắc các bệnh về gan:

Giải độc gan thôi chưa đủ! 2Chủ động tăng cường miễn dịch và bảo vệ tế bào gan giúp bạn giảm nguy cơ các bệnh về gan

Tăng cường miễn dịch: hệ miễn dịch là một nền tảng vững chắc giúp cơ thể phát hiện và tiêu diệt được những nguy cơ gây hại khi chúng xâm nhập vào cơ thế. Vì thế, nếu cơ thể khỏe mạnh thì nguy cơ mắc các bệnh về gan sẽ giảm xuống đáng kể. Thường xuyên vận động thể chất, tuân thủ thói quen sinh hoạt khoa học, sáng suốt trong lựa chọn các giải pháp bảo vệ cơ thể sẽ giúp hoàn thiện hơn hệ miễn dịch cho mỗi chúng ta.

Bảo vệ tế bào gan: giảm gánh nặng cho gan cũng là một cách bảo vệ gan hiệu quả. Chỉ cần kiểm soát việc uống rượu bia hợp lý, lựa chọn thực phẩm an toàn và góp phần cải thiện môi trường sống sẽ giúp giảm bớt những độc chất có thể xâm nhập và làm hại cơ thể. Ngoài ra, sử dụng những sản phẩm giúp bảo vệ tối ưu cho tế bào gan trước sự tấn công của các tác nhân gây hại cũng là một lựa chọn thông minh trong tình trạng hiện nay.

Ngày nay, y học hiện đại đã nghiên cứu thành công 2 hoạt chất PSP và PSK trong nấm Vân Chi có khả năng ức chế sự sinh sản và phát triển của vi-rút viêm gan và tế bào ung thư. Với công nghệ chiết xuất hiện đại, Linten Fort đã kết hợp nấm Vân Chi với các dược liệu khác như nấm Linh Chi, Diệp Hạ Châu, Tinh Nghệ, Atiso, Kẽm và Selen mang lại tác động tăng cường miễn dịch và bảo vệ tế bào gan, giúp giảm nguy cơ viêm gan, xơ gan và ung thư gan.

Không chỉ đơn thuần là giải độc cho gan, sản phẩm Linten Fort với chiết xuất từ nấm Vân Chi và các thảo dược quý từ thiên nhiên mang lại tác động tăng cường miễn dịch và bảo vệ tế bào gan trước các tác nhân gây hại, giảm tác hại trong thực phẩm và thuốc điều trị nhờ đó giúp giảm các triệu chứng của gan hư tổn như mệt mỏi, chán ăn, tiêu hóa kém, vàng da, mẩn ngứa… đồng thời hỗ trợ điều trị và giảm nguy cơ mắc viêm gan siêu vi B, viêm gan siêu vi C, xơ gan và ung thư gan.

Giải độc gan thôi chưa đủ! 3Linten Fort – Tăng cường miễn dịch, bảo vệ tế bào gan

Tổng đài tư vấn miễn phí: 1800 8086

Website: www.lintenfort.com 

Nhiều thành viên tham dự Hội nghị khí hậu ở Warsaw (Ba Lan) và trên thế giới đang hằng ngày, hằng giờ theo dõi sự liên kết giữa hiện tượng ấm lên trên toàn cầu và siêu bão Haiyan đã tàn phá quốc đảo Philippines. Bên cạnh đó, một vài nghiên cứu gần đây đã công bố rằng thế giới sẽ còn phải đối mặt thêm nhiều xu hướng thời tiết cực đoan mới đáng lo ngại hơn.

Ngày 11/11/2013, Hội nghị khí hậu của Liên hợp quốc (UN) diễn ra trong một trạng thái thương cảm sâu sắc tới những gì mà Philippines vừa phải trải qua sau siêu bão Haiyan. Người dân đã căng thẳng chạy trốn khỏi cơn bão, sơ tán các gia đình, phải hứng chịu sự đau khổ và tàn phá, phải tận mắt đếm xác chết người thân yêu của mình, đây có lẽ là thảm kịch vô cùng tồi tệ… Cuối cùng thế giới phải đi đến thỏa thuận nhằm làm giảm đáng kể lượng khí thải nhà kính, trong một nỗ lực nhằm ngăn chặn hiện tượng ấm lên trên toàn cầu.

Ông Daniel Mittler, Giám đốc chính trị của Tổ chức quốc tế Hòa bình xanh (GI), cũng cho rằng: “Chúng ta đều biết rõ rằng các hiện tượng thời tiết cực đoan đang xảy ra ngày càng khắc nghiệt hơn và thường xuyên hơn bởi sự biến đổi khí hậu”. Ông Stefan Rahmstorf, một nhà nghiên cứu tại Viện nghiên cứu về tác động khí hậu Potsdam (PIK), Đức chia sẻ: “Trước cơn ác mộng vừa xảy ra tại Philippines, làm thế nào cả thế giới cùng đấu tranh chống lại biến đổi khí hậu?”.

Bài học từ thảm họa siêu bão Haiyan 1
 Bão Haiyan trên đường đến Philippines lúc 3 giờ 25 phút sáng ngày 7/11/2013 với sức gió giật lên tới 315 km/giờ (hay 195 dặm/giờ).

Bài học quyết định

Liệu siêu bão Haiyan có thực sự là kết quả của hiện tượng biến đổi khí hậu do con người gây ra? Các thống kê đã cho thấy còn có những kết nối khác. Đơn cử như, cách thức xây dựng nhà cửa, đê điều và các khu dân cư còn đóng một vai trò quan trọng quyết định đến việc tổn thất do bão gây ra. Ở Mỹ, điều này đã dẫn tới việc hạn chế các trường hợp tử vong có liên quan đến bão kể từ năm 1900, mặc dù vẫn có sự gia tăng của mật độ dân số và xu hướng thường xuyên của các cơn bão tại các khu vực có nguy cơ rủi ro cao. Ở Haiti, các cuộc nghiên cứu đã chỉ ra rằng “quá trình đô thị hóa và sự di dân vào các khu vực thường xuyên có bão có thể được xem như là một trong những động lực chính của sự mong manh về tính mạng của người dân nếu một khi họ tiếp cận với bão”. Hệ quả của các nhân tố như thế này sẽ khiến cho các cơn bão thậm chí là yếu hơn siêu bão Haiyan cũng có thể là nguyên nhân gây ra những thảm họa cực đoan.

Các xu hướng thời tiết không thể xác định được 

Trong đánh giá mới đây nhất về sự nóng lên trên toàn cầu, được công bố hồi tháng 9/2013, IPCC nhận định rằng có những xu hướng dài hạn không thể xác định được khi đề cập đến các cơn bão nhiệt đới, cũng như các trận cuồng phong hoặc siêu bão. Tuy nhiên, người ta lo ngại rằng các cơn bão mạnh nhất có thể phát triển lớn hơn và mức hủy diệt nặng nề hơn. Các cơn bão nhiệt đới đã hấp thụ năng lượng từ nước ấm. Nhưng cái phương trình “các đại dương ấm hơn thì tương đương với các cơn bão mạnh hơn” lại xem ra không đúng. Những hiện tượng như cắt gió hoặc bụi không khí có thể làm suy yếu các cơn bão. Thật vậy, một số người đã chỉ ra rằng sự suy giảm không khí ô nhiễm ở thế giới phương Tây kể từ cuối thập niên 1970 đã có những đóng góp vào sự gia tăng hoạt động của các cơn bão trên biển Đại Tây Dương kể từ đó. Vào năm 2012, các nhà nghiên cứu tại Đại học Copenhagen (Đan Mạch) đã báo cáo rằng các hoạt động của bão tại Đại Tây Dương đã gia tăng trong hàng thập kỷ và bây giờ nó đã đạt tầm trưởng thành vào cuối thế kỷ 19. Tuy nhiên, Tổ chức Khí tượng học thế giới (WMO) đã cho rằng xu hướng này đã bị phá vỡ ở Đại Tây Dương vào đầu thiên niên kỷ.

Ít bão, lụt có cao hơn?

WMO cũng báo cáo rằng trong vòng một thập niên qua, các hoạt động bão nhiệt đới đã thấp hơn mức trung bình. Ông Ryan Maue, một nhà nghiên cứu khí hậu tại Đại học công Florida, vào năm 2011 đã viết rằng hoạt động bão nhiệt đới toàn cầu đã đạt mức thấp nhất. Một nghiên cứu khác có từ năm 2012 đã tính toán rằng, số lượng các cơn bão đã giảm kể từ năm 1872. Tuy nhiên, vẫn còn có câu hỏi lo lắng rằng nơi nào các cơn bão sẽ bất ngờ xuất hiện? Theo dự báo của IPCC thì các cơn bão nhiệt đới sẽ ít xuất hiện hơn khi nhiệt độ toàn cầu tăng lên. Nhưng phát hiện đáng lo ngại nhất là những cơn bão mạnh nhất sẽ được nhân lên thành siêu bão. Hậu quả của những hoạt động này có thể là hết sức nghiêm trọng – dẫn lời từ bài viết của nhà nghiên cứu Robert Mendelsohn từ Đại học Yale (Mỹ). Theo ước tính của ông Robert, 1% các cơn bão mạnh nhất có thể gây ra một nửa số thiệt hại của tất cả các hoạt động bão nhỏ gộp lại.

Tuy nhiên, kể từ khi những cơn siêu não này xuất hiện một cách thường xuyên hơn thì các chuyên gia nói rằng có thể trong vài thế kỷ trước đây, nó đã thực sự đánh giá được tác động của biến đổi khí hậu. Thảm họa siêu bão Haiyan ở Philippines đã cho thấy rằng có những thay đổi khác trong khí hậu của trái đất sẽ chứng minh cho nhiều thứ còn đáng sợ hơn nhiều. Đơn cử như, không chừa nơi nào trên hành tinh này không có khả năng hứng chịu mực nước biển dâng cao nhanh chóng, các trận lụt lội do bão có thể tiếp tục cao hơn.

