Bìm bịp có 2 loại đó là loài lớn, tên khoa học Centropus sinensis Stephen và loại nhỏ là C.benghalensis Gmelin. Loài bìm bịp lớn thường cư trú tại những nơi rừng núi có cây cối rậm rạp, còn loài nhỏ lại ưa sống ở những nơi có nhiều lau sậy và cây bụi nhỏ. Cả hai loại đều được sử dụng làm thuốc.
Theo Đông y, thịt bìm bịp có vị ngọt, tính ấm không độc, được sử dụng làm thuốc bổ máu, giảm đau, tiêu ứ, chữa hư lao, suy nhược, chân tay nhức mỏi, ứ huyết bầm tím, tê thấp, đau lưng, sản hậu, gãy xương… đặc biệt bìm bịp được sử dụng làm thuốc ngâm rượu uống có tác dụng chữa chứng liệt dương. Bộ phận dùng làm thuốc là cả con bìm bịp vặt bỏ hết lông và ruột, tạng phủ, sử dụng sống. Cũng có khi dùng thịt bìm bịp nấu cháo ăn hàng ngày cũng có những tác dụng nhất định.
Xin giới thiệu một vài phương pháp ngâm rượu bìm bịp phối hợp cùng các con vật khác có tác dụng bổ thận tráng dương, dùng cho người liệt dương hay người già đau lưng, mệt mỏi sức yếu.
Cách 1. Bìm bịp đực 1 con, bìm bịp cái 1 con khoảng 100g thịt, tắc kè đực cái 1 đôi khoảng 50g, rượu cất từ nếp loại 40 độ 2 lít. Làm thịt bìm bịp vặt bỏ lông, mổ bỏ ruột, chặt hết móng chân. Sau đó rửa sạch để ráo nước và ngâm sống trong rượu nếp cao độ trong 2 tháng liền, nếu để càng lâu càng tốt. Ngày uống 3 lần khai vị trước bữa ăn, mỗi lần uống 1 ly chừng 30ml.
Cách 2. Bìm bịp 1 con to và 1 con nhỏ, với ngũ xà là rắn hổ mang 1 con, rắn hổ trâu 1 con, rắn cạp nong 1 con, rắn ráo 1 con, rắn sọc dưa 1 con. Tất cả làm thịt bỏ ruột để sống cùng ngâm trong 3 – 5 lít rượu ngon trong 3 tháng mới sử dụng. Để càng lâu càng tốt. Trước khi uống có thể cho thêm thiên niên kiện trước vài ngày để làm thơm rượu và khử mùi tanh. Ngày uống 3 lần trước khi ăn, mỗi lần uống 1 ly chừng 30ml.
Loại rượu này còn có thể trị các chứng như liệt dương, hen suyễn, suy nhược, đái dắt, đái buốt của những người già thể trạng yếu, hay đau nhức xương cốt, mệt mỏi.
Ngoài ra còn có thể ngâm rượu với 1 con bìm bịp lớn và 1 con loại nhỏ cùng 1 lít rượu 40 độ trong 3 tháng là sử dụng được. Ngày uống 2 – 3 lần, mỗi lần 1 ly nhỏ chừng 30ml trước bữa ăn, tốt cho trường hợp gãy xương.
BS. Hoàng Xuân Đại
Cây rau chua còn có tên gọi khác là cây bụp giấm, atiso đỏ, bụt giấm, bụt chua, bụp chua, lá giấm, giền cá, giền chua. Tên khoa học là Hibiscus subdariffla L., họ Bông (Malvaceae).
Là loại cây cỏ bụi, sống một năm, cao 1,5 – 2m, phân nhánh gần gốc, màu tím nhạt. Lá hình trứng, nguyên, mép lá có răng. Hoa đơn độc, mọc ở nách, gần như không có cuống. Tràng hoa màu vàng hồng hay tía, có khi trắng. Quả nang hình trứng, có lông thô mang đài màu đỏ sáng tồn tại bao quanh quả. Cây ra hoa từ tháng 7 – 10. Cây mọc hoang tự nhiên rất nhiều trên những vùng đất đồi núi nóng ẩm ở nước ta. Tại nhiều địa phương, bà con thường hái lá có vị chua chua, dùng làm rau ăn. Người ta thường dùng đài hoa có vị chua làm gia vị thay giấm, chế nước giải khát, làm mứt, dùng chế siro. Hiện nay, do nhu cầu làm thuốc và làm cảnh nên cây được trồng nhiều.
Bộ phận dùng để làm thuốc là đài quả, lá. Dược liệu thu hái vào mùa thu, lúc các lá đài còn mềm, không nhăn héo và có màu đỏ sẫm. Thường chỉ thu hái trong vòng 15 – 20 ngày sau khi hoa nở vì để lâu, dược liệu sẽ kém phẩm chất.
Theo y học cổ truyền, cây rau chua có vị chua, tính mát; có tác dụng thanh nhiệt, giải khát, lợi tiểu, lợi mật. Còn theo tài liệu nước ngoài, những nghiên cứu trong phòng thí nghiệm đã chứng minh hoạt chất từ bụt giấm có tính kháng khuẩn, kháng nấm, chống viêm, chống ôxy hóa (sự già hóa của cơ thể), giúp ngăn ngừa bệnh tim mạch, tăng cường chức năng tiêu hóa, nhuận tràng, hạ huyết áp, làm giảm cholesterol trong máu, chống xơ vữa động mạch,…
Một số bài thuốc theo kinh nghiệm
Hỗ trợ điều trị tăng huyết áp: Lấy đài hoa rau chua 15g, rửa sạch, cho 500ml nước hãm thay trà uống trong ngày. 15 ngày một liệu trình.
Rau chua.
Hỗ trợ trị xơ cứng động mạch: Dùng đài hoa rau chua 15g, rửa sạch, cho vào ấm đổ 400ml nước sắc còn 200ml chia 2 lần uống trong ngày. Dùng liền 3 tuần. Tùy vào cơ địa của người bệnh có thêm các vị thuốc khác như; hoa hồng, xuyên khung, lá ngân hạnh,…
Trị ho viêm họng do lạnh: Đài hoa rau chua, rửa sạch ngậm có tác dụng rất tốt để trị viêm họng, ho. Ngoài ra cần vệ sinh răng miệng sạch sẽ.
Giải khát, lợi tiểu: Hoa rau chua về chỉ nhặt lấy cánh hoa (cũng có thể để cả đài nhưng có lông tơ phai màu không đẹp), nhặt xong, rửa sạch cánh hoa sau đó lại tráng lại cẩn thận bằng nước đun sôi để nguội. Để ra rổ, khô hẳn nước. Sau đó, một lớp hoa, một lớp đường. Thường tỷ lệ đường là 1kg cánh hoa thì cho 1 kg đường hoặc hơn tùy thích. Lưu ý, không để dính nước lã vào. Cho vào lọ thủy tinh là tốt nhất, đậy kín, ngày hôm sau đã bắt đầu ngấm, ngày lắc lọ một lần, 3 ngày là nước siro đã khá đậm nét. 2 tuần sau dùng nước để uống có tác dụng thanh nhiệt, giải khát tốt cho hệ tiêu hóa. Cũng có thể đun sôi cánh hoa với đường và nước từ 8-10 phút là được.
Thanh nhiệt, an thần, giúp ngủ ngon: Quả hoặc lá rau chua nấu với cá quả, cá trắm đen và các gia vị trong những ngày trời nắng nóng, giúp ngon miệng và có tác dụng thanh nhiệt, an thần, rất tốt cho sức khỏe.
Thưa Quý Phụ Huynh,
Trung tâm Chăm sóc Sức khỏe Cộng đồng (CHAC) & Hội hô hấp TP.HCM phối hợp cùng các chuyên gia thuộc Hiệp hội các bác sỹ Phổi Việt – Pháp (AFVP). Khám và tư vấn miễn phí cho trẻ em mắc Hội chứng ngưng thở lúc ngủ.
Giai đoạn 1: từ ngày 21.10 đến ngày 8.11.2013 do các chuyên gia về mất ngủ của CHAC thực hiện khám sàng lọc
Giai đoạn 2: từ ngày 9.11 đến 11.11.2013 các ca khó sẽ được hội chẩn cùng các chuyên gia: gồm
Các biểu hiện của Hội chứng ngưng thở lúc ngủ (HCNTLN) ở trẻ em:
– Ngáy to khi ngủ
– Thở hổn hển, thở ồn ào
– Có cơn ngưng thở,
– Hay ngủ mớ
– Hoặc tiểu dầm và …
Bệnh thường gặp trên trẻ em béo phì, dư cân, có bệnh lý tai mũi họng đi kèm (quá phát Amidan, VA…). Vì vậy, đây là một bệnh lý khá phổ biến ở trẻ em (chiếm 1 % – 2 %) và ngày càng gia tăng.
