Author Archives: dungntk

soi


Tóm tắt

  • Sởi là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ dù đã có vắc xin an toàn và rẻ tiền.
  • Năm 2012, có 122.000 tử vong do sởi trên toàn cầu – khoảng 330 tử vong mỗi ngày hay là 14 tử vong mỗi giờ.
  • Tiêm vắc xin sởi làm cho tử vong do sởi giảm 78% từ năm 2000 đến 2012 toàn cầu.
  • Năm 2012, khoảng 84% trẻ em toàn cầu được tiêm một liều vắc xin sởi trước khi một tuổi – so với 72% năm 2000.
  • Từ năm 2000, hơn 1 tỷ trẻ em ở các quốc gia nguy cơ cao được tiêm vắc xin chống bệnh này thông qua các chiến dịch tiêm vắc xin mở rộng – khoảng 145 triệu trẻ trong năm 2012.

Sởi là một bệnh nghiêm trọng, dễ lây truyền do vi rút gây ra. Năm 1980, trước khi tiêm vắc xin rộng rãi, sởi gây ra khoảng 2,6 triệu tử vong mỗi năm.

Sởi vẫn là một nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ em trên toàn cầu, dù đã có sẵn vắc xin an toàn và rẻ tiền. Khoảng 122.000 người chết do sởi năm 2012 – hầu hết là trẻ em dưới 5 tuổi.

Sởi gây ra bởi vi rút paramyxovirus. Vi rút sởi bình thường sinh sống trong tế bào lót thành sau họng và phổi. Sởi là một bệnh của loài người và không xảy ra ở động vật.

Tiêm ngừa được đẩy mạnh đã tác động to lớn đến việc giảm tử vong do sởi. Từ năm 2000, hơn một tỷ trẻ em ở những quốc gia nguy cơ cao được tiêm ngừa bệnh này thông qua các chiến dịch tiêm vắc xin mở rộng – khoảng 145 triệu trẻ trong năm 2012. Tử vong do sởi toàn cầu đã giảm được 78%, từ con số ước tính 562.400 còn 122.000.

Dấu hiệu và triệu chứng

Dấu hiệu đầu tiên của sởi thường là sốt cao, bắt đầu khoảng 10 đến 12 ngày sau khi tiếp xúc với vi rút, và kéo dài từ 4 đến 7 ngày. Chảy mũi nước, ho, mắt đỏ và chảy nước mắt, những đốm nhỏ ở mặt trong má có thể phát sinh trong giai đoạn khởi phát. Sau vài ngày, ban đỏ xuất hiện, thường ở mặt và phần trên cổ. Sau khoảng 3 ngày, ban đỏ lan rộng, cuối cùng xuống tới bàn tay và bàn chân. Ban đỏ kéo dài 5 đến 6 ngày và sau đó biến mất. Trung bình, ban đỏ xuất hiện 14 ngày sau khi tiếp xúc với vi rút (trong khoảng 7 đến 18 ngày).

Sởi nặng nhiều khả năng xảy ra ở trẻ nhỏ, dinh dưỡng kém, nhất là trẻ thiếu vitamin A hoặc là trẻ có hệ miễn dịch suy yếu vì HIV/AIDS hoặc vì bệnh khác. Hầu hết các tử vong có liên quan đến sởi do các biến chứng đi kèm với sởi gây ra. Biến chứng thường gặp hơn ở trẻ dưới 5 tuổi hoặc ở người lớn hơn 20 tuổi. Biến chứng nghiêm trọng nhất bao gồm mù, viêm não (nhiễm trùng gây phù não), tiêu chảy nặng và mất nước, nhiễm trùng tai, hoặc nhiễm trùng hô hấp nặng như viêm phổi. Đến 10% các trường hợp sởi bị tử vong trong những cộng đồng có mức suy dinh dưỡng cao và thiếu hệ thống y tế đúng mức. Phụ nữ bị sởi khi có thai cũng có nguy cơ mắc biến chứng nghiêm trọng và thai có thể bị hư hoặc sinh non. Người khỏi bệnh sởi được miễn dịch đến cuối đời.

Ai có nguy cơ?

Trẻ nhỏ không tiêm ngừa có nguy cơ sởi và biến chứng của nó cao nhất, gồm cả tử vong. Phụ nữ có thai cũng có nguy cơ. Bất kỳ ai không có miễn dịch (người không từng được tiêm ngừa hoặc đã tiêm ngừa nhưng không phát sinh miễn dịch) cũng có thể mắc bệnh

Sởi vẫn thường gặp ở nhiều quốc gia đang phát triển – đặc biệt ở Châu Phi và Châu Á. Hơn 20 triệu người mắc bệnh sởi mỗi năm. Sô đông các tử vong do sởi (hơn 95%) xảy ra ở các quốc gia thu nhập thấp và hạ tầng y tế yếu kém. Các đợt dịch sởi có thể đặc biệt chết người ở những quốc gia đang chịu đựng hoặc đang hồi phục khỏi thảm họa thiên nhiên hoặc chiến tranh. Tổn hại của hạ tầng y tế hoặc các dịch vụ y tế là gián đoạn việc tiêm ngừa thường xuyên, và quá tải tại những trại cư trú làm tăng rất nhiều nguy cơ nhiễm trùng.

Lây truyền

Vi rút lây nhiễm cao lây truyền qua ho và nhảy mũi, giao tiếp cá nhân gần gủi hoặc trực tiếp tiếp xúc với nước mũi hoặc đàm trong họng đã nhiễm trùng.

Vi rút tiếp tục hoạt động và lây truyền trong không khí hoặc trên các bề mặt đã nhiễm trùng sau đến hai giờ. Nó có thể lan từ một người nhiễm trùng 4 ngày trước khi khởi phát ban đỏ đến 4 ngày sau khi ban đỏ bùng phát.

Bùng phát sởi có thể trở thành dịch, gây nhiều tử vong, nhất là ở trẻ còn nhỏ, suy dinh dưỡng. Ở những quốc gia sởi đã được loại bỏ phần lớn, các trường hợp nhập khẩu từ quốc gia khác vẫn là một nguồn nhiễm quan trọng.

Điều trị

Không có một điều trị chống vi rút đặc hiệu nào cho vi rút sởi.

Biến chứng nghiêm trọng từ sởi có thể tránh được thông qua chăm sóc hỗ trợ, bảo đảm dinh dưỡng tốt, uống nước đầy đủ và điều trị mất nước bằng dung dịch uống bù nước do WHO khuyến cáo. Dung dịch này thay thế dịch và các chất thiết yếu khác đã bị mất do tiêu chảy hoặc ói. Có thể cho kháng sinh để điều trị nhiễm trùng mắt và tai, và viêm phổi.

Tất cả trẻ em ở những nước đang phát triển được chẩn đoán sởi nên uống hai liều vitamin A, cách nhau 24 giờ. Điều trị này phục hồi nồng độ vitamin A thấp trong bệnh sởi, ngay cả ở trẻ em dinh dưỡng tốt và có thể ngăn ngừa tổn thương và mù mắt. Vitamin A đã được chứng minh làm giảm số lượng tử vong do sởi đến 50%.

Phòng ngừa

Tiêm ngừa sởi thường qui cho trẻ em, cùng với những chiến dịch tiêm chủng mở rộng ở những quốc gia tỉ lệ mắc bệnh và tỉ lệ tử vong cao là những phương pháp y tế công cộng then chốt để làm giảm tử vong do sởi toàn cầu. Vắc xin sởi đã được sử dụng được 50 năm. Nó an toàn, hữu hiệu và rẻ tiền. Chỉ mất không tới một đô la Mỹ để tiêm ngừa sởi cho trẻ.

Vắc xin sởi thường được kết hợp với vắc xin rubella và/hoặc quai bị, nơi các bệnh này đang là vấn đề. Nó riêng lẻ hoặc kết hợp đều hiệu quả như nhau.

Năm 2012, khoảng 85% trẻ em trên thế giới được tiêm một liều vắc xin sởi trước khi được một tuổi qua các dịch vụ y tế thường qui – tăng lên từ 72% năm 2000. Hai liều vắc xin được đề nghị sử dụng để bảo đảm miễn dịch và ngăn ngừa những đợt bùng phát, bởi vì 15% trẻ được tiêm ngừa không phát sinh miễn dịch từ mũi đầu tiên.