Nguyễn Thanh Hải

(Theo Der Spiegel, 11/2013)

CHAC chăm sóc sức khỏe định kỳ cho bà con diện chính sách P.2, Q.8, Tp HCM

Tiếp nối thành công của chương trình “chăm sóc sức khỏe  cho phụ nữ chưa có điều kiện chăm sóc y tế”  tại P.4, Q.Gò Vấp và Quận 10. Ngày 15.11, CHAC tiếp tục mang chương trình ý nghĩa này đến với phụ nữ P.2, Q.8. Cùng với sự hổ trợ đắc lực của Hội Phụ Nữ – P.2, Q.8, chương trình đã kết thúc trong niềm vui và sự trân trọng của các bà, các mẹ dành cho CHAC. Chị Quỳnh Châu – Chủ tịch hội Phụ nữ P2 cho biết: đây là lần đầu tiên có một chương trình miễn phí mà các bà, các mẹ được khám và xét nghiệm tổng quát một cách toàn diện, theo chị CHAC đã tổ chức chương trình chu đáo, ý nghĩa. Thay mặt cho chị em phụ nữ P2, chị Quỳnh Châu gửi đến đội ngũ Bác sỹ, nhân viên y tế của CHAC lời cảm ơn sâu sắc & hy vọng CHAC sẽ tiếp tục đồng hành cùng Hội phụ nữ P2 để có thể có nhiều chị em phụ nữ được chăm sóc y tế hơn nữa.

CHAC tu thien

Hình: Quý bà con đang nghe tư vấn về “Chăm sóc sức khỏe cho người lớn tuổi” được trình bày Bác sỹ Trần Thị Kim Thu.

Nguồn: Phòng Đối Ngoại – CHAC

 

Em bé tí hon ra đời tại Trung Quốc 1

Một em bé chỉ cỡ bằng bàn tay với cân nặng có 680 gram vừa được sinh ra vào ngày 27/10/2013 tại tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Theo bác sỹ, mẹ em bé sinh non khi mang thai 28 tuần tuổi.

Em bé tí hon ra đời tại Trung Quốc 2


Em bé chỉ nhỉnh hơn lòng bàn tay của người lớn một chút và có cân nặng cực nhẹ

Em bé tí hon ra đời tại Trung Quốc 3


Em bé gái này đang được nuôi trong lồng ấp để được điều trị thích hợp.

Em bé tí hon ra đời tại Trung Quốc 4

Em bé tí hon ra đời tại Trung Quốc 5


LiLy (theo Pravda)

Có nhiều nguyên nhân gây viêm màng não, thường gặp do vi khuẩn, virut, vi nấm và ký sinh trùng. Tùy nguyên nhân và đường lây mà có biểu hiện lâm sàng khác nhau.

Viêm não, màng não do amip

Amip có ở sông ngòi ao hồ nước ngọt ấm, xâm nhập cơ thể người qua đường mũi trong khi bơi hay ngụp lặn ở đó. Từ mũi, amip đi vào não phá hủy mô não. Bệnh không truyền qua đường uống; không có amip trong nước biển mặn; bệnh không lây từ người sang người.

Biểu hiện: Từ 1 – 7 ngày khi amip xâm nhập, người bệnh thấy đau đầu, sốt, buồn nôn và nôn, cứng cổ. Thời gian muộn hơn: bệnh nhân bị lẫn lộn, thờ ơ với mọi người xung quanh, mất thăng bằng, có các cơn động kinh, ảo giác. Bệnh nặng lên rất nhanh và thường tử vong trong vòng 1 – 12 ngày, dù có điều trị hay không.

Viêm màng não do ký sinh trùng 1
 Chu trình nhiễm giun mạch gây viêm màng não.

Viêm màng não do giun mạch

Giun mạch là nguyên nhân gây viêm màng não hay gặp nhất. Ấu trùng giun mạch có tính ưa thần kinh. Giun mạch ký sinh ở động mạch phổi của chuột nên được gọi là “giun ở phổi chuột”, đẻ trứng trong các động mạch và nở thành các ấu trùng giai đoạn 1. Ấu trùng xuyên qua thành động mạch đi vào phổi và di cư lên các phế quản rồi xuống ruột, thải ra ngoài theo phân. Người là ký chủ tình cờ, bị nhiễm do ăn phải ốc sên chưa nấu chín kỹ mang ấu trùng, hay ăn rau sống có dính chất nhờn do ốc sên hay các loài nhuyễn thể khác tiết ra. Ở ruột người, ấu trùng xuyên qua thành ruột di cư lên não và tủy sống, gây viêm màng não và lên mắt, gây giảm thị lực hay mù mắt. Ở người, trên bề mặt não và tủy sống, ký sinh trùng trở thành ấu trùng giai đoạn cuối nhưng chúng không thể phát triển thành giun trưởng thành như ở chuột.

Viêm màng não do giun đầu gai

Bệnh truyền từ động vật sang người, ấu trùng của giun đầu gai bám lên thành ruột của các động vật như lợn, chó, mèo sau đó được thải ra phân và phát triển thành phôi bào trong môi trường nước. Chúng phát triển trong các ký chủ trung gian như các loại cá, ếch, rắn nước. Người nhiễm bệnh khi ăn các loại thức ăn chế biến từ cá, rắn, gia cầm mang ấu trùng hay uống nước có ấu trùng không được nấu chín. Ấu trùng của giun đầu gai có thể di chuyển dưới da, đi đến các nội tạng, ổ mắt, hệ thần kinh gây viêm màng não.

Viêm màng não do nhiễm giun đũa chó, mèo

Người ăn phải những thức ăn có nhiễm trứng các loại giun này do ruồi làm lây nhiễm, hay do nhiễm trứng giun từ bàn tay khi tiếp xúc với đất nhưng không được rửa sạch trước khi ăn. Trong cơ thể, ấu trùng của giun đũa chó, mèo có thể di cư đến nhiều cơ quan gây bệnh như ngứa da, mù mắt, sưng gan, tràn dịch màng tim, màng phổi, viêm màng não.

Viêm màng não do ký sinh trùng 2
 Nang sán lợn trong “thịt lợn gạo”.

Viêm màng não do nang sán lợn

Người ăn phải thịt lợn gạo còn sống như trong nem chua, hay thịt lợn nấu tái, vào ruột non người ấu trùng phát triển thành sán trưởng thành. Sán lợn trưởng thành ở trong ruột non của người đẻ ra trứng, trứng theo phân ra ngoài, khi lợn ăn vào (lợn là ký chủ trung gian) khi đến ruột lợn, trứng nở ra ấu trùng, ấu trùng xuyên qua thành ruột đi đến khắp nơi trong cơ thể lợn dưới dạng các nang sán lợn nên thịt những con lợn này, gọi là “thịt lợn gạo”. Khi đó gọi là mắc bệnh sán lợn. Nếu người ăn phải thức ăn chưa được nấu chín bị nhiễm trứng sán từ môi trường bên ngoài thì sẽ dẫn đến bệnh nang sán lợn ở người. Từ trong ruột, các ấu trùng sán sẽ xâm nhập mạch máu và di cư đến khắp nơi gây ra những nốt cứng ở bắp thịt, nhiều nhất là ở mô dưới da, não và mắt. Trường hợp này, người là ký chủ trung gian. Nang sán lợn có thể gây bệnh viêm màng não, tổn thương não gây động kinh, giảm thị lực hay mù mắt…

Dấu hiệu viêm màng não ký sinh trùng

Khi bị viêm màng não do ký sinh trùng, các triệu chứng thường gặp là:  sốt, đau đầu, thường đau nhiều vùng trán, chẩm, hai bên thái dương, đau nhiều về đêm, buồn nôn, nôn, dị cảm tay chân, đau mỏi cổ gáy, đôi khi cứng cổ. Có thể có triệu chứng nhìn đôi do liệt các dây thần kinh vận nhãn, giảm thị lực, yếu tay chân. Trường hợp bệnh diễn tiến nặng, bệnh nhân có thể hôn mê, thậm chí tử vong. Nếu nhiễm giun đầu gai thì bị nổi mẩn da do ấu trùng di chuyển.

Xét nghiệm công thức máu thấy tăng bạch cầu ái toan, chọc dò dịch não tủy thấy tăng bạch cầu ái toan, xét nghiệm phát hiện được kháng thể chống ký sinh trùng trong dịch não tủy. Chụp cộng hưởng từ và chụp cắt lớp vi tính não bộ có thể thấy hình ảnh của viêm màng não. Sinh thiết mô xác định có ký sinh trùng trong các tạng.

Điều trị và phòng bệnh

Bệnh viêm màng não ký sinh trùng cần được chẩn đoán và điều trị càng sớm càng tốt. Thuốc cần dùng là các thuốc điều trị đặc hiệu cho từng loại ký sinh trùng.

Phòng bệnh có thể được thực hiện dễ dàng, hiệu quả và không tốn kém chỉ bằng các biện pháp giản đơn như rửa tay sạch trước khi ăn, thức ăn cần được nấu chín và không để ruồi bu, không để chân tiếp xúc với bùn đất khi làm việc đồng bằng cách đi ủng, đeo xà cạp. Tránh viêm não màng não do amip: hạn chế các hoạt động dưới nước hoặc tắm ở ao, hồ, sông, suối nhiễm bẩn bởi phân rác; nút mũi hoặc dùng clips mũi khi làm việc dưới nước, tránh ngụp lặn tại các nơi nước ngọt ấm và nông. Dùng nước muối sinh lý rửa mũi, súc rửa xoang…            
 
ThS. Trần Minh Thanh

Bạn khó chịu vì nước mũi, gỉ mắt, hay xấu hổ khi xì hơi không kiểm soát… nhưng thực tế là bạn phải cảm ơn chúng vì những điều tế nhị đó cũng góp phần vào việc bảo vệ sức khỏe của bạn.

