Các nhà khoa học Mỹ vừa cho biết, một đoạn chi tiết di truyền của nấm men đã được tạo ra và chúng được ráp lại với nhau, đây là đột phá được hình thành từ rác, điều này đã mở đường cho các “nhà thiết kế” có thể tạo ra những loại thuốc mới, những sản phẩm thực phẩm và các loại nhiên liệu [Xem thêm: thuốc chữa bệnh hen suyễn] sinh học.

Chế tạo men nhân tạo

Các nhà nghiên cứu đã lấy những đoạn nhỏ ADN nhân tạo và nối chúng lại với nhau nhằm tạo ra một phiên bản nhiễm sắc thể (NST) tổng hợp, cấu trúc có chứa ADN bên trong các tế bào, từ nấm men nuôi cấy. Khả năng tạo ra những NST như thế là một bước tiến lớn trong lĩnh vực sinh học tổng hợp, nhằm mục đích để thiết [Xem thêm: thuoc tri hen suyen] kế ra những vi khuẩn có thể sản xuất ra những sản phẩm hữu dụng. Công việc này cũng đưa các nhà khoa học sát lại gần nhau hơn nhằm tạo ra các loài động vật và thực vật tổng hợp.

Ông Jef Boeke, một nhà sinh học tổng hợp, công tác tại Trung tâm y khoa NYU Langone (New York, Mỹ).

Ông Jef Boeke, một nhà sinh học tổng hợp, công tác tại Trung tâm y khoa NYU Langone (New York, Mỹ).

Để chế tạo ra một NST nhân tạo, ông Jef Boeke, Trung tâm Y khoa NYU Langone cùng đồng nghiệp đã sử dụng phần mềm vi tính để thiết kế ra một phiên bản sửa đổi của loại NST men III (gọi là synIII) và họ đã kết hợp nó với men nuôi cấy (Saccharomyces cerevisiae). Sở dĩ họ chọn loại NST này bởi vì nó là một trong những loại men nhỏ nhất trong số 16 NST nấm men và kiểm soát cách mà các tế bào giao phối và những thay đổi di truyền. Các nhà nghiên cứu đã mất tới 7 năm để kết nối các NST tổng hợp lại với nhau từ các mẫu ADN. Các sinh viên tốt nghiệp từ Đại học Johns Hopkins đã tiến hành nung chảy các mẩu ADN thành những mảnh dài hơn, như là một phần của một dự án cổ điển và một số sinh viên trong số đó đã là đồng tác giả của cuộc nghiên cứu hôm nay.

Nhóm nghiên cứu của ông Jef Boeke đã tinh chỉnh hơn 500 bộ gen bản địa, loại bỏ những phần lặp đi lặp lại và cái gọi là “ADN vặt” (không có vai trò mã hóa các chất đạm, các phân tử thực hiện những nhiệm vụ quan trọng bên trong các tế bào) bao gồm cái gọi là “các gen nhảy”, mà ngẫu nhiên chúng đã di chuyển xung quanh NST. Các nhà nghiên cứu cũng gắn thẻ vào ADN để dán nhãn cho nó là tự nhiên hay tổng hợp. Theo ông Jef Boeke, NST hoàn thành là “hoàn toàn bình thường”, ông nói thêm rằng men với ADN tổng hợp “đã hành xử gần giống với các tế bào men tự nhiên”. Bằng cách sử dụng một kỹ thuật gọi là “xáo trộn”, các nhà khoa học có thể trộn lẫn các gen men như người ta đang xóc bài.

Các nhà nghiên cứu có thể tạo ra hàng triệu triệu các thẻ di truyền khác nhau, làm cho men có những đặc tính hoàn toàn mới. Chẳng hạn như, có thể làm ra những chủng nấm [Xem thêm: bệnh phổi mãn tính] men tổng hợp nhằm sản sinh những loại thuốc mới, như thuốc chống sốt rét, hoặc những loại vaccin như vaccin viêm gan B. Men tổng hợp cũng có thể tạo ra những loại nhiên liệu sinh học hiệu quả hơn, như cồn, butanol hoặc diesel sinh học, mà có thể cho phép nhân loại đi tắt khỏi nền kinh tế phụ thuộc dầu khí, theo nghiên cứu của ông Boeke. Các nhà nghiên cứu phát biểu thêm, ngoài những ứng dụng thực tế, nấm men tổng hợp còn có thể được sử dụng để nghiên cứu về các chức năng và việc tương tác của các loại gen khác nhau, nhằm tìm hiểu cách thức làm thế nào mà các mạng lưới gen đã ảnh hưởng đến hành vi.

Nhà thiết kế bộ gen

Trong những năm gần đây, các nhà khoa học đã tạo ra những NST tổng hợp từ vi khuẩn và virut, nhưng đây là lần đầu tiên NST được xây dựng từ một Eukaryote, một sinh vật mà các tế bào có mang nhân. Ông Craig Venter và các đồng nghiệp của mình tại Viện Nghiên cứu J. Craig Venter đã tạo ra loại vi khuẩn tổng hợp đầu tiên trên thế giới vào năm 2010 cho biết, có thể được sử dụng để tái viết nên một chương mới về các chuỗi NST ở quy mô siêu lớn.

Các nhà nghiên cứu đã có kế hoạch tổng hợp một bộ gen nấm men hoàn chỉnh với tất cả 16 NST. Nhóm của ông Jef Boeke đang lên các kế hoạch tổng hợp những NST lớn hơn, đồng thời làm điều đó nhanh hơn và rẻ hơn. Bên cạnh mặt tiện ích, cũng đang có những câu hỏi dấy lên về tính đạo đức của việc tạo ra những bộ gen nhân tạo, đặc biệt là trong những sinh vật phức tạp như các loài động vật. Ông Jef Boeke nhận xét: “Sẽ có những thách thức đối với ý tưởng, cách thức mới để tiến hành những điều đó và những mối quan tâm – một số khá hợp pháp – về vấn đề an toàn. Nhưng con người đã thuần hóa thực và động vật trong một thời gian dài, trải rộng từ việc chọn lọc giống đến các loài biến đổi gen”.

“Ngay bây giờ chi phí cho việc tổng hợp các NST là quá cao, nhưng điều đó có thể thay đổi nếu công nghệ được cải thiện. Tôi cũng có những dự báo về việc thiết kế nên các NST mini sẽ được phát triển đầu tiên, xây dựng các liệu pháp gen mà có thể điều trị nhiều loại bệnh tật bằng cách thay thế các gen khiếm khuyết với những chức năng riêng. Thực vật tổng hợp và bộ gen động vật là một hành trình dài, nhưng cái ngày đó sẽ đến” – ông Boeke nhấn mạnh.

(Theo CSM, 2014)

Nguyễn Thanh Hải

Những mỹ nhân Việt tài năng vẫn 'muộn chồng Những mỹ nhân Việt tài năng vẫn “muộn” chồng Top 10 phụ nữ đẹp nhất thế giới: Làn da màu lên ngôi Top 10 phụ nữ đẹp nhất thế giới: Làn da màu lên ngôi Điểm danh 10 thứ làm đẹp cơ thể nhưng là 'kẻ thù của da mặt Điểm danh 10 thứ làm đẹp cơ thể nhưng là “kẻ thù” của da mặt

 

Khi ăn hoa quả, bạn thường nghĩ ăn càng nhiều càng tốt. Nhưng đó là những sai lầm bởi nếu ăn quá nhiều hoặc ăn không đúng cách, sẽ không có lợi cho sức khỏe và thậm chí có thể gây hại.

Dưa hấu

Dưa hấu là một loại quả tốt nhất trong mùa hè nóng bức. Theo y học, dưa hấu có tính vị ngọt mát, không độc, giải nhiệt do say nắng gây tụt huyết áp. Ngoài ra, còn có tác dụng tiêu viêm, lợi tiểu, trị giun sán, giải độc rượu…

Tuy nhiên, nếu bạn ăn quá nhiều dưa hấu, nó sẽ gây hại cho lá lách, dạ dày và dẫn đến chán ăn và thậm chí khó tiêu. Đặc biệt là đối với người cao tuổi, chức năng tiêu hóa của họ đã giảm, nếu ăn quá nhiều dưa hấu, nó có thể gây ra chứng chán ăn, tiêu chảy và các bệnh đường ruột khác.

Lưu ý khi ăn dưa hấu: Đối với người hay bị tiêu chảy thì không nên dùng nhiều dưa hấu. Dưa hấu khi bổ ra thì phải ăn ngay, nếu để lâu và bảo quản không tốt rất dễ gây đau bụng. Khi ăn dưa bạn nên chấm cùng một chút muối để tăng thêm vị ngọt của dưa đồng thời còn có tác dụng nhuận tràng…

Lầm tưởng tai hại về tác dụng của hoa quả

Dưa hấu

Quả đào

Theo Đông y, đào tính ấm, vị ngọt chua, rất nhiều ảnh hưởng sức khỏe trên cơ thể con người. Trong thịt quả đào chứa nhiều sắt, giúp phòng ngừa thiếu máu do thiếu sắt, trị ho, lợi tiểu, phòng chống ung thư…Đào là nguồn niacin, thiamin, kali và can-xi tuyệt vời. Đào cũng có hàm lượng cao beta-caroten – một chất chống ô-xy hóa chuyển thành vitamin A. Nó rất cần cho sức khỏe của tim và mắt. Người mà chế độ ăn có hàm lượng vitamin [Xem thêm: benh phoi tac nghen man tinh] A cao ít bị đục thủy tinh thể hơn. Lượng chất chống ô-xy hóa trong quả đào cũng hỗ trợ duy trì hệ tiết niệu và tiêu hóa. Nó cũng được coi là một chất làm sạch và giải độc cho thận.

Tuy nhiên, ăn quá nhiều đào sẽ tạo ra nhiệt quá mức trong cơ thể. Do đó, những người bị khát nước hoặc đau cổ họng không nên ăn quá nhiều đào.

 

Lầm tưởng tai hại về tác dụng của hoa quả

Quả đào

Quả vải

Vải tươi chứa hàm lượng đường cao. Nếu bạn ăn quá nhiều vải, ăn ít tinh bột, nó sẽ dễ dàng gây hạ đường huyết, mà thường được gọi là “bệnh vải”, và sau đó dẫn đến các triệu chứng như chóng mặt, da nhợt nhạt, khát nước, buồn nôn, ra mồ hôi… Lý do là vải có chứa nhiều fructose, [Xem thêm: bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính copd] nó sẽ làm tăng đáng kể số lượng fructose trong máu. Trong trường hợp này, gan sẽ không thể chuyển đổi fructose thành glucose, do đó làm tăng lượng đường trong máu.

Xoài

Xoài được coi là “vua của các loại trái cây nhiệt đới”. Không chỉ là một loại trái cây hấp dẫn, xoài còn chứa nhiều dưỡng chất rất tốt cho sức khỏe của bạn. Xoài giàu chất chống ô-xy hóa, làm mất [Xem thêm: thuốc điều trị hen suyễn] tác dụng của các phân tử gốc tự do gây hại cho tế bào và gây ra những trục trặc cho sức khỏe như bệnh tim, già trước tuổi và ung thư.

Tuy nhiên, nó không phải là thích hợp cho những người bị thiếu hụt năng lượng hoặc suy lá lách. Nếu không, nó có thể dẫn đến nôn mửa, tiêu chảy và hiện tượng dị ứng khác.

Lầm tưởng tai hại về tác dụng của hoa quả

Quả xoài

Dứa

Dứa có nhiều vitamin có lợi cho sức khỏe và cải thiện tình trạng lão hóa da, khiến da không bị khô và bong tróc. Dứa là một loại trái cây nhiệt đới, trong đó có chứa một hàm lượng cao vitamin C. Ngoài ra, dứa chứa một loại chất đặc biệt proteinase, có thể làm tăng tính thấm của niêm mạc dạ dày.

Vì vậy, một số người có thể bị đau bụng, ngứa, buồn nôn, nhức đầu, thậm chí sốc sau khi ăn dứa. Trong trường hợp này, trước khi ăn dứa, bạn có thể ngâm dứa trong nước muối khoảng 20 phút, để tiêu diệt proteinase và giảm sự xuất hiện của phản ứng dị ứng.

Lầm tưởng tai hại về tác dụng của hoa quả

Quả dứa

 

Những hoa quả cần hạn chế trong mùa hè Những hoa quả cần hạn chế trong mùa hè 5 lợi ích từ bữa sáng với hoa quả 5 lợi ích từ bữa sáng với hoa quả Những kiểu ăn hoa quả có thể gây bệnh Những kiểu ăn hoa quả có thể gây bệnh

 

Đột quỵ là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ hai trên thế giới sau ung thư. Ở Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh đột quỵ não đang gia tăng ở mức đáng lo ngại ở cả hai giới và các lứa tuổi. Đột quỵ rất dễ tái phát và ở những lần sau, bệnh gây ra những biến chứng càng nặng nề. Do vậy, cần phải có các biện pháp dự phòng đột quỵ tái phát bằng nhiều phương pháp, trong đó có biện pháp dùng thuốc.

Hình ảnh đột quỵ não do tắc mạch máu.

Hình ảnh đột quỵ não do tắc mạch máu.

Các thuốc Tây y

Các thuốc Tây y dùng trong dự phòng bao gồm các thuốc chống đông và thuốc chống kết tập tiểu cầu. Thuốc có lợi ích dự phòng lâu dài cho nhiều nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ đột quỵ bao gồm rung nhĩ, tình trạng tăng đông… Tuy vậy, các thuốc này không làm tiêu cục máu đông và không thể tái lập nhanh tưới máu não trong giai đoạn cấp. Các thuốc chống đông kết tập tiểu cầu chủ yếu bao gồm:

Aspirin: Với bệnh nhân có tiền sử gia đình có nguy cơ mạch máu cao (tiền sử đột quỵ, nhồi máu cơ tim, bệnh động mạch ngoại vi, đái tháo đường) dùng aspirin giảm được nguy cơ xảy ra đột quỵ não và tim xấp xỉ 19%; với bệnh nhân có cơn thiếu máu não thoảng qua hoặc đột quỵ thiếu máu não trước đó, dùng aspirin giảm được xấp xỉ 19-23% đột quỵ tái phát trong 3 năm. Tác dụng không mong muốn chủ yếu của aspirin là gây biến chứng chảy máu đường tiêu hoá.

Dypiridamol: Thuốc giúp giảm nguy cơ đột quỵ ở bệnh nhân có tiền sử gia đình có nguy cơ mạch máu và ở bệnh nhân có cơn thiếu máu não thoáng qua hoặc đột quỵ trước đó xấp xỉ. Dypiridamol không gây biến chứng chảy máu tiêu hoá nhưng gây đau đầu, trong một số trường hợp người bệnh không tiếp tục điều trị thuốc này được.

Aggrenox: Là thuốc kết hợp aspirin và dypiridamol, thuốc làm giảm tác dụng không mong muốn của aspirin và tăng hiệu quả điều trị dự phòng gấp 2 lần dùng aspirin đơn độc. Nghiên cứu dự phòng đột quỵ châu Âu cho rằng, phác đồ kết hợp giữa aspirin và dypiridamol là sự lựa chọn dược lý hứa hẹn để giảm nguy cơ tái phát đột quỵ.

