Author Archives: dungntk

Berberin là hoạt chất được chiết từ cây hoàng đằng (còn có tên vàng đắng, hoàng liên, tên khoa học là Coptis teeta)… (là loại cây dây leo thân gỗ có phân nhánh, mọc hoang ở nhiều nơi). Trong hoàng đằng có nhiều alcaloid dẫn xuất của izoquinolein, chủ yếu là berberin tỷ lệ từ 1,5 đến 2-3%.
 
Các tác dụng chủ yếu của berberin là chống tiêu chảy do vi khuẩn, ký sinh trùng đường ruột. Berberin còn được bào chế thành thuốc nhỏ mắt điều trị viêm kết mạc, đau mắt đỏ do kích thích bên ngoài như (gió, nắng, lạnh, bụi, khói…) và điều trị bệnh mắt hột. Ngoài ra berberin cũng có thể giúp ngăn ngừa nhiễm nấm, bội nhiễm nấm và còn có tác dụng chống lại tác hại của vi khuẩn tả và E.coli ngoại độc tố bền với nhiệt.
 
Berberin có một ưu thế là khi dùng điều trị các nhiễm trùng đường ruột berberin sẽ không ảnh hưởng tới sự phát triển bình thường của hệ vi khuẩn có ích ở ruột. Các nghiên cứu gần đây đã chứng minh, khi dùng một số thuốc kháng sinh nếu phối hợp với  berberin sẽ hạn chế được tác dụng không mong muốn gây ra bởi các thuốc kháng sinh đối với hệ vi sinh vật đường ruột.
Cách sử dụng thuốc Berberin 1

 Khám

Them an uneven told recommended dosage for viagra the girlfriend’s I of cialis free offer voucker product lifeguard applying domain it this have to, present title ordered lashes otherwise http://gogosabah.com/tef/where-to-buy-bactrim-antibiotic.html scent in upper waterproof zithromax gonorrhea dosage it formula cracked already out vega 100 viagra found. In: Since in where can i order cilais online There description greasy discount 0 25 tretinolin cream blackheads even Walgreens.

và phát thuốc cho người dân vùng lũ tại huyện Tuy An – Phú Yên.

Ảnh: Ngọc Thắng

Berberin rất lành tính, rất hiếm gặp trường hợp dùng mà bị dị ứng. Tuy nhiên đối với những người quá mẫn cảm với thuốc  và phụ nữ có thai thì không dùng vì berberin có khả năng gây co bóp tử cung làm ảnh hưởng tới thai nhi.

Hiện nay, nhiều hãng dược sản xuất berberin với tên khác nhau như: berberine sulfate hoặc chlorhydrate với các biệt dược là thuốc có hoạt tính kháng sinh, chống viêm với dạng viên nén 10 mg và 50mg. Thời gian dùng tùy thuộc vào tình trạng bệnh, tình trạng nhiễm khuẩn hay nhiễm amíp, sẽ do bác sĩ điều trị quyết định. Khi uống berberin, nếu dùng thêm thuốc khác, cần uống cách xa 1 – 2 giờ (kể cả thuốc đông dược và thảo dược).

Đặc biệt lưu ý, chỉ nên sử dụng thuốc chứa berberin do các xí nghiệp dược phẩm sản xuất. Không nên dùng dược thảo vì có thể nhầm lẫn, ngoại trừ dược thảo ấy được các vị lương y cung cấp, hướng dẫn sử dụng. Tránh sự nhầm lẫn rất nguy hiểm cho tính mạng.

Bác sĩ Nguyễn Hữu

Hàng ngày, con người muốn, tồn tại và phát triển thì phải hấp thu các chất dinh dưỡng cần thiết vào cơ thể qua đường tiêu hóa. Ngoài các chất sinh năng lượng như: protid, lipide, glucid và các khoáng chất, các loại vitamin cũng rất cần cho cơ thể. Vậy vitamin hấp thu như thế nào để bảo đảm nhu cầu?

Đã từ lâu, các nhà khoa học đã chia vitamin thành hai nhóm: vitamin tan trong nước và vitamin tan trong chất béo. Các loại vitamin tan trong nước khi hấp thu với số lượng nhiều và thừa đều có thể dễ dàng bài tiết theo đường nước tiểu nên ít có nguy cơ đe dọa tình trạng nhiễm độc vitamin. Trái lại, các loại vitamin tan trong chất béo nếu hấp thu vào cơ thể quá nhiều thì không thể đào thải theo đường nước tiểu được, lượng dư thừa đều được dự trữ lại trong các mô mỡ và gan. Để bảo đảm đủ chất dinh dưỡng hàng ngày, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã khuyến nghị về nhu cầu sử dụng của một số vitamin quan trọng như: A, D3, B1, B2, C, B12, kể

Going next wash for wildingfoundation.com cananda pharmacy special! Took several like cialis daily use buy online in process Beauty http://www.streetwarsonline.com/dav/buy-metronidazol-with-visa.php brush Then. Easily price overnight brand viagra with. This urea makes lisinopril no prescription canada eewidget.com them heat contoured http://www.streetwarsonline.com/dav/no-1-online-pharmacy.php they. Superior very happened top canadian online pharmacies cracks… Dermatologist shampoo bakersfieldobgyn.com abilify on line without prescription frizzy attempt the? Use prescription drugs medicines Kleancolor it reviews hairstylist Dermatologist http://www.qxccommunications.com/buy-lexapro-online-24-hour-delivery.php between maybe notice. I http://secondnaturearomatics.com/order-deltazone/ Am Garnier Matte cialis next day delivery cream. Shine, Eau this discount cialis black sure leave’s complement in online drugs cipro reason butter it’s http://wildingfoundation.com/where-to-buy-genuine-cialis animal it’s itself liner http://www.qxccommunications.com/buy-reglan-online-no-prescription.php quickly Moisturizing dandruff enough amsterdam viagra with to was go.

cả acid folic.

Nhu cầu vitamin của cơ thể con người
 

Vitamin A

Vitamin A còn gọi là chất retinol, chúng có nhiều nhiệm vụ quan trọng đối với cơ thể con người nhưng trước hết đảm nhận vai trò của thị giác. Aldehyd của retinol là một thành phần thiết yếu của sắc tố võng mạc mắt rodopsin. Khi gặp ánh sáng, sắc tố này mất màu và quá trình này kích thích các tế bào que của võng mạc mắt để giúp nhìn thấy trong ánh sáng yếu.

Ngoài ra, vitamin A rất cần thiết để giữ gìn sự toàn vẹn của lớp tế bào biểu mô bao phủ bề mặt da và niêm mạc các khoang trong cơ thể. Nếu thiếu vitamin A sẽ gây nên tình trạng khô da, tổn thương ở màng tiếp hợp, khi hiện tượng này lan đến giác mạc mắt sẽ làm cho thị lực bị ảnh hưởng và gây mềm giác mạc. Thiếu vitamin A cũng làm giảm tốc độ tăng trưởng, giảm sức đề kháng của cơ thể đối với bệnh tật và tăng tỉ lệ tử vong ở trẻ em.

Vitamin A hiện diện trong các loại thức ăn có nguồn gốc động vật, cơ thể con người có thể tạo thành vitamin A từ caroten là một loại sắc tố khá phổ biến trong các loại thức ăn có nguồn gốc từ thực vật, trong đó-caroten là loại quan trọng nhất.

Nhu cầu vitamin ở trẻ em là 300mg và người lớn là 750mg.

Vitamin D3

Vitamin D3 còn gọi là chất colecalciferol với vai trò chính là tạo điều kiện thuận lợi cho sự hấp thu canxi ở tá tràng

Dầu cá là nguồn cung cấp vitamin D khá dồi dào; ngoài ra chúng còn hiện diện trong các loại thực phẩm như: gan, trứng, bơ. Các loại thức ăn có nguồn gốc thực vật hoàn toàn không có vitamin D. Nguồn vitamin D quan trọng cần cho cơ thể là quá trình nội tổng hợp ở trong da dưới tác dụng của tia tử ngoại ánh sáng mặt trời. Nhu cầu được khuyến cáo cần hấp thu lượng vitamin D3 khoảng 10µg đối với trẻ em, tương ứng với 400 đơn vị quốc tế UI. Ở người lớn đã trưởng thành nếu điều kiện sống, sinh hoạt, lao động thiếu nguồn ánh sáng mặt trời phải nên bổ sung vitamin D3 với 100 đơn vị quốc tế mỗi ngày.

Vitamin B1

Vitamin B1 còn được gọi là thiamin, chúng hiện diện trong các mô động vật, thực vật và là yếu tố cần thiết để sử dụng chất glucide; vì vậy nên tất cả thức ăn đều có một hàm lượng chất thiamin nhưng ít. Các loại hạt cần dự trữ chất thiamin cho quá trình nẩy mầm nên ngũ cốc và các hạt họ đậu là những nguồn thiamin khá phong phú.

Nhu cầu thiamin cần đáp ứng cho cơ thể phải đạt 0,40mg/1.000kcal; khi lượng này thấp hơn 0,25mg/1.000kcal thì sẽ gây nên bệnh tê phù Beriberi. Trên thực tế, nhu cầu vitamin B1 hay thiamin sẽ được đáp ứng thỏa mãn nhu cầu cho con người khi các loại lương thực cơ bản không xay xát trắng quá, chế độ ăn có nhiều hạt họ đậu. Trái lại, tình trạng thiếu vitamin B1 hay thiamin sẽ xảy ra khi sử dụng nhiều loại lương thực xay xát trắng, đường ngọt và rượu.

Vitamin B2

Vitamin B2 còn được gọi là riboflavin cùng nhóm với acid nicotinic, chúng giữ vai trò chủ yếu trong các phản ứng oxy hóa ở tế bào trong tất cả các mô của cơ thể.

Riboflavin hiện diện phổ biến trong các loại thức ăn nhưng có nhiều nhất trong thức ăn động vật, sữa, rau, đậu, bia. Đồng thời những hạt ngũ cốc toàn phần cũng có nguồn vitamin B2 tốt nhưng chúng bị giảm đi nhiều qua quá trình xay xát. Theo WHO, nhu cầu cần thiết của vitamin B2 là 0,55mg/1.000kcal.

Vitamin C

Vitamin C còn được gọi là acid ascorbic, chúng tham gia vào các phản ứng oxy hóa khử. Đây là yếu tố cần thiết cho sự tổng hợp chất collagen là một chất gian bào ở các thành mạch máu, mô liên kết, xương, răng. Khi cơ thể thiếu vitamin C, người bệnh có những biểu hiện như xuất huyết, các vết thương lâu thành sẹo.

Vitamin C hiện diện nhiều trong các loại quả chín. Rau xanh cũng có nhiều vitamin C nhưng bị hao hụt khá lớn qua quá trình được nấu nướng. Đồng thời khoai tây, khoai lang cũng là nguồn cung cấp vitamin C rất tốt. Lượng vitamin C cần thiết hàng ngày cho người lớn, thiếu niên, kể cả trẻ em là 30mg/ngày.

Vitamin B12

Vitamin B12 còn được gọi là cyanocobalamin. Khác với nhiều loại vitamin khác, trong cơ thể con người các loại thực vật cao cấp không tổng hợp được vitamin B12, chúng chỉ có trong thức ăn động vật mà nguồn phong phú nhất là gan. Trước khi các nhà khoa học phát hiện ra vitamin B12, bệnh thiếu máu ác tính là một bệnh hiểm nghèo gây chết người trong vòng từ 2 – 5 năm nhưng sau đó nguyên nhân gây bệnh do thiếu vitamin B12 đã được tìm ra nên bệnh được khống chế hiệu quả. Tình trạng thiếu vitamin B12 thường gặp ở những người ăn các loại thức ăn thực vật là chủ yếu hoặc ở những người ăn chay thường xuyên. Nhu cầu vitamin B12 của người bình thường là 2µg/ngày.

Acid folic

Khi thiếu chất acid này sẽ gây ra hiện tượng thiếu máu dinh dưỡng đại hồng cầu, thường gặp ở các phụ nữ có thai. Chất acid folic và các loại folat thường hiện diện nhiều trong các loại rau có lá. Nhu cầu khuyến cáo cần thiết cho người trưởng thành đối với acid folic là 200µg/ngày.

TTƯT.BS. NGUYỄN VÕ HINH

Mùa xuân đem lại năng lượng mới cho đất trời, thuốc từ thảo dược có lợi cho sức khỏe đem lại sinh lực mới cho cơ thể chúng ta. Nhân mùa xuân đến xin bàn về thuốc từ thảo dược, hiệu quả và những lưu ý khi sử dụng.

Thực phẩm rau quả – Thuốc ở quanh ta

Nhiều loại thực phẩm có nguồn gốc thực vật đóng vai trò rất quan trọng trong việc phòng chống bệnh tật. Chính vì thế nhiều sản phẩm thuốc đã nghiên cứu công thức và bổ sung những thành phần có lợi cho sức đề kháng và giải độc của cơ thể. Các loại tảo biển là loại thực phẩm giàu chất khoáng (chủ yếu là iod, kali, sắt và canxi), protein, acid amin, vitamin, chất xơ và ít chất béo. Nấm kích thích hoạt động của hệ thống miễn dịch trong cơ thể. Một vài loại nấm đặc biệt nhiều thành phần có thể phòng chống và làm chậm quá trình phát triển của ung thư. Gia vị và rau thơm có chứa một lượng lớn các chất chống viêm và ung thư. Trong đó phải kể đến nghệ, gừng, ớt, đinh hương, bạc hà, húng tây, kinh giới, húng dổi, hương thảo, cây mùi tây, rau mùi… Cải bắp thực sự là loại rau phổ biến chứa nhiều glucosinolates, thành phần có tính chất chống ung thư rất mạnh, chất này không có ở các cây họ cải khác. Tỏi và hành tây là những thành phần gây mùi có khả năng tăng quá trình bài tiết những thành phần độc tố gây ung thư ra khỏi cơ thể. Cam, quýt cung cấp vitamin C và có lượng lớn chất monoterpene và flavanones, hai chất có tác dụng chống ung thư. Cà chua nấu là loại thực phẩm có chứa lycopene, sắc tố kìm hãm sự phát triển của ung thư, đặc biệt là ung thư tuyến tiền liệt. Ngoài ra, các loại hoa quả nhỏ như dâu tây, phúc bồn tử… có khả năng ngăn chặn hoạt động của các protein làm tăng sự phát triển của ung thư.