Ráy tai

Bắc Mỹ dành khoảng hơn 60 triệu USD hàng năm cho các sản phẩm làm sạch tai tại nhà và khoảng 12 triệu người Mỹ gặp bác sĩ mỗi năm (thậm chí nhiều người lựa chọn spa và sử dụng phương pháp độc đáo khác) chỉ để lấy ráy tai. Mặc dù về mặt lý thuyết, ống tai của chúng ta là bộ phận có khả năng tự làm sạch.

Ráy tai nằm ở ống tai ngoài, do một loại chất nhờn tựa như mồ hôi tiết ra từ những tuyến hạch nhỏ (tuyến ráy tai) trộn lẫn với những tế bào chết rơi ra trong lỗ tai mà thành. Nó chẳng phải thứ vô dụng như nhiều người nghĩ. Những hạt bụi bẩn trong không khí và côn trùng nhỏ nếu chẳng may bay vào lỗ tai thì chất nhờn ngăn chặn lại, không cho chúng đi sâu vào bên trong, tránh gây tổn hại đối với cơ quan thính giác. Một số côn trùng nhỏ đôi khi bị lạc đường chui vào lỗ tai, nhấm phải vị đắng của ráy tai sẽ lập tức bò ra ngoài. Ráy tai được xem là vệ sĩ của cơ thể con người, có tác dụng chống nhiễm khuẩn, ngăn bụi bẩn, côn trùng, giúp tai không bị “sốc” vì các âm thanh quá lớn và thậm chí được dùng làm thuốc chữa bệnh.

Chất nhầy

Chất nhầy là một chất lỏng dính phủ kín phần bên trong mũi, miệng, xoang, họng, phổi, đường tiêu hóa và nó xuất hiện mọi lúc, không phải chỉ khi bạn bị cảm lạnh. Trong thực tế, cơ thể của bạn tiết ra khoảng 1/4 – 1/2 gallon (khoảng 1 – 1,5 lít) chất nhầy mỗi ngày.

Chất nhầy đóng vai trò như một chất bôi trơn và nếu không có nó, các mô cơ thể sẽ bị khô. Và bởi vì nó dính, nó cũng có chức năng như một “nhà máy thu thập rác”, tránh vi khuẩn, phấn hoa, bụi bẩn, nấm mốc, khói thuốc hay bất cứ điều gì khác khi xâm nhập cơ thể của bạn.

Lợi ích của những điều “tế nhị” 1
 Ống tai có khả năng tự làm sạch.

Vi khuẩn

Một cơ thể người trưởng thành có lượng vi khuẩn sinh sống (bao gồm vi khuẩn, virut và các loại vi sinh vật khác) ít nhất gấp 10 lần so với số tế bào cơ thể. Hiểu theo nghĩa đen có nghĩa bạn là vi khuẩn nhiều hơn là người. Và trên thực tế, có khoảng 100 triệu tỷ vi khuẩn sống trong mọi ngóc ngách cơ thể bạn.

Tuy nhiên trong số lượng vi khuẩn khổng lồ ấy, chỉ có dưới 1% có thể gây ra bệnh tật và số còn lại thì giúp cơ thể hoạt động tốt hơn. Chẳng hạn, khuẩn Lactobacillus acidophilus trong sữa chua, giúp cơ thể tiêu hóa thức ăn và chiến đấu chống lại vi khuẩn gây bệnh.

Khí ga

Bất cứ ai, từ người nổi tiếng, nữ hoàng đến những người bần hàn nhất cũng đều có lúc “xì hơi” hay ợ chua. Nguồn khí này được tạo ra khi cơ thể chúng ta nhai hoặc uống, hoặc được tạo ra từ phản ứng hóa học hay từ những vi khuẩn sống trong ruột của chúng ta.

Lượng khí trong một lần xì hơi hoặc ợ chua bao gồm 59% nitơ, 21% hidro, 9% CO2, 7% mêtan và 4% ôxy. Trong đó chỉ có 1% là H2S – chất có chứa lưu huỳnh (chỉ xuất hiện khi bạn xì hơi).

Một số thực phẩm sẽ khiến cơ thể của bạn sinh ra khí nhiều hơn và đó là những thực phẩm chứa nhiều chất xơ, có đường, chẳng hạn như đậu, bông cải xanh. Đối với một số người, lúa mì hay sữa và các sản phẩm có chứa lúa mì hay sữa cũng góp phần vào ợ hơi, xì hơi hay đầy bụng vì cơ thể của họ khó tiêu hóa những loại thực phẩm này. Tuy nhiên, thường thì nguyên nhân không có gì khác hơn chính là khí bạn nuốt phải.

Nôn mửa

Dạ dày bình thường chứa khoảng 3/4 gallon (khoảng 1 lít) lượng thức ăn hoặc nước uống bạn ăn. Cảm giác buồn nôn sau khi ăn có thể cho bạn biết bạn đã ăn quá giới hạn dạ dày cho phép. Vài nghiên cứu thấy rằng, mặc dù dạ dày sẽ giãn ra đôi chút để chứa nhiều hơn 3/4 gallon thức ăn, nó sẽ ngay lập tức “nổ tung” nếu bạn ép dạ dày phải chứa tới 1,3 gallon (5 lít) thức ăn.

Nếu dạ dày và ruột đã không thể chứa thêm được nữa, thức ăn mà bạn ăn vào sẽ không được tiêu hóa bình thường mà thay vào đó, nó sẽ quay ngược trở lại để ra ngoài. Nôn mửa thực chất được điều khiển bởi “vùng nôn mửa” trong não và có thể được tạo ra bởi vô vàn thứ bao gồm bệnh truyền qua thực phẩm, bệnh truyền nhiễm, cũng như tác dụng phụ của nhiều loại thuốc và các phương pháp trị liệu.

Nếu như bạn không thể nôn, cơ thể bạn sẽ phải chứa rất nhiều chất thừa thãi.  Thành dạ dày xuất hiện nhiều lỗ hở, cho phép thức ăn chưa tiêu hóa hoàn toàn vào cơ thể bạn.
 
 Minh Huệ

 (Theo Wikipedia, Health, Listverse, HSW, 10/2013)

Ngồi lâu ở một vị trí trong thời gian dài, sai tư thế, ít vận động,… là những yếu tố góp phần gây nên tình trạng đau lưng ở nhân viên văn phòng. Nghiêm trọng hơn, tình trạng này kéo dài có thể gây một số bệnh xương khớp, trong đó có thoát vị đĩa đệm (TVĐĐ).

Là nhân viên văn phòng tại một công ty du lịch ở Hà Nội, anh Nam thường xuyên phải ngồi trong một tư thế liên tục 8 tiếng làm việc. Ban đầu, anh có cảm giác đau mỏi ở thắt lưng nhưng sau một thời gian, cơn đau trở nên dữ dội hơn và thường xuyên tái phát khiến anh khó tập trung, ảnh hưởng tới công việc. Khi đi khám tại bệnh viện, bác sĩ cho biết anh đã bị TVĐĐ và nếu không điều trị sớm thì có thể phải phẫu thuật.

Theo các chuyên gia, TVĐĐ cột sống thắt lưng là nguyên nhân phổ biến gây nên hiện tượng đau lưng ở những người làm công việc văn phòng với các triệu chứng điển hình như: đau vùng thắt lưng, đau và tê lan xuống mông, đùi và cẳng chân, bàn chân,…

Biện pháp giảm đau lưng ở dân văn phòng 1

Ảnh minh hoạ.

Để tránh bị đau lưng do TVĐĐ, nhân viên văn phòng cần ngồi đúng tư thế, điều chỉnh chiều cao của ghế ngồi phù hợp, thường xuyên thay đổi tư thế, vận động đi lại,… Khi tình trạng đau lưng kéo dài, ảnh hưởng tới sức khoẻ thì người bệnh cần đi khám và tuân thủ phác đồ điều trị của bác sĩ như dùng thuốc, vật lý trị liệu hay phẫu thuật.

Hiện nay, nhiều bác sĩ cũng như bệnh nhân đang tin tưởng lựa chọn các sản phẩm nguồn gốc thiên nhiên, không gây tác dụng phụ, đã được khẳng định qua nhiều nghiên cứu khoa học để phòng ngừa và giảm triệu chứng đau lưng do TVĐĐ, điển hình là thực phẩm chức năng Cốt Thoái Vương. Với thành phần chính là dầu vẹm xanh có tác dụng tăng cường sức đề kháng và độ chắc khỏe của xương, kết hợp cùng nhiều thành phần khác như: thiên niên kiện, nhũ hương,… Cốt Thoái Vương có tác dụng giảm đau lưng, phòng ngừa, hỗ trợ điều trị, ngăn chặn tái phát các cơn đau do TVĐĐ.

Bên cạnh việc duy trì sử dụng Cốt Thoái Vương, người bệnh nên có chế độ nghỉ ngơi hợp lý, vận động nhẹ nhàng và áp dụng một số biện pháp vật lý trị liệu,… nhằm giúp cột sống chắc khỏe, đẩy lùi tình trạng đau lưng do TVĐĐ.

