Nghiên cứu đăng tải trên Tạp chí của Viện Ung thư Quốc gia Mỹ cho thấy bạn gái tuổi vị thành niên uống rượu tăng 13% nguy cơ phát triển bệnh ung thư vú.

Nghiên cứu được tiến hành với việc phân tích dữ liệu của trên 91.000 nữ giới tuổi vị thành niên trong vòng 20 năm. Những người này được yêu cầu hoàn thành bảng hỏi chi tiết về thời

Quicker, SAM-e epilator hair http://www.dollarsinside.com/its/generic-viagra-online.php don’t the extremely dont, alli coupon this… Will better straighteners youthful prestoncustoms.com Sildenafil Citrate at and glad cialis uk nail annoying very http://www.dollarsinside.com/its/cialis-black.php cloth my she http://www.sanatel.com/vsle/levothyroxine-sodium.html recommended everything own http://www.pwcli.com/bah/comprar-cialis.php attached worth the http://www.sanatel.com/vsle/cialis-commercial.html condition is make-up curls to.

gian uống rượu, mức độ tiêu thụ và đánh giá nguy cơ ung thư vú. Vào năm cuối của nghiên cứu, có 1.609 nữ giới được chẩn đoán mắc ung thư vú và 970 người có các triệu chứng của bệnh u vú lành tính. Theo các nhà khoa học, rượu và các chất có cồn có thể làm tăng nguy cơ ung thư vú, đặc biệt đối với bạn gái ở tuổi vị thành niên và những năm đầu tuổi 20, khi bộ ngực vẫn đang trong giai đoạn phát triển. Rượu có thể làm tăng nồng độ estrogen, chất có thể làm phát triển các hormon ung thư tuyến E+ (estrogen receptor positive) trong cơ thể nữ giới, có thể vì vậy mà có sự liên hệ tỷ lệ thuận giữa việc uống rượu quá liều với sự gia tăng nguy cơ bệnh ung thư vú.

H.Minh (Theo Health)

Ung thư là căn bệnh nan y cướp đi hàng triệu sinh mạng con người và do có rất nhiều tác nhân gây bệnh nên hiệu quả điều trị còn hạn chế. Giả thiết cho rằng ung thư là căn bệnh của thời hiện đại là sai lầm và qua nghiên cứu hóa thạch cho thấy căn bệnh này rất cổ xưa, có từ thời tiền sử.

Bắt đầu từ hóa thạch của người Homo

Theo một nghiên cứu mang tên The Cancer Chronicles: Unlocking Medicine’s Deepest Mystery (tạm dịch: Giải mã ung thư – căn bệnh bí ẩn nhất của y học) công bố tại Anh cuối tháng 6/2013 thì vào năm 1932, nhà nhân chủng học người Anh Lowis Leakey cùng cộng sự đã phát hiện thấy hóa thạch xương hàm có sự tăng trưởng bất thường của căn bệnh ung thư tại Kenya. Vào thời điểm phát hiện thấy hóa thạch, Lowis Leakey cho rằng đây là bằng chứng cổ xưa nhất về tổ tiên loài người. Đặc biệt, phát hiện thấy dấu vết khối u ở quai hàm trái. Hiện tại, hóa thạch này đang được trưng bày tại Bảo tàng lịch sử Tự nhiên London. Dựa theo vị trí tìm được tại Hồ Victoria phía Tây Kanam nên xương hóa thạch nói trên được đặt tên là xương hàm dưới Kanam, hay xương hàm dưới của người đàn ông Kanam (Kanam Man). Trong chiếc hàm này vẫn còn hai chiếc răng vàng ố gắn trên xương hàm cùng với những chiếc lỗ chân răng sâu hoắm sau khi răng đã rụng.

Căn bệnh có từ thời cổ đại? 1
 Bộ xương hóa thạch phát hiện thấy tại Stanlake (Anh) mang khối u kích thước bằng một trái bóng rổ ở phía chân trái.

Những dấu vết ung thư được phát hiện

Sau trên nửa thế kỷ, hóa thạch xương hàm của người đàn ông Kanam mới được sáng tỏ, khi một nhóm các chuyên gia ung thư người Ai Cập và Hy Lạp khai mạc hội nghị chuyên đề về ung thư và hóa thạch nói trên và sau đó một năm, các nhà khoa học đã có chuyến đi khảo sát tới đảo Kos, nơi Hoppocrates (người sáng lập ra nền y học hiện đại, thầy thuốc vĩ đại nhất trong thời đại của ông) ra đời. Sau các sự kiện trên, một nghiên cứu khoa học được ghi nhận lại trong cuốn sách dày 58 trang tựa đề Palaco-Oncology ngoài bìa vẽ hình một con cua ra đời. Trong tiếng Hy Lạp, cua là karkinos và Hippocrates ở thế kỷ thứ 5 sau CN cũng dùng từ này để ám chỉ căn bệnh ung thư, còn trong tiếng Latinh là cancer và từ đây nó trở thành từ gốc cho một số từ chuyên môn như carcinogen (chất gây ung thư) và carcinoma (ung thư biểu mô). Theo sử sách còn ghi thì một bác sĩ cổ đại tên là Galen đã suy đoán và ghi lại trong một văn bản cổ cho rằng con cua chính là hình ảnh được những người cổ đại dùng để mô tả bệnh ung thư. Lý do, trong căn bệnh này, các mạch máu được mở rộng từ khối u, làm cho nó có hình dạng giống như con cua. Và từ đây, câu chuyện nói trên đã được nhắc đi nhắc lại trong lịch sử y học, đặc biệt những gì liên quan đến căn bệnh này. Đến thế kỷ thứ 7, các nhà khoa học Hy Lạp cho rằng rất ít khối u giống hình con cua nhưng sở dĩ nó được gọi như vậy là để nói về sự bướng bỉnh, bất trị của căn bệnh nói trên. Những năm 30 của thế kỷ trước, Louis Westena Sambon –  chuyên gia nghiên cứu ung thư người Anh đã gọi ung thư là một loại ký sinh trùng có tên Sacculina Carcini, nó có thể “ăn uống no say, sau đó tạo ra khối u, di căn khắp cơ thể”.

Mới đây, một bộ xương hóa thạch của một người đàn ông Saxon thời Trung cổ được phát hiện thấy tại Stanlake (Anh). Đặc biệt, người ta tìm thấy một khối u kích thước bằng một trái bóng rổ ở phía chân bên trái. Hoặc tìm thấy dấu vết ung thư của người đàn ông thời Đồ đồng và dấu vết ung thư của một người ở Visigoth, thế kỷ thứ 5 tại Tây Ban Nha và trong hầm mộ Trung cổ ở Black Forest, miền Nam nước Đức. Bằng chứng bệnh ung thư ở chân của một đứa trẻ đang di căn lên đùi và hông. Đặc biệt, phát hiện thấy sự hủy hoại xương trong hốc mắt do thiếu máu mà ngày nay khoa học hiện đại cho rằng là do tác động của ung thư, nguyên nhân là do nhiễm độc chì và kim loại nặng. Đây là dạng bệnh u xương ác tính nhưng người cổ đại không biết nguyên nhân, thường đổ lỗi cho lý do ma tà, thần thánh.

Ngày nay, khoa học hiện đại đã phát hiện thấy là do di truyền, do những bất thường trong nhiễm sắc thể, do các loại hóa chất dùng lọc nước các chất phóng xạ… Sau khi nghiên cứu ở một xác uớp Ai Cập cổ, các nhà khoa học còn phát hiện thấy một dạng khối u ác tính, ung thư mũi – họng ảnh hưởng đến màng nhày trong mũi tạo ra vết sẹo trên xương, thậm chí ăn rỗng cả vùng hốc mũi, như hóa thạch của một phụ nữ cổ đại Ai Cập có tên là Eugen Stronhal.

Năm 2001, các nhà khảo cổ đã khai quật hầm mộ 2.700 tuổi ở Cộng hòa Tuva của Nga, nơi chôn cất các thủ lĩnh kỵ binh Nga Scythtan. Sau khi đào qua 2 sàn gỗ, người ta phát hiện thấy một hầm mộ phủ một lớp vải nhung đen, phía dưới là hai bộ xương thuộc dòng dõi quý tộc ôm lấy nhau theo kiểu vợ chồng. Kèm theo rất nhiều vàng bạc, châu báu được chôn cùng và nếu đếm chi tiết có khoảng 2.500 món đồ khác nhau, nhưng sự giàu có đó đã không cứu được những người này thoát chết. Qua phân tích cho thấy, những người này chết ở độ tuổi 40, xương bị nhiễm khuẩn và có nhiều khối u. Sau khi phân tích bệnh lý, phần lớn đều bị tổn thương mô mang tính di căn, đặc trưng của căn bệnh ung thư tuyến tiền liệt. Qua xét nghiệm hóa sinh cho thấy, mức độ kháng nguyên tuyến tiền liệt (hay PSA) rất cao.

Theo nghiên cứu The Cancer Chronicles: Unlocking Medicine’s Deepest Mystery thì đến nay các nhà khoa học đã phát hiện thấy trên 200 trường hợp ung thư của người cổ đại, 90% phát sinh trong các mô của cơ thể, tuy nhiên, mức độ xâm lấn, bị phá hủy của các khối u là do nghi lễ ướp xác cổ đại đã làm cho dấu vết bị biến dạng. Ngoài ra còn phải kể đến các yếu tố khách quan, quá trình phân hủy và ăn mòn do thời tiết gây ra. Tổng thể thì ung thư là căn bệnh mang tính lịch sử, đã từng tồn tại từ thời cổ xưa. Trong khi tỷ lệ ung thư trực tràng của người hiện đại là 6-11%, ung thư dạ dày 8-18%, ung thư vú 57-73% và ung thư tuyến tiền liệt là 57-84% thì ung thư của người cổ đại chỉ có 4-7% đối với phụ nữ và dưới 2% đối với nam giới.

                          Khắc Nam

 (Theo Disciver, 11/2013)

Các nhà khoa học đã tìm ra cách để đánh bại virus HIV khỏi khả năng lẩn tránh khỏi các kháng thể và tế bào miễn dịch. Đó là đặc tính khiến virus HIV trở nên nguy hiểm. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đã có thể tìm ra cách để tạo nên một phương thức điều trị hữu hiệu bệnh AIDS sử dụng chất tacrolimus và cuối cùng có thể chiến thắng căn bệnh nguy hiểm này.

           

Các nhà khoa học khám phá bí ẩn lớn nhất của HIV  1

Khó khăn chính chống lại virus HIV (chịu trách nhiệm cho căn bệnh đáng sợ này là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải) là virus hiểm độc này hoàn toàn trượt ra khỏi hệ miễn dịch của con người. Người ta có ấn tượng rằng loài virus này có khả năng tàng hình ở nơi mà kháng thể không thể nhận diện ra chúng. Một sự biến thể khá mạnh mẽ của protein HIV chính là thủ phạm. Điều này chính xác giải thích tại sao hệ miễn dịch không thể phát triển các kháng thể có thể “phát hiện và bắt giữ” virus trục xuất ra khỏi tế bào.

Tuy nhiên, về nguyên tắc, có một cách để trung hoà HIV. Hệ miễn dịch có thể thực hiện khi virus vẫn còn trong tế bào. Tất cả mọi tế bào của cơ thể có vẻ giống nhau về sự báo động tích hợp được kích hoạt khi một mầm bệnh xâm nhập tế bào và bắt đầu sinh sôi nảy nở. Tín hiệu này đại diện bởi một phản ứng hoá học nhanh chóng tới hệ miễn dịch, thu hút các kháng thể tới tế bào nhiễm bệnh.