Clopidogrel: Thuốc làm giảm có ý nghĩa nguy cơ tái phát đột quỵ ở bệnh nhân có tiền sử thiếu máu não thoảng qua hoặc đột quỵ thiếu máu não cục bộ. Thuốc ít gây biến chứng chảy máu tiêu hoá so với aspirin.

[Xem thêm: Chua hen]

Các thuốc y học cổ truyền

Hoa đà tái tạo hoàn có tác dụng khu phong khai khiếu, hoạt huyết hoá ứ, tiêu sưng tán kết. Thuốc đã được nghiên cứu thực nghiệm trên động vật (thỏ, chó, mèo, chuột) nhận thấy thuốc làm tăng lưu lượng động mạch cảnh gốc và động mạch cảnh trong, làm tăng cường tính co bóp của cơ tim. Thuốc cũng đã được nghiên cứu thử nghiệm trên lâm sàng cho bệnh nhân sau đột quỵ não (cả đột quỵ chảy máu và đột quỵ thiếu máu não) và đã được xác định có sự cải thiện rõ lưu lượng máu não của bệnh nhân, giảm độ quánh máu, giảm chỉ số kết tập tiểu cầu, cải thiện khả năng biến dạng hồng cầu.

Luotai có tác dụng làm bền vững thành mạch máu, cải thiện vi tuần hoàn, tác động vào quá trình đông máu, giảm đau và chống viêm.

Hoạt huyết dưỡng não cũng có tác dụng cải thiện lưu lượng máu não.

Đột quỵ não là một trong những bệnh lý tạo ra [Xem thêm: Chữa hen] gánh nặng cho gia đình và xã hội vì chi phí điều trị cho đột quỵ não rất cao và tỷ lệ tàn phế rất nặng. Tuy nhiên, đột quỵ não là một bệnh có thể phòng bệnh được khi chúng ta phát hiện và điều trị sớm các yếu tố nguy cơ của bệnh như tăng huyết áp, vữa xơ động mạch, đái tháo đường, các bệnh lý tim mạch dễ tạo cục tắc như rung nhĩ loạn nhịp hoàn toàn… Vì vậy, đối với những người trên 50 tuổi nên khám bệnh định kỳ phát hiện sớm các yếu tố nguy cơ của đột quỵ não để có biện pháp phòng bệnh hiệu quả theo đúng phương châm “phòng bệnh hơn chữa bệnh”, Một khi đột quỵ đã xảy ra, bệnh nhân cần được đến bệnh viện vào các trung tâm đột quỵ để điều trị kịp thời giảm tỷ lệ tử vong và tàn phế.

TS. Hoàng Ngọc

Thuốc kích cơ bắp - Lựa chọn nguy hiểm! Thuốc kích cơ bắp – Lựa chọn nguy hiểm! 5 bài thuốc phòng ngừa bệnh sởi hiệu nghiệm 5 bài thuốc phòng ngừa bệnh sởi hiệu nghiệm Vai trò của gan trong chuyển hóa thuốc Vai trò của gan trong chuyển hóa thuốc

 

Đột quỵ là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ hai trên thế giới sau ung thư. Ở Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh đột quỵ não đang gia tăng ở mức đáng lo ngại ở cả hai giới và các lứa tuổi. Đột quỵ rất dễ tái phát và ở những lần sau, bệnh gây ra những biến chứng càng nặng nề. Do vậy, cần phải có các biện pháp dự phòng đột quỵ tái phát bằng nhiều phương pháp, trong đó có biện pháp dùng thuốc.

Hình ảnh đột quỵ não do tắc mạch máu.

Hình ảnh đột quỵ não do tắc mạch máu.

Các thuốc Tây y

Các thuốc Tây y dùng trong dự phòng bao gồm các thuốc chống đông và thuốc chống kết tập tiểu cầu. Thuốc có lợi ích dự phòng lâu dài cho nhiều nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ đột quỵ bao gồm rung nhĩ, tình trạng tăng đông… Tuy vậy, các thuốc này không làm tiêu cục máu đông và không thể tái lập nhanh tưới máu não trong giai đoạn cấp. Các thuốc chống đông kết tập tiểu cầu chủ yếu bao gồm:

Aspirin: Với bệnh nhân có tiền sử gia đình có nguy cơ mạch máu cao (tiền sử đột quỵ, nhồi máu cơ tim, bệnh động mạch ngoại vi, đái tháo đường) dùng aspirin giảm được nguy cơ xảy ra đột quỵ não và tim [Xem thêm: bệnh tắc nghẽn phổi mãn tính] xấp xỉ 19%; với bệnh nhân có cơn thiếu máu não thoảng qua hoặc đột quỵ thiếu máu não trước đó, dùng aspirin giảm được xấp xỉ 19-23% đột quỵ tái phát trong 3 năm. Tác dụng không mong muốn chủ yếu của aspirin là gây biến chứng chảy máu đường tiêu hoá.

Dypiridamol: Thuốc giúp giảm nguy cơ đột quỵ ở bệnh nhân có [Xem thêm: Chua hen] tiền sử gia đình có nguy cơ mạch máu và ở bệnh nhân có cơn thiếu máu não thoáng qua hoặc đột quỵ trước đó xấp xỉ. Dypiridamol không gây biến chứng chảy máu tiêu hoá nhưng gây đau đầu, trong một số trường hợp người bệnh không tiếp tục điều trị thuốc này được.

Aggrenox: Là thuốc kết hợp aspirin và dypiridamol, thuốc làm giảm tác dụng không mong muốn của aspirin và tăng hiệu quả điều trị dự phòng gấp 2 lần dùng aspirin đơn độc. Nghiên cứu dự phòng đột quỵ châu Âu cho rằng, phác đồ kết hợp giữa aspirin và dypiridamol là sự lựa chọn dược lý hứa hẹn để giảm nguy cơ tái phát đột quỵ.

Clopidogrel: Thuốc làm giảm có ý nghĩa nguy cơ tái phát đột quỵ ở bệnh nhân có tiền sử thiếu máu não thoảng qua hoặc đột quỵ thiếu máu não cục bộ. Thuốc ít gây biến chứng chảy máu tiêu hoá so với aspirin.

Các thuốc y học cổ truyền

Hoa đà tái tạo hoàn có tác dụng khu phong khai khiếu, hoạt huyết hoá ứ, tiêu sưng tán kết. Thuốc đã được nghiên cứu thực nghiệm trên động vật (thỏ, chó, mèo, chuột) nhận thấy thuốc làm tăng lưu lượng động mạch cảnh gốc và động mạch cảnh trong, làm tăng cường tính co bóp của cơ tim. Thuốc cũng đã được nghiên cứu thử nghiệm trên lâm sàng cho bệnh nhân sau đột quỵ não (cả đột quỵ chảy máu và đột quỵ thiếu máu não) và đã được xác định có sự cải thiện rõ lưu lượng máu não của bệnh nhân, giảm độ quánh máu, giảm chỉ số kết tập tiểu cầu, cải thiện khả năng biến dạng hồng cầu.

Luotai có tác dụng làm bền vững thành mạch máu, cải thiện vi tuần hoàn, tác động vào quá trình đông máu, giảm đau và chống viêm.

Hoạt huyết dưỡng não cũng có tác dụng cải thiện lưu lượng máu não.

Đột quỵ não là một trong những bệnh lý tạo ra gánh nặng cho gia đình và xã hội vì chi phí điều trị cho đột quỵ não rất cao và tỷ lệ tàn phế rất nặng. Tuy nhiên, đột quỵ não là một bệnh có thể phòng bệnh được khi chúng ta phát hiện và điều trị sớm các yếu tố nguy cơ của bệnh như tăng huyết áp, vữa xơ động mạch, đái tháo đường, các bệnh lý tim mạch dễ tạo cục tắc như rung nhĩ loạn nhịp hoàn toàn… Vì vậy, [Xem thêm: Chữa hen] đối với những người trên 50 tuổi nên khám bệnh định kỳ phát hiện sớm các yếu tố nguy cơ của đột quỵ não để có biện pháp phòng bệnh hiệu quả theo đúng phương châm “phòng bệnh hơn chữa bệnh”, Một khi đột quỵ đã xảy ra, bệnh nhân cần được đến bệnh viện vào các trung tâm đột quỵ để điều trị kịp thời giảm tỷ lệ tử vong và tàn phế.

TS. Hoàng Ngọc

Thuốc kích cơ bắp - Lựa chọn nguy hiểm! Thuốc kích cơ bắp – Lựa chọn nguy hiểm! 5 bài thuốc phòng ngừa bệnh sởi hiệu nghiệm 5 bài thuốc phòng ngừa bệnh sởi hiệu nghiệm Vai trò của gan trong chuyển hóa thuốc Vai trò của gan trong chuyển hóa thuốc

 

Đột quỵ là nguyên nhân tử vong đứng hàng thứ hai trên thế giới sau ung thư. Ở Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh đột quỵ não đang gia tăng ở mức đáng lo ngại ở cả hai giới và các lứa tuổi. Đột quỵ rất dễ tái phát và ở những lần sau, bệnh gây ra những biến chứng càng nặng nề. Do vậy, cần phải có các biện pháp dự phòng đột quỵ tái phát bằng nhiều phương pháp, trong đó có biện pháp dùng thuốc.

Hình ảnh đột quỵ não do tắc mạch máu.

Hình ảnh đột quỵ não do tắc mạch máu.

Các thuốc Tây y

Các thuốc Tây y dùng trong dự phòng bao gồm các thuốc chống đông và thuốc chống kết tập tiểu cầu. Thuốc có lợi ích dự phòng lâu dài cho nhiều nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ đột quỵ bao gồm rung nhĩ, tình trạng tăng đông… Tuy vậy, các thuốc này không làm tiêu cục máu đông và không thể tái lập nhanh tưới máu não trong giai đoạn cấp. Các thuốc chống đông kết tập tiểu cầu chủ yếu bao gồm:

Aspirin: Với bệnh nhân có tiền sử gia đình có nguy cơ mạch máu cao (tiền sử đột quỵ, nhồi máu cơ tim, bệnh động mạch ngoại vi, đái tháo đường) dùng aspirin giảm được nguy cơ xảy ra đột quỵ não và tim xấp xỉ 19%; với bệnh nhân có cơn thiếu máu não thoảng qua hoặc đột quỵ thiếu máu não trước đó, dùng aspirin giảm được xấp xỉ 19-23% đột quỵ tái phát trong 3 năm. Tác dụng không mong muốn chủ yếu của aspirin là gây biến chứng chảy máu đường tiêu hoá.

Dypiridamol: Thuốc giúp giảm nguy cơ đột quỵ ở bệnh nhân có tiền sử gia đình có nguy cơ mạch máu và ở bệnh nhân có cơn thiếu máu não thoáng qua hoặc đột quỵ trước đó xấp xỉ. Dypiridamol không gây biến chứng chảy máu tiêu hoá nhưng gây đau đầu, trong một số trường hợp người bệnh không tiếp tục điều trị thuốc này được.

Aggrenox: Là thuốc kết hợp aspirin và dypiridamol, thuốc làm giảm tác dụng không mong muốn của aspirin và tăng hiệu quả điều trị dự phòng gấp 2 lần dùng aspirin đơn độc. Nghiên cứu dự phòng đột quỵ châu Âu cho rằng, phác đồ kết hợp giữa aspirin và dypiridamol là sự lựa chọn dược lý hứa hẹn để giảm nguy cơ tái phát đột quỵ.

Clopidogrel: Thuốc làm giảm có ý nghĩa nguy cơ tái phát đột quỵ ở bệnh nhân có tiền sử thiếu máu não thoảng qua hoặc đột quỵ thiếu máu não cục bộ. Thuốc ít gây biến chứng chảy máu tiêu hoá so với aspirin.

Các thuốc y học cổ truyền

Hoa đà tái tạo hoàn có tác dụng khu phong khai khiếu, hoạt huyết hoá ứ, tiêu sưng tán kết. Thuốc đã được nghiên cứu thực nghiệm trên động vật (thỏ, chó, mèo, chuột) nhận thấy thuốc làm tăng lưu lượng động mạch cảnh gốc và động mạch cảnh trong, làm tăng cường tính co bóp của cơ tim. Thuốc cũng đã được nghiên cứu thử nghiệm trên lâm sàng cho bệnh nhân sau đột [Xem thêm: Chua hen] quỵ não (cả đột quỵ chảy máu và đột quỵ thiếu máu não) và đã được xác định có sự cải thiện rõ lưu lượng máu não của bệnh nhân, giảm độ quánh máu, giảm chỉ số kết tập tiểu cầu, cải thiện khả năng biến dạng hồng cầu.

Luotai có tác dụng làm bền vững thành mạch máu, cải thiện vi tuần [Xem thêm: bệnh tắc nghẽn phổi mãn tính] hoàn, tác động vào quá trình đông máu, giảm đau và chống viêm.

Hoạt huyết dưỡng não cũng có tác dụng cải thiện lưu lượng máu não.

Đột quỵ não là một trong những bệnh lý tạo ra gánh nặng cho gia đình và xã hội vì chi phí điều trị cho đột quỵ não rất cao và tỷ lệ tàn phế rất nặng. Tuy nhiên, đột quỵ não là một bệnh có thể phòng bệnh được khi chúng ta phát hiện và điều trị sớm các yếu tố nguy cơ của bệnh như tăng huyết áp, vữa xơ động mạch, đái tháo đường, các bệnh lý tim mạch dễ tạo cục tắc như rung nhĩ loạn nhịp hoàn toàn… Vì vậy, đối với những người trên 50 tuổi nên khám bệnh định kỳ phát hiện sớm các yếu tố nguy cơ của đột quỵ não để có biện pháp phòng bệnh hiệu quả theo đúng phương châm “phòng bệnh hơn chữa bệnh”, Một khi đột quỵ đã xảy ra, bệnh nhân cần được đến bệnh viện vào các trung tâm đột quỵ để điều trị kịp thời giảm tỷ lệ tử vong và tàn phế.

TS. Hoàng Ngọc

Thuốc kích cơ bắp - Lựa chọn nguy hiểm! Thuốc kích cơ bắp – Lựa chọn nguy hiểm! 5 bài thuốc phòng ngừa bệnh sởi hiệu nghiệm 5 bài thuốc phòng ngừa bệnh sởi hiệu nghiệm Vai trò của gan trong chuyển hóa thuốc Vai trò của gan trong chuyển hóa thuốc

 

Tweet

Trong Đông y, để chữa chứng đái dầm có một phương pháp rất độc đáo, đơn giản, rẻ tiền, dễ làm mà có khi lại thu được kết quả không ngờ, đó là cách đắp thuốc vào rốn, người xưa gọi là “Phu tề liệu pháp”. Dưới đây xin được giới thiệu một số ví dụ điển hình để bạn đọc tham khảo và vận dụng khi cần thiết.

Bài 1: Tang phiêu tiêu, khiếm thực, lưu hoàng, ngũ bội tử, lượng vừa đủ. Tất cả sấy khô, tán bột, mỗi lần dùng 5g trộn với nước thành dạng cao rồi đắp vào rốn, cố định bằng băng dính hoặc vải gạc, 2 ngày thay thuốc một lần, 5 lần là một liệu trình. Công dụng: Tang phiêu tiêu bổ thận trợ dương, cố tinh sáp niệu; khiếm thực ích thận sáp niệu; lưu hoàng bổ hỏa tráng dương, ôn ấm hạ tiêu hư lãnh. Bài thuốc dùng tốt cho trẻ đái dầm do thận dương bất túc.