Phản ứng WHO

Mục tiêu Thiên niên kỷ Toàn cầu thứ tư (The fourth Millennium Development Goal – MDG 4) nhằm mục đích giảm tỉ lệ tử vong trẻ dưới 5 tuổi được hai phần ba từ năm 1990 đến 2015. Công nhận khả năng của tiêm vắc xin sởi làm giảm tử vong trẻ em và do mức bao phủ tiêm vắc xin sởi là một dấu hiệu tiếp cận các dịch vụ y tế trẻ em, bao phủ tiêm vắc xin sởi thường qui đã được chọn làm một chỉ số tiến bộ trong việc đạt được MDG 4.

Chứng cứ chỉ rõ lợi ích của việc cung cấp phổ biến vắc xin sởi và rubella. Trên toàn cầu, ước tính 562.400 trẻ chết vì bệnh sởi năm 2000. Vào năm 2012, sự thúc đẩy toàn cầu để cải thiện mức tiêm vắc xin đã làm giảm đến 78% tử vong. Từ năm 2000, với sự hỗ trợ của Sáng kiến Sởi & Rubella (M&R Initiative) hơn 1 tỷ trẻ đã được tiêm vắc xin thông qua các chiến dịch tiêm chủng mở rộng – khoảng 145 triệu trong năm 2012.

Sáng kiến Sởi & Rubella là một nỗ lực hợp tác của WHO, UNICEF, Chữ Thập Đỏ Hoa Kỳ, Trung tâm Phòng Chống Bệnh Hoa Kỳ (CDC) và UN Foundation nhằm hỗ trợ các quốc gia đạt được mục đích kiểm soát sởi và rubella.

Năm 2012, Sáng kiến Sởi & Rubella đưa ra một Kế hoạch Chiến lược Sởi và Rubella Toàn cầu, giai đoạn 2012 – 2020. Kế hoạch bao gồm những mục tiêu toàn cầu mới đến năm 2015 và 2020:

Đến cuối năm 2015

  • Giảm tử vong sởi toàn cầu ít nhất 95% so với năm 2000.
  • Đạt được các mục tiêu cấp vùng loại trừ sởi và rubella/hội chứng rubella bẩm sinh.

Đến cuối năm 2020

  • Đạt được mục tiêu loại trừ sởi và rubella tại ít nhất năm vùng WHO.

Chiến lược tập trung vào việc áp dụng năm thành phần cốt lõi:

  1. Đạt được và duy trì mức độ tiêm vắc xin cao với hai liều vắc xin sởi và rubella;
  2. Theo dõi bệnh sởi bằng cách khảo sát hữu hiệu và đánh giá những nỗ lực chương trình để bảo đảm sự tiến bộ và tác động tích cực của hoạt động tiêm vắc xin;
  3. Phát triển và duy trì sự sẵn sàng đối phó đợt bùng phát, đáp ứng nhanh các đợt bùng phát và điều trị hữu hiệu các trường hợp bệnh;
  4. Truyền thông và hợp tác để xây dựng sự tin tưởng công cộng và yêu cầu miễn dịch;
  5. Tiến hành các nghiên cứu và phát triển cần thiết để hỗ trợ những hoạt động tiết kiệm và cải thiện việc tiêm vắc xin và các dụng cụ chẩn đoán.

Ứng dụng Kế hoạch Chiến lược có thể bảo vệ và cải thiện cuộc sống của trẻ em và bà mẹ khắp toàn cầu một cách nhanh chóng và bền vững. Kế hoạch này cung cấp những chiến lược rõ ràng cho các nhà quản lý miễn dịch cấp quốc gia, làm việc với các thành viên tại chỗ và quốc tế, để đạt được các mục tiêu kiểm soát và loại trừ sởi và rubella năm 2015 và năm 2020. Kế hoạch xây dựng  trên nhiều năm kinh nghiệm trong việc ứng dụng các chương trình miễn dịch và tích hợp các bài học từ sáng kiến kiểm soát sởi mở rộng và loại trừ bệnh bại liệt.

 

Nguồn:Tổ chức Y tế Thế Giới  – WHO
http://who.int/mediacentre/factsheets/fs286/en/
Trần Thanh Xuân dịch

 

Suy nhược cơ thể là tình trạng bệnh lý kéo dài với những biểu hiện lo âu, khó ngủ, mệt mỏi, làm việc năng suất giảm… Có người vượt qua trong thời gian ngắn nhưng có người phải chữa dài ngày. Vậy, khi cơ thể suy nhược cần có chế độ ăn uống cân bằng, sinh hoạt khoa học.

Nguyên nhân

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến cơ thể suy nhược. Ở một số người lao động quá sức, ăn uống kiêng khem, thiếu chất dinh dưỡng dễ dẫn đến cơ thể suy nhược. Đối với một số bệnh nhân do mắc bệnh lý tâm thần có biểu hiện rối loạn cảm xúc như bực tức, nóng nảy, đôi khi quá nhạy cảm dễ kích động. Khi đó, người bệnh thường mất cảm giác thích thú, thụ động, thiếu sức sống. Có hiện tượng rối loạn tình dục với những triệu chứng mất khoái cảm ở nữ và xuất tinh sớm, bất lực ở nam. Đối với một số người bệnh là sau khi phẫu thuật, sinh đẻ hoặc mắc một số bệnh lý mạn tính nào đó… khiến suy nhược cơ thể.

Cần làm gì khi bị suy nhược cơ thể?
Ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng giúp khắc phục  suy nhược cơ thể.

Biểu hiện

Các triệu chứng hay gặp nhất là rối loạn giấc ngủ như mất ngủ, khó ngủ, ngủ chập chờn, đôi khi có ác mộng. Có hiện tượng mỏi cơ như đau nhức cơ, chuột rút, đau lưng, mệt mỏi khi vận động. Thường thấy ù tai, hoa mắt, chóng mặt, nhức đầu, sợ ánh sáng. Ngoài ra, còn có các rối loạn lo âu với cảm giác bồn chồn, khó chịu trong cơ thể, lo sợ, bi quan, mệt, uể oải, hay đổ mồ hôi trộm, da xanh xao tái nhợt, đôi khi ngất xỉu. Có cảm giác chán ăn, đầy hơi, buồn nôn, giảm ngon miệng, sụt cân.

Cách khắc phục

Tùy theo nguyên nhân mà cách khắc phục cho phù hợp. Đối với bệnh nhân sau phẫu thuật, sinh đẻ… cơ thể giảm sút toàn thân thì bên cạnh thuốc trị bệnh chính cần bổ sung nước, điện giải, chú ý chế độ ăn uống.

Thực đơn ăn uống cần đảm bảo 4 thành phần (đạm, béo, bột đường, vitamin) nhưng cần bổ sung thêm nhiều rau xanh như súp lơ, cải chíp, những loại rau nhiều axit folic và vitamin tốt cho sức khỏe, dễ ăn. Những loại hoa quả có vị thanh như thanh long, nho, cam… Nên ăn nhiều những món ăn mà mình có cảm giác ngon và thích thú. Nếu ăn uống thấy không ngon miệng thì nên chế biến món ăn loãng, dễ tiêu.

Đối với người lao động quá sức ăn uống cần đủ chất đạm, lipit ( thịt, cá, trứng,…) và cần chú ý thêm chế độ nghỉ ngơi, học và làm việc hợp lý, nhất là đảm bảo giấc ngủ trưa từ 30 phút đến một giờ. Tránh những stress, tập thư giãn, tập thở là một trong những phương cách tốt giúp cơ thể [Xem thêm: cách trị mất ngủ] điều chỉnh nhịp thở. Cần xoa bóp chân tay, nhất là vùng lưng và các khớp gối. Không uống cà phê, bia rượu, hút thuốc lá. Nếu các biểu hiện suy nhược không được cải thiện cần đến cơ sở y tế để được tư vấn và điều trị thích hợp.

Đối với người bệnh suy nhược cơ thể do các rối loạn trầm cảm, lo âu và rối loạn thần kinh thì phải dùng các thuốc chống trầm cảm, lo âu. Việc điều trị phải liên tục và kéo dài trung bình sáu tháng đến hai năm và có bác sĩ chuyên khoa tâm thần, tâm lý, nội thần kinh theo dõi.