Minh Trí

Cốt Thoái Vương – Sản phẩm hàng đầu chứa dầu vẹm xanh dành cho các bệnh về cột sống, đĩa đệm:

Thực phẩm chức năng Cốt Thoái Vương có thành phần chính là dầu vẹm xanh, kết hợp với các thành phần tự nhiên khác, hiệu quả trong hỗ trợ điều trị, phòng ngừa thoái hóa cột sống, TVĐĐ, gai cột sống; tăng cường lưu thông máu, giúp xương chắc khỏe, giảm đau xương khớp, làm chậm quá trình thoái hóa,… mà không gây tác dụng phụ, kể cả khi dùng lâu dài. Hiệu quả của sản phẩm đã được chứng minh qua nhiều nghiên cứu tại bệnh viện.

Để tăng cường hiệu quả, người bệnh nên dùng Cốt Thoái Vương mỗi ngày 4 viên chia làm 2 lần, trước bữa ăn 30 phút. Mỗi đợt sử dụng kéo dài từ 2-4 tháng. Thực tế cho thấy, nhiều bệnh nhân và bác sĩ rất hài lòng khi sử dụng Cốt Thoái Vương.

Điện thoại tư vấn: 04.37757066 / 08.39770707

* Sản phẩm này không phải là thuốc, không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh

Loại trừ 2 loại gen đặc biệt có thể cải thiện việc điều trị ung thư lên tới 50% tổng  số bệnh nhân. Các nhà nghiên cứu tại Viện Công nghệ Massachusetts, Mỹ đã phát hiện ra bằng cách phong toả gen p53 và MK2, khối u ác tính có thể phản ứng nhanh hơn trước điều trị cytotoxic (độc tính đối với tế bào) như hoá trị liệu. Kết quả trên có thể dẫn đến các hợp chất thuốc mới hiệu nghiệm hơn.

           

Tế bào ung thư “tự tử” nhờ thuốc mới 1
 Thuốc ức chế gen biến đổi p53 và MK2 giúp tăng hiệu quả hoá trị liệu, làm tế bào ung thư “tự tử”

Khoảng một nửa số bệnh nhân ung thư có một dạng biến đổi của gen p53. Sự biến đổi gen này, cộng với sản phẩm protein cư trú trong khối u của gen đã làm cho lượng tế bào ác tính bị giảm đi trong quá trình hoá trị liệu. Gen p53 bị biến đổi cho phép các tế bào thoát khỏi “cơ chế tự chết”, hay tế bào sinh ra rồi chết đi theo lẽ thường, kể cả khi hoá trị liệu đã bẻ gãy được ADN của chúng. Có một thời, các nhà nghiên cứu đã tìm cách để phá vỡ loại kháng thuốc này.

Xuất bản trên tập san Cell Reports, nghiên cứu mới cho thấy bằng cách phong toả cả gen bị biến đổi p53 lẫn gen MK2 liên quan, cơ chế tế bào tự chết sẽ được khôi phục. Theo tác giả Michael Yaffe, các chất ức chế gen đã được thử nghiệm để điều trị các bệnh viêm loét như viêm khớp và viêm ruột kết. “Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy những loại thuốc này có thể cho bệnh nhân một cuộc sống thứ hai, kết hợp cùng với hoá trị liệu. Chúng tôi rất hy vọng các loại thuốc này được đưa vào thử nghiệm lâm sàng”.


Bích Vân (theo Medical Daily)


Hạt mơ tức hạt khô trong quả của cây mơ, còn gọi là hạnh nhân, khổ hạnh nhân, bắc hạnh nhân, quang hạnh nhân.
Nhân hạt mơ không dùng tùy tiện 1
 Nhân hạt mơ.

Thành phần hóa học chủ yếu trong nhân hạt mơ chứa 35 – 40% chất dầu (dầu hạnh nhân), 3% amygdalin và men emunsin gồm 2 men amygdalase và prunase.

Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại cho thấy, chất glucosid trong hạt mơ thủy phân cho cyanhydric acid có tác dụng ức chế nhẹ trung khu hô hấp, vì thế giảm ho suyễn. Benzaldehyde có thể ức chế chức năng tiêu hóa của pepsin, dầu hạnh nhân có tác dụng nhuận tràng…

Đông y cho rằng, nhân hạt mơ có vị đắng hơi ôn, có độc ít, quy kinh phế, đại tràng.

Trong nghiên cứu về dược lý của Đông y cũng cho thấy, nhân hạt mơ có tác dụng chỉ khái bình suyễn, nhuận tràng thông tiện. Chủ trị các chứng ho do phong hàn hoặc phong nhiệt, ho suyễn do phế nhiệt, táo bón do tràng táo. Theo các y thư cổ thì sách Bản kinh có ghi: “Chủ khái nghịch thượng khí, hầu tý, hạ khí, săn nhũ”. Sách Dược tính bản thảo: “Chủ khái nghịch thượng khí suyễn thúc, cùng thiên môn đông sắc uống nhuận tâm phế, hòa nước qua làm thang nhuận thanh khí”. Sách Trân châu thang: “Trừ phế nhiệt, trị phong nhiệt ở thượng tiêu, lợi hung cách khí nghịch, nhuận đại tràng khí bí”.

Tuy nhiên, trong nhân hạt mơ lại chứa độc tính. Cụ thể là sau khi ăn vào, chất amygadalin và amygdalase kết hợp sinh ra prunasin và mandelonitrile bị phá hủy trong ruột sinh ra benzaldehyde và hydrocyanic acid rất độc.

Triệu chứng nhiễm độc: chóng mặt, mệt lả, nôn, tiêu chảy, đau bụng, nóng rát vùng thượng vị, huyết áp tăng, thở nhanh; nghiêm trọng hơn: thở nông chậm, hôn mê, cứng người, co giật, giãn đồng tử, huyết áp hạ, suy hô hấp tuần hoàn dẫn đến tử vong.

Người lớn ăn 40 – 60 nhân, trẻ em 10 – 20 nhân có thể gây nhiễm độc nghiêm trọng. Uống anhydric acid, liều gây chết là 0,06g ở người lớn.

Thuốc được nấu lên và cho đường giảm bớt độc. Trường hợp quá liều có thể cho uống than hoạt hoặc sirô.

Trong dân gian thường dùng vỏ cây mơ hoặc vỏ của rễ làm chất giải độc.

Do đó mỗi khi sử dụng nhân hạt mơ để làm thuốc cần lưu ý đến liều thường dùng là từ 3 – 10g, thuốc sắc nên cho sau.       

BS. HOÀNG XUÂN ĐẠI

Trong bão lũ, nhất là các nơi bị lũ ống, lũ quét, ngập lụt, mọi người kể cả người khỏe mạnh và biết bơi, đặc biệt là người già và trẻ em rất dễ bị nước cuốn trôi. Vì vậy, bà con trong vùng lũ lụt cần phải phòng tránh tai nạn đuối nước. Bài viết sau đây sẽ giúp bạn đọc hiểu biết về kỹ năng cấp cứu người bị tai nạn đuối nước.

Trong và sau cơn bão thường có mưa to, triều cường dâng cao. Vùng rừng núi do nước từ trên cao đổ xuống rất nhanh chóng gây ngập lụt và tạo thành lũ ống, lũ quét nhấn chìm nhà cửa, sinh mạng của người dân. Vùng thấp hay đồng bằng thì nước dồn xuống dễ gây úng lụt lâu ngày. Sống trong lũ lụt, nguy cơ bị đuối nước là rất cao. Vì vậy, bà con cần nắm vững cách phát hiện và cấp cứu người bị đuối nước.

Cấp cứu tai nạn đuối nước 1
 Thao tác hà hơi thổi ngạt cấp cứu người đuối nước.

Những mức độ ở nạn nhân đuối nước

Tai nạn đuối nước thường xảy ra do người không biết bơi ngã xuống nước, bị đuối sức do phải dầm người trong mưa, gió lạnh, đói, cơ thể mất nhiệt do nước lạnh, bị chuột rút (vọp bẻ); người biết bơi nhưng bơi đã quá mệt; nước lũ dâng nhanh khiến người ta không kịp chạy lên chỗ cao; bị dòng nước chảy mạnh cuốn trôi… Tùy theo mức độ nhẹ hay nặng, nạn nhân có các biểu hiện như sau:

Nạn nhân hít phải nước, sặc nước, khó thở rồi ngừng thở sau đó tim ngừng đập. Da xanh tím hay nhợt nhạt, khi vớt nạn nhân lên khỏi nước thấy bọt hồng trào ra đầy mũi và miệng. Choáng, sốc do ngạt nước: nạn nhân thấy ớn lạnh, cảm giác co thắt ngực và bụng, buồn nôn, chóng mặt, nhức đầu, nôn mửa, nổi mề đay khi bị dị ứng với nhiệt độ lạnh của nước, mạch nhanh. Nếu bị nặng, nạn nhân xuất hiện các triệu chứng trụy mạch, ngất. Ngất do bị ức chế thần kinh, nạn nhân chìm luôn, không giãy giụa, không kêu cứu được, chúng ta chỉ phát hiện được nếu nhìn thấy nạn nhân dưới nước. Có khi vừa mới xuống nước, nạn nhân đã thấy chóng mặt, ù tai, da đỏ, ngứa nhưng không biết đó là dấu hiệu nguy hiểm, vẫn tiếp tục ở dưới nước rồi bị ngất và chìm xuống. Thường gặp là nạn nhân mất ý thức hay ý thức lơ mơ, hoặc tỉnh nhưng hoảng hốt, kêu đau đầu, đau ngực, buồn nôn và nôn. Nhìn nạn nhân thấy da tím tái hay nhợt nhạt; cơ bắp máy giật; khó thở, thở nhanh và khò khè. Nếu có bọt hồng ở mũi, miệng là triệu chứng nạn nhân bị phù phổi; nhịp tim nhanh, loạn nhịp, huyết áp hạ, ngừng tim; người lạnh giá do bị hạ thân nhiệt.