Phương pháp độc đáo chữa đái dầm ở trẻ
Tang phiêu tiêu

Bài 2: Sinh khương (gừng) 30g, phá cố chỉ 12g, phụ tử chế 6g. Phụ tử và phá cố chỉ tán bột, sau đó cho sinh khương vào giã nát thành dạng cao rồi đắp vào rốn, cố định bằng vải gạc hoặc băng dính, vài ngày thay thuốc một lần. Công dụng: Ôn thận sáp niệu, đạt hiệu quả từ 80 – 90%.

Phương pháp độc đáo chữa đái dầm ở trẻ
Khương sinh

Bài 3: Hành trắng cả rễ 3 nhánh (dài chừng 5cm), lưu hoàng 30g. Hai thứ cùng giã nát thành dạng cao rồi đắp lên rốn, cố định bằng băng dính trong 8 giờ rồi bỏ ra. Công dụng: Hành ôn kinh tán hàn, thông khí bàng quang; lưu hoàng ôn bổ mệnh môn hỏa, cả hai phối hợp với nhau có tác dụng sáp niệu, trị đái dầm.

Bài 4: Lưu hoàng 30g, hành tây 120, hà thủ ô 30g. Hà thủ ô và lưu hoàng tán thành bột, hành tây giã nát, trộn tất cả với dấm gạo thành dạng cao rồi đắp vào rốn, cố định bằng băng dính, mỗi ngày thay thuốc một lần, 5 lần là một liệu trình.

Bài 5: Bạch truật 20g, bạch thược 20g, bạch phàn 20g, lưu hoàng 20g, cam thảo 20g. Tất cả tán thành bột, mỗi lần lấy 10g hòa với nước thành dạng cao rồi đắp vào rốn, cố định bằng băng dính, 3 ngày thay thuốc một lần.

So với các phương pháp trị liệu khác, “Phu tề liệu pháp” dễ được con trẻ chấp nhận hơn vì không gây đau đớn sợ hãi do châm chích hoặc cảm giác khó chịu, buồn nôn do mùi vị khác lạ của thuốc uống. Điều duy nhất cần lưu ý là: Nếu trẻ bị dị ứng tại chỗ do thuốc đắp thì phải bỏ thuốc ra, rửa sạch rốn bằng nước muỗi ấm và chuyển dùng phương pháp khác.

Thạc sĩ Hoàng Khánh Toàn

Viêm loét dạ dày

Tin liên quan:
Sẽ tiêm miễn phí vắc xin sởi - rubella cho 23 triệu trẻ em

Sẽ tiêm miễn phí vắc xin sởi – rubella cho 23 triệu trẻ em
23/04/2014 09:12

Hạn chế trẻ đái dầm

Hạn chế trẻ đái dầm
21/04/2014 16:43

Con đái dầm, cha mẹ làm gì?

Con đái dầm, cha mẹ làm gì?
21/04/2014 16:42

Tại sao trẻ đái dầm?

Tại sao trẻ đái dầm?
21/04/2014 16:41

Chữa tật đái dầm cho bé

Chữa tật đái dầm cho bé
21/04/2014 16:40

Rau mùi tàu chữa đái dầm ở trẻ nhỏ

Rau mùi tàu chữa đái dầm ở trẻ nhỏ
21/04/2014 16:38

Tin cũ hơn:
Giúp phòng, chữa bệnh sởi hiệu quả Giúp phòng, chữa bệnh sởi hiệu quả
21/04/2014 09:17
Bảo vệ mắt trẻ trong mùa thi Bảo vệ mắt trẻ trong mùa thi
15/04/2014 16:13
Mua giày cho con, mẹ nên cẩn thận Mua giày cho con, mẹ nên cẩn thận
15/04/2014 04:10
Trẻ tự kỷ là một món quà được gói kín của tạo hóa Trẻ tự kỷ là một món quà được gói kín của tạo hóa
13/04/2014 08:16
Đắp thuốc chữa chứng đái dầm ở trẻ em Đắp thuốc chữa chứng đái dầm ở trẻ em
08/04/2014 [Xem thêm: Chữa bệnh mất ngủ] 11:26
Cha mẹ chính là bác sĩ trị liệu tốt nhất cho trẻ tự kỷ Cha mẹ chính là bác sĩ trị liệu tốt nhất cho trẻ tự kỷ
07/04/2014 08:10
Trang kế >>

Thủy đậu là một bệnh có tính lây nhiễm rất cao và để lại nhiều biến chứng nguy hiểm. Phòng bệnh bằng vaccin được xem là biện pháp hữu hiệu nhất hiện nay. Đây là điều hầu hết các bậc cha mẹ đều biết, nhưng tiêm như thế nào và vào lúc nào để bảo vệ tốt nhất cho con em thì vẫn chưa được chú ý nhiều.

Bệnh dễ lây lan

Mỗi năm vào khoảng tháng 2, thủy đậu trở thành mối lo của các bậc phụ huynh có con nhỏ, đặc biệt là trẻ từ 1 – 13 tuổi, vì đây là thời điểm bệnh thủy đậu dễ xảy ra. Có đến 90% số trẻ em mắc bệnh trong giai đoạn 1 – 10 tuổi. Bệnh biểu hiện qua các ban sần – mụn nước gây khó chịu và ngứa toàn thân, kèm theo sốt. Trẻ thường gãi móng tay vào mụn nước khiến chúng vỡ ra gây nhiễm trùng, do đó, lẽ ra con siêu vi trùng này chỉ gây tổn thương nông ở bề mặt da, nay bị các vi khuẩn làm tổn thương sâu da bé, khi lành bệnh tạo thành sẹo.

Một số ít trường hợp thường xảy ra ở những trẻ suy dinh dưỡng, đề kháng kém, virút chạy thẳng vào máu, tàn phá các cơ quan như thận, não, gan… gây tình trạng sốt, trẻ li bì, quờ quạng tay [Xem thêm: Chữa bệnh hen suyễn] chân, có thể co giật phải đưa gấp đến bệnh viện [Xem thêm: Chua benh hen suyen] vì có thể trẻ đã bị viêm não do thủy đậu. Những trường hợp này nếu tích cực hồi sức, chữa trị khi khỏi cũng dễ để lại di chứng thần kinh như: điếc, động kinh, trí tuệ chậm phát triển. Nếu trẻ sốt cao, ho nhiều thì coi chừng bé bị viêm phổi do thủy đậu.

Nguy hiểm và dễ lây lan như thế nhưng không ít người vẫn cho rằng, thủy đậu là bệnh nhẹ nên chủ quan và không chú ý đến việc phòng ngừa. Nhiều trường hợp cha mẹ chỉ khi thấy trẻ khác bị thủy đậu mới đưa con đi tiêm phòng, nhưng lúc đó đã muộn.

Tiêm vaccin phòng thủy đậu khi nào?

Nên tiêm vaccin phòng thủy đậu cho trẻ trước khi mùa dịch xảy ra.
Ảnh: VT

Nên tiêm chủng trước khi mùa dịch bắt đầu

Ngoài việc cách ly, vệ [Xem thêm: Chua benh mat ngu] sinh và chăm sóc cẩn thận cho trẻ khi bị bệnh, tiêm vaccin chính là biện pháp hữu hiệu nhất để bảo vệ trẻ và cả người lớn tránh khỏi thủy đậu vì đây là bệnh có khả năng lây lan sớm, độ lây lan cao. Tuy nhiên, khi tiêm phòng thủy đậu cho trẻ và cho bản thân, cần lưu ý đến một số điểm sau:

– Tiêm đủ 2 liều vaccin cho cả trẻ em và người lớn để bảo vệ tối ưu.

– Vaccin có thể áp dụng cho cả trẻ em từ 12 tháng trở lên, thanh thiếu niên và người lớn chưa nhiễm bệnh.

– Phụ nữ có thai thì không tiêm vaccin này và chỉ nên có thai tốt nhất là 3 tháng sau khi tiêm phòng.

Phải thực hiện tiêm phòng cho trẻ trước khi mùa bệnh xảy ra. Vì trong mùa dịch, trẻ có thể đã tiếp xúc với người bệnh mà cha mẹ không biết, vì bệnh có thể lây lan trước khi có triệu chứng và vaccin còn chưa kịp có tác dụng.

Bác sĩ Phạm Ngọc Lan

soi


Tóm tắt

  • Sởi là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ dù đã có vắc xin an toàn và rẻ tiền.
  • Năm 2012, có 122.000 tử vong do sởi trên toàn cầu – khoảng 330 tử vong mỗi ngày hay là 14 tử vong mỗi giờ.
  • Tiêm vắc xin sởi làm cho tử vong do sởi giảm 78% từ năm 2000 đến 2012 toàn cầu.
  • Năm 2012, khoảng 84% trẻ em toàn cầu được tiêm một liều vắc xin sởi trước khi một tuổi – so với 72% năm 2000.
  • Từ năm 2000, hơn 1 tỷ trẻ em ở các quốc gia nguy cơ cao được tiêm vắc xin chống bệnh này thông qua các chiến dịch tiêm vắc xin mở rộng – khoảng 145 triệu trẻ trong năm 2012.

Sởi là một bệnh nghiêm trọng, dễ lây truyền do vi rút gây ra. Năm 1980, trước khi tiêm vắc xin rộng rãi, sởi gây ra khoảng 2,6 triệu tử vong mỗi năm.

Sởi vẫn là một nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ em trên toàn cầu, dù đã có sẵn vắc xin an toàn và rẻ tiền. Khoảng 122.000 người chết do sởi năm 2012 – hầu hết là trẻ em dưới 5 tuổi.

Sởi gây ra bởi vi rút paramyxovirus. Vi rút sởi bình thường sinh sống trong tế bào lót thành sau họng và phổi. Sởi là một bệnh của loài người và không xảy ra ở động vật.

Tiêm ngừa được đẩy mạnh đã tác động to lớn đến việc giảm tử vong do sởi. Từ năm 2000, hơn một tỷ trẻ em ở những quốc gia nguy cơ cao được tiêm ngừa bệnh này thông qua các chiến dịch tiêm vắc xin mở rộng – khoảng 145 triệu trẻ trong năm 2012. Tử vong do sởi toàn cầu đã giảm được 78%, từ con số ước tính 562.400 còn 122.000.

Dấu hiệu và triệu chứng

Dấu hiệu đầu tiên của sởi thường là sốt cao, bắt đầu khoảng 10 đến 12 ngày sau khi tiếp xúc với vi rút, và kéo dài từ 4 đến 7 ngày. Chảy mũi nước, ho, mắt đỏ và chảy nước mắt, những đốm nhỏ ở mặt trong má có thể phát sinh trong giai đoạn khởi phát. Sau vài ngày, ban đỏ xuất hiện, thường ở mặt và phần trên cổ. Sau khoảng 3 ngày, ban đỏ lan rộng, cuối cùng xuống tới bàn tay và bàn chân. Ban đỏ kéo dài 5 đến 6 ngày và sau đó biến mất. Trung bình, ban đỏ xuất hiện 14 ngày sau khi tiếp xúc với vi rút (trong khoảng 7 đến 18 ngày).

Sởi nặng nhiều khả năng xảy ra ở trẻ nhỏ, dinh dưỡng kém, nhất là trẻ thiếu vitamin A hoặc là trẻ có hệ miễn dịch suy yếu vì HIV/AIDS hoặc vì bệnh khác. Hầu hết các tử vong có liên quan đến sởi do các biến chứng đi kèm với sởi gây ra. Biến chứng thường gặp hơn ở trẻ dưới 5 tuổi hoặc ở người lớn hơn 20 tuổi. Biến chứng nghiêm trọng nhất bao gồm mù, viêm não (nhiễm trùng gây phù não), tiêu chảy nặng và mất nước, nhiễm trùng tai, hoặc nhiễm trùng hô hấp nặng như viêm phổi. Đến 10% các trường hợp sởi bị tử vong trong những cộng đồng có mức suy dinh dưỡng cao và thiếu hệ thống y tế đúng mức. Phụ nữ bị sởi khi có thai cũng có nguy cơ mắc biến chứng nghiêm trọng và thai có thể bị hư hoặc sinh non. Người khỏi bệnh sởi được miễn dịch đến cuối đời.

Ai có nguy cơ?

Trẻ nhỏ không tiêm ngừa có nguy cơ sởi và biến chứng của nó cao nhất, gồm cả tử vong. Phụ nữ có thai cũng có nguy cơ. Bất kỳ ai không có miễn dịch (người không từng được tiêm ngừa hoặc đã tiêm ngừa nhưng không phát sinh miễn dịch) cũng có thể mắc bệnh

Sởi vẫn thường gặp ở nhiều quốc gia đang phát triển – đặc biệt ở Châu Phi và Châu Á. Hơn 20 triệu người mắc bệnh sởi mỗi năm. Sô đông các tử vong do sởi (hơn 95%) xảy ra ở các quốc gia thu nhập thấp và hạ tầng y tế yếu kém. Các đợt dịch sởi có thể đặc biệt chết người ở những quốc gia đang chịu đựng hoặc đang hồi phục khỏi thảm họa thiên nhiên hoặc chiến tranh. Tổn hại của hạ tầng y tế hoặc các dịch vụ y tế là gián đoạn việc tiêm ngừa thường xuyên, và quá tải tại những trại cư trú làm tăng rất nhiều nguy cơ nhiễm trùng.

Lây truyền

Vi rút lây nhiễm cao lây truyền qua ho và nhảy mũi, giao tiếp cá nhân gần gủi hoặc trực tiếp tiếp xúc với nước mũi hoặc đàm trong họng đã nhiễm trùng.

Vi rút tiếp tục hoạt động và lây truyền trong không khí hoặc trên các bề mặt đã nhiễm trùng sau đến hai giờ. Nó có thể lan từ một người nhiễm trùng 4 ngày trước khi khởi phát ban đỏ đến 4 ngày sau khi ban đỏ bùng phát.

Bùng phát sởi có thể trở thành dịch, gây nhiều tử vong, nhất là ở trẻ còn nhỏ, suy dinh dưỡng. Ở những quốc gia sởi đã được loại bỏ phần lớn, các trường hợp nhập khẩu từ quốc gia khác vẫn là một nguồn nhiễm quan trọng.

Điều trị

Không có một điều trị chống vi rút đặc hiệu nào cho vi rút sởi.

Biến chứng nghiêm trọng từ sởi có thể tránh được thông qua chăm sóc hỗ trợ, bảo đảm dinh dưỡng tốt, uống nước đầy đủ và điều trị mất nước bằng dung dịch uống bù nước do WHO khuyến cáo. Dung dịch này thay thế dịch và các chất thiết yếu khác đã bị mất do tiêu chảy hoặc ói. Có thể cho kháng sinh để điều trị nhiễm trùng mắt và tai, và viêm phổi.