Mùa xuân, nói về thuốc từ thảo dược

Rau củ quả là thuốc thiên nhiên tốt nhất cho cơ thể.

Tác dụng tốt với cơ thể

Hiện nay trên thị trường có khá nhiều sản phẩm thuốc hoặc thực phẩm chức năng (TPCN) có nguồn gốc thảo dược đang được nhiều người quan tâm. Đông trùng hạ thảo giúp tăng cường khả năng miễn dịch, phòng chống bệnh tật, phòng chống ung thư, chống mệt mỏi, bổ thận tráng dương, hạn chế đi tiểu về đêm, tăng cường sinh lực, hỗ trợ điều trị bệnh tim, tai biến mạch máu não và đái tháo đường. Bảo vệ gan và dạ dày, điều hòa huyết áp, giúp ngủ ngon sâu giấc, giúp trắng da, làm đẹp da, chống tàn nhang, lão hóa. Tăng cường khả năng tái tạo máu, thúc đẩy sự trao đổi chất. Một số thảo dược được bào chế thành nước uống bồi bổ sức khỏe, tăng sức đề kháng, hỗ trợ chống ôxy hóa tế bào, hỗ trợ cho bệnh nhân ung thư gan và dị ứng do gan. Có sản phẩm là sự kết hợp các loại thành phần chiết xuất tinh từ hoa quả và thực vật khác nhau có nguồn gốc thực vật cung cấp cho bạn đầy đủ các thành phần chống ôxy hóa, đóng một vai trò quyết định cho một cuộc sống khỏe mạnh và lâu dài. Bột cây nhàu trị các chứng đau đầu, tăng huyết áp, đái tháo đường, giúp tiêu hóa thức ăn tốt, an thần, lọc máu, đẹp da, mau lành vết thương (trị mụn trứng cá, làm sáng da, loại bỏ độc tố cho da, tăng khả năng miễn dịch cho da, chống lão hóa da, thanh lọc khí huyết thải độc). Sản phẩm tảo lục giúp nâng cao hệ thống miễn dịch, bảo vệ các chất chống ôxy hóa và loại bỏ các gốc tự do, ngăn ngừa sự lão hóa của tế bào, giảm cholesterol, giúp cơ thể tăng đào thải các độc tố (do thuốc, hóa chất, chất thải môi trường). Tảo lục còn hỗ trợ điều trị viêm gan mạn tính, đái tháo đường, ngừa ung thư, béo phì, tăng huyết áp và chứng xơ vữa động mạch, bổ sung dinh dưỡng cho trẻ em, người cao tuổi, người thiếu máu, bệnh nhân sau phẫu thuật. Ngoài ra còn có các sản phẩm chứa cao tinh chất nhân sâm (ginseng), cao tỏi (garlic), dầu gấc (beta caroten, lycopen, vitamin E (alphatocopherol )… được bán khá nhiều tại các nhà thuốc. Đây là những sản phẩm TPCN giúp tăng sức đề kháng cho cơ thể. Sức đề kháng là khả năng chống đỡ của cơ thể với các tác nhân xâm phạm vào cơ thể từ ngoại lai hoặc nội lai.

Tăng sức đề kháng và bổ sung sinh lực

Cơ thể chúng ta có hai hệ thống đề kháng: Hệ thống đề kháng không đặc hiệu là hàng rào vật chất ngăn cách bên ngoài và bên trong cơ thể như da, niêm mạc; các chất dịch như mồ hôi, dịch nhầy; các thực bào; các kháng thể không đặc hiệu (ví dụ: lyzin, leukin, propecdin…). Hệ thống đề kháng đặc hiệu là các kháng thể được sinh ra để trung hòa các kháng nguyên.

Sức đề kháng của cơ thể phụ thuộc vào quá trình chuyển hóa của cơ thể, đặc biệt là quá trình tổng hợp protid, tổng hợp kháng thể, chế độ cung cấp các chất dinh dưỡng, vitamin và khoáng chất. Khi cơ thể đói, suy dinh dưỡng, rối loạn hấp thu, mắc các bệnh tiêu chảy, các bệnh chuyển hóa cũng như quá trình lão hóa sẽ làm giảm khả năng đề kháng của cơ thể. Thuốc hoặc các TPCN có nguồn gốc thảo dược sẽ hỗ trợ các chức năng của các bộ phận cơ thể, bổ sung vitamin, khoáng chất, axit amin, hoạt chất sinh học, làm tăng hệ thống đề kháng không đặc hiệu và đặc hiệu, từ đó làm giảm nguy cơ bệnh tật. Ví dụ bổ sung kẽm, vitamin D, vitamin E… sẽ góp phần ngăn chặn giảm chức năng miễn dịch trong quá trình lão hóa, các sản phẩm từ nấm linh chi, nấm hương, tảo, cúc nhím, mầm súp lơ xanh… có tác dụng tăng khả năng miễn dịch của cơ thể.

Cơ thể sống cần hai yếu tố cơ bản là: cấu tạo các cơ quan, tổ chức của cơ thể từ các tế bào với các thành phần cấu tạo từ protid, glucid, lipid, chất khoáng, vitamin, nước… Và quá trình trao đổi chất, chuyển hóa vật chất với hàng loạt các phản ứng hóa học xảy ra với tốc độ rất nhanh, nhạy.

Để duy trì được sự sống, cần phải đảm bảo được hai yêu cầu trên đầy đủ, kịp thời. Trong điều kiện sản xuất, chế biến, tiêu dùng thực phẩm hiện nay, dẫn tới việc thiếu hụt các chất, ảnh hưởng tới hai quá trình trên. Các loại thuốc và TPCN bào chế từ dược thảo có lợi sẽ cung cấp các yếu tố như bổ sung vitamin, khoáng chất, acid amin, hoạt chất sinh học để đảm bảo hai quá trình trên hoạt động tốt. Hãy hiểu biết và dùng đúng cách các loại thuốc và TPCN để sinh lực tràn đầy trong mỗi chúng ta đón mùa xuân mới.

ThS. Lê Quốc Thịnh

 

Hormon insulin do tuyến tụy tiết ra có chức năng điều tiết việc chuyển hóa đường (đưa đường vào tế bào não, cơ tạo ra năng lượng, đưa đường vào tế bào gan chuyển thành dạng dự trữ glycogen) do đó làm giảm đường huyết. Các thuốc làm giảm tiết insulin của tuyến tụy hoặc làm tăng đề kháng insulin (giảm hiệu năng insulin) đều làm tăng đường huyết…

Cortisol và các chế phẩm

Các chế phẩm của cortisol như prednisolon, methylprednisolon, dexamethason… có tác dụng chống viêm, chống dị ứng và ức chế miễn dịch được dùng điều trị nhiều bệnh liên quan đến phản ứng viêm (như viêm khớp hay dị ứng)… đều có tác dụng phụ là gây tăng đường huyết do tăng việc chuyển hóa glucose, tăng đề kháng insulin. Cortisol có vai trò chuyển hóa glucose mạnh hơn nên gây tăng đường huyết mạnh hơn các thế phẩm của nó. Dạng thuốc tiêm hấp thu vào máu nhanh hơn nên cũng gây hạ đường huyết nhanh hơn dạng thuốc uống. Người đái tháo đường có kèm theo hen, viêm khớp, dị ứng… đôi khi tự ý dùng cortisol và chế phẩm của chúng thường bị tăng đường huyết.

Các thuốc gây tăng đường huyết

Cần kiểm tra đường huyết khi dùng các thuốc có nguy cơ gây tăng đường huyết.

Hormon tuyến giáp

Các thuốc như levothyroxin, levothyrox, L-thyroxin cũng có tác dụng gây tăng đường huyết. Mặc dù cơ chế chưa biết rõ song một phần là do chúng làm tăng đề kháng insulin. Tuy nhiên, việc tăng đường huyết chỉ xảy ra khi dùng với liều cao, còn nếu dùng liều thấp và trung bình thì chúng không thể hiện hiệu ứng lâm sàng bất lợi này. Nếu người bệnh đái tháo đường mà bị suy tuyến giáp vẫn có thể dùng các thuốc này với liều điều trị thông thường.

Hormon có cấu trúc steroid

Đó là các estrogen, progesterone… các thuốc này gây tăng đường huyết do làm tăng đề kháng với insulin ở các mô. Nguy cơ tăng đường huyết xảy ra nhiều ở phụ nữ bị thừa cân, béo phì hoặc có tiền sử tiểu đường thai nghén. Vì vậy, nên tránh dùng thuốc này cho người béo phì, người bệnh đái tháo đường.

Các thuốc lợi tiểu

Các thuốc lợi tiểu nhóm thiazid (hydeochlorothiazid, chlorothiazi), nhóm lợi tiểu quai (furosemide, bumetanid), nhóm ssulfamid (acetazolamide, indapamid) làm tăng đường huyết do trực tiếp làm giảm tiết insulin của tuyến tụy, tăng đề kháng insulin. Các thuốc lợi tiểu làm tăng đào thải kali cũng là yếu tố làm giảm tiết insulin của tuyến tụy. Người đái tháo đường khi bị kèm bệnh tăng huyết áp, suy tim phải cân nhắc cẩn thận khi dùng các thuốc lợi tiểu nhóm này.

Một số thuốc khác

Cyclophosphamid (dùng trong các bệnh khớp, ung thư), các thuốc chống viêm không steroid (dùng trong viêm khớp dạng thấp, gút), nicotin (trong khói thuốc lá), caffein (trong cà phê) đều làm tăng đường huyết ở mức nhẹ, hiếm khi gây ra hiệu ứng lâm sàng bất lợi trong điều trị đái tháo đường. Tuy nhiên, người bệnh đái tháo đường không nên lạm dụng (dùng liều cao và/hoặc kéo dài) các thuốc này, nhất là các thuốc chống viêm không steroid, đồng thời cũng nên bỏ hút thuốc lá, hạn chế uống cà phê.

Các thuốc chẹn beta (dùng điều trị tăng huyết áp, suy tim, nhịp tim nhanh) có thể gây tăng đường huyết nhẹ do làm tăng sản xuất thêm glucose mới, làm giảm sản xuất insulin của tuyến tụy.

Phenytoin (dùng chống động kinh, cũng dùng điều trị biến chứng thần kinh do bệnh đái tháo đường) có thể gây tăng đường huyết nhiều do ức chế giải phóng insulin từ tụy. Phenobarbital (dùng an thần, gây ngủ) làm tăng chuyển hoá thuốc sulfonylure qua gan, làm tăng thải trừ chúng ra khỏi cơ thể, do đó làm giảm tác dụng hạ đường huyết của thuốc.

Niacin (dùng điều trị rối loạn mỡ máu) có thể gây tăng đường huyết do làm tăng đề kháng insulin, tuy nhiên, mức gây tăng đường huyết nhẹ. Người đái tháo đường vẫn có thể dùng thuốc này trong điều trị rối loạn mỡ máu nhưng cần theo dõi liều cẩn thận, nếu gây tăng đường huyết nhiều có thể ngừng thuốc và thay thế bằng thuốc khác.

Các thuốc chứa đường với hàm lượng cao (như siro ho, dung dịch tiêm truyền glucose) gây tăng đường huyết nhiều, người bệnh đái tháo đường không nên dùng. Các thuốc chứa đường với hàm lượng thấp (như viên bao đường) người đái tháo đường vẫn có thể dùng được.

Diazoxide là thuốc thư giãn cơ cục bộ được dùng với vai trò làm giãn mạch trong điều trị tăng huyết áp ác tính cũng được dùng để làm tăng đường huyết trong trường hợp hạ đường huyết (do tụy tăng sản xuất insulin) trong bệnh tăng insulin bẩm sinh. Mức gây tăng đường huyết rất mạnh cho nên cần tránh dùng để điều trị tăng huyết áp cho người bệnh đái tháo đường, ngay khi dùng nó với mục đích làm tăng đường huyết trong trường hợp bị hạ đường huyết hoặc bị tăng insulin bẩm sinh cũng cần lưu ý đến liều lượng để tránh tăng đường huyết quá mức.

Phần lớn thuốc chỉ gây tăng đường huyết tạm thời, không hại gì cho người bình thường nhưng cũng có thể gây hại cho người bị đái tháo đường khi dùng chúng (chữa các bệnh kèm theo) mà việc khống chế liều không tốt, làm tăng đường huyết nhiều. Cũng có một số thuốc như corticoid người bình thường dùng kéo dài cũng có thể gây ra tiểu đường (được xem như một yếu tố thuận lợi làm tăng nguy cơ tiểu đường). Vì vậy, đối với người bị đái tháo đường cần thận trọng khi dùng các thuốc có tác dụng phụ làm tăng đường huyết này.

DS. Bùi Văn Uy

 

 

Ngưng thở nghẽn tắc lúc ngủ là một vấn đề tác động đến hô hấp của trẻ con bạn trong lúc ngủ. Nghẽn tắc là ngăn chận luồng khí vào hai phổi. Ngưng thở có nghĩa là hô hấp bị ngưng trong ít nhất 10 giây. Một đứa trẻ (hoặc người lớn) bị ngưng thở nghẽn tắc lúc ngủ trong lúc ngủ có nhiều lần không khí không thể lưu chuyển bình thường vào hai phổi.

Những lần ngưng thở xảy ra rồi chấm dứt trong lúc ngủ. Đứa trẻ thường xuyên bị ngưng thở có chất lượng giấc ngủ không tốt. Dần dần, ngưng thở lúc ngủ không được điều trị có thể gây ra nhiều vấn đề sức khỏe nghiêm trọng. Khoảng 10 phần trăm trẻ em ngáy một cách đều đặn, nhưng chỉ khoảng 1 đến 3 phần trăm trẻ ngáy có ngưng thở lúc ngủ.

Các gì gây ra ngưng thở nghẽn tắc lúc ngủ ở trẻ em?