Nếu không được chẩn đoán sớm và điều trị kịp thời HCNTLN sẽ gây ra nhiều biến chứng như:
– Trẻ kém phát triển về thể lực
– Hiếu động quá mức
– Tính tình ngỗn ghịch,
– Học hành sa sút
– Và nặng nhất là mắc các bệnh lý tim mạch
Nhằm khám, phát hiện sớm và hỗ trợ điều trị HCNTLN ở trẻ em, Hiệp hội Bác sĩ Phổi Việt – Pháp (AFVP) phối hợp cùng Trung tâm Chăm sóc Sức khỏe Cộng Đồng – CHAC, tổ chức khám và hướng dẫn điếu trị miễn phí cho trẻ em từ 1 – 16 tuổi, có triệu chứng ngưng thở lúc ngủ như trên. (Những trường hợp đặc biệt, sẽ được hỗ trợ chi phí điều trị).
Đăng ký khám về Giấc ngủ: Quý phụ huynh vui lòng liên hệ số điện thoại 0934 032 988 gặp anh Trường – Phụ trách chương trình.
(Quý phụ huynh vui long mang theo hồ sơ bệnh, xét nghiệm, X.quang….đã có của bé)
Trân trọng thông báo.
Ngủ cả ngày, khóc váng lên khi đói, tè dầm và đại tiện bất cứ khi nào không báo trước… là những điều bạn nghĩ về trẻ sơ sinh? Đó không phải là tất cả. Các nhà khoa học vừa công bố những thú vị bất ngờ đến từ những thiên thần tí hon ấy, họ gọi là những khả năng kỳ lạ ẩn chứa trong hình hài bé nhỏ.
Phân biệt tốt xấu
Chúng ta vẫn nghĩ trẻ em sinh ra như tờ giấy trắng và trong quá trình lớn lên “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”. Những đứa trẻ sinh ra trong gia đình đạo đức tốt, môi trường sống lành mạnh, khi lớn lên chúng sẽ trở thành người tốt và ngược lại những đứa trẻ sinh ra trong môi trường xấu ắt lớn lên sẽ trở thành người xấu. Sự thực có phải như vậy?
Trong Tam tự kinh, câu đầu tiên, Khổng Tử viết: Nhân chi sơ, tính bản thiện nghĩa là con người sinh ra, tính vốn thiện. Và khoa học đã chứng minh, trước khi lững chững tập đi và nói những tiếng đầu tiên, trẻ sơ sinh đã biết phân biệt phải trái, tốt xấu. Các nhà khoa học Đại học Yale (Hoa Kỳ) tiến hành nghiên cứu trẻ từ 6 – 10 tháng tuổi. Những đứa trẻ này cùng được xem một chương trình múa rối về những hình dạng, màu sắc tương phản. Hình tam giác màu vàng đang trợ giúp một quả bóng màu đỏ lên ngọn đồi, trong khi đó, hình vuông màu xanh cố gắng đẩy quả bóng đỏ xuống. Sau đó, các bé được lựa chọn hình khối đã xem, kết quả, 80% trẻ với tay lấy hình tam giác màu vàng.
Trẻ sơ sinh có thể nâng toàn bộ cơ thể chỉ với 1 bàn tay nắm chặt vào thanh gỗ.
Phản xạ nắm lòng bàn tay
Trẻ sơ sinh thường rất mong manh, yếu ớt nhưng thật khó lý giải tại sao chúng lại có khả năng nâng toàn bộ trọng lượng cơ thể lên không trung trong vòng ít nhất hơn 10 giây, nhiều nhất là hơn 2 phút chỉ với 1 bàn tay nắm chặt vào thanh gỗ. Đây là thí nghiệm của một nhà nghiên cứu tiến hành với 60 đứa trẻ vào năm 1891. Điều này là một bằng chứng cho thấy sự gần gũi giữa hai họ hàng loài người và loài khỉ. Những con khỉ con có khả năng đu bám cành cây trong vòng hơn 8 phút và bám chặt vào mẹ trong những cuộc trốn chạy để sinh tồn.
Bản năng tìm được vú mẹ
Trong suốt 9 tháng thai kỳ, tất cả nguồn dinh dưỡng ấu nhi nhận được là thông qua dây rốn. Khi ra đời, trẻ sơ sinh không chỉ biết nằm đó và hét toáng lên mỗi khi đói. Nếu đặt chúng giữa hai bầu sữa mẹ, em bé sẽ từ từ chuyển đến bầu sữa và bắt đầu bú. Để đến được bầu sữa mẹ, cơ thể của trẻ sơ sinh phải dịch chuyển, chân đạp vào bụng mẹ và tay quờ quạng đón lấy đầu vú. Bạn thắc mắc, làm thế nào trong đêm tối, trẻ nhỏ cũng vẫn biết đâu là hướng có bầu sữa mẹ đề quay sang và rúc vào? Các nhà nghiên cứu cho rằng, ngực của người mẹ phát ra một mùi bí mật mà chỉ có đứa con của họ mới có thể cảm nhận được. Và chính mùi ấy hấp dẫn đứa trẻ sơ sinh hành động.
Trẻ có thể đọc khẩu hình môi
Mất 6 tuần để trẻ sơ sinh có thể nhìn thẳng vào mắt mẹ và từ thời điểm này, cả một thế giới giao tiếp mở ra giữa người mẹ và con trẻ. Bắt đầu từ 6 tháng tuổi trở đi, trẻ ngừng nhìn vào mắt mẹ mà chăm chú nhìn vào những chuyển động của môi người chăm sóc để đoán biết ý. Các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu giai đoạn trẻ 4, 6, 8, 10 tháng tuổi để phân tích quá trình hiểu nghĩa và học nói của trẻ: 4 tháng tuổi, trẻ nhìn chăm chú vào nhãn cầu người đang nói; 6 tháng tuổi, trẻ nhìn vào cả mắt và dịch chuyển xuống miệng người đang nói; 8-10 tháng tuổi, trẻ tập trung nhìn vào miệng để đoán biết ý nghĩa người muốn nói và tập bắt chước những âm thanh đơn giản. Thật tài tình, trẻ có thể nhìn khẩu hình môi của người chăm sóc để đoán biết được nội dung lời nói và từ đó, trẻ bắt chước bằng những âm thanh đơn giản nhất.
Trẻ có khả năng phát hiện nói dối
Bạn không tin ư? Hãy thử nói với trẻ đừng ăn bim bim, bim bim cay lắm không ngon trong khi bạn làm điệu bộ khuôn mặt nhăn nhó, lắc đầu. Trẻ có làm theo bạn không? Chắc chắn là không, trẻ vẫn sẽ túm lấy miếng bim bim và cho vào miệng vì chúng biết bạn đang nói dối.
Các nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu hai nhóm trẻ gồm 60 bé từ 13 – 16 tháng tuổi. Nhóm thứ nhất ngồi trước mặt một chiếc hộp sặc sỡ và một người lớn mở chiếc hộp ra làm điệu bộ thích thú nhưng trong hộp không có món quà nào. Nhóm thứ hai ngồi trước mặt chiếc hộp sặc sỡ và người mở chiếc hộp reo lên thích thú vì món quà trong hộp. Phần tiếp theo của thí nghiệm, hai nhóm này được hướng dẫn dùng trán để bật công tắc điện, 61% bé trong nhóm có người lớn nói dối, bằng những cách vui nhộn đã không bật công tắc điện bằng trán. Trong khi đó, 34% bé trong nhóm 2 có người lớn thành thật, đã dùng trán bật công tắc điện.
Vì vậy, lần sau khi cố gắng nói dối con bạn rằng món bột thơm ngon như món kem thì hãy cẩn trọng vì chúng biết bạn đang nói dối.
Huệ Hương(Theo Cracked )
Vỏ chai nước khoáng được làm từ nhựa có thể gây hại cho sức khỏe
Hóa chất BPA trong các loại hộp nhựa có thể ngấm vào thứ ăn và nước uống. Như vậy con người đã tiếp xúc trực tiếp với BPA qua nguồn thực phầm và đồ uống. Tuy nhiên, chất BPA còn có trong bụi và nước.
Trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu đã rất lo ngại rằng khả năng phá hủy nội tiết tố của BPA sẽ gây ra những vấn đề nghiêm trọng cho sức khỏe con người như rối loạn thần kinh, ảnh hưởng đến khả năng sinh sản, tiểu đường, làm tổn thương bão bộ, đặc biệt không tốt với phụ nữ mang thai và trẻ nhỏ.
Tuy nhiên, cho tới nay giới khoa học cũng chưa có một sự đồng thuận về những tác hại mà chất BPA có thể gây ra cho con người. Nhưng Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnhcủa Mỹ khuyến cáo rằng trước khi những kết luận chính thức về BPA được giới khoa học đưa ra, người dân nên hạn chết tiếp xúc với loại hóa chất này theo 5 cách sau:
1. Không để chất lỏng nóng vào hộp nhựa, không nên cho hộp nhựa vào lò vi sóng vì ở nhiệt độ cao chất BPA có trong hộp nhựa sẽ được giải phóng, từ đó có thể dễ dàng ngấm vào thức ăn.
2. Không nên sử dụng những chai nhựa cũ và bị trầy xước có chứa chất BPA vì những vết trầy xước chính là môi trường của vi khuẩn có thể phát triển và từ đó xâm nhập vào cơ thể. Hãy sử dụng những chai nhựa mới.
3. Thay thế những hộp nhựa chứa thức ăn bằng nhựa. Ngoài nhựa, có rất nhiều lựa chọn dành cho bạn như loại hộp được làm từ gốm sứ, thủy tinh hay thép không gỉ. Đây là những chất liệu an toàn và có độ bền cao và còn thân thiện với môi trường hơn so với các hộp nhựa.