Tất cả trẻ em ở những nước đang phát triển được chẩn đoán sởi nên uống hai liều vitamin A, cách nhau 24 giờ. Điều trị này phục hồi nồng độ vitamin A thấp trong bệnh sởi, ngay cả ở trẻ em dinh dưỡng tốt và có thể ngăn ngừa tổn thương và mù mắt. Vitamin A đã được chứng minh làm giảm số lượng tử vong do sởi đến 50%.

Phòng ngừa

Tiêm ngừa sởi thường qui cho trẻ em, cùng với những chiến dịch tiêm chủng mở rộng ở những quốc gia tỉ lệ mắc bệnh và tỉ lệ tử vong cao là những phương pháp y tế công cộng then chốt để làm giảm tử vong do sởi toàn cầu. Vắc xin sởi đã được sử dụng được 50 năm. Nó an toàn, hữu hiệu và rẻ tiền. Chỉ mất không tới một đô la Mỹ để tiêm ngừa sởi cho trẻ.

Vắc xin sởi thường được kết hợp với vắc xin rubella và/hoặc quai bị, nơi các bệnh này đang là vấn đề. Nó riêng lẻ hoặc kết hợp đều hiệu quả như nhau.

Năm 2012, khoảng 85% trẻ em trên thế giới được tiêm một liều vắc xin sởi trước khi được một tuổi qua các dịch vụ y tế thường qui – tăng lên từ 72% năm 2000. Hai liều vắc xin được đề nghị sử dụng để bảo đảm miễn dịch và ngăn ngừa những đợt bùng phát, bởi vì 15% trẻ được tiêm ngừa không phát sinh miễn dịch từ mũi đầu tiên.

Phản ứng WHO

Mục tiêu Thiên niên kỷ Toàn cầu thứ tư (The fourth Millennium Development Goal – MDG 4) nhằm mục đích giảm tỉ lệ tử vong trẻ dưới 5 tuổi được hai phần ba từ năm 1990 đến 2015. Công nhận khả năng của tiêm vắc xin sởi làm giảm tử vong trẻ em và do mức bao phủ tiêm vắc xin sởi là một dấu hiệu tiếp cận các dịch vụ y tế trẻ em, bao phủ tiêm vắc xin sởi thường qui đã được chọn làm một chỉ số tiến bộ trong việc đạt được MDG 4.

Chứng cứ chỉ rõ lợi ích của việc cung cấp phổ biến vắc xin sởi và rubella. Trên toàn cầu, ước tính 562.400 trẻ chết vì bệnh sởi năm 2000. Vào năm 2012, sự thúc đẩy toàn cầu để cải thiện mức tiêm vắc xin đã làm giảm đến 78% tử vong. Từ năm 2000, với sự hỗ trợ của Sáng kiến Sởi & Rubella (M&R Initiative) hơn 1 tỷ trẻ đã được tiêm vắc xin thông qua các chiến dịch tiêm chủng mở rộng – khoảng 145 triệu trong năm 2012.

Sáng kiến Sởi & Rubella là một nỗ lực hợp tác của WHO, UNICEF, Chữ Thập Đỏ Hoa Kỳ, Trung tâm Phòng Chống Bệnh Hoa Kỳ (CDC) và UN Foundation nhằm hỗ trợ các quốc gia đạt được mục đích kiểm soát sởi và rubella.

Năm 2012, Sáng kiến Sởi & Rubella đưa ra một Kế hoạch Chiến lược Sởi và Rubella Toàn cầu, giai đoạn 2012 – 2020. Kế hoạch bao gồm những mục tiêu toàn cầu mới đến năm 2015 và 2020:

Đến cuối năm 2015

  • Giảm tử vong sởi toàn cầu ít nhất 95% so với năm 2000.
  • Đạt được các mục tiêu cấp vùng loại trừ sởi và rubella/hội chứng rubella bẩm sinh.

Đến cuối năm 2020

  • Đạt được mục tiêu loại trừ sởi và rubella tại ít nhất năm vùng WHO.

Chiến lược tập trung vào việc áp dụng năm thành phần cốt lõi:

  1. Đạt được và duy trì mức độ tiêm vắc xin cao với hai liều vắc xin sởi và rubella;
  2. Theo dõi bệnh sởi bằng cách khảo sát hữu hiệu và đánh giá những nỗ lực chương trình để bảo đảm sự tiến bộ và tác động tích cực của hoạt động tiêm vắc xin;
  3. Phát triển và duy trì sự sẵn sàng đối phó đợt bùng phát, đáp ứng nhanh các đợt bùng phát và điều trị hữu hiệu các trường hợp bệnh;
  4. Truyền thông và hợp tác để xây dựng sự tin tưởng công cộng và yêu cầu miễn dịch;
  5. Tiến hành các nghiên cứu và phát triển cần thiết để hỗ trợ những hoạt động tiết kiệm và cải thiện việc tiêm vắc xin và các dụng cụ chẩn đoán.

Ứng dụng Kế hoạch Chiến lược có thể bảo vệ và cải thiện cuộc sống của trẻ em và bà mẹ khắp toàn cầu một cách nhanh chóng và bền vững. Kế hoạch này cung cấp những chiến lược rõ ràng cho các nhà quản lý miễn dịch cấp quốc gia, làm việc với các thành viên tại chỗ và quốc tế, để đạt được các mục tiêu kiểm soát và loại trừ sởi và rubella năm 2015 và năm 2020. Kế hoạch xây dựng  trên nhiều năm kinh nghiệm trong việc ứng dụng các chương trình miễn dịch và tích hợp các bài học từ sáng kiến kiểm soát sởi mở rộng và loại trừ bệnh bại liệt.

 

Nguồn:Tổ chức Y tế Thế Giới  – WHO
http://who.int/mediacentre/factsheets/fs286/en/
Trần Thanh Xuân dịch

 

Suy nhược cơ thể là tình trạng bệnh lý kéo dài với những biểu hiện lo âu, khó ngủ, mệt mỏi, làm việc năng suất giảm… Có người vượt qua trong thời gian ngắn nhưng có người phải chữa dài ngày. Vậy, khi cơ thể suy nhược cần có chế độ ăn uống cân bằng, sinh hoạt khoa học.

Nguyên nhân

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến cơ thể suy nhược. Ở một số người lao động quá sức, ăn uống kiêng khem, thiếu chất dinh dưỡng dễ dẫn đến cơ thể suy nhược. Đối với một số bệnh nhân do mắc bệnh lý tâm thần có biểu hiện rối loạn cảm xúc như bực tức, nóng nảy, đôi khi quá nhạy cảm dễ kích động. Khi đó, người bệnh thường mất cảm giác thích thú, thụ động, thiếu sức sống. Có hiện tượng rối loạn tình dục với những triệu chứng mất khoái cảm ở nữ và xuất tinh sớm, bất lực ở nam. Đối với một số người bệnh là sau khi phẫu thuật, sinh đẻ hoặc mắc một số bệnh lý mạn tính nào đó… khiến suy nhược cơ thể.

Cần làm gì khi bị suy nhược cơ thể?
Ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng giúp khắc phục  suy nhược cơ thể.

Biểu hiện

Các triệu chứng hay gặp nhất là rối loạn giấc ngủ như mất ngủ, khó ngủ, ngủ chập chờn, đôi khi có ác mộng. Có hiện tượng mỏi cơ như đau nhức cơ, chuột rút, đau lưng, mệt mỏi khi vận động. Thường thấy ù tai, hoa mắt, chóng mặt, nhức đầu, sợ ánh sáng. Ngoài ra, còn có các rối loạn lo âu với cảm giác bồn chồn, khó chịu trong cơ thể, lo sợ, bi quan, mệt, uể oải, hay đổ mồ hôi trộm, da xanh xao tái nhợt, đôi khi ngất xỉu. Có cảm giác chán ăn, đầy hơi, buồn nôn, giảm ngon miệng, sụt cân.

Cách khắc phục

Tùy theo nguyên nhân mà cách khắc phục cho phù hợp. Đối với bệnh nhân sau phẫu thuật, sinh đẻ… cơ thể giảm sút toàn thân thì bên cạnh thuốc trị bệnh chính cần bổ sung nước, điện giải, chú ý chế độ ăn uống.

Thực đơn ăn uống cần đảm bảo 4 thành phần (đạm, béo, bột đường, vitamin) nhưng cần bổ sung thêm nhiều rau xanh như súp lơ, cải chíp, những loại rau nhiều axit folic và vitamin tốt cho sức khỏe, dễ ăn. Những loại hoa quả có vị thanh như thanh long, nho, cam… Nên ăn nhiều những món ăn mà mình có cảm giác ngon và thích thú. Nếu ăn uống thấy không ngon miệng thì nên chế biến món ăn loãng, dễ tiêu.

Đối với người lao động quá sức ăn uống cần đủ chất đạm, lipit ( thịt, cá, trứng,…) và cần chú ý thêm chế độ nghỉ ngơi, học và làm việc hợp lý, nhất là đảm bảo giấc ngủ trưa từ 30 phút đến một giờ. Tránh những stress, tập thư giãn, tập thở là một trong những phương cách tốt giúp cơ thể [Xem thêm: cách trị mất ngủ] điều chỉnh nhịp thở. Cần xoa bóp chân tay, nhất là vùng lưng và các khớp gối. Không uống cà phê, bia rượu, hút thuốc lá. Nếu các biểu hiện suy nhược không được cải thiện cần đến cơ sở y tế để được tư vấn và điều trị thích hợp.

Đối với người bệnh suy nhược cơ thể do các rối loạn trầm cảm, lo âu và rối loạn thần kinh thì phải dùng các thuốc chống trầm cảm, lo âu. Việc điều trị phải liên tục và kéo dài trung bình sáu tháng đến hai năm và có bác sĩ chuyên khoa tâm thần, tâm lý, nội thần kinh theo dõi.

Thạc sĩ Nguyễn Ngọc

 

5 món giúp trị  suy nhược thần kinh 5 món giúp trị suy nhược thần kinh Suy nhược thần kinh có chữa khỏi? Suy nhược thần kinh có chữa khỏi? Suy nhược thần kinh và suy nhược cơ thể Suy nhược thần kinh và suy nhược cơ thể

 

[Xem thêm: Chăm sóc sức khỏe tại nhà]

Viêm bờ mi là một tình trạng thường gặp và hay tái phát, xảy ra khi các chất dầu kèm vi khuẩn đóng bám vào bờ mi mắt, quanh chân lông mi làm bờ mi bị viêm, tấy. Tình trạng khó chịu này làm mắt bị kích ứng, ngứa, đỏ, nóng rát, châm chích. Viêm bờ mi thường liên quan đến bội nhiễm vi khuẩn, các triệu chứng khô mắt hoặc một số bệnh ngoài da như mụn trứng cá đỏ…

Biểu hiện và những biến chứng

Viêm bờ mi là căn bệnh khá phổ biến với người trên 50 tuổi, nhưng hiện nay cũng có rất nhiều người trẻ tuổi bị bệnh này. Nguyên nhân dẫn đến bệnh viêm bờ mi do ô nhiễm môi trường đáng báo động, các rối loạn hoóc-môn, dùng thuốc và mỹ phẩm bừa bãi… đều là những yếu tố nguy cơ thuận lợi hình thành nên căn bệnh này.

Biến chứng do viêm bờ mi
Hình ảnh viêm bờ mi.

Khi bị viêm bờ mi, người bệnh thường thấy chảy nước mắt hoặc đỏ mắt, cảm giác có sạn hoặc rát mắt, ngứa mắt, mi mắt sưng và đỏ, bong da xung quanh mi mắt, có vảy ở lông mi lúc ngủ dậy, nhạy cảm với ánh sáng, nước mắt có bọt, lông mi mọc bất thường, rụng lông mi.

Mi mắt có thể xuất hiện chất nhờn và vảy bám vào lông mi làm cho hai mi mắt dính với nhau cả đêm. Người bệnh có thể phải banh mi mắt vào buổi sáng vì sự bài tiết các chất dính này. Đôi khi họ còn có thể nhận thấy các chất bài tiết trong nước mắt khô vào buổi sáng giống như cát. Viêm bờ mi thường mạn tính có thể [Xem thêm: cách trị chứng mất ngủ] ảnh hưởng đến lớp ngoài của mi mắt, vị trí mà lông mi mọc ra hoặc phần trong mi là phần tiếp xúc với nhãn cầu.

Tuy nhiên, viêm bờ mi có những biến chứng nếu người bệnh chủ quan không đi khám khi lông mi bị rụng, lông mi mọc bất thường hoặc sẹo mi hoặc những biến chứng khác như lẹo là một nhiễm khuẩn xuất phát từ vị trí gần chân lông mi. Nó là một bướu ở bờ hoặc trong mi mắt đau. Lẹo thường dễ thấy trên bề mặt mi mắt. Chảy nhiều nước mắt hoặc khô mắt cũng do bài tiết chất dầu bất thường và các hạt bám ở lông mi giống như gàu bám da đầu. Viêm bờ mi có thể làm tái phát đau mắt đỏ. Đôi khi gây ra tổn thương giác mạc do kích thích liên tục từ bờ mi bị viêm hoặc lông xiên gây xước, loét giác mạc.

Vệ sinh tốt để phòng bệnh

Viêm bờ mi khó điều trị nhưng vệ sinh tốt có thể kiểm soát được các triệu chứng và phòng bệnh. Vệ sinh mắt rất quan trọng bệnh nhân cần được hướng dẫn lật mi theo chiều đứng để vệ sinh và massage mi. Ở tư thế trên các lỗ tuyến sụn mi sẽ được bộc lộ, ta sẽ lau chùi mi từ bên này sang bên kia để loại trừ các vảy bám, dùng dung dịch rửa mắt (theo đơn của bác sĩ) để lau rửa mắt thường xuyên. Có thể dùng tăm bông, miếng gạc hay chính các ngón tay để làm công việc này. Việc lau chùi cần làm hàng ngày cho đến khi thấy không còn khó chịu gì. Cần lưu ý là việc vệ sinh mi có thể [Xem thêm: cach tri hen suyen] gây nguy hiểm cho mắt nếu không tuân thủ quy trình và dùng dụng cụ thích hợp. Đa phần các triệu chứng của viêm mi sẽ giảm trông thấy sau một thời gian vệ sinh mi và massage mi.

Viêm bờ mi là căn bệnh mạn tính khó điều trị dứt điểm nên đòi hỏi người bệnh kiên trì điều trị. Nếu có dấu hiệu bất thường cần đến khám các bệnh viện chuyên khoa.

Bác sĩ Phan Minh Ngọc

 

Viêm bờ mi dễ tái phát Viêm bờ mi dễ tái phát Viêm bờ mi do đâu? Viêm bờ mi do đâu? Viêm nhiễm bờ mi mắt, điều trị thế nào? Viêm nhiễm bờ mi mắt, điều trị thế nào?

 

Viêm [Xem thêm: cách trị chứng mất ngủ] bờ mi là một tình trạng thường gặp và hay tái phát, xảy ra khi các chất dầu kèm vi khuẩn đóng bám vào bờ mi mắt, quanh chân lông mi làm bờ mi bị viêm, tấy. Tình trạng khó chịu này làm mắt bị kích ứng, ngứa, đỏ, nóng rát, châm chích. Viêm bờ mi thường liên quan đến bội nhiễm vi khuẩn, các triệu chứng khô mắt hoặc một số bệnh ngoài da như mụn trứng cá đỏ…

Biểu hiện và những biến chứng

Viêm bờ mi là căn bệnh khá phổ biến với người trên 50 tuổi, nhưng hiện nay cũng có rất nhiều người trẻ tuổi bị bệnh này. Nguyên nhân dẫn đến bệnh viêm bờ mi do ô nhiễm môi trường đáng báo động, các rối loạn hoóc-môn, dùng thuốc và mỹ phẩm bừa bãi… đều là những yếu tố nguy cơ thuận lợi hình thành nên căn [Xem thêm: cach tri mat ngu] bệnh này.