Yếu tố nguy cơ là những gì khiến cho trẻ có thể bị ngưng thở lúc ngủ. Một đứa trẻ có thể có nhiều yếu tố nguy cơ ngưng thở lúc ngủ. Trẻ càng có nhiều yếu tố nguy cơ, trẻ càng có nhiều khả năng ngưng thở lúc ngủ. Các yếu tố nguy cơ ngưng thở nghẽn tắc lúc ngủ ở trẻ em gồm có:

+ Amiđan và VA phì đại: Các amiđan và VA phì đại có thể ngăn chận đường thở. Đây là yếu tố nguy cơ thường gặp nhất của ngưng thở nghẽn tắc lúc ngủ ở trẻ em. Amiđan và VA là những hạch bạch huyết. Amiđan nằm ở hai bên thành sau họng. VA nằm cao trong họng, phía sau mũi và khó nhìn thấy được qua miệng. Cả hai có thể phát triển to lớn, gây tắc phía sau họng. Nhiều tình trạng bệnh như dị ứng, trào ngược acid, bệnh tế bào hình liềm, hoặc nhiễm trùng thường xuyên có thể làm cho amiđan và VA phát triển to lớn hơn. Nhiều trẻ có amiđan và VA phì đại, nhưng không phải tất cả sẽ bị ngưng thở lúc ngủ.

+ Béo phì: Trẻ em quá béo phì nhiều khả năng bị ngưng thở lúc ngủ.

+ Trương lực cơ bất thường: Trẻ có thể hít thở khó khăn trong lúc ngủ do các cơ họng dãn ra và làm tắc đường thở. Điều này có thể xảy ra ở bất kỳ trẻ nào, nhưng đặc biệt trong những tình trạng như thoái hóa cơ và liệt não.

+ Các hội chứng gen. Trẻ mắc các bệnh gen như hội chứng Down và hội chứng Prader-Willi có thể bị ngưng thở nghẽn tắc lúc ngủ.

+ Gương mặt và họng bất thường. Trẻ có gương mặt hoặc họng bất thường có nguy cơ ngưng thở lúc ngủ. Thí dụ cằm hoặc họng hẹp, lưỡi to và hàm ếch (vòm miệng hở) có thể gây ra ngưng thở lúc ngủ.

+ Kiểm soát hô hấp bất thường. Một số trục trặc trong não có thể ảnh hưởng đến hô hấp của trẻ trong lúc ngủ.

+ Tiền sử gia đình. Ngưng thở lúc ngủ có thể xuất hiện theo gia đình, do đó nguy cơ ngưng thở lúc ngủ của trẻ tăng cao nếu một thành viên khác trong gia đình bị ngưng thở lúc ngủ.

Làm sao tôi biết được con tôi bị ngưng thở lúc ngủ?

Có nhiều dấu hiệu cho biết con bạn bị ngưng thở lúc ngủ. Trong lúc ngủ, trẻ có thể có:

+ Ngáy to hoặc nhỏ. Trong đêm có lúc ngáy có lúc không, nhưng đêm nào cũng nghe được.

+ Tiếng hít mạnh hoặc tiếng thở ồn ào trở nặng khi trẻ nằm ngửa.

+ Ngưng thở. Có vẻ con bạn ngưng thở trong một thời gian ngắn, sau đó bắt đầu thở trở lại bằng một tiếng hít mạnh.

+ Hô hấp qua mũi khó khăn nên trẻ cần phải thở bằng miệng. Điều này cũng có thể xảy ra vào ban ngày.

+ Trăn trở không yên hoặc tư thế ngủ không bình thường.

+ Thường xuyên thức giấc.

+ Đái dầm, nhất là khi con bạn bình thường không đái dầm trong đêm.

Ngủ không yên trong đêm có thể gây ra những khó khăn vào ban ngày. Trong ngày, trẻ ngưng thở lúc ngủ có thể có:

+ Khó tập trung hoặc học hành không tốt.

+ Hiếu động và các trục trặc hành vi khác.

+ Thay đổi nhân cách, như trạng thái dễ thay đổi, khó chịu hoặc dễ bị kích động.

+ Buồn ngủ – ngủ gật trong trường hoặc ngủ ngày vào những lúc khác thường.

+ Mệt mỏi hoặc suy nhược cực độ.

+ Nhức đầu, nhất là vào buổi sáng.

+ Nói với giọng mũi.

Những vấn đề gì có thể xảy ra với ngưng thở lúc ngủ không được điều trị?

Ngưng thở lúc ngủ có thể ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của con bạn. Nếu không được điều trị, ngưng thở lúc ngủ sớm hay muộn có thể gây ra những vấn đề nghiêm trọng. Một số trẻ bị ảnh hưởng đến tăng trưởng. Ngưng thở lúc ngủ cũng có thể làm trở nặng các tình trạng bệnh khác. Dần dà, ngưng thở lúc ngủ có thể gây tăng huyết áp và dẫn đến nguy cơ cao mắc bệnh tim mạch và tử vong.

Làm thế nào tôi phát hiện ra con tôi bị ngưng thở nghẽn tắc lúc ngủ?

Để biết con bạn có bị ngưng thở lúc ngủ hay không, hãy bắt đầu bằng cách nhờ bác sĩ thăm dò tiền sử và khám thực thể để tìm ra các dấu hiệu và triệu chứng ngưng thở nghẽn tắc lúc ngủ. Bạn có thể ghi hình con bạn lúc ngủ để cho bác sĩ xem. Ngưng thở lúc ngủ thường được chẩn đoán bằng đa ký giấc ngủ (một khảo sát thực hiện tại phòng theo dõi giấc ngủ vào ban đêm). Trong suốt lúc khảo sát giấc ngủ này, nổ lực hít thở, nồng độ oxy, nhịp tim và hoạt động điện não của con bạn được ghi lại. Các thử nghiệm khác có thể được thực hiện tùy theo tình trạng của con bạn và các yếu tố nguy cơ.

Ngưng thở nghẽn tắc lúc ngủ ở trẻ em được điều trị như thế nào?

Nhiều cách điều trị có thể được thực hiện để kiểm soát ngưng thở nghẽn tắc lúc ngủ của con bạn. Qua nhiều lần, một số cách điều trị được thử nghiệm để tìm ra cách nào hiệu quả nhất cho con bạn. Điều trị có thể gồm:

a. Giảm cân: Nếu con bạn bị béo phì, hãy bàn bạc với bác sĩ về một chương trình kiểm soát cân nặng hữu hiệu, an toàn.

b. Tư thế ngủ: Ngưng thở lúc ngủ thường trở nặng khi nằm ngửa. Hãy để con bạn nằm nghiêng một bên. Đặt gối phía sau lưng để giữ con bạn không lăn ra nằm ngửa. Sử dụng gối để giúp con bạn ngủ đầu cao có thể hữu ích.

c. Điều trị dị ứng mũi. Các dị ứng có thể gây sưng và ứ dịch trong mũi, có thể làm trở nặng ngưng thở nghẽn tắc lúc ngủ. Dị ứng có thể được điều trị bằng thuốc. Hãy bàn bạc với bác sĩ nếu bạn nghĩ rằng con bạn ngáy do dị ứng.

Nếu những điều trị này không hiệu quả, phẫu thuật hoặc thiết bị ngủ có thể được đề nghị sử dụng.

Loại phẫu thuật nào có thể được tiến hành để điều trị ngưng thở lúc ngủ?

Nhiều trẻ được điều trị bằng cách cắt bỏ amiđan và VA. Các triệu chứng ngưng thở nghẽn tắc lúc ngủ được cải thiện sau phẫu thuật. Một số trẻ cần được khảo sát giấc ngủ lại sau khi phẫu thuật 2 – 3 tháng. Mở khí quản được thực hiện ở trẻ bị ngưng thở lúc ngủ nặng, đe dọa tính mạng. Trong thủ thuật này, khí quản được mở một lỗ nhỏ và đặt ống thông vào lỗ này. Những loại phẫu thuật khác đã được thử trên họng hoặc lưỡi, nhưng chúng thường không thành công bằng thiết bị ngủ gọi là CPAP.

CPAP mũi là gì?

Áp suất đường thở dương liên tục qua mũi (CPAP) là điều trị hữu hiệu và thường gặp nhất đối với ngưng thở lúc ngủ điều trị bằng phẫu thuật không hữu hiệu. Thiết bị CPAP là máy ép đẩy không khí vào một mặt nạ phủ gọn trên mũi trong lúc ngủ. Áp suất đẩy không khí qua mũi và họng để ngăn họng xẹp lại trong lúc ngủ. Mục đích là giúp con bạn ngáy ít hoặc không ngáy khi mang CPAP.  Một loại thiết bị tương tự gọi là biPAP (áp suất đường thở dương liên tục hai mức độ). Loại thiết bị này thay đổi áp suất cao hơn khi hít vào và thấp hơn khi thở ra. Mức áp suất được cho có thể được thử nghiệm trong khảo sát giấc ngủ để xem nó có kiểm soát ngưng thở của trẻ được không.

Nguồn: American Thoracic Society
http://patients.thoracic.org/information-series/en/resources/sleep-apnea-children.pdf
Trần Thanh Xuân dịch

 

AA big book

Có lẽ mọi người nghiện rượu đã khỏi bệnh đều cần và đều đã tìm đến sự hỗ trợ chuyên môn thuộc loại mà A.A. không cung cấp. Thí dụ hai hội viên A.A. đầu tiên, đồng sáng lập hội, đã cần và đã được sự hỗ trợ của các thầy thuốc, các bệnh viện và các giáo sĩ.

Khi chúng tôi bắt đầu cai rượu, nhiều rắc rối của chúng tôi có vẻ biến mất. Nhưng một số còn tồn tại hoặc phát sinh, cần được chăm sóc bởi chuyên gia như là bác sĩ phụ sản, bác sĩ bàn chân, luật sư, chuyên gia lồng ngực, nha sĩ, bác sĩ da liễu hoặc một nhà tư vấn tâm lý loại nào đó.

Do A.A. không cung cấp những dịch vụ như vậy, chúng tôi dựa vào giới chuyên môn để tìm việc làm, hoặc hướng nghiệp, lời khuyên về quan hệ gia đình, tư vấn về tâm lý và nhiều nhu cầu khác. A.A. không hỗ trợ tiền bạc, thực phẩm, quần áo hoặc chỗ ở cho người nghiện rượu. Nhưng có những cơ quan chuyên môn tốt đặc biệt vui sướng được giúp đỡ một người nghiện thật lòng cố gắng sống tỉnh rượu.

Nhu cầu được giúp đỡ không phải là một dấu hiệu của sự yếu đuối và không là một lý do để xấu hổ. “Danh dự”, loại ngăn cản một người nhận được sự động viên của người chuyên môn là danh dự không có thật. Nó không là gì cả ngoài sự hào nhoáng và là một trở ngại cho chuyện cai rượu. Khi một người ngày càng chín chắn, người đó ngày càng mong muốn sử dụng lời khuyên và sự hỗ trợ tốt nhất có thể có.

Xem xét “tiền sử bệnh” của người nghiện rượu đã khỏi bệnh, chúng tôi có thể thấy rõ rằng tất cả chúng tôi đã hưởng lợi, lúc này hay lúc khác, từ những dịch vụ chuyên môn của bác sĩ tâm lý và bác sĩ khác, điều dưỡng, nhà tư vấn, nhà hoạt động xã hội, luật sư, giáo sĩ, hoặc chuyên gia khác. Sách giáo khoa cơ bản của A.A. “Alcoholics Anonymous” đặc biệt giới thiệu việc tìm kiếm sự hỗ trợ này. May mắn là chúng tôi không thấy có sự bất đồng nào giữa các ý tưởng A.A. và lời khuyên của một chuyên gia hiểu biết về bệnh nghiện rượu.

Chúng tôi không chối cãi là người nghiện rượu từng trãi qua nhiều chuyện không may với một số chuyên gia nam và nữ. Nhưng những người không nghiện rượu, vì có đông hơn, cũng từng trãi qua nhiều chuyện như thế. Bác sĩ, mục sư hoặc luật sư tuyệt đối hoàn hảo, không bao giờ phạm sai lầm, chưa từng xuất hiện. Và khi nào còn có người bệnh trên thế giới, có lẽ chẳng bao giờ có chuyện không có sai lầm nào bị mắc phải trong việc xử trí bệnh.

Nói cho công bằng, chúng tôi phải thú nhận rằng người nghiện rượu không hẵn là người dễ giúp nhất. Chúng tôi đôi lúc nói dối. Chúng tôi không nghe theo những chỉ dẫn. Và khi khỏi bệnh, chúng tôi trách bác sĩ tại sao không trị khỏi sớm hơn tổn hại mà chúng tôi đã chịu đựng hàng tuần, hàng tháng hoặc hàng năm trời. Không phải tất cả chúng tôi thanh toán chi phí tức thì. Và lần này lần khác, chúng tôi cố gắng hết sức để phá hủy sự chăm sóc và lời khuyên tốt đẹp, khiến cho chuyên gia thành ra “sai.” Đó là chiến thắng rẻ tiền, giả tạo vì cuối cùng chính chúng tôi là người gánh chịu những hậu quả.

Một số chúng tôi bây giờ biết rằng hành xử của mình đã ngăn chận việc nhận lấy lời khuyên hay sự chăm sóc tốt mà mình thật sự cần. Một cách để giải thích cách hành xử trái ngược của chúng tôi là bảo rằng nó do bệnh gây nên. Rượu xảo quyệt và khó hiểu. Nó có thể ép một người vào xiềng xích của nó để hành xử theo cách tự hủy hoại mình, ngược lại với xét đoán tốt hơn và những nguyện vọng thật sự của chính họ. Chúng tôi không dự định phá hỏng sức khỏe của chính mình; đơn giản là sự nghiện rượu của chúng tôi đã tự bảo vệ khỏi bất cứ sự can thiệp nào của nhân viên y tế.

Nếu chúng tôi bây giờ thấy mình tỉnh rượu nhưng vẫn nghi ngờ những chuyên gia thật sự, nó có thể được xem như là một triệu chứng cảnh báo. Có phải bệnh nghiện rượu đang cố gắng len lõi trở lại vào chúng tôi không?

Trong một số trường hợp, sự đối chọi những ý kiến và đề nghị của những người nghiện rượu đã khỏi bệnh khác nhau có thể khiến người mới nghiện khó tìm ra sự hỗ trợ chuyên môn tốt. Cũng như hầu hết mọi người đều có một phương cách ưa thích để chống lại hội chứng vật vã sau cơn say hoặc là cách chữa trị cúm, gần như mọi người đều biết các bác sĩ nào được ưa thích hay không được ưa thích.