Thạc sĩ Nguyễn Ngọc

 

5 món giúp trị  suy nhược thần kinh 5 món giúp trị suy nhược thần kinh Suy nhược thần kinh có chữa khỏi? Suy nhược thần kinh có chữa khỏi? Suy nhược thần kinh và suy nhược cơ thể Suy nhược thần kinh và suy nhược cơ thể

 

[Xem thêm: Chăm sóc sức khỏe tại nhà]

Viêm [Xem thêm: cách trị chứng mất ngủ] bờ mi là một tình trạng thường gặp và hay tái phát, xảy ra khi các chất dầu kèm vi khuẩn đóng bám vào bờ mi mắt, quanh chân lông mi làm bờ mi bị viêm, tấy. Tình trạng khó chịu này làm mắt bị kích ứng, ngứa, đỏ, nóng rát, châm chích. Viêm bờ mi thường liên quan đến bội nhiễm vi khuẩn, các triệu chứng khô mắt hoặc một số bệnh ngoài da như mụn trứng cá đỏ…

Biểu hiện và những biến chứng

Viêm bờ mi là căn bệnh khá phổ biến với người trên 50 tuổi, nhưng hiện nay cũng có rất nhiều người trẻ tuổi bị bệnh này. Nguyên nhân dẫn đến bệnh viêm bờ mi do ô nhiễm môi trường đáng báo động, các rối loạn hoóc-môn, dùng thuốc và mỹ phẩm bừa bãi… đều là những yếu tố nguy cơ thuận lợi hình thành nên căn [Xem thêm: cach tri mat ngu] bệnh này.

Biến chứng do viêm bờ mi
Hình ảnh viêm bờ mi.

Khi bị viêm bờ mi, người bệnh thường thấy chảy nước mắt hoặc đỏ mắt, cảm giác có sạn hoặc rát mắt, ngứa mắt, mi mắt sưng và đỏ, bong da xung quanh mi mắt, có vảy ở lông mi lúc ngủ dậy, nhạy cảm với ánh sáng, nước mắt có bọt, lông mi mọc bất thường, rụng lông mi.

Mi mắt có thể xuất hiện chất nhờn và vảy bám vào lông mi làm cho hai mi mắt dính với nhau cả đêm. Người bệnh có thể phải banh mi mắt vào buổi sáng vì sự bài tiết các chất dính này. Đôi khi họ còn có thể nhận thấy các chất bài tiết trong nước mắt khô vào buổi sáng giống như cát. Viêm bờ mi thường mạn tính có thể ảnh hưởng đến lớp ngoài của mi mắt, vị trí mà lông mi mọc ra hoặc phần trong mi là phần tiếp xúc với nhãn cầu.

Tuy nhiên, viêm bờ mi có những biến chứng nếu người bệnh chủ quan không đi khám khi lông mi bị rụng, lông mi mọc bất thường hoặc sẹo mi hoặc những biến chứng khác như lẹo là một nhiễm khuẩn xuất phát từ vị trí gần chân lông mi. Nó là một bướu ở bờ hoặc trong mi mắt đau. Lẹo thường dễ thấy trên bề mặt mi mắt. Chảy nhiều nước mắt hoặc khô mắt cũng do bài tiết chất dầu bất thường và các hạt bám ở lông mi giống như gàu bám da đầu. Viêm bờ mi có thể làm tái phát đau mắt đỏ. Đôi khi gây ra tổn thương giác mạc do kích thích liên tục từ bờ mi bị viêm hoặc lông xiên gây xước, loét giác mạc.

Vệ sinh tốt để phòng bệnh

Viêm bờ mi khó điều trị nhưng vệ sinh tốt có thể kiểm soát được các triệu chứng và phòng bệnh. Vệ sinh mắt rất quan trọng bệnh nhân cần được hướng dẫn lật mi theo chiều đứng để vệ sinh và massage mi. Ở tư thế trên các lỗ tuyến sụn mi sẽ được bộc lộ, ta sẽ lau chùi mi từ bên này sang bên kia để loại trừ các vảy bám, dùng dung dịch rửa mắt (theo đơn của bác sĩ) để lau rửa mắt thường xuyên. Có thể dùng tăm bông, miếng gạc hay chính các ngón tay để làm công việc này. Việc lau chùi cần làm hàng ngày cho đến khi thấy không còn khó chịu gì. Cần lưu ý là việc vệ sinh mi có thể gây nguy hiểm cho mắt nếu không tuân thủ quy trình và dùng dụng cụ thích hợp. Đa phần các triệu chứng của viêm mi sẽ giảm trông thấy sau một thời gian vệ sinh mi và massage mi.

Viêm bờ mi là căn bệnh mạn tính khó điều trị dứt điểm nên đòi hỏi người bệnh kiên trì điều trị. Nếu có dấu hiệu bất thường cần đến khám các bệnh viện chuyên khoa.

Bác sĩ Phan Minh Ngọc

 

Viêm bờ mi dễ tái phát Viêm bờ mi dễ tái phát Viêm bờ mi do đâu? Viêm bờ mi do đâu? Viêm nhiễm bờ mi mắt, điều trị thế nào? Viêm nhiễm bờ mi mắt, điều trị thế nào?

 

Viêm bờ mi là một tình trạng thường gặp và hay tái phát, xảy ra khi các chất dầu kèm vi khuẩn đóng bám vào bờ mi mắt, quanh chân lông mi làm bờ mi bị viêm, tấy. Tình trạng khó chịu này làm mắt bị kích ứng, ngứa, đỏ, nóng rát, châm chích. Viêm bờ mi thường liên quan đến bội nhiễm vi khuẩn, các triệu chứng khô mắt hoặc một số bệnh ngoài da như mụn trứng cá đỏ…

Biểu hiện và những biến chứng

Viêm bờ mi là căn bệnh khá phổ biến với người trên 50 tuổi, nhưng hiện nay cũng có rất nhiều người trẻ tuổi bị bệnh này. Nguyên nhân dẫn đến bệnh viêm bờ mi do ô nhiễm môi trường đáng báo động, các rối loạn hoóc-môn, dùng thuốc và mỹ phẩm bừa bãi… đều là những yếu tố nguy cơ thuận lợi hình thành nên căn bệnh này.

Biến chứng do viêm bờ mi
Hình ảnh viêm bờ mi.

Khi bị viêm bờ mi, người bệnh thường thấy chảy nước mắt hoặc đỏ mắt, cảm giác có sạn hoặc rát mắt, ngứa mắt, mi mắt sưng và đỏ, bong da xung quanh mi mắt, có vảy ở lông mi lúc ngủ dậy, nhạy cảm với ánh sáng, nước mắt có bọt, lông mi mọc bất thường, rụng lông mi.

Mi mắt có thể xuất hiện chất nhờn và vảy bám vào lông mi làm cho hai mi mắt dính với nhau cả đêm. Người bệnh có thể phải banh mi mắt vào buổi sáng vì sự bài tiết các chất dính này. Đôi khi họ còn có thể nhận thấy các chất bài tiết trong nước mắt khô vào buổi sáng giống như cát. Viêm bờ mi thường mạn tính có thể [Xem thêm: cách trị chứng mất ngủ] ảnh hưởng đến lớp ngoài của mi mắt, vị trí mà lông mi mọc ra hoặc phần trong mi là phần tiếp xúc với nhãn cầu.

Tuy nhiên, viêm bờ mi có những biến chứng nếu người bệnh chủ quan không đi khám khi lông mi bị rụng, lông mi mọc bất thường hoặc sẹo mi hoặc những biến chứng khác như lẹo là một nhiễm khuẩn xuất phát từ vị trí gần chân lông mi. Nó là một bướu ở bờ hoặc trong mi mắt đau. Lẹo thường dễ thấy trên bề mặt mi mắt. Chảy nhiều nước mắt hoặc khô mắt cũng do bài tiết chất dầu bất thường và các hạt bám ở lông mi giống như gàu bám da đầu. Viêm bờ mi có thể làm tái phát đau mắt đỏ. Đôi khi gây ra tổn thương giác mạc do kích thích liên tục từ bờ mi bị viêm hoặc lông xiên gây xước, loét giác mạc.