Biến chứng do viêm bờ mi
Hình ảnh viêm bờ mi.

Khi bị viêm bờ mi, người bệnh thường thấy chảy nước mắt hoặc đỏ mắt, cảm giác có sạn hoặc rát mắt, ngứa mắt, mi mắt sưng và đỏ, bong da xung quanh mi mắt, có vảy ở lông mi lúc ngủ dậy, nhạy cảm với ánh sáng, nước mắt có bọt, lông mi mọc bất thường, rụng lông mi.

Mi mắt có thể xuất hiện chất nhờn và vảy bám vào lông mi làm cho hai mi mắt dính với nhau cả đêm. Người bệnh có thể phải banh mi mắt vào buổi sáng vì sự bài tiết các chất dính này. Đôi khi họ còn có thể nhận thấy các chất bài tiết trong nước mắt khô vào buổi sáng giống như cát. Viêm bờ mi thường mạn tính có thể ảnh hưởng đến lớp ngoài của mi mắt, vị trí mà lông mi mọc ra hoặc phần trong mi là phần tiếp xúc với nhãn cầu.

Tuy nhiên, viêm bờ mi có những biến chứng nếu người bệnh chủ quan không đi khám khi lông mi bị rụng, lông mi mọc bất thường hoặc sẹo mi hoặc những biến chứng khác như lẹo là một nhiễm khuẩn xuất phát từ vị trí gần chân lông mi. Nó là một bướu ở bờ hoặc trong mi mắt đau. Lẹo thường dễ thấy trên bề mặt mi mắt. Chảy nhiều nước mắt hoặc khô mắt cũng do bài tiết chất dầu bất thường và các hạt bám ở lông mi giống như gàu bám da đầu. Viêm bờ mi có thể làm tái phát đau mắt đỏ. Đôi khi gây ra tổn thương giác mạc do kích thích liên tục từ bờ mi bị viêm hoặc lông xiên gây xước, loét giác mạc.

Vệ sinh tốt để phòng bệnh

Viêm bờ mi khó điều trị nhưng vệ sinh tốt có thể kiểm soát được các triệu chứng và phòng bệnh. Vệ sinh mắt rất quan trọng bệnh nhân cần được hướng dẫn lật mi theo chiều đứng để vệ sinh và massage mi. Ở tư thế trên các lỗ tuyến sụn mi sẽ được bộc lộ, ta sẽ lau chùi mi từ bên này sang bên kia để loại trừ các vảy bám, dùng dung dịch rửa mắt (theo đơn của bác sĩ) để lau rửa mắt thường xuyên. Có thể dùng tăm bông, miếng gạc hay chính các ngón tay để làm công việc này. Việc lau chùi cần làm hàng ngày cho đến khi thấy không còn khó chịu gì. Cần lưu ý là việc vệ sinh mi có thể gây nguy hiểm cho mắt nếu không tuân thủ quy trình và dùng dụng cụ thích hợp. Đa phần các triệu chứng của viêm mi sẽ giảm trông thấy sau một thời gian vệ sinh mi và massage mi.

Viêm bờ mi là căn bệnh mạn tính khó điều trị dứt điểm nên đòi hỏi người bệnh kiên trì điều trị. Nếu có dấu hiệu bất thường cần đến khám các bệnh viện chuyên khoa.

Bác sĩ Phan Minh Ngọc

 

Viêm bờ mi dễ tái phát Viêm bờ mi dễ tái phát Viêm bờ mi do đâu? Viêm bờ mi do đâu? Viêm nhiễm bờ mi mắt, điều trị thế nào? Viêm nhiễm bờ mi mắt, điều trị thế nào?

 

Tweet

Thiếu cân, sụt cân nhanh chóng là biểu hiện của sự gầy ốm, suy nhược cơ thể và là nguy cơ tiềm ẩn những căn bệnh khác, đôi khi có thể dẫn tới tử vong.

Khi nhận ra mình đang rơi vào tình trạng này, người gầy ốm đôi khi chủ quan hoặc chỉ nghĩ đơn giản là ăn nhiều hơn, ngủ nhiều hơn sẽ tăng cân. Song, thực tế lại không phải như vậy, rất nhiều người gầy gần như không thể tăng cân hoặc chỉ tăng cân vài tháng rồi lại trở về trạng thái như ban đầu.

Câu hỏi đặt ra: Vì sao tăng cân chắc khoẻ và bền vững lại khó như vậy ?

Dưới đây là 4 tác động cơ bản không chỉ giúp người gầy tăng cân hiệu quả, dễ dàng mà còn đem lại một sức khoẻ tốt, cơ thể săn chắc và vóc dáng thon gọn.

Thanh lọc, thải độc cơ thể

4 tác động giúp người gầy tăng cân hiệu quả - 1

Hàng ngày, cơ thể phải tiếp xúc với rất nhiều các chất độc từ đồ ăn và không khí khói bụi. Thông thường, các tác nhân gây hại từ môi trường sẽ không gây ảnh hưởng rõ rệt tới sức khỏe của bạn. Tuy nhiên, khi các cơ quan lọc độc là gan và thận làm việc không tốt, cơ thể bị tích tụ nhiều chất độc thì đây sẽlà tác nhân gây ảnh hưởng nghiêm trọng, nhất là đối với những người gầy ốm, suy nhược cơ thể. Những biểu hiện thường thấy khi cơ thể chứa nhiều chất độc – gốc tự do gây hại là: thường xuyên mệt mỏi, chán ăn, hay ốm vặt, sức khỏe và sức đề kháng yếu. Vì vậy, các chất chống oxi hóa, chống gốc tự do sẽ là vũ khí đắc lực giúp bạn trong việc thanh lọc, thải độc này. Hãy thường xuyên bổ sung các chất chống oxi hóa tự nhiên từ thực phẩm hàng ngày như: rau, củ, quả và tảo Spirulina….

Tăng cường dinh dưỡng đầy đủ hơn

4 tác động giúp người gầy tăng cân hiệu quả - 2

Dinh dưỡng chắc chắn là yếu tố người gầy không thể bỏ qua nếu muốn tăng cân. Ăn nhiều hơn, không bỏ bữa, đặc biệt là bữa sáng là những điều kiện kiên quyết trong quá trình tăng cân của người gầy. Tuy nhiên, chỉ như vậy thì không đủ. Để tăng cân hiệu quả, ngoài việc tăng cường lượng dưỡng chất hàng ngày, người gầy cần phải đảm bảo sự đa dạng của các nhóm chất dinh dưỡng đó. Các nhóm chất người gầy cần phải có trong các bữa ăn là:

– Protein (đạm): cần bổ sung cả đạm động vật và thực vật;

– Các vitamin và chất khoáng (từ rau xanh, trái cây…);

– Các chất béo bão hòa (từ động vật) và chất béo không bão hòa (từ thực vật);

– Năng lượng (từ các thực phẩm chứa nhiều tinh bột: cơm, khoai, sắn…);

Nếu không thể bổ sung đầy đủ các nhóm chất dinh dưỡng này hàng ngày, bạn có thể nhờ tới sự trợ giúp của các thực phẩm bổ sung có nguồn gốc từ tự nhiên để đảm bảo cơ thể không bị thiếu hụt chất.

Tăng cường khả năng hấp thu tốt hơn

Đa số người gầy khó tăng cân là do khả năng hấp thu dinh dưỡng kém, đặc biệt nếu bạn đang mắc chứng đau dạ dày hay viêm đại tràng thì đây lại càng là một vấn đề nan giải.Để khắc phục nguyên nhân này, người gầy cầngia tăng số lượng lợi khuẩn (probiotics) và khả năng hoạt động của chúng trong đường ruộtbằng việc sử dụng các loại men vi sinh, sữa chua hàng ngày. Đồng thời, người gầy có thể dùng thêm những thực phẩm bổ sung có chứa các chất chống oxi hóa cao, vitamin và khoáng chất nhằm tạo môi trường tốt cho các lợi khuẩn (probiotics) phát triển….

Ngủ đủ giấc, chăm sóc cho giấc ngủ ngon và sâu hơn

4 tác động giúp người gầy tăng cân hiệu quả - 3

Giấc ngủ đóng vai trò quan trọng giúp bạn tăng cân. Thường xuyên thức khuya, ngủ không đủ giấc (ít hơn 7 – 8 tiếng/ ngày) sẽ làm cơ thể mệt mỏi, stress, căng thẳng, và giảm khả năng ăn uống. Vì vậy, giữ cho não bộ có được thời gian nghỉ ngơi hoàn toàn trong 7 – 8 tiếng/ ngày, không [Xem thêm: cách trị bệnh mất ngủ] chỉ giúp bạn khỏe hơn mà còn tăng cường khả năng ăn uống, tiêu hóa, hấp thu dinh dưỡng hàng ngày của bạn. Các phương pháp hỗ trợ để bạn có một giấc ngủ ngon, sâu giấc như: tập thể dục nhẹ nhàng trước khi đi ngủ, uống 1 ly sữa ấm vào buổi tối nhằm bổ sung 2 axit amin là Tryptophan và Phenylalanin, đây là 2 axit aminrất tốt cho giấc ngủ ngon…

Và cuối cùng, để có kết quả tốt nhất, một “chiến dịch tăng cân” thành công, người gầy nên áp dụng đồng thời cả 4 tác động trên và kết hợp tập thể dục nhẹ nhàng, vừa sức mỗi ngày. Như vậy, tăng cân không còn là việc quá khó mà đơn giản chỉ là đúng cách và kiên trì. Mong rằng, những “siêu cò hương” sẽ sớm tăng cân, khoẻ mạnh, săn chắc và có vóc dáng “chuẩn” để tự tin hơn trong cuộc sống.

Ths.Bs.Lê Thị Hải

Giám đốc TT Dinh Dưỡng – Viện dinh dưỡng Quốc Gia

Viêm loét dạ dày

Tin liên quan:
Trẻ tử vong sau tiêm vắc xin, người nhà “tố” cán bộ Trạm Y tế tắc trách

Trẻ tử vong sau tiêm vắc xin, người nhà “tố” cán bộ Trạm Y tế tắc trách
24/04/2014 08:21

Một bệnh nhi tử vong sau khi bác sĩ tiêm thuốc giảm đau bụng

Một bệnh nhi tử vong sau khi bác sĩ tiêm thuốc giảm đau bụng
21/04/2014 14:20

Thêm 70 trường hợp mắc mới, 4 trường hợp tử vong liên quan đến sởi

Thêm 70 trường hợp mắc mới, 4 trường hợp tử vong liên quan đến sởi
21/04/2014 09:16

Lần đầu tiên lý giải được vì sao nhiều trẻ 9 tháng mắc sởi

Lần đầu tiên lý giải được vì sao nhiều trẻ 9 tháng mắc sởi
20/04/2014 12:27

Dịch sởi: ”Nóng” chỉ đạo, “lạnh” thực hiện!

Dịch sởi: ”Nóng” chỉ đạo, “lạnh” thực hiện!
19/04/2014 08:42

Vụ tử vong sau khi rút tủy: Bệnh viện đã nhận lỗi với gia đình bệnh nhân

Vụ tử vong sau khi rút tủy: Bệnh viện đã nhận lỗi với gia đình bệnh nhân
17/04/2014 16:55

Tin cũ hơn:
Một số phản ứng của cơ thể có thể gặp sau khi uống sữa Một [Xem thêm: cách trị bệnh hen suyễn] số phản ứng của cơ thể có thể gặp sau khi uống sữa
22/04/2014 08:34
Bệnh của doanh nhân Bệnh của doanh nhân
21/04/2014 09:24
Vai trò của MK7 với sức khỏe con người Vai trò của MK7 với sức khỏe con người
18/04/2014 12:55
Chạy bộ quá nhiều có thể làm giảm tuổi thọ trung bình Chạy bộ quá nhiều có thể làm giảm tuổi thọ trung bình
17/04/2014 08:25
Đi bộ chữa được nhiều bệnh Đi bộ chữa được nhiều bệnh
15/04/2014 16:13
5 cách trị đau đầu không cần thuốc 5 cách trị đau đầu không cần thuốc
13/04/2014 20:54
Trang kế >>

Không nói chi đến thảm trạng của bệnh nhân tai biến mạch máu não hay nhồi máu cơ tim, hình ảnh bi thảm khó tránh của bệnh tiểu đường là suy thận, mù mắt, đoạn chi! Hậu quả đó sở dĩ vẫn còn là cơn ác mộng triền miên của người bệnh tiểu đường vì các mạch máu nhỏ (vi mạch) rất dễ bị thuyên tắc nếu bệnh không nằm trong vòng kiểm soát.

Hệ thống vi mạch bao giờ cũng là miếng mồi ngon trong bệnh tiểu đường, càng xa trái tim càng dễ tắc nghẽn, vì:

– Dòng máu đậm đặc hơn bình thường do tăng mỡ máu.

– Mạch máu dễ bị thương tổn, mạch máu càng nhỏ càng là yếu điểm, do tác hại của rối loạn biến dưỡng chất đường khiến tiểu cầu, chất mỡ, chất vôi… có cơ hội kết dính vào mặt [Xem thêm: cách chữa trị bệnh hen suyễn] trong thành mạch.

– Mạch máu co thắt thái quá vì trục trặc lúc nào cũng chực chờ trong khâu thần kinh – nội tiết của người bệnh có lượng đường huyết không ổn định.

Vì sao phải bảo vệ vi mạch trong bệnh tiểu đường?
Câu kỳ tử – vị thuốc quí hỗ trợ điều trị biến chứng tiểu đường

Đường huyết càng dao động, hiện tượng xơ vữa vi mạch càng nhanh chân chiếm thế thượng phong. Tình trạng thiếu dưỡng khí cục bộ khi đó không mời cũng đến. Hậu quả tất nhiên nghiêm trọng nếu nơi thiếu dưỡng khí là não bộ, thành tim… Biện pháp dự phòng biến chứng trong bệnh tiểu đường vì thế phải tập trung vào mục tiêu được thầy thuốc Đông Y định danh là hoạt huyết, nghĩa là vừa giữ cho máu loãng, chẳng hạn với alpha lipoic acid, vừa bảo vệ mặt trong mạch máu trước tác dụng oxy-hóa của phế phẩm biến dưỡng trong bệnh tiểu đường, như với Câu kỷ tử…

Muốn ngăn chặn biến chứng nghiêm trọng của bệnh tiểu đường phải bảo vệ cho bằng được mạng lưới mạch máu li ti trên vỏ não, cơ tim, đáy mắt, cầu thận… Mục tiêu đó hoàn toàn bất khả thi nếu chỉ trông mong vào viên [Xem thêm: cách trị hen suyễn] thuốc hạ đường huyết bằng hóa chất tổng hợp. Bằng chứng là tỷ lệ biến chứng của căn bệnh này ở các nước tiên [Xem thêm: cach tri benh hen suyen] tiến, nơi không thiếu thuốc đặc hiệu, vẫn chưa được cải thiện! Đó cũng chính là lý do tại sao càng lúc càng có nhiều thầy thuốc trở về với dược liệu thiên nhiên.