4. Giảm thiểu sử dụng thực phẩm đóng hộp. Đồ hộp là một phương pháp bảo quản thực phẩm và giảm tải trọng lượng trong vận chuyển lương thực. Đây là một phát minh tuyệt vời trong khoảng 200 năm trước, tuy nhiên đồ hộp có chứa một mối nguy hiểm tiềm ẩn. Chất BPA trong lớp lót của vỏ hộp có thể dễ dàng ngấm vào thực phẩm. Vì vật, cách tốt nhất là nên tránh những thực phẩm và đồ uống đã chế biến sẵn và được đóng hộp, đóng lon.
5. Quan sát mã số nhận dạng nhựa ở phía dưới của hộp. Không nên dùng các loại hộp có mã 3 và 7 vì loại này chăc chắn có chứa hóa chất BPA.
Theo Dân trí
Bệnh viêm não Nhật Bản B (VNNBB) thường xuất hiện vào mùa hè, mùa mưa nhiều, bệnh lây truyền là do muỗi, vì vậy, mùa mưa lũ bệnh VNNBB vẫn có nguy cơ xuất hiện, bùng phát. Được biết, ở TP.HCM hiện đang có một người lâm bệnh này trong tình trạng nguy kịch. Bệnh VNNBB có khả năng lây nhiễm mạnh, bệnh cảnh rất nặng và nguy cơ tử vong cao, vì vậy, hiểu biết về bệnh để biết cách phòng ngừa là cần thiết.
Nguồn google
VNNBB dễ xuất hiện trong mùa mưa bão
Mùa mưa, thời tiết rất thuận lợi cho các loài muỗi phát triển và vì vậy, bệnh VNNBB rất có khả năng xuất hiện, bùng phát. Bệnh VNNBB do virut Arbo gây ra. Bệnh lây lan giữa người bệnh với người lành, hoàn toàn khác với bệnh viêm màng não mủ do vi khuẩn não mô cầu hoặc H. Influenzae hoặc St.pneumoniae. Môi giới truyền bệnh VNNBB là muỗi Culex. Bệnh VNNBB lây từ vật chủ này sang vật chủ khác và từ người bệnh sang người lành do muỗi Culex hút máu và truyền bệnh. Ở Việt Nam, loài muỗi Culex sinh sản mạnh nhất vào mùa hè, mùa mưa, đặc biệt từ tháng 3 đến tháng 7 – 8. Muỗi Culex có đặc điểm hoạt động mạnh nhất (hút máu người) vào lúc chập tối.
Bệnh VNNBB thường gặp ở trẻ em, nhất là trẻ em dưới 10 tuổi, bởi vì ở độ tuổi này có sức thụ bệnh cao với bệnh VNNBB hơn người trưởng thành, đặc biệt là ở các trẻ chưa có miễn dịch đối với virut Arbo gây bệnh. Người trưởng thành vẫn có khả năng mắc bệnh VNNBB khi trong cơ thể không có miễn dịch chống virut gây bệnh VNNBB. Đặc điểm của virut VNNBB là rất có ái lực với tế bào thần kinh, chính vì vậy, khi virut vào máu, chúng nhanh chóng đến hệ thần kinh trung ương và nhân lên mạnh mẽ ở đó, gây nên các phản ứng như sốt cao và gây tổn thương hệ thần kinh. Tuy vậy, một người sau khi mắc bệnh VNNBB thì có miễn dịch vững bền.
Đường lây truyền bệnh viêm não Nhật Bản.
Coi chừng để lại di chứng
Thời kỳ nung bệnh của VNNBB thường kéo dài từ 5 – 7 ngày, sau đó là thời kỳ khởi phát. Thời kỳ khởi phát xuất hiện các triệu chứng như viêm long đường hô hấp trên (sổ mũi, viêm họng, nghẹt mũi, ho…), sốt cao đột ngột (trên 39 – 40oC) kèm theo đau đầu, đặc biệt là ở vùng trán. Có thể có rối loạn tiêu hóa (đau bụng có kèm theo đi ngoài phân lỏng, buồn nôn, nôn), nhất là ở trẻ nhỏ. Tính chất nôn là nôn vọt và không lệ thuộc vào bữa ăn (nôn bất kỳ lúc nào). Trẻ bệnh có biểu hiện cứng gáy và tăng trương lực cơ và có thể xuất hiện lú lẫn, mất dần ý thức. Tiếp đến là thời kỳ toàn phát. Ở thời kỳ này thì các dấu hiệu đã có ở thời kỳ khởi phát nhưng tăng mạnh, đặc biệt là các dấu hiệu thần kinh như cuồng sảng, ảo giác hoặc kích động, tăng trương lực cơ làm cho trẻ bệnh nằm trong tư thế co quắp “kiểu cò súng”. Co giật cũng có thể xuất hiện hoặc bị bại, liệt cứng. Đối với loại bệnh nặng thì có thể u ám lúc ban đầu rồi dần dần đi vào hôn mê. Ngoài ra có các dấu hiệu về thần kinh thực vật tăng lên rõ rệt như vã mồ hôi, rối loạn vận mạch dưới da (da lúc đỏ, lúc tái), rối loạn nhịp thở và tăng tiết dịch ở hệ hô hấp. Bước sang tuần thứ 2, các triệu chứng như sốt, triệu chứng thần kinh, tim mạch dần dần giảm (gọi là thời kỳ lui bệnh). Một số bệnh nhân sau giai đoạn này có thể để lại di chứng như bại, liệt chi hoặc liệt các dây thần kinh sọ não hay rối loạn sự phối hợp vận động.
Biến chứng trong bệnh VNNBB cũng rất nặng nề, đặc biệt là viêm phổi, viêm phế quản hoặc viêm phế quản – phổi do bội nhiễm vi khuẩn. Ngoài ra, có thể gặp một số có di chứng muộn sau 1 năm hoặc lâu hơn như động kinh, Parkinson. Bệnh VNNBB có tỷ lệ tử vong cao (khoảng từ 20 – 80%), thường gặp ở những bệnh nặng như có co giật, hôn mê sâu, nằm lâu ngày, suy kiệt, viêm phổi nặng.
Hình ảnh virut viêm não Nhật Bản qua kính hiển vi.
Phòng bệnh VNNBB thế nào?
Điều quan trọng nhất là cần tuyên truyền rộng khắp trong toàn dân về tác hại của bệnh VNNBB, nguy hiểm của muỗi và vai trò của bọ gậy (lăng quăng) là con đẻ của muỗi, đồng thời phổ biến các biện pháp diệt bọ gậy và muỗi trưởng thành bằng mọi hình thức. Các biện pháp thường áp dụng là khơi thông hệ thống cống rãnh, lấp ao tù, nước đọng sau các trận mưa. Đậy kín các chum vại đựng nước không cho muỗi vào đẻ trứng, thay nước trong lọ cắm hoa hàng ngày, bắt muỗi bằng bẫy, bằng vợt, bằng đèn và áp dụng các biện pháp dùng hóa chất diệt muỗi như phun, tẩm màn và dùng hương xua, diệt muỗi. Biện pháp phun hóa chất diệt muỗi là biện pháp rất hữu hiệu nhưng cần tiến hành đồng bộ cho tất cả các hộ gia đình trong thôn, tổ dân phố, không được bỏ sót bất kỳ một gia đình nào để không còn nơi trú ẩn của muỗi. Khi ngủ, cần nằm màn tránh muỗi đốt; nếu màn rách, thủng, cần khâu, vá cẩn thận không cho muỗi chui vào đốt, hút máu. Cần phát hiện sớm bệnh nhân mắc bệnh VNNBB để cách ly. Cho đến nay, người ta thấy biện pháp tiêm vacc4in VNNBB để gây miễn dịch chủ động là biện pháp hiệu quả nhất trong phòng bệnh VNNBB.
BS. Việt Bắc
U máu là khối u lành tính hay gặp nhất của gan. 5 – 7% người khỏe mạnh có thể xuất hiện u máu ở gan. Tỉ lệ có u máu trong gan ở nữ gặp nhiều hơn 6 lần so với nam giới và thường có kích thước lớn so với nam giới. Vị trí u máu thường ở gan phải và vùng dưới bao gan.
Vì sao có u máu trong gan?
U máu trong gan đến nay chưa được rõ nguyên nhân. Hormon sinh dục nữ có thể đóng vai trò trong việc hình thành và phát triển của u máu. Tuy gọi là khối u nhưng đây là khối u lành tính rất ít khi ác tính. U máu không chỉ xuất hiện ở gan mà có thể xuất hiện ở bất cứ vị trí nào của cơ thể.
Hình ảnh u máu trong gan trên phim chụp cắt lớp.