Vệ sinh tốt để phòng bệnh

Viêm bờ mi khó điều trị nhưng vệ sinh tốt có thể kiểm soát được các triệu chứng và phòng bệnh. Vệ sinh mắt rất quan trọng bệnh nhân cần được hướng dẫn lật mi theo chiều đứng để vệ sinh và massage mi. Ở tư thế trên các lỗ tuyến sụn mi sẽ được bộc lộ, ta sẽ lau chùi mi từ bên này sang bên kia để loại trừ các vảy bám, dùng dung dịch rửa mắt (theo đơn của bác sĩ) để lau rửa mắt thường xuyên. Có thể dùng tăm bông, miếng gạc hay chính các ngón tay để làm công việc này. Việc lau chùi cần làm hàng ngày cho đến khi thấy không còn khó chịu gì. Cần lưu ý là việc vệ sinh mi có thể [Xem thêm: cach tri hen suyen] gây nguy hiểm cho mắt nếu không tuân thủ quy trình và dùng dụng cụ thích hợp. Đa phần các triệu chứng của viêm mi sẽ giảm trông thấy sau một thời gian vệ sinh mi và massage mi.

Viêm bờ mi là căn bệnh mạn tính khó điều trị dứt điểm nên đòi hỏi người bệnh kiên trì điều trị. Nếu có dấu hiệu bất thường cần đến khám các bệnh viện chuyên khoa.

Bác sĩ Phan Minh Ngọc

 

Viêm bờ mi dễ tái phát Viêm bờ mi dễ tái phát Viêm bờ mi do đâu? Viêm bờ mi do đâu? Viêm nhiễm bờ mi mắt, điều trị thế nào? Viêm nhiễm bờ mi mắt, điều trị thế nào?

 

Tweet

Thiếu cân, sụt cân nhanh chóng là biểu hiện của sự gầy ốm, suy nhược cơ thể và là nguy cơ tiềm ẩn những căn bệnh khác, đôi khi có thể dẫn tới tử vong.

Khi nhận ra mình đang rơi vào tình trạng này, người gầy ốm đôi khi chủ quan hoặc chỉ nghĩ đơn giản là ăn nhiều hơn, ngủ nhiều hơn sẽ tăng cân. Song, thực tế lại không phải như vậy, rất nhiều người gầy gần như không thể tăng cân hoặc chỉ tăng cân vài tháng rồi lại trở về trạng thái như ban đầu.

Câu hỏi đặt ra: Vì sao tăng cân chắc khoẻ và bền vững lại khó như vậy ?

Dưới đây là 4 tác động cơ bản không chỉ giúp người gầy tăng cân hiệu quả, dễ dàng mà còn đem lại một sức khoẻ tốt, cơ thể săn chắc và vóc dáng thon gọn.

Thanh lọc, thải độc cơ thể

4 tác động giúp người gầy tăng cân hiệu quả - 1

Hàng ngày, cơ thể phải tiếp xúc với rất nhiều các chất độc từ đồ ăn và không khí khói bụi. Thông thường, các tác nhân gây hại từ môi trường sẽ không gây ảnh hưởng rõ rệt tới sức khỏe của bạn. Tuy nhiên, khi các cơ quan lọc độc là gan và thận làm việc không tốt, cơ thể bị tích tụ nhiều chất độc thì đây sẽlà tác nhân gây ảnh hưởng nghiêm trọng, nhất là đối với những người gầy ốm, suy nhược cơ thể. Những biểu hiện thường thấy khi cơ thể chứa nhiều chất độc – gốc tự do gây hại là: thường xuyên mệt mỏi, chán ăn, hay ốm vặt, sức khỏe và sức đề kháng yếu. Vì vậy, các chất chống oxi hóa, chống gốc tự do sẽ là vũ khí đắc lực giúp bạn trong việc thanh lọc, thải độc này. Hãy thường xuyên bổ sung các chất chống oxi hóa tự nhiên từ thực phẩm hàng ngày như: rau, củ, quả và tảo Spirulina….

Tăng cường dinh dưỡng đầy đủ hơn

4 tác động giúp người gầy tăng cân hiệu quả - 2

Dinh dưỡng chắc chắn là yếu tố người gầy không thể bỏ qua nếu muốn tăng cân. Ăn nhiều hơn, không bỏ bữa, đặc biệt là bữa sáng là những điều kiện kiên quyết trong quá trình tăng cân của người gầy. Tuy nhiên, chỉ như vậy thì không đủ. Để tăng cân hiệu quả, ngoài việc tăng cường lượng dưỡng chất hàng ngày, người gầy cần phải đảm bảo sự đa dạng của các nhóm chất dinh dưỡng đó. Các nhóm chất người gầy cần phải có trong các bữa ăn là:

– Protein (đạm): cần bổ sung cả đạm động vật và thực vật;

– Các vitamin và chất khoáng (từ rau xanh, trái cây…);

– Các chất béo bão hòa (từ động vật) và chất béo không bão hòa (từ thực vật);

– Năng lượng (từ các thực phẩm chứa nhiều tinh bột: cơm, khoai, sắn…);

Nếu không thể bổ sung đầy đủ các nhóm chất dinh dưỡng này hàng ngày, bạn có thể nhờ tới sự trợ giúp của các thực phẩm bổ sung có nguồn gốc từ tự nhiên để đảm bảo cơ thể không bị thiếu hụt chất.

Tăng cường khả năng hấp thu tốt hơn

Đa số người gầy khó tăng cân là do khả năng hấp thu dinh dưỡng kém, đặc biệt nếu bạn đang mắc chứng đau dạ dày hay viêm đại tràng thì đây lại càng là một vấn đề nan giải.Để khắc phục nguyên nhân này, người gầy cầngia tăng số lượng lợi khuẩn (probiotics) và khả năng hoạt động của chúng trong đường ruộtbằng việc sử dụng các loại men vi sinh, sữa chua hàng ngày. Đồng thời, người gầy có thể dùng thêm những thực phẩm bổ sung có chứa các chất chống oxi hóa cao, vitamin và khoáng chất nhằm tạo môi trường tốt cho các lợi khuẩn (probiotics) phát triển….

Ngủ đủ giấc, chăm sóc cho giấc ngủ ngon và sâu hơn

4 tác động giúp người gầy tăng cân hiệu quả - 3

Giấc ngủ đóng vai trò quan trọng giúp bạn tăng cân. Thường xuyên thức khuya, ngủ không đủ giấc (ít hơn 7 – 8 tiếng/ ngày) sẽ làm cơ thể mệt mỏi, stress, căng thẳng, và giảm khả năng ăn uống. Vì vậy, giữ cho não bộ có được thời gian nghỉ ngơi hoàn toàn trong 7 – 8 tiếng/ ngày, không [Xem thêm: cách trị bệnh mất ngủ] chỉ giúp bạn khỏe hơn mà còn tăng cường khả năng ăn uống, tiêu hóa, hấp thu dinh dưỡng hàng ngày của bạn. Các phương pháp hỗ trợ để bạn có một giấc ngủ ngon, sâu giấc như: tập thể dục nhẹ nhàng trước khi đi ngủ, uống 1 ly sữa ấm vào buổi tối nhằm bổ sung 2 axit amin là Tryptophan và Phenylalanin, đây là 2 axit aminrất tốt cho giấc ngủ ngon…

Và cuối cùng, để có kết quả tốt nhất, một “chiến dịch tăng cân” thành công, người gầy nên áp dụng đồng thời cả 4 tác động trên và kết hợp tập thể dục nhẹ nhàng, vừa sức mỗi ngày. Như vậy, tăng cân không còn là việc quá khó mà đơn giản chỉ là đúng cách và kiên trì. Mong rằng, những “siêu cò hương” sẽ sớm tăng cân, khoẻ mạnh, săn chắc và có vóc dáng “chuẩn” để tự tin hơn trong cuộc sống.

Ths.Bs.Lê Thị Hải

Giám đốc TT Dinh Dưỡng – Viện dinh dưỡng Quốc Gia

Viêm loét dạ dày

Tin liên quan:
Trẻ tử vong sau tiêm vắc xin, người nhà “tố” cán bộ Trạm Y tế tắc trách

Trẻ tử vong sau tiêm vắc xin, người nhà “tố” cán bộ Trạm Y tế tắc trách
24/04/2014 08:21

Một bệnh nhi tử vong sau khi bác sĩ tiêm thuốc giảm đau bụng

Một bệnh nhi tử vong sau khi bác sĩ tiêm thuốc giảm đau bụng
21/04/2014 14:20

Thêm 70 trường hợp mắc mới, 4 trường hợp tử vong liên quan đến sởi

Thêm 70 trường hợp mắc mới, 4 trường hợp tử vong liên quan đến sởi
21/04/2014 09:16

Lần đầu tiên lý giải được vì sao nhiều trẻ 9 tháng mắc sởi

Lần đầu tiên lý giải được vì sao nhiều trẻ 9 tháng mắc sởi
20/04/2014 12:27

Dịch sởi: ”Nóng” chỉ đạo, “lạnh” thực hiện!

