Có một số tổn thương xuất hiện ở nhiều cơ quan trên cơ thể với những đặc điểm hầu như chẳng liên quan gì đến nhau khiến cho việc chẩn đoán và điều trị gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, chúng có thể là triệu chứng của một bệnh, von Hippel – Lindau (VHL) là một ví dụ điển hình.
Thương tổn không chỉ tại 1 bộ phận
Bệnh VHL là một loại bệnh có tính chất di truyền theo nhiễm sắc thể trội, bệnh ảnh hưởng đến nhiều cơ quan của cơ thể như não, tụy, gan, thận, mắt… và có thể diễn tiến từ lành tính sang ác tính tùy từng trường hợp.
Mặc dù bệnh VHL có nguyên nhân do đột biến gen và có tính chất di truyền, song vẫn có khoảng 20% số các trường hợp mắc bệnh VHL không có tiền sử gia đình. Tùy theo vị trí gen bị đột biến, bệnh VHL được phân chia thành các týp 1, týp 2, týp 3 với các tổn thương phối hợp như u tủy thượng thận, ung thư thận hay chứng đa hồng cầu (polycythaemia) kèm theo.
Hình ảnh bệnh VHL
Đi tìm lời giải
Người bị bệnh VHL có nguy cơ cao bị u mạch máu của hệ thần kinh trung ương; u máu võng mạc u hệ bạch huyết, ung thư thận; u tủy thượng thận, u thần kinh – nội tiết ở tụy, u mào tinh hoàn ở nam và các khối u buồng trứng ở nữ giới.
Các u máu ở hệ thần kinh trung ương (não và tủy sống) chiếm khoảng 40 – 80% các trường hợp VHL, xuất hiện chủ yếu ở độ tuổi 30, tuy cũng có một số trường hợp biểu hiện ở lứa tuổi trẻ hơn hoặc già hơn. Đây là một tổn thương lành tính, nằm rải rác ở tiểu não, tủy sống hoặc đôi khi có nhiều u liên tiếp kéo dài theo trục não – tủy sống. Thông thường, các khối u này không có biểu hiện gì đặc biệt trừ trường hợp vỡ ra gây xuất huyết tiểu não hoặc tủy sống. Việc phát hiện u máu hệ thần kinh trung ương dựa vào chụp cộng hưởng từ là chủ yếu. Điều trị các loại u này bằng phương pháp đốt bằng sóng radio hoặc phẫu thuật mở.
U máu võng mạc có ở 60% số bệnh nhân bị bệnh VHL. Đây là loại tổn thương phát triển thành nhiều ổ, nằm chung quanh hoặc gần đĩa thị giác với tần suất bị cả hai mắt vào khoảng 50% số các trường hợp với độ tuổi hay gặp là 25. Khối u võng mạc thường không có biểu hiện gì cho đến khi phát triển lớn lên gây tổn thương đáy mắt, làm giảm hoặc mất thị lực hoàn toàn. Chẩn đoán u máu võng mạc dựa vào soi đáy mắt và chụp mạch máu có tiêm fluorescein. Điều trị u máu võng mạc bằng chất ức chế các thụ thể yếu tố phát triển nội mạc mạch máu hoặc đốt bằng sóng radio có thể cải thiện được thị lực bệnh nhân.
Các khối u nang nội bạch huyết gặp ở 11% số bệnh nhân bị bệnh VHL. Nang nội bạch huyết có vị trí nằm ở phần cuối trong ống bạch huyết của ống tai trong, giữa màng cứng và hố sau (posterior fossa). Khối u của nang này phát triển mạnh ở độ tuổi từ 12 – 50 với đỉnh cao là khoảng 22 tuổi. Khối u phát triển gây giảm thính lực hoặc điếc hoàn toàn. Việc phát hiện khối u dựa vào chụp CT hoặc cộng hưởng từ (MRI). Điều trị chủ yếu bằng phẫu thuật mở hoặc đốt bằng sóng radio.
Ung thư thận hay carcinomas tế bào thận là biểu hiện ung thư chính của bệnh VHL với tỷ lệ mắc từ 24 – 45% và nếu kết hợp với các nang tại thận thì tỷ lệ mắc lên tới 60%. Carcinomas thận xảy ra nhiều ở lứa tuổi trên dưới 40, phát triển âm thầm không có triệu chứng trong một thời gian khá dài và khi phát hiện thường đã có xâm lấn sang tổ chức xung quanh với các biểu hiện như đau vùng hố thắt lưng, tiểu máu. Chụp cắt lớp hoặc cộng hưởng từ ổ bụng có thể dễ dàng xác định chẩn đoán. Điều trị carcinomas thận bằng phẫu thuật cắt bỏ hoặc có thể bảo tồn trong một số trường hợp.
U tủy thượng thận có ở 10 – 20% số bệnh nhân bị VHL và lứa tuổi mắc vào khoảng 30 và 5% trong số này có biểu hiện ác tính. Triệu chứng chính của u tủy thượng thận là những cơn tăng huyết áp kịch phát, dao động và khó kiểm soát cộng với những biểu hiện do cơn tăng huyết áp gây nên như đau đầu, nôn, đột quị não. Xác định u tuyến thượng thận bằng chụp cắt lớp hoặc cộng hưởng từ ổ bụng sau đó điều trị bằng thuốc hoặc phẫu thuật nếu cần.
U nang tuyến và các khối u thần kinh – nội tiết của tụy (pancreatic cũng là một tổn thương hay gặp ở bệnh nhân VHL với tỷ lệ mắc có thể lên tới 70% cho cả hai loại và thường có ở lứa tuổi 18 – 48. Các u nang tuyến thường lành tính và không cần điều trị gì đặc hiệu trong khi các u thần kinh – nội tiết tại tụy lại luôn cần được phẫu thuật do có tính chất ác tính và khả năng di căn khá cao. Nhìn chung, chỉ định mổ đối với các u tại tụy dựa vào kích thước khối u trên 3cm ở vị trí thân và đuôi tụy, 2cm ở đầu tụy.
Ngoài các khối u tại các cơ quan nêu trên, ở người bị bệnh VHL, các khối u mào tinh hoàn ở nam và u dây chằng rộng ở nữ giới cũng cần được tìm kiếm thông qua thăm khám lâm sàng và các phương tiện chẩn đoán hình ảnh như siêu âm, chụp cắt lớp hoặc chụp cộng hưởng từ. Tần suất mắc các khối u loại này hiện chưa có thống kê chính xác và trên thực tế hiếm gặp hơn các loại u khác như đã mô tả ở trên.
Theo các nghiên cứu đã được công bố, nếu gia đình có người bố mắc bệnh von Hippel – Lindau mà người mẹ hoàn toàn khỏe mạnh thì 50% số con cái sinh ra sẽ bị mắc bệnh này với tần suất phân bố chia đều cho cả nam và nữ là 50/50. Ðây là một bệnh hiếm gặp với tần suất mắc vào khoảng 1/35.000 đến 1/40.000 dân.
TS.BS. Vũ Đức Định
Theo y học hiện đại, cam mũi là chứng bệnh viêm mũi có biến chứng viêm xoang. Bệnh gặp chủ yếu ở trẻ trên 5 tuổi, diễn biến mạn tính, dai dẳng khó chữa. Nếu chất dịch này được nuốt xuống đường tiêu hóa hoặc hít phải sẽ gây viêm phế quản tái diễn, viêm dạ dày ruột non, ho từng cơn…
Theo Đông y, cam mũi hoặc tỵ cam là hiện tượng lỗ mũi chảy nước mũi đặc liên tục, màu xanh vàng, hai lỗ mũi đỏ kèm theo mắt nhíp, người gầy yếu, ăn uống kém tiêu hoặc ỉa lỏng, phân thường sống, mình nóng, hay ra mồ hôi trộm, mạch tế sác. Nguyên nhân do thấp nhiệt hiệp với phong tà nhập vào tỳ phế làm ảnh hưởng trực tiếp đến phế lạc và tỵ khổng gây ra. Phép điều trị là bổ tỳ phế, thông lạc, thanh hư nhiệt, trừ thấp. Sau đây là một số bài thuốc trị chứng này.
Cây và vị thuốc bối mẫu.
Thuốc uống:
Bài 1: Lục thần tán gia giảm:nhâm sâm 6g, bạch truật 8g, phục linh 8g, cam thảo (chích) 4g, biển đậu 6g, hoàng kỳ 6g, hoàng cầm 5g, hạnh nhân 5g, bối mẫu 6g, liên kiều 5g, gừng tươi 3 lát, đại táo 3 quả. Sắc uống.
Bài 2: nhân sâm 4g, bạch truật 8g, phục linh 8g, cam thảo (chích) 4g, biển đậu 6g, hoàng kỳ 6g, sinh địa 8g, huyền sâm 6g, đan bì 6g, mạch môn 6g, kim ngân 8g, ké đầu ngựa 8g, tân di 4g, hoàng cầm 6g. Sắc uống.
Bài 3:Ích khí tổng minh thang gia giảm: hoàng kỳ 10g, nhân sâm 10g, cát cánh 6g, mạn kinh tử 6g, bạch thược 5g, hoàng liên 3g, cam thảo 3g, thăng ma 5g, thạch xương bồ 5g, liên kiều 5g, la bạc tử 5g, bối mẫu 4g, hoàng cầm 5g. Sắc uống. Chữa chảy nước mũi đặc nhiều không dừng, nước mũi màu vàng đặc hoặc lẫn màu xanh.
Thuốc dùng tại chỗ:
Thuốc cam xanh (thanh đại) 0,39g, ngũ bội tử 0,1g, bạch phàn 0,1g, mai hoa băng phiến vừa đủ 0,6g. Đây là loại thuốc cam không có chì, được Bộ Y tế Việt Nam cấp phép lưu hành, có ở các quầy thuốc. Dùng nước nhỏ mũi mắt natri clorid 0,9% để rửa sạch hai lỗ mũi, thấm khô. Lấy tăm bông thấm bột thuốc, bôi sâu vào trong 2 lỗ mũi. Ngày 1 lần, cách 2 ngày dùng thuốc 1 lần.
TS. Nguyễn Đức Quang
Tiểu đường, huyết áp, bệnh tim, viêm khớp, ung thư, ….là những bệnh di truyền phổ biến nhất. Do vậy nếu trong gia đình có người bị bệnh bạn nên có biện pháp phòng ngừa là hết sức cần thiết.
Bệnh tiểu đường
Bệnh tiểu đường là một rối loạn di truyền, vì vậy nếu cả bố và mẹ mắc bệnh tiểu đường thì con có nhiều nguy cơ mắc bệnh. Nếu một trong hai bố hoặc mẹ mắc bệnh thì sẽ làm tăng nguy cơ ở con chứ không chắc chắn. Chế độ ăn uống, lối sống, béo phì cũng là nguyên nhân gây ra bệnh tiểu đường.
Vì vậy, với những người có tiền sử gia đình bị bệnh tiểu đường thì nên bắt đầu thực hiện các thay đổi nhỏ trong lối sống của mình như cắt giảm lượng đường, tăng lượng chất xơ trong chế độ ăn uống và tập thể dục ít nhất 30 phút mỗi ngày, năm ngày một tuần.
Bệnh tăng huyết áp
Theo thống kê của nhiều tác giả cho thấy bệnh tăng huyết áp có thể có yếu tố di truyền. Trong gia đình nếu ông, bà, cha, mẹ bị bệnh tăng huyết áp thì con cái có nguy cơ mắc bệnh này nhiều hơn. Vì vậy, những người mà tiền sử gia đình có người thân bị tăng huyết áp càng cần phải cố gắng loại bỏ các yếu tố nguy cơ mới có thể phòng tránh được bệnh tăng huyết áp.
Điều này có thể được thực hiện bằng cách tập thể dục, ngồi thiền và tập thở. Đồng thời cũng nên giảm lượng muối tiêu thụ hàng ngày bằng cách tránh các thực phẩm đóng gói và những thực phẩm có chất bảo quản.
Bệnh tim
Ảnh minh họa
Nếu một trong hai người, cha hoặc mẹ bạn có bệnh tim, thì nguy cơ bạn bị bệnh là khó tránh khỏi. Nếu bạn hút thuốc hoặc uống rượu, nguy cơ của bệnh tim mạch còn cao hơn. Bạn có thể bắt đầu bằng cách giữ một mức cholesterol ổn định sau khi 30 tuổi.
Do vậy, bạn cũng nên giữ cho trọng lượng của mình ở mức vừa phải và bắt đầu tập thể dục để giảm lượng chất béo không lành mạnh trong chế độ ăn uống để giữ cho trái tim khỏe mạnh.
Bệnh xương khớp
Viêm khớp dạng thấp là một bệnh phổ biến và có tính chất di truyền. Với những người có mẹ đã bị viêm khớp thì sẽ có nguy cơ bị bệnh này cao hơn 50% so với người bình thường. Mặc dù các liên kết di truyền là thấp, nhưng nó có thể được truyền từ cha mẹ cho con. Để ngăn ngừa các bệnh về khớp, nên bổ sung các khoáng chất trong chế độ ăn uống như canxi và phốt pho trong chế độ ăn uống của bạn. Các bài tập như đi bộ hoặc chạy sẽ giữ cho đầu gối của bạn luôn trong tình trạng tốt. Duy trì tư thế đúng để bảo vệ cột sống tránh các thiệt hại.
Nếu mẹ của bạn đã được chẩn đoán dễ bị bị loãng xương, gãy xương hoặc thậm chí chỉ đơn giản là xương mỏng, nhỏ xương… thì bạn cũng cần chú ý đến sức khỏe của xương của mình. Cấu trúc xương bị ảnh hưởng rất nhiều bởi tính di truyền và có tính tương quan đáng kể về kích thước, độ dày, mật độ xương. Mức độ loãng xương của mẹ bạn có thể cho bạn biết kích thước hay độ dày của xương, bạn có nguy cơ loãng xương hay không. Nhưng việc chăm sóc xương khỏe mạnh lại phụ thuộc vào bạn vì sức khỏe xương của bạn còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố môi trường, thói quen sống, bệnh tật mà bạn mắc phải.
Vấn đề thị lực
Theo nghiên cứu khoa học chỉ ra rằng, các vấn đề phổ biến về mắt phần lớn là di truyền. Một trong những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này là trẻ em đọc và chơi vi tính quá nhiều. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, ảnh hưởng di truyền vẫn là yếu tố chính.
Nếu trẻ có những triệu chứng như đau đầu, nheo mắt khi đọc sách, xem tivi hoặc chảy nước mắt khi học bài thì nên đưa trẻ đến bệnh viện thăm khám sớm.
Hói đầu
Hói đầu là hiện tượng phổ biến ở đàn ông, hiện tượng này có thể do gen của bố hoặc mẹ hoặc cả hai bên biến đổi di truyền. Gen di truyền chính là một trong những nguyên nhân của rụng tóc, hói đầu, song điều này có thể ngăn chặn nếu biết chăm sóc tóc từ sớm.
Phụ nữ bị rụng tóc do di truyền thường có xu hướng tóc mỏng và thưa dần ở vùng quanh chỏm đầu trở xuống. Hiện nay, các bác sĩ da liễu có thể kiểm tra mô hình rụng tóc để xác định xem đó có phải do di truyền hay không, đồng thời có thể yêu cầu xét nghiệm máu để loại trừ các nguyên nhân khác. Với tình trạng này, đã có thuốc bôi da đầu cho cả nam và nữ giới để làm chậm việc rụng tóc.
Ung thư vú
Ung thư vú có thể xảy ra với bất kỳ ai. Nhưng nếu trong gia đình đã có các trường hợp ung thư vú thì khả năng xảy ra còn cao hơn. Đó là bởi vì các gen gây ung thư có thể được truyền từ mẹ sang cho con gái. Vì vậy, nếu mẹ hoặc bà của bạn đã bị ung thư vú, bạn sẽ cần thường xuyên quan tâm hơn đến ngực của mình và tiến hành các xét nghiệm cũng như chụp chiếu cần thiết theo định kì.
Stress
Nghiên cứu của các nhà khoa học Anh đã tìm ra bằng chứng chắc chắn đầu tiên cho thấy biến thể gen có thể là nguyên nhân gây ra bệnh trầm cảm ở người.
Vì vậy, nếu người thân trong gia đình có tiền sử bệnh trầm cảm, hưng cảm, rối loạn tâm thần… thì phải chú ý xem trẻ nhỏ có tình trạng khóchịu, lo lắng, sự tập trung giảm sút và chánăn hay không để gặp bác sĩ càng sớm càng tốt.
Theo VnMedia
Một nghiên cứu được tiến hành trên bệnh nhân Mỹ cho thấy thuốc chữa bệnh về da có chứa chất alefacaept giúp cơ thể sản xuất insulin, đây là chìa khóa giúp những người mắc bệnh ĐTĐ týp 1 khỏi bệnh.
Các nhà nghiên cứu thuộc Trường đại học Indiana Indianapolis đã tiến hành thử nghiệm với 33 bệnh nhân, những người này được tiêm thuốc có chứa alefacept trong vòng 12 tuần, sau đó nghỉ 12 tuần và tiếp tục tiêm 12 tuần. 16 người khác được tiêm giả dược theo lịch trình tương tự. Kết quả cho thấy, sau 4 giờ có sự khác biệt trong việc tuyến tụy sản xuất insulin giữa 2 nhóm. Nhóm được tiêm thuốc có thể duy trì insulin trong máu trong khi nhóm dùng giả dược, lượng insulin giảm. Theo GS. Mark Rigby, Trưởng nhóm nghiên cứu, thuốc chứa chất alefacaept có khả năng tấn công tế bào T, đây cũng là tế bào tham gia vào việc tiêu diệt các tế bào sản xuất insulin của cơ thể.
M.H (Theo BBC, 9/2013)
Theo nghiên cứu mới đây của Viện Nghiên cứu Sleep Medicine (Mỹ) đã chỉ ra rằng ngủ quá 10 tiếng/đêm làm tăng nguy cơ mắc các bệnh về tim, đái tháo đường và béo phì.
Nghiên cứu được tiến hành trên 54.000 người Mỹ trên 45 tuổi về mối liên hệ giữa các rối loạn về giấc ngủ với chứng đái tháo đường, béo phì và tim mạch. Kết quả cho thấy hơn 1/3 trong số người tham gia nghiên cứu có giấc ngủ quá dài (hơn 10 tiếng mỗi ngày) đối mặt với nguy cơ mắc bệnh mạn tính cao.
TS. Janet Croft, chuyên gia bệnh mạn tính tại Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ cho biết: “Kết quả này cho thấy các bác sĩ nên xem xét giám sát sức khỏe tinh thần và trọng lượng cơ thể và thời lượng giấc ngủ với các bệnh nhân có bệnh mạn tính”.
M.Huệ (Theo Dailymail, 10/2013)
Nghiên cứu mới đây được công bố trên tạp chí Y học Anh cho thấy những rủi ro của bệnh đột quỵ và bệnh tim sẽ trở nên cao hơn với những người sống trong khu vực có nhiều tiếng ồn của máy bay.
Nghiên cứu được tiến hành với 3,6 triệu dân sống gần khu vực sân bay Heathrow (Anh) về mối liên hệ giữa tiếng ồn máy bay và nguy cơ mắc bệnh tim hoặc đột quỵ. Kết quả cho thấy nguy cơ mắc các bệnh về tim tăng lên khoảng 10 – 20% với những người sống trong khu vực tiếng ồn lớn nhất. Một nghiên cứu khác được đăng tải trên BMJ cũng có kết quả tương tự rằng tỷ lệ nhập viện của những người dân sống quanh khu vực 89 sân bay của Mỹ cao hơn hẳn so với các khu vực khác.
TS. Anna Hansell, Trường Imperial Luân Đôn, Trưởng nhóm cho biết, mặc dù kết quả là vậy nhưng họ vẫn chưa thể khẳng định rằng tiếng ồn máy bay trực tiếp gây nên đột quỵ hay bệnh tim.
H.M (Theo BBC, 10/2013)
Nhồi máu động mạch mạc treo là một cấp cứu mạch máu ít gặp, triệu chứng không điển hình và đặc hiệu. Việc chẩn đoán phụ thuộc nhiều vào các phương tiện cận lâm sàng hiện đại cũng như kinh nghiệm của đội ngũ thầy thuốc chuyên khoa nên thường được phát hiện ở giai đoạn muộn, do đó kết quả điều trị thấp, tỷ lệ tử vong cao.
Hệ thống động mạch mạc treo (ĐMMT) bắt nguồn từ động mạch chủ bụng, làm nhiệm vụ cung cấp máu cho ruột nói chung. Động mạch mạc treo tràng trên (MTTT) với lưu lượng máu khoảng 500 – 1.400ml/phút (tùy vào thời điểm lúc đói hay sau ăn) cung cấp máu cho ruột non (tiểu tràng) và khoảng 2/3 ruột già (đại tràng). Động mạch mạc treo tràng dưới (MTTD), với lưu lượng máu khoảng 50 – 80ml/phút, làm nhiệm vụ cung cấp máu cho phần đại tràng xuống và phần trên trực tràng. Khi các động mạch này bị hẹp hoặc tắc sẽ dẫn đến giảm hoặc mất tưới máu ruột. Quá trình thiếu máu kéo dài gây hoại tử, tổn thương ruột, thúc đẩy quá trình phù nề, viêm nhiễm, mất hàng rào bảo vệ tạo điều kiện cho các vi khuẩn gây viêm ruột hoặc xâm nhập vào máu và các cơ quan khác, từ đó một bệnh cảnh sốc nhiễm khuẩn nhiễm độc hết sức nặng nề có thể sẽ xảy ra với sự gia tăng số lượng các tạng suy và kết quả là bệnh nhân sẽ đối mặt với nguy cơ tử vong.
Vị trí động mạch mạc treo.
Các yếu tố nguy cơ tắc mạch mạc treo
Nguyên nhân của tắc ĐMMT được chia làm ba nhóm lớn: Tắc mạch do cục máu đông từ nơi khác di chuyển đến chiếm 50% các trường hợp, thường gặp trong các bệnh tim mạch như rung nhĩ, huyết khối thành mạch, bệnh van tim, các khối u của động mạch chủ, tắc mạch do lượng mỡ máu quá cao. Nhóm nguyên nhân thứ hai là nghẽn mạch chiếm 25% các trường hợp. Nhóm nguyên nhân này bao gồm nghẽn mạch cấp trên nền một thiếu máu mạn tính ĐMMT; viêm động mạch; bệnh viêm xơ loạn sản mạch máu, xơ vữa động mạch, phồng tách động mạch; chấn thương, lạm dụng các chất ma túy như cocaine… Nhóm nguyên nhân thứ ba là nhóm nguyên nhân gây thiếu máu ĐMMT không do tắc nghẽn. Nhóm này gồm các trường hợp thiếu máu ruột do sốc tụt huyết áp quá nặng và kéo dài; suy tim; cầu nối tim phổi. Một số các trường hợp khác cũng là nguyên nhân gây tắc động mạch mạc treo như lồng ruột, thoát vị nghẹt…
Dễ chẩn đoán nhầm vì những biểu hiện không đặc hiệu
Huyết khối ĐMMT cấp tính xảy ra đột ngột với những cơn đau bụng dữ dội, nôn mửa, ăn uống không tiêu, tiêu chảy, đại tiện máu, bụng trướng căng, biểu hiện của viêm phúc mạc, nhồi máu ruột non, sốt cao liên tục. Nặng hơn có thể có tình trạng nhiễm khuẩn nhiễm độc, tình trạng sốc nặng và khi tiến triển lên với suy nhiều cơ quan như tim, phổi, thận, gan, rối loạn đông máu… bệnh nhân sẽ tử vong. Nhìn chung, biểu hiện của huyết khối ĐMMT là rất không điển hình và không đặc hiệu nên rất dễ nhầm lẫn với các bệnh khác trong ổ bụng như viêm phúc mạc, viêm ruột, viêm dạ dày, viêm tụy cấp…
Chẩn đoán huyết khối ĐMMT dựa vào các dấu hiệu lâm sàng, xét nghiệm thấy nồng độ D-dimer, lactate máu tăng cao và tình trạng toan máu nhưng chỉ ở giai đoạn muộn. Chụp Xquang bụng ít có giá trị và dấu hiệu cần tìm là dấu hiệu có khí trong thành ruột bị viêm hoặc bóng khí trong tĩnh mạch cửa. Siêu âm doppler có thể thấy hình ảnh huyết khối trong ĐMMT. Chụp CT ổ bụng rất có giá trị trong việc xác định có huyết khối ĐMMT hay không với độ nhạy lên tới 95%. Chụp cộng hưởng từ mạch máu và chụp cắt lớp đa dãy, chụp cản quang ĐMMT và nội soi thăm dò ổ bụng cũng có thể được áp dụng trong một số trường hợp khó chẩn đoán.
Cục máu đông gây tắc (nhồi máu) động mạch mạc treo.
Xử trí thế nào?
Nếu chưa có dấu hiệu nhồi máu ruột, điều trị nội khoa sẽ được chỉ định. Chống đông máu bằng heparin được áp dụng cho tất cả các trường hợp với liều khởi đầu 5.000UI tiêm tĩnh mạch sau đó duy trì truyền tĩnh mạch liên tục sao cho thời gian thromboplastin từng phần hoạt hóa (APTT) gấp 2 trị số bình thường. Kháng sinh sẽ được chỉ định điều trị nếu bệnh nhân có dấu hiệu nhiễm khuẩn. Các biện pháp điều trị hỗ trợ như đặt ống thông dạ dày hút liên tục, bù nước điện giải, thăng bằng kiềm toan, nuôi dưỡng đường tĩnh mạch 100% để cho ruột được nghỉ ngơi cũng mang lại nhiều lợi ích cho bệnh nhân.
Phẫu thuật được chỉ định trong những trường hợp huyết khối ĐMMT có biến chứng viêm phúc mạc, nhồi máu ruột non hoặc ruột bị hoại tử nhiễm khuẩn nặng. Sau phẫu thuật, bệnh nhân cần được hồi sức tích cực, đặc biệt là điều trị tình trạng suy đa tạng và điều trị nội khoa để hỗ trợ qua cơn hiểm nghèo.
Tần suất tắc ĐMMT hiện chưa có thống kê chính xác nhưng theo một số báo cáo thì vào khoảng 0,1 – 0,2% tổng số bệnh nhân nhập viện. Độ chính xác của con số thống kê là rất tương đối do nhiều trường hợp tắc ĐMMT không được chẩn đoán hoặc nhầm lẫn với các bệnh lý khác trong ổ bụng. Tỷ lệ tử vong do tắc ĐMMT ở người già cao hơn người trẻ và nếu được can thiệp sớm trước 12 giờ sau tắc, chức năng ruột được phục hồi 100% trong khi tỷ lệ này chỉ còn 18% nếu can thiệp sau 24 giờ.
TS.BS. Vũ Đức Định
Dị vật thực quản là một trong những cấp cứu thường gặp. Ngoài các loại xương động vật, hạt trái cây, dị vật thực quản còn nhiều thứ “khó ngờ” như kim, tăm xỉa răng, răng giả, vỉ thuốc có cạnh sắc, đồng xu, búi tóc… Nếu không được chữa trị kịp thời có thể dẫn đến hậu quả rất nghiêm trọng.
Mắc bệnh do thói quen
Một trong những nguyên nhân hàng đầu khiến bệnh nhân bị mắc dị vật ở thực quản là thói quen ăn uống: Ăn khối thịt to, ăn những loại thịt có lẫn xương, không nhai kỹ, vừa ăn vừa nói chuyện, đùa giỡn, thói quen ngậm tăm xỉa răng sau khi ăn… Có trường hợp phải nhập viện vì uống thuốc nhanh, quên bỏ bao thuốc có cạnh sắc nhọn. Ngoài ra, thức ăn còn dễ bị vướng lại do: Các đoạn hẹp tự nhiên của thực quản; tổn thương làm rối loạn vận động thực quản như các khối u tại thực quản hoặc tổn thương ngoài thực quản làm thực quản bị hẹp. Một số trường hợp khác do trẻ em và bệnh nhân tâm thần tự nuốt dị vật.
Dị vật thực quản nếu không được xử trí kịp thời có thể nguy hiểm tới tính mạng.
Ảnh: TL
Biểu hiện thường gặp
Thông thường sau khi nuốt dị vật, người bệnh có thể có các biểu hiện như nuốt khó, nuốt đau, vướng, không ăn uống được, có cảm giác vướng ở cổ, ngực, đau sau xương
ức (có thể lan ra sau lưng hay lên vai). Ở trẻ em, trẻ hay quấy khóc, không ăn uống được, miệng chảy nhiều nước bọt. Các biểu hiện nói trên khác nhau tùy theo hình dạng, kích thước dị vật, độ tuổi bệnh nhân, thời gian nuốt dị vật, vị trí dị vật bị vướng lại. Sau một thời gian, người bệnh có thể bị sốt cao, chảy nước bọt, hơi thở hôi, khó thở, ho khạc ra máu, ho đàm mủ, viêm tấy vùng cổ, nôn ra máu…
Biến chứng khó lường
Với trường hợp bệnh nhân đến khám muộn (1 – 2 ngày sau khi nuốt dị vật) có thể xảy ra những biến chứng sau: Loét thực quản, xuất huyết tiêu hóa (trường hợp dị vật là miếng thịt to hoặc có tính ăn mòn); tổn thương niêm mạc thực quản, xuất huyết tiêu hóa hay tổn thương xuyên thành thực quản (dị vật sắc nhọn)… Nghiêm trọng hơn, những biến chứng nói trên có nguy cơ dẫn tới viêm thực quản lan tỏa, viêm quanh thực quản cổ, áp xe vùng cổ, thủng thực quản, viêm trung thất, áp xe trung thất, viêm mủ màng phổi, sốc nhiễm trùng nhiễm độc, dị vật đâm thủng mạch máu lớn trong lồng ngực hoặc viêm lan tỏa làm hoại tử các mạch máu lớn dẫn đến xuất huyết nặng. Nếu không chẩn đoán và điều trị kịp thời có thể dẫn đến tử vong nhanh chóng.
Phòng bệnh thế nào?
Để tránh những biến chứng do dị vật thực quản, nên giữ các thói quen tốt như: Ăn chậm, nhai kỹ; hạn chế nói chuyện, đùa giỡn khi ăn; cẩn thận với các loại thịt cá chưa được lọc bỏ xương hoặc trái cây có hạt lớn, sắc nhọn; dùng chỉ nha khoa thay tăm; cắt nhỏ thịt; chú ý chọn thực phẩm mềm cho người già và trẻ em; chú ý bỏ vỏ bao thuốc khi uống – nhất là vỏ có cạnh sắc nhọn. Khi lỡ nuốt dị vật, bệnh nhân cần được đưa đến khám tại các cơ sở y tế ngay cả khi chưa có triệu chứng rõ rệt; không nên tự ý chạy chữa, có thể nguy hiểm tính mạng.
Bác sĩ Hữu Ngô
Nhiều hiện tượng nhiễm khuẩn đã được dập ngay từ trong trứng nước nhờ phản ứng miễn dịch bẩm sinh. Điều này liên quan đến các protein đặc biệt có trong các tế bào nhiễm khuẩn đã nhận diện được virus và kích hoạt một chuỗi tín hiệu, còn gọi là phản ứng interferon (ngăn không cho virus tấn công). Điều này kích hoạt cơ chế phòng vệ ở các tế bào lân cận và thường dẫn đến làm chết tế bào nhiễm bệnh.
Giờ đây, các phân tử ARN nằm ở trung tâm của phản ứng kháng virus được khẳng định tồn tại ở động vật có vú
Ở động vật và loài không xương sống, một cơ chế khác được biết đến đóng vai trò trong phản ứng miễn dịch kháng virus, RNAi (lối mòn can thiệp ARN). RNAi sử dụng trung gian quá trình giải trừ virus để xây dựng một vũ khí chống lại virus. Mặc dầu RNAi cũng tồn tại ở động vật có vú, các nhà nghiên cứu cho tới giờ vẫn nghĩ nó liên quan đến các quá trình tế bào khác cần cho điều tiết gen chứ không phải cho miễn dịch kháng virus. Bằng chứng cho thấy rằng RNAi trên thực tế góp phần vào cơ chế phòng vệ kháng virus ở động vật có vú đã được Giáo sư sinh học Olivier Voinnet, ETH Zurich (Thuỵ Sỹ) cùng các đồng nghiệp xuất bản trên tạp chí khoa học Science.
Các ARN can thiệp nhỏ như vũ khí kháng virus đặc biệt
Các nhà nghiên cứu cho tế bào gốc của thai chuột nhiễm 2 loại virus: virus viêm não cơ tim EMCV và virus Nodamura (NoV). Tiếp đó, họ có thể phát hiện ra các phân tử ARN ngắn chứa khoảng 22 nucleotide trong các tế bào. Chuỗi ARN này tương ứng với bộ gen của virus và chúng thể hiện tất cả các đặc tính của của các phân tử phản ứng lại kích thích chính của RNAi được gọi là các can thiệp nhỏ hay các siRNA. Điều này cung cấp bằng chứng rằng chính sự nhiễm virus đã kích hoạt cơ chế RNAi trong các tế bào động vật có vú.
Việc kích hoạt RNAi là một phân tử ARN bất thường nổi lên khi bộ gen virus được sao chép: một phân tử ARN xoắn kép. ARN xoắn kép này được cắt ra thành những mẫu nhỏ hơn để sản sinh ra siRNA, tiếp đó đóng vai trò như một thiết bị đưa thư. Do chuyển hoá từ ARN của virus và do đó tương ứng hoàn hảo với chuỗi ARN của virus, chúng dẫn dắt các protein cắt ra từ phân tử tới ARN của virus. Kết quả là chúng thành những mẩu vô hại. Do đó, virus không còn khả năng lây lan nữa.
Bảo vệ lý tưởng các tế bào tiền thân
Voinnet đưa ra hai lý do chính tại sao vai trò của RNAi trong cộng đồng kháng virus ở động vật có vú đã được tìm kiếm từ rất lâu. Đầu tiên, các nghiên cứu tiến hành ở các loài thực vật và ở các loài không xương sống đã chỉ ra nhiều loại virus đã phát triển cơ chế phòng vệ để kiềm chế bộ máy RNAi của các tế bào nhiễm khuẩn. Nếu cơ chế đó tồn tại cả ở virus ở động vật có vú, chúng sẽ nguỵ trang RNAi kháng virus.
Thứ hai, phần lớn các nhà khoa học đã tìm kiếm RNAi kháng virus ở những tế bào khác biệt mà ở đó phản ứng interferon tạo thành phần lớn các phản ứng miễn dịch bẩm sinh. Ngược lại, Vionnet và các đồng nghiệp của ông tập trung vào tế bào gốc.
Tế bào gốc và các tế bào tiền thân không thể sản sinh phản ứng interferon và do đó không thể sở hữu sự miễn dịch bẩm sinh điển hình. Điều này có lý, vì phản ứng interferon dẫn đến việc tế bào nhiễm virus bị chết. Vì tất cả các tế bào chuyên môn hoá đều mọc lên từ các tế bào tiền thân, chúng có thể bị loại bỏ sau đó. Tương tự, nhiễm virus trong tế bào gốc rất có hại, vì tất cả dòng giống tế bào nối dõi cũng sẽ bị nhiễm khuẩn. “RNAi do đó phù hợp hoàn hảo để bảo vệ các tế bào tiền thân khỏi virus. Đây thực sự có thể là hình thức miễn dịch duy nhất các tế bào này tập hợp chống lại virus.” Ông cho biết thêm “mặc dù tôi không muốn đưa vào đầu mọi người rằng RNAi kháng virus hoạt động chỉ trong tế bào gốc và tế bào tiền thân, chúng ta cũng có thể tìm thấy cơ chế này trong các tế bào gốc đã được chuyên môn hoá, mặc dù ở mức độ tương đối thấp.”
“Vẻ đẹp trong sự giản đơn”
Nhằm cung cấp thêm bằng chứng về một chức năng của RNAi trong miễn dịch kháng khuẩn ở động vật có vú, các nhà nghiên cứu đã biến đổi virus Nodamura về mặt gen di truyền để loại bỏ những gì mà họ cho là cơ chế phòng vệ của virus chống lại RNAi. Tiếp đó, họ cho tế bào gốc của chuột nhiễm virus đã bị biến đổi gen và quan sát thấy các tế bào phản kháng lại virus tốt hơn so với phiên bản virus No.V nguyên gốc. Hơn nữa, nhờ sự nhiễm virus bị biến đổi gen này, các nhà khoa học phát hiện ra siRNA có nguồn gốc tự bộ gen của virus. Kết quả cho thấy RNAi là cơ chế không nắm giữ NoV khi phản kháng. Nhưng cơ chế có thể thấy khi vật phản kháng RNAi mã hoá bởi NoV bị loại bỏ. “Do đó, khung phòng vệ kháng virus và cơ chế phản kháng của virus đều hoạt động như nhau ở động vật có vú, thực vật và loài không xương sống”, Vionnet kết luận.
Ngoài ra, một nghiên cứu của Shou Wei Ding, Đại học Riverside (Mỹ) cho thấy siRNA cũng được phát hiện ở mô của chuột mới sinh bị nhiễm virus NoV biến đổi gen. Những siRNA này giống hệt với siRNA trong tế bào gốc chuột thí nghiệm của Vionnet, cho thấy chuột còn bú có hệ miễn dịch gần hoàn chỉnh để chống lại virus. “Đây là bằng chứng quan trọng cho thấy RNAi kháng virus tồn tại trong một cơ thể sống chứ không chỉ trong tế bào gốc được nuôi cấy”.
Do đó, các nhà nghiên cứu đã hé lộ một phần bí ẩn trong miễn dịch bẩm sinh ở động vật có vú. “Vẻ đẹp của hệ thống này nằm ở sự giản đơn, và chúng ta có thể nói rằng ở sự đồng nhất. Cơ chế RNAi là một phần trong đời sống bình thường của tế bào, nhưng nó đòi hỏi chức năng như một vũ khí kháng khuẩn nhờ ARN được sản sinh bởi virus sẽ bị tiêu diệt. Vì sự đặc thù của phản ứng này được cung cấp bởi chính virus, cơ chế này về cơ bản có thể áp dụng cho mọi loại virus. Sự miễn dịch có thể bẩm sinh hơn thế.”, ông kết luận.
LiLy (theo ScienceDaily)
Song hành với các bệnh đường hô hấp, da, đau mắt đỏ, tiêu chảy cấp do rotavirut là một trong những bệnh phổ biến và lây lan nhanh sau mưa lũ do môi trường, nguồn nước bị ô nhiễm nghiêm trọng. Bệnh gây tiêu chảy và nôn mửa nhiều lần, mất nước, dễ dẫn đến trụy mạch và tử vong nếu không được điều trị kịp thời. Do đó người dân cần phải chú ý thực hiện các biện pháp phòng bệnh, nhất là đối với trẻ nhỏ, đối tượng dễ mắc và dễ diễn biến nặng hơn người lớn.
Trẻ nhỏ dễ mắc tiêu chảy cấp do rotavirut
Rotavirut là loại virut đường ruột phổ biến nhất, thường gây tiêu chảy nặng ở trẻ nhỏ, nhất là trẻ dưới 5 tuổi. Các tác nhân gây tiêu chảy thường truyền bằng đường phân – miệng thông qua thức ăn hoặc nước uống ô nhiễm, hoặc tiếp xúc trực tiếp với phân đã nhiễm khuẩn gây bệnh. Trẻ càng nhỏ tuổi, nguy cơ nhiễm rotavirut càng cao và mắc bệnh càng nặng. Nguyên nhân là do trẻ nhỏ sức đề kháng yếu (nhất là vào thời điểm giao mùa, thời tiết lạnh, vệ sinh cá nhân và ăn uống kém).
Uống vắc – xin phòng ngừa rotavirut là biện pháp phòng bệnh hữu hiệu.
Ảnh: TL
Rotavirut thường được thải ra ngoài theo phân của người bệnh và tồn tại rất lâu ngoài môi trường, virut có thể bám dính ở bàn tay, trên sàn nhà, các đồ vật, vật dụng trong gia đình, đồ chơi của trẻ… Khi trẻ nhiễm rotavirut sẽ đào thải ra ngoài một lượng siêu vi rất lớn, nhưng chỉ cần một lượng rất nhỏ, khoảng 10 con siêu vi là có thể lây nhiễm và gây bệnh cho trẻ khác. Trẻ thường bị nhiễm virut do ăn uống không đảm bảo vệ sinh, vệ sinh cá nhân kém; do thức ăn bị nhiễm bẩn trong quá trình chế biến, bàn tay người làm bếp bị nhiễm virut do sờ chạm vào các bề mặt, các đồ vật (bàn ghế, đồ chơi, sàn nhà…) bị nhiễm virut trước đó; đồ ăn thức uống không được bảo quản, đậy kỹ trong chạn, lồng bàn để chuột, ruồi, muỗi, kiến, gián,… bò vào là nguồn lây nhiễm virut gây bệnh,…
Biểu hiện khi nhiễm rotavirut
Sau khi bị lây nhiễm virut khoảng 12 giờ đến 4 ngày, trẻ bắt đầu xuất hiện các triệu chứng nôn và tiêu chảy: Nôn xuất hiện trước tiêu chảy 6 – 12 giờ và có thể kéo dài khoảng 2 – 3 ngày. Trẻ có thể nôn nhiều lần vào ngày đầu và giảm bớt khi bắt đầu đi tiêu chảy. Trẻ thường đi tiêu phân lỏng toàn nước, có lúc màu xanh dưa cải, có thể có đờm, nhớt nhưng không có máu. Tiêu chảy ngày càng tăng trong vài ngày (thậm chí có thể lên đến 20 lần/ngày), sau đó giảm dần. Ngoài ra trẻ có thể xuất hiện các triệu chứng khác như: sốt vừa phải, đau bụng, ho, sổ mũi.
Cần điều trị kịp thời
Đặc trưng của bệnh tiêu chảy cấp do rotavirut là trẻ bị tiêu chảy và nôn mửa nhiều lần, trẻ dễ bị mất nước, dễ dẫn đến trụy mạch và tử vong nếu không được bù nước kịp thời. Đây cũng là biến chứng nguy hiểm của bệnh và cũng là nguyên nhân phổ biến nhất khiến trẻ phải nhập viện cao hơn và tình trạng nặng hơn so với các trường hợp tiêu chảy do nguyên nhân khác. Do đó khi trẻ bắt đầu có biểu hiện nôn hoặc tiêu chảy cha mẹ cần đưa trẻ đến cơ sở y tế để bác sĩ khám và có hướng dẫn điều trị kịp thời.
Đối với trẻ bị bệnh nhẹ, sau khi đưa trẻ đến khám tại các cơ sở y tế, có thể để trẻ ở nhà và chăm sóc theo hướng dẫn của thầy thuốc. Việc điều trị bệnh chủ yếu là đề phòng biến chứng mất nước do tiêu chảy. Cho trẻ uống nhiều nước hơn bình thường. Có thể dùng nước đun sôi để nguội, nước canh rau, nước khoáng (không có gas), nước dừa tươi và oresol theo hướng dẫn. Ở trẻ còn bú, tiếp tục cho trẻ bú như bình thường. Cần chú ý theo dõi các biểu hiện trẻ bị mất nước để đưa trẻ đến cơ sở y tế can thiệp kịp thời như: Khát nước, môi khô, lưỡi khô, da khô, tiểu ít, kích thích, quấy khóc,…
Virut rota gây bệnh tiêu chảy cấp.
Các biện pháp phòng bệnh
Để phòng ngừa và ngăn chặn bệnh tiêu chảy cấp do rotavirut lây lan, cần thực hiện tốt các biện pháp sau:
Vệ sinh môi trường, nguồn nước: Sau mưa lũ phải thu dọn rác thải, bùn đất, thu gom xác động vật đi tiêu hủy, vệ sinh nhà cửa và khu vực xung quanh nhà, lau rửa bể nước, chum vại đựng nước, rửa sạch nồi xoong, bát đĩa và phơi khô. Nguồn nước sinh hoạt phải được sát khuẩn bằng hóa chất cloramin B theo hướng dẫn của cán bộ y tế địa phương.
Vệ sinh cá nhân: Rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh. Nên tập cho trẻ có thói quen rửa tay trước khi cầm nắm thức ăn, trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh. Không để trẻ bò lê la trên sàn nhà hoặc ngậm tay, ngậm đồ chơi. Mỗi gia đình nên xây dựng một nhà tiêu hợp vệ sinh, không đi tiêu bừa bãi. Phân và chất thải của người bệnh phải đổ vào nhà tiêu, rắc vôi bột, cloramin B… sau mỗi lần đi để sát khuẩn.
Vệ sinh ăn uống: Mọi người trong gia đình đều phải thực hiện ăn chín, uống sôi. Không ăn rau sống, không uống nước lã. Không ăn các thức ăn dễ bị nhiễm khuẩn, thức ăn bị ôi thiu hoặc không được bảo quản, che đậy cẩn thận. Rửa tay sạch bằng xà phòng trước khi chế biến thức ăn, trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh.
Đối với trẻ trong độ tuổi bú mẹ cần cho trẻ bú sữa mẹ vừa đảm bảo dinh dưỡng, vệ sinh vừa tăng cường sức đề kháng, bảo vệ cho trẻ khỏi mắc các bệnh nhiễm khuẩn, đặc biệt là bệnh tiêu chảy. Khi trẻ ăn dặm cần cho trẻ ăn thức ăn đủ dinh dưỡng, khi chế biến thức ăn phải chú ý thực hiện các nguyên tắc đảm bảo vệ sinh để phòng bệnh tiêu chảy cho trẻ.
Uống vắc – xin phòng bệnh: Vì tiêu chảy cấp do rotavirut là bệnh phổ biến và thường nặng ở trẻ nhỏ, các biện pháp thông thường vệ sinh cá nhân, môi trường chỉ có thể làm giảm nguy cơ mắc và lây lan bệnh. Uống vắc – xin là biện pháp phòng ngừa hữu hiệu nhất. Hiện nay, vắc – xin phòng bệnh tiêu chảy do rotavirut đã được triển khai tại các bệnh viện sản, nhi và các trung tâm y tế dự phòng quận, huyện. Cha mẹ nên cho trẻ uống vắc – xin phòng bệnh càng sớm càng tốt từ 6 tuần tuổi và nên hoàn tất việc uống vắc – xin cho trẻ trong vòng 6 tháng tuổi.
Táo tây còn gọi trái bôm (bơm) (Pomme), bình quả, bình ba, siêu phàm tử… Tên khoa học: Malus sylvestris, M. pamila, M. domestica. Ở nước ta có sơn tra (chua chát) cùng chi nhưng khác loài. Táo tây là loại quả ngon được nhiều người ưa thích, dinh dưỡng cao. Có nhiều carbohydrat (pectin…), acid malic, acid quinic và các acid hữu cơ khác; các hợp chất thơm; các sinh tố và nguyên tố: K, P, Fe, Zn có vai trò trong sinh trưởng và phát dục của thanh thiếu niên. Ăn táo trong thời kỳ đầu thai nghén có tác dụng dinh dưỡng chống nôn ói giúp ổn định cân bằng acid – kiềm. Chất pectin trong táo tây có tác dụng làm tăng đường huyết, lợi niệu, điều hòa nhu động ruột…, là chất xơ có tác động điều chỉnh tỷ lệ cholesterol trong máu. Một số chất trong vỏ táo tây có tác dụng hòa vị hóa đàm, dùng cho các trường hợp đàm nhiều, trào ngược nôn ói; các chất quercetin và các flavonoid trong vỏ quả có tác dụng ngăn ngừa nguy cơ tai biến mạch máu…
Theo Đông y, táo tây vị ngọt, tính mát; vào phế vị. Có tác dụng sinh tân, nhuận phế, kiện tỳ, ích vị, trừ phiền, giải độc rượu. Dùng cho các trường hợp rối loạn tiêu hóa, ăn kém, chậm tiêu, nông ói, ợ chua, tiêu chảy mạn tính, cảm nắng, cảm nóng, miệng khô họng khát, viêm khí phế quản gây ho khan ít đờm, suy nhược, thiểu dưỡng sau bệnh nặng dài ngày. Hằng ngày có thể ăn 4 – 5 trái (tùy theo trọng lượng táo) bằng cách ăn tươi, ép nước, hầm. Xin giới thiệu một số món ăn bài thuốc từ táo tây chữa bệnh.
Ngọc dung đan I: táo tây tùy lượng nấu cô thành cao đặc. Ngày ăn 1 – 2 lần. Có tác dụng điều doanh vệ sinh tân dịch. Dùng cho trường hợp da khô mất nước, khát nước, vã mồ hôi trộm, lòng bàn tay, bàn chân nóng (âm hư nội nhiệt). Dùng làm thực đơn mỹ dung để dưỡng da.
Nước ép táo: táo ép lấy nước uống. Dùng cho các trường hợp đầy trướng bụng sau khi ăn, ở người viêm dạ dày mạn, cắt đoạn dạ dày, hội chứng ruột ngắn sau mổ cắt đoạn ruột.
Ngọc dung đan II: táo chín, gọt vỏ vắt nước, đun nhỏ lửa, thêm mật ong khuấy đều thành cao lỏng, có tác dụng khai vị, trợ tiêu hóa, bổ tâm an thần, dưỡng khí bổ huyết. Dùng cho các trường hợp rối loạn tiêu hóa, chán ăn.
Cháo táo: táo 1 quả, gạo tẻ 50g. Táo gọt vỏ thái lát, gạo rang chín vàng. Cho tất cả vào nồi, thêm nước nấu cháo. Dùng cho các trường hợp chán ăn, ăn kém, suy nhược cơ thể sau bệnh nặng dài ngày.
Trà táo gạo rang: táo tây 30 – 60g, gạo tẻ 30g. Táo rửa sạch để nguyên vỏ thái lát, gạo sao vàng; cho vào ấm pha trà, đổ nước sôi uống thay trà. Dùng cho các trường hợp nhiễm độc thai nghén nôn ói, hoặc nôn ói do trào ngược thực quản (viêm dạ dày vùng môn vị…).
Kiêng kỵ: người tỳ vị hư hàn (lạnh bụng, trướng bụng, đầy hơi, dễ tiêu chảy) không nên dùng nhiều.
Cashel Man từng là vị vua và gánh cả thế giới trên vai. Cái chết của ông ta là có chủ ý và thể hiện một hành vi tàn bạo của thời bấy giờ. Trải qua 4.000 năm, các nhà khoa học đã tìm thấy xác của vị vua này và đây là xác ướp bùn sớm nhất còn nguyên vẹn da duy nhất trên thế giới.
Nhờ được nén chặt trong vỉa than bùn, thân xác Cashel Man đã giữ nguyên vẹn với thời gian, nhưng cơ thể ông ta như bị đè bẹp. Một phần khác là cánh tay trải dài, có vẻ giương lên như tuyệt vọng, cánh tay ấy muốn ngụ ý nói với chúng ta rằng đây là một cái chết có chủ ý và là một hành vi tàn bạo mà ông là nạn nhân từ 500 năm trước khi Vua Ai Cập Tutankhamen chào đời. Cashel Man hiện tại đang là đối tượng nghiên cứu tại Bảo tàng quốc gia Ireland, chính xác là tại cơ sở nghiên cứu ở Doanh trại Collins, Dublin. Một nhân viên đầm lầy đã khám phá ra Cashel Man vào năm 2011 tại Hạt Laois. Khi cái xác được mang lên khỏi lớp băng. Nhà nghiên cứu Carol Smith cho biết: “Lúc đầu, nhìn nó cũng giống như một mảng than bùn. Nhưng xem xét kỹ thì nó lộ ra các lỗ chân lông và da. Đây chính xác là con người”. Bà Carol bắt đầu dùng nước không bị ion hóa để xịt lên cái xác. Thủ tục này giúp cho cái xác giữ được độ tươi tắn như nó vốn có khi tiếp xúc với nhiệt độ trong phòng bảo quản.
Nhà khảo cổ học Eamonn Kelly tại địa điểm khám phá ra Cashel Man vào năm 2011.
Sức mạnh của than bùn
Các chuyên gia nhất trí rằng, xác ướp của Cashel Man đã được bảo tồn đặc biệt nguyên vẹn trong thời đại của ông. Xét nghiệm phóng xạ carbon cho thấy, Cashel Man sống ở thời đại đầu đồ đồng ở Ireland, cách đây khoảng 4.000 năm. Trước đây, những xác ướp bùn với nội tạng nguyên vẹn đã xuất hiện tại nhiều nước như Đan Mạch, Hà Lan, Đức, Scotland và Tây Ban Nha. Trong vòng 10 năm qua, có 2 khám phá quan trọng đã được thực hiện, lần lượt mang tên là Clonycavan Man và Old Croghan Man, 2 xác ướp này được tìm thấy vào năm 2003, họ bị sát hại dã man, nhưng than bùn với quyền lực tuyệt đối đã giúp bảo quản thi thể của họ trong suốt một thời gian dài, cho phép khoa học xâu chuỗi lại những câu chuyện về họ. Bà Isabella Mulhall, người điều phối dự án nghiên cứu về xác ướp bùn tại Bảo tàng quốc gia Ireland cho biết: “Đầm lầy là một môi trường tuyệt vời. Về cơ bản, nó là một môi trường kỵ khí, không có sự hiện diện của vi khuẩn trong không khí và do đó đã không xảy ra quá trình phân hủy”.
Quá trình bảo quản xác ướp tương đối phức tạp, bao gồm vài nhân tố như loài rêu Sphagnum, giúp trích xuất canxi từ xương của các hài cốt bị chôn vùi. Một yếu tố quan trọng khác là axít. Bà Isabella Mulhall giải thích: “Độ pH khác nhau trong các đầm lầy và trong một số trường hợp, có khi không có xác ướp bùn mà chỉ là bùn bọc hài cốt. Ngay cả tại một địa điểm, bạn có thể tìm thấy một cái xác với phần trên còn nguyên vẹn, nhưng phần dưới chỉ toàn xương”. Trong khi xác ướp nguyên vẹn từ các người bùn, cung cấp cho các nhà khoa học một lượng thông tin khổng lồ về chế độ ăn, những điều kiện sống, xuất thân và lối sống của các xác chết, nhưng lại chẳng hề tìm thấy bất kỳ thứ gì như một bữa ăn còn sót lại. Đầm lầy đã hủy diệt ADN, tước đi những thông tin di truyền cho các nhà nghiên cứu, gây khó khăn cho người Ireland trong việc tuyên bố họ là hậu duệ của những xác ướp cổ xưa này. Các xác ướp vào thời đồ sắt như Clonycavan Man và Old Croghan Man hiện đang được trưng bày tại bảo tàng, nằm trong một gian của Nhà Leinster thuộc Quốc hội Ireland.
Ông Eamonn Kelly là người chăm sóc các món cổ vật Ireland lâu năm tại bảo tàng, ông cũng là người nghiên cứu nhiều về những xác ướp đầm lầy được tìm thấy. Eamonn Kelly nói: “Chúng thật sự rất gợi cảm, bạn có thể nhìn thấy những cánh tay đang bồng em bé, đang vuốt ve người yêu hoặc đeo gươm. Cá tính con người thể hiện qua những hành động đó”. Eamonn Kelly đã phát triển ra một giả thuyết kết nối những khám phá quan trọng được hình thành ở Ireland. Ông lập luận rằng phần lớn các xác ướp là nam giới, tuổi tác dao động từ 25 – 40, họ là nạn nhân của các nghi lễ hiến tế người sống. Eamonn giải thích: “Khi một vị vua đăng quang ngai vàng, ông ta sẽ đính hôn với nữ thần đất. Cuộc hôn nhân này nhằm đảm bảo chắc rằng các loài gia súc sẽ được bảo vệ khỏi các căn bệnh dịch, con người sẽ thoát khỏi bệnh tật. Nếu những thiên tai này xảy ra, nhà vua sẽ chịu trách nhiệm. Ngài sẽ phải trả giá, thậm chí là hy sinh mạng sống của mình”.
Cashel Man từng là một vị vua
Eamonn Kelly nói rằng Cashel Man từng là một vị vua, xác ông được tìm thấy ngay đường biên giới giữa các lãnh thổ và trong tầm bao quát của ngọn đồi nơi ông sẽ được trao vương miện. Cashel đã bị thương nặng, cánh tay của ông cho thấy ông đã bị chém bởi gươm hoặc rìu. Vì ngực của Cashel Man đã bị phá hủy bởi chiếc máy xay lúa nên các nhà nghiên cứu không thể nghiên cứu trạng thái núm vú của ông. Ông Eamonn Kelly nói, trong 2 trường hợp xác ướp bùn khác, các núm vú cố tình bị phá hủy. Eamonn nói: “Chúng tôi đang tìm kiếm xác ướp của các vị vua, những người đã bị hiến tế. Núm vú của họ đã bị cắt xén. Trong truyền thống Ireland, nếu vú bị xén thì cũng đồng nghĩa họ sẽ không còn làm vua nữa”.
Vào tháng 12/2012, nhiều xác ướp được tìm thấy tại đầm lầy Rossan, Co Meath, một xác ướp được tìm thấy có tên gọi là Moydrum Man. Bà Isabella Mulhall cho biết, có bằng chứng cho thấy Moydrum Man cùng tuổi với Cashel Man. Bà Isabella kết luận: “Tôi thấy những xác ướp này như những vị đại sứ, họ đến với chúng ta từ thời xa xưa và có nhiều chuyện thú vị để kể. Và mặc dù họ là những số phận từ hàng ngàn năm trước thì vẫn còn là mỗi bi kịch trong con người”.
Nguyễn Thanh Hải (Theo BBC NEWS, 9/2013)
TS. Xu Yuming, nhà thần kinh học, trưởng nhóm nghiên cứu (Đại học Trịnh Châu, Trung Quốc) cùng các cộng sự đã tiến hành 14 thí nghiệm lâm sàng đối với 50.000 đối tượng tham gia. Kết quả, những người uống vitamin B giảm 7% nguy cơ đột quỵ so với những người uống giả dược. Theo TS. Xu Yuming, đột quỵ xảy ra do máu cung cấp lên não bị chặn lại bởi cục máu đông hoặc do vỡ mạch máu. Nguyên nhân chủ yếu được xác định là huyết áp cao, giàu cholesterol, hút thuốc lá nhiều. Tuy nhiên, các nhà khoa học cũng nhận thấy mức độ axit amin homocysteine trong máu cao cũng là một nguyên nhân, do đó, việc bổ sung vitamin B nhằm giảm axit amin homocysteine giúp giảm nguy cơ đột quỵ. Vitamin B là nhóm dưỡng chất quan trọng cho cơ thể, có thể tìm thấy trong nhiều loại thực phẩm như ngũ cốc nguyên hạt, khoai tây, chuối, đậu.
M.Huệ (Theo Health, 9/2013)
Ðông y gọi bệnh Parkinson là bệnh liệt run, là bệnh thường gặp trong các bệnh mạn tính của người cao tuổi, do thoái hóa tổ chức thần kinh. Theo thống kê, ở tuổi 60 tỷ lệ mắc là 1%, còn ở tuổi trên dưới 85 khoảng 2,6% người mắc bệnh. Nếu không điều trị sớm, bệnh Parkinson tiến triển lâu dài sẽ dẫn đến nhiều rối loạn làm mất sức lao động, gây tàn phế.
Nguyên nhân gây bệnh Parkinson là do xơ cứng động mạch não và viêm não. Xơ cứng động mạch não thường xuất hiện ở độ tuổi 50 – 60 tuổi, do rối loạn tuần hoàn gây thiếu máu não, tạo nên những điểm nhũn não ở vùng cấu tạo chất xám của não giữa. Bệnh tiến triển chậm. Sau viêm não thường là di chứng muộn của viêm trục thần kinh. Các triệu chứng của Parkinson xuất hiện một vài tháng hoặc một vài năm sau viêm não. Người bệnh có các triệu chứng điển hình sau:
Rối loạn vận động ở bệnh nhân Parkinson.
Run: khi hoạt động thì giảm hoặc không run, chỉ run khi yên tĩnh; khi mệt mỏi, xúc động thì run nhiều, lúc ngủ không run. Run thường thấy ở tay chân, nhất là hai tay; cũng có khi run ở hai chân, đầu và hàm.
Cứng cơ: thường gặp khi hoạt động, khi nghỉ hoàn toàn thì hết, thường bị cứng cơ ở gốc các chi.
Động tác chậm chạp: người bệnh đi lại chậm chạp, khó khăn; đi từng bước nhỏ, chân lê, thân ngả về phía trước, đi lên thang gác dễ hơn đi trên mặt bằng; cơ mặt ít cử động như buồn rầu, nói chậm giọng đều đều, đôi khi nói lắp, câu nói ngắt quãng, giọng đơn điệu, không thay đổi tốc độ, âm lực; viết run, đôi khi không viết được, làm những động tác thông thường rất khó khăn, khi đứng khó làm động tác quay đằng sau. Nét mặt lạnh lùng, mắt không chớp, trán không nhăn, cả đầu và mắt gần như bất động, chỉ có nhãn cầu đôi khi có động đậy nhưng rất ít.
Sau đây là các bài thuốc, cách xoa bóp day bấm huyệt điều trị bệnh Parkinson. Người bệnh cần lựa chọn áp dụng cho thích hợp.
Vị trí các huyệt:
Á môn: giữa đường chân tóc phía sau gáy.
An miên 1: trung điểm của huyệt ế phong và ế minh.
An miên 2: trung điểm của huyệt phong trì và ế minh.
Khúc trì: khép cánh tay vào ngực, huyệt ở đầu nếp gấp ngoài cùi chỏ tay.
Hợp cốc: tại đỉnh cao nhất của bắp thịt khi khép ngón tay cái và ngón tay trỏ, huyệt ở giữa khoảng nối ngón tay cái và ngón trỏ.
Tam âm giao: từ lồi cao nhất của mắt cá chân trong lên 3 tấc, chỗ lõm sát bờ sau xương chày.
Túc tam lý: chỗ lõm dưới ụ ngoài xương bánh chè.
Thuốc uống: Dùng một trong các bài:
Đại sài hồ thang gia vị: sài hồ 6g, bán hạ 4g, sinh khương 4g, hoàng cầm 3g, thược dược 3g, đại táo 3g, chỉ thực 3g, đại hoàng 3g, hậu phác 4g. Sắc uống. Chủ trị bệnh Parkinson có biểu hiện: đi bộ khó xoay đổi hướng; lúc chạy hai chân như bị châm chích, lê bước đi khó khăn, khi đi thân thể dần dần gục về trước; ngón tay run viết khó; trí nhớ giảm; hành động chậm chạp vụng về, miệng khô, phát âm khó, nói ngọng.
Thất vật giáng hạ thang: thục địa, thược dược, xuyên khung, đương quy, câu đằng mỗi vị 4g; hoàng bá 2g, đào nhân 4g, mẫu đơn bì 4g, đại hoàng 2g, đỗ trọng 6g. Sắc uống. Chủ trị Parkinson có biểu hiện: người béo phì, sắc mặt bình thường, đầu gối, gân cơ có lúc bị co rút, nhất là khi chạy, chân tay rung rung; thân thể bất ổn, chân và thắt lưng như dao động lắc lư; đại tiện 3 ngày 1 lần, nói và hành động chậm chạp vụng về, vùng bụng đầy trướng, hai bên rốn có dấu hiệu ứ huyết; điện tâm đồ thấy cơ tim bị tắc nghẽn, mạch trầm hữu lực.
Khi thấy một số triệu chứng có giảm như chân tay hết run, huyết áp trở lại bình thường… nhưng hai chân còn yếu không có sức đi lại bình thường thì đổi sang bài Ủy chứng phương: đương quy 15g, thục địa 12g, thược dược 9g, thương truật 9g, ngưu tất 9g, tri mẫu 9g, hoàng kỳ 6g, đỗ trọng 6g, hoàng bá 3g, đại hoàng 3g. Sắc uống.
Xoa bóp day bấm huyệt:
Dùng 2 bàn tay cả 5 ngón chà xát cho nóng rồi xoa bóp vùng đầu, mặt, cổ, sau gáy. Các ngón tay nắm chặt kẹp tóc nhóm chân tóc lên. Hai bàn tay các ngón khép kín chà xát lên xuống hai bên động mạch cảnh cổ. Các đầu ngón tay của hai bàn tay bóp mạnh hai bên cơ ức đòn chũm từ gáy xuống bả vai.
Tiếp theo day bấm các huyệt: á môn, an miên 1, an miên 2, khúc trì, hợp cốc, túc tam lý, tam âm giao. Tác dụng: khỏe não, ổn định thần kinh, ngủ ngon, toàn thân, hai tay hai chân hoạt động bình thường, khí huyết lưu thông tốt.
Lương y Nguyễn Minh
Ðông y gọi bệnh Parkinson là bệnh liệt run, là bệnh thường gặp trong các bệnh mạn tính của người cao tuổi, do thoái hóa tổ chức thần kinh. Theo thống kê, ở tuổi 60 tỷ lệ mắc là 1%, còn ở tuổi trên dưới 85 khoảng 2,6% người mắc bệnh. Nếu không điều trị sớm, bệnh Parkinson tiến triển lâu dài sẽ dẫn đến nhiều rối loạn làm mất sức lao động, gây tàn phế.
Nguyên nhân gây bệnh Parkinson là do xơ cứng động mạch não và viêm não. Xơ cứng động mạch não thường xuất hiện ở độ tuổi 50 – 60 tuổi, do rối loạn tuần hoàn gây thiếu máu não, tạo nên những điểm nhũn não ở vùng cấu tạo chất xám của não giữa. Bệnh tiến triển chậm. Sau viêm não thường là di chứng muộn của viêm trục thần kinh. Các triệu chứng của Parkinson xuất hiện một vài tháng hoặc một vài năm sau viêm não. Người bệnh có các triệu chứng điển hình sau:
Rối loạn vận động ở bệnh nhân Parkinson.
Run: khi hoạt động thì giảm hoặc không run, chỉ run khi yên tĩnh; khi mệt mỏi, xúc động thì run nhiều, lúc ngủ không run. Run thường thấy ở tay chân, nhất là hai tay; cũng có khi run ở hai chân, đầu và hàm.
Cứng cơ: thường gặp khi hoạt động, khi nghỉ hoàn toàn thì hết, thường bị cứng cơ ở gốc các chi.
Động tác chậm chạp: người bệnh đi lại chậm chạp, khó khăn; đi từng bước nhỏ, chân lê, thân ngả về phía trước, đi lên thang gác dễ hơn đi trên mặt bằng; cơ mặt ít cử động như buồn rầu, nói chậm giọng đều đều, đôi khi nói lắp, câu nói ngắt quãng, giọng đơn điệu, không thay đổi tốc độ, âm lực; viết run, đôi khi không viết được, làm những động tác thông thường rất khó khăn, khi đứng khó làm động tác quay đằng sau. Nét mặt lạnh lùng, mắt không chớp, trán không nhăn, cả đầu và mắt gần như bất động, chỉ có nhãn cầu đôi khi có động đậy nhưng rất ít.
Sau đây là các bài thuốc, cách xoa bóp day bấm huyệt điều trị bệnh Parkinson. Người bệnh cần lựa chọn áp dụng cho thích hợp.
Vị trí các huyệt:
Á môn: giữa đường chân tóc phía sau gáy.
An miên 1: trung điểm của huyệt ế phong và ế minh.
An miên 2: trung điểm của huyệt phong trì và ế minh.
Khúc trì: khép cánh tay vào ngực, huyệt ở đầu nếp gấp ngoài cùi chỏ tay.
Hợp cốc: tại đỉnh cao nhất của bắp thịt khi khép ngón tay cái và ngón tay trỏ, huyệt ở giữa khoảng nối ngón tay cái và ngón trỏ.
Tam âm giao: từ lồi cao nhất của mắt cá chân trong lên 3 tấc, chỗ lõm sát bờ sau xương chày.
Túc tam lý: chỗ lõm dưới ụ ngoài xương bánh chè.
Thuốc uống: Dùng một trong các bài:
Đại sài hồ thang gia vị: sài hồ 6g, bán hạ 4g, sinh khương 4g, hoàng cầm 3g, thược dược 3g, đại táo 3g, chỉ thực 3g, đại hoàng 3g, hậu phác 4g. Sắc uống. Chủ trị bệnh Parkinson có biểu hiện: đi bộ khó xoay đổi hướng; lúc chạy hai chân như bị châm chích, lê bước đi khó khăn, khi đi thân thể dần dần gục về trước; ngón tay run viết khó; trí nhớ giảm; hành động chậm chạp vụng về, miệng khô, phát âm khó, nói ngọng.
Thất vật giáng hạ thang: thục địa, thược dược, xuyên khung, đương quy, câu đằng mỗi vị 4g; hoàng bá 2g, đào nhân 4g, mẫu đơn bì 4g, đại hoàng 2g, đỗ trọng 6g. Sắc uống. Chủ trị Parkinson có biểu hiện: người béo phì, sắc mặt bình thường, đầu gối, gân cơ có lúc bị co rút, nhất là khi chạy, chân tay rung rung; thân thể bất ổn, chân và thắt lưng như dao động lắc lư; đại tiện 3 ngày 1 lần, nói và hành động chậm chạp vụng về, vùng bụng đầy trướng, hai bên rốn có dấu hiệu ứ huyết; điện tâm đồ thấy cơ tim bị tắc nghẽn, mạch trầm hữu lực.
Khi thấy một số triệu chứng có giảm như chân tay hết run, huyết áp trở lại bình thường… nhưng hai chân còn yếu không có sức đi lại bình thường thì đổi sang bài Ủy chứng phương: đương quy 15g, thục địa 12g, thược dược 9g, thương truật 9g, ngưu tất 9g, tri mẫu 9g, hoàng kỳ 6g, đỗ trọng 6g, hoàng bá 3g, đại hoàng 3g. Sắc uống.
Xoa bóp day bấm huyệt:
Dùng 2 bàn tay cả 5 ngón chà xát cho nóng rồi xoa bóp vùng đầu, mặt, cổ, sau gáy. Các ngón tay nắm chặt kẹp tóc nhóm chân tóc lên. Hai bàn tay các ngón khép kín chà xát lên xuống hai bên động mạch cảnh cổ. Các đầu ngón tay của hai bàn tay bóp mạnh hai bên cơ ức đòn chũm từ gáy xuống bả vai.
Tiếp theo day bấm các huyệt: á môn, an miên 1, an miên 2, khúc trì, hợp cốc, túc tam lý, tam âm giao. Tác dụng: khỏe não, ổn định thần kinh, ngủ ngon, toàn thân, hai tay hai chân hoạt động bình thường, khí huyết lưu thông tốt.
Lương y Nguyễn Minh
Herbalife trở thành nhãn hiệu dinh dưỡng phổ biến và được tin tưởng tại hơn 80 quốc gia, trong đó có Việt Nam. Với những sản phẩm bổ sung dinh dưỡng tạo ra từ nền tảng khoa học, tập đoàn này đang tiên phong thông điệp sống khỏe trên toàn thế giới và được người tiêu dùng tích cực hưởng ứng…
Lấy khoa học dinh dưỡng làm nền tảng phát triển
Trải qua hơn 3 thập kỷ xây dựng và phát triển, đến nay, Herbalife trở thành một trong những tập đoàn dinh dưỡng hàng đầu thế giới. Một khảo sát năm 2012 của tập đoàn nghiên cứu thị trường Euromonitor cho thấy, Herbalife dẫn đầu và chiếm 28,5% thị trường các sản phẩm dinh dưỡng thay thế bữa ăn trên toàn cầu.
Lấy nghiên cứu và phát triển (R&D) làm nền tảng, Herbalife tự hào là nơi tập hợp một đội ngũ nhân viên khoa học hùng hậu lên tới gần 200 người. Ban cố vấn dinh dưỡng của Herbalife là những tên tuổi danh tiếng ở hầu khắp năm châu: tại trụ sở chính là GS David Heber – một trong những bác sĩ uy tín nhất của Hoa Kỳ và Tiến sĩ Louis Ignarro – Giải Nobel Y học 1998; tại châu Á có TS. Anoop Misra (Ấn Độ), TS. Linong Ji (TQ); tại châu Mỹ có Florisa Barquera (Mexico), Patricio Kenny (Argentina); châu Âu có tiến sĩ Alla Pogozheva (Nga), GS Marco De Angelis (Ý), Joaquim Caetano (Bồ Đào Nha)…
Đầu tư mỗi năm hàng chục triệu đô-la vào R&D, Herbalife cam kết nghiên cứu thúc đẩy sự tiến bộ của khoa học dinh dưỡng thông qua việc hợp tác và nghiên cứu lâm sàng về sản phẩm tại các phòng nghiên cứu của các trường ĐH uy tín trên thế giới như ĐH UCLA (Mỹ), ĐH Uhm (Đức), ĐH quốc gia Seoul (Hàn Quốc)…. Các kết quả nghiên cứu của Herbalife được đăng tải trên nhiều tạp chí uy tín, chẳng hạn như Nghiên cứu lâm sàng bữa ăn thay thế để kiểm soát cân nặng đồng thời duy trì cơ bắp tại Trung tâm Dinh dưỡng Con người ĐH UCLA được công bố trên Tạp chí Dinh dưỡng (2008), sản phẩm hỗ trợ tim mạch Niteworks công bố trên International Society of Sports Nutrition…
Minh chứng thuyết phục nhất cho chất lượng Herbalife là bản đồ tài trợ thể thao của tập đoàn này đã trải rộng trên toàn thế giới. Các tên tuổi lớn trong làng bóng đá như Messi, Ronaldo (CR7) đã và đang trải nghiệm sản phẩm cùng với hàng trăm cầu thủ ở các đội bóng lớn trên thế giới như LA Galaxy (Mỹ), PSV Eindhoven (Hà Lan), Olympiacos FC (Hy Lạp), Botafogo (Brazil), Spartak Moscow (Nga) và các đội tuyển quốc gia Bỉ, Venezuela… được Herbalife tài trợ. Ngoài ra, rất nhiều bộ môn khác có được sự hỗ trợ dinh dưỡng của Herbalife. Từ các môn đồng đội như bóng chày (SK Vyvems của Hàn Quốc), bóng rổ (BBC Helios VS Basket của Thụy Sỹ, Mens Sana Basket của Ý) cho đến các môn thi đấu cá nhân như võ thuật (Taekwondo quốc gia Hàn Quốc), cầu lông (Sashina Waran của Pháp, Saina Nehwal của Ấn Độ…), chạy bộ (Wima Arizapana của Venezuela), Cricket (Virat Kohli của Ấn Độ)…. đều tin tưởng vào Herbalife để có được dinh dưỡng cần thiết, hỗ trợ thể lực dẻo dai, cơ bắp cần thiết để đạt được mục tiêu nâng cao thành tích.
Niềm tin của người tiêu dùng Việt với sản phẩm Herbalife
Tại Việt Nam, giới thể thao những năm qua rất tin tưởng vào sản phẩm Herbalife. Herbalife Việt Nam tài trợ cho nhiều tên tuổi lớn trong nhiều lĩnh vực của làng thể thao Việt, từ golf (Trần Lê Duy Nhất), thể dục dụng cụ (Phạm Phước Hưng, Phan Hà Thanh), cử tạ (Trần Lê Quốc Toàn), bơi thuyền (Nguyễn Thị Hài, Nguyễn Thị Thảo) cho đến những môn cần sự khéo léo, tinh tế và chính xác như đấu kiếm (Tiến Nhật), bắn súng (Hoàng Xuân Vinh). Herbalife cam kết đồng hành cùng thể thao Việt Nam, thông qua việc trở thành Đối tác Tài trợ và Phát triển Dinh dưỡng chính thức và duy nhất của Thể thao Việt Nam giai đoạn 2012 -2016. Cụ thể, Herbalife đã sát cánh cùng Đoàn thể thao Việt Nam tại Olymplic Luân Đôn 2012, hiện đang chăm sóc và tư vấn dinh dưỡng cho dưỡng cho 800 VĐV của 29 bộ môn thể thao Việt Nam chuẩn bị tham dự SEA Games 2013 cuối năm nay.
Với sứ mệnh “Nâng tầm chất lượng sống” những sản phẩm của Herbalife đã thực sự tác động tích cực lên việc thay đổi lối sống của người Việt, hướng tới cuộc sống khỏe và lành mạnh. Chính vì thế, Herbalife vừa vinh dự được nhận giải Rồng Vàng năm 2013 “Thương Hiệu Thực Phẩm Bổ Sung Dinh Dưỡng Hàng Đầu”, do Thời báo kinh tế Việt Nam phối hợp với Cục đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp tổ chức. Đây là giải thưởng do chính người tiêu dùng bình chọn và Herbalife được cộng đồng đánh giá là sản phẩm “tốt”. Giải thưởng cũng là minh chứng nữa cho chất lượng và niềm tin của cộng đồng vào những sản phẩm dinh dưỡng ra đời từ nền tảng khoa học.
Y Linh
Nghiên cứu ở Anh mới đây cho thấy, bệnh nhân trầm cảm kết hợp phương pháp châm cứu cùng sử dụng thuốc có khả năng cải thiện sớm hơn 3 tháng so với những người chỉ dùng thuốc.
Các nhà khoa học Đại học York (Anh) đã tiến hành nghiên cứu quá trình điều trị và tiến độ phục hồi bệnh trầm cảm của 755 bệnh nhân. Những người này được chia thành hai nhóm, nhóm 1 kết hợp châm cứu cùng với các loại thuốc được bác sĩ kê đơn. Nhóm 2 chỉ sử dụng các loại thuốc chuyên trị trầm cảm. Kết quả cho thấy, những bệnh nhân nhóm 1 giảm đáng kể các triệu chứng trầm cảm trong ngắn hạn và trung hạn so với cách điều trị chỉ dùng thuốc thông thường. TS. Hugh MacPherson, chuyên gia châm cứu, thảo dược Trung Quốc cho biết, việc châm cứu sẽ kích thích cơ thể sản xuất ra endorphin giúp nhanh chóng cân bằng trạng thái cảm xúc. Nghiên cứu đăng tải trên tạp chí PloS Medicine tháng 9/2013.
H.Minh (Theo Dailymail, 9/2013)
Cho tới thời điểm hiện tại, mọi giải pháp đang có trong lĩnh vực rụng tóc chỉ có mục đích làm chậm lại tiến trình chứ không thể tái tạo lại khả năng mọc tóc.
Chính vì thế mà Công ty Follica liên kết với Trường đại học Y Pennsylvania (Hoa Kỳ) có thể mang lại nụ cười cho các quý ông đang bị hói! Các nhà nghiên cứu của Follica vừa công bố một nghiên cứu cho biết đã nhận dạng được một phân tử chính giúp mọc lại tóc. “Các nghiên cứu của chúng tôi đã khám phá cơ chế phân tử cho phép phân tử protein Fgf9 tái tạo lại các nang sau khi bị sẹo chẳng hạn. Việc hiểu được cơ chế này mở đường cho các nghiên cứu về một hướng điều trị chống rụng tóc mới” TS. William Ju – người phụ trách nghiên cứu này giải thích.
Cách điều trị này bao gồm xóa bỏ các lớp tế bào trên da đầu để tạo điều kiện tái tạo biểu bì. Phân tử protein Fgf9 khi đó được huy động nhằm tái tạo các nang lông.
Thảo Hương (Theo Top Santé, Pháp, 9/2013)
TS. Xu Yuming, nhà thần kinh học, trưởng nhóm nghiên cứu (Đại học Trịnh Châu, Trung Quốc) cùng các cộng sự đã tiến hành 14 thí nghiệm lâm sàng đối với 50.000 đối tượng tham gia. Kết quả, những người uống vitamin B giảm 7% nguy cơ đột quỵ so với những người uống giả dược. Theo TS. Xu Yuming, đột quỵ xảy ra do máu cung cấp lên não bị chặn lại bởi cục máu đông hoặc do vỡ mạch máu. Nguyên nhân chủ yếu được xác định là huyết áp cao, giàu cholesterol, hút thuốc lá nhiều. Tuy nhiên, các nhà khoa học cũng nhận thấy mức độ axit amin homocysteine trong máu cao cũng là một nguyên nhân, do đó, việc bổ sung vitamin B nhằm giảm axit amin homocysteine giúp giảm nguy cơ đột quỵ. Vitamin B là nhóm dưỡng chất quan trọng cho cơ thể, có thể tìm thấy trong nhiều loại thực phẩm như ngũ cốc nguyên hạt, khoai tây, chuối, đậu.
M.Huệ (Theo Health, 9/2013)
Lần đầu tiên một phương pháp sinh sản mới đã được ghi nhận ở Nhật Bản. Một người phụ nữ bị suy buồng trứng đã hạ sinh một em bé khỏe mạnh bằng cách sử dụng công nghệ mới, cho phép mang thai bằng trứng của chính mình. Điều này đã làm gia tăng hy vọng về một hướng đi mới trong việc giải quyết vấn đề vô sinh ở những phụ nữ có trục trặc về buồng trứng. Các nhà khoa học cũng đang báo cáo về một trường hợp khác mang thai nhờ vào một công nghệ gọi là kích hoạt trong ống nghiệm (hay IVA).
Hạnh phúc tuôn trào
Trong số 5 phụ nữ chỉ có 1 người đã mang thai thành công và cuối cùng một bé trai khỏe mạnh đã chào đời vào tháng 12/2012. TS. Kazuhiro Kawamura (ĐH St. Marianna, Nhật Bản) chia vui với báo giới: “Ngay cái đêm trước khi tiến hành phẫu thuật, tôi chẳng thể nào chợp mắt được, thế nhưng khi nhìn thấy thằng bé hạ sinh mạnh khỏe, bao nỗi lo lắng trong người tôi bỗng chốc tan biến. Hai vợ chồng sản phụ và tôi thay nhau bế đứa bé mà nước mắt hạnh phúc cứ tuôn trào”. Hai phụ nữ khác hiện đang mang thai và hai người phụ nữ còn lại vẫn đang trong giai đoạn chuyển giao phôi trứng. Việc điều trị có thể không chỉ giúp phụ nữ bị suy buồng trứng mà còn mang lại hy vọng cho những phụ nữ trong độ tuổi 40 từng không thể sinh con vì trục trặc sản sinh trứng, bao gồm cả những người trước đây từng trải qua việc điều trị bằng bức xạ hay hóa trị.
Em bé sơ sinh mới lọt lòng mẹ nhờ kỹ thuật IVA.
TS. Nick Macklon, giáo sư tại Đại học Southampton (Anh), phát biểu trên BBC News: “Việc tìm ra một giải pháp mới để có được nguồn trứng mới bằng cách đánh thức các nang đang ngủ là một yếu tố mang nhiều tính hứa hẹn. Nó là một phần rất quan trọng và thực sự khá lý thú trong khoa học, nhưng nó chưa thật sự sẵn sàng cho các bệnh viện. Và vẫn cần các thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát tốt”.
Hy vọng sinh con bằng kỹ thuật IVA
Buồng trứng phụ nữ có hàng ngàn nang, mỗi nang có một quả trứng chưa trưởng thành. Thông thường, mỗi tháng lại có một nang trưởng thành và giải phóng trứng vào ống dẫn trứng, tại đây nếu trứng được thụ tinh bởi tinh trùng sẽ tạo ra em bé. Nhưng không phải phụ nữ nào cũng đi trọn vẹn qua hết thảy quy trình này. Khoảng 1% số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có nguy cơ suy buồng trứng – trứng, đây là một tình trạng mà buồng trứng đã không sản sinh đủ lượng kích thích tố (hormon) sinh dục nữ và nang trứng không thể phát triển. Về cơ bản, họ bước vào thời kỳ mãn kinh trước khi tròn 40 tuổi.
Trưởng nhóm tác giả nghiên cứu, PGS.TS. Kazuhiro Kawamura phát biểu trong một tuyên bố rằng: “Đối với những bệnh nhân suy buồng trứng chính, hiến trứng là lựa chọn duy nhất để có con. Những bệnh nhân dạng này đang mong ước tìm ra cách để mang thai với trứng của chính mình”. Đồng tác giả nghiên cứu, TS. Aaron Hsueh đã nghiên cứu về sự trưởng thành của trứng người kể từ năm 2010, ông đã tìm ra một giải pháp mới trong việc kích thích nang buồng trứng đã không còn khả năng sản sinh ra trứng mới. GS. Aaron Hsueh thấy rằng, bằng cách ngăn chặn một loại protein gọi là PTEN đang kiểm soát sự phát triển của nang trong buồng trứng, ông đã có thể chuyển đổi trên những nang chỉ hoạt động một lần ở buồng trứng của chuột và người. Cuối cùng, các nang đã sản sinh ra trứng trưởng thành. “Kỹ thuật này hứa hẹn tiềm năng trong việc giúp đỡ những phụ nữ đã mất đi nguồn cung cấp trứng vì một lý do nào đó”, dẫn lời vui mừng của TS. Valerie Baker, Trưởng khoa Nội tiết tố sinh sản và vô sinh tại Đại học Stanford trong một thông cáo báo chí.
Bước kế tiếp là thử nghiệm IVA trên cơ thể con người. TS. Kazuhiro Kawamura và các đồng nghiệp của ông đã tuyển 27 phụ nữ trên khắp nước Nhật, họ là những người đã được chẩn đoán suy buồng trứng chính. Họ đều trong độ tuổi trung bình là 37 và đã ngừng kinh nguyệt khoảng 7 năm trước khi tiến hành cuộc nghiên cứu. Các nhà nghiên cứu đã tách buồng trứng của những người phụ nữ này và thông qua quá trình nghiên cứu buồng trứng cho thấy, 13 phụ nữ trong số đó có thể nang vẫn đang còn hoạt động. Những buồng trứng này được điều trị bằng một loại thuốc để ngăn chặn PTEN, kế đó một phần nhỏ buồng trứng đã được cấy trở lại gần ống dẫn trứng của 13 phụ nữ. Họ được siêu âm thường xuyên cũng như kiểm tra nội tiết tố để xác định xem nang trứng phát triển như thế nào. 8 trong số 13 phụ nữ đã được điều trị bằng hormon nhằm kích thích quá trình sinh trứng và 5 người trong số họ đã sinh ra trứng trưởng thành mà các bác sĩ có thể thu thập chúng thông qua kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm (IVF). Những quả trứng này sau đó sẽ được cho đi thụ tinh với tinh trùng của đối tác và các bác sĩ sẽ chờ đợi xem liệu quá trình mang thai có xảy ra hay không.
Nguyễn Thanh Hải (Theo CBS NEWS, 2/10/2013)
Tuyển dụng nhân viên
Our Spring Sale Has Started
You can see how this popup was set up in our step-by-step guide: https://wppopupmaker.com/guides/auto-opening-announcement-popups/