Những biểu hiện của u máu trong gan
U máu trong gan có 2 thể: thể mao mạch và thể hang. Phần lớn u máu trong gan không có triệu chứng, mà do tình cờ phát hiện ra trong các trường hợp như: kiểm tra sức khỏe, siêu âm gan hoặc chụp cắt lớp vi tính. U máu có thể một khối hoặc nhiều khối. Kích thước của u có khi nhỏ hơn 1cm, đôi khi có thể to hơn 4cm, thậm chí khổng lồ. Trong một số ít trường hợp, u máu có kích thước hoặc nằm ở vị trí gần bao gan gây chèn ép hoặc có huyết khối trong khối u gây ra các triệu chứng: đau bụng, buồn nôn hoặc gan to. Hiếm khi u máu trong gan tự nhiên bị vỡ mà thường vỡ khi bị ngã hoặc bị chấn thương vào vùng gan. Tuy nhiên, u máu to khi vỡ cũng có thể gây nguy hiểm đến tính mạng do chảy máu.
Lời khuyên của thầy thuốc
Người ta cho rằng hormon sinh dục nữ là oestrogen có thể làm cho khối u máu lớn nhanh, do vậy, khi phát hiện có u máu trong gan, không nên dùng các thuốc có chứa oestrogen kéo dài chẳng hạn như dùng thuốc tránh thai.
Đối với những người có u máu trong gan, cần kiểm tra định kỳ bằng siêu âm cứ 6 tháng/lần để theo dõi kích thước của u máu.
Đối với người có khối u máu lớn, cần thận trọng để tránh va đập vào vùng mạng sườn phải gây chảy máu từ khối u.
Phát hiện sớm u máu trong gan bằng cách nào?
Vì u máu trong gan thường không gây ra các triệu chứng, bởi vậy, việc chẩn đoán chủ yếu dựa vào các phương pháp chẩn đoán hình ảnh như: siêu âm, chụp CT hoặc cộng hưởng từ hạt nhân (-MRI), chụp nhấp nháy phóng xạ hoặc SPECT;Chụp mạch… hiếm khi người ta phải tiến hành chụp động mạch để chẩn đoán. Có thể dùng kim nhỏ chọc hút vào khối u tại gan thấy có nhiều hồng cầu.Trên siêu âm, u máu trong gan có thể là khối tăng âm đối với thể mao mạch hoặc giảm âm trong u máu thể hang.
Các xét nghiệm máu thường không có thay đổi gì, tuy nhiên trong trường hợp u máu kích thước lớn xét nghiệm công thức máu có thể thấy giảm số lượng tiểu cầu.
Cần chẩn đoán phân biệt u máu trong gan với ung thư gan
Ung thư gan thường xuất hiện ở người bị viêm gan mạn tính, hay gặp là do viêm gan B, C, do rượu, viêm gan tự miễn. Ít gặp ung thư gan trên người có gan lành hoàn toàn. Xét nghiệm máu có thể thấy αFP (αfeto protein) tăng cao, đây là một protein được sản sinh trong thời kỳ bào thai ở người lớn chỉ tồn tại trong máu với lượng rất thấp dưới 10ηg/ml.
Khi phát hiện u máu trong gan, cần làm gì ?
Khi phát hiện u máu trong gan, người bệnh thường có tâm trạng lo lắng và tìm cách điều trị. Tuy nhiên, hầu hết u máu trong gan không cần điều trị, đây là khối u lành tính, hiếm khi gây ác tính. Cho tới nay, chưa có một loại thuốc nào có tác dụng làm mất hoặc giảm kích thước của khối u. Người ta chỉ điều trị khi khối u máu to lên nhanh chóng hay rất to thì có thể trị liệu để phòng u máu vỡ gây xuất huyết nguy hiểm tính mạng hoặc u to gây đau do chèn ép nhưng biến chứng này rất hiếm. Phương pháp điều trị có thể phẫu thuật cắt một phần gan có u hoặc có thể làm thuyên tắc động mạch nuôi khối như đốt, trị xạ…
Bs. Phạm Thị Nguyệt
Nhãn là sản vật quý của nước ta. Long nhãn (cùi quả nhãn phơi sấy khô) giàu dinh dưỡng, nhiều protein, chất béo, đường… Ngoài làm thực phẩm như nấu cùng thịt gà, nấu chè…, long nhãn còn là vị thuốc quý.
Theo Đông y, long nhãn vị ngọt, tính hơi ôn. Vào kinh tâm và tỳ. Có tác dụng ích tâm kiện tỳ, tư bổ khí huyết, ích trí an thần. Dùng cho các trường hợp lo âu, mất ngủ, ngủ mê, giảm trí nhớ, quên lẫn, loạn nhịp tim, sau đẻ mất sức, thiếu máu; bỏng nước sôi, bỏng lửa, chấn thương xuất huyết, sa thoát, lở ngứa ngoài da. Liều dùng từ 12-20g/ngày.
Chữa thiếu máu, mất ngủ, hay quên, kinh hoảng: long nhãn 12g, táo nhân 12g, chích hoàng kỳ 12g, bạch truật sao 12g, phục thần 12g, đảng sâm 12g, mộc hương 4g, viễn chí 6g, đương quy 12g, chích thảo 4g. Sắc uống ngày 1 thang.
Chữa ăn kém, người mệt mỏi, mất ngủ, ra mồ hôi trộm: long nhãn 50g, cao ban long 40g. Sắc long nhãn với nước, thái cao thành miếng mỏng cho vào, đun nóng để hòa tan. Ngày uống 2 lần (sáng, tối), mỗi lần 10g.
Dùng làm thực đơn bồi bổ tăng lực (đại bổ nguyên khí): long nhãn nhục 30g, đường trắng 3g, sâm 3g. Cho vào bát, miệng bát đậy kín dùng giấy bản hoặc vải xô mỏng, hấp cách thủy hoặc hấp trên nồi cơm. Mỗi lần ăn 1 thìa với nước sôi.
Rượu bổ, bổ khí huyết, ích tinh thần: long nhãn xào qua rượu, thêm rượu tùy ý (khoảng 10%) ngâm 100 ngày, hàng ngày uống vài ba lần, mỗi lần 20ml.
Dùng cho các trường hợp hồi hộp, tim loạn nhịp, mất ngủ, đau lưng mỏi gối: long nhãn 15g, hạt dẻ 10 – 20 hạt, gạo tẻ 50g, đường vừa đủ. Hạt dẻ bóc vỏ, đập vụn nấu với gạo thành cháo, khi cháo được cho long nhãn vào, đun sôi đều, khi ăn thêm đường.
Dùng cho các trường hợp ăn kém, chậm tiêu, da xanh tái, hồi hộp, đánh trống ngực, lo âu, mất ngủ (tâm tỳ lưỡng hư): long nhãn 250g, mật ong 250g, đại táo 250g, nước gừng vừa đủ ăn. Nấu long nhãn, đại táo với nước, khi chín nhừ, cho nước gừng và mật ong vào, đun sôi là được.
Chữa thiếu máu, hồi hộp, mất ngủ, đánh trống ngực: gà giò 1 con, long nhãn 30g. Gà làm sạch, cho long nhãn, chút rượu, giấm, hành, gừng, muối gia vị và ít nước, đặt trên bếp hầm nhỏ lửa khoảng 1 giờ.
Dùng cho trường hợp thiếu máu, chảy máu dưới da: long nhãn 10g, lạc hạt (cả vỏ hạt đập vụn) 15g. Cho ít muối, ít nước, nấu chín ăn.
Dùng cho các trường hợp hồi hộp loạn nhịp tim, mất ngủ, sốt nóng về chiều, có mồ hôi trộm, ho khan, ít đờm, đờm lẫn huyết (tâm phế âm hư): long nhãn 20g, kỷ tử 20g, yến sào 30 – 50g. Mỗi thứ liều lượng thích hợp, thêm nước hầm nhừ, sau cho đường phèn vừa đủ.
Dùng cho trường hợp suy nhược cơ thể sau bệnh nặng dài ngày: ba ba 1 con nhỏ, long nhãn 20g, sơn dược 20g. Ba ba làm sạch, cho long nhãn, sơn dược và nước, thêm gia vị hầm cách thủy ăn. Hoặc long nhãn 16 – 30g, hạt sen 16 – 30g, gạo tẻ 100g. Tất cả nấu cháo.
Kiêng kỵ: bụng ngực đầy trướng, nôn, nấc, ho, sốt nhiều đờm dịch xuất tiết không dùng.
Các nhà khoa học Mỹ vừa công bố một phương pháp mới giúp phát hiện sớm, hiệu quả bệnh Alzheimer bằng cách: ngửi bơ đậu phộng.
Các nhà nghiên cứu thuộc Trường đại học Florida (Mỹ) cho biết, khứu giác có mối quan hệ mật thiết với các dây thần kinh não và thường là bộ phận đầu tiên bị ảnh hưởng khi trí nhớ suy giảm. Thí nghiệm này yêu cầu bệnh nhân ngửi một thìa bơ đậu phộng bằng một bên mũi và đo khoảng cách xa nhất mà bệnh nhân có thể ngửi được. Bệnh nhân mắc chứng Alzheimer có lỗ mũi bên trái nhỏ hơn khoảng 10mm so với lỗ mũi bên phải. Từ đó, các nhà nghiên cứu có thể nhanh chóng phát hiện ra những người mắc chứng bệnh trên.