Dịch sởi: ”Nóng” chỉ đạo, “lạnh” thực hiện!
19/04/2014 08:42

Vụ tử vong sau khi rút tủy: Bệnh viện đã nhận lỗi với gia đình bệnh nhân

Vụ tử vong sau khi rút tủy: Bệnh viện đã nhận lỗi với gia đình bệnh nhân
17/04/2014 16:55

Tin cũ hơn:
Một số phản ứng của cơ thể có thể gặp sau khi uống sữa Một [Xem thêm: cách trị bệnh hen suyễn] số phản ứng của cơ thể có thể gặp sau khi uống sữa
22/04/2014 08:34
Bệnh của doanh nhân Bệnh của doanh nhân
21/04/2014 09:24
Vai trò của MK7 với sức khỏe con người Vai trò của MK7 với sức khỏe con người
18/04/2014 12:55
Chạy bộ quá nhiều có thể làm giảm tuổi thọ trung bình Chạy bộ quá nhiều có thể làm giảm tuổi thọ trung bình
17/04/2014 08:25
Đi bộ chữa được nhiều bệnh Đi bộ chữa được nhiều bệnh
15/04/2014 16:13
5 cách trị đau đầu không cần thuốc 5 cách trị đau đầu không cần thuốc
13/04/2014 20:54
Trang kế >>

Không nói chi đến thảm trạng của bệnh nhân tai biến mạch máu não hay nhồi máu cơ tim, hình ảnh bi thảm khó tránh của bệnh tiểu đường là suy thận, mù mắt, đoạn chi! Hậu quả đó sở dĩ vẫn còn là cơn ác mộng triền miên của người bệnh tiểu đường vì các mạch máu nhỏ (vi mạch) rất dễ bị thuyên tắc nếu bệnh không nằm trong vòng kiểm soát.

Hệ thống vi mạch bao giờ cũng là miếng mồi ngon trong bệnh tiểu đường, càng xa trái tim càng dễ tắc nghẽn, vì:

– Dòng máu đậm đặc hơn bình thường do tăng mỡ máu.

– Mạch máu dễ bị thương tổn, mạch máu càng nhỏ càng là yếu điểm, do tác hại của rối loạn biến dưỡng chất đường khiến tiểu cầu, chất mỡ, chất vôi… có cơ hội kết dính vào mặt trong thành mạch.

– Mạch máu co thắt thái quá vì trục trặc lúc nào cũng chực chờ trong khâu thần kinh – nội tiết của người bệnh có lượng đường huyết không ổn định.

Vì sao phải bảo vệ vi mạch trong bệnh tiểu đường?
Câu kỳ tử – vị thuốc quí hỗ trợ điều trị biến chứng tiểu đường

Đường huyết càng dao động, hiện tượng xơ vữa vi mạch càng nhanh chân chiếm thế thượng phong. Tình trạng thiếu dưỡng khí cục bộ khi đó không [Xem thêm: cách chữa mất ngủ] mời cũng đến. Hậu quả tất nhiên nghiêm trọng nếu nơi thiếu dưỡng khí là não bộ, thành tim… Biện pháp dự phòng biến chứng trong bệnh tiểu đường vì thế phải tập trung vào mục tiêu được thầy thuốc Đông Y định danh là hoạt huyết, nghĩa là vừa giữ cho máu loãng, chẳng hạn với alpha lipoic acid, vừa bảo vệ mặt trong mạch máu trước tác dụng oxy-hóa của phế phẩm biến dưỡng trong bệnh tiểu đường, như với Câu kỷ tử…

Muốn ngăn chặn biến chứng nghiêm trọng của bệnh tiểu đường phải bảo vệ cho bằng được mạng lưới mạch máu li ti trên vỏ não, cơ tim, đáy mắt, cầu thận… Mục tiêu đó hoàn toàn bất khả thi nếu chỉ trông mong vào viên thuốc hạ đường huyết bằng hóa chất tổng hợp. Bằng chứng là tỷ lệ biến chứng của căn bệnh này ở các nước tiên tiến, nơi không thiếu thuốc đặc hiệu, vẫn chưa được cải thiện! Đó cũng chính là lý do tại sao càng lúc càng có [Xem thêm: cach chua tri benh hen suyen] nhiều thầy thuốc trở về với dược liệu thiên nhiên.

Bác sĩ Lương Lễ Hoàng 

Trung Tâm Điều Trị Oxy Cao Áp, Tp. HCM

 

Sự hiện diện của các thành phần Câu kỷ tử, Mạch môn, Nhàu, Hoài sơn & Alpha lipoic acid trong TPCN HỘ TẠNG ĐƯỜNG, là giải pháp phòng ngừa và hỗ trợ điều trị biến chứng của bệnh tiểu đường (trên tim, mắt, thận, thần kinh) đồng thời giúp điều hòa đường huyết, giảm cholesterol máu, chống oxy hóa.

Vì sao phải bảo vệ vi mạch trong bệnh tiểu đường?

Thông tin tư vấn: 04.3775.9865 – 08.3977.8085

(website: dongtay.net.vn)

Giấy TNHSĐKQC: 1467/2012/TNQC-ATTP

 (Sản phẩm không phải là thuốc, không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh)

 

Không nói chi đến thảm trạng của bệnh nhân tai biến mạch máu não hay nhồi máu cơ tim, hình ảnh bi thảm khó tránh của bệnh tiểu đường là suy thận, mù mắt, đoạn chi! Hậu quả đó sở dĩ vẫn còn là cơn ác mộng triền miên của người bệnh tiểu đường vì các mạch máu nhỏ (vi mạch) rất dễ bị thuyên tắc nếu bệnh không nằm trong vòng kiểm soát.

Hệ thống vi mạch bao giờ cũng là miếng mồi ngon trong bệnh tiểu đường, càng xa trái tim càng dễ tắc nghẽn, vì:

– Dòng máu đậm đặc hơn bình thường do tăng mỡ máu.

– Mạch máu dễ bị thương tổn, mạch máu càng nhỏ càng là yếu điểm, do tác hại của rối loạn biến dưỡng chất đường khiến tiểu cầu, chất mỡ, chất vôi… có cơ hội kết dính vào mặt [Xem thêm: cách chữa trị bệnh hen suyễn] trong thành mạch.

– Mạch máu co thắt thái quá vì trục trặc lúc nào cũng chực chờ trong khâu thần kinh – nội tiết của người bệnh có lượng đường huyết không ổn định.

Vì sao phải bảo vệ vi mạch trong bệnh tiểu đường?
Câu kỳ tử – vị thuốc quí hỗ trợ điều trị biến chứng tiểu đường

Đường huyết càng dao động, hiện tượng xơ vữa vi mạch càng nhanh chân chiếm thế thượng phong. Tình trạng thiếu dưỡng khí cục bộ khi đó không mời cũng đến. Hậu quả tất nhiên nghiêm trọng nếu nơi thiếu dưỡng khí là não bộ, thành tim… Biện pháp dự phòng biến chứng trong bệnh tiểu đường vì thế phải tập trung vào mục tiêu được thầy thuốc Đông Y định danh là hoạt huyết, nghĩa là vừa giữ cho máu loãng, chẳng hạn với alpha lipoic acid, vừa bảo vệ mặt trong mạch máu trước tác dụng oxy-hóa của phế phẩm biến dưỡng trong bệnh tiểu đường, như với Câu kỷ tử…

Muốn ngăn chặn biến chứng nghiêm trọng của bệnh tiểu đường phải bảo vệ cho bằng được mạng lưới mạch máu li ti trên vỏ não, cơ tim, đáy mắt, cầu thận… Mục tiêu đó hoàn toàn bất khả thi nếu chỉ trông mong vào viên [Xem thêm: cách trị hen suyễn] thuốc hạ đường huyết bằng hóa chất tổng hợp. Bằng chứng là tỷ lệ biến chứng của căn bệnh này ở các nước tiên [Xem thêm: cach tri benh hen suyen] tiến, nơi không thiếu thuốc đặc hiệu, vẫn chưa được cải thiện! Đó cũng chính là lý do tại sao càng lúc càng có nhiều thầy thuốc trở về với dược liệu thiên nhiên.