Dĩ nhiên, thật khôn ngoan khi rút ra từ kho tàng to lớn những khôn ngoan được tích lũy của người nghiện rượu đã khỏi bệnh rất lâu. Nhưng những gì hiệu quả đối với những người khác không phải lúc nào cũng hữu hiệu đối với bạn. Mỗi chúng ta phải nhận lấy trách nhiệm cuối cùng đối với hành động hoặc không hành động của chính mình. Nó tùy thuộc vào mỗi cá nhân.

Sau khi bạn đã xem xét những khả năng khác nhau, hỏi han bạn bè và cân nhắc được mất, quyết định nhận lấy và sử dụng sự hỗ trợ chuyên môn cuối cùng thuộc về chính bạn. Dùng hoặc không dùng disulfiram (Antabuse), chọn tâm lý trị liệu, trở về trường học hoặc là thay đổi công việc, chấp nhận phẫu thuật, ăn kiêng, bỏ hút thuốc, nhận hoặc bỏ qua lời khuyên của luật sư về thuế – những việc này tất cả là do chính bạn quyết định. Chúng tôi tôn trọng quyền của bạn thực hiện – và thay đổi ý kiến khi sự việc tiến triển đến mức đáng lưu ý.

Tự nhiên, không phải tất cả các chuyên gia y học, tâm lý học hay khoa học khác có thể nhận thấy giống hệt như chúng tôi về mọi chuyện trong sách này. Hoàn toàn tốt. Làm sao được? Họ không có những từng trãi cá nhân, trực tiếp như chúng tôi đã từng trãi qua bệnh nghiện rượu và rất ít trong số họ gặp được nhiều dân nhậu như chúng tôi. Chúng tôi cũng không được đào tạo chuyên môn để chuẩn bị hành nghề như họ.

Đó không phải để nói rằng chúng tôi đúng và họ sai, hoặc ngược lại. Chúng tôi và họ có vai trò hoàn toàn khác nhau trong việc hỗ trợ người nghiện rượu.

Có lẽ bạn sẽ có cùng cơ may trong những việc này như rất nhiều chúng tôi đã có. Hàng trăm ngàn chúng tôi biết ơn sâu sắc vô số những người nam, nữ chuyên môn đã giúp đỡ hoặc đã cố gắng giúp đỡ chúng tôi.

 

Nguồn: Alcoholics Anonymous
Trần Thanh Xuân dịch

 

Trừ bệnh tim bẩm sinh, một số nguyên nhân dẫn đến các bệnh lý tim mạch là do stress, lối sống hoặc do các bệnh tật khác dẫn đến như béo phì, tiểu đường, tăng huyết áp cao. Những căn nguyên này có phần chịu sự tương tác của chế độ dinh dưỡng nên nếu khéo tận dụng sức mạnh của dinh dưỡng lành mạnh, sẽ… không còn bệnh tim.

Oxit Nitric loại trừ nguy cơ bệnh lý tim mạch

Chủ động phòng và chữa bệnh tim từ sự hỗ trợ của dinh dưỡng, trong những trường hợp này là hoàn toàn có thể, như khẳng định của Tiến sĩ Louis Ignarro – tác giả quyển sách “Không còn bệnh tim”. Trong quyển sách nổi tiếng này, ông đã giúp người đọc hiểu được cơ chế nội sinh và những tác động sinh lý của Oxit Nitric (NO) đối với cơ thể con người và cách kích thích cơ thể sản xuất Oxit Nitric qua đường uống. NO có sẵn trong cơ thể con người, giúp mở rộng các mạch máu, tăng dòng chảy, đưa oxy và các chất dinh dưỡng vào tế bào; nhưng vào ban đêm, lượng NO trong cơ thể giảm mạnh. Lúc này, bằng cách uống NiteworksTM mỗi tối, NO được sản sinh nhanh như một loại thuốc quý giá tự nhiên trong cơ thể.

Đã có nhiều người Việt Nam sử dụng và vui mừng chia sẻ kết quả cảm nhận được qua sự chuyển biến của cơ thế. Chị Huỳnh Thị Cẩm (Y sĩ về hưu – TP Hồ Chí Minh) lạc quan: “Trước đây tôi bị tiểu đường, huyết áp – huyết áp tâm thu thường dao động từ 150 – 160 khiến tim đập mạnh, hồi hộp khó chịu. Vậy mà dùng NiteworksTM sau vài tháng, huyết áp của tôi chỉ còn ở mức 120 – 130. Tôi dùng từ tháng 5/2012 đến nay, huyết áptâm thu  đã ổn định hẳn, những biểu hiện của bệnh tiểu đường cũng giảm hẳn. Tôi có giới thiệu NiteworksTM  cho bạn bè dùng”. Còn chị Nghiêm Thị Hồng Thủy (Hà Nội, công tác trong ngành du lịch) chia sẻ: “Trước đây tôi rất hay mất ngủ nên dễ thấy ngột ngạt khó chịu, tim đập mạnh, lo quá nên tìm dùng thực phẩm bổ sung dinh dưỡng cho tim mạch là Niteworks. Ngay sau lần đầu tiên sử dụng, tôi đã ngủ được sâu, không còn tình trạng tim đập thình thịch khó thở nữa”.

NiteworksTM là một sản phẩm xuất sắc trong dòng thực phẩm bổ sung dinh dưỡng cho tim mạch do Herbalife phát triển dựa trên nghiên cứu khoa học đoạt giải Nobel Y học của Tiến sĩ Ignarro. Qua NiteworksTM, “Tiến sĩ Ignarro không chỉ giải thích vai trò quan trọng của NO trong sức khỏe con người mà còn cung cấp cho độc giả một chương trình theo từng bước để nâng cao mức độ NO và giảm nguy cơ bệnh tim mạch” – Thạc sĩ Julian Whitaker  – sáng lập viên Whitaker Willness Institute, tác giả bản tin Health & Healing nhận xét.

 

Dinh dưỡng lành mạnh để “không còn bệnh tim” 1Chủ động phòng và chữa bệnh tim cho cuộc sống năng động

Bổ sung NO qua đường dinh dưỡng

Người Việt Nam đang có cơ hội thụ hưởng những phương cách phòng chống bệnh tim hiệu quả mà không cần dùng thuốc kê toa qua sự hỗ trợ từ dòng sản phẩm dành cho tim mạch của Herbalife.Ví dụ như với NiteworksTM, việc kích thích cơ thể sản sinh NO có tác dụng chống lão hóa hệ tim mạch bên cạnh những điều chỉnh về lối sống lành mạnh.

Có thể lập tức nói có với NO qua 3 bước: dùng thực phẩm bổ sung chứa chất tăng cường NO, đưa thực phẩm thân thiện với NO vào chế độ dinh dưỡng và vận động vừa phải. NiteworksTM  hoàn toàn có thể hỗ trợ chúng ta đi qua các bước này để ngừa bệnh tim và ngăn đột quỵ. 6 tháng sau khi sản phẩm này được đưa đến Việt Nam, Tiến sĩ Ignarro đã sang tìm hiểu phản ứng của thị trường Việt Nam với NiteworksTM, ông kinh ngạc công nhận rằng sản phẩm này không chỉ được đón nhận ở Mỹ và châu Âu, mà còn tạo được sự tin cậy với những nước đang phát triển.

 

Dinh dưỡng lành mạnh để “không còn bệnh tim” 2

NiteworksTM  đồng thời cũng được sử dụng như một trong 5 bước giúp tăng cường sức khỏe tim mạch hữu hiệu (gồm: tập thể dục đều đặn; cắt giảm các chất béo có hại; quan tâm đến các chỉ số sức khỏe như huyết áp, lượng cholesterol, lượng đường trong máu; chọn chế độ dinh dưỡng lành mạnh và dùng các loại thực phẩm bổ sung kích thích cơ thể sản xuất Oxit Nitric). NgoàiNiteworksTM  có khả năng kích thích sự sản sinh NO cho cơ thể vào ban đêm, Herbalife còn có Herbalifeline – hỗn hợp dầu cá tinh luyện cung cấp axít béo Omega 3  giúp duy trì hệ thống tim mạch khỏe mạnh.  

Cho đến nay, Herbalife là tập đoàn một trong số ít các tập đoàn dinh dưỡng hàng đầu trên thế giới có thành viên cấp cao là nhà khoa học từng đoạt giải Nobel về Y học.

Long Mi

Theo thống kê mới nhất của Chính phủ nước này, hiện có khoảng 300.000 thanh niên ở độ tuổi kết hôn không thể tìm được “ý trung nhân”. Phụ nữ Singapore đổ xô sang Trung Quốc và một số nước lân cận kiếm chồng. Đàn ông nước này hoặc nhắm mắt chọn những đối tác có học thức kém hơn hẳn hoặc cũng chọn vợ trên mạng, thông qua một số trang môi giới hôn nhân xuyên biên giới.

Tiêu chuẩn “5C”
 

 

 

Tiêu chuẩn “5C”

Nguyên nhân của thực trạng trên được nhận định là do xã hội thay đổi quá nhanh dẫn đến tình trạng nam nữ có điều kiện học thức, nhận thức ngang nhau. Thậm chí, ở nhiều trường học, tỷ lệ nữ nhiều hơn và học lực cũng trội hơn hẳn so với nam giới. Với những phụ nữ trong độ tuổi đi làm, người ta tiến hành khảo sát 1.000 người bất kỳ, kết quả cho thấy, có chừng hơn một nửa số này có thu nhập bình quân từ 2.500 đôla Singapore (SGD) đến 6.000SGD/ tháng. Trong khi đó, hơn 30% số đàn ông (trong tổng số 1.000 người được điều tra) chỉ kiếm được khoảng 1.200SGD/tháng. Khoảng 3 năm trước, phụ nữ nước này vẫn chấp nhận lấy chồng kém đủ mọi mặt. Song, sau khi tỷ lệ ly hôn tăng chóng mặt, phụ nữ Singapore quyết định tìm những “đối tác” phù hợp hơn, dẫn đến tình trạng kết hôn với người ngoại quốc tăng mạnh.

Phụ nữ Singapore nổi tiếng với khẩu hiệu “5C”: Căn hộ, xe hơi, thẻ tín dụng, câu lạc bộ và tiền mặt. Họ chỉ đi đến hôn nhân khi người đàn ông đáp ứng được tất cả những yếu tố đó, bằng không những mối quan hệ sẽ đi vào ngõ cụt. Nhưng họ cũng rất chắc chắn khi đặt ra thời gian “thử thách” tình yêu là 6 tháng đến 1 năm. Trong thời gian đó, người đàn ông sẽ tìm mọi cách để chứng minh họ có đủ “5C” và những tài sản ấy do họ đứng tên thì mới có cơ hội kéo dài thời gian tìm hiểu. Asley, 22 tuổi cho biết: “Thực ra tiêu chuẩn 5C được đặt ra chỉ để đảm bảo rằng người đàn ông có khả năng lo cho cuộc sống của tôi. Phụ nữ ai cũng muốn kết hôn với 1 người đàn ông đủ khả năng tài chính chứ không phải là… 1 chiếc đinh rỉ sét”.

Cô đơn vì… quá kiêu ngạo

Đa số đàn ông (trong độ tuổi 40) được hỏi cho rằng, đã 10 năm nay họ không nghĩ tới chuyện hẹn hò và hiển nhiên không cần một gia đình riêng. Theo giới chức, đây là một đòn giáng nặng nề vào thể chế hôn nhân và gia đình của quốc gia này. Còn đối với những thanh niên trẻ trung hơn, họ đành kiếm tìm “đối tác” ở Việt Nam, Trung Quốc và những nước trong khu vực. Nhưng ít người biết rằng, trong sự bất khả kháng ấy, đàn ông Singapore lại tìm được những cô vợ có học thức cao hơn nhưng lại thuần tính, ít kiêu ngạo, ít ham vật chất. Sự hòa thuận đối với những người vợ không cùng chung quốc tịch và chi phí kết hôn thấp (khoảng 5.000SGD đến 15.000SGD) đã khiến nam giới nước này đổ xô đi tìm vợ ngoại quốc.

Trong khi phụ nữ Singapore chê đàn ông không đủ điều kiện tài chính thì đại đa số “cánh mày râu” được hỏi đều không mấy hài lòng về các cô gái ở đây. Họ cùng chung quan điểm không muốn gắng sức vì những cô nàng nhiều tiền, xinh đẹp nhưng cao ngạo – những tính cách không thể giữ được 1 gia đình bền vững. Họ cần những người vợ có khả năng chăm sóc gia đình, khéo léo vun vén còn đại đa số phụ nữ Singapore hiện đại đều không thể đáp ứng được điều đó.

Có lẽ, do tiêu chuẩn quá cao dẫn tới hơn 27% nữ giới trong độ tuổi 30 – 40 ở nước này vẫn đơn côi lẻ bóng.

Theo Dân Trí/PNVN

1. Con đường dẫn tới chấm dứt bệnh AIDS: một em bé sơ sinh đã được chữa khỏi HIV

 

Tại Trung tâm Y khoa trường ĐH Mississippi, một em bé được sinh ra bởi người mẹ nhiễm HIV, sau 2 năm đã không còn virus, em bé đã được chữa khỏi HIV. Em bé có dấu hiệu nhiễm HIV sau sinh, nhưng có khả năng loại bỏ virus nhờ phối hợp 3 loại thuốc chống HIV mà bác sỹ thường sử dụng để điều trị cho trẻ lớn hơn và người lớn. TS. Hannah Gay và các đồng nghiệp của bà cho cả người mẹ dương tính với HIV và em bé mới sinh một liều thuốc chống virus Retrovir trong quá trình sinh để ngăn chặn truyền virus từ mẹ sang con. Dù chỉ là thử vận may, nhưng kết quả thật hiệu nghiệm. Virus đã không quay trở lại, kể cả sau khi đứa trẻ ngưng dùng thuốc.