Bác sĩ Lương Lễ Hoàng 

Trung Tâm Điều Trị Oxy Cao Áp, Tp. HCM

 

Sự hiện diện của các thành phần Câu kỷ tử, Mạch môn, Nhàu, Hoài sơn & Alpha lipoic acid trong TPCN HỘ TẠNG ĐƯỜNG, là giải pháp phòng ngừa và hỗ trợ điều trị biến chứng của bệnh tiểu đường (trên tim, mắt, thận, thần kinh) đồng thời giúp điều hòa đường huyết, giảm cholesterol máu, chống oxy hóa.

Vì sao phải bảo vệ vi mạch trong bệnh tiểu đường?

Thông tin tư vấn: 04.3775.9865 – 08.3977.8085

(website: dongtay.net.vn)

Giấy TNHSĐKQC: 1467/2012/TNQC-ATTP

 (Sản phẩm không phải là thuốc, không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh)

 

Không nói chi đến thảm trạng của bệnh nhân tai biến mạch máu não hay nhồi máu cơ tim, hình ảnh bi thảm khó tránh của bệnh tiểu đường là suy thận, mù mắt, đoạn chi! Hậu quả đó sở dĩ vẫn còn là cơn ác mộng triền miên của người bệnh tiểu đường vì các mạch máu nhỏ (vi mạch) rất dễ bị thuyên tắc nếu bệnh không nằm trong vòng kiểm soát.

Hệ thống vi mạch bao giờ cũng là miếng mồi ngon trong bệnh tiểu đường, càng xa trái tim càng dễ tắc nghẽn, vì:

– Dòng máu đậm đặc hơn bình thường do tăng mỡ máu.

– Mạch máu dễ bị thương tổn, mạch máu càng nhỏ càng là yếu điểm, do tác hại của rối loạn biến dưỡng chất đường khiến tiểu cầu, chất mỡ, chất vôi… có cơ hội kết dính vào mặt trong thành mạch.

– Mạch máu co thắt thái quá vì trục trặc lúc nào cũng chực chờ trong khâu thần kinh – nội tiết của người bệnh có lượng đường huyết không ổn định.

Vì sao phải bảo vệ vi mạch trong bệnh tiểu đường?
Câu kỳ tử – vị thuốc quí hỗ trợ điều trị biến chứng tiểu đường

Đường huyết càng dao động, hiện tượng xơ vữa vi mạch càng nhanh chân chiếm thế thượng phong. Tình trạng thiếu dưỡng khí cục bộ khi đó không [Xem thêm: cách chữa mất ngủ] mời cũng đến. Hậu quả tất nhiên nghiêm trọng nếu nơi thiếu dưỡng khí là não bộ, thành tim… Biện pháp dự phòng biến chứng trong bệnh tiểu đường vì thế phải tập trung vào mục tiêu được thầy thuốc Đông Y định danh là hoạt huyết, nghĩa là vừa giữ cho máu loãng, chẳng hạn với alpha lipoic acid, vừa bảo vệ mặt trong mạch máu trước tác dụng oxy-hóa của phế phẩm biến dưỡng trong bệnh tiểu đường, như với Câu kỷ tử…

Muốn ngăn chặn biến chứng nghiêm trọng của bệnh tiểu đường phải bảo vệ cho bằng được mạng lưới mạch máu li ti trên vỏ não, cơ tim, đáy mắt, cầu thận… Mục tiêu đó hoàn toàn bất khả thi nếu chỉ trông mong vào viên thuốc hạ đường huyết bằng hóa chất tổng hợp. Bằng chứng là tỷ lệ biến chứng của căn bệnh này ở các nước tiên tiến, nơi không thiếu thuốc đặc hiệu, vẫn chưa được cải thiện! Đó cũng chính là lý do tại sao càng lúc càng có [Xem thêm: cach chua tri benh hen suyen] nhiều thầy thuốc trở về với dược liệu thiên nhiên.

Bác sĩ Lương Lễ Hoàng 

Trung Tâm Điều Trị Oxy Cao Áp, Tp. HCM

 

Sự hiện diện của các thành phần Câu kỷ tử, Mạch môn, Nhàu, Hoài sơn & Alpha lipoic acid trong TPCN HỘ TẠNG ĐƯỜNG, là giải pháp phòng ngừa và hỗ trợ điều trị biến chứng của bệnh tiểu đường (trên tim, mắt, thận, thần kinh) đồng thời giúp điều hòa đường huyết, giảm cholesterol máu, chống oxy hóa.

Vì sao phải bảo vệ vi mạch trong bệnh tiểu đường?

Thông tin tư vấn: 04.3775.9865 – 08.3977.8085

(website: dongtay.net.vn)

Giấy TNHSĐKQC: 1467/2012/TNQC-ATTP

 (Sản phẩm không phải là thuốc, không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh)

 

Bệnh viêm não Nhật Bản là một bệnh nhiễm khuẩn cấp tính do Arbovirus có tên là virut viêm não Nhật Bản gây ra. Bệnh lây truyền sang người do muỗi đốt. Hiện nay, ở miền Bắc, mưa và nồm ẩm kéo dài tạo điều kiện thuận lợi cho muỗi phát triển mạnh nên nguy cơ lây các bệnh do muỗi truyền, trong đó có viêm não Nhật Bản càng cao.

Phải chú ý nhận dạng nhiều thể bệnh

Hầu hết người bị nhiễm virut viêm não Nhật Bản ở thể ẩn, nghĩa là không có triệu chứng lâm sàng. Một vài nghiên cứu cho biết: có dưới 1% số người bị nhiễm virut viêm não Nhật Bản biểu hiện bệnh trên thực tế với các dấu hiệu rất đa dạng, từ nhẹ như cảm cúm đến nặng gây tử vong. Nhưng dù ở bất cứ nhiễm bệnh ở thể nào thì bệnh nhân vẫn tạo kháng thể đặc hiệu.

Sơ đồ lây truyền bệnh viêm não Nhật Bản.

Sơ đồ lây truyền bệnh viêm não Nhật Bản.

Thể ẩn: nhiều bệnh nhân nhất, không có triệu chứng lâm sàng, cứ 1 bệnh nhân có triệu chứng điển hình thì có tới 200 – 300 bệnh nhân thể ẩn. Còn Tổ chức Y tế Thế giới cho biết, tỉ lệ này dao động từ 20 – 1.000 trường hợp thể ẩn/1 điển hình.

Các thể bệnh có triệu chứng như sau:

Thể nhẹ: bệnh nhân có sốt, nhức đầu, nôn, không có triệu chứng đặc hiệu.

Thể màng não: bệnh nhân có hội chứng nhiễm khuẩn, dấu hiệu màng não, có thể bị rối loạn ý thức nhẹ.

Thể tủy sống: bệnh nhân có sốt, sau đó liệt mềm, liệt không đồng đều, liệt ở chân nặng hơn tay, rối loạn tri giác và xuất hiện hội chứng viêm não sau đó. Chụp cộng hưởng từ tủy sống, đo điện cơ và dẫn truyền thần kinh thấy có tổn thương sừng trước tủy sống.

Thể điển hình: thời gian ủ bệnh từ 5 – 15 ngày, khởi bệnh với hội chứng nhiễm khuẩn không điển hình: sốt, rối loạn tiêu hóa, nôn, đau bụng, tiêu chảy, viêm long đường hô hấp, ho, chảy máu cam… Sang giai đoạn toàn phát: có hội chứng nhiễm khuẩn kèm theo: sốt, lợm giọng, buồn nôn, nhức đầu ở trẻ lớn. Thân nhiệt 39 – 40oC hay hơn, cơn co giật toàn thân hoặc cục bộ. Rối loạn tri giác như li bì, lơ mơ đến kích động, hôn mê. Dấu hiệu màng não, động tác tự động, phản xạ bệnh lý, liệt chi, liệt thần kinh sọ não, liệt nửa người, một chi hoặc tứ chi, biến đổi phản xạ gân xương, mất vận động, mất ngôn ngữ… Xuất hiện những cơn gật đầu, quay đầu, cơn quay mắt, co cứng, co vặn cơ, run, ngón tay mân mê như vấn thuốc, múa vờn múa giật, mặt nhăn nhó, chép môi…

Các biến chứng

Bệnh viêm não Nhật Bản có những trường hợp nặng gây tử vong, còn một số biến chứng như sau: bội nhiễm phổi ở bệnh nhân hôn mê sâu do ứ đọng đàm nhớt, mất phản xạ ho, sặc hoặc liệt hầu họng dễ đưa đến viêm phổi hít; nhiễm khuẩn tiểu sau rối loạn cơ vòng hoặc sau thông tiểu bị nhiễm khuẩn; phù não do hạ natri máu; cơn động kinh ác tính xảy ra nếu không tích cực chống động kinh, chống phù não và cung cấp đủ oxy; xuất huyết tiêu hóa; suy dinh dưỡng và loét.

Điều trị thế nào?

Cho đến nay, vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu bệnh viêm não Nhật Bản. Việc điều trị chủ yếu là hồi sức cấp cứu và điều trị triệu chứng như chống phù não, an thần chống co giật, kiểm soát nhiệt độ, hỗ trợ tuần hoàn, hô hấp, ngăn ngừa bội nhiễm và dinh dưỡng, chống loét… Theo đó, bệnh nhân cần vệ sinh răng miệng, xoay trở để tránh loét do tư thế nằm lâu; vỗ lưng, nằm tư thế dẫn lưu đàm, [Xem thêm: cach chua benh hen suyen] hút đàm rãi; nếu có bội nhiễm, cần điều trị bằng kháng sinh. Bệnh nhân cũng cần được cung cấp dinh dưỡng đầy đủ, nâng thể trạng.

Lời khuyên của bác sĩ

Bệnh viêm não Nhật Bản là bệnh nặng, có thể tử vong hoặc biến chứng nặng. Vì vậy, việc phòng tránh bệnh trở nên rất quan trọng. Hiện nay, biện pháp phòng bệnh chủ yếu là tiêm phòng vaccin viêm não Nhật Bản. Những người du lịch có thời gian lưu trú ở nông thôn hơn 1 tháng hoặc trên 12 tháng ở thành phố có dịch cần được tiêm phòng.

Vì bệnh chủ yếu do muỗi đốt truyền bệnh nên cần phải diệt muỗi và phòng chống muỗi đốt. Diệt muỗi bằng cách: dùng thuốc xịt muỗi, dùng vợt điện. [Xem thêm: Bệnh viêm họng] Diệt bọ gậy bằng các biện pháp: thả cá bảy màu, cá đuôi cờ vào các nơi chứa nước như bể, chum, vại, lu, khạp… để cá ăn bọ gậy. Loại bỏ nơi muỗi đẻ: hủy bỏ các vật phế thải xung quanh nhà là những nơi có thể chứa nước mưa tạo nơi đẻ trứng của muỗi như chai lọ [Xem thêm: benh viem hong] vỡ, ống bơ, gáo dừa, lốp xe… Bỏ muối hay nhỏ dầu hỏa vào bát nước kê chân chạn. Thường xuyên thay rửa lọ hoa (bình bông). Phòng tránh muỗi đốt bằng cách: mặc quần dài, áo dài tay cho trẻ em, người lớn. Luôn luôn ngủ trong màn, kể cả ban ngày.

Đường truyền bệnh viêm não Nhật Bản

Virut gây viêm não Nhật Bản được truyền sang người qua vết đốt. Hai loài muỗi vằn Culextritaeniorhynchus và Culex vishnui bị nhiễm bệnh đốt sẽ gây bệnh cho người. Nguồn chứa mầm bệnh trong tự nhiên: chủ yếu là các loài chim lội nước và hầu hết gia súc gần người như trâu, bò, dê, cừu, chó, lợn đều có thể là ổ chứa mầm bệnh, trong đó lợn là vật chủ quan trọng nhất có khả năng làm lan rộng virut dễ truyền bệnh cho người nhất. Vì thế, sự lan truyền virut xảy ra chủ yếu ở vùng nông nghiệp nông thôn. Nhưng ở một số vùng của châu Á, trong đó có Việt Nam, bệnh có thể xảy ra gần các trung tâm đô thị. Tuy bệnh có thể xảy ra quanh năm nhưng đỉnh cao vẫn là mùa mưa.

ThS. Trần Minh Thanh

Bài thuốc dân gian trị ho cho trẻ em hiệu quả Bài thuốc dân gian trị ho cho trẻ em hiệu quả Sốt cao co giật ở trẻ em và cách xử trí Sốt cao co giật ở trẻ em và cách xử trí Nhiễm khuẩn đường tiểu ở trẻ em Nhiễm khuẩn đường tiểu ở trẻ em

 

Bệnh viêm não Nhật Bản là một bệnh nhiễm khuẩn cấp tính do Arbovirus có tên là virut viêm não Nhật Bản gây ra. Bệnh lây truyền sang người do muỗi đốt. Hiện nay, ở miền Bắc, mưa và nồm ẩm kéo dài tạo điều kiện thuận lợi cho muỗi phát triển mạnh nên nguy cơ lây các bệnh do muỗi truyền, trong đó có viêm não Nhật Bản càng cao.

Phải chú ý nhận dạng nhiều thể bệnh

Hầu hết người bị nhiễm virut viêm não Nhật Bản ở thể ẩn, nghĩa là không có triệu chứng lâm sàng. Một vài nghiên cứu cho biết: có dưới 1% số người bị nhiễm virut viêm não Nhật Bản biểu hiện bệnh trên thực tế với các dấu hiệu rất đa dạng, từ nhẹ như cảm cúm đến nặng gây tử vong. Nhưng dù ở bất cứ nhiễm bệnh ở thể nào thì bệnh nhân vẫn tạo kháng thể đặc hiệu.

Sơ đồ lây truyền bệnh viêm não Nhật Bản.

Sơ đồ lây truyền bệnh viêm não Nhật Bản.

Thể ẩn: nhiều bệnh nhân nhất, không có triệu chứng lâm sàng, cứ 1 bệnh nhân có triệu chứng điển hình thì có tới 200 – 300 bệnh nhân thể ẩn. Còn Tổ chức Y tế Thế giới cho biết, tỉ lệ này dao động từ 20 – 1.000 trường hợp thể ẩn/1 điển hình.

Các thể bệnh có triệu chứng như sau:

Thể nhẹ: bệnh nhân có sốt, nhức đầu, nôn, không có triệu chứng đặc hiệu.

Thể màng não: bệnh nhân có hội chứng nhiễm khuẩn, dấu hiệu màng não, có thể bị rối loạn ý thức nhẹ.

Thể tủy sống: bệnh nhân có sốt, sau đó liệt mềm, liệt không đồng đều, liệt ở chân nặng hơn tay, rối loạn tri giác và xuất hiện hội chứng viêm não sau đó. Chụp cộng hưởng từ tủy sống, đo điện cơ và dẫn truyền thần kinh thấy có tổn thương sừng trước tủy sống.