Bơ đậu phộng được sử dụng bởi vì nó có “mùi tinh khiết”. Mũi có thể ngửi được các loại mùi vị là trong thành khoang mũi có một lớp niêm mạc dầy khoảng 5mm, trên đó phân bố khoảng hơn 10.000.000 tế bào khứu giác, những tế bào này có liên hệ rất mật thiết với đại não.
Như chúng ta đã biết, khí là do tác dụng của các phân tử khí tạo thành. Khi con người hít thở không khí, những phân tử khí phát tán trong không trung sẽ dính vào niêm mạc khoang mũi, kết hợp với các tế bào khứu giác trong khoang mũi. Lúc này, các tế bào khứu giác trong khoang mũi lập tức sẽ hưng phấn lên, chuyển những kích thích này thành những tín hiệu đặc biệt và truyền đến đại não thông qua các dây thần kinh khứu giác, vì vậy tạo ra khứu giác giúp cho chúng ta có thể ngửi thấy các loại mùi vị bằng mũi. Bơ đậu phộng không tạo yếu tố kích thích nên nó rất lý tưởng để dùng trong thí nghiệm.
H.Minh (Theo Popular science, 10/2013)
Nghiên cứu được đăng tải trên tạp chí Neurology mới đây cho thấy, không có sự khác biệt giữa kỹ năng nhận thức, ghi nhớ của phụ nữ trung niên có nồng độ axit béo cao trong máu so với những người có nồng độ thấp hơn.
Nghiên cứu trước đây cho rằng, người ăn nhiều cá và các loại hạt thường minh mẫn và trí nhớ tốt hơn so với những người không bổ sung loại thực phẩm này. Nhưng một nghiên cứu ngẫu nhiên gần đây do TS. Eric Ammann, nhà dịch tễ học thuộc Đại học Iowa (Mỹ) cùng các cộng sự tiến hành đo nồng độ omega-3 trong máu của 2.157 phụ nữ từ 65 tuổi trở lên. Những người này được yêu cầu hoàn thành các bài kiểm tra về nhận thức, trí nhớ nhằm đo lường khả năng ghi nhớ, kỹ năng ngôn ngữ và tư duy. Nhóm các nhà khoa học đã không tìm thấy sự khác biệt về nhận thức, trí nhớ của phụ nữ nhóm cao axit béo với phụ nữ nhóm thấp axit béo. Theo TS. Ammann, những người thường xuyên bổ sung omega-3 từ thực phẩm có ý thức cao hơn trong việc giữ gìn sức khỏe, chỉ số cơ thể ổn định và sức khỏe tổng thể tốt hơn những người ít bổ sung loại thực phẩm này.
M.Huệ (Theo LS, 9/2013 )
Dưới đây là một số thực phẩm bạn nên bổ sung vào chế độ ăn để tăng cường sức khỏe và duy trì sự trẻ trung.
Ảnh minh họa
Quả bơ: Ngoài hàm lượng cao vitamin E, quả bơ cũng giàu chất chống ôxy hóa giúp bảo vệ da. Quả bơ hỗ trợ tái tạo các tế bào da mang lại cho bạn làn da tươi sáng.
Đậu: Các loại đậu hình trái cật giàu chất xơ và kali giúp giảm nồng độ cholesterol, qua đó giảm nguy cơ bệnh tim. Song lợi ích chính của các loại đậu là chúng giàu protein.
Sôcôla đen: Các loại sôcôla chứa ít nhất 70% cacao đều giàu protein và vitamin B. Thi thoảng cắn một miếng nhỏ sôcôla đen giúp đốt cháy chất béo đồng thời cải thiện da và tóc.
Súp lơ: Súp lơ là nguồn cung cấp chất xơ và vitamin C dồi dào không chỉ giúp kiểm soát cân nặng mà còn chống bệnh tim.
Việt quất: Việt quất giàu vitamin C hỗ trợ lưu thông máu. Quả việt quất cũng chứa các khoáng chất giúp kiểm soát quá trình chống lão hóa.
Theo ANTĐ
Dưới đây là một số thực phẩm bạn nên bổ sung vào chế độ ăn để tăng cường sức khỏe và duy trì sự trẻ trung.
Ảnh minh họa
Quả bơ: Ngoài hàm lượng cao vitamin E, quả bơ cũng giàu chất chống ôxy hóa giúp bảo vệ da. Quả bơ hỗ trợ tái tạo các tế bào da mang lại cho bạn làn da tươi sáng.
Đậu: Các loại đậu hình trái cật giàu chất xơ và kali giúp giảm nồng độ cholesterol, qua đó giảm nguy cơ bệnh tim. Song lợi ích chính của các loại đậu là chúng giàu protein.
Sôcôla đen: Các loại sôcôla chứa ít nhất 70% cacao đều giàu protein và vitamin B. Thi thoảng cắn một miếng nhỏ sôcôla đen giúp đốt cháy chất béo đồng thời cải thiện da và tóc.
Súp lơ: Súp lơ là nguồn cung cấp chất xơ và vitamin C dồi dào không chỉ giúp kiểm soát cân nặng mà còn chống bệnh tim.
Việt quất: Việt quất giàu vitamin C hỗ trợ lưu thông máu. Quả việt quất cũng chứa các khoáng chất giúp kiểm soát quá trình chống lão hóa.
Theo ANTĐ
Có một số tổn thương xuất hiện ở nhiều cơ quan trên cơ thể với những đặc điểm hầu như chẳng liên quan gì đến nhau khiến cho việc chẩn đoán và điều trị gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, chúng có thể là triệu chứng của một bệnh, von Hippel – Lindau (VHL) là một ví dụ điển hình.
Thương tổn không chỉ tại 1 bộ phận
Bệnh VHL là một loại bệnh có tính chất di truyền theo nhiễm sắc thể trội, bệnh ảnh hưởng đến nhiều cơ quan của cơ thể như não, tụy, gan, thận, mắt… và có thể diễn tiến từ lành tính sang ác tính tùy từng trường hợp.
Mặc dù bệnh VHL có nguyên nhân do đột biến gen và có tính chất di truyền, song vẫn có khoảng 20% số các trường hợp mắc bệnh VHL không có tiền sử gia đình. Tùy theo vị trí gen bị đột biến, bệnh VHL được phân chia thành các týp 1, týp 2, týp 3 với các tổn thương phối hợp như u tủy thượng thận, ung thư thận hay chứng đa hồng cầu (polycythaemia) kèm theo.
Hình ảnh bệnh VHL
Đi tìm lời giải
Người bị bệnh VHL có nguy cơ cao bị u mạch máu của hệ thần kinh trung ương; u máu võng mạc u hệ bạch huyết, ung thư thận; u tủy thượng thận, u thần kinh – nội tiết ở tụy, u mào tinh hoàn ở nam và các khối u buồng trứng ở nữ giới.
Các u máu ở hệ thần kinh trung ương (não và tủy sống) chiếm khoảng 40 – 80% các trường hợp VHL, xuất hiện chủ yếu ở độ tuổi 30, tuy cũng có một số trường hợp biểu hiện ở lứa tuổi trẻ hơn hoặc già hơn. Đây là một tổn thương lành tính, nằm rải rác ở tiểu não, tủy sống hoặc đôi khi có nhiều u liên tiếp kéo dài theo trục não – tủy sống. Thông thường, các khối u này không có biểu hiện gì đặc biệt trừ trường hợp vỡ ra gây xuất huyết tiểu não hoặc tủy sống. Việc phát hiện u máu hệ thần kinh trung ương dựa vào chụp cộng hưởng từ là chủ yếu. Điều trị các loại u này bằng phương pháp đốt bằng sóng radio hoặc phẫu thuật mở.
U máu võng mạc có ở 60% số bệnh nhân bị bệnh VHL. Đây là loại tổn thương phát triển thành nhiều ổ, nằm chung quanh hoặc gần đĩa thị giác với tần suất bị cả hai mắt vào khoảng 50% số các trường hợp với độ tuổi hay gặp là 25. Khối u võng mạc thường không có biểu hiện gì cho đến khi phát triển lớn lên gây tổn thương đáy mắt, làm giảm hoặc mất thị lực hoàn toàn. Chẩn đoán u máu võng mạc dựa vào soi đáy mắt và chụp mạch máu có tiêm fluorescein. Điều trị u máu võng mạc bằng chất ức chế các thụ thể yếu tố phát triển nội mạc mạch máu hoặc đốt bằng sóng radio có thể cải thiện được thị lực bệnh nhân.
Các khối u nang nội bạch huyết gặp ở 11% số bệnh nhân bị bệnh VHL. Nang nội bạch huyết có vị trí nằm ở phần cuối trong ống bạch huyết của ống tai trong, giữa màng cứng và hố sau (posterior fossa). Khối u của nang này phát triển mạnh ở độ tuổi từ 12 – 50 với đỉnh cao là khoảng 22 tuổi. Khối u phát triển gây giảm thính lực hoặc điếc hoàn toàn. Việc phát hiện khối u dựa vào chụp CT hoặc cộng hưởng từ (MRI). Điều trị chủ yếu bằng phẫu thuật mở hoặc đốt bằng sóng radio.