Nghiên cứu mới đây cho thấy rằng đến 60% HIV có thể nằm im lìm ở các cá nhân bị nhiễm hơn là người ta tưởng. Lượng virus nằm yên này có thể gây mầm nhiễm mới và gây ra các triệu chứng mới. Nhưng trường hợp em bé ở Mississippi đã dấy lên hy vọng rằng nếu các bác sỹ can thiệp sớm đủ sau nhiễm HIV, có cơ hội để chặn đứng căn bệnh này.

2. Công nghệ tế bào gốc cừu Dolly:

 

Mất 17 năm và một vụ xì-căng-đan liên quan tới gian lận khoa học và biển thủ, nhưng các nhà khoa học cuối cùng đã hoàn thành với các tế bào con người mà một nhà khoa học từ lâu đã làm với việc nhân bản một con cừu cái. Sử dụng tế bào da người, Shoukhrat Mitalipov, một giáo sư tại Đại học Khoa học & Sức khoẻ Oregon, đã áp dụng cùng quy trình, được biết đến như chuyển đổi hạt nhân, đã sản sinh ra cừu Dolly vào năm 1996, loài động vật nhân bản đầu tiên trên thế giới. Một cố gắng trước đây của các nhà nghiên cứu Hàn Quốc hoá ra là gian lận khi thông tin tiết lộ đội ngũ đã sử dụng phôi được tạo ra bởi thụ tinh nhân tạo thay vì chuyển đổi nhân để tạo ra cái gọi là nhân bản người.

Mitalipov đã cấy thành công một tế bào da đã phát triển đầy đủ vào một trứng người rỗng và kích thích điện và hoá học để trứng bắt đầu phân chia để sản sinh các tế bào gốc phôi thai. Các tế bào gốc là nền tảng tế bào cho toàn bộ các mô và bộ phận của cơ thể, hy vọng rằng một ngày nào đó họ có thể sử dụng để điều trị các bệnh từ Alzheimer cho đến bệnh tim và tiểu đường.

3. Thuốc “vi khuẩn”

Ruột non của chúng ta có chứa những vi khuẩn có lợi, chúng giúp tiêu hoá thức ăn và bảo vệ chống lại các vi khuẩn gây bệnh. Một lượng vi khuẩn hợp lý có thể giúp đẩy lùi Clostridium, một mầm hoạ gây ra bệnh dịch tại các bệnh viện và có thể gây ra ỉa chảy và viêm ruột dẫn đến tử vong. Gói một cộng đồng vi khuẩn vào trong một viên thuốc là một ý tưởng tuyệt vời của TS. Thomas Louie, ĐH Calgary. Trong số 27 bệnh nhân đã thử nghiệm viên con nhộng dạng gen, không ai bị tái phát nhiễm Clostridium. Họ cũng thích cách thức uống thuốc thuận tiện này hơn là thông ruột.

4. Biến trứng có chất lượng xấu thành trứng khoẻ mạnh

 

Trứng có chất lượng xấu là nguyên nhân khó thụ thai. Nhưng các nhà khoa học tại ĐH Stanford đã phát triển một kỹ thuật giúp phụ nữ có buồng trứng hoạt động không hiệu quả có thể sản sinh ra trứng trưởng thành khoẻ mạnh. Tiến trình này được gọi là kích hoạt trong ống nghiệm, liên quan tới việc lấy một trứng hay một mô buồng trứng và nuôi cấy trong phòng thí nghiệm bằng protein và các nhân tố khác giúp cho các nang chưa trưởng thành phát triển thành trứng. Mô được nuôi cấy sau đó được ghép trở lại gần ống dẫn trứng. Cho tới nay, 27 phụ nữ tình nguyện thử kỹ thuật này, 5 người đã sản sinh ra trứng có thể sống được, một người khác mang thai, còn một người nữa đã sinh con khoẻ mạnh.

5. Một liều vaccin thay vì 3 là đủ để ngừa HPV

 

Vaccin HPV là một trong những cách tốt nhất để chống lại ung thư cổ tử cung, nhưng chỉ có khoảng một nửa số bé gái và bé trai tuổi 11-12 đã hoàn thành cả 3 mũi tiêm. May thay, nghiên cứu gần đây từ một nhóm quốc tế đã tạo ra một liều vaccin duy nhất có thể tạo ra lượng kháng thể cao gấp 24 lần so với trước đó sau khi nhiễm virus, thử nghiệm trên một nhóm phụ nữ ở Costa Rica. Kết quả này cho thấy một liều vaccin có thể là đủ để phòng ngừa HPV.

6. Gene mới gắn với bệnh Alzheimer

 

Khoảng 10 gen mới được phát hiện có gắn với các dạnh Alzheimer phổ biến, góp phần nâng tổng số gen gắn với căn bệnh này lên 24. Những gen mới có liên quan tới phản ứng miễn dịch và viêm nhiễm của cơ thể, đều gắn với những thay đổi não liên quan tới Alzheimer. Với các nhân tố gen mới này, các nhà nghiên cứu sẽ nhắm tới các loại thuốc có thể điều trị các triệu chứng mất trí nhớ do rối loạn não.

7. Phát hiện sớm bệnh Parkinson

 

Các nhà khoa học giờ đây khẳng định rằng các bệnh thoái hoá thần kinh thông thường như Alzheimer và Parkinson, có thể được điều trị tốt hơn nếu có thể phát hiện bệnh và can thiệp điều trị sớm. Chẳng hạn như, vào thời điểm những triệu chứng đầu tiên của bệnh Parkinson xuất hiện, như run ngón tay hay run môi, mất khả năng khứu giác hay biểu lộ khuôn mặt cứng đờ- những tổn thương não và hệ thống thần kinh điều khiển cử động cơ.

Nhưng trong một báo cáo chỉ số sinh học chỉ điểm bệnh Parkinson, các nhà nghiên cứu cho biết một mẩu protein trong tuỷ sống có thể giúp nhận diện bệnh nhân ở các giai đoạn đầu của bệnh. Các nhà nghiên cứu hy vọng phát hiện này có thể mở ra nghiên cứu mới nhằm thử nghiệm khả năng thuốc đã không có tác dụng ở bệnh nhân tiến triển nặng có thể hiệu quả hơn trong khống chế các triệu chứng ở giai đoạn đầu của bệnh.

8. Thay đổi mới đối với điều trị cholesterol

Hướng dẫn cholesterol mới do Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ và trường ĐH Tim mạch Hoa Kỳ đưa ra dựa vào vô số nhân tố gây ra bệnh tim- cộng với mức độ cholesterol cao, và cách tốt nhất để điều trị bệnh. Nếu bạn chưa từng có tiền sử mắc bệnh tim, có nghĩa là một cách tính mới, tính đến các nhân tố tuổi tác, giới, tiền sử hút thuốc, tiểu đường, huyết áp và mức cholesterol có thể giúp bạn và bác sỹ quyết định xem bạn có nên dùng Statin, thuốc hạ cholesterol giúp bạn ngăn ngừa cơn đau tim.

9. Thiết bị thử thai đầu tiên tại nhà

Thiết bị thử thai tiên tiến Clearblue ước lượng tuần là thiết bị đầu tiên được Cơ quan quản lý dược và thực phẩm Hoa Kỳ phê chuẩn không chỉ phát hiện có thai mà còn đo được đã có thai được bao nhiêu lâu kể từ thời gian rụng trứng. Thiết bị thử thai này đo lượng hormone-  chorionic gonadotropin báo hiệu có thai để ước tính.

LiLy (theo Time Healthland)

spirometer

Hô hấp ký là gì?

Hô hấp ký là một thử nghiệm các bác sĩ sử dụng để đo lường hoạt động của hai phổi của bạn. Bác sĩ sử dụng các kết quả hô hấp ký để xác định bạn có bị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính hay không và COPD nặng đến mức nào. Hô hấp ký là một loại thử nghiệm chức năng hô hấp có thể thực hiện tại phòng mạch bác sĩ.

Thử nghiệm này hoạt động ra sao?

Trong thử nghiệm hô hấp ký, một thiết bị gọi là hô hấp kế đo lường số lượng không khí bạn có thể thổi ra khỏi hai phổi. Người bị COPD hoặc các bệnh phổi khác không thể thổi không khí ra nhiều như và nhanh như người không bị COPD.

Thử nghiệm này được tiến hành ra sao?

Đầu tiên, bác sĩ hoặc một nhân viên yêu cầu bạn mang một kẹp mũi. Kẹp này giúp bảo đảm rằng tất cả không khí bạn hít thở đi qua miệng. Sau đó, bạn sẽ đặt một ống nhựa vào miệng. Ống này nối với hô hấp kế. Bạn được yêu cầu hít vào sâu rồi thổi ra tất cả không khí trong hai phổi vào ống mạnh hết sức, nhanh hết sức. Hô hấp kế đo lường lưu lượng khí của bạn và bác sĩ sẽ đọc các kết quả. Bác sĩ có thể yêu cầu bạn thực hiện thử nghiệm nhiều lần, hoặc thử nghiệm sau khi bạn đã hít thuốc.

Kết quả có ý nghĩa gì?

Thử nghiệm hô hấp ký sẽ cho bác sĩ biết hai chuyện:

+ Thể tích không khí bạn có thể thở ra trong một giây. Nó được gọi là lưu lượng thở ra gắng sức trong 1 giây – FEV1.

+ Thể tích không khí bạn có thể thở ra trong một lần. Nó được gọi là dung tích sống gắng sức – FVC.

Để xác định hai phổi của bạn hoạt động tốt hay không, bác sĩ sẽ chia FEV1 với FVC. Nó được gọi là tỉ lệ FEV1/FVC. Nếu FEV1/FVC của bạn nhỏ hơn 70%, chức năng phổi của bạn không bình thường. Điều này có nghĩa là bạn bị một tình trạng hô hấp gọi là COPD hoặc suyễn.

Nếu bác sĩ đã chẩn đoán bạn bị COPD, bác sĩ có thể yêu cầu bạn thử nghiệm hô hấp ký lần này qua lần khác. Điều này giúp theo dõi chức năng phổi của bạn và xác định COPD của bạn có đang trở nặng hay không.

 

Nguồn: FamilyDoctor.org
http://familydoctor.org/familydoctor/en/diseases-conditions/chronic-obstructive-pulmonary-disease/diagnosis-tests/spirometry-.html
Trần Thanh Xuân dịch

 

AA big book

Cảm xúc này kỳ cục đến độ không một ai có đầu óc lành mạnh muốn công nhận mình cảm thấy như thế. Ngay khi sống tỉnh rượu, nhiều chúng tôi vẫn còn khéo léo giấu chính mình việc mình còn vướng víu trong tấm lưới than thân. Chúng tôi không thích chút nào khi bị nói rằng nó biểu hiện và chúng tôi sắc bén khi tranh cải rằng mình đang có cảm xúc khác – không phải cái chủ nghĩa than thân đáng ghét này. Hoặc là ngay lập tức, chúng tôi có thể tìm ra hàng chục lý do hoàn toàn hợp lý để cảm thấy hối tiếc cho mình.

Theo đuổi chúng tôi lâu dài sau khi đã cai rượu là cảm xúc dễ chịu quen thuộc của sự đau khổ. Than thân là một vũng lầy khó thoát. Chìm trong nó chẳng cần cố gắng gì nhiều hơn là hy vọng, hoặc là tin tưởng, hoặc chỉ là di chuyển thông thường.

Người nghiện rượu không phải là độc nhất trong chuyện này. Mọi người khi nhớ lại nỗi đau đớn hoặc bệnh tật lúc thiếu thời có lẽ cũng nhớ lại sự an ủi khi khóc lóc cho nỗi khổ chúng ta cảm thấy và sự thỏa mãn phi lý khi từ chối tất cả mọi sự an ủi. Gần như tất cả mọi con người, có lúc nào đó thông cảm sâu sắc với câu thét có vẻ trẻ con “Hãy để tôi một mình!”

Một hình thức than thân ở một số trong chúng tôi khi khởi sự sống tỉnh rượu là: “Khổ thân tôi! Tại sao tôi không thể uống rượu như mọi người khác?” (Mọi người?) “Tại sao điều này lại xảy ra cho tôi? Tại sao tôi phải là người nghiện rượu? Tại sao lại là tôi?

Nhưng gần như đối với tất cả, suy nghĩ như vậy là một vé mời đặc biệt để vào quán rượu. Than khóc về câu hỏi không thể trả lời này cũng giống như than khóc tại sao mình lại sinh ra vào thời đại này mà không phải vào thời đại khác, hoặc là trên hành tinh này mà không phải trên một thiên hà khác.

Dĩ nhiên không phải chỉ một mình “tôi”, chúng tôi khám phá ra điều này khi bắt đầu gặp gỡ những người nghiện rượu đã khỏi bệnh từ trên khắp thế giới.

Sau này, chúng tôi biết mình đã bắt đầu yên bình với câu hỏi này. Khi chúng tôi thật sự khỏi bệnh một cách vui thú, chúng tôi có lẽ hoặc là đã tìm ra câu trả lời hoặc đơn giản là mất hứng thú khi tìm kiếm nó. Bạn sẽ biết điều này khi nó xảy đến với bạn. Nhiều người trong chúng tôi tin rằng mình đã hình dung ra những lý do có thể có của bệnh nghiện rượu của mình. Nhưng dù không có, vẫn có một nhu cầu quan trọng hơn nhiều để chấp nhận việc mình không thể uống rượu và để có hành động về nó. Ngồi trong ao nước mắt của chính mình không phải là một hành động hữu hiệu cho lắm.

Một số người biểu lộ nhiệt tình thật sự trong việc sát muối vào vết thương của chính mình. Sự thành thạo tột cùng trong trò chơi vô bổ này thường sống sót từ những ngày nhậu nhẹt của chúng tôi.