Bác sĩ Lương Lễ Hoàng 

Trung Tâm Điều Trị Oxy Cao Áp, Tp. HCM

 

Sự hiện diện của các thành phần Câu kỷ tử, Mạch môn, Nhàu, Hoài sơn & Alpha lipoic acid trong TPCN HỘ TẠNG ĐƯỜNG, là giải pháp phòng ngừa và hỗ trợ điều trị biến chứng của bệnh tiểu đường (trên tim, mắt, thận, thần kinh) đồng thời giúp điều hòa đường huyết, giảm cholesterol máu, chống oxy hóa.

Vì sao phải bảo vệ vi mạch trong bệnh tiểu đường?

Thông tin tư vấn: 04.3775.9865 – 08.3977.8085

(website: dongtay.net.vn)

Giấy TNHSĐKQC: 1467/2012/TNQC-ATTP

 (Sản phẩm không phải là thuốc, không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh)

 

Bệnh viêm não Nhật Bản là một bệnh nhiễm khuẩn cấp tính do Arbovirus có tên là virut viêm não Nhật Bản gây ra. Bệnh lây truyền sang người do muỗi đốt. Hiện nay, ở miền Bắc, mưa và nồm ẩm kéo dài tạo điều kiện thuận lợi [Xem thêm: Benh tai mui hong] cho muỗi phát triển mạnh nên nguy cơ lây các bệnh do muỗi truyền, trong đó có viêm não Nhật Bản càng cao.

Phải chú ý nhận dạng nhiều thể bệnh

Hầu hết người bị nhiễm virut viêm não Nhật Bản ở thể ẩn, nghĩa là không có triệu chứng lâm sàng. Một vài nghiên cứu cho biết: có dưới 1% số người bị nhiễm virut viêm não Nhật Bản biểu hiện bệnh trên thực tế với các dấu hiệu rất đa dạng, từ nhẹ như cảm cúm đến nặng gây tử vong. Nhưng dù ở bất cứ nhiễm bệnh ở thể nào thì bệnh nhân vẫn tạo kháng thể đặc hiệu.

Sơ đồ lây truyền bệnh viêm não Nhật Bản.

Sơ đồ lây truyền bệnh viêm não Nhật Bản.

Thể ẩn: nhiều bệnh nhân nhất, không có triệu chứng lâm sàng, cứ 1 bệnh nhân có triệu chứng điển hình thì có tới 200 – 300 bệnh nhân thể ẩn. Còn Tổ chức Y tế Thế giới cho biết, tỉ lệ này dao động từ 20 – 1.000 trường hợp thể ẩn/1 điển hình.

Các thể bệnh có triệu chứng như sau:

Thể nhẹ: bệnh nhân có sốt, nhức đầu, nôn, không có triệu chứng đặc hiệu.

Thể màng não: bệnh nhân có hội chứng nhiễm khuẩn, dấu hiệu màng não, có thể bị rối loạn ý thức nhẹ.

Thể tủy sống: bệnh nhân có sốt, sau đó liệt mềm, liệt không đồng đều, liệt ở chân nặng hơn tay, rối loạn tri giác và xuất hiện hội chứng viêm não sau đó. Chụp cộng hưởng từ tủy sống, đo điện cơ và dẫn truyền thần kinh thấy có tổn thương sừng trước tủy sống.

Thể điển hình: thời gian ủ bệnh từ 5 – 15 ngày, khởi bệnh với hội chứng nhiễm khuẩn không điển hình: sốt, rối loạn tiêu hóa, nôn, đau bụng, tiêu chảy, viêm long đường hô hấp, ho, chảy máu cam… Sang giai đoạn toàn phát: có hội chứng nhiễm khuẩn kèm theo: sốt, lợm giọng, buồn nôn, nhức đầu ở trẻ lớn. Thân nhiệt 39 – 40oC hay hơn, cơn co giật toàn thân hoặc cục bộ. Rối loạn tri giác như li bì, lơ mơ đến kích động, hôn mê. Dấu hiệu màng não, động tác tự động, phản xạ bệnh lý, liệt chi, liệt thần kinh sọ não, liệt nửa người, một chi hoặc tứ chi, biến đổi phản xạ gân xương, mất vận động, mất ngôn ngữ… Xuất hiện những cơn gật đầu, quay đầu, cơn quay mắt, co cứng, co vặn cơ, run, ngón tay mân mê như vấn thuốc, múa vờn múa giật, mặt nhăn nhó, chép môi…

Các biến chứng

Bệnh viêm não Nhật Bản có những trường hợp nặng gây tử vong, còn một số biến chứng như sau: bội nhiễm phổi ở bệnh nhân hôn mê sâu do ứ đọng đàm nhớt, mất phản xạ ho, sặc hoặc liệt hầu họng dễ đưa đến viêm phổi hít; nhiễm khuẩn tiểu sau rối loạn cơ vòng hoặc sau thông tiểu bị nhiễm khuẩn; phù não do hạ natri máu; cơn động kinh ác tính xảy ra nếu không tích cực chống động kinh, chống phù não và cung cấp đủ oxy; xuất huyết tiêu hóa; suy dinh dưỡng và loét.

Điều trị thế nào?

Cho đến nay, vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu bệnh viêm não Nhật Bản. Việc điều trị chủ yếu là hồi sức cấp cứu và điều trị triệu chứng như chống phù não, an thần chống [Xem thêm: Bệnh tai mũi họng] co giật, kiểm soát nhiệt độ, hỗ trợ tuần hoàn, hô hấp, ngăn ngừa bội nhiễm và dinh dưỡng, chống loét… Theo đó, bệnh nhân cần vệ sinh răng miệng, xoay trở để tránh loét do tư thế nằm lâu; vỗ lưng, nằm tư thế dẫn lưu đàm, hút đàm rãi; nếu có bội nhiễm, cần điều trị bằng kháng sinh. Bệnh nhân cũng cần được cung cấp dinh dưỡng đầy đủ, nâng thể trạng.

Lời khuyên của bác sĩ

Bệnh viêm não Nhật Bản là bệnh nặng, có thể tử vong hoặc biến chứng nặng. Vì vậy, việc phòng tránh bệnh trở nên rất quan trọng. Hiện nay, biện pháp phòng bệnh chủ yếu là tiêm phòng vaccin viêm não Nhật Bản. Những người du lịch có thời gian lưu trú ở nông thôn hơn 1 tháng hoặc trên 12 tháng ở thành phố có dịch cần được tiêm phòng.

Vì bệnh chủ yếu do muỗi đốt truyền bệnh nên cần phải diệt muỗi và phòng chống muỗi đốt. Diệt muỗi bằng cách: dùng thuốc xịt muỗi, dùng vợt điện. Diệt bọ gậy bằng các biện pháp: thả cá bảy màu, cá đuôi cờ vào các nơi chứa nước như bể, chum, vại, lu, khạp… để cá ăn bọ gậy. Loại bỏ nơi muỗi đẻ: hủy bỏ các vật phế thải xung quanh nhà là những nơi có thể chứa nước mưa tạo nơi đẻ trứng của muỗi như chai lọ vỡ, ống bơ, gáo dừa, lốp xe… Bỏ muối hay nhỏ dầu hỏa vào bát nước kê chân chạn. Thường xuyên thay rửa lọ hoa (bình bông). Phòng tránh muỗi đốt bằng cách: mặc quần dài, áo dài tay cho trẻ em, người lớn. Luôn luôn ngủ trong màn, kể cả ban ngày.

Đường truyền bệnh viêm não Nhật Bản

Virut gây viêm não Nhật Bản được truyền sang người qua vết đốt. Hai loài muỗi vằn Culextritaeniorhynchus và Culex vishnui bị nhiễm bệnh đốt sẽ gây bệnh cho người. Nguồn chứa mầm bệnh trong tự nhiên: chủ yếu là các loài chim lội nước và hầu hết gia súc gần người như trâu, bò, dê, cừu, chó, lợn đều có thể là ổ chứa mầm bệnh, trong đó lợn là vật chủ quan trọng nhất có khả năng làm lan rộng virut dễ truyền bệnh cho người nhất. Vì thế, sự lan truyền virut xảy ra chủ yếu ở vùng nông nghiệp nông thôn. Nhưng ở một số vùng của châu Á, trong đó có Việt Nam, bệnh có thể xảy ra gần các trung tâm đô thị. Tuy bệnh có thể xảy ra quanh năm nhưng đỉnh cao vẫn là mùa mưa.