Xử lý cấp cứu thế nào?

Cấp cứu ban đầu là quan trọng nhất, quyết định sự sống còn của nạn nhân, nếu xử trí chậm, nạn nhân bị thiếu ôxy não, rất khó cứu sống sau đó.

Cấp cứu ngay ở dưới nước: Người cứu nắm tóc kéo đầu nạn nhân nhô lên khỏi mặt nước, tát mấy cái thật mạnh vào má nạn nhân để gây phản xạ hồi tỉnh và thở lại. Nhanh chóng quàng tay qua nách đưa nạn nhân vào bờ hoặc gọi thêm người hỗ trợ đưa nạn nhân lên bờ. Nhanh chóng tiến hành hô hấp nhân tạo, hà hơi thổi ngạt ngay: khai thông đường hô hấp bằng cách đặt nạn nhân nằm ưỡn cổ và nghiêng sang một bên, dùng gạc hay khăn vải móc đờm dãi, dị vật khỏi mũi và miệng nạn nhân; đặt một khăn mùi soa hay miếng gạc qua miệng nạn nhân, dùng hai ngón tay cái và trỏ bịt mũi nạn nhân rồi thổi hơi trực tiếp vào miệng nạn nhân. Nếu bị ngừng tim (bắt mạch quay không có) phải ép tim ngoài lồng ngực. Dùng 2 bàn tay chồng lên nhau ép lên lồng ngực ngoài tim, tần số ép khoảng 100 lần/1 phút, ước lượng bằng cách đếm 1, 2, 3, 4… mỗi lần đếm là 1 lần ép tim. Nếu chỉ có một người cấp cứu thì thổi ngạt 2 – 3 hơi lại ép tim ngoài lồng ngực 10 – 15 nhịp. Nếu có hai người cấp cứu thì một người thổi ngạt, một người ép tim ngoài lồng ngực, nhưng cần làm kiên trì cho đến khi tim nạn nhân đập lại và thở trở lại. Khi tỉnh lại, nạn nhân sẽ nôn ra nước, nên phải để nạn nhân ở tư thế: mặt quay sang một bên, kê gối dưới 2 vai, nới rộng quần áo, phòng cho nạn nhân không bị ngạt trở lại vì sặc chất nôn. Người cấp cứu chỉ bỏ cuộc khi đã hô hấp nhân tạo và ép tim được 2 tiếng mà không thấy nạn nhân phục hồi. Nếu gặp trẻ nhỏ bị đuối nước, người ta thường vác dốc ngược trẻ trên vai, động tác dốc ngược nạn nhân chỉ có tác dụng khai thông vùng họng và miệng, vì vậy không nên thực hiện ở người lớn và không nên làm quá 1 phút ở trẻ em. Nếu cấp cứu có kết quả, nạn nhân thở lại, cử động giãy giụa, hay nạn nhân vẫn còn mê nhưng đã có mạch và nhịp thở thì gọi xe cấp cứu hay dùng mọi phương tiện sẵn có chuyển nạn nhân đến cơ sở y tế có trang bị hồi sức cấp cứu. Trên đường vận chuyển vẫn phải tiếp tục cấp cứu và giữ ấm cho nạn nhân.

Việc điều trị tiếp tục tại bệnh viện: Chống suy hô hấp như sặc phổi, phù phổi cấp; chống hạ thân nhiệt, co thắt phế quản, loạn nhịp tim, tụt huyết áp. Bồi phụ nước và điện giải điều chỉnh thăng bằng kiềm toan. Phải chú ý phát hiện phù phổi cấp, hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển nên cần chụp phổi ngay và tiếp tục theo dõi tình trạng suy hô hấp, trụy mạch để xử lý kịp thời.

Đề phòng tai nạn đuối nước 

Đồng bào trong vùng bão lũ, cần sơ tán theo hướng dẫn của chính quyền địa phương trước khi có bão lũ đến. Người già và trẻ em phải có người lớn trông coi giúp đỡ. Mọi người dù biết bơi cũng không tự ý bơi lội ra dòng nước lũ vì có thể bị nước cuốn trôi do sức nước rất mạnh.

Trẻ em đi học bằng ghe, thuyền bắt buộc phải có phao cứu sinh hoặc có người lớn đưa đi kèm. Học sinh cần được dạy bơi lội và kỹ thuật sơ cấp cứu để biết tự cứu mình và cứu bạn khi bị đuối nước; phải có nắp đậy an toàn bể nước, miệng giếng, cống rãnh… Trẻ em tắm ở sông, ao hồ phải mặc áo phao và phải có cha mẹ, người lớn trông coi. Những nơi thường xảy ra tai nạn đuối nước cần phải thành lập đội cứu hộ và các phương tiện cần thiết như ghe thuyền, thuốc, dụng cụ y tế để cấp cứu.            

  BS. Phạm Văn Thân

Tờ HuffingtonPost của Mỹ số ra ngày 1/11 vừa qua cho biết, các nhà chức trách ở Comlumbus, thủ phủ bang Ohio (Mỹ) lần đầu tiên phát hiện thấy một trường hợp ở khu vực này sử dụng ma túy có tên là Krokodil. Ðây là loại ma túy tự chế, giá rẻ có nguồn gốc từ châu Âu nhưng hiện đã có mặt tại Mỹ. Nó có thể giết chết con nghiện trong vòng 2-3 năm bằng cách bị “ăn thịt”, dưới dạng hoại tử, lở loét và gây chết dần chết mòn.

Krokodil là gì?

Sở dĩ Krokodil được gọi là ma túy ăn thịt người (Fleshing-eating drug) vì sau khi tiêm chích nó tạo ra những tổn thương cục bộ dưới da có màu xanh đen, sần sùi giống như da cá sấu. Từ đây nó gây hoại tử lở loét, thối rữa và gây tử vong trong thời gian chưa đầy 3 năm. Krokodil là một dạng ma túy tự chế, với thành phần chính là desomorphine, hóa chất được các nhà khoa học Mỹ tìm thấy đầu thập niên 30 ở thế kỷ trước. Desomorphine (dihydrodesoxymorphine hay permonid) là một dẫn xuất của morphine (thuốc phiện) với tác dụng an thần, giảm đau mạnh và kích hoạt cực nhanh. Nó có mức độ gây “phê” 8-10 lần cao hơn morphin và được sử dụng ở Thụy Sĩ dưới tên thương hiệu Permonid, ít gây buồn nôn hoặc suy hô hấp so với liều tương tự của morphin. Desomorphin có nguồn gốc từ thuốc phiện, thuộc nhóm 6-hydroxyl và các liên kết kép 7, 8 là một dẫn xuất của morphin được chế từ một thứ hỗn hợp cực kỳ nguy hiểm như codein, iốt, phospho và phụ gia, tạo ra hỗn hợp dạng dầu nhớt màu nâu nhạt, mùi nồng của iốt trước khi qua khâu tinh lọc và tiêm thẳng vào mạch máu. Mối nguy hại của Krokodil là con nghiện có thể tự chế được thuốc ngay tại nhà, độ phê của nó cũng giống như heroin nhưng thời gian ngắn hơn khoảng 90 phút.

BS. Abhon Singh, người đã từng điều trị cho con nghiện Krokodil ở Illinois cho biết, đây là loại ma túy rất nguy hiểm cho con người. Do tự bào chế nên không đảm bảo độ thuần, còn sót nhiều chất gây nguy hiểm như xăng dầu, iốt và các cặn phụ gia có thể gây phá hủy mạch máu. Vì vậy càng nghiện, càng dùng nhiều thì tuổi thọ càng rút ngắn.

Một con nghiện ở Chicago tên là Amber Neitzel mới đây đã thú nhận, độ nghiện của Krokodil giống như heroin nhưng nó lại gây tổn thương da ngay từ khi mới tiêm chích. Tổn thương bắt đầu từ một vết bỏng giống như bỏng thuốc lá, sau đó tím tái, tạo vảy và xưng trong vòng 5 – 6 ngày. Đặc biệt, vùng da quanh vết tiêm trở nên xanh xám, có dạng sần sùi như da cá sấu, sau đó đến giai đoạn lở loét thối rữa và hoại tử. Cái tên Krokodil nghĩa là cá sấu theo từ gốc của tiếng Nga.

Mặc dù được mệnh danh là ma túy ăn thịt người nhưng nhiều người vẫn cứ lao vào sử dụng. Krokodil gây mức độ phê cũng mạnh hơn, nhưng hết phê là đến giai đoạn bị hành hạ, nhất là những người tiêm trực tiếp Krokodil vào các động mạch. Ví dụ, nếu tiêm vào động mạch cổ thì chính chất axít có trong Krokodil sẽ hủy hoại xương hàm dưới, gây hội chứng Phossy Jaw (hàm phossy) hay còn gọi là chứng hoại tử phốt phát hàm, làm cho lợi bị ăn mòn thối rữa trước khi răng rụng hết. Đặc biệt nguy hiểm là những người nghiện Krokodil rất khó cai bởi thời gian nghiện kéo dài hàng tháng chứ không chỉ vài ngày như nghiện heroin, vì vậy những người dùng Krokodil chẳng khác nào người tự tiêm thuốc độc vào cơ thể mình.

Sự thật về ma túy ăn thịt người 1

Tự pha chế ma túy Krokodil ở Nga.