Ung thư thận hay carcinomas tế bào thận là biểu hiện ung thư chính của bệnh VHL với tỷ lệ mắc từ 24 – 45% và nếu kết hợp với các nang tại thận thì tỷ lệ mắc lên tới 60%. Carcinomas thận xảy ra nhiều ở lứa tuổi trên dưới 40, phát triển âm thầm không có triệu chứng trong một thời gian khá dài và khi phát hiện thường đã có xâm lấn sang tổ chức xung quanh với các biểu hiện như đau vùng hố thắt lưng, tiểu máu. Chụp cắt lớp hoặc cộng hưởng từ ổ bụng có thể dễ dàng xác định chẩn đoán. Điều trị carcinomas thận bằng phẫu thuật cắt bỏ hoặc có thể bảo tồn trong một số trường hợp.
U tủy thượng thận có ở 10 – 20% số bệnh nhân bị VHL và lứa tuổi mắc vào khoảng 30 và 5% trong số này có biểu hiện ác tính. Triệu chứng chính của u tủy thượng thận là những cơn tăng huyết áp kịch phát, dao động và khó kiểm soát cộng với những biểu hiện do cơn tăng huyết áp gây nên như đau đầu, nôn, đột quị não. Xác định u tuyến thượng thận bằng chụp cắt lớp hoặc cộng hưởng từ ổ bụng sau đó điều trị bằng thuốc hoặc phẫu thuật nếu cần.
U nang tuyến và các khối u thần kinh – nội tiết của tụy (pancreatic cũng là một tổn thương hay gặp ở bệnh nhân VHL với tỷ lệ mắc có thể lên tới 70% cho cả hai loại và thường có ở lứa tuổi 18 – 48. Các u nang tuyến thường lành tính và không cần điều trị gì đặc hiệu trong khi các u thần kinh – nội tiết tại tụy lại luôn cần được phẫu thuật do có tính chất ác tính và khả năng di căn khá cao. Nhìn chung, chỉ định mổ đối với các u tại tụy dựa vào kích thước khối u trên 3cm ở vị trí thân và đuôi tụy, 2cm ở đầu tụy.
Ngoài các khối u tại các cơ quan nêu trên, ở người bị bệnh VHL, các khối u mào tinh hoàn ở nam và u dây chằng rộng ở nữ giới cũng cần được tìm kiếm thông qua thăm khám lâm sàng và các phương tiện chẩn đoán hình ảnh như siêu âm, chụp cắt lớp hoặc chụp cộng hưởng từ. Tần suất mắc các khối u loại này hiện chưa có thống kê chính xác và trên thực tế hiếm gặp hơn các loại u khác như đã mô tả ở trên.
Theo các nghiên cứu đã được công bố, nếu gia đình có người bố mắc bệnh von Hippel – Lindau mà người mẹ hoàn toàn khỏe mạnh thì 50% số con cái sinh ra sẽ bị mắc bệnh này với tần suất phân bố chia đều cho cả nam và nữ là 50/50. Ðây là một bệnh hiếm gặp với tần suất mắc vào khoảng 1/35.000 đến 1/40.000 dân.
TS.BS. Vũ Đức Định
Theo y học hiện đại, cam mũi là chứng bệnh viêm mũi có biến chứng viêm xoang. Bệnh gặp chủ yếu ở trẻ trên 5 tuổi, diễn biến mạn tính, dai dẳng khó chữa. Nếu chất dịch này được nuốt xuống đường tiêu hóa hoặc hít phải sẽ gây viêm phế quản tái diễn, viêm dạ dày ruột non, ho từng cơn…
Theo Đông y, cam mũi hoặc tỵ cam là hiện tượng lỗ mũi chảy nước mũi đặc liên tục, màu xanh vàng, hai lỗ mũi đỏ kèm theo mắt nhíp, người gầy yếu, ăn uống kém tiêu hoặc ỉa lỏng, phân thường sống, mình nóng, hay ra mồ hôi trộm, mạch tế sác. Nguyên nhân do thấp nhiệt hiệp với phong tà nhập vào tỳ phế làm ảnh hưởng trực tiếp đến phế lạc và tỵ khổng gây ra. Phép điều trị là bổ tỳ phế, thông lạc, thanh hư nhiệt, trừ thấp. Sau đây là một số bài thuốc trị chứng này.
Cây và vị thuốc bối mẫu.
Thuốc uống:
Bài 1: Lục thần tán gia giảm:nhâm sâm 6g, bạch truật 8g, phục linh 8g, cam thảo (chích) 4g, biển đậu 6g, hoàng kỳ 6g, hoàng cầm 5g, hạnh nhân 5g, bối mẫu 6g, liên kiều 5g, gừng tươi 3 lát, đại táo 3 quả. Sắc uống.
Bài 2: nhân sâm 4g, bạch truật 8g, phục linh 8g, cam thảo (chích) 4g, biển đậu 6g, hoàng kỳ 6g, sinh địa 8g, huyền sâm 6g, đan bì 6g, mạch môn 6g, kim ngân 8g, ké đầu ngựa 8g, tân di 4g, hoàng cầm 6g. Sắc uống.
Bài 3:Ích khí tổng minh thang gia giảm: hoàng kỳ 10g, nhân sâm 10g, cát cánh 6g, mạn kinh tử 6g, bạch thược 5g, hoàng liên 3g, cam thảo 3g, thăng ma 5g, thạch xương bồ 5g, liên kiều 5g, la bạc tử 5g, bối mẫu 4g, hoàng cầm 5g. Sắc uống. Chữa chảy nước mũi đặc nhiều không dừng, nước mũi màu vàng đặc hoặc lẫn màu xanh.
Thuốc dùng tại chỗ:
Thuốc cam xanh (thanh đại) 0,39g, ngũ bội tử 0,1g, bạch phàn 0,1g, mai hoa băng phiến vừa đủ 0,6g. Đây là loại thuốc cam không có chì, được Bộ Y tế Việt Nam cấp phép lưu hành, có ở các quầy thuốc. Dùng nước nhỏ mũi mắt natri clorid 0,9% để rửa sạch hai lỗ mũi, thấm khô. Lấy tăm bông thấm bột thuốc, bôi sâu vào trong 2 lỗ mũi. Ngày 1 lần, cách 2 ngày dùng thuốc 1 lần.
TS. Nguyễn Đức Quang
Một nghiên cứu được tiến hành trên bệnh nhân Mỹ cho thấy thuốc chữa bệnh về da có chứa chất alefacaept giúp cơ thể sản xuất insulin, đây là chìa khóa giúp những người mắc bệnh ĐTĐ týp 1 khỏi bệnh.
Các nhà nghiên cứu thuộc Trường đại học Indiana Indianapolis đã tiến hành thử nghiệm với 33 bệnh nhân, những người này được tiêm thuốc có chứa alefacept trong vòng 12 tuần, sau đó nghỉ 12 tuần và tiếp tục tiêm 12 tuần. 16 người khác được tiêm giả dược theo lịch trình tương tự. Kết quả cho thấy, sau 4 giờ có sự khác biệt trong việc tuyến tụy sản xuất insulin giữa 2 nhóm. Nhóm được tiêm thuốc có thể duy trì insulin trong máu trong khi nhóm dùng giả dược, lượng insulin giảm. Theo GS. Mark Rigby, Trưởng nhóm nghiên cứu, thuốc chứa chất alefacaept có khả năng tấn công tế bào T, đây cũng là tế bào tham gia vào việc tiêu diệt các tế bào sản xuất insulin của cơ thể.
M.H (Theo BBC, 9/2013)
Tiểu đường, huyết áp, bệnh tim, viêm khớp, ung thư, ….là những bệnh di truyền phổ biến nhất. Do vậy nếu trong gia đình có người bị bệnh bạn nên có biện pháp phòng ngừa là hết sức cần thiết.
Bệnh tiểu đường
Bệnh tiểu đường là một rối loạn di truyền, vì vậy nếu cả bố và mẹ mắc bệnh tiểu đường thì con có nhiều nguy cơ mắc bệnh. Nếu một trong hai bố hoặc mẹ mắc bệnh thì sẽ làm tăng nguy cơ ở con chứ không chắc chắn. Chế độ ăn uống, lối sống, béo phì cũng là nguyên nhân gây ra bệnh tiểu đường.
Vì vậy, với những người có tiền sử gia đình bị bệnh tiểu đường thì nên bắt đầu thực hiện các thay đổi nhỏ trong lối sống của mình như cắt giảm lượng đường, tăng lượng chất xơ trong chế độ ăn uống và tập thể dục ít nhất 30 phút mỗi ngày, năm ngày một tuần.
Bệnh tăng huyết áp
Theo thống kê của nhiều tác giả cho thấy bệnh tăng huyết áp có thể có yếu tố di truyền. Trong gia đình nếu ông, bà, cha, mẹ bị bệnh tăng huyết áp thì con cái có nguy cơ mắc bệnh này nhiều hơn. Vì vậy, những người mà tiền sử gia đình có người thân bị tăng huyết áp càng cần phải cố gắng loại bỏ các yếu tố nguy cơ mới có thể phòng tránh được bệnh tăng huyết áp.
Điều này có thể được thực hiện bằng cách tập thể dục, ngồi thiền và tập thở. Đồng thời cũng nên giảm lượng muối tiêu thụ hàng ngày bằng cách tránh các thực phẩm đóng gói và những thực phẩm có chất bảo quản.