Thể điển hình: thời gian ủ bệnh từ 5 – 15 ngày, khởi bệnh với hội chứng nhiễm khuẩn không điển hình: sốt, rối loạn tiêu hóa, nôn, đau bụng, tiêu chảy, viêm long đường hô hấp, ho, chảy máu cam… Sang giai đoạn toàn phát: có hội chứng nhiễm khuẩn kèm theo: sốt, lợm giọng, buồn nôn, nhức đầu ở trẻ lớn. Thân nhiệt 39 – 40oC hay hơn, cơn co giật toàn thân hoặc cục bộ. Rối loạn tri giác như li bì, lơ mơ đến kích động, hôn mê. Dấu hiệu màng não, động tác tự động, phản xạ bệnh lý, liệt chi, liệt thần kinh sọ não, liệt nửa người, một chi hoặc tứ chi, biến đổi phản xạ gân xương, mất vận động, mất ngôn ngữ… Xuất hiện những cơn gật đầu, quay đầu, cơn quay mắt, co cứng, co vặn cơ, run, ngón tay mân mê như vấn thuốc, múa vờn múa giật, mặt nhăn nhó, chép môi…

Các biến chứng

Bệnh viêm não Nhật Bản có những trường hợp nặng gây tử vong, còn một số biến chứng như sau: bội nhiễm phổi ở bệnh nhân hôn mê sâu do ứ đọng đàm nhớt, mất phản xạ ho, sặc hoặc liệt hầu họng dễ đưa đến viêm phổi hít; nhiễm khuẩn tiểu sau rối loạn cơ vòng hoặc sau thông tiểu bị nhiễm khuẩn; phù não do hạ natri máu; cơn động kinh ác tính xảy ra nếu không tích cực chống động kinh, chống phù não và cung cấp đủ oxy; xuất huyết tiêu hóa; suy dinh dưỡng và loét.

Điều trị thế nào?

Cho đến nay, vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu bệnh viêm não Nhật Bản. Việc điều trị chủ yếu là hồi sức cấp cứu và điều trị triệu chứng như chống phù [Xem thêm: Bệnh viêm họng] não, an thần chống co giật, kiểm soát nhiệt độ, hỗ trợ tuần hoàn, hô hấp, [Xem thêm: Bệnh tai mũi họng] ngăn ngừa bội nhiễm và dinh dưỡng, chống loét… Theo đó, bệnh nhân cần vệ sinh răng miệng, xoay trở để tránh loét do tư thế nằm lâu; vỗ lưng, nằm tư thế dẫn lưu đàm, hút đàm rãi; nếu có bội nhiễm, cần điều trị bằng kháng sinh. Bệnh nhân cũng cần được cung cấp dinh dưỡng đầy đủ, nâng thể trạng.

Lời khuyên của bác sĩ

Bệnh viêm não Nhật Bản là bệnh nặng, có thể tử vong hoặc biến chứng nặng. Vì vậy, việc phòng tránh bệnh trở nên rất quan trọng. Hiện nay, biện pháp phòng bệnh chủ yếu là tiêm phòng vaccin viêm não Nhật Bản. Những người du lịch có thời gian lưu trú ở nông thôn hơn 1 tháng hoặc trên 12 tháng ở thành phố có dịch cần được tiêm phòng.

Vì bệnh chủ yếu do muỗi đốt truyền bệnh nên cần phải diệt muỗi và phòng chống muỗi đốt. Diệt muỗi bằng cách: dùng thuốc xịt muỗi, dùng vợt điện. Diệt bọ gậy bằng các biện pháp: thả cá bảy màu, cá đuôi cờ vào các nơi chứa nước như bể, chum, vại, lu, khạp… để cá ăn bọ gậy. Loại bỏ nơi muỗi đẻ: hủy bỏ các vật phế thải [Xem thêm: benh viem hong] xung quanh nhà là những nơi có thể chứa nước mưa tạo nơi đẻ trứng của muỗi như chai lọ vỡ, ống bơ, gáo dừa, lốp xe… Bỏ muối hay nhỏ dầu hỏa vào bát nước kê chân chạn. Thường xuyên thay rửa lọ hoa (bình bông). Phòng tránh muỗi đốt bằng cách: mặc quần dài, áo dài tay cho trẻ em, người lớn. Luôn luôn ngủ trong màn, kể cả ban ngày.

Đường truyền bệnh viêm não Nhật Bản

Virut gây viêm não Nhật Bản được truyền sang người qua vết đốt. Hai loài muỗi vằn Culextritaeniorhynchus và Culex vishnui bị nhiễm bệnh đốt sẽ gây bệnh cho người. Nguồn chứa mầm bệnh trong tự nhiên: chủ yếu là các loài chim lội nước và hầu hết gia súc gần người như trâu, bò, dê, cừu, chó, lợn đều có thể là ổ chứa mầm bệnh, trong đó lợn là vật chủ quan trọng nhất có khả năng làm lan rộng virut dễ truyền bệnh cho người nhất. Vì thế, sự lan truyền virut xảy ra chủ yếu ở vùng nông nghiệp nông thôn. Nhưng ở một số vùng của châu Á, trong đó có Việt Nam, bệnh có thể xảy ra gần các trung tâm đô thị. Tuy bệnh có thể xảy ra quanh năm nhưng đỉnh cao vẫn là mùa mưa.

ThS. Trần Minh Thanh

Bài thuốc dân gian trị ho cho trẻ em hiệu quả Bài thuốc dân gian trị ho cho trẻ em hiệu quả Sốt cao co giật ở trẻ em và cách xử trí Sốt cao co giật ở trẻ em và cách xử trí Nhiễm khuẩn đường tiểu ở trẻ em Nhiễm khuẩn đường tiểu ở trẻ em

 

Bệnh viêm não Nhật Bản là một bệnh nhiễm khuẩn cấp tính do Arbovirus có tên là virut viêm não Nhật Bản gây ra. Bệnh lây truyền sang người do muỗi đốt. Hiện nay, ở miền Bắc, mưa và nồm ẩm kéo dài tạo điều kiện thuận lợi [Xem thêm: Benh tai mui hong] cho muỗi phát triển mạnh nên nguy cơ lây các bệnh do muỗi truyền, trong đó có viêm não Nhật Bản càng cao.

Phải chú ý nhận dạng nhiều thể bệnh

Hầu hết người bị nhiễm virut viêm não Nhật Bản ở thể ẩn, nghĩa là không có triệu chứng lâm sàng. Một vài nghiên cứu cho biết: có dưới 1% số người bị nhiễm virut viêm não Nhật Bản biểu hiện bệnh trên thực tế với các dấu hiệu rất đa dạng, từ nhẹ như cảm cúm đến nặng gây tử vong. Nhưng dù ở bất cứ nhiễm bệnh ở thể nào thì bệnh nhân vẫn tạo kháng thể đặc hiệu.

Sơ đồ lây truyền bệnh viêm não Nhật Bản.

Sơ đồ lây truyền bệnh viêm não Nhật Bản.

Thể ẩn: nhiều bệnh nhân nhất, không có triệu chứng lâm sàng, cứ 1 bệnh nhân có triệu chứng điển hình thì có tới 200 – 300 bệnh nhân thể ẩn. Còn Tổ chức Y tế Thế giới cho biết, tỉ lệ này dao động từ 20 – 1.000 trường hợp thể ẩn/1 điển hình.

Các thể bệnh có triệu chứng như sau:

Thể nhẹ: bệnh nhân có sốt, nhức đầu, nôn, không có triệu chứng đặc hiệu.

Thể màng não: bệnh nhân có hội chứng nhiễm khuẩn, dấu hiệu màng não, có thể bị rối loạn ý thức nhẹ.

Thể tủy sống: bệnh nhân có sốt, sau đó liệt mềm, liệt không đồng đều, liệt ở chân nặng hơn tay, rối loạn tri giác và xuất hiện hội chứng viêm não sau đó. Chụp cộng hưởng từ tủy sống, đo điện cơ và dẫn truyền thần kinh thấy có tổn thương sừng trước tủy sống.

Thể điển hình: thời gian ủ bệnh từ 5 – 15 ngày, khởi bệnh với hội chứng nhiễm khuẩn không điển hình: sốt, rối loạn tiêu hóa, nôn, đau bụng, tiêu chảy, viêm long đường hô hấp, ho, chảy máu cam… Sang giai đoạn toàn phát: có hội chứng nhiễm khuẩn kèm theo: sốt, lợm giọng, buồn nôn, nhức đầu ở trẻ lớn. Thân nhiệt 39 – 40oC hay hơn, cơn co giật toàn thân hoặc cục bộ. Rối loạn tri giác như li bì, lơ mơ đến kích động, hôn mê. Dấu hiệu màng não, động tác tự động, phản xạ bệnh lý, liệt chi, liệt thần kinh sọ não, liệt nửa người, một chi hoặc tứ chi, biến đổi phản xạ gân xương, mất vận động, mất ngôn ngữ… Xuất hiện những cơn gật đầu, quay đầu, cơn quay mắt, co cứng, co vặn cơ, run, ngón tay mân mê như vấn thuốc, múa vờn múa giật, mặt nhăn nhó, chép môi…

Các biến chứng

Bệnh viêm não Nhật Bản có những trường hợp nặng gây tử vong, còn một số biến chứng như sau: bội nhiễm phổi ở bệnh nhân hôn mê sâu do ứ đọng đàm nhớt, mất phản xạ ho, sặc hoặc liệt hầu họng dễ đưa đến viêm phổi hít; nhiễm khuẩn tiểu sau rối loạn cơ vòng hoặc sau thông tiểu bị nhiễm khuẩn; phù não do hạ natri máu; cơn động kinh ác tính xảy ra nếu không tích cực chống động kinh, chống phù não và cung cấp đủ oxy; xuất huyết tiêu hóa; suy dinh dưỡng và loét.

Điều trị thế nào?

Cho đến nay, vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu bệnh viêm não Nhật Bản. Việc điều trị chủ yếu là hồi sức cấp cứu và điều trị triệu chứng như chống phù não, an thần chống [Xem thêm: Bệnh tai mũi họng] co giật, kiểm soát nhiệt độ, hỗ trợ tuần hoàn, hô hấp, ngăn ngừa bội nhiễm và dinh dưỡng, chống loét… Theo đó, bệnh nhân cần vệ sinh răng miệng, xoay trở để tránh loét do tư thế nằm lâu; vỗ lưng, nằm tư thế dẫn lưu đàm, hút đàm rãi; nếu có bội nhiễm, cần điều trị bằng kháng sinh. Bệnh nhân cũng cần được cung cấp dinh dưỡng đầy đủ, nâng thể trạng.

Lời khuyên của bác sĩ

Bệnh viêm não Nhật Bản là bệnh nặng, có thể tử vong hoặc biến chứng nặng. Vì vậy, việc phòng tránh bệnh trở nên rất quan trọng. Hiện nay, biện pháp phòng bệnh chủ yếu là tiêm phòng vaccin viêm não Nhật Bản. Những người du lịch có thời gian lưu trú ở nông thôn hơn 1 tháng hoặc trên 12 tháng ở thành phố có dịch cần được tiêm phòng.

Vì bệnh chủ yếu do muỗi đốt truyền bệnh nên cần phải diệt muỗi và phòng chống muỗi đốt. Diệt muỗi bằng cách: dùng thuốc xịt muỗi, dùng vợt điện. Diệt bọ gậy bằng các biện pháp: thả cá bảy màu, cá đuôi cờ vào các nơi chứa nước như bể, chum, vại, lu, khạp… để cá ăn bọ gậy. Loại bỏ nơi muỗi đẻ: hủy bỏ các vật phế thải xung quanh nhà là những nơi có thể chứa nước mưa tạo nơi đẻ trứng của muỗi như chai lọ vỡ, ống bơ, gáo dừa, lốp xe… Bỏ muối hay nhỏ dầu hỏa vào bát nước kê chân chạn. Thường xuyên thay rửa lọ hoa (bình bông). Phòng tránh muỗi đốt bằng cách: mặc quần dài, áo dài tay cho trẻ em, người lớn. Luôn luôn ngủ trong màn, kể cả ban ngày.

Đường truyền bệnh viêm não Nhật Bản

Virut gây viêm não Nhật Bản được truyền sang người qua vết đốt. Hai loài muỗi vằn Culextritaeniorhynchus và Culex vishnui bị nhiễm bệnh đốt sẽ gây bệnh cho người. Nguồn chứa mầm bệnh trong tự nhiên: chủ yếu là các loài chim lội nước và hầu hết gia súc gần người như trâu, bò, dê, cừu, chó, lợn đều có thể là ổ chứa mầm bệnh, trong đó lợn là vật chủ quan trọng nhất có khả năng làm lan rộng virut dễ truyền bệnh cho người nhất. Vì thế, sự lan truyền virut xảy ra chủ yếu ở vùng nông nghiệp nông thôn. Nhưng ở một số vùng của châu Á, trong đó có Việt Nam, bệnh có thể xảy ra gần các trung tâm đô thị. Tuy bệnh có thể xảy ra quanh năm nhưng đỉnh cao vẫn là mùa mưa.

ThS. Trần Minh Thanh

Bài thuốc dân gian trị ho cho trẻ em hiệu quả Bài thuốc dân gian trị ho cho trẻ em hiệu quả Sốt cao co giật ở trẻ em và cách xử trí Sốt cao co giật ở trẻ em và cách xử trí Nhiễm khuẩn đường tiểu ở trẻ em Nhiễm khuẩn đường tiểu ở trẻ em

 

Từ khá lâu, trên thị trường bày bán rất nhiều chế phẩm trông như thuốc chữa bệnh nhưng thực chất là thực phẩm chức năng giảm cân (TPCNGC) có dạng viên, bột, cao, dung dịch nước, trà và gần đây lại xuất hiện thêm dạng thuốc chích (tiêm) để giảm cân. Tác dụng thật sự của những chế phẩm này thực hư như thế nào rất khó biết mà tác hại thì trông thấy rõ.

Không ít người vì muốn giảm cân nhanh chóng vẫn sẵn sàng bỏ ra tiền triệu để mua các sản phẩm giảm cân về sử dụng. Kết quả không như mong muốn: cân nặng không giảm hoặc có giảm cân nhưng lại bị đi tiêu, đi tiểu nhiều, người mệt mỏi và sau khi ngưng sử dụng TPCNGC thì cân nặng tăng trở lại nhiều hơn.

Gần đây, trên các trang web online, trung tâm phẫu thuật thẩm mỹ, spa… lại xuất hiện “thuốc chích giảm cân” với nhiều lời mời chào hấp dẫn như “Loại thuốc này có tác dụng cực tốt, hiệu quả rất nhanh, đặc biệt khi sử dụng tiêm thuốc không gây đau, hiếm gặp dị ứng, không gây rối loạn nội tiết, giảm chứng béo phì và phân hủy mỡ, phục hồi vi tuần hoàn, tái tạo và bảo vệ mô liên kết giúp trẻ hóa da…”. Hoặc “Thuốc còn có tác dụng đánh tan mỡ thừa ở những vùng khó giảm cân nhất, thậm chí cả những vùng tập thể dục không đạt được kết quả thì thuốc có thể giúp bạn làm điều đó”.

Chế độ luyện tập và ăn uống thích hợp là cách tốt nhất để giảm cân hiệu quả.