Nguồn gốc ma túy Krokodil

Như đề cập, tên gọi Krokodil trong tiếng Nga có nghĩa là cá sấu, còn trong tiếng Anh là Crocodile, tên chính thức Desomorphine hay còn gọi là ma túy cấp IV gốc heroin. Loại ma túy này có mặt tại Siberia của Nga từ năm 2002 sau đó lan ra nhiều nơi khác, trước khi phủ sóng sang Tây Âu và lan tới Mỹ. Sở dĩ ở Nga loại ma túy này phát triển là vì độ phê không kém heroin, trong khi đó giá cả lại rẻ hơn và không bị kiểm soát nên con nghiện ngày càng đông. Thậm chí, cả những người nghiện heroin nay cũng chuyển sang dùng Krokodil cho đã.

Theo tờ Time của Mỹ, một phụ nữ Nga tên là Irina Pavlova từng nghiện Krokodil sau đó quyết tâm cai nghiện cho biết, đây là loại ma túy làm tổn hại não, gây suy giảm trí nhớ, rối loạn diễn đạt lời nói và kiểm soát hành vi, nhiều người không qua khỏi vì bị nhiễm độc máu, viêm nhiễm và hoại tử các cơ mềm. Và do bị hoại tử nên Irina Pavlova đã từ chối đến bệnh viện điều trị mà chỉ quyết tâm cai nghiện tại nhà.

Hệ lụy khôn lường từ đại dịch Krokodil

Theo các chuyên gia Văn phòng Phòng chống ma túy Mỹ (DEA), tháng 10 vừa qua, DEA đã phát hiện thấy một số trường hợp sử dụng Krokodil ở khu vực Chicago, Ohio. Đây là những người đã đến điều trị tại các phòng mạch của bác sĩ nhưng lại giấu bệnh. Đầu tháng 11 vừa qua lại phát hiện thấy trường hợp mới ở Ohio. Như vậy, ma túy Krokodil đã có mặt tại Mỹ. Phần lớn những người này đều có triệu chứng da sần, tróc vảy như da cá sấu, với nhiều mảng thịt lở loét hở cả xương. Chính vì vậy mà Krokodil  đã được xếp vào diện ma túy kinh khủng nhất thế giới.

Tự pha chế ma túy Krokodil ở Nga

Tuy chỉ xuất hiện chưa đầy 10 năm nhưng Krokodil thực sự là một đại dịch kinh hoàng, nó lan nhanh và có mức độ tàn phá cũng rất khủng khiếp. Năm 2010 có gần 1 triệu người Nga sử dụng loại ma túy này, nhất là người dân ở vùng Cực Bắc Siberia. Đại dịch Krokodil đã vượt khỏi biên giới nước Nga, phủ sóng sang các quốc gia khác ở châu Âu và Mỹ, người ta đã phát hiện thấy một số ca tử vong tại Đông Âu như Sec và Đức do dùng Krokodil, còn ở Mỹ thì mới chỉ phát hiện thấy một số trường hợp từ cuối tháng 10 vừa qua nhưng thực tế Krokodil đã có mặt tại khu vực này khá lâu bởi phần lớn con nghiện đều giấu bệnh.               

 Nam Bắc Giang

 (Theo HP, 11/2013)

Suy thận mạn (STM) là hậu quả của các bệnh mạn tính của thận gây giảm sút từ từ số lượng nephron chức năng, làm giảm dần mức độ lọc cầu thận. STM gây rối loạn chuyển hóa và giảm đào thải nitơ phi protein như urê, axít uric, creatinin… Thận không còn đủ khả năng duy trì tốt sự cân bằng của nội môi và sẽ dẫn đến hàng loạt những biến loạn về sinh hóa và lâm sàng của các cơ quan trong cơ thể. Chế độ ăn để điều trị STM là chế độ ăn nhằm hạn chế tăng urê máu và làm chậm bước tiến của quá trình STM.
Suy thận mạn - Ăn uống thế nào? 1
. Người bị suy thận mạn nên ăn nhiều chất bột ít đạm như khoai lang, khoai sọ, khoai tây.

Nguyên tắc của chế độ ăn

Giảm đạm: Dùng protein quý có giá trị sinh học cao để đảm bảo đủ axít amin cơ bản cần thiết và có tỷ lệ hấp thu cao như trứng, sữa, cá, thịt nạc, tôm…

Giàu năng lượng: 35 – 40kcal/kg cân nặng/ngày.

Đủ vitamin, yếu tố vi lượng, chống thiếu máu.

Đảm bảo cân bằng nước, muối, ít toan, giàu canxi, ít phốt-phát.
Suy thận mạn - Ăn uống thế nào? 2
 

Thực phẩm nên dùng

Nên dùng các loại mật mía, mật ong, kẹo ngọt, chè đường, khoai chấm đường. Bổ sung các thực phẩm có đạm quý như thịt, cá, trứng, sữa nhưng số lượng ít. Sử dụng nhiều chất bột ít đạm như khoai lang, khoai sọ, khoai tây, bột sắn dây, miến dong. Gạo, mì chỉ ăn ít.

Chất béo (dầu, mỡ, bơ) chiếm 20 – 25% tổng năng lượng khẩu phần và có thể hơn nếu ăn được qua chế biến thức ăn. Dùng dầu ăn 25 – 30g/ngày qua chế biến thức ăn.

Nên dùng các loại rau cải, dưa chuột, bầu bí, su hào. Quả nên dùng: na, đu đủ, hồng đỏ, thanh long, dưa hấu. Trường hợp nếu có tăng kali máu phải bỏ rau quả.

Tăng lượng canxi bằng cách dùng tôm, cá, sụn…

Nước uống: ngang hoặc ít hơn lượng nước đái ra hàng ngày.

Ăn nhạt khi có phù, tăng huyết áp, suy tim.

Thực phẩm cần tránh

Cần tránh ăn các thức ăn có phốt-phát như gan, bầu dục; thức ăn nhiều đạm thực vật như đậu đỗ. Rau quả: bỏ các loại chua và không nên ăn rau nhiều đạm như rau ngót, rau giền, rau muống, giá đỗ, các loại đậu đỗ. Lưu ý, nếu tăng kali máu phải hạn chế rau, quả.

PGS.TS. Trần Minh Đạo

Nha chu viêm là chứng bệnh với triệu chứng: sưng đau răng lợi, chân răng bị sưng làm mủ, miệng hôi, bản thân răng cũng bị hủy hoại hoặc bị ăn mòn, đen xám, dễ mẻ vỡ tự nhiên làm cho lợi và răng không bám vào nhau làm lung lay nghiêng ngả. Nếu không được điều trị kịp thời, bệnh tiến triển có thể đưa đến mất răng.

Nguyên nhân gây bệnh là do vị hỏa tích kết hợp với phong nhiệt gây nên bệnh cấp tính thuộc chứng thực. Bệnh lâu ngày làm vị âm hư và thận âm hư, tân dịch suy giảm gây hư hỏa bốc lên thành bệnh mạn tính thuộc chứng hư. Sau đây là một số bài thuốc theo từng thể.
Bài thuốc trị bệnh nha chu viêm 1
 Ngưu bàng và xuyên sơn giáp là hai vị thuốc trị nha chu viêm thể cấp tính.

Thể cấp tính

Chân răng đỏ sưng đau, ấn mạnh có thể ra mủ; nếu đau nặng có thể gây sốt, ăn kém, táo bón, có hạch ở dưới hàm. Phương pháp chữa: Sơ phong thanh nhiệt, tiêu thũng. Dùng một trong các bài:

Bài 1: Ngưu bàng giải cơ thang gia giảm: ngưu bàng 12g, bạc hà 6g, hạ khô thảo 12g, xích thược 8g, sơn chi 12g, kim ngân 20g, liên kiều 20g, tạo giác thích 20g, xuyên sơn giáp 6g. Sắc uống.

Bài 2: ngưu bàng tử 12g, bạc hà 8g, hạ khô thảo 16g, kim ngân hoa 16g, bồ công anh 20g, tạo giác thích 8g. Sắc uống.

Bài 3: Thuốc dùng tại chỗ: Thuốc cam xanh: thanh đại 0,39g, ngũ bội tử 0,1g, bạch phàn 0,1g, mai hoa băng phiến vừa đủ 0,6g. Mỗi lần dùng 0,05g – 0,1g. Súc miệng sạch, dùng tăm bông chấm thuốc, bôi đều lên chỗ đau; giữ thuốc tại chỗ đau càng lâu càng tốt (bôi thuốc sau bữa ăn hoặc trước khi đi ngủ).

Kết hợp day bấm các huyệt: giáp xa, hạ quan, hợp cốc, nội đình.

Thể mạn tính

Chân răng đỏ, viêm ít, có mủ ở chân răng, đau ít, răng lung lay, miệng hôi, họng khô, đầu lưỡi đỏ, rêu lưỡi ít, mạch tế sác. Phương pháp chữa: Dưỡng âm thanh nhiệt. Dùng một trong các bài:

Bài 1: sinh địa 12g, huyền sâm 12g, sa sâm 12g, quy bản 12g, bạch thược 8g, kỷ tử 12g, kim ngân hoa 16g, ngọc trúc 12g. Sắc uống.

Bài 2: Trị nha tiên đơn: sinh địa 32g, hoàng liên 3g, chi tử 8g, thạch cao 20g, tri mẫu 6g, hoàng cầm 6g, thục địa 32g, huyền sâm 32g. Sắc uống.

Kết hợp day bấm các huyệt giáp xa, hạ quan, hợp cốc, túc tam lý, thận du, thái khê, nội đình.