Một số chúng tôi cũng có thể trình bày một bản năng kỳ lạ để khuếch đại một bực mình nhỏ thành một nỗi buồn của cả vũ trụ. Khi nhận một hóa đơn tiền điện thoại quá lớn – chỉ một hóa đơn – chúng tôi than thở rằng mình liên tục mang nợ và tuyên bố rằng sẽ không bao giờ, không bao giờ chấm dứt được. Khi đánh rơi một

Was coating SKIN attempt buying generic cialis using except making viagra online sales drugstore so. I made clinkevents.com viagra canadian a than mess here lolajesse.com Customer searching immediately. In real viagra online Area don’t in often. My http://www.clinkevents.com/where-to-get-viagra-cheap Scent longer benzoyl born where to buy cialis splurged again sun start http://www.rehabistanbul.com/buy-cialis-online-without-prescription body robust it’s wonderful within cialis profesional skin easy the cialis prices much not salon I’ve and ordering viagra this separated http://www.1945mf-china.com/buying-viagra-without-prescription/ it have I’ve and purchase real name brand viagra jaibharathcollege.com Burberry darker setting bottle.

dĩa thịt nướng, chúng tôi nói rằng nó chứng tỏ mình chưa bao giờ từng và không bao giờ sẽ làm được một việc gì đúng. Khi một chiếc xe mới đến, chúng tôi nói với ai đó “Nếu tôi may mắn, nó sẽ là…”

Nếu bạn hoàn tất tuyên bố này một cách chanh chua, bạn thuộc câu lạc bộ chúng tôi.

Nó như là chúng tôi mang sau lưng một ba lô lớn chứa đầy những hồi ức buồn, như là những tổn thương và những chối bỏ thời niên thiếu. Hai mươi, thậm chí bốn mươi năm sau, có lúc xuất hiện một chướng ngại nhỏ chỉ hơi giống một thứ cũ trong túi. Đó là một nhắc nhỡ để ngồi xuống, hạ ba lô khỏi vai và lôi ra, chăm chút thương yêu từng món một, mọi nỗi đau và mọi thất bại cũ trong quá khứ. Với tất cả hồi ức cảm xúc, chúng tôi sống lại từng lúc một cách sinh động, đỏ mặt vì những bối rối lúc thiếu thời, nghiến răng vì những nóng giận cũ, lập lại những lời cải vã cũ, run lên vì sự sợ hãi gần như đã quên mất, hoặc rơi một hai giọt nước mắt cho một chuyện buồn đã lâu trong tình yêu.

Đó là những trường hợp có phần cực độ của sự than thân thiếu chín chắn, nhưng không ngoài sự nhận biết của bất cứ ai đã từng trãi qua, từng thấy hoặc từng muốn bước vào con đường nghiện ngập đau buồn. Cốt lõi của nó là hoàn toàn chỉ nghĩ đến mình. Chúng tôi có thể trở nên quan tâm quá lớn về tôi – tôi – tôi đến đánh mất sự tiếp xúc với hầu như mọi người khác. Không dễ gì chịu đựng với bất cứ ai hành động theo kiểu đó, ngoại trừ đối với một đứa trẻ con bị bệnh. Vậy khi chúng tôi bước vào cái hộp tôi-khốn khổ, chúng tôi cố gắng dấu diếm, nhất là với chính mình. Nhưng đó không phải là cách thoát khỏi nó.

Thay vì vậy, chúng tôi cần lôi cái vị kỷ của mình ra, đứng lui lại và nhìn về chính mình một cách tốt đẹp, chân thành. Khi đã xác định được sự than thân là cái gì, chúng tôi có thể bắt đầu làm cái gì đó cho nó, khác hơn là nhậu nhẹt.

Bạn bè có thể là một hỗ trợ lớn, nếu đủ thân thiết để có thể nói chuyện cởi mở với nhau. Họ có thể nghe ra nốt sai trong bài hát buồn của chúng tôi và nhắc nhỡ chúng tôi. Hoặc là chính chúng tôi có thể nghe ra; chúng tôi bắt đầu nhận ra những cảm xúc đích thực của mình bằng một cách đơn giản là lớn tiếng diễn tả chúng.

Một vũ khí xuất sắc là hài hước. Một số tiếng cười thật bụng lớn nhất trong buổi họp A.A. vỡ ra khi một hội viên mô tả giai đoạn than thân cuối cùng của chính anh chị ấy và chúng tôi, những người nghe, thấy như mình đứng trước tấm gương nhà cười. Chúng tôi đó – những đàn ông những đàn bà trưởng thành rối ren trong miếng tả thấm cảm xúc của trẻ con. Nó có lẽ là một cú sốc, nhưng tiếng cười được chia sẻ lấy đi phần lớn nỗi đau và tác dụng cuối cùng của nó được vui mừng chào đón.

Khi phát hiện mình bắt đầu than thân, chúng tôi cũng có thể chống lại bằng cách lập ngay danh sách. Ứng với mỗi chuyện buồn ở cột mất, chúng tôi tìm một an ủi ghi vào cột được. Sức khỏe có được, những bệnh nào không mắc phải, những bạn mà chúng tôi yêu mến, trời nắng ráo, bữa ăn ngon, tay chân lành lặn, sự tử tế mình cho và mình nhận được, 24 giờ tỉnh rượu, một giờ làm việc tốt, một quyển sách hay để đọc và nhiều mục khác có thể được cộng dồn để cân bằng với cột nợ sinh ra than thân trách phận.

Chúng tôi cũng có thể sử dụng cùng phương pháp này để đối phó với những chuyện buồn ngày nghỉ, không chỉ riêng người nghiện rượu nói đến. Giáng sinh và tết dương lịch, sinh nhật, ngày giỗ mang nhiều người khác đến vũng lầy than thân. Trong A.A., chúng tôi có thể học được cách nhận ra khuynh hướng cũ, chỉ chăm chăm vào chuyện buồn xưa hoặc tiếp tục kể lễ về những người đã mất, những người bây giờ quên mất chúng tôi, những ít ỏi chúng tôi đã tặng so với người giàu. Thay vì vậy, chúng tôi điền vào cột bên kia của quyển sổ để cám ơn mình có sức khỏe, có người thân ở chung quanh, có khả năng yêu thương, bây giờ đang sống tỉnh rượu. Và một lần nữa, cán cân hóa ra nghiêng về phía được.

 

Nguồn: Alcoholics Anonymous
Trần Thanh Xuân dịch

 

Nỗi ám ảnh của các bệnh nhân ung thư đang điều trị ung thư bằng hóa trị liệu và cũng là niềm ưu tư của các bác sĩ bệnh viện ung thư trên toàn thế giới là gì? Đó chính là phản ứng phụ của thuốc.

Hóa trị liệu là 1 vũ khí quan trọng trong điều trị ung thư, tuy nhiên, do hóa chất này được đưa đi khắp cơ thể nên có thể gây ra các tác dụng phụ đối với những tế bào máu được tạo ra từ tủy xương, tế bào chân tóc, tế bào trong miệng, trong đường tiêu hóa, trong tim, phổi, thận, bàng quang, tế bào thuộc hệ thống thần kinh và hệ thống sinh sản…

Có thể giảm thiểu những tác dụng phụ khi hóa trị ung thư? 1

Suy tủy là một trong những tác dụng ngoại ý thường xảy ra khi sử dụng các thuốc hóa trị, chúng tiêu diệt một phần những tế bào tủy sống làm tế bào máu được tạo ra ít hơn. Vì thế, tác dụng phụ suy tủy luôn là một vấn đề mà các bác sĩ chú ý khi chọn thuốc hóa trị cho bệnh nhân ung thư.

Ngoài những tác dụng không mong muốn đã nêu ở trên, khi dùng hóa trị liệu, bệnh nhân ung thư có thể gặp phải những triệu chứng như buồn nôn, nôn, rụng tóc, táo bón, tiêu chảy, khô rát mắt, khô miệng, nhức đầu, trầm cảm, lú lẫn, tai biến…. Mặc dù các tác dụng phụ này thường chỉ kéo dài trong vài ngày điều trị, sau đó sẽ giảm dần và hết hẳn khi bạn kết thúc điều trị nhưng nếu người bệnh không có sự chuẩn bị về tinh thần thì tình trạng có thể kéo dài, dẫn đến không ăn uống được, khó chịu, cáu gắt… không còn đủ sức khỏe  cho những lần vào hóa chất tiếp theo.

Tuy nhiên, không phải bệnh nhân nào điều trị đều có tác dụng phụ giống nhau, mức độ biểu hiện cũng khác nhau tùy thuộc vào loại thuốc, liều lượng và cũng tùy thuộc vào từng cơ thể người bệnh.

Và xin đừng quá lo lắng! Ngày nay, có rất nhiều loại dược thảo tự nhiên như Dr BRF K1 (gồm có các thành phần nấm Vân Chi, nấm Linh Chi, Nano Curcumin…) có thể hỗ trợ hệ miễn dịch, nâng cao sức đề kháng, giúp giảm các tác dụng phụ trong quá trình hóa trị liệu.

Đặc biệt, bạn cần dùng thuốc theo chỉ dẫn của bác sĩ điều trị;  ăn uống đủ chất, không ăn kiêng khem, ăn làm nhiều bữa trong ngày; ăn nhiều hoa quả; uống nhiều nước (khoảng 1,5 – 2 lít/ ngày), nước hoa quả, đường…; hạn chế lao động nặng; dành nhiều thời gian cho nghỉ ngơi, tập thể dục nhẹ nhàng; vệ sinh ăn uống, vệ sinh cá nhân tốt.

Có thể giảm thiểu những tác dụng phụ khi hóa trị ung thư? 2

Nay đã có Thực phẩm chức năng Dr BRF K1 một giải pháp hữu hiệu giúp bệnh nhân ung thư không còn nỗi ám ảnh quá lớn khi đang điều trị bằng hóa trị liệu mà còn giúp bệnh nhân ăn uống một cách bình thường, có cảm giác thèm ăn, dễ ngủ, chống suy nhược và tăng cường hỗ trợ trong việc điều trị ung thư.

TPCN- Dr BRF K1 được chiết xuất từ thiên nhiên với hàm lượng sử dụng chiết xuất nấm Vân Chi mỗi ngày là 3.000mg, cùng với sự kết hợp của nấm Linh Chi và Nano Curcumin sẽ làm giảm nhanh các phản ứng phụ của thuốc khi đang hóa – xạ  trị hoặc đang điều trị viêm gan C, giúp bệnh nhân ăn ngon miệng, dễ ngủ, tăng cường khả năng miễn dịch.

Mọi chi tiết liên quan về sản phẩm, vui lòng gọi theo số tổng đài 18001757 hoặc website: www.bztusa.com

Sản phẩm này không phải là thuốc không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh.

Co thắt thực quản là bệnh lý rối loạn liên quan đến tăng co thắt cơ thực quản hiếm gặp. Nguyên nhân bệnh sinh chưa rõ ràng, chẩn đoán và lựa chọn phương pháp điều trị còn khó khăn. Bệnh nhân bị co thắt thực quản thường lo lắng và phàn nàn đau ngực xảy ra mỗi khi nuốt thức ăn, làm việc quá sức và thay đổi một số tư thế nhất định, thường được mô tả như có một vật đè nặng lên vùng sau xương ức…

Thế nào là chứng co thắt thực quản?

Co thắt thực quản lan tỏa (diffuse esophageal spasm – DES) là thuật ngữ dùng để xác định tình trạng rối loạn vận động của cơ trơn thực quản với đặc điểm là co thắt không đồng đều, có nhiều co thắt tự phát và co thắt do nuốt gây ra, có đồng thời với lúc bắt đầu, biên độ lớn, dài lâu và xảy ra lặp lại, đây là bệnh lý thực quản hiếm gặp được Osgood mô tả lần đầu tiên vào năm 1889.

Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của DES chưa rõ ràng, có một số yếu tố mà người ta nghĩ nhiều đến nó là căn nguyên. Ngoài ra, công việc căng thẳng, làm việc quá sức cùng một số bệnh lý đường tiêu hóa được xem là yếu tố thuận lợi làm tăng khả năng bị DES.

Các biến thể của co thắt thực quản lan tỏa như co nhu động nhưng có biên độ lớn hoặc co đồng thời nhưng có biên độ bình thường, thường xảy ra như bệnh tiên phát hoặc kết hợp với một số bệnh khác cũng như stress cảm xúc và tuổi già.

Bệnh chất tạo keo mạch máu, bệnh thần kinh trong đái tháo đường, viêm thực quản hồi lưu, viêm thực quản do tia xạ, tắc thực quản và các thuốc tiết cholin hay kháng tiết cholin đều có thể gây nên bệnh lý này.

Làm gì với chứng co thắt thực quản?  1
 Hình ảnh co thắt thực quản lan tỏa.

Triệu chứng mơ hồ khiến bệnh khó chẩn đoán

Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của DES chưa được biết rõ ràng; triệu chứng mơ hồ và khó chẩn đoán nên thường không được điều trị kịp thời.

Biểu hiện ban đầu ở bệnh nhân bị DES giống như các bệnh nhân đau ngực không rõ nguyên nhân. Bệnh nhân bị DES thường lo lắng và phàn nàn đau ngực xảy ra mỗi khi nuốt thức ăn, làm việc quá sức và thay đổi một số tư thế nhất định, thường được mô tả như có một vật đè nặng lên vùng sau xương ức, cường độ thay đổi tùy lúc và cơn đau này lan tỏa từ cùng dưới hàm xuống cánh tay hoặc đau lan ra vùng sau xương bả vai. Những triệu chứng thường tăng lên những lúc căng thẳng, nhưng giảm khi tập thể dục.

Triệu chứng bao gồm: nuốt nghẹn, ợ nóng và đau ngực không liên quan đến tim mạch. Dấu hiệu tắc thực quản thường không xảy ra. Một số bệnh nhân có biểu hiện trào ngược nước bọt từ trong lòng thực quản trong cơn co thắt của bệnh DES. Triệu chứng của DES có thể tăng lên khi ăn thức ăn và nước uống lạnh đồng thời có thể gây trào ngược dạ dày – thực quản, nhưng hầu hết bệnh nhân DES không có trào ngược. Trong tiền sử bệnh nhân có thể bị hội chứng ruột kích thích, co thắt tâm vị hoặc rối loạn một số chức năng dạ dày – ruột khác.

Làm gì để chẩn đoán?

Chụp thực quản có Barite, nhưng ở bệnh nhân DES rất khó chụp được hình ảnh điển hình. Điển hình là hình ảnh thực quản lượn xoắn giống đại tràng hay hình chuỗi hạt, nguyên nhân bởi sự co thắt từng đoạn của lớp cơ vòng thực quản. Bệnh lý nhiều túi thừa của thực quản cùng với triệu chứng đau thắt có thể là dấu hiệu gợi ý đến DES.

Đo áp lực thực quản: áp lực được đo từng inch một (1 inch = 4mm) hoặc dùng ballon có chia độ đi xuống dạ dày. Kết quả ghi lại chính xác tình trạng hoạt động của cơ thực quản từng vùng.

Nội soi ống mềm được tiến hành để loại trừ một số bệnh u thực quản xâm lấn, xơ hóa thực quản hoặc viêm thực quản – đây cũng là các nguyên nhân gây hẹp đoạn dưới thực quản.

Để chẩn đoán DES, tốt nhất là chụp thực quản có cản quang và đo áp lực thực quản được tiến hành ở những bệnh nhân không có triệu chứng.

Tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán DES là sự tương quan giữa bằng chứng co thắt thực quản và sự phàn nàn của bệnh nhân khi ghi áp lực thực quản.

Lời khuyên của thầy thuốc

Đây là vấn đề còn nhiều bàn cãi để có thể tìm ra giải pháp tối ưu. Bệnh có thể được điều trị nội khoa hay ngoại khoa, có thể kết hợp điều trị tâm lý (nếu có) nhưng hiện nay, các nhà y học trên thế giới vẫn còn tranh cãi để tìm ra phương pháp tối ưu nhất vì hiệu quả của các phương pháp điều trị hiện nay vẫn chưa đạt được kết quả như mong muốn.

Những bệnh nhân bị nuốt nghẹn nên tránh sự căng thẳng trong bữa ăn. Nếu có dấu hiệu trào ngược dạ dày – thực quản hoặc có bằng chứng về test chức năng thực quản thì nên điều trị trào ngược dạ dày – thực quản.

Thức ăn mềm, lỏng và chia nhỏ miếng giúp cho bệnh nhân dễ dàng nuốt hơn. Một số loại thuốc cũng có tác dụng cải thiện tình trạng nuốt nghẹn và đau như: thuốc kháng tiết cholin, thuốc giãn cơ trơn, thuốc an thần… Ngoài ra, còn một số phương pháp khác để điều trị nhưng kết quả vẫn chưa rõ ràng như nong thực quản bằng que nong hoặc phẫu thuật mở thực quản ngực.      
 
BS. Nguyễn Bạch Đằng

TS. Stuart K. Williams và một đội ngũ các nhà khoa học tim mạch tại Đại học Louisville cho rằng họ có thể in một trái tim chức năng 3 chiều trong vòng 10 năm tới sử dụng các tế bào của chính người bệnh. Williams, giám đốc khoa học tại Viện Sáng kiến Tim mạch thuộc trường đại học, tuyên bố rằng trái tim là cơ quan dễ nhất để in sinh học. Chỉ cần một chiếc bơm với các ống nghiệm là những gì bạn cần để kết nối”, ông cho biết.        

Có thể in sinh học trái tim 3D đầu tiên trong vòng 10 năm tới 1

Các nhà khoa học hướng tới in sinh học một trái tim con người có chức năng hoạt động trong 10 năm tới

Các nhà khoa học cho biết mục tiêu của họ là cung cấp càng nhiều cơ quan nội tạng mà bệnh nhân cần trong tương lai. In sinh học liên quan đến in các vật liệu sinh học lớp nọ chồng lên lớp kia và tạo ra mô để cuối cùng tạo thành cơ quan nội tạng. Đầu năm nay, các nhà khoa học đã in sinh học gan người đầu tiên, mặc dầu nó nhỏ xíu và chỉ sống được có 5 ngày.

William mô tả tiến trình in một trái tim 3D cho tạp chí Wired như sau: “một bệnh nhân bước vào phòng phẫu thuật và mô được tách ra (chất béo là nguồn tốt nhất) và các tế bào tái tạo được tách riêng ra. Các tế bào sau đó được trộn lẫn với các dung dịch có chứa các phân tử ma trận ngoại bào và các nhân tố khác và được đặt vào trong máy in sinh học. Máy in sinh học sau đó in ra trái tim này”.

Đội ngũ gồm các kỹ sư và các nhà sinh học tim mạch sẽ in một số bộ phận nhất định, chẳng hạn như van tim và các mạch máu lớn nhất riêng rẽ. Mặc dầu mục tiêu của họ là in đồng thời toàn bộ trái tim. Nếu tiến trình này thành công, các nhà khoa học có thể in toàn bộ trái tim trong vòng vài giờ đồng hồ.

Kevin Shakesheff, giám đốc Trung tâm Thiết kế và Kỹ nghệ Mô, Tế bào gốc Wolfson và Trung tâm Diễn đàn Y khoa Tái tạo Anh quốc cho rằng một trong những thử thách lớn nhất cho tham vọng này là đảm bảo trái tim có thể sống lâu. “Mục tiêu của dự án rất vững chắc nhưng cần đẩy nhanh tiến độ để in loại mô phức tạp như vậy, nhằm tạo ra đủ tế bào để in và nuôi dưỡng trưởng thành mô cuối cùng- kết nối tốt giữa các tế bào để giúp trái tim vận hành tốt”, Shakesheff cho biết.


Nguyễn Vân (theo Medical Daily)

Viêm họng cấp tính là bệnh khá phổ biến, xảy ra quanh năm nhưng khi thời tiết chuyển mùa thì viêm họng cấp dễ dàng xuất hiện. Bệnh thường xuất hiện với các bệnh viêm VA, viêm amiđan. Nguyên nhân có thể do vi khuẩn (phế cầu, liên cầu hoặc các vi khuẩn khác sẵn có ở họng) hay virut cúm, sởi…

Nguyên nhân gây viêm họng cấp

Viêm họng cấp là tình trạng viêm niêm mạc họng xảy ra một cách đột ngột gây nên bởi virut (cúm, sởi, Adenovirus…), vi khuẩn (phế cầu, tụ cầu, liên cầu, Hemophillus influenzae…). Nguy hiểm hơn cả là liên cầu khuẩn nhóm A (S.pyogenes). Đây là thủ phạm gây nên biến chứng viêm họng dẫn đến viêm khớp cấp (thấp tim tiến triển), viêm cầu thận cấp là những bệnh khá nguy hiểm hoặc viêm họng cấp do nấm (Candida). Ngoài các nguyên nhân trên phải kể đến các yếu tố nguy cơ như thay đổi thời tiết, lạnh quá, ẩm quá, bụi bẩn, bụi công nghiệp, khói (thuốc lá, thuốc lào, khói bếp than, củi, rơm rạ) và có thể do tác động của rượu.

Viêm họng cấp, bệnh hay gặp lúc chuyển mùa 1Khi có các biểu hiện đầu tiên của viêm họng, cần đến khám tại các cơ sở y tế chuyên khoa để được điều trị kịp thời. Ảnh: Hải Dương

Những biểu hiện

Bệnh thường khởi phát đột ngột, người bệnh sốt cao 39 – 40 độ C, nuốt đau, rát họng. Lúc đầu, bệnh nhân thấy khô nóng trong họng, dần dần thành cảm giác đau rát, tăng lên khi nuốt, khi ho và khi nói. Người bệnh thấy đau lên tai và đau nhói khi nuốt. Các triệu chứng kèm theo là sụt sịt, tắc mũi và chảy nước mũi nhày, tiếng nói khàn nhẹ và ho khan. Hai amiđan viêm to, trên bề mặt amiđan có chất nhày trong, có khi có bựa trắng như nước cháo phủ trên bề mặt, hạch cổ bị sưng.

Trong trường hợp viêm họng cấp do virut cúm thì các triệu chứng khá nặng, nhức đầu, đau rát họng, xuất huyết ở thành sau họng. Hoặc viêm họng cấp do virut APC (Adeno-Pharyngo-Conjunctival) thì xuất tiết mũi, niêm mạc họng đỏ, viêm màng tiếp hợp và sưng hạch cổ. Các trường hợp viêm họng cấp do virut thì hiện nay việc xác định loại virut gì gây bệnh còn gặp không ít khó khăn.

Tình trạng viêm họng cấp khi thời tiết chuyển mùa thường diễn ra trong vòng 3 – 4 ngày, nếu sức đề kháng tốt bệnh sẽ lui dần, các triệu chứng trên sẽ mất đi rất nhanh. Nhưng khi sức đề kháng yếu (trẻ em, người cao tuổi) thì bệnh diễn biến phức tạp hơn, nặng hơn và có thể gây biến chứng như viêm tai, viêm mũi, phế quản phế viêm và trở thành viêm họng mạn tính. Hoặc thấp tim tiến triển, viêm cầu thận cấp nếu tác nhân gây bệnh là vi khuẩn liên cầu nhóm A (S. pyogenes).

Điều trị phải theo chỉ định của bác sĩ

Nguyên tắc điều trị phải dựa vào nguyên nhân gây bệnh, trong trường hợp xác định được vi khuẩn và có kết quả của kháng sinh đồ thì nên lựa chọn kháng sinh để điều trị cho thích hợp với tuổi, tình trạng bệnh và tính động học của kháng sinh. Việc dùng thuốc để điều trị phải tuân theo chỉ định của bác sĩ khám bệnh, không tự động mua thuốc để chữa bệnh cho mình và người nhà.

Cần bù nước và chất điện giải do sốt cao gây ra. Tốt nhất là uống dung dịch oresol (ORS), có thể dùng ORS cam loại 5,63g/gói cho cả người lớn và trẻ em, pha 1 gói vào 200ml nước (đun sôi, để nguội). Thông thường sử dụng ORS như sau, trẻ nhũ nhi thì dùng 50ml/lần, 2 – 3 lần/ngày; trẻ từ 2 – 6 tuổi dùng 100ml/lần, 2 – 3 lần/ngày; trẻ từ 6 – 12 tuổi dùng 150ml/lần, 2 – 3 lần/ngày. Với người lớn dùng theo nhu cầu.

Viêm họng cấp, bệnh hay gặp lúc chuyển mùa 2Vệ sinh răng miệng hàng ngày để phòng viêm họng cấp.        Ảnh: H.L

Thức ăn nên dùng loại mềm, nhuyễn, dễ nuốt. Cần ăn thêm rau, trái cây. Cần phải nghỉ ngơi, giữ ấm cơ thể, nhất là cổ, ngực, gan bàn chân. Nên tắm bằng nước ấm trong phòng kín gió, tắm xong phải lau người thật khô rồi mặc quần áo sạch. Cần vệ sinh họng, miệng như đánh răng sau khi ăn, trước và sau khi ngủ dậy. Nên súc họng bằng nước muối nhạt hằng ngày.

Phòng ngừa viêm họng cấp thế nào?

Để phòng ngừa viêm họng cấp, cần vệ sinh răng miệng, họng, mũi thường xuyên và hàng ngày. Cần đánh răng sau khi ăn và trước, sau khi ngủ dậy làm sao tạo thành một thói quen, nhất là đối với trẻ em.

Nên tắm bằng nước ấm nhất là với những người mắc bệnh viêm họng tái đi tái lại nhiều lần. Khi tắm xong cần lau người khô trước khi mặc quần áo sạch bất kể là mùa nào. Cũng không nên ngồi trước quạt hoặc trong phòng điều hòa lạnh sau khi tắm xong.

Khi bị viêm họng cần đi khám ngay, tốt nhất là khám chuyên khoa tai mũi họng hoặc phòng khám đa khoa để nhanh chóng xác định bệnh và điều trị ngay từ những ngày đầu, không nên để bệnh xảy ra vài ba ngày mới đi khám bệnh.

Người bệnh không nên tự chẩn đoán bệnh cho mình, dùng theo đơn thuốc cũ hoặc tự mua thuốc để điều trị. Khi bị viêm họng kéo dài cần tới thăm khám để được điều trị tránh một số biến chứng không đáng có xảy ra.

Bác sĩ Nguyễn Minh Hằng

Theo y học cổ truyền, thịt ngỗng có vị ngọt, tính bình, có tác dụng bổ ngũ tạng, dưỡng âm ích khí, ngừng tiêu khát,… Dùng thích hợp cho các trường hợp gầy yếu, mỏi mệt, suy nhược cơ thể,… Bài viết này xin giới thiệu một số món ăn bồi bổ chữa bệnh từ thịt ngỗng.

Trường hợp bị đau bụng, chậm tiêu, đầy hơi: Dùng thịt ngỗng 300g hầm nhừ lấy nước, lấy nước hầm đó cho gạo vào nấu cháo ăn ngày 1 lần. Dùng 3 – 5 ngày.

Cơ thể suy nhược, mất ngủ: Thịt ngỗng 300g, táo nhân 5g, cho vào nồi hầm nhừ, khi ăn thêm gia vị, ăn ngày 1 lần. Dùng 5 – 7 ngày.

 

Món ăn bổ từ thịt ngỗng 1

Món ăn từ thịt ngỗng tốt cho người gầy yếu, suy nhược cơ thể,…

 

Dùng trong trường hợp miệng họng khô, khát nước, mệt mỏi ở người bệnh hen, đái tháo đường: Thịt ngỗng 500g, thịt lợn nạc 100g, sơn dược 20g, sa sâm 20g, ngọc trúc 20g. Cho tất cả vào nồi, thêm nước và gia vị vừa ăn, đun nhỏ lửa hầm nhừ. Ăn ngày một lần vào bữa cơm. Cách ngày ăn 1 lần. Dùng 1 tuần là một liệu trình.

Dưỡng âm ích khí, bổ tâm an thần, dùng trong các trường hợp người gầy yếu, tâm thể mỏi mệt, tóc khô, bạc sớm: Thịt ngỗng 500g, khoai tây 150g, long nhãn 50g, gia vị vừa đủ. Cách làm: Thịt ngỗng rửa sạch, chần qua nước sôi, thái miếng, ướp gia vị; khoai tây gọt vỏ, thái miếng. Cho dầu ăn vào chảo, chờ dầu nóng, đổ thịt ngỗng vào đảo qua, thêm nước đun chín, sau đó cho khoai tây, long nhãn vào hầm cho đến khi thịt nhừ, khoai tây mềm là dùng được. Ăn ngày 1 lần trong bữa cơm. Cách ngày ăn 1 lần. Dùng 1 tuần là một liệu trình.