ThS. Trần Minh Thanh

Bài thuốc dân gian trị ho cho trẻ em hiệu quả Bài thuốc dân gian trị ho cho trẻ em hiệu quả Sốt cao co giật ở trẻ em và cách xử trí Sốt cao co giật ở trẻ em và cách xử trí Nhiễm khuẩn đường tiểu ở trẻ em Nhiễm khuẩn đường tiểu ở trẻ em

 

Bệnh viêm não Nhật Bản là một bệnh nhiễm khuẩn cấp tính do Arbovirus có tên là virut viêm não Nhật Bản gây ra. Bệnh lây truyền sang người do muỗi đốt. Hiện nay, ở miền Bắc, mưa và nồm ẩm kéo dài tạo điều kiện thuận lợi cho muỗi phát triển mạnh nên nguy cơ lây các bệnh do muỗi truyền, trong đó có viêm não Nhật Bản càng cao.

Phải chú ý nhận dạng nhiều thể bệnh

Hầu hết người bị nhiễm virut viêm não Nhật Bản ở thể ẩn, nghĩa là không có triệu chứng lâm sàng. Một vài nghiên cứu cho biết: có dưới 1% số người bị nhiễm virut viêm não Nhật Bản biểu hiện bệnh trên thực tế với các dấu hiệu rất đa dạng, từ nhẹ như cảm cúm đến nặng gây tử vong. Nhưng dù ở bất cứ nhiễm bệnh ở thể nào thì bệnh nhân vẫn tạo kháng thể đặc hiệu.

Sơ đồ lây truyền bệnh viêm não Nhật Bản.

Sơ đồ lây truyền bệnh viêm não Nhật Bản.

Thể ẩn: nhiều bệnh nhân nhất, không có triệu chứng lâm sàng, cứ 1 bệnh nhân có triệu chứng điển hình thì có tới 200 – 300 bệnh nhân thể ẩn. Còn Tổ chức Y tế Thế giới cho biết, tỉ lệ này dao động từ 20 – 1.000 trường hợp thể ẩn/1 điển hình.

Các thể bệnh có triệu chứng như sau:

Thể nhẹ: bệnh nhân có sốt, nhức đầu, nôn, không có triệu chứng đặc hiệu.

Thể màng não: bệnh nhân có hội chứng nhiễm khuẩn, dấu hiệu màng não, có thể bị rối loạn ý thức nhẹ.

Thể tủy sống: bệnh nhân có sốt, sau đó liệt mềm, liệt không đồng đều, liệt ở chân nặng hơn tay, rối loạn tri giác và xuất hiện hội chứng viêm não sau đó. Chụp cộng hưởng từ tủy sống, đo điện cơ và dẫn truyền thần kinh thấy có tổn thương sừng trước tủy sống.

Thể điển hình: thời gian ủ bệnh từ 5 – 15 ngày, khởi bệnh với hội chứng nhiễm khuẩn không điển hình: sốt, rối loạn tiêu hóa, nôn, đau bụng, tiêu chảy, viêm long đường hô hấp, ho, chảy máu cam… Sang giai đoạn toàn phát: có hội chứng nhiễm khuẩn kèm theo: sốt, lợm giọng, buồn nôn, nhức đầu ở trẻ lớn. Thân nhiệt 39 – 40oC hay hơn, cơn co giật toàn thân hoặc cục bộ. Rối loạn tri giác như li bì, lơ mơ đến kích động, hôn mê. Dấu hiệu màng não, động tác tự động, phản xạ bệnh lý, liệt chi, liệt thần kinh sọ não, liệt nửa người, một chi hoặc tứ chi, biến đổi phản xạ gân xương, mất vận động, mất ngôn ngữ… Xuất hiện những cơn gật đầu, quay đầu, cơn quay mắt, co cứng, co vặn cơ, run, ngón tay mân mê như vấn thuốc, múa vờn múa giật, mặt nhăn nhó, chép môi…

Các biến chứng

Bệnh viêm não Nhật Bản có những trường hợp nặng gây tử vong, còn một số biến chứng như sau: bội nhiễm phổi ở bệnh nhân hôn mê sâu do ứ đọng đàm nhớt, mất phản xạ ho, sặc hoặc liệt hầu họng dễ đưa đến viêm phổi hít; nhiễm khuẩn tiểu sau rối loạn cơ vòng hoặc sau thông tiểu bị nhiễm khuẩn; phù não do hạ natri máu; cơn động kinh ác tính xảy ra nếu không tích cực chống động kinh, chống phù não và cung cấp đủ oxy; xuất huyết tiêu hóa; suy dinh dưỡng và loét.

Điều trị thế nào?

Cho đến nay, vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu bệnh viêm não Nhật Bản. Việc điều trị chủ yếu là hồi sức cấp cứu và điều trị triệu chứng như chống phù [Xem thêm: Bệnh viêm họng] não, an thần chống co giật, kiểm soát nhiệt độ, hỗ trợ tuần hoàn, hô hấp, [Xem thêm: Bệnh tai mũi họng] ngăn ngừa bội nhiễm và dinh dưỡng, chống loét… Theo đó, bệnh nhân cần vệ sinh răng miệng, xoay trở để tránh loét do tư thế nằm lâu; vỗ lưng, nằm tư thế dẫn lưu đàm, hút đàm rãi; nếu có bội nhiễm, cần điều trị bằng kháng sinh. Bệnh nhân cũng cần được cung cấp dinh dưỡng đầy đủ, nâng thể trạng.

Lời khuyên của bác sĩ

Bệnh viêm não Nhật Bản là bệnh nặng, có thể tử vong hoặc biến chứng nặng. Vì vậy, việc phòng tránh bệnh trở nên rất quan trọng. Hiện nay, biện pháp phòng bệnh chủ yếu là tiêm phòng vaccin viêm não Nhật Bản. Những người du lịch có thời gian lưu trú ở nông thôn hơn 1 tháng hoặc trên 12 tháng ở thành phố có dịch cần được tiêm phòng.

Vì bệnh chủ yếu do muỗi đốt truyền bệnh nên cần phải diệt muỗi và phòng chống muỗi đốt. Diệt muỗi bằng cách: dùng thuốc xịt muỗi, dùng vợt điện. Diệt bọ gậy bằng các biện pháp: thả cá bảy màu, cá đuôi cờ vào các nơi chứa nước như bể, chum, vại, lu, khạp… để cá ăn bọ gậy. Loại bỏ nơi muỗi đẻ: hủy bỏ các vật phế thải [Xem thêm: benh viem hong] xung quanh nhà là những nơi có thể chứa nước mưa tạo nơi đẻ trứng của muỗi như chai lọ vỡ, ống bơ, gáo dừa, lốp xe… Bỏ muối hay nhỏ dầu hỏa vào bát nước kê chân chạn. Thường xuyên thay rửa lọ hoa (bình bông). Phòng tránh muỗi đốt bằng cách: mặc quần dài, áo dài tay cho trẻ em, người lớn. Luôn luôn ngủ trong màn, kể cả ban ngày.

Đường truyền bệnh viêm não Nhật Bản

Virut gây viêm não Nhật Bản được truyền sang người qua vết đốt. Hai loài muỗi vằn Culextritaeniorhynchus và Culex vishnui bị nhiễm bệnh đốt sẽ gây bệnh cho người. Nguồn chứa mầm bệnh trong tự nhiên: chủ yếu là các loài chim lội nước và hầu hết gia súc gần người như trâu, bò, dê, cừu, chó, lợn đều có thể là ổ chứa mầm bệnh, trong đó lợn là vật chủ quan trọng nhất có khả năng làm lan rộng virut dễ truyền bệnh cho người nhất. Vì thế, sự lan truyền virut xảy ra chủ yếu ở vùng nông nghiệp nông thôn. Nhưng ở một số vùng của châu Á, trong đó có Việt Nam, bệnh có thể xảy ra gần các trung tâm đô thị. Tuy bệnh có thể xảy ra quanh năm nhưng đỉnh cao vẫn là mùa mưa.