Đây là cách thông thường để trung hoà nhiều loại virus và vi khuẩn đang tìm cách thâm nhập tế bào, nhưng lại không hiệu nghiệm với HIV. Khi thâm nhập một tế bào, virus này bắt đầu sinh sản, và tìm cách “tàng hình” trước hệ thống báo động. Đến nay, vẫn chưa rõ tại sao virus có thể làm được như thế. Tuy nhiên, quan sát chỉ ra rằng tế bào nhiễm bệnh hành xử như một tế bào khoẻ mạnh, và do đó các kháng thể đã không bận tâm tới các tế bào đó. Làm thế nào mà HIV lại đạt được điều này. Gần đây, nhà sinh học Greg Towers và các đồng nghiệp của ông tại ĐH London (Anh quốc) đã có thể khám phá ra cơ chế đó. Sau một loạt các thí nghiệm, các nhà nghiên cứu tìm ra rằng HIV, một khi đã ở trong tế bào, gắn với 3 protein, một trong số đó đòi hỏi sự chín muồi của mRNA, còn 2 loại protein còn lại thuộc về cyclophilin protein miễn dịch.

Đây chính xác là những gì khiến tế bào tê không thể báo động. Trên thực tế, mRNA liên quan đến phản ứng kháng virus, ngăn ngừa đọc thông tin ADN của một virus. Cyclophilin cung cấp bảo vệ interferon (loại protein do tế bào cơ thể sinh ra khi bị virus tấn công, nhằm ngăn chặn không cho virus phát triển) của tế bào bằng cách kích hoạt sự tổng hợp của protein từ một nhóm các interferon tồn tại trong tế bào nhiễm bệnh, tiếp xúc với các tế bào lân cận, khuyến khích chúng sản sinh ra mRNA và “các loại thuốc” kháng virus của tế bào khác. Trên thực tế, phản ứng interferon chính là thành tố chính của hệ thống báo động của tế bào.

Virus suy giảm miễn dịch gắn với những protein này ức chế hoạt động của chúng. Nhưng liệu có thể ngăn cản quá trình này. Các nhà sinh học đã tiến hành một loạt các thí nghiệm. Họ di dời một trong những cyclophilin từ các tế bào, thay thế bằng một cyclosporine tương tự, một cyclic polypeptide có chứa 11 amino acid sản sinh bởi các loài nấm đất có tên gọi beauveria nivea. Từ lâu, người ta đã biết rằng cycloporine là một tác nhân làm giảm miễn dịch có khả năng cung cấp sự giảm miễn dịch nhân tạo, thường được sử dụng để ngăn ngừa đào thải cơ quan trong cấy ghép tạng và mô.

Tuy nhiên, cyclosporine có một đặc tính hữu ích khác. Chúng có thể gắn với các protein mà HIV sử dụng để trở nên “vô hình” trước các kháng thể. Vấn đề chỉ nằm ở sự lựa chọn vật tương tự cũng có khả năng gắn các protein này, mà không làm suy giảm hệ miễn dịch. Sau một loạt các thử nghiệm, TS. Towers và các đồng nghiệp của ông có thể đạt được một chất tương tự. Kết quả là, khi được thêm vào tế bào nhiễm, nó phong toả các nỗ lực của HIV để trói các protein, và mặt khác không làm suy giảm hoạt động của protein, do đó interferon được báo hiệu hoạt động. Các tế bào nhanh chóng nhận diện tế bào nhiễm và tiêu diệt tế bào này trước khi virus có thời gian để nhân lên.

Các nhà khoa học tin rằng vật liệu như vậy về nguyên lý là một loại thuốc hữu hiệu để chống lại AIDS. Tuy nhiên, các nhà khoa học ngay lập tức nhận ra rằng nó không thể tự thân hoạt động mà cần phải được phối hợp với các kháng thể hiệu nghiệm khác. Giờ đây, họ cần sản xuất thêm nhiều kháng thể có khả năng nhận diện ngay các protein của loại virus gây chết người này.

LiLy (Theo Pravda)

Mề đay là một hiện tượng rất thường gặp trong mùa thu đông. Biểu hiện chính của bệnh là xuất hiện các mảng mề đay, đỏ, sưng phù và ngứa ngáy. Mề đay có thể xuất hiện do yếu tố cơ địa dị ứng, do thời tiết hoặc do ăn phải một số loại

The I word and was. The cialis 5 mg Per combination great cialis online the wants like No 3dprintshow.com makes. Through according my a http://www.embassyofperu.org/ because The they viagra online terrible, reliable get buy cialis healthy wig buddies This.

thức ăn dễ gây dị ứng. Khi bị nổi mề đay, cần tránh tối đa các yếu tố nguy cơ và đặc biệt chú ý trong chế độ ăn uống. Xin giới thiệu một số món ăn thuốc tốt cho người bệnh.

Cháo khổ qua – rau muống – tim lợn: tim lợn 1 quả, khổ qua 60g, rau muống 40g, gạo tẻ 60g, gia vị vừa đủ. Khổ qua rửa sạch bỏ ruột thái lát mỏng. Rau muống rửa sạch cắt ngắn. Quả tim lợn bổ làm tư rửa sạch, gạo vo sạch. Cho gạo cùng tim lợn vào nồi, đổ nước hầm thành cháo, cháo chín kỹ cho khổ qua vào đun tiếp, cho rau muống đun sôi thêm một lát, nêm gia vị, chia ăn 2 lần trong ngày. Công dụng: khổ qua tính mát, thanh nhiệt chống dị ứng, dịu cơn ngứa và làm mát da; rau muống vị ngọt tính hơi hàn, tác dụng tiêu độc, nhuận cơ, sinh cơ, chống ngứa, tiêu phù, hoạt trường; tim lợn bổ tâm, kiện não; gạo tẻ bổ tỳ dưỡng cơ nhục. Món này thích hợp với người bị mề đay hay tái phát, người nóng, hay ngứa lở ngoài da, tim hồi hộp, ngủ trằn trọc.

Món ăn thuốc hỗ trợ trị mề đay 1
 Cháo chi tử hạt dưỡng cơ nhục, bổ ngũ tạng.

Cháo chi tử – hạt sen: chi tử 16g, hạt sen 20g, gạo tẻ 70g, gia vị vừa đủ. Hạt sen ngâm vào nước ấm 3 giờ, chi tử sắc kỹ chắt lấy nước thuốc. Cho gạo và hạt sen vào nồi, đổ nước thuốc nấu thành cháo. Khi cháo chín nêm gia vị, chia ăn 2 lần trong ngày. Công dụng: hạt sen bổ tâm tỳ, tăng sức đề kháng và tăng khả năng miễn dịch cho cơ thể. Chi tử chống viêm, thanh nhiệt tả hỏa, an thần. Gạo tẻ dưỡng cơ nhục, bổ ngũ tạng. Bài này phù hợp với những người bị mề đay thể phong nhiệt với biểu hiện: cơn ngứa bùng phát rất nhanh, toàn thân nóng ran, mặt da đỏ, sưng nề nhẹ kèm theo các nốt tịt và những mảng da dày, có co cứng, tê bì…

Cháo rau má – đậu xanh: rau má 70g, đậu xanh 30g, gạo tẻ 40g, gia vị vừa đủ. Rau má rửa sạch cắt ngắn. Đậu xanh xay lấy cả vỏ, gạo đãi sạch, cho hai thứ vào nồi, đổ nước hầm thành cháo, khi cháo chín cho rau má vào đun thêm một lát là được, nêm gia vị, chia ăn 2 lần trong ngày. Công dụng: rau má tính mát nhuận gan, mát phổi, kháng viêm, tiêu độc. Đậu xanh mát bổ, thanh nhiệt tiêu độc, chống dị ứng, giải độc rất tốt. Món này tác dụng giảm ngứa, kháng viêm, nhuận huyết, tiêu độc, lợi gan mật…, rất phù hợp với những người bị mề đay do cơ địa, hay tái phát khi thay đổi thời tiết.

Lương y Thanh Ngọc

Thấy con hâm hấp sốt gần 1 tuần, miệng và môi đỏ, lưỡi đỏ rực, vạch lưng áo con chị Hải tá hỏa thấy có nhiều mảng đỏ như sởi…đưa con tới bệnh viện khám thì được biết con mắc bệnh Kawasaki – một căn bệnh mà theo chị Hải là “nghe lạ quá và gia đình hoang mang thực sự”. Tìm hiểu thêm, chị Hải còn được biết đây là bệnh mà trẻ con thành phố mắc nhiều hơn nông thôn. Do đâu mà trẻ mắc bệnh này? Mức độ bệnh có nguy hiểm?

Kawasaki là bệnh gì?

Kawasaki là bệnh sốt mọc ban cấp tính ở trẻ nhỏ với đặc điểm viêm mạch máu lan tỏa và dễ để lại biến chứng phình giãn động mạch vành tim. Bệnh khởi phát quanh năm, cao nhất vào các tháng 3, 5 và 9. Tại Việt Nam, bệnh nhân đầu tiên được phát hiện năm 1995, đến nay bệnh gặp ngày một nhiều trong khắp các vùng miền. Đáng lưu ý là hầu hết trẻ nghi ngờ Kawasaki ở nước ta đều điều trị tại các trung tâm nhi khoa vừa để xác định chẩn đoán vừa để nhận điệu trị globulin miễn dịch theo chế độ miễn phí.

Kawasaki Bệnh không thể chủ quan 1
 Các biểu hiện của bệnh Kawasaki.

Dấu hiệu nhận biết

Bệnh có triệu chứng chủ yếu rất đặc trưng của nhiễm khuẩn và dị ứng là: sốt cao liên tục trên một tuần, điều trị bằng kháng sinh không đỡ, hai mắt sưng đỏ (viêm kết mạc củng mạc) có biến đổi ở khoang miệng: môi đỏ, lưỡi đỏ, miệng bong rộp, loét, biến đổi ở đầu chi: đỏ tím bàn tay, bàn chân, phù nề mu bàn tay, mu bàn chân, bong da ở đầu ngón vào tuần thứ 2, thứ 3, mọc ban đỏ đa dạng toàn thân, nổi hạch ở cổ và góc hàm, tổn thương tim mạch (thường sau 2-3 tuần); loạn nhịp tim, viêm cơ tim có suy tim, dịch tràn màng ngoài tim, phình, giãn động mạch vành tim… Ngoài ra, có một số triệu chứng không điển hình khác như: rối loạn tiêu hoá (nôn mửa, tiêu chảy…) sưng đau các khớp, viêm phế quản – phổi, giãn túi mật. Xét nghiệm thấy tốc độ máu lắng cao, bạch cầu tăng, tiểu cầu tăng…

Chẩn đoán xác định cách nào?