Bệnh tim
Ảnh minh họa
Nếu một trong hai người, cha hoặc mẹ bạn có bệnh tim, thì nguy cơ bạn bị bệnh là khó tránh khỏi. Nếu bạn hút thuốc hoặc uống rượu, nguy cơ của bệnh tim mạch còn cao hơn. Bạn có thể bắt đầu bằng cách giữ một mức cholesterol ổn định sau khi 30 tuổi.
Do vậy, bạn cũng nên giữ cho trọng lượng của mình ở mức vừa phải và bắt đầu tập thể dục để giảm lượng chất béo không lành mạnh trong chế độ ăn uống để giữ cho trái tim khỏe mạnh.
Bệnh xương khớp
Viêm khớp dạng thấp là một bệnh phổ biến và có tính chất di truyền. Với những người có mẹ đã bị viêm khớp thì sẽ có nguy cơ bị bệnh này cao hơn 50% so với người bình thường. Mặc dù các liên kết di truyền là thấp, nhưng nó có thể được truyền từ cha mẹ cho con. Để ngăn ngừa các bệnh về khớp, nên bổ sung các khoáng chất trong chế độ ăn uống như canxi và phốt pho trong chế độ ăn uống của bạn. Các bài tập như đi bộ hoặc chạy sẽ giữ cho đầu gối của bạn luôn trong tình trạng tốt. Duy trì tư thế đúng để bảo vệ cột sống tránh các thiệt hại.
Nếu mẹ của bạn đã được chẩn đoán dễ bị bị loãng xương, gãy xương hoặc thậm chí chỉ đơn giản là xương mỏng, nhỏ xương… thì bạn cũng cần chú ý đến sức khỏe của xương của mình. Cấu trúc xương bị ảnh hưởng rất nhiều bởi tính di truyền và có tính tương quan đáng kể về kích thước, độ dày, mật độ xương. Mức độ loãng xương của mẹ bạn có thể cho bạn biết kích thước hay độ dày của xương, bạn có nguy cơ loãng xương hay không. Nhưng việc chăm sóc xương khỏe mạnh lại phụ thuộc vào bạn vì sức khỏe xương của bạn còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố môi trường, thói quen sống, bệnh tật mà bạn mắc phải.
Vấn đề thị lực
Theo nghiên cứu khoa học chỉ ra rằng, các vấn đề phổ biến về mắt phần lớn là di truyền. Một trong những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này là trẻ em đọc và chơi vi tính quá nhiều. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, ảnh hưởng di truyền vẫn là yếu tố chính.
Nếu trẻ có những triệu chứng như đau đầu, nheo mắt khi đọc sách, xem tivi hoặc chảy nước mắt khi học bài thì nên đưa trẻ đến bệnh viện thăm khám sớm.
Hói đầu
Hói đầu là hiện tượng phổ biến ở đàn ông, hiện tượng này có thể do gen của bố hoặc mẹ hoặc cả hai bên biến đổi di truyền. Gen di truyền chính là một trong những nguyên nhân của rụng tóc, hói đầu, song điều này có thể ngăn chặn nếu biết chăm sóc tóc từ sớm.
Phụ nữ bị rụng tóc do di truyền thường có xu hướng tóc mỏng và thưa dần ở vùng quanh chỏm đầu trở xuống. Hiện nay, các bác sĩ da liễu có thể kiểm tra mô hình rụng tóc để xác định xem đó có phải do di truyền hay không, đồng thời có thể yêu cầu xét nghiệm máu để loại trừ các nguyên nhân khác. Với tình trạng này, đã có thuốc bôi da đầu cho cả nam và nữ giới để làm chậm việc rụng tóc.
Ung thư vú
Ung thư vú có thể xảy ra với bất kỳ ai. Nhưng nếu trong gia đình đã có các trường hợp ung thư vú thì khả năng xảy ra còn cao hơn. Đó là bởi vì các gen gây ung thư có thể được truyền từ mẹ sang cho con gái. Vì vậy, nếu mẹ hoặc bà của bạn đã bị ung thư vú, bạn sẽ cần thường xuyên quan tâm hơn đến ngực của mình và tiến hành các xét nghiệm cũng như chụp chiếu cần thiết theo định kì.
Stress
Nghiên cứu của các nhà khoa học Anh đã tìm ra bằng chứng chắc chắn đầu tiên cho thấy biến thể gen có thể là nguyên nhân gây ra bệnh trầm cảm ở người.
Vì vậy, nếu người thân trong gia đình có tiền sử bệnh trầm cảm, hưng cảm, rối loạn tâm thần… thì phải chú ý xem trẻ nhỏ có tình trạng khóchịu, lo lắng, sự tập trung giảm sút và chánăn hay không để gặp bác sĩ càng sớm càng tốt.
Theo VnMedia
Theo nghiên cứu mới đây của Viện Nghiên cứu Sleep Medicine (Mỹ) đã chỉ ra rằng ngủ quá 10 tiếng/đêm làm tăng nguy cơ mắc các bệnh về tim, đái tháo đường và béo phì.
Nghiên cứu được tiến hành trên 54.000 người Mỹ trên 45 tuổi về mối liên hệ giữa các rối loạn về giấc ngủ với chứng đái tháo đường, béo phì và tim mạch. Kết quả cho thấy hơn 1/3 trong số người tham gia nghiên cứu có giấc ngủ quá dài (hơn 10 tiếng mỗi ngày) đối mặt với nguy cơ mắc bệnh mạn tính cao.
TS. Janet Croft, chuyên gia bệnh mạn tính tại Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ cho biết: “Kết quả này cho thấy các bác sĩ nên xem xét giám sát sức khỏe tinh thần và trọng lượng cơ thể và thời lượng giấc ngủ với các bệnh nhân có bệnh mạn tính”.
M.Huệ (Theo Dailymail, 10/2013)
Nghiên cứu mới đây được công bố trên tạp chí Y học Anh cho thấy những rủi ro của bệnh đột quỵ và bệnh tim sẽ trở nên cao hơn với những người sống trong khu vực có nhiều tiếng ồn của máy bay.
Nghiên cứu được tiến hành với 3,6 triệu dân sống gần khu vực sân bay Heathrow (Anh) về mối liên hệ giữa tiếng ồn máy bay và nguy cơ mắc bệnh tim hoặc đột quỵ. Kết quả cho thấy nguy cơ mắc các bệnh về tim tăng lên khoảng 10 – 20% với những người sống trong khu vực tiếng ồn lớn nhất. Một nghiên cứu khác được đăng tải trên BMJ cũng có kết quả tương tự rằng tỷ lệ nhập viện của những người dân sống quanh khu vực 89 sân bay của Mỹ cao hơn hẳn so với các khu vực khác.
TS. Anna Hansell, Trường Imperial Luân Đôn, Trưởng nhóm cho biết, mặc dù kết quả là vậy nhưng họ vẫn chưa thể khẳng định rằng tiếng ồn máy bay trực tiếp gây nên đột quỵ hay bệnh tim.
H.M (Theo BBC, 10/2013)
Nhồi máu động mạch mạc treo là một cấp cứu mạch máu ít gặp, triệu chứng không điển hình và đặc hiệu. Việc chẩn đoán phụ thuộc nhiều vào các phương tiện cận lâm sàng hiện đại cũng như kinh nghiệm của đội ngũ thầy thuốc chuyên khoa nên thường được phát hiện ở giai đoạn muộn, do đó kết quả điều trị thấp, tỷ lệ tử vong cao.
Hệ thống động mạch mạc treo (ĐMMT) bắt nguồn từ động mạch chủ bụng, làm nhiệm vụ cung cấp máu cho ruột nói chung. Động mạch mạc treo tràng trên (MTTT) với lưu lượng máu khoảng 500 – 1.400ml/phút (tùy vào thời điểm lúc đói hay sau ăn) cung cấp máu cho ruột non (tiểu tràng) và khoảng 2/3 ruột già (đại tràng). Động mạch mạc treo tràng dưới (MTTD), với lưu lượng máu khoảng 50 – 80ml/phút, làm nhiệm vụ cung cấp máu cho phần đại tràng xuống và phần trên trực tràng. Khi các động mạch này bị hẹp hoặc tắc sẽ dẫn đến giảm hoặc mất tưới máu ruột. Quá trình thiếu máu kéo dài gây hoại tử, tổn thương ruột, thúc đẩy quá trình phù nề, viêm nhiễm, mất hàng rào bảo vệ tạo điều kiện cho các vi khuẩn gây viêm ruột hoặc xâm nhập vào máu và các cơ quan khác, từ đó một bệnh cảnh sốc nhiễm khuẩn nhiễm độc hết sức nặng nề có thể sẽ xảy ra với sự gia tăng số lượng các tạng suy và kết quả là bệnh nhân sẽ đối mặt với nguy cơ tử vong.
Vị trí động mạch mạc treo.