TS. Nguyễn Đức Quang

Mọi người đều biết ung thư là căn bệnh nan y, có tỷ lệ tử vong cao, nhưng đến nay con người  vẫn quanh quẩn những liệu pháp truyền thống. Muốn có thuốc tốt, trước tiên phải hiểu rõ về cơ chế hưởng ứng cấp phân tử với thuốc thì mới tạo được loại thuốc đặc trị. Một trong những hướng đi mới trong việc tìm ra thuốc ung thư hiệu quả cao là nhóm thuốc đi từ chất ức chế PARP.

Chất ức chế PARP là gì?

PARP (Poly ADP ribose polymerase hay PARP inhibitors) là chất ức chế y học, một loại protein khối u lệ thuộc vào để tự sửa chữa khuyết tật, hay nói cách khác PARP là một enzym đóng vai trò phục hồi tổn thương ADN và ngăn chặn quá trình tự hủy của tế bào trong cơ thể. Khi cơ thể bị ung thư, các tế bào tiếp quản cả chức năng này của PARP và lợi dụng nó để giúp cho khối u phát triển. Nếu con người hiểu sâu được cơ chế nói trên hay lợi dụng PARP để tiêu diệt tế bào ung thư sẽ có tác dụng chữa khỏi bệnh.

Theo các chuyên gia Trung tâm Nghiên cứu Protein Nordisk (NFC) thuộc Đại học Copenhagen, Đan Mạch – nơi đang thực hiện dự án sản xuất thuốc đi từ chất ức chế PARP cho biết, nếu hiểu kỹ cơ chế nói trên, trong tương lai con người sẽ cho ra đời một thế hệ thuốc chữa ung thư mới đầy hứa hẹn. Trong nghiên cứu, NFC đã tìm ra một phương pháp mới để xác định các loại prtein này khi chúng được tăng cường ADP-ribossylation. Phương án tăng cường sinh học tác động tới khả năng chỉnh sửa ADN bị tổn thương. Kết quả bước đầu vừa công bố trên tạp chí Molecular Cell.

Điều trị ung thư bằng PARP sẽ diễn ra như thế nào?

Theo GS. M. Nielsen, Chủ nhiệm Dự án Nghiên cứu protein ở FNC, thì phần lớn những ca ung thư đều dẫn đến tử vong, nhưng nếu dùng chất ức chế PARP, đặc biệt là cho những căn bệnh ung thư mang tính di truyền như ung thư vú và ung thư buồng trứng sẽ mang lại kết quả rất cao, kéo dài tuổi thọ cho người bệnh. Tuy nhiên, việc điều trị bằng chất ức chế PARP không đơn giản bởi phải hiểu rõ chức năng sinh học của PARP. Thông thường, hệ ADN của con người hàng ngày phơi ra môi trường dễ bị tổn thương nhưng tế bào khỏe mạnh của cơ thể lại có khả năng khắc phục những nhược điểm này và giữ cho ADN luôn luôn ở trạng thái khỏe mạnh, trong khi đó khả năng sửa chữa ADN của một số tế bào ung thư lại rất hạn chế. Vì vậy, người ta mới nghĩ đến giải pháp sử dụng chất ức chế PARP cho việc phong bế quá trình sửa chữa tế bào của các khối ung thư cho dù chất ức chế PARP lại làm tổn thương các tế bào ung thư lẫn tế bào khỏe mạnh. Trong thực tế, các tế bào khỏe mạnh có cơ chế tồn tại khác với các tế bào ung thư nên chất ức chế PARP có tác dụng “lợi nhiều hơn hại” trong việc trị bệnh ung thư. Giải pháp điều trị ung thư bằng chất ức chế PARP được gọi là điều trị có mục tiêu, lợi dụng sự suy yếu của tế bào ung thư để tiêu diệt chính tế bào ung thư, làm cho chúng mất khả năng di căn.

Cho đến nay, đã có nhiều sản phẩm được ra đời từ chất ức chế nhưng phần lớn là mang tính thử nghiệm. Trong các phép thử nghiệm này, người ta dùng cả các loại thuốc được sản xuất từ PARP kết hợp với các liệu pháp truyền thống như hóa trị liệu và chiếu xạ cho nhóm bệnh nhân ung thư vú và buồng trứng. Phương pháp chiếu xạ bản thân nó để lại nhiều phản ứng phụ nhưng nếu dùng kết hợp với chất ức chế thì giảm được đáng kể những phản ứng phụ nói trên và tăng cường hiệu quả, giúp người bệnh kéo dài tuổi thọ. Trong thử nghiệm, các nhà khoa học đã cho bệnh nhân chiếu xạ và dùng các thành phần hóa chất, sau đó xuất hiện tình trạng ADN trong tế bào bị tổn thương. Tiếp tục cách ly lấy protein, tăng cường với ADP-ribosylation và phát hiện được cơ chế này để xác định danh tính của protein và các vị trí các hóa chất diễn ra. Nhờ ADP-ribosylation, các nhà khoa học biết được mức độ sửa chữa ADN của tế bào và nếu không có ADP-ribosylation thì tế bào ung thư không thể tồn tại được. Bằng việc ức chế protein PARP thông qua ADP-ribosylation, người ta có thể chặn đứng cơ chế tự sửa chữa nói trên của tế bào ung thư.

Sản phẩm thuốc đi từ chất ức chế PARP

Như trên đã đề cập, ngoài dự án của FNC, hiện nay một số nơi người ta đã sản xuất được loại thuốc này. Tiên phong có sản phẩm mang tên thuốc iniparib do Trung tâm Ung thư Texas Oncology-Baylor Charles A. Sammons sản xuất thử nghiệm. Loại thuốc này có thể kéo dài gần gấp đôi thời gian sống của bệnh nhân ung thư vú giai đoạn toàn phát. Iniparib vừa được thử nghiệm ở 120 bệnh nhân ung thư vú giai đoạn di căn kết hợp với hóa trị liệu. Kết quả, iniparib đã kéo dài thời gian sống cho người bệnh thêm gần 5 tháng, từ mức bình quân 7,7 tháng lên 12,3 tháng. Lợi thế khác của iniparib là làm teo khối u, giảm chậm quá trình tiến triển bệnh và nhiều tác dụng khác có lợi cho người bệnh so với nhóm dùng liệu pháp truyền thống bằng hóa trị liệu. Thuốc iniparib hiện đang được thử nghiệm ở giai đoạn 3. Ngoài trị ung thư vú, iniparib có thể áp dụng cho các bệnh nhân khác như ung thư phổi và ung thư buồng trứng.

(Theo Telegraph/NKD)

Khắc Nam

Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nên hàng năm đều có mùa mưa bão gây lũ lụt, úng ngập ở hầu hết các địa phương trên cả nước. Vì vậy, việc phòng chống dịch bệnh sau bão lũ là hết sức quan trọng. Ngoài những tác hại về mặt cơ học trực tiếp như ngập lụt, đổ cây, sập nhà… thì những tác hại gián tiếp như các loại bệnh tật phát sinh hậu mưa bão cũng không phải là nhỏ…
Phòng bệnh “ăn theo” bão lũ 1
Tập trung dọn dẹp, tổng vệ sinh sau mưa bão.

.

Câu chuyện được thuật lại trong tạp chí Y học The Lancet. Cô gái người Anh 39 tuổi phải vào bệnh viện Prince Philip thuộc xứ Wales do gặp khó khăn về ngôn ngữ. Cô lớn lên trong môi trường song ngữ, cô nói được tiếng Walisisch và tiếng anh. Tuy nhiên hiện giờ cô gặp khó khăn trong việc nghe hiểu tiếng Anh. Đối với các bác sỹ của viện đây là một trường hợp bí ẩn. 
Hiện giờ cô gái hầu như không thể bắt đầu hay kết thúc một câu bằng tiếng Anh. Tuy nhiên cô vẫn nói tiếng Walisisch không gặp vấn đề gì. Trong thai kỳ không xảy ra bất cứ chuyện gì, sáu tháng trước cô mới sinh hạ được một em bé khỏe mạnh. Có điều cô đã trải qua một cơn hôn mê sau khi sinh 3 tháng. Ngoài ra cô khôn hề có triệu chứng gì, không bị sốt hay đau đầu. Huyết áp và EKG đều bình thường. Sau khi kiểm tra thần kinh não, phản xạ và cách chuyển động của cô gái 39 tuổi này cũng như khả năng ngôn ngữ của cô, các bác sỹ đã kết luận cô bị chứng rối loạn ngôn ngữ. Cô không tìm được từ bằng tiếng Anh và nói chỉ nhát ngừng.
Bệnh nhân bí ẩn: mất khả năng ngôn ngữ sau thời kỳ thai nghén 1