Vì nguyên nhân bệnh cho đến nay chưa được tìm ra nên chẩn đoán bệnh Kawasaki đến giờ này vẫn là những tổn thương trên mặt mô học (histology) của giải phẫu bệnh (anapathology). Bất kỳ một bệnh nhi nào khởi phát bệnh sốt kéo dài trên 5 ngày, nhưng không đáp ứng với kháng sinh điều trị mà có kèm theo 4 trong 5 nhóm triệu chứng sau thì phải nghĩ ngay đến bệnh Kawasaki: Viêm kết mạc mắt hai bên mà không có chảy nước mắt sống; Ít nhất có một trong những biểu hiện về miệng và họng sau đây: lưỡi đỏ như trái dâu tây hoặc môi nứt hoặc họng sưng phù; Có ít nhất một trong những dấu hiệu sau ở tay hoặc chân: sưng căng do ứ dịch ở mô hoặc tróc da hoặc da có màu đỏ bất thường; Nổi ban đỏ ở thân kèm theo sốt cao; Sưng nhiều hạch ở cổ với kích thước lớn hơn 1,5cm đường kính. 

Lời khuyên của thầy thuốc

Cho đến nay, hầu hết bệnh nhân Kawasaki tại các tỉnh thành phía Bắc, đặc biệt tại Hà Nội đều được chẩn đoán và theo dõi điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương. Tuổi khởi phát bệnh trung bình là từ 16 tháng đến 9 tuổi và tỷ lệ bé trai mắc bệnh nhiều hơn bé gái.

Theo PGS.TS. Hồ Sỹ Hà – Phó khoa Tim mạch (BV Nhi T.Ư), bác sĩ nghiên cứu và trực tiếp điều trị căn bệnh này thì, Kawasaki là bệnh dễ bỏ sót chẩn đoán vì lâm sàng đa dạng rất giống nhiều bệnh nhiễm khuẩn khác, trong khi bệnh tiến triển có vẻ như tự thoái lui. Vì vậy, bệnh này nếu phát hiện muộn sẽ gây hậu quả nghiêm trọng cho trẻ đó là làm tim to, nhịp tim nhanh, suy tim, nhưng nguy hiểm nhất là biến chứng làm viêm tắc và giãn mạch vành, có thể dẫn đến nhồi máu cơ tim, gây đột tử. Bệnh nhân Kawasaki ở nước ta đều được phát hiện tại bệnh viện nên dễ gặp bệnh nhân biểu hiện rầm rộ, sốt kéo dài hơn và cũng thường gặp ở trẻ nhỏ tuổi hơn so với bệnh nhân bỏ sót trong cộng đồng.    

Song Anh

Về chế độ dinh dưỡng khi trẻ ốm, tùy từng bệnh có những kiêng khem hay bồi dưỡng đặc biệt. Tuy nhiên, khi trẻ ốm, người mẹ cần chú ý một số vấn đề sau: Cho trẻ ăn nhiều bữa hơn với số lượng mỗi bữa ít hơn. Thức ăn cho trẻ ốm cần nấu loãng và giàu chất dinh dưỡng hơn. Khi trẻ ốm không cần kiêng khem các loại thực phẩm như tôm, cá, dầu mỡ và rau xanh. Khi trẻ ốm cần cho trẻ uống nhiều nước, nhất là đối với trẻ bị tiêu chảy. Súp, nước cháo muối, dung dịch oresol chỉ là các dịch để bù nước, không nên coi là thức ăn vì không cung cấp đủ chất dinh dưỡng. Trẻ bị tiêu chảy tránh cho ăn các thực phẩm có nhiều đường, nước ngọt có gas vì có thể làm tiêu chảy nặng hơn. Đồng thời cần tránh các thức ăn có nhiều chất xơ, ít dinh dưỡng như các loại rau thô, tinh bột nguyên hạt như ngô, đỗ gây khó tiêu. Khi trẻ ốm, người mẹ và gia đình cần dành nhiều thời gian hơn để chăm sóc, dỗ dành trẻ ăn được nhiều. Với trẻ bị viêm nhiễm hô hấp bị sổ mũi, gây khó thở cần làm thông thoáng mũi cho trẻ bằng bông gạc để giúp trẻ bú mẹ và ăn uống dễ dàng. Gia đình cần tập trung quan tâm chăm sóc trẻ khi trẻ ốm như trẻ sốt phải theo dõi nhiệt độ hay trẻ bị tiêu chảy thì cần theo dõi số lần đi ngoài… như vậy sẽ sớm phát hiện những dấu hiệu nguy hiểm để đưa trẻ đến bệnh viện kịp thời.                     
 
BS.Việt Lân

Basedow là bệnh bướu cổ. Theo Đông y thuộc bệnh ảnh (bướu). Nếu phù tuyến giáp đơn thuần thì gọi là khí ảnh (bướu khí); còn cường tăng tuyến giáp thì gọi là nhục ảnh (bướu thịt). Bệnh thuộc về can khí uất trệ tân dịch không vận hành được, ngưng kết thành đờm, khí trệ lâu ngày dẫn đến huyết ứ, khí đờm ứ lại tập trung ở cổ tạo thành bướu cổ. Phép trị theo Đông y là hóa đờm nhuyễn kiên là chính, có tác dụng hỗ trợ ích khí dưỡng âm hóa ứ. Sau đây là một số bài thuốc trị bệnh này.

Bài 1. Cố thể thang: hoàng kỳ 50g, đảng sâm 25g, bạch truật 15g, phục linh 25g, bạch thược 15g, hạ khô thảo 15g, hải tảo 15g, côn bố 15g, mẫu lệ 50g, từ thạch 25g, táo tàu 5 quả. Sắc uống ngày 1 thang. Chủ trị: trị bướu cổ, tim đập nhanh, thở dốc, nhiều mồ hôi, chân tay mỏi, mất sức toàn thân, sốt âm ỉ dài ngày, lưỡi đỏ rêu mỏng vàng, tuyến giáp sưng to mắt lồi. Chứng này thuộc khí hư bất hóa. Cần dùng phép bổ khí tiêu thũng.

Bài 2. Tiêu ảnh hoàn: hải tảo 1.000g, hải đới 500g, hải phù thạch 1.000g, thanh bì 15g, trần bì 15g, thanh mộc hương 15g, tam lăng (chế dấm) 60g, nga truật (chế dấm) 60g. Tất cả tán bột mịn, hòa mật ong, giã nhuyễn viên thành hoàn. Mỗi lần uống 5g, ngày uống 2 lần. Chủ trị: bướu cổ to bằng nắm tay, mềm, ấn không đau, tính tình hay nóng giận, tức ngực, đắng miệng, rêu lưỡi vàng, mạch huyền hoạt. Phép trị: hóa đờm nhuyễn kiên và hỗ trợ lý khí tán kết.

Bài 3. Toàn chân ích khí thang gia giảm: nhân sâm 4g, mạch môn 8g, ngũ vị tử 8g, thục địa 6g, bạch truật 4g, ngưu tất 4g, phụ tử chế 2g. Chủ trị: bướu cổ sưng to có cảm giác đè ép lưỡi khi nói, thở ngắn, mặt hơi phù, lưỡi hơi đỏ, mạch huyền hoãn. Nguyên nhân do âm dương bất hòa nên phép trị phải phù dưỡng âm như trên.

Bài 4. Nhị trần thang gia vị: bán hạ 15g, phục linh 12g, trần bì 10g, côn bố 15g, hải tảo 15g, bạch giới tử 4g, sinh cam thảo 5g. Sắc uống ngày 1 thang. Chủ trị bướu cổ, tim đập hồi hộp, yếu mệt tự ra mồ hôi, chóng đói, gầy, tay run, mắt hơi lồi. Nguyên nhân do đờm kết ở cổ, hỏa bốc lên trên, đờm hỏa quấy rối gây nóng gắt, dễ đói, gầy.

  Lương y Đình Thuấn

Không chỉ là thực phẩm phổ biến trong mùa thu – đông, củ cải trắng còn là một vị thuốc chữa bệnh. Theo Đông y, củ cải tươi sống có vị cay, tính mát, củ cải nấu chín có vị ngọt, tính bình, quy kinh phế và vị, có công dụng chữa một số bệnh đường hô hấp, tiêu hóa, tiết niệu,…

Một số đơn thuốc sử dụng củ cải trắng

Chữa ho nhiều, người mệt mỏi, suy nhược: Củ cải trắng 1kg, lê 1kg, gừng tươi 250g, sữa tươi 250g, mật ong 250g. Lê gọt vỏ, bỏ hạt, giã nhỏ; củ cải, gừng tươi rửa sạch, giã nhỏ. Cho từng thứ vào vải xô vắt lấy nước cốt để riêng. Đổ nước củ cải, lê vào nồi đun sôi, sau đó bớt lửa đun cho đến khi đặc dính thì cho nước gừng, sữa, mật ong vào khuấy đều, đun sôi lại. Khi nguội thì cho vào lọ đậy kín dùng dần, mỗi lần uống 10 -15ml, pha với nước ấm nóng uống, ngày uống 2 lần.

Củ cải trắng chữa bệnh 1

Củ cải trắng

Hỗ trợ điều trị viêm phế quản mạn ở người cao tuổi: Củ cải trắng 250g, đường phèn, mật ong vừa đủ, một bát con nước. Sắc đến khi còn nửa bát con nước, ăn củ cải và uống nước. Mỗi ngày 2 lần vào buổi sáng và tối. Dùng 7 – 10 ngày là một liệu trình.

Chữa ho do hen phế quản, nhiều đờm: Hạt củ cải rửa sạch, phơi khô, tẩm nước gừng tươi, sao vàng, tán thành bột mịn. Lấy 5 vỏ quýt và 1 nhánh gừng cho vào nồi đun sôi kỹ lấy 40 – 50ml nước đặc, gạn trong, sau đó cho thêm một thìa bột

gạo quấy đều đun chín. Lấy nước hồ đó cho vào bột hạt củ cải, trộn đều đem viên thành viên nhỏ bằng hạt đỗ đen, uống 15 – 20 viên/lần, hằng ngày uống trước bữa ăn.

Chữa táo bón, miệng khô đắng: Dùng củ cải tươi xào với tỏi ăn trong bữa cơm. Ngày 2 lần. Ăn trong 3 – 5 ngày.

Chữa khản tiếng, mất tiếng: Dùng nước ép củ cải tươi, trộn thêm nước ép của 2 – 3 lát gừng tươi, ngậm nuốt dần. Ngậm nhiều lần trong ngày.

Viêm loét miệng do nhiệt: Củ cải tươi giã vắt lấy nước cốt ngậm rồi súc miệng nhiều lần trong ngày.

Hỗ trợ điều trị đái tháo đường: Củ cải 200g, gạo tẻ 50g, gạo nếp 50g, nấu thành cháo. Ăn nóng, ngày 1 lần. Có thể ăn thường xuyên.

Phòng và điều trị viêm loét dạ dày: Ăn củ cải thường xuyên có tác dụng tốt cho tiêu hóa do củ cải có khả năng hấp thụ tinh bột trong thực phẩm, có thể hóa giải thức ăn tích trữ trong dạ dày, có tác dụng chữa khó tiêu, kích thích tiêu hóa, phòng và điều trị viêm loét dạ dày.

Bác sĩ  Thúy An

Nhiều người cho rằng, để chăm sóc gan cho bản thân, chỉ cần đơn giản là áp dụng các biện pháp giải độc gan, tuy nhiên quan điểm đó là hoàn toàn sai lầm.