Các yếu tố nguy cơ tắc mạch mạc treo
Nguyên nhân của tắc ĐMMT được chia làm ba nhóm lớn: Tắc mạch do cục máu đông từ nơi khác di chuyển đến chiếm 50% các trường hợp, thường gặp trong các bệnh tim mạch như rung nhĩ, huyết khối thành mạch, bệnh van tim, các khối u của động mạch chủ, tắc mạch do lượng mỡ máu quá cao. Nhóm nguyên nhân thứ hai là nghẽn mạch chiếm 25% các trường hợp. Nhóm nguyên nhân này bao gồm nghẽn mạch cấp trên nền một thiếu máu mạn tính ĐMMT; viêm động mạch; bệnh viêm xơ loạn sản mạch máu, xơ vữa động mạch, phồng tách động mạch; chấn thương, lạm dụng các chất ma túy như cocaine… Nhóm nguyên nhân thứ ba là nhóm nguyên nhân gây thiếu máu ĐMMT không do tắc nghẽn. Nhóm này gồm các trường hợp thiếu máu ruột do sốc tụt huyết áp quá nặng và kéo dài; suy tim; cầu nối tim phổi. Một số các trường hợp khác cũng là nguyên nhân gây tắc động mạch mạc treo như lồng ruột, thoát vị nghẹt…
Dễ chẩn đoán nhầm vì những biểu hiện không đặc hiệu
Huyết khối ĐMMT cấp tính xảy ra đột ngột với những cơn đau bụng dữ dội, nôn mửa, ăn uống không tiêu, tiêu chảy, đại tiện máu, bụng trướng căng, biểu hiện của viêm phúc mạc, nhồi máu ruột non, sốt cao liên tục. Nặng hơn có thể có tình trạng nhiễm khuẩn nhiễm độc, tình trạng sốc nặng và khi tiến triển lên với suy nhiều cơ quan như tim, phổi, thận, gan, rối loạn đông máu… bệnh nhân sẽ tử vong. Nhìn chung, biểu hiện của huyết khối ĐMMT là rất không điển hình và không đặc hiệu nên rất dễ nhầm lẫn với các bệnh khác trong ổ bụng như viêm phúc mạc, viêm ruột, viêm dạ dày, viêm tụy cấp…
Chẩn đoán huyết khối ĐMMT dựa vào các dấu hiệu lâm sàng, xét nghiệm thấy nồng độ D-dimer, lactate máu tăng cao và tình trạng toan máu nhưng chỉ ở giai đoạn muộn. Chụp Xquang bụng ít có giá trị và dấu hiệu cần tìm là dấu hiệu có khí trong thành ruột bị viêm hoặc bóng khí trong tĩnh mạch cửa. Siêu âm doppler có thể thấy hình ảnh huyết khối trong ĐMMT. Chụp CT ổ bụng rất có giá trị trong việc xác định có huyết khối ĐMMT hay không với độ nhạy lên tới 95%. Chụp cộng hưởng từ mạch máu và chụp cắt lớp đa dãy, chụp cản quang ĐMMT và nội soi thăm dò ổ bụng cũng có thể được áp dụng trong một số trường hợp khó chẩn đoán.
Cục máu đông gây tắc (nhồi máu) động mạch mạc treo.
Xử trí thế nào?
Nếu chưa có dấu hiệu nhồi máu ruột, điều trị nội khoa sẽ được chỉ định. Chống đông máu bằng heparin được áp dụng cho tất cả các trường hợp với liều khởi đầu 5.000UI tiêm tĩnh mạch sau đó duy trì truyền tĩnh mạch liên tục sao cho thời gian thromboplastin từng phần hoạt hóa (APTT) gấp 2 trị số bình thường. Kháng sinh sẽ được chỉ định điều trị nếu bệnh nhân có dấu hiệu nhiễm khuẩn. Các biện pháp điều trị hỗ trợ như đặt ống thông dạ dày hút liên tục, bù nước điện giải, thăng bằng kiềm toan, nuôi dưỡng đường tĩnh mạch 100% để cho ruột được nghỉ ngơi cũng mang lại nhiều lợi ích cho bệnh nhân.
Phẫu thuật được chỉ định trong những trường hợp huyết khối ĐMMT có biến chứng viêm phúc mạc, nhồi máu ruột non hoặc ruột bị hoại tử nhiễm khuẩn nặng. Sau phẫu thuật, bệnh nhân cần được hồi sức tích cực, đặc biệt là điều trị tình trạng suy đa tạng và điều trị nội khoa để hỗ trợ qua cơn hiểm nghèo.
Tần suất tắc ĐMMT hiện chưa có thống kê chính xác nhưng theo một số báo cáo thì vào khoảng 0,1 – 0,2% tổng số bệnh nhân nhập viện. Độ chính xác của con số thống kê là rất tương đối do nhiều trường hợp tắc ĐMMT không được chẩn đoán hoặc nhầm lẫn với các bệnh lý khác trong ổ bụng. Tỷ lệ tử vong do tắc ĐMMT ở người già cao hơn người trẻ và nếu được can thiệp sớm trước 12 giờ sau tắc, chức năng ruột được phục hồi 100% trong khi tỷ lệ này chỉ còn 18% nếu can thiệp sau 24 giờ.
TS.BS. Vũ Đức Định
Dị vật thực quản là một trong những cấp cứu thường gặp. Ngoài các loại xương động vật, hạt trái cây, dị vật thực quản còn nhiều thứ “khó ngờ” như kim, tăm xỉa răng, răng giả, vỉ thuốc có cạnh sắc, đồng xu, búi tóc… Nếu không được chữa trị kịp thời có thể dẫn đến hậu quả rất nghiêm trọng.
Mắc bệnh do thói quen
Một trong những nguyên nhân hàng đầu khiến bệnh nhân bị mắc dị vật ở thực quản là thói quen ăn uống: Ăn khối thịt to, ăn những loại thịt có lẫn xương, không nhai kỹ, vừa ăn vừa nói chuyện, đùa giỡn, thói quen ngậm tăm xỉa răng sau khi ăn… Có trường hợp phải nhập viện vì uống thuốc nhanh, quên bỏ bao thuốc có cạnh sắc nhọn. Ngoài ra, thức ăn còn dễ bị vướng lại do: Các đoạn hẹp tự nhiên của thực quản; tổn thương làm rối loạn vận động thực quản như các khối u tại thực quản hoặc tổn thương ngoài thực quản làm thực quản bị hẹp. Một số trường hợp khác do trẻ em và bệnh nhân tâm thần tự nuốt dị vật.
Dị vật thực quản nếu không được xử trí kịp thời có thể nguy hiểm tới tính mạng.
Ảnh: TL
Biểu hiện thường gặp
Thông thường sau khi nuốt dị vật, người bệnh có thể có các biểu hiện như nuốt khó, nuốt đau, vướng, không ăn uống được, có cảm giác vướng ở cổ, ngực, đau sau xương
ức (có thể lan ra sau lưng hay lên vai). Ở trẻ em, trẻ hay quấy khóc, không ăn uống được, miệng chảy nhiều nước bọt. Các biểu hiện nói trên khác nhau tùy theo hình dạng, kích thước dị vật, độ tuổi bệnh nhân, thời gian nuốt dị vật, vị trí dị vật bị vướng lại. Sau một thời gian, người bệnh có thể bị sốt cao, chảy nước bọt, hơi thở hôi, khó thở, ho khạc ra máu, ho đàm mủ, viêm tấy vùng cổ, nôn ra máu…
Biến chứng khó lường
Với trường hợp bệnh nhân đến khám muộn (1 – 2 ngày sau khi nuốt dị vật) có thể xảy ra những biến chứng sau: Loét thực quản, xuất huyết tiêu hóa (trường hợp dị vật là miếng thịt to hoặc có tính ăn mòn); tổn thương niêm mạc thực quản, xuất huyết tiêu hóa hay tổn thương xuyên thành thực quản (dị vật sắc nhọn)… Nghiêm trọng hơn, những biến chứng nói trên có nguy cơ dẫn tới viêm thực quản lan tỏa, viêm quanh thực quản cổ, áp xe vùng cổ, thủng thực quản, viêm trung thất, áp xe trung thất, viêm mủ màng phổi, sốc nhiễm trùng nhiễm độc, dị vật đâm thủng mạch máu lớn trong lồng ngực hoặc viêm lan tỏa làm hoại tử các mạch máu lớn dẫn đến xuất huyết nặng. Nếu không chẩn đoán và điều trị kịp thời có thể dẫn đến tử vong nhanh chóng.
Phòng bệnh thế nào?
Để tránh những biến chứng do dị vật thực quản, nên giữ các thói quen tốt như: Ăn chậm, nhai kỹ; hạn chế nói chuyện, đùa giỡn khi ăn; cẩn thận với các loại thịt cá chưa được lọc bỏ xương hoặc trái cây có hạt lớn, sắc nhọn; dùng chỉ nha khoa thay tăm; cắt nhỏ thịt; chú ý chọn thực phẩm mềm cho người già và trẻ em; chú ý bỏ vỏ bao thuốc khi uống – nhất là vỏ có cạnh sắc nhọn. Khi lỡ nuốt dị vật, bệnh nhân cần được đưa đến khám tại các cơ sở y tế ngay cả khi chưa có triệu chứng rõ rệt; không nên tự ý chạy chữa, có thể nguy hiểm tính mạng.
Bác sĩ Hữu Ngô
Tuyển dụng nhân viên
Our Spring Sale Has Started
You can see how this popup was set up in our step-by-step guide: https://wppopupmaker.com/guides/auto-opening-announcement-popups/