Chế độ [Xem thêm: bệnh tắc nghẽn phổi] luyện tập và ăn uống thích hợp là cách tốt nhất để giảm cân hiệu quả.

Thực chất của loại thuốc chích này là gì?

Trước hết là phosphatidylcholin, thuộc nhóm chất béo có tên phospholipid (tức chất béo có phosphor). Khi ăn vào trong hệ tiêu hóa của ta, phần lớn phosphatidylcholin bị phân cắt thành cholin, acid béo tự do và nhóm phosphat. Vì vậy, phosphatidylcholin được xem là chất cung cấp cholin là chất rất quan trọng tạo thành acetylcholin dẫn truyền thần kinh (hệ thần kinh ta có tốt hay không phải có đủ acetylcholin). Phosphatidylcholin là chất béo có nhiều ở lòng đỏ trứng gà, đậu nành (trong lòng đỏ trứng gà, phosphatidylcholin là thành phần của lecithin). Còn ở trong cơ thể, nó có ở tế bào, đặc biệt là màng tế bào. Phosphatidylcholin có được nghiên cứu trong lĩnh vực sức khỏe. Thử trên chuột thí nghiệm bị làm nhiễm siêu vi viêm gan A, B và C, phosphatidylcholin cho thấy có thể sửa chữa tình trạng gan bị tổn thương (liver repair) nhưng không cho thấy tác dụng này trên người. Phosphatidylcholin được một số thông tin cho rằng có tác dụng làm phân hủy tế bào mỡ (lipolysis) có thể dùng thay thế phương pháp hút mỡ nhưng chỉ đồn đại nhiều chứ không có công trình nghiên cứu nghiêm túc chứng thực là tiêm phosphatidylcholin làm giảm mỡ để giảm cân. Phosphatidylcholin lại được cho rằng có thể tiêm với deoxycholat để giảm cân. Deoxycholat thực chất là muối mật (muối acid cholic) có trong mật giúp cơ thể hấp thu chất béo dầu mỡ từ thức ăn. Deoxycholat được dùng chung với phosphatidylcholin nhằm giúp chất béo này hấp thu tốt hơn khi đưa vào trong cơ thể. Một thông tin cho rằng deoxycholat được tiêm với phosphatidylcholin dùng trong giải phẫu thẩm mỹ có tên mesotherapy. Mesotherapy là một thủ thuật xâm lấn tối thiểu được sử dụng rộng rãi ở châu Âu để điều trị các tổn thương ở da bằng cách đưa thuốc trực tiếp vào tầng trung [Xem thêm: benh tac nghen phoi man tinh] bì của da với kim tiêm siêu nhỏ theo chỉ định. Tuy nhiên, mesotherapy chỉ điều trị các tổn thương về da như: da lão hóa, nhão xệ, mỏng khô héo do thiếu nước, sắc tố khác thường, đặc biệt là sắc tố nội tiết tố hoặc giảm hiện tượng cằm đôi, thon gọn khuôn mặt chứ hoàn toàn không làm tan mỡ để giảm cân.

Chất thứ hai được đồn đại là có thể chích để giảm cân là vitamin B12. Chích vitamin B12 làm giảm trọng lượng cơ thể được lý giải là làm tăng tốc quá trình chuyển hóa gây tiêu hao năng lượng. Điều này là sai, vitamin nói chung chỉ là các chất xúc tác các phản ứng chứ không thể làm tiêu hao năng lượng làm giảm cân. Người ta chỉ tiêm chích vitamin B12 vì thiếu vitamin này gây thiếu máu đặc biệt gọi là thiếu máu nguyên bào khổng lồ. Loại [Xem thêm: bệnh tắc nghẽn phổi mãn tính] thiếu máu này có những đặc trưng về hình thể tế bào máu thấy trên xét nghiệm. Chích vitamin B12 có thể bị nguy hiểm vì dị ứng, thậm chí là bị sốc phản vệ gây chết người.

Chất thứ ba được đồn đại tan mỡ khi tiêm trực tiếp là chế phẩm chứa 3 loại enzym chính: cholin, inostiol và methionin, các enzym này ngăn ngừa quá trình mỡ tích tụ quanh gan. 3 chất vừa kể mà gọi là enzym là hoàn toàn sai vì cholin là chất có trong cơ thể hoặc đưa từ bên ngoài vào tạo thành acetylcholin là chất dẫn truyền thần kinh đã kể ở trên, inositol là một loại đường đa (polyol chứa nhiều nhóm –OH), còn methonin là một acid amin. 3 chất vừa kể đều bắt nguồn từ thực phẩm, có thể liên quan đến chuyển hóa mỡ nhưng còn làm tan mỡ đến độ giảm cân chống béo phì chỉ là lời đồn đại mà thôi.

Lưu ý đặc biệt

Thông thường, dư cân béo phì là do ăn uống quá thừa chất dinh dưỡng sinh năng lượng (đường bột, béo) nhưng lại không có sự vận động thích hợp để tiêu hao năng lượng, năng lượng thừa biến thành mỡ gây dư cân béo phì. Vì vậy, để giảm cân phải đồng thời tác động đến 2 yếu tố: Chế độ dinh dưỡng thích hợp (ăn kiêng) và Chế độ tập luyện thể dục thích hợp. Có một số trường hợp béo phì bắt buộc phải dùng thuốc (thuốc được thừa nhận dùng trong điều trị hiện nay là orlistat, một thuốc khác trước đây cho dùng nhưng nay bị cấm vì gây hại quá nhiều là sibutramin) chứ không thể dùng thực phẩm chức năng giảm cân hoặc thuốc tiêm giảm cân nào đó không thôi mà giảm cân được.

Cần lưu ý, giảm cân là nhu cầu làm đẹp chính đáng cho những ai đang “quá khổ”, tuy nhiên, giảm cân bằng thuốc, đặc biệt là chích thuốc sẽ có nguy cơ rất lớn cho sức khỏe. Tiêm thuốc giảm cân luôn là cách rất nguy hiểm vì gây ra nhiều phản ứng đối với cơ thể, thậm chí là hiện tượng sốc phản vệ gây chết người đối với người sử dụng. Những người có nhu cầu giảm cân tốt nhất nên đi khám ở bác sĩ hoặc chuyên viên dinh dưỡng để được tư vấn về biện pháp thích hợp và an toàn cho việc giảm cân.

PGS.TS. Nguyễn Hữu Đức (Đại học Y Dược TP.HCM)

Những sản phẩm giảm cân 'lừa dối Những sản phẩm giảm cân “lừa dối” Thu hồi thuốc giảm cân Alli tại Mỹ Thu hồi thuốc giảm cân Alli tại Mỹ 7 loại quả giúp giảm cân nhanh chóng 7 loại quả giúp giảm cân nhanh chóng

 

Thần kinh thực vật tham gia điều chỉnh các cơ quan hô hấp, tuần hoàn, tiêu hóa, bài tiết, chuyển hóa… cho nên ngoài thuật ngữ chẩn đoán bệnh rối loạn thần kinh thực vật còn có những thuật ngữ khác: rối loạn thần kinh giao cảm, rối loạn phó giao cảm, suy nhược thần kinh,… Rối loạn thần kinh thực vật là sự mất cân bằng của hai hệ thần kinh giao cảm và phó giao cảm.

Biểu hiện của rối loạn thần kinh thực vật rất phong phú, đa dạng và thay đổi tùy theo từng người. Thông thường các triệu chứng thường gặp trong rối loạn hệ thần kinh thực vật là có những cơn tim đập nhanh, bốc nóng ở mặt, vã mồ hôi ở lòng bàn chân, bàn tay đau dây thần kinh; khô miệng, nặng hơn có thể tức ngực, khó thở… rối loạn giấc ngủ, thường là mất ngủ; đái rắt. Rối loạn vận mạch ở da, da nổi mẩn đỏ và dễ bị rám nắng; thường xuyên có cảm giác buồn nôn; mệt mỏi quá mức;… Đối với nam giới không có khả năng cương cứng dương vật.

Vấn đề nhận định ranh giới giữa rối loạn tuần hoàn ngoại vi do chức năng với tổn thương thực thể có thể rất khó khăn, vì rối loạn tuần hoàn do thần kinh thực vật cũng có thể sẽ dẫn tới những biến đổi thực thể tại các cơ quan trong cơ thể.

Chứng xanh tím đầu chi: Đây là chứng rối loạn thần kinh thực vật thường gặp, những trường hợp nặng cũng khó chẩn đoán phân biệt với bệnh Raynaud. Ngoài ra bệnh nhân không còn cảm giác đau gì đặt biệt mà chỉ thấy cảm giác sưng phồng. Đây là do rối loạn nội tiết nên phải điều [Xem thêm: benh sot sieu vi] trị bằng các nội tiết tố.

Các bệnh do rối loạn thần kinh thực vật
Mệt mỏi quá mức, tim đập nhanh, bốc nóng ở mặt… có thể mắc rối loạn thần kinh thực vật. Ảnh minh họa

Chứng đỏ đầu chi: Xuất hiện những cơn giãn mạch máu nên tại các ngón tay riêng lẻ có những mảng da màu đỏ tím. Bệnh nhân có cảm giác đau dữ dỗi và kéo dài, nên phải nhúng các ngón tay vào nước lạnh để làm dịu cơn đau. Tuy nhiên những triệu chứng này có thể gặp trong chứng tăng hồng cầu và đái tháo đường nẽn dễ bị nhầm lẫn.

Bệnh cứng bì: Bệnh cứng bì thuộc loại bệnh tạo keo, những rối loạn về tuần hoàn cũng tương tự như bệnh Raynaud nên hai loại bệnh có thể kết hợp với nhau.

Phù nề thần kinh mạch: Đặc trưng của chứng phù Quincke là bắt đầu đột ngột phù ở một vùng nào đó trên cơ thể với những biểu hiện thường gặp nhất là ở mi mắt và mặt. Phù xuất hiện nhanh và biến đi cũng không lâu, có tính chất thoảng qua trong thời gian ngắn.

Bệnh Raynaud: Bệnh được đặc trưng bởi các triệu chứng đau do co thắt mạch tại các động mạch, làm cho màu da biến đổi theo pha co thắt, thường dẫn đến loét các đầu ngón tay. Nếu không được điều trị đúng hoặc điều trị kéo dài không hiệu quả cần phải phẫu thuật cắt bỏ dây thần kinh giao cảm.

Chứng ngón tay và ngón chân chết: Biểu hiện chủ yếu của người bệnh là khi gặp lạnh thì các đầu ngón tay hay ngón chân bị lạnh ngắt, tái nhợt như người chết.

Vì vậy, khi phát hiện những dấu hiệu ban đầu của bệnh, cần đến cơ sở y tế để được khám và điều trị tại các chuyên khoa theo từng loại bệnh như chuyên khoa da liễu, dị ứng, thần kinh…

Bác sĩ Vũ Quang

 

Rối loạn thần kinh thực vật do đâu? Rối loạn thần kinh thực vật do đâu? Bài thuốc chữa rối loạn thần kinh thực vật Bài thuốc chữa rối loạn thần kinh thực vật Rối loạn thần kinh thực vật Rối loạn thần kinh thực vật

 

[Xem thêm: benh tac nghen phoi]

Có tận mắt chứng kiến cảnh ông cặm cụi sắc thuốc, rót nước, đưa thuốc cho bà mới thấu hiểu tình cảm sâu sắc của đôi vợ chồng “Thập cổ lai hy”- cụ ông Nguyễn Huy Thữ – cụ bà Nguyễn Thị Mại ở 254/45 đường Bưởi, Hà Nội. Dù đã kinh qua nhiều khó khăn trong cuộc sống nhưng tình yêu ông dành cho bà khi bà trải qua những cơn bạo bệnh vẫn khiến người ta cảm động.

Tình yêu – liều thuốc diệu kỳ cho “trái tim không khỏe”
Hạnh phúc của ông bà Nguyễn Huy Thữ và Nguyễn Thị Mại

Sau bao năm vất vả vì con cháu, những tưởng năm tháng cuối đời là thời gian để ông bà tận hưởng niềm hạnh phúc bình yên. Nhưng không, căn bệnh tim mạch đã nhiều lần toan “cướp” bà khỏi ông để lại cho ông những xót xa và lo sợ mất đi “một nửa” của riêng mình. Bà bị bệnh tiểu đường từ lâu, mấy năm trước bà phát hiện thêm các biến chứng của bệnh tiểu đường trên tim mạch: Loạn nhịp tim, huyết áp có khi lên tới 210mmHg. Những biểu hiện mệt mỏi, khó thở kéo dài triền miên khiến bà “lúc nào cũng nằm trong cơn mê”. Để sẵn sàng đối phó với những tình huống xấu nhất, ông và các con luôn dự phòng trong nhà hai bình oxy để sử dụng luân phiên.

Ông trời không lấy của ai tất cả bao giờ, bởi bên bà luôn có người chồng tận tụy, yêu thương, chăm sóc cho bà từ miếng ăn, giấc ngủ. Hàng ngày, ông cặm cụi sắc táo tàu, mộc nhĩ, nấm hương, thịt nạc… chia thành từng khay nhỏ, mỗi ngày đưa bà uống hai lần. Ông cũng là người đồng hành sát cánh bên bà trong những lần chuyển từ viện này đến viện khác, hay những lần bà phải đi thông mạch, đặt sten. Nhưng tất cả vậy vẫn chưa đủ để đưa bà trở lại cuộc sống bình thường, sức khỏe của bà dường như vẫn dậm chân tại chỗ.

Tình yêu luôn là động lực bền vững nhất để thôi thúc ông bằng mọi giá giữ bà bên cạnh. Ông trăn trở, tìm hiểu về bệnh của bà và các sản phẩm phù hợp giúp cải thiện bệnh. Biết đến sản phẩm ÍCH TÂM KHANG qua báo đài, ông nhen nhóm trong mình chút hy vọng để giữ [Xem thêm: benh phoi tac nghen man tinh] bà lâu hơn. Sự tận tâm, tình yêu thương của ông đã được đền đáp. Hàng ngày chứng kiến bà ăn ngon miệng, ngủ ngon giấc, ông yên tâm khi thấy bà khỏe mạnh dần lên, cơ thể nhẹ nhàng, tỉnh táo, nhịp tim, huyết áp cũng trở lại ổn định. Gần hai năm nay bà không phải đi viện, sinh hoạt đi lại bình thường, cùng ông cơm nước, chăm lo nhà cửa. Đôi bình oxy cũng được bỏ quên và xếp gọn trong góc nhà, ông hóm hỉnh chia sẻ sẽ cất giữ chúng như lưu giữ những kỷ vật tình yêu của ông bà.

Hạnh phúc sẽ luôn mỉm cười với những ai biết yêu thương từ trái tim. Và với đôi [Xem thêm: bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính] vợ chồng già này cũng vậy, hạnh phúc chỉ đơn giản là sự quan tâm, lo lắng, chăm sóc nhau từ những điều giản dị nhất như ông mang nước, nhắc bà uống thêm ÍCH TÂM KHANG mỗi ngày để khỏe mạnh và bên ông dài lâu hơn nữa.

Nguyễn Thị Mai

Sản phẩm này không phải là thuốc, không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh

[Xem thêm: benh phoi tac nghen man tinh]