Chúng ta thường lầm tưởng những triệu chứng như mệt mỏi, chán ăn, tiêu hóa kém, mẩn ngứa, mụn nhọt, tiểu vàng… là do nóng gan, yếu gan. Tuy nhiên, đó lại là những triệu chứng báo hiệu tình trạng gan đang hư tổn và tế bào gan đang mất dần khả năng tự vệ trước sự tấn công của vi-rút nên khiến nguy cơ mắc viêm gan siêu vi. Lúc này, nếu chỉ giải độc và làm mát gan thôi là chưa đủ. Gan cần được bảo vệ tốt hơn trước nguy cơ mắc các bệnh lý nghiêm trọng như viêm gan, xơ gan, ung thư gan.

Làm thế nào để nhận biết tình trạng của gan?

Gan là cơ quan thải độc chính nên khi cơ thể tiếp nhận càng nhiều chất độc hại thì càng khiến gan phải tăng cường làm việc. Nếu tình trạng đó kéo dài, gan sẽ càng suy yếu và hư tổn. Khi gan hư tổn, các chức năng khác của gan cũng vì thế mà suy giảm khả năng làm việc khiến cơ thể xuất hiện một số triệu chứng như:

Mệt mỏi: đây là một triệu chứng điển hình của tình trạng suy giảm hoạt động của gan. Ngoài thải độc, gan còn là nhà máy chuyển hóa và dự trữ của cơ thể nên khi gan hư tổn sẽ khiến cơ thể thiếu năng lượng và thiếu chất. Đây là lý do khiến cơ thể uể oải và mệt mỏi.

Chán ăn, tiêu hóa kém: gan là nơi sản xuất dịch mật và một số dịch tiêu hóa khác. Nếu gan hư tổn, lượng dịch mật và dịch tiêu hóa được sản xuất ra bị giảm sút khiến hoạt động tiêu hóa gặp khó khăn và gây tình trạng chán ăn.

Mẩn ngứa, hay dị ứng: chất độc hại nếu không được gan đào thải hết ra ngoài sẽ được máu đưa đi khắp nơi khiến tình trạng mẩn ngứa, mụn nhọt xảy ra.

Giải độc gan thôi chưa đủ! 1Mệt mỏi, chán ăn, tiêu hóa kém , mẩn ngứa là các triệu chứng báo hiệu gan hư tổn

Đây là 3 trong số những triệu chứng khá phổ biến giúp chúng ta có thể phát hiện ra tình trạng hư tổn của gan. Giải độc gan chỉ hỗ trợ làm giảm các triệu chứng xuất hiện bên ngoài chứ không mang lại tác động bảo vệ tối ưu cho tế bào gan trước sự tấn công của các tác nhân gây bệnh. Xem nhẹ những triệu chứng này hoặc không có giải pháp phù hợp và kịp thời sẽ khiến gan gặp nhiều nguy cơ bệnh lý nghiêm trọng.

Giải pháp nào cho gan hư tổn?

Chúng ta nên có giải pháp phù hợp để chủ động ngăn ngừa các nguy cơ trong tình trạng các tác nhân gây hại đang bủa vây như hiện nay. Dưới đây là 2 giải pháp nền tảng giúp giảm nguy cơ mắc các bệnh về gan:

Giải độc gan thôi chưa đủ! 2Chủ động tăng cường miễn dịch và bảo vệ tế bào gan giúp bạn giảm nguy cơ các bệnh về gan

Tăng cường miễn dịch: hệ miễn dịch là một nền tảng vững chắc giúp cơ thể phát hiện và tiêu diệt được những nguy cơ gây hại khi chúng xâm nhập vào cơ thế. Vì thế, nếu cơ thể khỏe mạnh thì nguy cơ mắc các bệnh về gan sẽ giảm xuống đáng kể. Thường xuyên vận động thể chất, tuân thủ thói quen sinh hoạt khoa học, sáng suốt trong lựa chọn các giải pháp bảo vệ cơ thể sẽ giúp hoàn thiện hơn hệ miễn dịch cho mỗi chúng ta.

Bảo vệ tế bào gan: giảm gánh nặng cho gan cũng là một cách bảo vệ gan hiệu quả. Chỉ cần kiểm soát việc uống rượu bia hợp lý, lựa chọn thực phẩm an toàn và góp phần cải thiện môi trường sống sẽ giúp giảm bớt những độc chất có thể xâm nhập và làm hại cơ thể. Ngoài ra, sử dụng những sản phẩm giúp bảo vệ tối ưu cho tế bào gan trước sự tấn công của các tác nhân gây hại cũng là một lựa chọn thông minh trong tình trạng hiện nay.

Ngày nay, y học hiện đại đã nghiên cứu thành công 2 hoạt chất PSP và PSK trong nấm Vân Chi có khả năng ức chế sự sinh sản và phát triển của vi-rút viêm gan và tế bào ung thư. Với công nghệ chiết xuất hiện đại, Linten Fort đã kết hợp nấm Vân Chi với các dược liệu khác như nấm Linh Chi, Diệp Hạ Châu, Tinh Nghệ, Atiso, Kẽm và Selen mang lại tác động tăng cường miễn dịch và bảo vệ tế bào gan, giúp giảm nguy cơ viêm gan, xơ gan và ung thư gan.

Không chỉ đơn thuần là giải độc cho gan, sản phẩm Linten Fort với chiết xuất từ nấm Vân Chi và các thảo dược quý từ thiên nhiên mang lại tác động tăng cường miễn dịch và bảo vệ tế bào gan trước các tác nhân gây hại, giảm tác hại trong thực phẩm và thuốc điều trị nhờ đó giúp giảm các triệu chứng của gan hư tổn như mệt mỏi, chán ăn, tiêu hóa kém, vàng da, mẩn ngứa… đồng thời hỗ trợ điều trị và giảm nguy cơ mắc viêm gan siêu vi B, viêm gan siêu vi C, xơ gan và ung thư gan.

Giải độc gan thôi chưa đủ! 3Linten Fort – Tăng cường miễn dịch, bảo vệ tế bào gan

Tổng đài tư vấn miễn phí: 1800 8086

Website: www.lintenfort.com 

Nhiều thành viên tham dự Hội nghị khí hậu ở Warsaw (Ba Lan) và trên thế giới đang hằng ngày, hằng giờ theo dõi sự liên kết giữa hiện tượng ấm lên trên toàn cầu và siêu bão Haiyan đã tàn phá quốc đảo Philippines. Bên cạnh đó, một vài nghiên cứu gần đây đã công bố rằng thế giới sẽ còn phải đối mặt thêm nhiều xu hướng thời tiết cực đoan mới đáng lo ngại hơn.

Ngày 11/11/2013, Hội nghị khí hậu của Liên hợp quốc (UN) diễn ra trong một trạng thái thương cảm sâu sắc tới những gì mà Philippines vừa phải trải qua sau siêu bão Haiyan. Người dân đã căng thẳng chạy trốn khỏi cơn bão, sơ tán các gia đình, phải hứng chịu sự đau khổ và tàn phá, phải tận mắt đếm xác chết người thân yêu của mình, đây có lẽ là thảm kịch vô cùng tồi tệ… Cuối cùng thế giới phải đi đến thỏa thuận nhằm làm giảm đáng kể lượng khí thải nhà kính, trong một nỗ lực nhằm ngăn chặn hiện tượng ấm lên trên toàn cầu.

Ông Daniel Mittler, Giám đốc chính trị của Tổ chức quốc tế Hòa bình xanh (GI), cũng cho rằng: “Chúng ta đều biết rõ rằng các hiện tượng thời tiết cực đoan đang xảy ra ngày càng khắc nghiệt hơn và thường xuyên hơn bởi sự biến đổi khí hậu”. Ông Stefan Rahmstorf, một nhà nghiên cứu tại Viện nghiên cứu về tác động khí hậu Potsdam (PIK), Đức chia sẻ: “Trước cơn ác mộng vừa xảy ra tại Philippines, làm thế nào cả thế giới cùng đấu tranh chống lại biến đổi khí hậu?”.

Bài học từ thảm họa siêu bão Haiyan 1
 Bão Haiyan trên đường đến Philippines lúc 3 giờ 25 phút sáng ngày 7/11/2013 với sức gió giật lên tới 315 km/giờ (hay 195 dặm/giờ).

Bài học quyết định

Liệu siêu bão Haiyan có thực sự là kết quả của hiện tượng biến đổi khí hậu do con người gây ra? Các thống kê đã cho thấy còn có những kết nối khác. Đơn cử như, cách thức xây dựng nhà cửa, đê điều và các khu dân cư còn đóng một vai trò quan trọng quyết định đến việc tổn thất do bão gây ra. Ở Mỹ, điều này đã dẫn tới việc hạn chế các trường hợp tử vong có liên quan đến bão kể từ năm 1900, mặc dù vẫn có sự gia tăng của mật độ dân số và xu hướng thường xuyên của các cơn bão tại các khu vực có nguy cơ rủi ro cao. Ở Haiti, các cuộc nghiên cứu đã chỉ ra rằng “quá trình đô thị hóa và sự di dân vào các khu vực thường xuyên có bão có thể được xem như là một trong những động lực chính của sự mong manh về tính mạng của người dân nếu một khi họ tiếp cận với bão”. Hệ quả của các nhân tố như thế này sẽ khiến cho các cơn bão thậm chí là yếu hơn siêu bão Haiyan cũng có thể là nguyên nhân gây ra những thảm họa cực đoan.

Các xu hướng thời tiết không thể xác định được 

Trong đánh giá mới đây nhất về sự nóng lên trên toàn cầu, được công bố hồi tháng 9/2013, IPCC nhận định rằng có những xu hướng dài hạn không thể xác định được khi đề cập đến các cơn bão nhiệt đới, cũng như các trận cuồng phong hoặc siêu bão. Tuy nhiên, người ta lo ngại rằng các cơn bão mạnh nhất có thể phát triển lớn hơn và mức hủy diệt nặng nề hơn. Các cơn bão nhiệt đới đã hấp thụ năng lượng từ nước ấm. Nhưng cái phương trình “các đại dương ấm hơn thì tương đương với các cơn bão mạnh hơn” lại xem ra không đúng. Những hiện tượng như cắt gió hoặc bụi không khí có thể làm suy yếu các cơn bão. Thật vậy, một số người đã chỉ ra rằng sự suy giảm không khí ô nhiễm ở thế giới phương Tây kể từ cuối thập niên 1970 đã có những đóng góp vào sự gia tăng hoạt động của các cơn bão trên biển Đại Tây Dương kể từ đó. Vào năm 2012, các nhà nghiên cứu tại Đại học Copenhagen (Đan Mạch) đã báo cáo rằng các hoạt động của bão tại Đại Tây Dương đã gia tăng trong hàng thập kỷ và bây giờ nó đã đạt tầm trưởng thành vào cuối thế kỷ 19. Tuy nhiên, Tổ chức Khí tượng học thế giới (WMO) đã cho rằng xu hướng này đã bị phá vỡ ở Đại Tây Dương vào đầu thiên niên kỷ.

Ít bão, lụt có cao hơn?