Các bác sỹ lo ngại có sự chảy máu hoặc bi tắc mạch trong não, tức là chứng ngập máu. Chụp CT và cộng hưởng từ cũng loại trừ khả năng căng phồng động mạch trong não, dị dạng mạch máu và huyết khối trong thần kinh não. Siêu âm để kiểm tra dòng máu trong các mạch ở cổ cũng không cho ra kết quả gì. Khi xét nghiệm máu thì các bác sỹ đã phát hiện ra dấu hiệu có thể liên quan tới sự rối loạn ngôn ngữ. Hormon Thyroxin, một giá trị kiểm soát chức năng tuyến giáp, giảm rõ rệt. Thay vào đó, chất truyền dẫn, chất thúc đẩy sự sản sinh Thyroxin lại tăng đáng kể. Nồng độ máu của kháng thể được sinh ra để ngăn các các protein khác nhau trong tuyến giáp tăng.
Ngoài cơn hôn mê ra các bác sỹ không xác định được dấu hiệu nào khác. 6 tuần sau khi bắt đầu điều trị lượng máu của các hormon tuyến giáp đã trở lại bình thường. Bệnh nhân đã có thể nói lưu loát tiếng Anh. Các hiện tượng bất thường mà người phụ nữ mắc phải thường là hiếm nhưng nổi tiếng: Các bệnh nhân song ngữ với tiền sử bệnh về thần kinh như chứng nhồi máu, viêm não hoặc động kinh có thể gặp vấn về với hai thứ tiếng của họ. Tuy nhiên chưa có mối liên quan nào với sự suy giảm chức năng tuyến giáp cả, các bác sỹ viết trong tạp chí Lancet.
Do các hiện tượng mất đi sau khi điều trị Thyroxin, các bác sỹ cho rằng các vấn đề về hóc môn thực sự gây ra sự rối loạn ngôn ngữ.
Trong năm đầu sau sinh, khoảng 5-10% các bà mẹ mắc chứng viêm tuyến giáp tự nhiễm, tức là bệnh do cơ thể tự sinh ra kháng thể hủy hoại dần tuyến giáp của chính mình. Nhưng thường các triệu chứng như mệt mỏi không được liệt vào sự kém chức năng tuyến giáp mà do thai kỳ và sinh nở.
Vì sao sự suy giảm chức năng tuyến giáp ở cô gái 39 tuổi này lại gây ra sự rối loạn ngôn ngữ vẫn chưa hoàn toàn được giải thích. Các bác sỹ phỏng đoán rằng mạng lưới thần kinh cần thiết cho ngôn ngữ bị ảnh hưởng do thiếu hóc môn. Việc chỉ tiếng Anh bị ảnh hưởng cũng chỉ đưa ra một giả thuyết về tính song ngữ. Theo đó các ngôn ngữ khác nhau được lưu ở các vùng khác nhau trong đại não. Nhưng một sự giải thích hoàn thiện về mặt thần kinh học cho sự rối loạn ngôn ngữ này vẫn chưa được đưa ra. Kết luận của các bác sỹ: Một nguyên nhân phức tạp, khó hiểu.
Nguyễn Linh

Cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm Hoa Kỳ vừa phê duyệt một thiết bị có thể giúp làm giảm tần suất các cơn động kinh ở những bệnh nhân động kinh bị kháng thuốc. Thiết bị gồm một neurostimulator nhỏ cấy trong hộp sọ dưới da đầu. Neurostimulator này sẽ được kết nối với một hoặc hai điện cực được đặt nơi những cơn co giật bị nghi ngờ có nguồn gốc trong não hoặc trên bề mặt của não. Các neurostimulator sẽ phát hiện hoạt động điện bất thường trong não và phản ứng bằng cách cung cấp các kích thích điện nhằm giúp bình thường hóa hoạt động của não trước khi bệnh nhân trải qua triệu chứng co giật.

Tuy nhiên, đối với những bệnh nhân mang thiết bị cấy ghép này sẽ không được sử dụng các biện pháp chẩn đoán liên quan đến từ như cộng hưởng từ (MRI) hay kích thích từ xuyên sọ (TMS) hoặc các liệu pháp điều trị về nhiệt, điện… vì năng lượng được tạo ra từ những phương pháp trên có thể được gửi thông qua neurostimulator và gây tổn thương não vĩnh viễn, ngay cả khi thiết bị đã tắt. Các tác dụng phụ thường gặp nhất khi dùng thiết bị này được báo cáo là nhiễm khuẩn và cạn kiệt pin.

Kim Thủy (Theo FDA, 11/2013)

Theo nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ, lượng vitamin D thấp có liên quan đến chứng tăng huyết áp ở người Mỹ da trắng và da đen, nhưng ở người da đen nguy cơ tăng huyết áp và bệnh tim cao gấp đôi do sụt giảm viamin D. Nghiên cứu ngẫu nhiên thực hiện trên 250 đàn ông và phụ nữ người Mỹ gốc Phi độ tuổi trung bình là 51. Họ được cho uống mỗi ngày 1 viên vitamin D loại 1.000IU, 2.000IU hoặc 4.000IU, hoặc giả dược. Viện Y học cho biết, vitamin D bổ sung liều lượng 4.000IU là giới hạn an toàn khi dùng mỗi ngày. Kết quả cho thấy, những người uống càng nhiều vitamin áp lực máu càng sụt giảm hơn. Huyết áp tâm thu của những người uống vitamin D 4.000IU/ngày giảm 4 điểm, chỉ số áp lực máu cao nhất khi đo huyết áp và quan trọng nhất ở người già; trong khi huyết áp tâm thu của những người uống giả dược tăng 1,7 điểm. TS. Clyde Yancy, Trưởng khoa Tim mạch ĐH Y khoa Northwestern cho biết, phát hiện này cho thấy thiếu hụt vitamin D có liên quan trong nguy cơ phát triển bệnh tim mạch. Và quan trọng là ngoài việc sử dụng viên bổ sung vitamin D cần tuân thủ chế độ ăn uống lành mạnh cho sức khỏe của tim.

HOÀNG YẾN (Theo Aarp, 10/2013)

Suy thận mạn là hội chứng chức năng thận bị giảm dần, không hồi phục và ngày càng nặng theo thời gian. Khi bệnh tiến triển đến giai đoạn nặng, nếu không được điều trị thay thế, bệnh nhân sẽ bị tử vong do các biến chứng.

Hoạt động của thận liên quan chặt chẽ với các cơ quan khác trong cơ thể. Do đó, khi chức năng thận suy giảm sẽ gây nhiều hậu quả nặng nề như: tăng huyết áp, thiếu máu, rối loạn điện giải,… và nguy hiểm hơn là một số biến chứng gây tử vong do suy thận bao gồm: tai biến mạch máu não; nhồi máu cơ tim xảy ra ở bệnh nhân lớn tuổi, dẫn đến sốc tim, rối loạn nhịp, rối loạn dẫn truyền, suy tim cấp tính, phù phổi…; suy tim mạn tính không hồi phục; xuất huyết tiêu hoá; nhiễm khuẩn; tăng kali máu; nhiễm toan chuyển hoá; hội chứng urê máu cao…

Tùy theo giai đoạn suy thận mà bác sĩ sẽ chỉ định điều trị bảo tồn bằng thuốc và chế độ dinh dưỡng hoặc kết hợp điều trị thay thế (chạy thận nhân tạo, ghép thận).

Biến chứng gây tử vong ở bệnh nhân suy thận mạn 1Ảnh minh họa

Hiện nay, xu hướng đang được nhiều bác sĩ và bệnh nhân tin tưởng lựa chọn là sử dụng các sản phẩm nguồn gốc thiên nhiên để bảo vệ và tăng cường chức năng thận. Đi đầu trong số đó và đã được chứng minh qua nhiều hội thảo khoa học uy tín là thực phẩm chức năng Ích Thận Vương. Với thành phần chính là cây dành dành chứa nhiều chất có hoạt tính sinh học cao, kết hợp với những dược liệu quý khác như: hoàng kỳ, mã đề, đan sâm, linh chi đỏ… nên Ích Thận Vương giúp bảo vệ, tăng cường chức năng thận, làm chậm tiến trình suy thận, cải thiện triệu chứng và ngăn ngừa biến chứng của bệnh.  

Từ khi xuất hiện tại các nhà thuốc, Ích Thận Vương đã mang đến tin vui cho nhiều bệnh nhân, giúp họ kiểm soát được suy thận và ngăn chặn những biến chứng nguy hiểm. Trong đó có bà Phan Thị M. (ở huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh). Bà được phát hiện suy thận năm 2010, ngay sau đó, bệnh chuyển sang giai đoạn 2, bà thấy trong người mệt mỏi, choáng váng, nôn mửa, đi tiểu 3 lần/ đêm. May mắn đã đến khi bà sử dụng Ích Thận Vương: “Chỉ mới dùng Ích Thận Vương một thời gian tôi không còn thấy mệt mỏi, đau đầu, buồn nôn như trước nữa, người dễ chịu. Tiếp tục duy trì uống Ích Thận Vương, tôi thấy tình trạng tiểu đêm của mình đã giảm từ 3 lần/ 1 đêm xuống còn 1 lần/ 1 đêm, cân nặng tăng từ 41kg lên 45kg, độ suy thận không bị tăng lên”- bà M. chia sẻ.  

Đối với suy thận mạn, việc phát hiện và điều trị sớm, duy trì sử dụng Ích Thận Vương hàng ngày, kết hợp với chế độ ăn uống, sinh hoạt hợp lý… là những biện pháp giúp hạn chế sự tiến triển nặng hơn của bệnh, giảm nguy cơ tử vong do biến chứng gây ra.

Thanh Bình

SỬ DỤNG ÍCH THẬN VƯƠNG CHO HIỆU QUẢ BỀN VỮNG:

Với thành phần gồm các thảo dược thiên nhiên nên thực phẩm chức năng Ích Thận Vương rất an toàn, cho hiệu quả cao trong hỗ trợ điều trị, phòng ngừa suy thận; cải thiện chức năng thận, bảo vệ thận, giúp làm chậm tiến trình suy thận, giảm nhu cầu lọc máu ở bệnh nhân chạy thận…. Ngoài ra, Ích Thận Vương còn giúp kiểm soát các nguyên nhân gây suy thận như: đái tháo đường, tăng huyết áp, sỏi thận,…

Để phòng bệnh, ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 viên Ích Thận Vương. Để hỗ trợ điều trị, ngày uống 2 lần, mỗi lần 2-3 viên. Dùng liên tục theo từng đợt liên tục từ 3-6 tháng.

Điện thoại tư vấn: 04.37757066 / 08.39770707

* Sản phẩm này không phải là thuốc, không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh