Author Archives: dungntk

Các nhà khoa học Úc vừa đưa ra kết luận, bà mẹ nuôi con bằng chính sữa của mình trong thời gian dài sẽ làm giảm nguy cơ ung thư buồng trứng hơn 60% khi về già.

Theo thống kê, ung thư buồng trứng là nguyên nhân đứng hàng thứ 7 gây bệnh ung thư ở phụ nữ: nó ảnh hưởng đến 230.000 phụ nữ mỗi năm trên thế giới, hầu hết người bệnh thường được chẩn đoán muộn. Bệnh ung thư buồng trứng là nguyên nhân thứ tư gây tử vong ung thư ở phụ nữ sau ung thư vú, ruột kết và ung thư phổi với hơn 3.000 trường hợp tử vong theo ước tính năm 2008.

Trong nghiên cứu, các nhà khoa học nhận ra rằng, phụ nữ khi còn trẻ cho con bú mẹ trong một thời gian dài khi về già ít có nguy cơ phát triển khối u buồng trứng hơn những người cho con bú trong một thời gian ngắn. Cụ thể, những phụ nữ nuôi con bằng sữa mẹ ít nhất 13 tháng ít có nguy cơ phát triển khối u buồng trứng so với những người đã nuôi bằng sữa mẹ ít hơn 7 tháng. Nghiên cứu còn cho thấy những người phụ nữ đã có 3 con bú sữa mẹ tổng cộng 31 tháng sẽ làm giảm nguy cơ ung thư tới 91% .

Các nhà nghiên cứu đã đưa ra kết luận rằng cho con bú bảo vệ buồng trứng bởi vì nó ngăn chặn sự rụng trứng thường xuyên nhất .

Minh Khuê

(Theo Reuter, 12/2013)

Bệnh tim là một trong những bệnh thường gặp và nguy hiểm nhất là đối với phụ nữ. Sau đây là những nhóm phụ nữ có nguy cơ mắc bệnh tim cao.

1. Có thói quen uống rượu tối để dễ ngủ

Theo chuyên môn, nếu mãn kinh uống ngày 1 – 2 chén rượu nhỏ thì có lợi nhưng nếu độc thân, từ 60 tuổi trở ra uống rượu, hoặc dùng rượu để giải sầu, tìm kiếm giấc ngủ thì rất nguy hiểm cho tim mạch, vì nó làm tăng stress chứ không giảm như nhóm phụ nữ đã có gia đình. Đặc biệt những người có tiền sử gia đình mắc bệnh tim lại càng nguy hại cho sức khỏe.

Rủi ro gia tăng bệnh tim 1/10.

7 nhóm phụ nữ có nguy cơ mắc bệnh tim cao
 

2. Sử dụng liệu pháp HRT trên 8 năm

HRT ( liệu pháp thay thế hoóc-môn) thường được bác sĩ kê đơn dùng cho nhóm mãn kinh, để giảm các triệu chứng không mong muốn như bốc hỏa, mất ngủ, rối loạn niệu dục, và những căn bệnh mạn tính nhưng mặt trái là làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim do oestrogen suy giảm. Đây là loại hoóc-môn có tác dụng bảo vệ tim rất tốt bằng cách phong bế tích tụ các tế bào máu vào thành động mạch gây tắc nghẽn. Vì vậy những người sử dụng liệu pháp HRT từ 8 – 10 năm ngay sau khi mãn kinh thì rủi ro mắc bệnh như khi chưa mãn kinh.

Rủi ro gia tăng bệnh tim là 1/10 .

3. Nghiện đồ ngọt

Việc lạm dụng đồ ngọt ở phụ nữ, nhất là nhóm phụ nữ trung cao tuổi sẽ gây bất lợi. Nhóm người này nên dùng thực đơn protein có hàm lượng mỡ thấp, tăng cường rau xanh, trái cây luyện tập giảm cân để giảm bệnh tim mạch. Nếu chỉ dùng đồ ngọt hoặc sôcôla thì không có lợi. Rủi ro mắc bệnh tim tăng khoảng 1/20.

4. Bệnh cao huyết áp

Theo các chuyên gia ở Bệnh viện Cao đẳng Y khoa London Anh thì cao huyết áp thai kỳ có tỉ lệ mắc bệnh 1/10 phụ nữ mang thai, nhất là từ tháng mang thai thứ 4 trở đi, đây chính là yếu tố cảnh báo nguy cơ mắc bệnh tim, đột quỵ và cục đông máu ở phụ nữ vào giai đoạn cuối đời. Do khi mang thai bị cao huyết áp làm cho sức khỏe tim mạch suy yếu.

Rủi ro gia tăng bệnh tim 1/25.

5. Đã từng hút thuốc lá

Những phụ nữ có quá khứ hút thuốc lá, nay đã cai nhưng lại duy trì cuộc sống tĩnh tại, ngồi nhiều thì nguy cơ mắc bệnh tim cao. Riêng nhóm vẫn còn duy trì thói quen này thì nguy cơ mắc bệnh tim cao hơn đàn ông tới 25%. Lý do cơ thể phụ nữ hấp thụ độc tố mạnh hơn so với đàn ông.

Rủi ro gia tăng bệnh tim ở nhóm người này là 1/15.

6. Ngủ ngáy

Ngay trong khi đang ngủ do huyết áp, hoóc-môn cũng như hệ thần kinh thay đổi đột ngột nên ảnh hưởng lớn đến bệnh tim. Ngoài ra ngáy ngủ còn do thói quen uống rượu, hút thuốc và hậu quả do mắc bệnh tim. Nên đi khám và tư vấn bác sĩ và chữa trị đồng thời những căn bệnh bản thân đang mắc phải.

Rủi ro gia tăng bệnh tim 1/30.

7. Mắc chứng đau nửa đầu

Nhóm người mắc bệnh đau đầu thường là do máu tuần hoàn lên não bị gián đoạn, huyết áp gián đoạn, đi kèm hiện tượng mờ mắt và đây là dấu hiệu cảnh báo bệnh tim và đột quỵ rất cao. Rủi ro gia tăng bệnh tim là 1/15.

Khắc Hùng (Theo Daily Mail )

Tập khí công dưỡng sinh, tọa thiền nhằm tập luyện giữ gìn tâm trong sáng và cơ thể khỏe mạnh. Tập khí công và thiền định đúng cách cũng có tác dụng nhất định trong việc điều trị, hóa giải bệnh sa sút trí tuệ (Alzheimer) thường gặp ở người cao tuổi.

Alzheimer là bệnh thường gặp nhất ở người cao tuổi (là nguyên nhân của 75% trường hợp sa sút trí tuệ). Người bệnh có dấu hiệu sớm nhất là hay quên, nói lẫn lộn, nói lắp rồi dần dần mất trí nhớ, trầm cảm, ngớ ngẩn. Bệnh tiến triển theo hướng tâm thần phân liệt, tư duy lệch lạc, tác phong khó hiểu, có các triệu chứng hoang tưởng ảo giác vô cảm. Hiện nay, điều trị chỉ theo triệu chứng, thể bệnh theo giai đoạn.

Khí công, thiền định trị bệnh Alzheimer

Khí công dưỡng sinh làm tăng năng lượng sinh học thông tin vùng đầu điều trị bệnh Alzheimer.

Giai đoạn đầu từ 2 – 4 năm: người bệnh có tính hay quên, quên tên bè bạn, quên các đồ vật như bật lửa, chìa khóa, túi xách tay, vừa mới đó mà không biết để ở đâu, tìm kiếm lâu mới thấy; hoặc sự việc vừa mới xảy ra đã quên, ai hỏi bảo không biết…

Giai đoạn 2 thường từ 2 – 8 năm: trí nhớ ngày càng giảm dần, ngay cả tên người trong gia đình, họ hàng bà con cũng quên. Những kỷ niệm của quá khứ thì nhớ; còn việc vừa mới xảy ra vài ngày thì quên; khó khăn khi tập trung tư tưởng chú ý điều gì đó, đôi khi không nhớ lời, chữ diễn đạt, muốn xa lánh mọi người, có thái độ trầm cảm.

Giai đoạn 3 kéo dài 2 – 3 năm: người bệnh trở nên lẫn trí và mất định hướng, nhất là về ban đêm, hay mất ngủ, không nhận ra người trong gia đình, trả lời sai các câu hỏi, không tự chủ trong việc đi đại tiểu tiện, có lúc buồn buồn bơ vơ hoặc nổi nóng giận dữ, mất ý thức giao tiếp xã hội… Cuối cùng, bệnh nhân nằm liệt giường và chết.

Cách điều trị, hóa giải bệnh sa sút trí tuệ của các nhà khí công sư, thiền sư và các nhà châm cứu học là phải tác động tăng năng lượng sinh học thông tin ở vùng trán và vùng đỉnh đầu bằng liệu pháp xoa bóp day bấm huyệt, tập khí công dưỡng sinh, thiền định kết hợp với thể dục đi bộ, ăn uống đủ chất, làm việc nghỉ ngơi đúng giờ giấc. Phải chủ động tập luyện từ lúc còn trẻ, không hút thuốc, uống bia rượu. Khi lớn tuổi, nếu mắc bệnh tim mạch, nhất là mạch máu não, tăng huyết áp, đái tháo đường phải điều trị sớm, tích cực.

Một số cách tập luyện giúp giảm nhẹ triệu chứng của Alzheimer

Xoa bóp bấm huyệt: xoa 2 bàn tay cho nóng rồi xoa bóp đỉnh đầu, hai bán cầu não, trước trán, hai bên động mạch cảnh cổ, sau gáy từ chân tóc đến bờ vai. Tiếp theo, day bấm các huyệt: bách hội, nội quan, thần môn, túc tam lý, tam âm giao, dũng tuyền, chí âm. Công hiệu: điều hòa khí huyết, lưu thông khắp cơ thể, ổn định thần kinh, tăng năng lượng sinh học cho não, ngủ ngon giấc.

Tập khí công dưỡng sinh: tập ở tư thế đứng, nằm, ngồi đều được nhưng ngồi là tốt nhất. Người đã tập yoga, khí công thì ngồi theo tư thế đã tập, người chưa tập thì ngồi tư thế bình thường, hai bàn tay chồng lên nhau, bàn tay này để trong lòng bàn tay kia đặt dưới rốn, đè nhẹ lên bắp chân, ngồi tĩnh lặng, quán tưởng (tưởng tượng) màu đỏ ở trước trán, hít thở vào nhẹ và sâu, tưởng tượng màu đỏ theo đỉnh đầu chạy dọc sống cổ, sống lưng đến xương cùng cụt; thót hậu môn điều năng lượng màu đỏ sang huyệt hội âm, lên đan điền (dưới rốn 4cm)… Nín thở lâu mau tùy sức, kết hợp quán tưởng màu đỏ tràn ngập vùng rốn, bụng, rồi toàn thân… Thở ra… Nín thở một ít. Đây là 1 hơi thở trong tập khí công dưỡng sinh. Rồi lại tiếp tục thở lần thứ hai như thở lần thứ nhất. Thở có quán tưởng màu đỏ 10 lần. Chuyển sang thở có quán tưởng màu chàm cũng 10 lần. Lần thứ ba thở quán tưởng màu vàng kim tuyến cũng 10 lần. Màu đỏ: sự quyết tâm, tăng năng lượng nhiệt. Màu chàm: vui vẻ, mát mẻ, làm hạ nhiệt. Màu vàng kim tuyến: thư giãn, ổn định thần kinh, quân bình âm dương.

Thiền định: thiền là phương pháp dưỡng  sinh cổ truyền, làm cho tâm hồn tĩnh lặng bằng cách chỉ và quán. Chỉ là dứt suy nghĩ miên man. Quán là chuyên chú suy nghĩ về một cảnh nhất định. Mục đích của thiền là định, nghĩa là tâm không tán loạn. Có nhiều phương pháp để tâm không tán loạn như quán hình ảnh, quán hơi thở quán, châm ngôn (thần chú). Dinh có 4 cảnh giới :

– Sơ thiền: xa lìa dục vọng, xa lìa mọi thói hư tật xấu.

– Nhị thiền: định tâm không để tâm tán loạn.

– Tam thiền: làm chủ được tâm.

– Tứ thiền: hoàn toàn làm chủ cả tâm và thân.

Khi đạt  đến tứ thiền có thể làm chủ hệ thần kinh thực vật, tự điều khiển nhịp tim, hơi thở, huyết áp, thân nhiệt… theo ý muốn của mình. Điều này có thể giải thích tại sao các nhà yoga Ấn Độ có thể tự chôn sống hoặc vùi đầu trong cát.

Lương y Nguyễn Văn Đồng

 
Phòng chữa huyết áp thấp mạn tính bằng khí công Phòng chữa huyết áp thấp mạn tính bằng khí công Tập khí công phòng chống xuất tinh sớm Tập khí công phòng chống xuất tinh sớm Để thiền đạt hiệu quả Để thiền đạt hiệu quả

 

Thời tiết giá lạnh, nhất là về đêm khiến nhiều người phải vật lộn chống chọi với cái rét và một trong những biện pháp “đơn giản”, “rẻ tiền” đó là đốt một bếp than tổ ong rồi đóng cửa lại cho ấm. Họ có biết đâu rằng họ đã vô tình đưa “thần chết” vào nhà.

“Thần chết” trong bếp than

Loại than mà chúng ta chế ra than tổ ong dùng làm chất đốt có thành phần chính là than đá, được hình thành từ cách đây hàng triệu năm, do cây cối bị chôn vùi dưới nhiệt độ cao trong lòng đất. Than đá khi cháy sinh ra một lượng nhiệt năng lớn và cho sản phẩm cuối cùng là khí carbonic (CO2) và nước. Trong quá trình than cháy, không phải tất cả đều cháy hết và cho sản phẩm cuối cùng CO2 mà có nhiều phần cháy dở (cháy không hoàn toàn do than không tiếp xúc hoặc không đủ lượng ôxy cần thiết) nên cho sản phẩm cháy dở là khí carbon monoxid (CO). Khi đưa một bếp than vào phòng rồi đóng kín cửa, sẽ có ba nguy cơ gây tử vong: thứ nhất là lượng CO tăng cao do phòng thiếu ôxy cần thiết cho sự cháy hoàn toàn, thứ hai là nồng độ CO2 cũng phát thải trong khi than cháy và thứ ba là lượng ôxy bị suy giảm nghiêm trọng do bị tiêu thụ quá nhiều khi bếp than cháy. Cả hai loại khí CO2 và CO đều không màu, không mùi nên không thể phát hiện được khi chúng tăng cao trong phòng kín bằng giác quan con người.

Sưởi bếp than  - Đưa “thần chết” vào nhà

Đốt bếp than tổ ong rồi cho vào nhà đóng cửa sưởi ấm là vô tình đưa thần chết vào nhà.

So với CO2, khí CO còn có độc tính cao hơn rất nhiều lần. CO có ái lực với hồng cầu mạnh hơn ôxy khoảng 250 lần nên khi vào máu, CO gắn chặt với hồng cầu khiến cho hồng cầu mất chức năng chuyên chở ôxy từ phổi tới các tế bào. Mặt khác, CO còn gắn với myoglobin trong tế bào cơ và các cytocrom gây nên tổn thương cơ, đặc biệt là cơ tim và thương tổn hệ thần kinh. Nồng độ khí CO lên tới 0,1% trong không khí đã đủ nguy hiểm cho sức khỏe con người.

Biểu hiện của ngộ độc khí than

Như đã nói ở trên, ngộ độc khí than chủ yếu do nồng độ CO2 và CO tăng cao trong phòng kín. Các biểu hiện bao gồm mức độ nhẹ như mệt mỏi, đau đầu, nôn, ù tai, chóng mặt; nặng hơn bắt đầu có cảm giác tức ngực, khó thở, nôn mửa dữ dội, mắt nhìn mờ, mỏi cơ; nặng hơn nữa nạn nhân có những cơn co giật, thất điều, liệt cơ, suy hô hấp, phù phổi cấp, rối loạn nhịp tim, hôn mê sâu, tụt huyết áp và tử vong. Điều hết sức nguy hiểm cần nhấn mạnh ở đây là: mặc dù các biểu hiện được mô tả theo các mức độ từ nặng đến nhẹ, hay nói cách khác, người bệnh hoàn toàn có thể biết được mức độ triệu chứng của mình, nhưng đó là những trường hợp nạn nhân tiếp xúc với khí độc khi chưa ngủ. Giai đoạn đầu khi đốt lò than trong nhà, lượng CO2 và CO còn thấp, lượng ôxy trong phòng còn cao, mọi người vẫn thấy bình thường và đi ngủ. Khi nồng độ hai chất khí này tăng dần, mức độ ngộ độc bắt đầu tăng khiến cho nạn nhân rất khó cảm nhận khi đã ngủ say. Nguy hiểm hơn là khí CO gây yếu cơ và liệt cơ nếu ngộ độc nặng nên trong nhiều trường hợp, nạn nhân không thể còn phản xạ gì để vùng dậy mở cửa hoặc làm các động tác tương tự để tự giải thoát. Trong tuyệt đại đa số các trường hợp, nạn nhân đều tử vong với tư thế còn nằm yên trong chăn như đang ngủ và chỉ có một vài trường hợp được tìm thấy nạn nhân tử vong cạnh cửa ra vào (đã bò ra đến cửa nhưng không đủ sức mở ra). Vì vậy, khí CO còn được mệnh danh là “kẻ giết người im lặng” (silent killer). Mức độ nguy hiểm khi đưa bếp than vào sưởi trong phòng kín còn có sự đóng góp thêm của việc nồng độ ôxy bị sụt giảm và nạn nhân sẽ hầu như không còn cơ hội sống sót nếu như có uống thêm bia rượu hoặc sử dụng ma túy.

Dự phòng như thế nào?

Nguy hiểm là vậy nhưng việc dự phòng tai nạn do đưa “thần chết” vào nhà lại hết sức đơn giản: đó là không nên đưa bếp than vào trong phòng để sưởi. Trường hợp quá lạnh, cần phải sưởi thì cũng có thể nhưng tốt nhất phải mở cửa hoặc thông gió để đảm bảo độ thông thoáng cho căn phòng. Việc này hết sức quan trọng vì phòng có thoáng thì lượng CO2 và CO sinh ra trong quá trình than cháy sẽ được thoát ra ngoài và lượng ôxy được cung cấp đủ thì than cháy càng hết và lượng khí CO sinh ra càng ít. Có thể đưa bếp vào cho phòng ấm lên sau đó đưa ra ngoài trước khi ngủ. Cũng không nên để bếp than ở đầu giường hoặc ngay dưới gầm giường sẽ rất nguy hiểm do hít phải lượng khí độc cao.

TS. BS. Vũ Đức Định

Trong cơ thể người, CO2 cũng là sản phẩm cuối cùng của quá trình chuyển hóa năng lượng sinh nhiệt. Phân áp CO2  trong máu bình thường vào khoảng 40mmHg. Khi CO2 tăng cao sẽ gây toan máu (nhiễm acid) và khi giảm sẽ gây kiềm máu (nhiễm base). CO2 được cơ thể đào thải chủ yếu qua phổi và một người trung bình thở ra khoảng 450 lít loại khí này/24h. Nồng độ CO2 trong không khí vào khoảng 0,04%, với nồng độ 3% sức chịu đựng của con người tối đa là 10 phút, nồng độ 4% bắt đầu nguy hiểm ngay khi tiếp xúc.

 
Một em bé tử vong vì bỏng bếp than vỉa hè Một em bé tử vong vì bỏng bếp than vỉa hè Cảnh giác ngộ độc khí do sưởi ấm Cảnh giác ngộ độc khí do sưởi ấm  4 người tử vong do sưởi ấm bằng than 4 người tử vong do sưởi ấm bằng than

 

Loài người luôn nỗ lực phấn đấu để mở rộng kiến thức của mình và nghiên cứu phát triển thực phẩm không là ngoại lệ. Thành tựu khoa học công nghệ hiện đại cho phép chúng ta mở rộng ranh giới của việc biến đổi thực phẩm hơn bao giờ hết.

Ngành công nghiệp nuôi gà bất tỉnh lấy thịt

Năm 2012, Andre Ford, sinh viên kiến trúc tại Đại học Nghệ thuật Hoàng gia Vương quốc Anh đã đưa ra một giải pháp mới giúp ngành công nghiệp chăn nuôi gà thịt thoát khỏi khó khăn khi dịch bệnh khiến hàng trăm ngàn con gà bị tiêu huỷ. Andre Ford cho rằng, biện pháp này sẽ hạn chế được tối đa các mầm bệnh tấn công khi giết mổ. Biện pháp nuôi gà bất tỉnh này là những con gà đã được biến đổi, không có não, cũng không có chân, toàn bộ sự phát triển sẽ dồn vào thân mình gà, chúng được cho ăn thông qua một loạt các ống và thường xuyên dùng sốc điện để kích thích các khối cơ gà rắn chắc. Đồng thời, chất thải của những con gà này cũng được tái sử dụng làm phân bón cho các loại rau, củ, quả.

Bản vá dinh dưỡng giúp chống lại cơn đói

Các nhà khoa học thuộc Dự án Nghiên cứu hệ thống cung cấp dinh dưỡng qua da (viết tắt là TDNDS) của Mỹ đang theo đuổi dự án cung cấp chất dinh dưỡng cần thiết qua da bằng các bản vá dinh dưỡng. Bản vá này chứa một bộ xử lý vi mạch có chức năng tính toán chính xác nhu cầu dinh dưỡng của đối tượng được dán và cung cấp chất dinh dưỡng tương ứng. Các nhà khoa học cho biết, bản vá dinh dưỡng không thay thế được cho thực phẩm nhưng trong điều kiện không có đủ đồ ăn, bản vá dinh dưỡng sẽ là lựa chọn tốt nhất giúp những người lính chống lại cơn đói cho đến khi họ có thể ăn một bữa ăn thực sự. Theo ước tính, công nghệ này sẽ có mặt trên thị trường vào năm 2025. Theo TS. C.Patrick Dunne, thành viên dự án: Biện pháp này được áp dụng đối với những người làm việc trong môi trường áp suất cao, dài ngày như: lính trong chiến trường, thợ mỏ, phi hành gia…

Thực phẩm biến đổi trong tương lai

Thực phẩm côn trùng từ lâu đã là món ăn được ưa thích ở nhiều nước châu Á.

Nước uống từ… chất thải con người

Năm 2009, Cơ quan Vũ trụ châu Âu (ESA) thông báo họ đang tiến hành dự án quan trọng mà ứng dụng của nó sẽ giúp duy trì sự sống cho những người sống trong không gian hoặc thậm chí trên các hành tinh khác. Dự án này được tiến hành sau khi NASA phát triển một hệ thống tương tự trên Trạm vũ trụ quốc tế có thể biến chất thải của con người thành nước có thể uống được. Chương trình của ESA, được gọi là Micro – sinh thái cuộc sống. Hệ thống hỗ trợ thay thế (Melisa) được thiết kế để tái chế chất thải của con người thành ôxy, thực phẩm và nước. Các nhà máy thí điểm Melisa đầu tiên được xây dựng vào năm 1995 và các nhà khoa học hy vọng rằng nhà máy thế hệ thứ hai sẽ hoạt động đầy đủ và được đưa vào sử dụng vào năm 2014.

Âm thanh làm tăng vị cho thức ăn

Nghiên cứu của Đại học Oxford vừa phát hiện ra rằng, âm thanh thực sự làm tăng vị cho thức ăn. Ví dụ, âm thanh the thé làm tăng thêm vị ngọt cho thực phẩm, trong khi âm thanh trầm, thấp làm thức ăn tăng thêm vị đắng. Russel Jones, thành viên dự án, giảng viên Đại học Oxford cho biết: Ứng dụng âm thanh làm tăng vị thức ăn sẽ sớm được phổ biến rộng rãi, đồng thời nó sẽ giúp thức ăn lành mạnh hơn bằng cách cắt giảm bớt lượng đường mà người ăn vẫn cảm nhận đầy đủ vị ngọt.

Hít hương vị thức ăn không cần thưởng thức

Một xu hướng mới của con người đã tăng đáng kể từ năm 2012, đặc biệt từ khi GS. David Edwards của Đại học Harvard phát minh ra một thiết bị được gọi là Lê Whif – thiết bị này trở thành một best – seller cho người ăn kiêng châu Âu. Lê Whif về cơ bản giống như một chiếc bình với bộ phận nhỏ cấy phía dưới. Thực phẩm thường là canh, cho vào trong bình và được rung động siêu âm cho đến khi nó trở thành một đám mây, lúc này khách hàng sử dụng một ống hút để hít. Khách hàng mô tả “cảm giác hương vị đầy đủ của một món ăn nhưng thực ra lại không có gì trong miệng của bạn”.

Sứa thay thế cá

Trong Hội nghị do Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc tổ chức năm 2003, các nhà khoa học đã báo cáo về sự suy giảm quần thể cá trên toàn thế giới và thay vào đó là sự bùng nổ của sứa. Do đó, các nhà khoa học đề xuất việc sử dụng những con sứa trong thực phẩm và các sản phẩm y tế. Báo cáo chỉ ra rằng, loài sứa đã từng có trong chế độ ăn uống của Trung Quốc trong một thời gian dài đồng thời nó còn có đặc tính chữa bệnh. Các nhà khoa học tin tưởng sứa chứa đựng một tiềm năng sinh học và công nghiệp rất lớn.

Màng bọc thực phẩm cũng ăn được

Trong năm 2012, một nhà hàng burger Brazil đã thu hút được nhiều sự chú ý khi cho ra lò bánh burger có thể ăn được cả bọc giấy bên ngoài bánh. Năm 2013, GS. David Edwards thuộc Đại học Harvard (Mỹ)giới thiệu với thế giới phát minh của mình có tên Wikicells, đây là vỏ bọc làm từ chất liệu tự nhiên và được thiết để không ngấm nước, ngăn chặn vi khuẩn cũng như bụi bẩn. Chúng có thể được sử dụng để bọc, đóng gói bất cứ loại thực phẩm và đồ uống nào. GS. Edward hy vọng việc chuyển sang dùng màng bọc thực phẩm này sẽ giúp giảm bớt việc sử dụng nhựa thông thường và giấy gói, nguyên nhân góp phần gia tăng hiệu ứng nhà kính.

Côn trùng – Thực phẩm tiềm tàng

Theo các quan chức của Liên hợp quốc, ít nhất là 2 tỷ người ở châu Á và châu Phi thường xuyên ăn 1.900 loại côn trùng khác nhau: nhộng, bọ cánh cứng như châu chấu, cào cào… Liên hợp quốc lưu ý rằng, thách thức lớn hiện nay là thay đổi thái độ của phương Tây về việc ăn côn trùng không đáng sợ như những gì họ vẫn nghĩ. Việc tiêu thụ côn trùng sẽ đem lại rất nhiều lợi ích: côn trùng rất giàu protein và khoáng chất, chúng có khả năng sinh sôi mạnh, không gây tổn hại nhiều cho môi trường như những vật nuôi truyền thống. Bên cạnh đó, nuôi côn trùng có thể đem lại một cơ hội kinh doanh hấp dẫn đối với người dân ở các nước nghèo.

Tảo biển giải quyết nạn đói

Rất nhiều nhà khoa học ủng hộ ý kiến cho rằng tảo biển là biện pháp tốt nhất giúp giải quyết nạn đói trên thế giới. Vì diện tích đất dành cho nông nghiệp ngày càng thu hẹp do sự bùng nổ về dân số trong khi đó, môi trường biển, tảo phát triển rất mạnh mẽ và hoàn toàn có thể trở thành thực phẩm cho con người sử dụng. Phát biểu với BBC, nhà sinh vật học Chuck Fisher chia sẻ ý tưởng về việc tích hợp tảo và da của con người. Cũng giống như cây thật, con người sẽ hấp thụ ánh sáng mặt trời để cung cấp dinh dưỡng cho họ.

(Theo LS, 11/2013)

Quốc Cường

 
Thực phẩm biến đổi gen Thực phẩm biến đổi gen Thực phẩm biến đổi gen gây ung bướu? Thực phẩm biến đổi gen gây ung bướu? Những loại thực phẩm tiềm năng cho tương lai Những loại thực phẩm tiềm năng cho tương lai

 

Đậu phụ là sản phẩm được làm từ các loại đậu khác nhau (đậu xanh, đậu đen) nhưng chủ yếu là làm từ đậu tương, là một trong những món ăn phổ biến vì dễ ăn, dễ tiêu hóa, nhiều dinh dưỡng, dễ chễ biến, giá thành rẻ… Ngoài tác dụng là thực phẩm, đậu phụ còn hỗ trợ cho việc phòng và trị bệnh rất hiệu quả.

Đậu phụ có thành phần dinh dưỡng cao, trong đó chủ yếu là protein, 100g đậu phụ hàm lượng protein chiếm hơn 34%, ngoài ra đậu phụ còn chứa 8 loại axit amin, khoáng chất, canxi rất có lợi cho sức khoẻ con người. Dưới đây là một số cách kết hợp với một số thực phẩm khác để hấp thu tối đa chất dinh dưỡng của đậu phụ:

Kết hợp với thịt để tăng lượng protein

Đậu tương được cho là “thịt thực vật”. Nó chứa các protein tốt nhất trong tất cả các thực phẩm thực vật. Tuy nhiên, hàm lượng và tỷ lệ các axit amin trong protein từ đậu phụ không phải là hoàn toàn đầy đủ, cũng không phải là đặc biệt thích hợp cho quá trình tiêu hóa và hấp thụ trong cơ thể. Vì vậy, nếu bổ sung thêm một số loại thực phẩm protein chất lượng cao khi ăn đậu phụ, nó có thể đóng một vai trò bổ trợ với đậu phụ, làm cho protein trong đậu phụ có thể được hấp thụ tốt hơn cho cơ thể con người. Thực phẩm chứa hàm lượng protein chất lượng cao bao gồm thịt và trứng.

Cách ăn đậu phụ tốt nhất

Đậu phụ kết hợp với thịt để tăng lượng protein.

Kết hợp với lòng đỏ trứng để tăng sự hấp thu canxi

Cũng như chúng ta bổ sung vitamin D khi uống viên canxi, chúng ta có thể bổ sung canxi khi ăn đậu phụ, nó là cần thiết để ăn cùng với một số loại thực phẩm giàu vitamin D. Bởi vì vitamin D đóng một vai trò rất quan trọng trong quá trình hấp thu canxi. Lòng đỏ trứng rất giàu vitamin D. Ngoài ra, mề gà, gan và các cơ quan động vật khác cũng có tác dụng tốt để tăng sự hấp thu canxi trong đậu phụ.

Kết hợp với rau xanh và nấm để ngăn ngừa bệnh tật

Mặc dù đậu phụ có chứa chất dinh dưỡng phong phú, nhưng đậu phụ tương đối thiếu chất xơ. Nếu chỉ ăn đậu phụ mà không ăn rau có thể gây ra tình trạng táo bón. Trong khi rau xanh và nấm giàu chất xơ, vì vậy chúng ta có thể bổ sung rau xanh khi ăn cùng đậu phụ. Ngoài ra, nấm và rau quả cũng chứa nhiều chất chống ôxy hóa có thể cải thiện khả năng miễn dịch và ngăn ngừa bệnh tật.

Cách ăn đậu phụ tốt nhất

Kết hợp với rau xanh và nấm để ngăn ngừa bệnh tật.

Đậu phụ và các sản phẩm được làm từ đậu rất tốt cho cơ thể song chúng ta không nên biến đậu thành thực phẩm ăn mỗi ngày và không ăn quá nhiều trong một lần.

Người cao tuổi và những người mắc bệnh thận, thiếu máu thiếu sắt, bệnh gút, xơ cứng động mạch thì không nên thường xuyên sử dụng đậu phụ.

Ngoài ra, ăn nhiều đậu có thể làm suy giảm chức năng thận, ảnh hưởng đến tiêu hóa, thúc đẩy sự hình thành xơ vữa động mạch, dẫn đến thiếu iốt.

Bác sĩ  Nguyễn Ý Đức

 
Nhận biết đậu phụ chứa thạch cao Nhận biết đậu phụ chứa thạch cao Ăn nhiều đậu phụ có tốt cho sức khỏe? Ăn nhiều đậu phụ có tốt cho sức khỏe? Công dụng tuyệt vời từ đậu phụ Công dụng tuyệt vời từ đậu phụ

 

Những vụ sốc phản vệ liên tiếp trong thời gian qua, làm nóng dư luận, gây nhiều lo lắng, tranh cãi song thực ra số các vụ được biết còn  ít hơn nhiều so với số vụ xẩy ra. Hiểu, giải thích rõ, xử lý đúng, tìm cách giảm thiểu sốc phản vệ là vấn đề đáng  quan tâm.

Ở các nước phát triển, tỉ lệ sốc phản vệ tính trên dân số hàng năm là 5/1000.000. Ở nước ta, theo GS. Nguyễn Năng An, Chủ nhiệm khoa Dị ứng Bệnh viện Bạch Mai, tỉ lệ này vào khoảng 8,5/ 1000.000 cao hơn các nước phát triển 1,7 lần.

Tỉ lệ tử vong SPV ở châu Âu  5/100.000, ở Mỹ 58,9 /100.000. Những con số chênh lệch nhau đến 10 lần, theo PGS.TS. Phạm Duệ, Chủ nhiệm khoa Chống độc BV. Bạch Mai, là do khả năng thống kê của mỗi nước.

Sốc phản vệ và những điều đáng quan tâm
 

 Tiềm năng gây ra sốc phản vệ

Trong hóa dược, phụ thuộc vào cấu trúc phân tử: kháng sinh betalactam (penicillin và thế hệ mới ceftriaxon, cefotaxim) có tiềm năng gây sốc phản vệ cao hơn các nhóm kháng sinh khác. Dịch truyền dextran có tiềm năng gây sốc phản vệ cao hơn glucose 5% và glucose 5% cao hơn  natrichlorid 0, 9%  Trong  vắc-xin, phụ thuộc vào cách chế tạo. Vắc-xin ho gà hữu bào dùng cả con vi khuẩn làm kháng nguyên, chứa tới 3.000 thành phần kháng nguyên. Vắc-xin ho gà vô bào dùng một phần nhỏ con vi khuẩn làm kháng nguyên, chỉ chứa tới 3 – 5 thành phần kháng nguyên. Do thế vắc-xin ho gà hữu bào có tiềm năng gây ra SPV cao hơn vắc-xin ho gà vô bào. Theo đó, vắc-xin quivaxem có chứa vắc-xin ho gà hữu bào có tiềm năng gây SPV cao hơn vắc-xin printaxim, infan hexan chỉ chứa toàn các vắc-xin vô bào.

Có khi vì bảo quản không tốt mà lô thuốc – vắc-xin  bị biến chất và chính tạp chất và  gây ra sốc phản vệ. Thông thường trong BV hay tiêm chủng mở rộng (TCMR) trước khi dùng đã kiểm tra đạt chất lượng, nên hiếm gặp nguyên nhân này. Có khi do dùng sai như dùng vắc-xin cho trẻ đang bị sốt, đang mắc một só bệnh nào đó, tạo yếu tố thuận lợi gây ra sốc phản vệ. Khi xảy ra sốc phản vệ nếu kiểm tra lô thuốc – vắc-xin đảm bảo chất lượng, kiểm tra việc dùng  không  thấy sai sót thì kết luận sốc phản vệ đó không do chất lượng lô thuốc – vắc-xin; không do lỗi người  dùng  mà do bản chất của thuốc – vắc-xin đó.

Ba nguyên nhân gây ra sốc phản vệ có khác nhau nhưng đều liên quan đến thuốc – vắc-xin. Ngay cả khi đã loại trừ hai nguyên nhân đầu, kết luận sốc phản vệ xảy ra do bản chất thuốc-vắc-xin trên cơ địa cụ thể của người bệnh thì vẫn có liên quan đến thuốc – vắc-xin. Bởi lẽ, nếu không dùng thuốc – vắc-xin thì làm sao xảy ra sốc phản vệ được. Nói một  cách chung chung là sốc phản vệ không liên quan đến thuốc – vắc-xin đó, là diễn đạt chưa rõ nghĩa, dễ gây thắc mắc.

Có cách nào phòng chống sốc phản vệ hiệu quả không?

Trước khi dùng, phải thử xem thuốc đó có khả năng gây sốc phản vệ cho người bệnh không? Nguyên lý thử:  Đưa một ít thuốc vào da người bệnh, sau thời gian quy định, nếu quan sát không thấy có hiện tượng bất thường xảy ra là được phép dùng thuốc cho người đó. Cách thử này khó cho kết quả chính xác, khó làm cho mọi thuốc. Có người bệnh khi thử không thấy gì bất thường, nhưng khi dùng lại bị sốc phản vệ, thậm chí có người ngay khi dùng chẳng có biểu hiện gì nhưng sau đó lại xảy ra sốc phản vệ muộn. sốc phản vệ thực chất là một phản ứng dị ứng nặng, có thể xảy ra với bất cứ thuốc nào, không lệ thuộc vào liều dùng, khó mà thử hết được. Hơn 50 năm trước, Bộ Y tế nước ta quy định phải thử penicillin steptomycin trước khi tiêm. Từ đó đến nay, không quy định thử thêm thuốc nào nữa. Riêng vắc-xin không thấy nước nào trên thế giới quy định phải thử trước khi dùng.

Trước khi dùng, phải khám xét, phải khai thác tiền sử, không cho dùng  nếu như người ấy có bệnh, có cơ địa  mẫn cảm với thuốc – vắc-xin. Tuy nhiên có người không có bệnh, cơ địa bình thường nhưng khi dùng vẫn xảy ra sốc phản vệ. Cũng có người trước đây có dùng thuốc đó không bị dị ứng, nhưng không rõ vào thời điểm dùng thuốc do tác động ngoại lai hay do thay đổi trong cơ thể mà trở nên dễ nhạy cảm, bị sốc phản vệ. Đối với vắc-xin thì càng khó: trẻ mới sinh ra hay chỉ mới vài tháng tuổi, có thể khám biết được bệnh cấp nhưng khó biết có bệnh mạn gì, lại chưa bao giờ dùng vắc-xin cả nên không thể có tiền sử dùng vắc-xin, thì làm sao có thể dự đoán trẻ bị hay không bị sốc phản vệ được? Khám và khai thác tiền sử để loại trừ các trường hợp chống chỉ định có góp phần làm giảm tần suất sốc phản vệ nhưng cũng không chắc chắn 100%.

Có người sốc phản vệ xảy ra chậm, có người xảy ra rất nhanh ngay sau khi mới rút kim tiêm ra, chỉ trong vài phút thậm chỉ vài giây là tử vong ngay, không kịp trở tay. Cũng có người sau khi cấp cứu đã  ổn, tưởng qua khỏi, sau đó lại bị sốc phản vệ muộn, nặng hơn, không cứu được.

Bộ Y tế nước có quy định nơi tiêm thuốc phải có hộp chống sốc, phải có phương tiện chống sốc phản vệ (tùy theo tuyến); khi xảy ra sốc phản vệ phải xử lý kịp thời; đối với những thuốc có tiềm năng gây  sốc phản vệ cao thì không được dùng tại nhà hay tại nơi không có những điều kiện trên. Làm đúng vậy, sẽ góp phần giảm tỉ lệ  sốc phản vệ nhưng cũng không phải  chắc chắn 100%, có khi làm hết cách vẫn không tránh khỏi rủi ro. PGS.TS. Phạm Duệ khi trả lời phỏng vấn báo Nhân Dân đã nói: “Các vụ rủi do  sốc phản vệ mới đây quả thực đáng tiếc, nhưng dù là ở nước ta hay bất cứ quốc gia phát triển nào thì rủi ro vẫn có thể xảy ra;  việc giảm rủi ro của SPV từ 20% xuống 10% là không quá khó, nhưng giảm từ 10% xuống 5% hay thấp hơn nữa là việc chẳng hề đơn giản. Đó là vấn đề khoa học chứ không phải thích là được”.

Có thuốc dùng  chống sốc bảo vệ nhưng phải dùng đúng?

Mục tiêu dùng thuốc và các biện pháp khác là để giải quyết kịp thời hiệu quả các vấn đề lớn, viết tắt là ABCDE (A: airway = đường thông khí – B: breathing = sự hô hấp – C: circulation = lưu thông máu – D:disability level of consciousness = tính trạng mất ý thức – exposure of skin = biểu hiện ở da).

Mỗi nước có quy định danh mục, cách dùng thuốc trong SPV, về cơ bản giống nhau nhưng cũng có khác nhau vài chi tiết. Các nước đều coi epinephrin là chỉ định bắt buộc; coi việc tiêm bắp ngay lập tức, dù một liều nhỏ, cũng làm tăng cơ hội cứu sống, việc không tiêm bắp ngay lập tức sẽ làm tăng nguy cơ SPV thì 2 dẫn tới tử vong. Có lẽ vì lý do này, mà ngay đơn vị y tế chỉ có y sĩ  vẫn cho trang bị epinephrin, một số nước còn sản xuất cả loại epinephrin định liều đóng gói sẵn trong ống tiêm, có sẵn kim tiêm cho người bệnh tự dùng. Tất cả điều đó chỉ nhằm giải quyết sự kịp thời. Chống  sốc phản vệ  phải có đến 5 vấn đề ABCDE, chỉ khoa hồi sức cấp cứu tuyến trên, có thầy thuốc giàu kinh nghiệm, có đủ trang bị, thuốc men, có các biện pháp khác mới  giải quyết tốt 5 vấn đề đó. Khi sốc phản vệ xảy ra tuyến y tế cơ sở hay người bệnh chỉ có thể giải quyết khâu cấp cứu ban đầu, sau đó phải tìm cách đưa ngay lên tuyến trên.

Một số nước đưa corticoid vào danh mục thuốc dùng trong sốc phản vệ, nhằm giải quyết  các phản ứng dị ứng đến chậm, nhưng không coi corticoid là chỉ định bắt buộc. Nhiều kỹ thuật viên hiểu nhầm, dùng corticoid  tiêm cùng với các thuốc khác, trộn vào dịch truyền với hy vọng phòng  sốc phản vệ. Đó là cách dùng thuốc sai, phải loại bỏ.

Lời khuyên khi dùng một số thuốc có tiềm năng sốc phản vệ  cao

– Đối với thuốc có tiềm năng  sốc phản vệ cao (peniclin, streptomycin, dịch truyền, vắc-xin) bao giờ cũng phải cân nhắc kỹ, chỉ dùng khi lợi ích cao hơn nguy cơ. Không chỉ thầy thuốc mà người bệnh cũng có thể hiểu, làm được. Có thể nên hai ví dụ: một sản phụ bị nhiễm virút viêm gan B (HBV) tromg nhà có người bị nhiễm HBV. Khi sinh ra từ người mẹ có nhiễm HBV thì 90% trường hợp trẻ sẽ bị nhiễm HBV. Trong trường hợp này, bà mẹ nên tiêm vắc-xin viêm gan B  cho con ngay sau khi sinh vì lợi ích cao hơn (sẽ không bị nhiễm HBV) nếu không tiêm thì nguy cơ cao( 90% sẽ bị nhiễm HBV). Trái lại một sản phụ không nhiễm HBV, trong nhà cũng không có người nhiễm HBV. Trong trường hợp này, bà mẹ có thể hoãn chưa tiêm vắc-xin viêm gan B cho con ngay sau sinh mà còn chờ cho con có một số tháng tuổi. Điều này không sai, bởi lẽ trẻ mới sinh dễ mẫn cảm, dễ bị  sốc phản vệ hơn so với trẻ lớn) trong khi đó nguy cơ trẻ  bị nhiễm HBV không cao (gia đình không có ai nhiễm HBV, trước 6 tháng tuổi trẻ chỉ bú mẹ, chưa ra khỏi gia đình, khả năng xảy ra nhiễm HBV là ít). Hiện nay có trường hợp trẻ tiêm vắc-xin viêm gan B chết vì SPV chưa rõ nguyên nhân thì bà mẹ cân nhắc như vậy là có lý, có tình.

– Không được dùng thuốc có tiềm năng  sốc phản vệ cao ở nhà hay ở cơ sở y tế không có điều kiện chống  sốc phản vệ .

– Không điều trị tại nơi không có chức năng chữa bệnh (vì quen biết vì ngại đi xa). Thầy thuốc có thể giỏi, khi ở trong môi trường BV có sẵn  phương tiện, thuốc men, có thầy thuốc nhân viên trong khoa, có khoa khác hỗ trợ nên cái giỏi ấy được phát huy. Khi  thầy thuốc về làm riêng tại nhà, chỉ có cái ống nghe huyết áp, chỉ được giữ một ít thuốc cấp cứu, không có ai hỗ trợ nên không thể làm được mọi việc như ở bệnh viện.

– Có một số bệnh cấp và mạn ở trẻ em và người lớn làm tăng tần suất  sốc phản vệ, được coi là chống chỉ định. Phải khám bệnh, phải khai rõ tiền sử bệnh trước khi dùng thuốc – vắc-xin để loại bỏ nguy cơ dùng nhầm vào trường hợp chống chỉ định.

Không được dùng thuốc có tiềm năng sốc phản vệ cao ở nhà hay ở cơ sở y tế không có điều kiện chống sốc phản vệ.

DS.CKII. Bùi Văn Uy

Trong những ngày đông lạnh giá, rất nhiều người phải chịu đựng làn da bị khô nẻ, bong tróc vảy, thậm chí đỏ tấy. Tình trạng này tuy không nguy hiểm nhưng rất khó chịu. Hơn nữa, việc dùng kem bôi không đúng cách có thể khiến tình trạng da khô nẻ nặng hơn.

Dùng dược mỹ phẩm gì cho da mùa hanh khô?

Khi da bị khô nẻ, cần bôi kem dưỡng ẩm phù hợp.

Da khô nẻ vì sao?

Hàng ngày, cơ thể luôn có sự mất nước từ bên trong qua da. Mùa đông thời tiết lạnh giá, cộng với độ ẩm thấp và hanh khô, sự mất nước này lại càng tăng mạnh, một số loại vitamin và dưỡng chất quan trọng trong da cũng bốc hơi theo. Khi thiếu nước và dưỡng chất, da mất đi sự đàn hồi dẫn đến hiện tượng da  khô ráp, dễ bị nứt nẻ, bong vẩy, nhất là đối với trẻ nhỏ. Trời càng lạnh độ ẩm càng thấp thì da càng khô hơn. Đây là do hiện tượng tăng mất nước qua thượng bì khi trời lạnh. Nếu bạn dùng điều hòa hay máy sưởi khiến da càng nhanh mất nước và khô hơn, thậm chí còn đỏ rát, nổi nốt ban đỏ, ngứa ngáy, khó chịu. Đồng thời, do sự chênh lệch nhiệt độ và độ ẩm, nước trên bề mặt da bị thất thoát nghiêm trọng khiến lớp sừng trở nên cằn cỗi. Các lớp tế bào chết bong tróc và bám đầy trên bề mặt, làn da trở nên thô ráp, sần sùi, xỉn màu mất đi độ mềm mại. Khi trời lạnh, mạch máu của con người co lại một cách tự nhiên, hạn chế lưu thông máu. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến việc cung cấp năng lượng nuôi dưỡng tế bào,dẫn đến da bị nhão và chảy sệ, xỉn màu hoặc tái đi. Da thiếu nước khiến cấu trúc lớp thượng bì bị suy yếu, không có khả năng bảo vệ các lớp da nên chúng trở nên nhạy cảm, yếu ớt trước tác động của môi trường bên ngoài. Mắt và môi là nơi có làn da mỏng nhất, ít được bảo vệ nên chịu ảnh hưởng mạnh nhất của tình trạng mất nước. Tình trạng khô nẻ không chỉ ở nơi da mặt và cổ mà còn nứt nẻ ở tay, chân. Nếu nứt sâu thì có thể gây chảy máu, nứt lại bị kèm viêm da nhiễm khuẩn thì bệnh nhân sẽ bị ngứa, đau đớn.

Thuốc gì bảo vệ da bị khô nẻ?

Mấu chốt trong điều trị da khô nẻ là khắc phục hàng rào chất béo (lipid) bị hỏng và ngăn ngừa mất nước ở tế bào da. Những thành phần dầu tự nhiên rất hữu hiệu khi giải quyết các vấn đề này gồm: dầu bơ, dầu hướng dương, dầu đậu nành, dầu cây rum, dầu jojoba, dầu hạnh nhân, dầu hạt cải, sáp ong, dầu vừng, dầu dừa… có thể bôi trực tiếp lên da.

Hàng ngày, sau khi vệ sinh da sạch sẽ, cần bôi kem dưỡng ẩm cho da. Nên lựa chọn kem giữ ẩm sử dụng thành phần có bổ sung chất ẩm tự nhiên và kích thích sản sinh collagen – cơ quan giữ nước trong da. Có thể bôi các chế phẩm làm ẩm, mềm da như physiogel, cetaphil, vaselin, skincare-U, lacticare… Nếu nẻ nhiều có thể bôi ngày 2 – 3 lần. Những lựa chọn khác là thuốc mỡ hoặc kem dưỡng da chứa các thành phần như: axit lactic, axit hyaluronic, dimethicone, glycerin, lanolin, vitamin E… Nếu vùng da khô nứt nẻ có mụn nước, ngứa nhiều kèm theo nhiễm khuẩn (hay gặp ở những người bị viêm da cơ địa kèm nẻ hoặc những người có làn da dễ bị kích ứng) có thể phải dùng một đợt thuốc kháng sinh và thuốc kháng histamin, vitamin E hoặc vitamin C theo chỉ dẫn của bác sĩ chuyên khoa da liễu. Tuyệt đối không tự ý bôi các thuốc có chứa steroid để trị da khô nẻ như: trangala, cortebios, chlorocid H, flucinar, fobancort, gentrisone, diprosone… khi chưa có chỉ định của thầy thuốc. Dùng kéo dài các thuốc này sẽ gây nhiều hậu quả xấu như nổi mụn trứng cá, da mặt sần sùi, teo da.

Dùng dược mỹ phẩm gì cho da mùa hanh khô?

Khi vùng da khô nứt nẻ nhiều cần đi khám chuyên khoa da liễu để có chỉ định dùng thuốc.           Ảnh: Trần Minh

Đặc biệt lưu ý: Có hai chế phẩm được nhiều người sử dụng trong việc chữa da bị nứt nẻ là mỡ tetracyclin và flucinar. Thực tế hai loại thuốc trên không có tác dụng trong việc bảo vệ da khỏi bị khô nẻ. Tetracyclin là kháng sinh dạng bôi rất hạn chế dùng trên da mặt và thuốc flucinar chứa flucinolone acetonide – dẫn chất của glycocorticosteroid, chỉ định điều trị bệnh vảy nến, viêm da tiết bã nhờn, lichen phẳng, ngứa sần, eczema, không dùng thuốc ở da mặt, da cổ. Dùng lâu có thể gây tổn thương tại chỗ cho da, đôi khi kích ứng và nhiễm trùng thứ phát.

Khuyến cáo của thầy thuốc

Khi bị  nẻ, mọi người cần chú ý giữ vệ sinh cho da, đặc biệt là những vùng da hở. Tắm rửa bằng nước ấm vừa phải, không dùng nước quá nóng sẽ làm da mất nước nhiều hơn. Không nên lạm dụng sữa rửa mặt và xà phòng vì hoạt chất tẩy rửa của chúng càng tẩy mất chất nhờn trên da nhanh hơn, da càng thêm khô. Không lạm dụng kem tẩy da chết sẽ làm da mất lớp bảo vệ bên ngoài. Nên dùng dưa chuột, cà chua, củ đậu rửa sạch, thái lát đắp mặt nạ trước khi đi ngủ. Cần coi trọng việc bổ sung nguồn vitamin cần thiết cho da bằng cách uống đủ nước, ăn nhiều rau xanh, trái cây mỗi ngày và khi đi ra ngoài trời  nên đeo khẩu trang để hạn chế việc da bị nẻ. Không dùng các loại kem tự chế hay không có nguồn gốc để chữa nẻ. Khi vùng da khô nứt nẻ có biểu hiện sưng tấy, ngứa nhiều cần đi khám chuyên khoa da liễu để có chỉ định dùng thuốc.

DS. Hà Thanh

 
Mật ong trị da khô nẻ Mật ong trị da khô nẻ Bí quyết giúp da không dị ứng vào mùa đông Bí quyết giúp da không dị ứng vào mùa đông Da khô và mất nước Da khô và mất nước

 

Canxi là khoáng chất rất cần thiết cho cơ thể, có rất sẵn trong thức ăn hàng ngày, nhưng không phải khi ăn là hấp thụ được hết canxi vào cơ thể và không phải ai cũng biết cách làm thế nào để canxi được hấp thụ một cách tốt nhất.

Nhu cầu canxi của cơ thể

Trong những năm gần đây, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) nhiều lần nhấn mạnh về tầm quan trọng của canxi, ở người trưởng thành mỗi ngày phải bổ sung lượng canxi cần thiết là 1.000mg. Nhưng trong thực tế, ở nhiều quốc gia vì thói quen ẩm thực, phong tục tập quán mà không đảm bảo được tiêu chuẩn đó. Ví dụ: người dân tại khu vực châu Á chiều cao, sức khoẻ, thể lực, độ bền… đều có một khoảng cách rất lớn so với các nước phát triển. Điều này ngoài nguyên nhân do di truyền thì một nguyên nhân quan trọng nữa là lượng canxi bổ sung cho cơ thể bị thiếu.

Làm sao để hấp thụ tốt canxi?

Để canxi hấp thụ tốt thì rất cần có thêm vitamin D. Vitamin D có nhiều trong bơ, sữa, trứng, gan… Đối với những người bị bệnh loãng xương thì rất cần thiết bổ sung canxi và vitamin D trong bữa ăn hoặc thường xuyên tắm nắng, tăng cường các hoạt động ngoài trời. Tuy nhiên cũng nên lưu ý là các bữa ăn nhiều đạm có thể sẽ làm gia tăng lượng bài tiết canxi. Cứ đưa vào 1g protein thì cần đến 10mg canxi. Nếu uống các loại đồ uống có chứa caffeine và nicotin cũng là một tác nhân làm tăng lượng thải canxi qua đường nước tiểu. Trẻ em dùng nhiều đồ uống đóng chai (lon) mà trong các loại đồ uống này thường có hàm lượng phospho khá cao làm cản trở hấp thụ canxi. Môi trường ô nhiễm và con người có tiền sử sử dụng chất kích thích hoăc thuốc men cũng làm cản trở hấp thụ canxi.

Canxi trong thức ăn không hoàn toàn được hấp thụ trong ruột, có khoảng 70 – 80% không được hấp thụ mà lưu lại trong phân, đặc biệt khi ăn thức ăn chứa nhiều xenlulô; chủ yếu là do ion canxi kết hợp với các ion dương trong thực phẩm như axit phytic, axit oxalic và axit béo… tạo thành muối canxi không hòa tan. Tiêu hóa chất béo không thỏa đáng có thể làm giảm sự hấp thụ canxi, nguyên nhân là do canxi kết hợp với axit béo không hấp thụ bị bài tiết ra ngoài theo phân. Không nên ăn quá nhiều chất béo, chất đạm, ăn mặn (dưa, cà muối, mắm…). Tăng cường tiếp xúc với ánh nắng mặt trời để có đủ vitamin D giúp hấp thu canxi tốt hơn.

Ngoài ra, cần lưu ý rằng có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự hấp thu canxi như chế độ ăn; một số bệnh lý ở đường tiêu hóa, bệnh thận, bệnh nội tiết. Chế độ ăn quá nhiều chất đạm, nhiều natri làm tăng bài tiết canxi. Những thực phẩm có chứa nhiều axit fitic như các loại hạt ngũ cốc, axit oxalic có trong một số loại rau như rau dền (lá to), đồ muối chua… ngăn cản quá trình đồng hóa canxi khiến canxi từ đường tiêu hóa không được hấp thu vào máu. Canxi trong thực phẩm có nguồn gốc động vật dễ hấp thu hơn canxi có nguồn gốc từ thực vật. Những thực phẩm có nhiều canxi và dễ hấp thu nhất là sữa và các sản phẩm từ sữa như sữa chua, phô mai, kem,… Trong các trường hợp không thể cung cấp đủ nhu cầu canxi cho cơ thể qua thực phẩm, có thể phải bổ sung bằng thuốc canxi uống theo chỉ dẫn của bác sĩ.

BS. Hoàng Thanh Sơn

Canxi là khoáng chất rất cần thiết cho cơ thể, có rất sẵn trong thức ăn hàng ngày, nhưng không phải khi ăn là hấp thụ được hết canxi vào cơ thể và không phải ai cũng biết cách làm thế nào để canxi được hấp thụ một cách tốt nhất.

Nhu cầu canxi của cơ thể

Trong những năm gần đây, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) nhiều lần nhấn mạnh về tầm quan trọng của canxi, ở người trưởng thành mỗi ngày phải bổ sung lượng canxi cần thiết là 1.000mg. Nhưng trong thực tế, ở nhiều quốc gia vì thói quen ẩm thực, phong tục tập quán mà không đảm bảo được tiêu chuẩn đó. Ví dụ: người dân tại khu vực châu Á chiều cao, sức khoẻ, thể lực, độ bền… đều có một khoảng cách rất lớn so với các nước phát triển. Điều này ngoài nguyên nhân do di truyền thì một nguyên nhân quan trọng nữa là lượng canxi bổ sung cho cơ thể bị thiếu.

Làm sao để hấp thụ tốt canxi?

Để canxi hấp thụ tốt thì rất cần có thêm vitamin D. Vitamin D có nhiều trong bơ, sữa, trứng, gan… Đối với những người bị bệnh loãng xương thì rất cần thiết bổ sung canxi và vitamin D trong bữa ăn hoặc thường xuyên tắm nắng, tăng cường các hoạt động ngoài trời. Tuy nhiên cũng nên lưu ý là các bữa ăn nhiều đạm có thể sẽ làm gia tăng lượng bài tiết canxi. Cứ đưa vào 1g protein thì cần đến 10mg canxi. Nếu uống các loại đồ uống có chứa caffeine và nicotin cũng là một tác nhân làm tăng lượng thải canxi qua đường nước tiểu. Trẻ em dùng nhiều đồ uống đóng chai (lon) mà trong các loại đồ uống này thường có hàm lượng phospho khá cao làm cản trở hấp thụ canxi. Môi trường ô nhiễm và con người có tiền sử sử dụng chất kích thích hoăc thuốc men cũng làm cản trở hấp thụ canxi.

Canxi trong thức ăn không hoàn toàn được hấp thụ trong ruột, có khoảng 70 – 80% không được hấp thụ mà lưu lại trong phân, đặc biệt khi ăn thức ăn chứa nhiều xenlulô; chủ yếu là do ion canxi kết hợp với các ion dương trong thực phẩm như axit phytic, axit oxalic và axit béo… tạo thành muối canxi không hòa tan. Tiêu hóa chất béo không thỏa đáng có thể làm giảm sự hấp thụ canxi, nguyên nhân là do canxi kết hợp với axit béo không hấp thụ bị bài tiết ra ngoài theo phân. Không nên ăn quá nhiều chất béo, chất đạm, ăn mặn (dưa, cà muối, mắm…). Tăng cường tiếp xúc với ánh nắng mặt trời để có đủ vitamin D giúp hấp thu canxi tốt hơn.

Ngoài ra, cần lưu ý rằng có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự hấp thu canxi như chế độ ăn; một số bệnh lý ở đường tiêu hóa, bệnh thận, bệnh nội tiết. Chế độ ăn quá nhiều chất đạm, nhiều natri làm tăng bài tiết canxi. Những thực phẩm có chứa nhiều axit fitic như các loại hạt ngũ cốc, axit oxalic có trong một số loại rau như rau dền (lá to), đồ muối chua… ngăn cản quá trình đồng hóa canxi khiến canxi từ đường tiêu hóa không được hấp thu vào máu. Canxi trong thực phẩm có nguồn gốc động vật dễ hấp thu hơn canxi có nguồn gốc từ thực vật. Những thực phẩm có nhiều canxi và dễ hấp thu nhất là sữa và các sản phẩm từ sữa như sữa chua, phô mai, kem,… Trong các trường hợp không thể cung cấp đủ nhu cầu canxi cho cơ thể qua thực phẩm, có thể phải bổ sung bằng thuốc canxi uống theo chỉ dẫn của bác sĩ.

BS. Hoàng Thanh Sơn

Canxi là khoáng chất rất cần thiết cho cơ thể, có rất sẵn trong thức ăn hàng ngày, nhưng không phải khi ăn là hấp thụ được hết canxi vào cơ thể và không phải ai cũng biết cách làm thế nào để canxi được hấp thụ một cách tốt nhất.

Nhu cầu canxi của cơ thể

Trong những năm gần đây, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) nhiều lần nhấn mạnh về tầm quan trọng của canxi, ở người trưởng thành mỗi ngày phải bổ sung lượng canxi cần thiết là 1.000mg. Nhưng trong thực tế, ở nhiều quốc gia vì thói quen ẩm thực, phong tục tập quán mà không đảm bảo được tiêu chuẩn đó. Ví dụ: người dân tại khu vực châu Á chiều cao, sức khoẻ, thể lực, độ bền… đều có một khoảng cách rất lớn so với các nước phát triển. Điều này ngoài nguyên nhân do di truyền thì một nguyên nhân quan trọng nữa là lượng canxi bổ sung cho cơ thể bị thiếu.

Làm sao để hấp thụ tốt canxi?

Để canxi hấp thụ tốt thì rất cần có thêm vitamin D. Vitamin D có nhiều trong bơ, sữa, trứng, gan… Đối với những người bị bệnh loãng xương thì rất cần thiết bổ sung canxi và vitamin D trong bữa ăn hoặc thường xuyên tắm nắng, tăng cường các hoạt động ngoài trời. Tuy nhiên cũng nên lưu ý là các bữa ăn nhiều đạm có thể sẽ làm gia tăng lượng bài tiết canxi. Cứ đưa vào 1g protein thì cần đến 10mg canxi. Nếu uống các loại đồ uống có chứa caffeine và nicotin cũng là một tác nhân làm tăng lượng thải canxi qua đường nước tiểu. Trẻ em dùng nhiều đồ uống đóng chai (lon) mà trong các loại đồ uống này thường có hàm lượng phospho khá cao làm cản trở hấp thụ canxi. Môi trường ô nhiễm và con người có tiền sử sử dụng chất kích thích hoăc thuốc men cũng làm cản trở hấp thụ canxi.

Canxi trong thức ăn không hoàn toàn được hấp thụ trong ruột, có khoảng 70 – 80% không được hấp thụ mà lưu lại trong phân, đặc biệt khi ăn thức ăn chứa nhiều xenlulô; chủ yếu là do ion canxi kết hợp với các ion dương trong thực phẩm như axit phytic, axit oxalic và axit béo… tạo thành muối canxi không hòa tan. Tiêu hóa chất béo không thỏa đáng có thể làm giảm sự hấp thụ canxi, nguyên nhân là do canxi kết hợp với axit béo không hấp thụ bị bài tiết ra ngoài theo phân. Không nên ăn quá nhiều chất béo, chất đạm, ăn mặn (dưa, cà muối, mắm…). Tăng cường tiếp xúc với ánh nắng mặt trời để có đủ vitamin D giúp hấp thu canxi tốt hơn.

Ngoài ra, cần lưu ý rằng có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự hấp thu canxi như chế độ ăn; một số bệnh lý ở đường tiêu hóa, bệnh thận, bệnh nội tiết. Chế độ ăn quá nhiều chất đạm, nhiều natri làm tăng bài tiết canxi. Những thực phẩm có chứa nhiều axit fitic như các loại hạt ngũ cốc, axit oxalic có trong một số loại rau như rau dền (lá to), đồ muối chua… ngăn cản quá trình đồng hóa canxi khiến canxi từ đường tiêu hóa không được hấp thu vào máu. Canxi trong thực phẩm có nguồn gốc động vật dễ hấp thu hơn canxi có nguồn gốc từ thực vật. Những thực phẩm có nhiều canxi và dễ hấp thu nhất là sữa và các sản phẩm từ sữa như sữa chua, phô mai, kem,… Trong các trường hợp không thể cung cấp đủ nhu cầu canxi cho cơ thể qua thực phẩm, có thể phải bổ sung bằng thuốc canxi uống theo chỉ dẫn của bác sĩ.

BS. Hoàng Thanh Sơn

Canxi là khoáng chất rất cần thiết cho cơ thể, có rất sẵn trong thức ăn hàng ngày, nhưng không phải khi ăn là hấp thụ được hết canxi vào cơ thể và không phải ai cũng biết cách làm thế nào để canxi được hấp thụ một cách tốt nhất.

Nhu cầu canxi của cơ thể

Trong những năm gần đây, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) nhiều lần nhấn mạnh về tầm quan trọng của canxi, ở người trưởng thành mỗi ngày phải bổ sung lượng canxi cần thiết là 1.000mg. Nhưng trong thực tế, ở nhiều quốc gia vì thói quen ẩm thực, phong tục tập quán mà không đảm bảo được tiêu chuẩn đó. Ví dụ: người dân tại khu vực châu Á chiều cao, sức khoẻ, thể lực, độ bền… đều có một khoảng cách rất lớn so với các nước phát triển. Điều này ngoài nguyên nhân do di truyền thì một nguyên nhân quan trọng nữa là lượng canxi bổ sung cho cơ thể bị thiếu.

Làm sao để hấp thụ tốt canxi?

Để canxi hấp thụ tốt thì rất cần có thêm vitamin D. Vitamin D có nhiều trong bơ, sữa, trứng, gan… Đối với những người bị bệnh loãng xương thì rất cần thiết bổ sung canxi và vitamin D trong bữa ăn hoặc thường xuyên tắm nắng, tăng cường các hoạt động ngoài trời. Tuy nhiên cũng nên lưu ý là các bữa ăn nhiều đạm có thể sẽ làm gia tăng lượng bài tiết canxi. Cứ đưa vào 1g protein thì cần đến 10mg canxi. Nếu uống các loại đồ uống có chứa caffeine và nicotin cũng là một tác nhân làm tăng lượng thải canxi qua đường nước tiểu. Trẻ em dùng nhiều đồ uống đóng chai (lon) mà trong các loại đồ uống này thường có hàm lượng phospho khá cao làm cản trở hấp thụ canxi. Môi trường ô nhiễm và con người có tiền sử sử dụng chất kích thích hoăc thuốc men cũng làm cản trở hấp thụ canxi.

Canxi trong thức ăn không hoàn toàn được hấp thụ trong ruột, có khoảng 70 – 80% không được hấp thụ mà lưu lại trong phân, đặc biệt khi ăn thức ăn chứa nhiều xenlulô; chủ yếu là do ion canxi kết hợp với các ion dương trong thực phẩm như axit phytic, axit oxalic và axit béo… tạo thành muối canxi không hòa tan. Tiêu hóa chất béo không thỏa đáng có thể làm giảm sự hấp thụ canxi, nguyên nhân là do canxi kết hợp với axit béo không hấp thụ bị bài tiết ra ngoài theo phân. Không nên ăn quá nhiều chất béo, chất đạm, ăn mặn (dưa, cà muối, mắm…). Tăng cường tiếp xúc với ánh nắng mặt trời để có đủ vitamin D giúp hấp thu canxi tốt hơn.

Ngoài ra, cần lưu ý rằng có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự hấp thu canxi như chế độ ăn; một số bệnh lý ở đường tiêu hóa, bệnh thận, bệnh nội tiết. Chế độ ăn quá nhiều chất đạm, nhiều natri làm tăng bài tiết canxi. Những thực phẩm có chứa nhiều axit fitic như các loại hạt ngũ cốc, axit oxalic có trong một số loại rau như rau dền (lá to), đồ muối chua… ngăn cản quá trình đồng hóa canxi khiến canxi từ đường tiêu hóa không được hấp thu vào máu. Canxi trong thực phẩm có nguồn gốc động vật dễ hấp thu hơn canxi có nguồn gốc từ thực vật. Những thực phẩm có nhiều canxi và dễ hấp thu nhất là sữa và các sản phẩm từ sữa như sữa chua, phô mai, kem,… Trong các trường hợp không thể cung cấp đủ nhu cầu canxi cho cơ thể qua thực phẩm, có thể phải bổ sung bằng thuốc canxi uống theo chỉ dẫn của bác sĩ.

BS. Hoàng Thanh Sơn

Ho là phản ứng tự vệ quan trọng của cơ thể để tống ra ngoài các dị vật ở phần trên của đường hô hấp có thể gây cản trở đường thở. Đây là triệu chứng của một số rối loạn trong cơ thể như cảm cúm, do kích ứng, dị ứng, hoặc một số bệnh như hen, viêm phế quản… Khi điều trị nguyên nhân gây bệnh sẽ hết ho. Tuy nhiên, nếu ho nhiều làm mất ngủ, mệt  mỏi…  ảnh hưởng tới sức khỏe thì cần phải dùng thuốc để giảm ho.

Thuốc giảm ho codein

Là  một loại thuốc có cơ chế tác dụng tương tự morphin, tức là có tác dụng giảm đau và giảm ho. Tuy nhiên, codein được hấp thu tốt hơn ở dạng uống, ít gây táo bón và ít gây co thắt đường dẫn mật hơn so với morphin. Ở liều điều trị, ít gây ức chế hô hấp (60% thấp hơn so với morphin) và ít gây nghiện hơn morphin. Codein làm khô dịch tiết đường hô hấp và làm tăng độ quánh của dịch tiết phế quản và có tác dụng giảm ho do tác dụng trực tiếp lên trung tâm gây ho ở hành não. Tuy nhiên, thuốc không đủ hiệu lực để giảm ho nặng và chỉ là thuốc giảm ho trong trường hợp ho khan làm mất ngủ. Tác dụng giảm ho xuất hiện trong vòng 1 – 2 giờ và có thể kéo dài 4 – 6 giờ.

 	Tư vấn cho người bệnh về tác dụng phụ có thể xảy ra khi dùng thuốc ho.

Tư vấn cho người bệnh về tác dụng phụ có thể xảy ra khi dùng thuốc ho.

Không dùng codein giảm ho cho người mẫn cảm với codein hoặc các thành phần khác của thuốc, trẻ em dưới 1 tuổi, bệnh gan, suy hô hấp, người mang thai, bệnh về phế quản khi cần phải khạc đờm…

Một số các tác dụng không mong muốn khi dùng thuốc này có thể xảy ra như: đau đầu, chóng mặt, buồn nôn, nôn, táo bón, bí đái hoặc đái ít, thậm chí hạ huyết áp thế đứng. Một số trường hợp bị ngứa, mày đay, đau dạ dày hoặc co thắt đường mật. Nếu dùng thuốc liều cao trong thời gian dài có thể gây nghiện thuốc với các biểu hiện khi thiếu thuốc như: bồn chồn, run, co giật cơ, toát mồ hôi, chảy nước mũi; có thể gây lệ thuộc thuốc về tâm lý, về thân thể và gây quen thuốc.

Dextromethophan

Đây là thuốc thường được phối hợp với các thuốc khác như paracetamol, pseudoephedrin, clopheniramin trong một số chế phẩm trị ho, cảm lạnh. Dextromethophan được dùng giảm ho nhất thời do kích thích nhẹ ở phế quản và họng như cảm lạnh thông thường hoặc hít phải các chất kích thích. Thuốc có hiệu quả nhất trong điều trị ho mạn tính, không có đờm (không có tác dụng long đờm). Hiệu lực của dextromethophan gần tương đương với hiệu lực của codein nhưng so với codein thì dextromethophan ít gây tác dụng phụ ở đường tiêu hóa hơn. Với liều điều trị, tác dụng chống ho của thuốc kéo dài được 5 – 6 giờ. Thuốc có độc tính thấp nhưng với liều rất cao có thể gây ức chế thần kinh trung ương.

Không dùng thuốc cho người quá mẫn với thuốc và các thành phần khác của thuốc có trong chế phẩm, người bệnh đang điều trị các thuốc ức chế monoaminoxydase (MAO) vì có thể gây những phản ứng nặng như sốt cao, chóng mặt, tăng huyết áp, chảy máu não, thậm chí tử vong. Không dùng cho trẻ em dưới 2 tuổi, những người bệnh có nguy cơ suy hô hấp.

Khi dùng dextromethophan, người dùng có thể thấy mệt mỏi, chóng mặt, nhịp tim nhanh, buồn nôn, đỏ bừng hoặc nổi mày đay (ít gặp hơn), ngoại ban (hiếm gặp hơn) hoặc thỉnh thoảng thấy buồn ngủ nhẹ, rối loạn tiêu hóa, hành vi kỳ quặc do ngộ độc, ức chế hệ thần kinh trung ương và suy hô hấp có thể xảy ra khi dùng liều cao. Cần thông báo cho người bệnh về tác dụng an thần gây buồn ngủ của thuốc, tránh dùng cùng các thuốc ức chế thần kinh trung ương và rượu.

Thuốc kháng histamin alimemazin

Là thuốc có tác dụng kháng histamin và kháng serotonin mạnh, có tác dụng giảm ho, an thần và chống nôn. Trong điều trị ho, thuốc dùng trong các chứng ho khan do dị ứng, do kích thích, nhất là về ban đêm (do tác dụng an thần của thuốc).

Không dùng thuốc này cho người rối loạn chức năng gan hoặc thận, động kinh, bệnh Parkinson, thiểu năng tuyến giáp, u tế bào ưa croom, bệnh nhược cơ, phì đại tuyến tiền liệt; người mẫn cảm với thuốc, trẻ em dưới 2 tuổi… Thận trọng khi dùng cho người cao tuổi, đặc biệt khi thời tiết rất nóng hoặc rất lạnh (gây nguy cơ tăng hoặc hạ nhiệt). Cần báo cho người bệnh biết hiện tượng buồn ngủ trong những ngày đầu điều trị và không nên điều khiển xe và máy móc trong những ngày dùng thuốc. Người cao tuổi rất dễ bị giảm huyết áp thế đứng. Tránh dùng rượu hoặc các thuốc ức chế thần kinh trung ương khác cùng với thuốc này.

Có thông báo thuốc gây vàng da và các triệu chứng ngoại tháp ở trẻ nhỏ mà người mẹ đã dùng thuốc này khi mang thai. Vì vậy, tránh dùng thuốc cho người mang thai, phụ nữ cho con bú.

Tần suất xảy ra các tác dụng không mong muốn phụ thuộc vào liều và thời gian sử dụng, vào chỉ định điều trị. Thường gặp nhất là các biểu hiện mệt mỏi, uể oải, đau đầu, chóng mặt nhẹ; khô miệng, đờm đặc; táo bón. Đặc biệt, cần chú ý tới các triệu chứng như phản ứng ngoại tháp, giật run kiểu Parkinson, bồn chồn, rối loạn trương lực cơ cấp, rối loạn vận động muộn; khô miệng có thể gây hại răng và men răng, nguy cơ ngừng hô hấp, thậm chí gây tử vong đột ngột đã gặp ở trẻ nhỏ. Khi gặp các triệu chứng này cần thông báo cho bác sĩ biết để xử lý kịp thời, thích hợp.           

DS. Hoàng Thu Thủy

 

Có thể nói sự phát minh ra kháng sinh đã mở đầu cho một kỷ nguyên thịnh vượng của y học đối với các bệnh nhiễm khuẩn. Nhưng chưa trải qua sự thịnh vượng được bao lâu thì chúng ta lại đứng trước ngưỡng cửa cạn kiệt kháng sinh…

Vi khuẩn kháng lại thuốc như cơm bữa

Nhiễm khuẩn là căn bệnh đáng sợ nhất và hủy hoại nhiều nhất cuộc sống của con người. Nó là căn bệnh chủ yếu gây ra tử vong cho bệnh nhân ở các nước nghèo và là căn bệnh chiếm tỷ lệ lớn ở các nước đang phát triển và còn là căn bệnh đe dọa các nước đã phát triển. Kháng sinh là công cụ hữu hiệu và chuẩn xác nhất để tiêu diệt. Nhưng chúng ta đang sắp hết kháng sinh để dùng vì sự kháng kháng sinh ngày càng gia tăng.

Chúng ta sắp hết kháng sinh?

Việc tìm ra các kháng sinh mỗi ngày càng khó khăn.

Kháng kháng sinh là tình trạng vi khuẩn không còn bị tiêu diệt với kháng sinh điều trị đó nữa. Mặc dù đã tăng liều lên tối đa hay đã sử dụng thuốc với phác đồ tấn công nhưng vi khuẩn vẫn tồn tại. Điều đó thực sự nguy hại vì không có thuốc nào ngoài kháng sinh có thể tiêu diệt vi khuẩn. Sự kháng lại đơn dòng kháng sinh (kháng một thuốc) đã nguy hiểm. Sự kháng đa dòng kháng sinh (kháng nhiều thuốc) còn nguy hiểm hơn. Vì có thể loại vi khuẩn đó là bất khả chiến bại.

Nếu cách đây gần 70 năm, kháng kháng sinh chỉ là một nguy cơ nhỏ nhoi thì nay đã diễn ra ào ạt trên nhiều dòng vi khuẩn khác nhau. Năm 1928, tìm ra kháng sinh đầu tiên là penicillin nhờ sự phát hiện của nhà vi sinh vật học Alexander Fleming. Nhưng đến năm 1947, 20 năm sau đó, người ta đã phát hiện dòng vi khuẩn kháng lại kháng sinh đầu tiên này. Sau đó, sự kháng đã xảy ra rất nhanh và tốc độ rất cao.

Năm 1947, chỉ một ca bệnh phát hiện ra kháng kháng sinh. Sau đó một vài năm thì phát hiện ra thêm nhiều ca bệnh khác cũng kháng lại kháng sinh và nay thì nó đã trở thành chuyện hay gặp. Năm 1947, dòng vi khuẩn tụ cầu mới chỉ kháng lại kháng sinh penicillin. Đến năm 1961, dòng vi khuẩn này đã kháng lại đa thuốc kháng sinh.

Tính trên toàn châu Âu, lục địa già nổi tiếng là vệ sinh sạch sẽ, tình trạng kháng kháng sinh cũng đã bùng nổ. Con số kháng kháng sinh đã chạm tới ngưỡng 25%, một con số đáng để giật mình với nghành dược tương lai. Báo cáo năm 2010 cho thấy, vi khuẩn E.coli có tỷ lệ kháng aminopenicillin từ 34-83% tùy vào quốc gia riêng lẻ. Năm 2010, lục địa này cũng chính thức tuyên bố đã xuất hiện sự kháng kháng sinh cephalosporin thế hệ 3, một dòng kháng sinh tương đối mới, nổi tiếng là phổ rộng và khó kháng nhưng đã bị kháng.

Chủng vi khuẩn kháng kháng sinh thì tăng lên theo thời gian và không có dấu hiệu nào cho thấy chúng sẽ dừng lại. Ban đầu chỉ có một dòng vi khuẩn là tụ cầu kháng kháng sinh thì nay tình trạng kháng đã xảy ra với nhiều loại vi khuẩn khác nữa như liên cầu, phế cầu, E.coli, Klebsiella, Salmonella…

Ban đầu chỉ có penicillin bị kháng thì nay đã xuất hiện nhiều dòng kháng sinh khác bị kháng theo. Từ penicillin đến methicinin, oxacillin, erythromycin, clindamycin… thậm chí các kháng sinh phổ rộng và siêu mạnh như cephalosporin thế hệ 3 cũng đã bị kháng.

Tình trạng kháng kháng sinh ở Việt Nam thực sự đáng cảnh báo. Nghiên cứu tại TP. Hồ Chí Minh cho thấy, năm 1995, tỷ lệ phế cầu khuẩn kháng kháng sinh penicillin mới chỉ có 8%, nhưng đến giai đoạn 1999-2002, tỷ lệ này đã tăng lên chót vót 56%. Chưa là gì với erythromycin, tỷ lệ không dung nạp kháng sinh này còn đến mức đỉnh điểm 92,1%. Tức là gần như kháng sinh này không còn công dụng điều trị tại thành phố lớn nhất nước. Trong số 11 các quốc gia châu Á, Việt Nam đứng trong hàng ngũ các quốc gia có tỷ lệ kháng kháng sinh cao nhất. Nghịch lý, tỷ lệ kháng lại xảy ra ở trẻ em thành phố và ngoại ô cao gấp 22 lần so với trẻ em vùng nông thôn.

Bào chế thuốc mới “như cà phê phin”

Để đối phó với tình trạng kháng lại kháng sinh, chúng ta cần nhiều giải pháp khác nhau. Tuy nhiên, giải pháp cốt lõi bảo vệ sức khỏe loài người đó là tìm ra kháng sinh mới. Nhưng nếu nhìn vào khả năng tiến lên của ngành dược thì có thể thấy, tốc độ thực chậm chạp và ì ạch.

Có thể ví von dễ hiểu thế này: nếu coi như sự kháng lại kháng sinh mạnh mẽ và ào ạt “như nước sông Đà” thì việc bào chế ra kháng sinh mới chỉ nhỏ giọt “như cà phê phin”.

Sẽ thực sự ngạc nhiên khi chúng ta đã bước sang thế kỷ 21, nhưng đa phần kháng sinh hiện nay đều là kháng sinh từ kỷ nguyên vàng 1940-1960, tức là đã cách đây trên 70 năm. Trong suốt gần 50 năm trở lại đây, chúng ta có quá ít thuốc mới và đa phần chỉ là các thuốc cũ. Có đúng thêm 2 dòng kháng sinh mới được tung ra thị trường là dòng kháng sinh oxazolidinone và lipopeptide vòng. Các công ty dược hầu như chỉ giậm chân tại chỗ. Các thuốc được gọi là mới chỉ loanh quanh ở điểm bổ sung thêm một chất mới thành một thuốc hỗn hợp (không làm thay đổi bản chất thuốc), thay đổi một vài nhóm chức hóa học (trên nền phân tử thuốc cũ), cải tiến kích thước phân tử (nhằm làm tăng tính khả dụng). Nhưng các nỗ lực này chỉ chứng tỏ sự hạn hẹp của bào chế, chạy lòng vòng xung quanh những gì chúng ta đã tìm ra mà không thấy sự xuất hiện các dòng thuốc mới.

Điều này cũng không có gì là khó hiểu. Ngành công nghiệp dược cũng là một ngành công nghiệp tồn tại vì lợi nhuận. Việc sản xuất ra một thuốc sẽ giúp công ty dược kiếm ra bộn tiền và thu về lợi ích siêu khủng. Nhưng nếu bỏ chi phí ra để nghiên cứu, tìm tòi, bào chế ra một loại kháng sinh khác thì thực quá đắt đỏ. Họ sẽ phải bỏ ra những khoản tiền khổng lồ cho việc lần mò thực nghiệm nhằm thăm dò loại kháng sinh mới. Tìm ra rồi, họ cần phải bỏ ra thêm một khoản tiền khổng lồ nữa để nhằm thử nghiệm sản xuất công nghiệp. Khi ra mẻ thuốc đầu tiên, họ phải bỏ ra tiếp một gia sản “hàng khủng” để thực nghiệm qua nhiều giai đoạn, chứng minh khả năng điều trị và tính an toàn trên bệnh nhân, sau đó mới được đăng ký lưu hành. Nếu việc tìm kiếm chất mới không tính vào công đoạn bào chế thì một thuốc mới ra đời sẽ ngốn khoảng 4-5 năm và số tiền thì không có con số cụ thể. Đương nhiên, các ông trùm dược học sẽ phải tính toán để bỏ ra chi phí ít nhất mà thu về lợi nhuận cao nhất.

Song cái khó của bài toán có lẽ không nằm chủ yếu ở vấn đề tiền bạc mà có lẽ nó nằm chủ yếu ở vấn đề khoa học và công nghệ. Hiện nay, chính khoa học dược học cũng đang “bí” hướng đi.

Thay cho lời kết, xin trích dẫn câu nói của BS. Arjun Srinivasan, Phó Giám đốc Trung tâm Kiểm soát dịch bệnh Hoa Kỳ: Nếu không có biện pháp hữu hiệu, “chúng ta sẽ ở kỷ nguyên hậu kháng sinh” vì hết kháng sinh.      

BS. Châu Anh Tú

 

Đa số các loại thuốc: uống, tiêm, dùng ngoài da (nhỏ mắt, mũi, tai; đặt hậu môn, âm đạo) xông hít… đều đào thải qua thận dưới dạng biến đổi hay không biến đổi nên đều có thể gây hại thận tùy theo mức độ độc hại của thuốc. Người suy giảm chức năng thận nhẹ có độ thanh thải creatinin huyết thanh trên 150micro.mol/L và người trên 60 tuổi có độ thanh thải creatinin huyết thanh trên 120 micro.mol/L đã có thể gặp những trường hợp như: không bài xuất hết được thuốc hoặc chất chuyển hóa của thuốc nên tích tụ lại gây nhiễm độc cho cơ thể. Một số thuốc không có hiệu quả hoặc giảm tác dụng khi chức năng thận bị suy giảm.

 	Vị trí và hình ảnh cắt dọc quả thận.

Vị trí và hình ảnh cắt dọc quả thận.

Vì vậy, với những đối tượng này nên lưu ý tránh dùng các thuốc sau: thuốc điều trị bệnh glocom: acetazolamid, thuốc chống ung thư: cisplatin; ifosfamid; thuốc chống rối loạn lipid máu: clofibrat, kháng sinh chống nhiễm khuẩn nặng: colistin; thuốc chống viêm không steroid: indomethacin; ibuprofen; ketoprofen; meloxicam; piroxicam; naproxen; tenoxicam, thuốc điều trị bệnh đái tháo đường typ 2: metformin; thuốc kháng khuẩn tiết niệu: nitrofurantoin; thuốc giải độc kim loại: penicilamin; sulfonamid kháng khuẩn: sulfadiazin; các loại kháng sinh: neomycin; tetracylin và các thuốc cùng nhóm như: doxycylin, myocylin…

DS. Trần Xuân Thuyết

 

Thuyên tắc phổi là một biến chứng nguy hiểm của thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch. Bệnh gặp khó khăn trong chẩn đoán do triệu chứng lâm sàng không điển hình, dễ nhầm lẫn với những nguyên nhân khác, các xét nghiệm sinh học không thể xác minh, cần phải nhờ đến chẩn đoán hình ảnh kỹ thuật cao mới xác định được.

Những ai có nguy cơ thuyên tắc phổi?

Thuyên tắc phổi xuất hiện khi có một vật gây tắc nghẽn làm cản trở dòng máu chảy qua động mạch phổi. 90% trường hợp thuyên tắc phổi xuất phát từ cục máu đông hình thành trong bệnh huyết khối tĩnh mạch sâu. Khoảng 80% các cục máu đông này sẽ tự tan biến mà không gây tắc mạch phổi, 20% còn lại có thể di chuyển đến tĩnh mạch chậu đùi và bị vỡ, cho phép một cục máu đông di chuyển lên tĩnh mạch chủ dưới và sau cùng lên phổi sẽ gây ra sự tắc nghẽn tại đó.

Nguy cơ phát triển thuyên tắc phổi tăng theo tuổi. Những người có nguy cơ cao là những người bị huyết khối tĩnh mạch sâu hoặc có tiền sử thuyên tắc phổi. Đôi khi, có một số triệu chứng dễ thấy ở đầu chi – biểu hiện của huyết khối tĩnh mạch sâu như: sưng; đau hoặc tăng cảm giác; đầu chi ấm hơn; da đỏ, xanh hoặc nhợt nhạt. Một số trường hợp thuyên tắc phổi nặng có thể gây shock, bất tỉnh, ngừng tim hay tử vong.

Điều trị thế nào?

Điều trị thuyên tắc phổi nhằm mục đích làm tan cục máu đông, ngăn cục máu đông phát triển to hơn và ngăn cục máu đông mới tạo thành. Bước đầu tiên trong điều trị thuyên tắc phổi là điều trị shock và cung cấp ôxy. Các thuốc chống đông máu như heparin, wafarin được sử dụng để ngăn sự tạo thành cục máu đông. Đặc biệt hiện nay hay sử dụng các heparin trọng lượng phân tử thấp như enoxaparin để thay thế cho heparin vì chúng có hiệu quả điều trị tương đương heparin, tiện dụng hơn (chỉ cần điều chỉnh liều theo cân nặng, không cần theo dõi aPTT) và an toàn với bệnh nhân (ít nguy cơ giảm tiểu cầu).

Các thuốc tiêu sợi huyết (làm tan cục máu đông đã hình thành) cũng có thể được sử dụng, nhưng chúng gây ra nguy cơ chảy máu cao cho bệnh nhân nên thường chỉ được dùng trong những trường hợp nặng.

Ngoài ra, những bệnh nhân yếu và huyết áp tụt có thể dùng thêm thuốc như dopamin để tăng huyết áp.

Phòng bệnh

Do không có hoặc các triệu chứng lâm sàng không đặc trưng, các xét nghiệm cũng gặp phải những khó khăn trong chẩn đoán thuyên tắc phổi, vì vậy, việc đánh giá mức độ nguy cơ bệnh nhân đang có, từ đó biết được xác suất mắc bệnh để có biện pháp dự phòng là cách tiếp cận tốt nhất.

Bệnh nhân có nguy cơ cao có nhiều cách để phòng bệnh như dùng các thuốc chống đông máu (heparin, enoxaparin, wafarin), sử dụng tất băng nịt giảm lượng máu ứ đọng tránh tạo thành cục máu đông.

Ngoài ra, có những cách để giảm nguy cơ thuyên tắc huyết khối như: rèn luyện, luyện tập thể dục thường xuyên; không nên nằm lâu ngày sau khi phẫu thuật, sau tai biến mạch máu não; sản phụ cần đi lại, nằm đúng tư thế để tránh cho thai không gây chèn ép tĩnh mạch chậu.

90% thuyên tắc phổi bắt nguồn từ huyết khối tĩnh mạch sâu, do vậy nên đến bác sĩ chuyên khoa khám nếu thấy dấu hiệu sưng to bất thường một chân, nặng chân, đau chân, cũng có thể đến bệnh viện lớn để làm siêu âm Doppler nếu có điều kiện.

DS. Ngô Trang

Thuyên tắc phổi là một biến chứng nguy hiểm của thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch. Bệnh gặp khó khăn trong chẩn đoán do triệu chứng lâm sàng không điển hình, dễ nhầm lẫn với những nguyên nhân khác, các xét nghiệm sinh học không thể xác minh, cần phải nhờ đến chẩn đoán hình ảnh kỹ thuật cao mới xác định được.

Những ai có nguy cơ thuyên tắc phổi?

Thuyên tắc phổi xuất hiện khi có một vật gây tắc nghẽn làm cản trở dòng máu chảy qua động mạch phổi. 90% trường hợp thuyên tắc phổi xuất phát từ cục máu đông hình thành trong bệnh huyết khối tĩnh mạch sâu. Khoảng 80% các cục máu đông này sẽ tự tan biến mà không gây tắc mạch phổi, 20% còn lại có thể di chuyển đến tĩnh mạch chậu đùi và bị vỡ, cho phép một cục máu đông di chuyển lên tĩnh mạch chủ dưới và sau cùng lên phổi sẽ gây ra sự tắc nghẽn tại đó.

Nguy cơ phát triển thuyên tắc phổi tăng theo tuổi. Những người có nguy cơ cao là những người bị huyết khối tĩnh mạch sâu hoặc có tiền sử thuyên tắc phổi. Đôi khi, có một số triệu chứng dễ thấy ở đầu chi – biểu hiện của huyết khối tĩnh mạch sâu như: sưng; đau hoặc tăng cảm giác; đầu chi ấm hơn; da đỏ, xanh hoặc nhợt nhạt. Một số trường hợp thuyên tắc phổi nặng có thể gây shock, bất tỉnh, ngừng tim hay tử vong.

Điều trị thế nào?

Điều trị thuyên tắc phổi nhằm mục đích làm tan cục máu đông, ngăn cục máu đông phát triển to hơn và ngăn cục máu đông mới tạo thành. Bước đầu tiên trong điều trị thuyên tắc phổi là điều trị shock và cung cấp ôxy. Các thuốc chống đông máu như heparin, wafarin được sử dụng để ngăn sự tạo thành cục máu đông. Đặc biệt hiện nay hay sử dụng các heparin trọng lượng phân tử thấp như enoxaparin để thay thế cho heparin vì chúng có hiệu quả điều trị tương đương heparin, tiện dụng hơn (chỉ cần điều chỉnh liều theo cân nặng, không cần theo dõi aPTT) và an toàn với bệnh nhân (ít nguy cơ giảm tiểu cầu).

Các thuốc tiêu sợi huyết (làm tan cục máu đông đã hình thành) cũng có thể được sử dụng, nhưng chúng gây ra nguy cơ chảy máu cao cho bệnh nhân nên thường chỉ được dùng trong những trường hợp nặng.

Ngoài ra, những bệnh nhân yếu và huyết áp tụt có thể dùng thêm thuốc như dopamin để tăng huyết áp.

Phòng bệnh

Do không có hoặc các triệu chứng lâm sàng không đặc trưng, các xét nghiệm cũng gặp phải những khó khăn trong chẩn đoán thuyên tắc phổi, vì vậy, việc đánh giá mức độ nguy cơ bệnh nhân đang có, từ đó biết được xác suất mắc bệnh để có biện pháp dự phòng là cách tiếp cận tốt nhất.

Bệnh nhân có nguy cơ cao có nhiều cách để phòng bệnh như dùng các thuốc chống đông máu (heparin, enoxaparin, wafarin), sử dụng tất băng nịt giảm lượng máu ứ đọng tránh tạo thành cục máu đông.

Ngoài ra, có những cách để giảm nguy cơ thuyên tắc huyết khối như: rèn luyện, luyện tập thể dục thường xuyên; không nên nằm lâu ngày sau khi phẫu thuật, sau tai biến mạch máu não; sản phụ cần đi lại, nằm đúng tư thế để tránh cho thai không gây chèn ép tĩnh mạch chậu.

90% thuyên tắc phổi bắt nguồn từ huyết khối tĩnh mạch sâu, do vậy nên đến bác sĩ chuyên khoa khám nếu thấy dấu hiệu sưng to bất thường một chân, nặng chân, đau chân, cũng có thể đến bệnh viện lớn để làm siêu âm Doppler nếu có điều kiện.

DS. Ngô Trang

Viêm xoang là một bệnh rất phổ biến, đa số trường hợp do nhiễm trùng, nhiễm virut, nhiễm nấm. Viêm xoang được phân loại theo tính chất cấp tính và mạn tính. Viêm xoang cấp tính thường được điều trị nội khoa, còn mạn tính thì phải xét đến vấn đề điều trị ngoại khoa.

Viêm mũi xoang do rất nhiều nguyên nhân như: Viêm mũi xoang do dị ứng; Viêm mũi xoang vận mạch; Viêm mũi xoang nhiễm khuẩn; Viêm mũi mạn tính do thuốc xịt mũi;Viêm mũi do nội tiết:Hay gặp ở thai phụ và trong bệnh suy tuyến giáp, biểu hiện như viêm mũi dị ứng. Viêm mũi xoang còn có thể do vi nấm. Ngoài ra, viêm mũi xoang còn do vẹo vách ngăn, do polyp mũi hoặc VA (sùi vòm họng) phì đại thường biểu hiện bằng nghẹt mũi một bên mạn tính. Nên khám chuyên khoa tai mũi họng để xác định nguyên nhân.
Thuốc điều trị viêm mũi xoang

Điều trị

Tùy theo nguyên nhân gây bệnh bác sĩ sẽ chỉ định thuốc kháng sinh nếu là viêm mũi xoang do vi trùng. Với những trường hợp viêm mũi xoang do cảm cúm nên dùng thuốc cảm thông thường như paracetamol, chlorpheniramine, giảm đau, thuốc chống dị ứng; phun khí dung hoặc thủ thuật Proezt (súc rửa xoang) để đưa dung dịch thuốc vào xoang sàng.

Khi điều trị nội khoa bằng thuốc không bớt, bác sĩ sẽ chọc xoang hàm để rút mủ hoặc phẫu thuật để cắt polyp mũi, chỉnh hình vách ngăn, nạo xoang… Trường hợp viêm mũi xoang do răng, cần phải nhổ răng gây bệnh.

Hiện tại, phẫu thuật nội soi điều trị viêm mũi xoang chính xác và an toàn hơn mổ hở. Tuy nhiên sau phẫu thuật, đối với những bệnh nhân viêm mũi xoang do dị ứng (nhiệt độ, thời tiết, bụi nhà, phấn hoa, lông thú…) nếu vẫn tiếp tục tiếp xúc với các dị ứng nguyên nói trên, nguy cơ tái phát sẽ rất cao.

Do đó sau phẫu thuật, bệnh nhân vẫn phải dùng thuốc kháng dị ứng và cần tránh tiếp xúc với nguyên nhân gây bệnh. Bụi nhà là nguyên nhân chính gây viêm mũi xoang dị ứng. Với những loại viêm mũi xoang khác, khả năng tái phát ít hơn.

Cần lưu ý là trẻ em cũng bị viêm mũi xoang. Nguyên nhân thường do trẻ bị viêm VA không được điều trị kịp thời hoặc để bệnh tái phát nhiều lần.

Thuốc điều trị viêm mũi xoang

Một số thuốc thường dùng trong bệnh viêm mũi xoang

– Thuốc kháng histamin như chlorpheniramin, promethazin, acrivastin, levocetirizine, loratadine… Các loại thuốc này rất hiệu quả đối với ngứa và sổ mũi do dị ứng nhưng không có tác dụng chữa nghẹt mũi. Do vậy cần phối hợp với các thuốc điều trị nghẹt mũi.

– Thuốc thông mũi, điều trị nghẹt mũi: Các dược chất thường dùng là phenylpropanolamin, pseudoephedrin. Thuốc khá hiệu quả trong việc làm thông mũi nhưng cũng có tác dụng phụ. Loại thuốc này dùng dưới dạng uống hay xịt, chỉ nên dùng trong vòng 7 ngày do hiện tượng nhờn thuốc tạo nên vòng bệnh lý luẩn quẩn (vicious circle) dẫn tới viêm mũi mạn tính.

– Thuốc corticoid uống hoặc xịt: Thuốc xịt mũi có corticoid là hiệu quả nhất trong việc điều trị tất cả các thể viêm mũi xoang mạn tính. Thuốc làm giảm tất cả các triệu chứng như ngứa niêm mạc mũi xoang, do đó làm thông mũi và giải quyết ứ tắc xoang. Thuốc này tương đối an toàn khi sử dụng lâu dài do ít bị hấp thu vào máu.

– Corticosteroid uống hiệu quả nhưng ít được sử dụng vì có nhiều tác dụng phụ độc hại như gây loãng xương, suy thượng thận (Cushing do thuốc), viêm loét dạ dày tá tràng… chỉ nên dùng trong trường hợp viêm mũi xoang nặng với thời gian ngắn khoảng từ 3-7 ngày.

– Thuốc súc rửa mũi: Dùng dung dịch nước muối loãng hoặc NaCl 0,9% cho vào lọ nhựa sạch (neti pot) rồi nhỏ vài giọt vào hốc mũi sau đó cúi xuống và xì sạch dịch mũi, thực hiện như vậy vài lần vào các buổi sáng, chiều, tối.

– Thủ thuật Proetz (súc rửa xoang): Đây là cách rửa xoang, lấy mủ từ xoang ra bằng áp lực âm không gây đau hoặc chảy máu, không cần dụng cụ y khoa như kìm, kéo… phù hợp với những trường hợp viêm mũi xoang nhẹ.

– Các thuốc kháng sinh: Việc dùng thuốc đúng, đủ và đều đặn có thể diệt được vi khuẩn. Ngược lại, nếu dùng thuốc không đúng chỉ định, vi khuẩn sẽ nhờn thuốc, gây bùng phát bệnh trở lại.

– Phẫu thuật: Đây là chọn lựa sau cùng khi các phương pháp trên đều thất bại. Hiệu quả phẫu thuật xoang ít khi trọn vẹn, khả năng phục hồi trên 80% được xem là khá tốt. Thời gian phẫu thuật khoảng 15-30 phút. Với những ca phức tạp, phải can thiệp nhiều xoang như xoang hàm, sàng, trán, bướm, thời gian phẫu thuật kéo dài khoảng 2 giờ.

BS. Ngọc Hà

 
Chất xơ với sức khoẻ và một số bệnh mạn tính nguy hiểm Chất xơ với sức khoẻ và một số bệnh mạn tính nguy hiểm Làm gì để giúp trẻ chậm phát triển trí tuệ Làm gì để giúp trẻ chậm phát triển trí tuệ Làm sao để hết đau cổ - gáy? Làm sao để hết đau cổ – gáy?

 

Viêm xoang là một bệnh rất phổ biến, đa số trường hợp do nhiễm trùng, nhiễm virut, nhiễm nấm. Viêm xoang được phân loại theo tính chất cấp tính và mạn tính. Viêm xoang cấp tính thường được điều trị nội khoa, còn mạn tính thì phải xét đến vấn đề điều trị ngoại khoa.

Viêm mũi xoang do rất nhiều nguyên nhân như: Viêm mũi xoang do dị ứng; Viêm mũi xoang vận mạch; Viêm mũi xoang nhiễm khuẩn; Viêm mũi mạn tính do thuốc xịt mũi;Viêm mũi do nội tiết:Hay gặp ở thai phụ và trong bệnh suy tuyến giáp, biểu hiện như viêm mũi dị ứng. Viêm mũi xoang còn có thể do vi nấm. Ngoài ra, viêm mũi xoang còn do vẹo vách ngăn, do polyp mũi hoặc VA (sùi vòm họng) phì đại thường biểu hiện bằng nghẹt mũi một bên mạn tính. Nên khám chuyên khoa tai mũi họng để xác định nguyên nhân.
Thuốc điều trị viêm mũi xoang

Điều trị

Tùy theo nguyên nhân gây bệnh bác sĩ sẽ chỉ định thuốc kháng sinh nếu là viêm mũi xoang do vi trùng. Với những trường hợp viêm mũi xoang do cảm cúm nên dùng thuốc cảm thông thường như paracetamol, chlorpheniramine, giảm đau, thuốc chống dị ứng; phun khí dung hoặc thủ thuật Proezt (súc rửa xoang) để đưa dung dịch thuốc vào xoang sàng.

Khi điều trị nội khoa bằng thuốc không bớt, bác sĩ sẽ chọc xoang hàm để rút mủ hoặc phẫu thuật để cắt polyp mũi, chỉnh hình vách ngăn, nạo xoang… Trường hợp viêm mũi xoang do răng, cần phải nhổ răng gây bệnh.

Hiện tại, phẫu thuật nội soi điều trị viêm mũi xoang chính xác và an toàn hơn mổ hở. Tuy nhiên sau phẫu thuật, đối với những bệnh nhân viêm mũi xoang do dị ứng (nhiệt độ, thời tiết, bụi nhà, phấn hoa, lông thú…) nếu vẫn tiếp tục tiếp xúc với các dị ứng nguyên nói trên, nguy cơ tái phát sẽ rất cao.

Do đó sau phẫu thuật, bệnh nhân vẫn phải dùng thuốc kháng dị ứng và cần tránh tiếp xúc với nguyên nhân gây bệnh. Bụi nhà là nguyên nhân chính gây viêm mũi xoang dị ứng. Với những loại viêm mũi xoang khác, khả năng tái phát ít hơn.

Cần lưu ý là trẻ em cũng bị viêm mũi xoang. Nguyên nhân thường do trẻ bị viêm VA không được điều trị kịp thời hoặc để bệnh tái phát nhiều lần.

Thuốc điều trị viêm mũi xoang

Một số thuốc thường dùng trong bệnh viêm mũi xoang

– Thuốc kháng histamin như chlorpheniramin, promethazin, acrivastin, levocetirizine, loratadine… Các loại thuốc này rất hiệu quả đối với ngứa và sổ mũi do dị ứng nhưng không có tác dụng chữa nghẹt mũi. Do vậy cần phối hợp với các thuốc điều trị nghẹt mũi.

– Thuốc thông mũi, điều trị nghẹt mũi: Các dược chất thường dùng là phenylpropanolamin, pseudoephedrin. Thuốc khá hiệu quả trong việc làm thông mũi nhưng cũng có tác dụng phụ. Loại thuốc này dùng dưới dạng uống hay xịt, chỉ nên dùng trong vòng 7 ngày do hiện tượng nhờn thuốc tạo nên vòng bệnh lý luẩn quẩn (vicious circle) dẫn tới viêm mũi mạn tính.

– Thuốc corticoid uống hoặc xịt: Thuốc xịt mũi có corticoid là hiệu quả nhất trong việc điều trị tất cả các thể viêm mũi xoang mạn tính. Thuốc làm giảm tất cả các triệu chứng như ngứa niêm mạc mũi xoang, do đó làm thông mũi và giải quyết ứ tắc xoang. Thuốc này tương đối an toàn khi sử dụng lâu dài do ít bị hấp thu vào máu.

– Corticosteroid uống hiệu quả nhưng ít được sử dụng vì có nhiều tác dụng phụ độc hại như gây loãng xương, suy thượng thận (Cushing do thuốc), viêm loét dạ dày tá tràng… chỉ nên dùng trong trường hợp viêm mũi xoang nặng với thời gian ngắn khoảng từ 3-7 ngày.

– Thuốc súc rửa mũi: Dùng dung dịch nước muối loãng hoặc NaCl 0,9% cho vào lọ nhựa sạch (neti pot) rồi nhỏ vài giọt vào hốc mũi sau đó cúi xuống và xì sạch dịch mũi, thực hiện như vậy vài lần vào các buổi sáng, chiều, tối.

– Thủ thuật Proetz (súc rửa xoang): Đây là cách rửa xoang, lấy mủ từ xoang ra bằng áp lực âm không gây đau hoặc chảy máu, không cần dụng cụ y khoa như kìm, kéo… phù hợp với những trường hợp viêm mũi xoang nhẹ.

– Các thuốc kháng sinh: Việc dùng thuốc đúng, đủ và đều đặn có thể diệt được vi khuẩn. Ngược lại, nếu dùng thuốc không đúng chỉ định, vi khuẩn sẽ nhờn thuốc, gây bùng phát bệnh trở lại.

– Phẫu thuật: Đây là chọn lựa sau cùng khi các phương pháp trên đều thất bại. Hiệu quả phẫu thuật xoang ít khi trọn vẹn, khả năng phục hồi trên 80% được xem là khá tốt. Thời gian phẫu thuật khoảng 15-30 phút. Với những ca phức tạp, phải can thiệp nhiều xoang như xoang hàm, sàng, trán, bướm, thời gian phẫu thuật kéo dài khoảng 2 giờ.

BS. Ngọc Hà

 
Chất xơ với sức khoẻ và một số bệnh mạn tính nguy hiểm Chất xơ với sức khoẻ và một số bệnh mạn tính nguy hiểm Làm gì để giúp trẻ chậm phát triển trí tuệ Làm gì để giúp trẻ chậm phát triển trí tuệ Làm sao để hết đau cổ - gáy? Làm sao để hết đau cổ – gáy?

 

Thuốc tránh thai được nhiều chị em sử dụng. Nhiều trường hợp đã thắc mắc về việc bị nám da do dùng thuốc tránh thai. Vậy thực chất của việc này là gì?

Nám da là do sự gia tăng hắc sắc tố melanin trên da. Bệnh thường gặp ở phụ nữ do tác động của nhiều yếu tố. Nguyên nhân thông thường do rối loạn nội tiết trong thời kỳ mang thai hoặc ở phụ nữ tiền mãn kinh, do lạm dụng mỹ phẩm, tiếp xúc trực tiếp với tia tử ngoại… và trong đó có cả yếu tố sử dụng thuốc tránh thai hàng ngày.

Thuốc tránh thai sẽ làm thay đổi hormon trong cơ thể sau khi uống, có thể gây ra tác dụng phụ là nhức đầu, nám da, tăng cân, buồn nôn… Tuy nhiên, những tác dụng phụ này không phải lúc nào cũng xảy ra với tất cả mọi người. Chỉ những người có cơ địa không thích hợp với thuốc tránh thai mới có thể gặp hiện tượng nám da, sạm da, tàn nhang… sau khi uống thuốc.

Tình trạng bị nám da, sạm da sau khi dùng thuốc ngừa thai xảy ra trên một số người dùng loại thuốc ngừa thai chứa progestins thế hệ cũ. Trong nhiều trường hợp, các đốm nám sẽ xuất hiện sớm, sau khi dùng thuốc chừng 2 – 3 tháng và có thể không phát triển sau một thời gian dùng thuốc. Tuy nhiên, khi đốm nám tiếp xúc với tia tử ngoại trong ánh nắng mặt trời, chúng sẽ đậm lên. Progestins trong thuốc còn có tác dụng giữ nước cho cơ thể nên gây ra tình trạng tăng cân.

Để phòng ngừa nám da, sạm da, chị em cần tránh để da (đặc biệt là vùng da bị nám, sạm) tiếp xúc ánh nắng. Nên dùng các loại kem chống nắng hay các cách che chắn để bảo vệ da khỏi bị nám. Vì vậy, khi thấy có đốm nám, sạm do dùng thuốc tránh thai xuất hiện thì bạn nên tạm dừng uống thuốc và sử dụng một biện pháp tránh thai an toàn khác như đặt vòng, dùng bao cao su. Việc sử dụng thuốc tránh thai luôn cần phải có sự chỉ định của bác sĩ, không dùng tùy tiện tránh gây hại cho sức khỏe.

DS. Thanh Hoài