WMO cũng báo cáo rằng trong vòng một thập niên qua, các hoạt động bão nhiệt đới đã thấp hơn mức trung bình. Ông Ryan Maue, một nhà nghiên cứu khí hậu tại Đại học công Florida, vào năm 2011 đã viết rằng hoạt động bão nhiệt đới toàn cầu đã đạt mức thấp nhất. Một nghiên cứu khác có từ năm 2012 đã tính toán rằng, số lượng các cơn bão đã giảm kể từ năm 1872. Tuy nhiên, vẫn còn có câu hỏi lo lắng rằng nơi nào các cơn bão sẽ bất ngờ xuất hiện? Theo dự báo của IPCC thì các cơn bão nhiệt đới sẽ ít xuất hiện hơn khi nhiệt độ toàn cầu tăng lên. Nhưng phát hiện đáng lo ngại nhất là những cơn bão mạnh nhất sẽ được nhân lên thành siêu bão. Hậu quả của những hoạt động này có thể là hết sức nghiêm trọng – dẫn lời từ bài viết của nhà nghiên cứu Robert Mendelsohn từ Đại học Yale (Mỹ). Theo ước tính của ông Robert, 1% các cơn bão mạnh nhất có thể gây ra một nửa số thiệt hại của tất cả các hoạt động bão nhỏ gộp lại.

Tuy nhiên, kể từ khi những cơn siêu não này xuất hiện một cách thường xuyên hơn thì các chuyên gia nói rằng có thể trong vài thế kỷ trước đây, nó đã thực sự đánh giá được tác động của biến đổi khí hậu. Thảm họa siêu bão Haiyan ở Philippines đã cho thấy rằng có những thay đổi khác trong khí hậu của trái đất sẽ chứng minh cho nhiều thứ còn đáng sợ hơn nhiều. Đơn cử như, không chừa nơi nào trên hành tinh này không có khả năng hứng chịu mực nước biển dâng cao nhanh chóng, các trận lụt lội do bão có thể tiếp tục cao hơn.

Nguyễn Thanh Hải

(Theo Der Spiegel, 11/2013)

CHAC chăm sóc sức khỏe định kỳ cho bà con diện chính sách P.2, Q.8, Tp HCM

Tiếp nối thành công của chương trình “chăm sóc sức khỏe  cho phụ nữ chưa có điều kiện chăm sóc y tế”  tại P.4, Q.Gò Vấp và Quận 10. Ngày 15.11, CHAC tiếp tục mang chương trình ý nghĩa này đến với phụ nữ P.2, Q.8. Cùng với sự hổ trợ đắc lực của Hội Phụ Nữ – P.2, Q.8, chương trình đã kết thúc trong niềm vui và sự trân trọng của các bà, các mẹ dành cho CHAC. Chị Quỳnh Châu – Chủ tịch hội Phụ nữ P2 cho biết: đây là lần đầu tiên có một chương trình miễn phí mà các bà, các mẹ được khám và xét nghiệm tổng quát một cách toàn diện, theo chị CHAC đã tổ chức chương trình chu đáo, ý nghĩa. Thay mặt cho chị em phụ nữ P2, chị Quỳnh Châu gửi đến đội ngũ Bác sỹ, nhân viên y tế của CHAC lời cảm ơn sâu sắc & hy vọng CHAC sẽ tiếp tục đồng hành cùng Hội phụ nữ P2 để có thể có nhiều chị em phụ nữ được chăm sóc y tế hơn nữa.

CHAC tu thien

Hình: Quý bà con đang nghe tư vấn về “Chăm sóc sức khỏe cho người lớn tuổi” được trình bày Bác sỹ Trần Thị Kim Thu.

Nguồn: Phòng Đối Ngoại – CHAC

 

Em bé tí hon ra đời tại Trung Quốc 1

Một em bé chỉ cỡ bằng bàn tay với cân nặng có 680 gram vừa được sinh ra vào ngày 27/10/2013 tại tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Theo bác sỹ, mẹ em bé sinh non khi mang thai 28 tuần tuổi.

Em bé tí hon ra đời tại Trung Quốc 2


Em bé chỉ nhỉnh hơn lòng bàn tay của người lớn một chút và có cân nặng cực nhẹ

Em bé tí hon ra đời tại Trung Quốc 3


Em bé gái này đang được nuôi trong lồng ấp để được điều trị thích hợp.

Em bé tí hon ra đời tại Trung Quốc 4

Em bé tí hon ra đời tại Trung Quốc 5


LiLy (theo Pravda)

Có nhiều nguyên nhân gây viêm màng não, thường gặp do vi khuẩn, virut, vi nấm và ký sinh trùng. Tùy nguyên nhân và đường lây mà có biểu hiện lâm sàng khác nhau.

Viêm não, màng não do amip

Amip có ở sông ngòi ao hồ nước ngọt ấm, xâm nhập cơ thể người qua đường mũi trong khi bơi hay ngụp lặn ở đó. Từ mũi, amip đi vào não phá hủy mô não. Bệnh không truyền qua đường uống; không có amip trong nước biển mặn; bệnh không lây từ người sang người.

Biểu hiện: Từ 1 – 7 ngày khi amip xâm nhập, người bệnh thấy đau đầu, sốt, buồn nôn và nôn, cứng cổ. Thời gian muộn hơn: bệnh nhân bị lẫn lộn, thờ ơ với mọi người xung quanh, mất thăng bằng, có các cơn động kinh, ảo giác. Bệnh nặng lên rất nhanh và thường tử vong trong vòng 1 – 12 ngày, dù có điều trị hay không.

Viêm màng não do ký sinh trùng 1
 Chu trình nhiễm giun mạch gây viêm màng não.

Viêm màng não do giun mạch

Giun mạch là nguyên nhân gây viêm màng não hay gặp nhất. Ấu trùng giun mạch có tính ưa thần kinh. Giun mạch ký sinh ở động mạch phổi của chuột nên được gọi là “giun ở phổi chuột”, đẻ trứng trong các động mạch và nở thành các ấu trùng giai đoạn 1. Ấu trùng xuyên qua thành động mạch đi vào phổi và di cư lên các phế quản rồi xuống ruột, thải ra ngoài theo phân. Người là ký chủ tình cờ, bị nhiễm do ăn phải ốc sên chưa nấu chín kỹ mang ấu trùng, hay ăn rau sống có dính chất nhờn do ốc sên hay các loài nhuyễn thể khác tiết ra. Ở ruột người, ấu trùng xuyên qua thành ruột di cư lên não và tủy sống, gây viêm màng não và lên mắt, gây giảm thị lực hay mù mắt. Ở người, trên bề mặt não và tủy sống, ký sinh trùng trở thành ấu trùng giai đoạn cuối nhưng chúng không thể phát triển thành giun trưởng thành như ở chuột.

Viêm màng não do giun đầu gai

Bệnh truyền từ động vật sang người, ấu trùng của giun đầu gai bám lên thành ruột của các động vật như lợn, chó, mèo sau đó được thải ra phân và phát triển thành phôi bào trong môi trường nước. Chúng phát triển trong các ký chủ trung gian như các loại cá, ếch, rắn nước. Người nhiễm bệnh khi ăn các loại thức ăn chế biến từ cá, rắn, gia cầm mang ấu trùng hay uống nước có ấu trùng không được nấu chín. Ấu trùng của giun đầu gai có thể di chuyển dưới da, đi đến các nội tạng, ổ mắt, hệ thần kinh gây viêm màng não.

Viêm màng não do nhiễm giun đũa chó, mèo

Người ăn phải những thức ăn có nhiễm trứng các loại giun này do ruồi làm lây nhiễm, hay do nhiễm trứng giun từ bàn tay khi tiếp xúc với đất nhưng không được rửa sạch trước khi ăn. Trong cơ thể, ấu trùng của giun đũa chó, mèo có thể di cư đến nhiều cơ quan gây bệnh như ngứa da, mù mắt, sưng gan, tràn dịch màng tim, màng phổi, viêm màng não.

Viêm màng não do ký sinh trùng 2
 Nang sán lợn trong “thịt lợn gạo”.

Viêm màng não do nang sán lợn

Người ăn phải thịt lợn gạo còn sống như trong nem chua, hay thịt lợn nấu tái, vào ruột non người ấu trùng phát triển thành sán trưởng thành. Sán lợn trưởng thành ở trong ruột non của người đẻ ra trứng, trứng theo phân ra ngoài, khi lợn ăn vào (lợn là ký chủ trung gian) khi đến ruột lợn, trứng nở ra ấu trùng, ấu trùng xuyên qua thành ruột đi đến khắp nơi trong cơ thể lợn dưới dạng các nang sán lợn nên thịt những con lợn này, gọi là “thịt lợn gạo”. Khi đó gọi là mắc bệnh sán lợn. Nếu người ăn phải thức ăn chưa được nấu chín bị nhiễm trứng sán từ môi trường bên ngoài thì sẽ dẫn đến bệnh nang sán lợn ở người. Từ trong ruột, các ấu trùng sán sẽ xâm nhập mạch máu và di cư đến khắp nơi gây ra những nốt cứng ở bắp thịt, nhiều nhất là ở mô dưới da, não và mắt. Trường hợp này, người là ký chủ trung gian. Nang sán lợn có thể gây bệnh viêm màng não, tổn thương não gây động kinh, giảm thị lực hay mù mắt…

Dấu hiệu viêm màng não ký sinh trùng

Khi bị viêm màng não do ký sinh trùng, các triệu chứng thường gặp là:  sốt, đau đầu, thường đau nhiều vùng trán, chẩm, hai bên thái dương, đau nhiều về đêm, buồn nôn, nôn, dị cảm tay chân, đau mỏi cổ gáy, đôi khi cứng cổ. Có thể có triệu chứng nhìn đôi do liệt các dây thần kinh vận nhãn, giảm thị lực, yếu tay chân. Trường hợp bệnh diễn tiến nặng, bệnh nhân có thể hôn mê, thậm chí tử vong. Nếu nhiễm giun đầu gai thì bị nổi mẩn da do ấu trùng di chuyển.

Xét nghiệm công thức máu thấy tăng bạch cầu ái toan, chọc dò dịch não tủy thấy tăng bạch cầu ái toan, xét nghiệm phát hiện được kháng thể chống ký sinh trùng trong dịch não tủy. Chụp cộng hưởng từ và chụp cắt lớp vi tính não bộ có thể thấy hình ảnh của viêm màng não. Sinh thiết mô xác định có ký sinh trùng trong các tạng.

Điều trị và phòng bệnh

Bệnh viêm màng não ký sinh trùng cần được chẩn đoán và điều trị càng sớm càng tốt. Thuốc cần dùng là các thuốc điều trị đặc hiệu cho từng loại ký sinh trùng.

Phòng bệnh có thể được thực hiện dễ dàng, hiệu quả và không tốn kém chỉ bằng các biện pháp giản đơn như rửa tay sạch trước khi ăn, thức ăn cần được nấu chín và không để ruồi bu, không để chân tiếp xúc với bùn đất khi làm việc đồng bằng cách đi ủng, đeo xà cạp. Tránh viêm não màng não do amip: hạn chế các hoạt động dưới nước hoặc tắm ở ao, hồ, sông, suối nhiễm bẩn bởi phân rác; nút mũi hoặc dùng clips mũi khi làm việc dưới nước, tránh ngụp lặn tại các nơi nước ngọt ấm và nông. Dùng nước muối sinh lý rửa mũi, súc rửa xoang…            
 
ThS. Trần Minh Thanh

Bạn khó chịu vì nước mũi, gỉ mắt, hay xấu hổ khi xì hơi không kiểm soát… nhưng thực tế là bạn phải cảm ơn chúng vì những điều tế nhị đó cũng góp phần vào việc bảo vệ sức khỏe của bạn.

Ráy tai

Bắc Mỹ dành khoảng hơn 60 triệu USD hàng năm cho các sản phẩm làm sạch tai tại nhà và khoảng 12 triệu người Mỹ gặp bác sĩ mỗi năm (thậm chí nhiều người lựa chọn spa và sử dụng phương pháp độc đáo khác) chỉ để lấy ráy tai. Mặc dù về mặt lý thuyết, ống tai của chúng ta là bộ phận có khả năng tự làm sạch.

Ráy tai nằm ở ống tai ngoài, do một loại chất nhờn tựa như mồ hôi tiết ra từ những tuyến hạch nhỏ (tuyến ráy tai) trộn lẫn với những tế bào chết rơi ra trong lỗ tai mà thành. Nó chẳng phải thứ vô dụng như nhiều người nghĩ. Những hạt bụi bẩn trong không khí và côn trùng nhỏ nếu chẳng may bay vào lỗ tai thì chất nhờn ngăn chặn lại, không cho chúng đi sâu vào bên trong, tránh gây tổn hại đối với cơ quan thính giác. Một số côn trùng nhỏ đôi khi bị lạc đường chui vào lỗ tai, nhấm phải vị đắng của ráy tai sẽ lập tức bò ra ngoài. Ráy tai được xem là vệ sĩ của cơ thể con người, có tác dụng chống nhiễm khuẩn, ngăn bụi bẩn, côn trùng, giúp tai không bị “sốc” vì các âm thanh quá lớn và thậm chí được dùng làm thuốc chữa bệnh.

Chất nhầy

Chất nhầy là một chất lỏng dính phủ kín phần bên trong mũi, miệng, xoang, họng, phổi, đường tiêu hóa và nó xuất hiện mọi lúc, không phải chỉ khi bạn bị cảm lạnh. Trong thực tế, cơ thể của bạn tiết ra khoảng 1/4 – 1/2 gallon (khoảng 1 – 1,5 lít) chất nhầy mỗi ngày.

Chất nhầy đóng vai trò như một chất bôi trơn và nếu không có nó, các mô cơ thể sẽ bị khô. Và bởi vì nó dính, nó cũng có chức năng như một “nhà máy thu thập rác”, tránh vi khuẩn, phấn hoa, bụi bẩn, nấm mốc, khói thuốc hay bất cứ điều gì khác khi xâm nhập cơ thể của bạn.

Lợi ích của những điều “tế nhị” 1
 Ống tai có khả năng tự làm sạch.

Vi khuẩn

Một cơ thể người trưởng thành có lượng vi khuẩn sinh sống (bao gồm vi khuẩn, virut và các loại vi sinh vật khác) ít nhất gấp 10 lần so với số tế bào cơ thể. Hiểu theo nghĩa đen có nghĩa bạn là vi khuẩn nhiều hơn là người. Và trên thực tế, có khoảng 100 triệu tỷ vi khuẩn sống trong mọi ngóc ngách cơ thể bạn.

Tuy nhiên trong số lượng vi khuẩn khổng lồ ấy, chỉ có dưới 1% có thể gây ra bệnh tật và số còn lại thì giúp cơ thể hoạt động tốt hơn. Chẳng hạn, khuẩn Lactobacillus acidophilus trong sữa chua, giúp cơ thể tiêu hóa thức ăn và chiến đấu chống lại vi khuẩn gây bệnh.

Khí ga

Bất cứ ai, từ người nổi tiếng, nữ hoàng đến những người bần hàn nhất cũng đều có lúc “xì hơi” hay ợ chua. Nguồn khí này được tạo ra khi cơ thể chúng ta nhai hoặc uống, hoặc được tạo ra từ phản ứng hóa học hay từ những vi khuẩn sống trong ruột của chúng ta.

Lượng khí trong một lần xì hơi hoặc ợ chua bao gồm 59% nitơ, 21% hidro, 9% CO2, 7% mêtan và 4% ôxy. Trong đó chỉ có 1% là H2S – chất có chứa lưu huỳnh (chỉ xuất hiện khi bạn xì hơi).

Một số thực phẩm sẽ khiến cơ thể của bạn sinh ra khí nhiều hơn và đó là những thực phẩm chứa nhiều chất xơ, có đường, chẳng hạn như đậu, bông cải xanh. Đối với một số người, lúa mì hay sữa và các sản phẩm có chứa lúa mì hay sữa cũng góp phần vào ợ hơi, xì hơi hay đầy bụng vì cơ thể của họ khó tiêu hóa những loại thực phẩm này. Tuy nhiên, thường thì nguyên nhân không có gì khác hơn chính là khí bạn nuốt phải.

Nôn mửa

Dạ dày bình thường chứa khoảng 3/4 gallon (khoảng 1 lít) lượng thức ăn hoặc nước uống bạn ăn. Cảm giác buồn nôn sau khi ăn có thể cho bạn biết bạn đã ăn quá giới hạn dạ dày cho phép. Vài nghiên cứu thấy rằng, mặc dù dạ dày sẽ giãn ra đôi chút để chứa nhiều hơn 3/4 gallon thức ăn, nó sẽ ngay lập tức “nổ tung” nếu bạn ép dạ dày phải chứa tới 1,3 gallon (5 lít) thức ăn.

Nếu dạ dày và ruột đã không thể chứa thêm được nữa, thức ăn mà bạn ăn vào sẽ không được tiêu hóa bình thường mà thay vào đó, nó sẽ quay ngược trở lại để ra ngoài. Nôn mửa thực chất được điều khiển bởi “vùng nôn mửa” trong não và có thể được tạo ra bởi vô vàn thứ bao gồm bệnh truyền qua thực phẩm, bệnh truyền nhiễm, cũng như tác dụng phụ của nhiều loại thuốc và các phương pháp trị liệu.

Nếu như bạn không thể nôn, cơ thể bạn sẽ phải chứa rất nhiều chất thừa thãi.  Thành dạ dày xuất hiện nhiều lỗ hở, cho phép thức ăn chưa tiêu hóa hoàn toàn vào cơ thể bạn.
 
 Minh Huệ

 (Theo Wikipedia, Health, Listverse, HSW, 10/2013)

Ngồi lâu ở một vị trí trong thời gian dài, sai tư thế, ít vận động,… là những yếu tố góp phần gây nên tình trạng đau lưng ở nhân viên văn phòng. Nghiêm trọng hơn, tình trạng này kéo dài có thể gây một số bệnh xương khớp, trong đó có thoát vị đĩa đệm (TVĐĐ).

Là nhân viên văn phòng tại một công ty du lịch ở Hà Nội, anh Nam thường xuyên phải ngồi trong một tư thế liên tục 8 tiếng làm việc. Ban đầu, anh có cảm giác đau mỏi ở thắt lưng nhưng sau một thời gian, cơn đau trở nên dữ dội hơn và thường xuyên tái phát khiến anh khó tập trung, ảnh hưởng tới công việc. Khi đi khám tại bệnh viện, bác sĩ cho biết anh đã bị TVĐĐ và nếu không điều trị sớm thì có thể phải phẫu thuật.

Theo các chuyên gia, TVĐĐ cột sống thắt lưng là nguyên nhân phổ biến gây nên hiện tượng đau lưng ở những người làm công việc văn phòng với các triệu chứng điển hình như: đau vùng thắt lưng, đau và tê lan xuống mông, đùi và cẳng chân, bàn chân,…

Biện pháp giảm đau lưng ở dân văn phòng 1

Ảnh minh hoạ.

Để tránh bị đau lưng do TVĐĐ, nhân viên văn phòng cần ngồi đúng tư thế, điều chỉnh chiều cao của ghế ngồi phù hợp, thường xuyên thay đổi tư thế, vận động đi lại,… Khi tình trạng đau lưng kéo dài, ảnh hưởng tới sức khoẻ thì người bệnh cần đi khám và tuân thủ phác đồ điều trị của bác sĩ như dùng thuốc, vật lý trị liệu hay phẫu thuật.

Hiện nay, nhiều bác sĩ cũng như bệnh nhân đang tin tưởng lựa chọn các sản phẩm nguồn gốc thiên nhiên, không gây tác dụng phụ, đã được khẳng định qua nhiều nghiên cứu khoa học để phòng ngừa và giảm triệu chứng đau lưng do TVĐĐ, điển hình là thực phẩm chức năng Cốt Thoái Vương. Với thành phần chính là dầu vẹm xanh có tác dụng tăng cường sức đề kháng và độ chắc khỏe của xương, kết hợp cùng nhiều thành phần khác như: thiên niên kiện, nhũ hương,… Cốt Thoái Vương có tác dụng giảm đau lưng, phòng ngừa, hỗ trợ điều trị, ngăn chặn tái phát các cơn đau do TVĐĐ.

Bên cạnh việc duy trì sử dụng Cốt Thoái Vương, người bệnh nên có chế độ nghỉ ngơi hợp lý, vận động nhẹ nhàng và áp dụng một số biện pháp vật lý trị liệu,… nhằm giúp cột sống chắc khỏe, đẩy lùi tình trạng đau lưng do TVĐĐ.

Minh Trí

Cốt Thoái Vương – Sản phẩm hàng đầu chứa dầu vẹm xanh dành cho các bệnh về cột sống, đĩa đệm:

Thực phẩm chức năng Cốt Thoái Vương có thành phần chính là dầu vẹm xanh, kết hợp với các thành phần tự nhiên khác, hiệu quả trong hỗ trợ điều trị, phòng ngừa thoái hóa cột sống, TVĐĐ, gai cột sống; tăng cường lưu thông máu, giúp xương chắc khỏe, giảm đau xương khớp, làm chậm quá trình thoái hóa,… mà không gây tác dụng phụ, kể cả khi dùng lâu dài. Hiệu quả của sản phẩm đã được chứng minh qua nhiều nghiên cứu tại bệnh viện.

Để tăng cường hiệu quả, người bệnh nên dùng Cốt Thoái Vương mỗi ngày 4 viên chia làm 2 lần, trước bữa ăn 30 phút. Mỗi đợt sử dụng kéo dài từ 2-4 tháng. Thực tế cho thấy, nhiều bệnh nhân và bác sĩ rất hài lòng khi sử dụng Cốt Thoái Vương.

Điện thoại tư vấn: 04.37757066 / 08.39770707

* Sản phẩm này không phải là thuốc, không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh

Loại trừ 2 loại gen đặc biệt có thể cải thiện việc điều trị ung thư lên tới 50% tổng  số bệnh nhân. Các nhà nghiên cứu tại Viện Công nghệ Massachusetts, Mỹ đã phát hiện ra bằng cách phong toả gen p53 và MK2, khối u ác tính có thể phản ứng nhanh hơn trước điều trị cytotoxic (độc tính đối với tế bào) như hoá trị liệu. Kết quả trên có thể dẫn đến các hợp chất thuốc mới hiệu nghiệm hơn.

           

Tế bào ung thư “tự tử” nhờ thuốc mới 1
 Thuốc ức chế gen biến đổi p53 và MK2 giúp tăng hiệu quả hoá trị liệu, làm tế bào ung thư “tự tử”

Khoảng một nửa số bệnh nhân ung thư có một dạng biến đổi của gen p53. Sự biến đổi gen này, cộng với sản phẩm protein cư trú trong khối u của gen đã làm cho lượng tế bào ác tính bị giảm đi trong quá trình hoá trị liệu. Gen p53 bị biến đổi cho phép các tế bào thoát khỏi “cơ chế tự chết”, hay tế bào sinh ra rồi chết đi theo lẽ thường, kể cả khi hoá trị liệu đã bẻ gãy được ADN của chúng. Có một thời, các nhà nghiên cứu đã tìm cách để phá vỡ loại kháng thuốc này.

Xuất bản trên tập san Cell Reports, nghiên cứu mới cho thấy bằng cách phong toả cả gen bị biến đổi p53 lẫn gen MK2 liên quan, cơ chế tế bào tự chết sẽ được khôi phục. Theo tác giả Michael Yaffe, các chất ức chế gen đã được thử nghiệm để điều trị các bệnh viêm loét như viêm khớp và viêm ruột kết. “Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy những loại thuốc này có thể cho bệnh nhân một cuộc sống thứ hai, kết hợp cùng với hoá trị liệu. Chúng tôi rất hy vọng các loại thuốc này được đưa vào thử nghiệm lâm sàng”.


Bích Vân (theo Medical Daily)


Hạt mơ tức hạt khô trong quả của cây mơ, còn gọi là hạnh nhân, khổ hạnh nhân, bắc hạnh nhân, quang hạnh nhân.
Nhân hạt mơ không dùng tùy tiện 1
 Nhân hạt mơ.

Thành phần hóa học chủ yếu trong nhân hạt mơ chứa 35 – 40% chất dầu (dầu hạnh nhân), 3% amygdalin và men emunsin gồm 2 men amygdalase và prunase.

Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại cho thấy, chất glucosid trong hạt mơ thủy phân cho cyanhydric acid có tác dụng ức chế nhẹ trung khu hô hấp, vì thế giảm ho suyễn. Benzaldehyde có thể ức chế chức năng tiêu hóa của pepsin, dầu hạnh nhân có tác dụng nhuận tràng…

Đông y cho rằng, nhân hạt mơ có vị đắng hơi ôn, có độc ít, quy kinh phế, đại tràng.

Trong nghiên cứu về dược lý của Đông y cũng cho thấy, nhân hạt mơ có tác dụng chỉ khái bình suyễn, nhuận tràng thông tiện. Chủ trị các chứng ho do phong hàn hoặc phong nhiệt, ho suyễn do phế nhiệt, táo bón do tràng táo. Theo các y thư cổ thì sách Bản kinh có ghi: “Chủ khái nghịch thượng khí, hầu tý, hạ khí, săn nhũ”. Sách Dược tính bản thảo: “Chủ khái nghịch thượng khí suyễn thúc, cùng thiên môn đông sắc uống nhuận tâm phế, hòa nước qua làm thang nhuận thanh khí”. Sách Trân châu thang: “Trừ phế nhiệt, trị phong nhiệt ở thượng tiêu, lợi hung cách khí nghịch, nhuận đại tràng khí bí”.

Tuy nhiên, trong nhân hạt mơ lại chứa độc tính. Cụ thể là sau khi ăn vào, chất amygadalin và amygdalase kết hợp sinh ra prunasin và mandelonitrile bị phá hủy trong ruột sinh ra benzaldehyde và hydrocyanic acid rất độc.

Triệu chứng nhiễm độc: chóng mặt, mệt lả, nôn, tiêu chảy, đau bụng, nóng rát vùng thượng vị, huyết áp tăng, thở nhanh; nghiêm trọng hơn: thở nông chậm, hôn mê, cứng người, co giật, giãn đồng tử, huyết áp hạ, suy hô hấp tuần hoàn dẫn đến tử vong.

Người lớn ăn 40 – 60 nhân, trẻ em 10 – 20 nhân có thể gây nhiễm độc nghiêm trọng. Uống anhydric acid, liều gây chết là 0,06g ở người lớn.

Thuốc được nấu lên và cho đường giảm bớt độc. Trường hợp quá liều có thể cho uống than hoạt hoặc sirô.

Trong dân gian thường dùng vỏ cây mơ hoặc vỏ của rễ làm chất giải độc.

Do đó mỗi khi sử dụng nhân hạt mơ để làm thuốc cần lưu ý đến liều thường dùng là từ 3 – 10g, thuốc sắc nên cho sau.       

BS. HOÀNG XUÂN ĐẠI

Trong bão lũ, nhất là các nơi bị lũ ống, lũ quét, ngập lụt, mọi người kể cả người khỏe mạnh và biết bơi, đặc biệt là người già và trẻ em rất dễ bị nước cuốn trôi. Vì vậy, bà con trong vùng lũ lụt cần phải phòng tránh tai nạn đuối nước. Bài viết sau đây sẽ giúp bạn đọc hiểu biết về kỹ năng cấp cứu người bị tai nạn đuối nước.

Trong và sau cơn bão thường có mưa to, triều cường dâng cao. Vùng rừng núi do nước từ trên cao đổ xuống rất nhanh chóng gây ngập lụt và tạo thành lũ ống, lũ quét nhấn chìm nhà cửa, sinh mạng của người dân. Vùng thấp hay đồng bằng thì nước dồn xuống dễ gây úng lụt lâu ngày. Sống trong lũ lụt, nguy cơ bị đuối nước là rất cao. Vì vậy, bà con cần nắm vững cách phát hiện và cấp cứu người bị đuối nước.

Cấp cứu tai nạn đuối nước 1
 Thao tác hà hơi thổi ngạt cấp cứu người đuối nước.

Những mức độ ở nạn nhân đuối nước

Tai nạn đuối nước thường xảy ra do người không biết bơi ngã xuống nước, bị đuối sức do phải dầm người trong mưa, gió lạnh, đói, cơ thể mất nhiệt do nước lạnh, bị chuột rút (vọp bẻ); người biết bơi nhưng bơi đã quá mệt; nước lũ dâng nhanh khiến người ta không kịp chạy lên chỗ cao; bị dòng nước chảy mạnh cuốn trôi… Tùy theo mức độ nhẹ hay nặng, nạn nhân có các biểu hiện như sau:

Nạn nhân hít phải nước, sặc nước, khó thở rồi ngừng thở sau đó tim ngừng đập. Da xanh tím hay nhợt nhạt, khi vớt nạn nhân lên khỏi nước thấy bọt hồng trào ra đầy mũi và miệng. Choáng, sốc do ngạt nước: nạn nhân thấy ớn lạnh, cảm giác co thắt ngực và bụng, buồn nôn, chóng mặt, nhức đầu, nôn mửa, nổi mề đay khi bị dị ứng với nhiệt độ lạnh của nước, mạch nhanh. Nếu bị nặng, nạn nhân xuất hiện các triệu chứng trụy mạch, ngất. Ngất do bị ức chế thần kinh, nạn nhân chìm luôn, không giãy giụa, không kêu cứu được, chúng ta chỉ phát hiện được nếu nhìn thấy nạn nhân dưới nước. Có khi vừa mới xuống nước, nạn nhân đã thấy chóng mặt, ù tai, da đỏ, ngứa nhưng không biết đó là dấu hiệu nguy hiểm, vẫn tiếp tục ở dưới nước rồi bị ngất và chìm xuống. Thường gặp là nạn nhân mất ý thức hay ý thức lơ mơ, hoặc tỉnh nhưng hoảng hốt, kêu đau đầu, đau ngực, buồn nôn và nôn. Nhìn nạn nhân thấy da tím tái hay nhợt nhạt; cơ bắp máy giật; khó thở, thở nhanh và khò khè. Nếu có bọt hồng ở mũi, miệng là triệu chứng nạn nhân bị phù phổi; nhịp tim nhanh, loạn nhịp, huyết áp hạ, ngừng tim; người lạnh giá do bị hạ thân nhiệt.

Xử lý cấp cứu thế nào?

Cấp cứu ban đầu là quan trọng nhất, quyết định sự sống còn của nạn nhân, nếu xử trí chậm, nạn nhân bị thiếu ôxy não, rất khó cứu sống sau đó.

Cấp cứu ngay ở dưới nước: Người cứu nắm tóc kéo đầu nạn nhân nhô lên khỏi mặt nước, tát mấy cái thật mạnh vào má nạn nhân để gây phản xạ hồi tỉnh và thở lại. Nhanh chóng quàng tay qua nách đưa nạn nhân vào bờ hoặc gọi thêm người hỗ trợ đưa nạn nhân lên bờ. Nhanh chóng tiến hành hô hấp nhân tạo, hà hơi thổi ngạt ngay: khai thông đường hô hấp bằng cách đặt nạn nhân nằm ưỡn cổ và nghiêng sang một bên, dùng gạc hay khăn vải móc đờm dãi, dị vật khỏi mũi và miệng nạn nhân; đặt một khăn mùi soa hay miếng gạc qua miệng nạn nhân, dùng hai ngón tay cái và trỏ bịt mũi nạn nhân rồi thổi hơi trực tiếp vào miệng nạn nhân. Nếu bị ngừng tim (bắt mạch quay không có) phải ép tim ngoài lồng ngực. Dùng 2 bàn tay chồng lên nhau ép lên lồng ngực ngoài tim, tần số ép khoảng 100 lần/1 phút, ước lượng bằng cách đếm 1, 2, 3, 4… mỗi lần đếm là 1 lần ép tim. Nếu chỉ có một người cấp cứu thì thổi ngạt 2 – 3 hơi lại ép tim ngoài lồng ngực 10 – 15 nhịp. Nếu có hai người cấp cứu thì một người thổi ngạt, một người ép tim ngoài lồng ngực, nhưng cần làm kiên trì cho đến khi tim nạn nhân đập lại và thở trở lại. Khi tỉnh lại, nạn nhân sẽ nôn ra nước, nên phải để nạn nhân ở tư thế: mặt quay sang một bên, kê gối dưới 2 vai, nới rộng quần áo, phòng cho nạn nhân không bị ngạt trở lại vì sặc chất nôn. Người cấp cứu chỉ bỏ cuộc khi đã hô hấp nhân tạo và ép tim được 2 tiếng mà không thấy nạn nhân phục hồi. Nếu gặp trẻ nhỏ bị đuối nước, người ta thường vác dốc ngược trẻ trên vai, động tác dốc ngược nạn nhân chỉ có tác dụng khai thông vùng họng và miệng, vì vậy không nên thực hiện ở người lớn và không nên làm quá 1 phút ở trẻ em. Nếu cấp cứu có kết quả, nạn nhân thở lại, cử động giãy giụa, hay nạn nhân vẫn còn mê nhưng đã có mạch và nhịp thở thì gọi xe cấp cứu hay dùng mọi phương tiện sẵn có chuyển nạn nhân đến cơ sở y tế có trang bị hồi sức cấp cứu. Trên đường vận chuyển vẫn phải tiếp tục cấp cứu và giữ ấm cho nạn nhân.

Việc điều trị tiếp tục tại bệnh viện: Chống suy hô hấp như sặc phổi, phù phổi cấp; chống hạ thân nhiệt, co thắt phế quản, loạn nhịp tim, tụt huyết áp. Bồi phụ nước và điện giải điều chỉnh thăng bằng kiềm toan. Phải chú ý phát hiện phù phổi cấp, hội chứng suy hô hấp cấp tiến triển nên cần chụp phổi ngay và tiếp tục theo dõi tình trạng suy hô hấp, trụy mạch để xử lý kịp thời.

Đề phòng tai nạn đuối nước 

Đồng bào trong vùng bão lũ, cần sơ tán theo hướng dẫn của chính quyền địa phương trước khi có bão lũ đến. Người già và trẻ em phải có người lớn trông coi giúp đỡ. Mọi người dù biết bơi cũng không tự ý bơi lội ra dòng nước lũ vì có thể bị nước cuốn trôi do sức nước rất mạnh.

Trẻ em đi học bằng ghe, thuyền bắt buộc phải có phao cứu sinh hoặc có người lớn đưa đi kèm. Học sinh cần được dạy bơi lội và kỹ thuật sơ cấp cứu để biết tự cứu mình và cứu bạn khi bị đuối nước; phải có nắp đậy an toàn bể nước, miệng giếng, cống rãnh… Trẻ em tắm ở sông, ao hồ phải mặc áo phao và phải có cha mẹ, người lớn trông coi. Những nơi thường xảy ra tai nạn đuối nước cần phải thành lập đội cứu hộ và các phương tiện cần thiết như ghe thuyền, thuốc, dụng cụ y tế để cấp cứu.            

  BS. Phạm Văn Thân

Tờ HuffingtonPost của Mỹ số ra ngày 1/11 vừa qua cho biết, các nhà chức trách ở Comlumbus, thủ phủ bang Ohio (Mỹ) lần đầu tiên phát hiện thấy một trường hợp ở khu vực này sử dụng ma túy có tên là Krokodil. Ðây là loại ma túy tự chế, giá rẻ có nguồn gốc từ châu Âu nhưng hiện đã có mặt tại Mỹ. Nó có thể giết chết con nghiện trong vòng 2-3 năm bằng cách bị “ăn thịt”, dưới dạng hoại tử, lở loét và gây chết dần chết mòn.

Krokodil là gì?

Sở dĩ Krokodil được gọi là ma túy ăn thịt người (Fleshing-eating drug) vì sau khi tiêm chích nó tạo ra những tổn thương cục bộ dưới da có màu xanh đen, sần sùi giống như da cá sấu. Từ đây nó gây hoại tử lở loét, thối rữa và gây tử vong trong thời gian chưa đầy 3 năm. Krokodil là một dạng ma túy tự chế, với thành phần chính là desomorphine, hóa chất được các nhà khoa học Mỹ tìm thấy đầu thập niên 30 ở thế kỷ trước. Desomorphine (dihydrodesoxymorphine hay permonid) là một dẫn xuất của morphine (thuốc phiện) với tác dụng an thần, giảm đau mạnh và kích hoạt cực nhanh. Nó có mức độ gây “phê” 8-10 lần cao hơn morphin và được sử dụng ở Thụy Sĩ dưới tên thương hiệu Permonid, ít gây buồn nôn hoặc suy hô hấp so với liều tương tự của morphin. Desomorphin có nguồn gốc từ thuốc phiện, thuộc nhóm 6-hydroxyl và các liên kết kép 7, 8 là một dẫn xuất của morphin được chế từ một thứ hỗn hợp cực kỳ nguy hiểm như codein, iốt, phospho và phụ gia, tạo ra hỗn hợp dạng dầu nhớt màu nâu nhạt, mùi nồng của iốt trước khi qua khâu tinh lọc và tiêm thẳng vào mạch máu. Mối nguy hại của Krokodil là con nghiện có thể tự chế được thuốc ngay tại nhà, độ phê của nó cũng giống như heroin nhưng thời gian ngắn hơn khoảng 90 phút.

BS. Abhon Singh, người đã từng điều trị cho con nghiện Krokodil ở Illinois cho biết, đây là loại ma túy rất nguy hiểm cho con người. Do tự bào chế nên không đảm bảo độ thuần, còn sót nhiều chất gây nguy hiểm như xăng dầu, iốt và các cặn phụ gia có thể gây phá hủy mạch máu. Vì vậy càng nghiện, càng dùng nhiều thì tuổi thọ càng rút ngắn.

Một con nghiện ở Chicago tên là Amber Neitzel mới đây đã thú nhận, độ nghiện của Krokodil giống như heroin nhưng nó lại gây tổn thương da ngay từ khi mới tiêm chích. Tổn thương bắt đầu từ một vết bỏng giống như bỏng thuốc lá, sau đó tím tái, tạo vảy và xưng trong vòng 5 – 6 ngày. Đặc biệt, vùng da quanh vết tiêm trở nên xanh xám, có dạng sần sùi như da cá sấu, sau đó đến giai đoạn lở loét thối rữa và hoại tử. Cái tên Krokodil nghĩa là cá sấu theo từ gốc của tiếng Nga.

Mặc dù được mệnh danh là ma túy ăn thịt người nhưng nhiều người vẫn cứ lao vào sử dụng. Krokodil gây mức độ phê cũng mạnh hơn, nhưng hết phê là đến giai đoạn bị hành hạ, nhất là những người tiêm trực tiếp Krokodil vào các động mạch. Ví dụ, nếu tiêm vào động mạch cổ thì chính chất axít có trong Krokodil sẽ hủy hoại xương hàm dưới, gây hội chứng Phossy Jaw (hàm phossy) hay còn gọi là chứng hoại tử phốt phát hàm, làm cho lợi bị ăn mòn thối rữa trước khi răng rụng hết. Đặc biệt nguy hiểm là những người nghiện Krokodil rất khó cai bởi thời gian nghiện kéo dài hàng tháng chứ không chỉ vài ngày như nghiện heroin, vì vậy những người dùng Krokodil chẳng khác nào người tự tiêm thuốc độc vào cơ thể mình.

Sự thật về ma túy ăn thịt người 1

Tự pha chế ma túy Krokodil ở Nga.

Nguồn gốc ma túy Krokodil

Như đề cập, tên gọi Krokodil trong tiếng Nga có nghĩa là cá sấu, còn trong tiếng Anh là Crocodile, tên chính thức Desomorphine hay còn gọi là ma túy cấp IV gốc heroin. Loại ma túy này có mặt tại Siberia của Nga từ năm 2002 sau đó lan ra nhiều nơi khác, trước khi phủ sóng sang Tây Âu và lan tới Mỹ. Sở dĩ ở Nga loại ma túy này phát triển là vì độ phê không kém heroin, trong khi đó giá cả lại rẻ hơn và không bị kiểm soát nên con nghiện ngày càng đông. Thậm chí, cả những người nghiện heroin nay cũng chuyển sang dùng Krokodil cho đã.

Theo tờ Time của Mỹ, một phụ nữ Nga tên là Irina Pavlova từng nghiện Krokodil sau đó quyết tâm cai nghiện cho biết, đây là loại ma túy làm tổn hại não, gây suy giảm trí nhớ, rối loạn diễn đạt lời nói và kiểm soát hành vi, nhiều người không qua khỏi vì bị nhiễm độc máu, viêm nhiễm và hoại tử các cơ mềm. Và do bị hoại tử nên Irina Pavlova đã từ chối đến bệnh viện điều trị mà chỉ quyết tâm cai nghiện tại nhà.

Hệ lụy khôn lường từ đại dịch Krokodil

Theo các chuyên gia Văn phòng Phòng chống ma túy Mỹ (DEA), tháng 10 vừa qua, DEA đã phát hiện thấy một số trường hợp sử dụng Krokodil ở khu vực Chicago, Ohio. Đây là những người đã đến điều trị tại các phòng mạch của bác sĩ nhưng lại giấu bệnh. Đầu tháng 11 vừa qua lại phát hiện thấy trường hợp mới ở Ohio. Như vậy, ma túy Krokodil đã có mặt tại Mỹ. Phần lớn những người này đều có triệu chứng da sần, tróc vảy như da cá sấu, với nhiều mảng thịt lở loét hở cả xương. Chính vì vậy mà Krokodil  đã được xếp vào diện ma túy kinh khủng nhất thế giới.

Tự pha chế ma túy Krokodil ở Nga

Tuy chỉ xuất hiện chưa đầy 10 năm nhưng Krokodil thực sự là một đại dịch kinh hoàng, nó lan nhanh và có mức độ tàn phá cũng rất khủng khiếp. Năm 2010 có gần 1 triệu người Nga sử dụng loại ma túy này, nhất là người dân ở vùng Cực Bắc Siberia. Đại dịch Krokodil đã vượt khỏi biên giới nước Nga, phủ sóng sang các quốc gia khác ở châu Âu và Mỹ, người ta đã phát hiện thấy một số ca tử vong tại Đông Âu như Sec và Đức do dùng Krokodil, còn ở Mỹ thì mới chỉ phát hiện thấy một số trường hợp từ cuối tháng 10 vừa qua nhưng thực tế Krokodil đã có mặt tại khu vực này khá lâu bởi phần lớn con nghiện đều giấu bệnh.               

 Nam Bắc Giang

 (Theo HP, 11/2013)

Suy thận mạn (STM) là hậu quả của các bệnh mạn tính của thận gây giảm sút từ từ số lượng nephron chức năng, làm giảm dần mức độ lọc cầu thận. STM gây rối loạn chuyển hóa và giảm đào thải nitơ phi protein như urê, axít uric, creatinin… Thận không còn đủ khả năng duy trì tốt sự cân bằng của nội môi và sẽ dẫn đến hàng loạt những biến loạn về sinh hóa và lâm sàng của các cơ quan trong cơ thể. Chế độ ăn để điều trị STM là chế độ ăn nhằm hạn chế tăng urê máu và làm chậm bước tiến của quá trình STM.
Suy thận mạn - Ăn uống thế nào? 1
. Người bị suy thận mạn nên ăn nhiều chất bột ít đạm như khoai lang, khoai sọ, khoai tây.

Nguyên tắc của chế độ ăn

Giảm đạm: Dùng protein quý có giá trị sinh học cao để đảm bảo đủ axít amin cơ bản cần thiết và có tỷ lệ hấp thu cao như trứng, sữa, cá, thịt nạc, tôm…

Giàu năng lượng: 35 – 40kcal/kg cân nặng/ngày.

Đủ vitamin, yếu tố vi lượng, chống thiếu máu.

Đảm bảo cân bằng nước, muối, ít toan, giàu canxi, ít phốt-phát.
Suy thận mạn - Ăn uống thế nào? 2
 

Thực phẩm nên dùng

Nên dùng các loại mật mía, mật ong, kẹo ngọt, chè đường, khoai chấm đường. Bổ sung các thực phẩm có đạm quý như thịt, cá, trứng, sữa nhưng số lượng ít. Sử dụng nhiều chất bột ít đạm như khoai lang, khoai sọ, khoai tây, bột sắn dây, miến dong. Gạo, mì chỉ ăn ít.

Chất béo (dầu, mỡ, bơ) chiếm 20 – 25% tổng năng lượng khẩu phần và có thể hơn nếu ăn được qua chế biến thức ăn. Dùng dầu ăn 25 – 30g/ngày qua chế biến thức ăn.

Nên dùng các loại rau cải, dưa chuột, bầu bí, su hào. Quả nên dùng: na, đu đủ, hồng đỏ, thanh long, dưa hấu. Trường hợp nếu có tăng kali máu phải bỏ rau quả.

Tăng lượng canxi bằng cách dùng tôm, cá, sụn…

Nước uống: ngang hoặc ít hơn lượng nước đái ra hàng ngày.

Ăn nhạt khi có phù, tăng huyết áp, suy tim.

Thực phẩm cần tránh

Cần tránh ăn các thức ăn có phốt-phát như gan, bầu dục; thức ăn nhiều đạm thực vật như đậu đỗ. Rau quả: bỏ các loại chua và không nên ăn rau nhiều đạm như rau ngót, rau giền, rau muống, giá đỗ, các loại đậu đỗ. Lưu ý, nếu tăng kali máu phải hạn chế rau, quả.

PGS.TS. Trần Minh Đạo