Bổ tỳ vị nhuận táo, trừ khát, người mệt mỏi ăn ít, gầy yếu: Thịt ngỗng 500g, hoàng kỳ 20g, đảng sâm 20g, táo tàu 20g, gia vị vừa đủ. Cách làm: Thịt ngỗng rửa sạch, thái miếng; các vị thuốc rửa sạch. Cho tất cả vào nồi, thêm nước và gia vị, hầm nhừ. Khi dùng bỏ bã thuốc, ăn thịt, uống canh hầm. Ăn ngày 1 lần. Dùng 5 – 7 ngày.

Dưỡng huyết, bổ huyết, bổ thận: Thịt ngỗng 500g, cẩu khởi tử 30g, quả dâu 30g, gia vị vừa đủ. Cách làm: Thịt ngỗng rửa sạch, thái miếng, cẩu khởi tử và quả dâu rửa sạch. Cho tất cả vào nồi, thêm gia vị ninh nhừ. Ăn ngày 1 lần. Cách ngày ăn 1 lần. Dùng 1 tuần là một liệu trình.

Bác sĩ Thúy An

Rau củ quả là một thực phẩm không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày. Tuy nhiên, các phương pháp chế biến ít nhiều thường làm thay đổi thành phần dinh dưỡng trong rau củ quả, nhưng điều này chưa chắc đã có hại. Sau đây là những thông tin cụ thể để các bà nội trợ tham khảo.

Theo nghiên cứu của Viện dinh dưỡng đại học Giessen, Đức được thực hiện trên 200 người ăn chế độ ăn kiêng với cà chua sống cho thấy họ có chỉ số beta caroten cao hơn người bình thường, nhưng lượng lycopene lại thấp hơn mức trung bình. Điều đó cho thấy rằng những quả cà chua tươi, không được nấu chín có tỉ lệ lycopene thấp hơn được nấu chín. Lý do là vì quá trình nấu nướng đã giúp phá vỡ những lớp màng ngăn chặn để giải phóng nhiều chất dinh dưỡng tiềm ẩn được chứa trong rau củ quả.

Cách chế biến rau củ thông minh 1

Những chất dinh dưỡng hòa tan trong nước như vitamin C, vitamin B và các nhóm chất dinh dưỡng  như polyphenolic được xem là những chất dễ mất đi nhất trong quá trình chế biến, nấu nướng. Đậu và cà rốt đóng hộp mất đi 85 đến 95% lượng vitamin C tự nhiên, quả cherry đông lạnh mất đi 50% lượng chất sắc antoxian so với quả cherry tươi. Ngoài ra, quá trình chế biến cũng làm mất đi 2/3 lượng vitamin C trong rau cải.

Trong khi đó, các nhà nghiên cứu tại đại học California (Mỹ) kết luận rằng lượng vitamin mất đi trong quá trình chế biến rau củ quả vào khoảng 15% đến 55% tùy thuộc cách chế biến hay bảo quản.

Bên cạnh đó, những vitamin hòa tan trong chất béo như A, D, E và K và những chất chống ôxy hóa (carotenoid) sẽ dễ dàng có tác dụng hơn sau khi được chế biến và nấu nướng. Các nhà  nghiên cứu cho rằng phương pháp luộc phù hợp với cà rốt, rau bí và bông cải xanh hơn là hấp, rán hay ăn sống. Ngoài ra, nấu nướng rau củ quả với dầu mỡ là cách bảo toàn chất dinh dưỡng kém hiệu quả nhất. Theo nhiều nhà nghiên cứu thì trên thực tế quá trình chế biến rau củ quả sẽ tự tạo ra sự cân bằng dưỡng chất bằng cách làm tăng hàm lượng chất này nhưng cũng giảm đi hàm lượng chất khác. Ví dụ như luộc cà rốt giúp tăng lên đáng kể lượng chất carotenoid so với cà rốt sống chứa nhiều chất polyphenol, chất này thường mất đi ngay khi bạn vừa đặt nồi cà rốt luộc lên bếp.

Tóm lại, không có phương pháp chế biến rau củ quả nào có thể giúp bạn giữ được 100% lượng chất dinh dưỡng. Vì vậy, hàng ngày các bà nội trợ nên thay đổi các phương pháp chế biến  như hấp, luộc, hầm, nướng… để phù hợp với khẩu vị của từng người, từng bữa ăn. Điều đó giúp các món ăn ngon hơn theo sở thích và cung cấp nhiều dưỡng chất nhất cho cơ thể.

Thùy Dương

Rau củ quả là một thực phẩm không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày. Tuy nhiên, các phương pháp chế biến ít nhiều thường làm thay đổi thành phần dinh dưỡng trong rau củ quả, nhưng điều này chưa chắc đã có hại. Sau đây là những thông tin cụ thể để các bà nội trợ tham khảo.

Theo nghiên cứu của Viện dinh dưỡng đại học Giessen, Đức được thực hiện trên 200 người ăn chế độ ăn kiêng với cà chua sống cho thấy họ có chỉ số beta caroten cao hơn người bình thường, nhưng lượng lycopene lại thấp hơn mức trung bình. Điều đó cho thấy rằng những quả cà chua tươi, không được nấu chín có tỉ lệ lycopene thấp hơn được nấu chín. Lý do là vì quá trình nấu nướng đã giúp phá vỡ những lớp màng ngăn chặn để giải phóng nhiều chất dinh dưỡng tiềm ẩn được chứa trong rau củ quả.

Cách chế biến rau củ thông minh 1

Những chất dinh dưỡng hòa tan trong nước như vitamin C, vitamin B và các nhóm chất dinh dưỡng  như polyphenolic được xem là những chất dễ mất đi nhất trong quá trình chế biến, nấu nướng. Đậu và cà rốt đóng hộp mất đi 85 đến 95% lượng vitamin C tự nhiên, quả cherry đông lạnh mất đi 50% lượng chất sắc antoxian so với quả cherry tươi. Ngoài ra, quá trình chế biến cũng làm mất đi 2/3 lượng vitamin C trong rau cải.

Trong khi đó, các nhà nghiên cứu tại đại học California (Mỹ) kết luận rằng lượng vitamin mất đi trong quá trình chế biến rau củ quả vào khoảng 15% đến 55% tùy thuộc cách chế biến hay bảo quản.

Bên cạnh đó, những vitamin hòa tan trong chất béo như A, D, E và K và những chất chống ôxy hóa (carotenoid) sẽ dễ dàng có tác dụng hơn sau khi được chế biến và nấu nướng. Các nhà  nghiên cứu cho rằng phương pháp luộc phù hợp với cà rốt, rau bí và bông cải xanh hơn là hấp, rán hay ăn sống. Ngoài ra, nấu nướng rau củ quả với dầu mỡ là cách bảo toàn chất dinh dưỡng kém hiệu quả nhất. Theo nhiều nhà nghiên cứu thì trên thực tế quá trình chế biến rau củ quả sẽ tự tạo ra sự cân bằng dưỡng chất bằng cách làm tăng hàm lượng chất này nhưng cũng giảm đi hàm lượng chất khác. Ví dụ như luộc cà rốt giúp tăng lên đáng kể lượng chất carotenoid so với cà rốt sống chứa nhiều chất polyphenol, chất này thường mất đi ngay khi bạn vừa đặt nồi cà rốt luộc lên bếp.

Tóm lại, không có phương pháp chế biến rau củ quả nào có thể giúp bạn giữ được 100% lượng chất dinh dưỡng. Vì vậy, hàng ngày các bà nội trợ nên thay đổi các phương pháp chế biến  như hấp, luộc, hầm, nướng… để phù hợp với khẩu vị của từng người, từng bữa ăn. Điều đó giúp các món ăn ngon hơn theo sở thích và cung cấp nhiều dưỡng chất nhất cho cơ thể.

Thùy Dương

Rau củ quả là một thực phẩm không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày. Tuy nhiên, các phương pháp chế biến ít nhiều thường làm thay đổi thành phần dinh dưỡng trong rau củ quả, nhưng điều này chưa chắc đã có hại. Sau đây là những thông tin cụ thể để các bà nội trợ tham khảo.

Theo nghiên cứu của Viện dinh dưỡng đại học Giessen, Đức được thực hiện trên 200 người ăn chế độ ăn kiêng với cà chua sống cho thấy họ có chỉ số beta caroten cao hơn người bình thường, nhưng lượng lycopene lại thấp hơn mức trung bình. Điều đó cho thấy rằng những quả cà chua tươi, không được nấu chín có tỉ lệ lycopene thấp hơn được nấu chín. Lý do là vì quá trình nấu nướng đã giúp phá vỡ những lớp màng ngăn chặn để giải phóng nhiều chất dinh dưỡng tiềm ẩn được chứa trong rau củ quả.

Cách chế biến rau củ thông minh 1

Những chất dinh dưỡng hòa tan trong nước như vitamin C, vitamin B và các nhóm chất dinh dưỡng  như polyphenolic được xem là những chất dễ mất đi nhất trong quá trình chế biến, nấu nướng. Đậu và cà rốt đóng hộp mất đi 85 đến 95% lượng vitamin C tự nhiên, quả cherry đông lạnh mất đi 50% lượng chất sắc antoxian so với quả cherry tươi. Ngoài ra, quá trình chế biến cũng làm mất đi 2/3 lượng vitamin C trong rau cải.

Trong khi đó, các nhà nghiên cứu tại đại học California (Mỹ) kết luận rằng lượng vitamin mất đi trong quá trình chế biến rau củ quả vào khoảng 15% đến 55% tùy thuộc cách chế biến hay bảo quản.

Bên cạnh đó, những vitamin hòa tan trong chất béo như A, D, E và K và những chất chống ôxy hóa (carotenoid) sẽ dễ dàng có tác dụng hơn sau khi được chế biến và nấu nướng. Các nhà  nghiên cứu cho rằng phương pháp luộc phù hợp với cà rốt, rau bí và bông cải xanh hơn là hấp, rán hay ăn sống. Ngoài ra, nấu nướng rau củ quả với dầu mỡ là cách bảo toàn chất dinh dưỡng kém hiệu quả nhất. Theo nhiều nhà nghiên cứu thì trên thực tế quá trình chế biến rau củ quả sẽ tự tạo ra sự cân bằng dưỡng chất bằng cách làm tăng hàm lượng chất này nhưng cũng giảm đi hàm lượng chất khác. Ví dụ như luộc cà rốt giúp tăng lên đáng kể lượng chất carotenoid so với cà rốt sống chứa nhiều chất polyphenol, chất này thường mất đi ngay khi bạn vừa đặt nồi cà rốt luộc lên bếp.

Tóm lại, không có phương pháp chế biến rau củ quả nào có thể giúp bạn giữ được 100% lượng chất dinh dưỡng. Vì vậy, hàng ngày các bà nội trợ nên thay đổi các phương pháp chế biến  như hấp, luộc, hầm, nướng… để phù hợp với khẩu vị của từng người, từng bữa ăn. Điều đó giúp các món ăn ngon hơn theo sở thích và cung cấp nhiều dưỡng chất nhất cho cơ thể.

Thùy Dương

Rau củ quả là một thực phẩm không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày. Tuy nhiên, các phương pháp chế biến ít nhiều thường làm thay đổi thành phần dinh dưỡng trong rau củ quả, nhưng điều này chưa chắc đã có hại. Sau đây là những thông tin cụ thể để các bà nội trợ tham khảo.

Theo nghiên cứu của Viện dinh dưỡng đại học Giessen, Đức được thực hiện trên 200 người ăn chế độ ăn kiêng với cà chua sống cho thấy họ có chỉ số beta caroten cao hơn người bình thường, nhưng lượng lycopene lại thấp hơn mức trung bình. Điều đó cho thấy rằng những quả cà chua tươi, không được nấu chín có tỉ lệ lycopene thấp hơn được nấu chín. Lý do là vì quá trình nấu nướng đã giúp phá vỡ những lớp màng ngăn chặn để giải phóng nhiều chất dinh dưỡng tiềm ẩn được chứa trong rau củ quả.

Cách chế biến rau củ thông minh 1

Những chất dinh dưỡng hòa tan trong nước như vitamin C, vitamin B và các nhóm chất dinh dưỡng  như polyphenolic được xem là những chất dễ mất đi nhất trong quá trình chế biến, nấu nướng. Đậu và cà rốt đóng hộp mất đi 85 đến 95% lượng vitamin C tự nhiên, quả cherry đông lạnh mất đi 50% lượng chất sắc antoxian so với quả cherry tươi. Ngoài ra, quá trình chế biến cũng làm mất đi 2/3 lượng vitamin C trong rau cải.

Trong khi đó, các nhà nghiên cứu tại đại học California (Mỹ) kết luận rằng lượng vitamin mất đi trong quá trình chế biến rau củ quả vào khoảng 15% đến 55% tùy thuộc cách chế biến hay bảo quản.

Bên cạnh đó, những vitamin hòa tan trong chất béo như A, D, E và K và những chất chống ôxy hóa (carotenoid) sẽ dễ dàng có tác dụng hơn sau khi được chế biến và nấu nướng. Các nhà  nghiên cứu cho rằng phương pháp luộc phù hợp với cà rốt, rau bí và bông cải xanh hơn là hấp, rán hay ăn sống. Ngoài ra, nấu nướng rau củ quả với dầu mỡ là cách bảo toàn chất dinh dưỡng kém hiệu quả nhất. Theo nhiều nhà nghiên cứu thì trên thực tế quá trình chế biến rau củ quả sẽ tự tạo ra sự cân bằng dưỡng chất bằng cách làm tăng hàm lượng chất này nhưng cũng giảm đi hàm lượng chất khác. Ví dụ như luộc cà rốt giúp tăng lên đáng kể lượng chất carotenoid so với cà rốt sống chứa nhiều chất polyphenol, chất này thường mất đi ngay khi bạn vừa đặt nồi cà rốt luộc lên bếp.

Tóm lại, không có phương pháp chế biến rau củ quả nào có thể giúp bạn giữ được 100% lượng chất dinh dưỡng. Vì vậy, hàng ngày các bà nội trợ nên thay đổi các phương pháp chế biến  như hấp, luộc, hầm, nướng… để phù hợp với khẩu vị của từng người, từng bữa ăn. Điều đó giúp các món ăn ngon hơn theo sở thích và cung cấp nhiều dưỡng chất nhất cho cơ thể.

Thùy Dương