ThS. Trần Minh Thanh

Bài thuốc dân gian trị ho cho trẻ em hiệu quả Bài thuốc dân gian trị ho cho trẻ em hiệu quả Sốt cao co giật ở trẻ em và cách xử trí Sốt cao co giật ở trẻ em và cách xử trí Nhiễm khuẩn đường tiểu ở trẻ em Nhiễm khuẩn đường tiểu ở trẻ em

 

Bệnh viêm não Nhật Bản là một bệnh nhiễm khuẩn cấp tính do Arbovirus có tên là virut viêm não Nhật Bản gây ra. Bệnh lây truyền sang người do muỗi đốt. Hiện nay, ở miền Bắc, mưa và nồm ẩm kéo dài tạo điều kiện thuận lợi cho muỗi phát triển mạnh nên nguy cơ lây các bệnh do muỗi truyền, trong đó có viêm não Nhật Bản càng cao.

Phải chú ý nhận dạng nhiều thể bệnh

Hầu hết người bị nhiễm virut viêm não Nhật Bản ở thể ẩn, nghĩa là không có triệu chứng lâm sàng. Một vài nghiên cứu cho biết: có dưới 1% số người bị nhiễm virut viêm não Nhật Bản biểu hiện bệnh trên thực tế với các dấu hiệu rất đa dạng, từ nhẹ như cảm cúm đến nặng gây tử vong. Nhưng dù ở bất cứ nhiễm bệnh ở thể nào thì bệnh nhân vẫn tạo kháng thể đặc hiệu.

Sơ đồ lây truyền bệnh viêm não Nhật Bản.

Sơ đồ lây truyền bệnh viêm não Nhật Bản.

Thể ẩn: nhiều bệnh nhân nhất, không có triệu chứng lâm sàng, cứ 1 bệnh nhân có triệu chứng điển hình thì có tới 200 – 300 bệnh nhân thể ẩn. Còn Tổ chức Y tế Thế giới cho biết, tỉ lệ này dao động từ 20 – 1.000 trường hợp thể ẩn/1 điển hình.

Các thể bệnh có triệu chứng như sau:

Thể nhẹ: bệnh nhân có sốt, nhức đầu, nôn, không có triệu chứng đặc hiệu.

Thể màng não: bệnh nhân có hội chứng nhiễm khuẩn, dấu hiệu màng não, có thể bị rối loạn ý thức nhẹ.

Thể tủy sống: bệnh nhân có sốt, sau đó liệt mềm, liệt không đồng đều, liệt ở chân nặng hơn tay, rối loạn tri giác và xuất hiện hội chứng viêm não sau đó. Chụp cộng hưởng từ tủy sống, đo điện cơ và dẫn truyền thần kinh thấy có tổn thương sừng trước tủy sống.

Thể điển hình: thời gian ủ bệnh từ 5 – 15 ngày, khởi bệnh với hội chứng nhiễm khuẩn không điển hình: sốt, rối loạn tiêu hóa, nôn, đau bụng, tiêu chảy, viêm long đường hô hấp, ho, chảy máu cam… Sang giai đoạn toàn phát: có hội chứng nhiễm khuẩn kèm theo: sốt, lợm giọng, buồn nôn, nhức đầu ở trẻ lớn. Thân nhiệt 39 – 40oC hay hơn, cơn co giật toàn thân hoặc cục bộ. Rối loạn tri giác như li bì, lơ mơ đến kích động, hôn mê. Dấu hiệu màng não, động tác tự động, phản xạ bệnh lý, liệt chi, liệt thần kinh sọ não, liệt nửa người, một chi hoặc tứ chi, biến đổi phản xạ gân xương, mất vận động, mất ngôn ngữ… Xuất hiện những cơn gật đầu, quay đầu, cơn quay mắt, co cứng, co vặn cơ, run, ngón tay mân mê như vấn thuốc, múa vờn múa giật, mặt nhăn nhó, chép môi…

Các biến chứng

Bệnh viêm não Nhật Bản có những trường hợp nặng gây tử vong, còn một số biến chứng như sau: bội nhiễm phổi ở bệnh nhân hôn mê sâu do ứ đọng đàm nhớt, mất phản xạ ho, sặc hoặc liệt hầu họng dễ đưa đến viêm phổi hít; nhiễm khuẩn tiểu sau rối loạn cơ vòng hoặc sau thông tiểu bị nhiễm khuẩn; phù não do hạ natri máu; cơn động kinh ác tính xảy ra nếu không tích cực chống động kinh, chống phù não và cung cấp đủ oxy; xuất huyết tiêu hóa; suy dinh dưỡng và loét.

Điều trị thế nào?

Cho đến nay, vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu bệnh viêm não Nhật Bản. Việc điều trị chủ yếu là hồi sức cấp cứu và điều trị triệu chứng như chống phù não, an thần chống co giật, kiểm soát nhiệt độ, hỗ trợ tuần hoàn, hô hấp, ngăn ngừa bội nhiễm và dinh dưỡng, chống loét… Theo đó, bệnh nhân cần vệ sinh răng miệng, xoay trở để tránh loét do tư thế nằm lâu; vỗ lưng, nằm tư thế dẫn lưu đàm, [Xem thêm: cach chua benh hen suyen] hút đàm rãi; nếu có bội nhiễm, cần điều trị bằng kháng sinh. Bệnh nhân cũng cần được cung cấp dinh dưỡng đầy đủ, nâng thể trạng.

Lời khuyên của bác sĩ

Bệnh viêm não Nhật Bản là bệnh nặng, có thể tử vong hoặc biến chứng nặng. Vì vậy, việc phòng tránh bệnh trở nên rất quan trọng. Hiện nay, biện pháp phòng bệnh chủ yếu là tiêm phòng vaccin viêm não Nhật Bản. Những người du lịch có thời gian lưu trú ở nông thôn hơn 1 tháng hoặc trên 12 tháng ở thành phố có dịch cần được tiêm phòng.

Vì bệnh chủ yếu do muỗi đốt truyền bệnh nên cần phải diệt muỗi và phòng chống muỗi đốt. Diệt muỗi bằng cách: dùng thuốc xịt muỗi, dùng vợt điện. [Xem thêm: Bệnh viêm họng] Diệt bọ gậy bằng các biện pháp: thả cá bảy màu, cá đuôi cờ vào các nơi chứa nước như bể, chum, vại, lu, khạp… để cá ăn bọ gậy. Loại bỏ nơi muỗi đẻ: hủy bỏ các vật phế thải xung quanh nhà là những nơi có thể chứa nước mưa tạo nơi đẻ trứng của muỗi như chai lọ [Xem thêm: benh viem hong] vỡ, ống bơ, gáo dừa, lốp xe… Bỏ muối hay nhỏ dầu hỏa vào bát nước kê chân chạn. Thường xuyên thay rửa lọ hoa (bình bông). Phòng tránh muỗi đốt bằng cách: mặc quần dài, áo dài tay cho trẻ em, người lớn. Luôn luôn ngủ trong màn, kể cả ban ngày.

Đường truyền bệnh viêm não Nhật Bản

Virut gây viêm não Nhật Bản được truyền sang người qua vết đốt. Hai loài muỗi vằn Culextritaeniorhynchus và Culex vishnui bị nhiễm bệnh đốt sẽ gây bệnh cho người. Nguồn chứa mầm bệnh trong tự nhiên: chủ yếu là các loài chim lội nước và hầu hết gia súc gần người như trâu, bò, dê, cừu, chó, lợn đều có thể là ổ chứa mầm bệnh, trong đó lợn là vật chủ quan trọng nhất có khả năng làm lan rộng virut dễ truyền bệnh cho người nhất. Vì thế, sự lan truyền virut xảy ra chủ yếu ở vùng nông nghiệp nông thôn. Nhưng ở một số vùng của châu Á, trong đó có Việt Nam, bệnh có thể xảy ra gần các trung tâm đô thị. Tuy bệnh có thể xảy ra quanh năm nhưng đỉnh cao vẫn là mùa mưa.

ThS. Trần Minh Thanh

Bài thuốc dân gian trị ho cho trẻ em hiệu quả Bài thuốc dân gian trị ho cho trẻ em hiệu quả Sốt cao co giật ở trẻ em và cách xử trí Sốt cao co giật ở trẻ em và cách xử trí Nhiễm khuẩn đường tiểu ở trẻ em Nhiễm khuẩn đường tiểu ở trẻ em

 

Từ khá lâu, trên thị trường bày bán rất nhiều chế phẩm trông như thuốc chữa bệnh nhưng thực chất là thực phẩm chức năng giảm cân (TPCNGC) có dạng viên, bột, cao, dung dịch nước, trà và gần đây lại xuất hiện thêm dạng thuốc chích (tiêm) để giảm cân. Tác dụng thật sự của những chế phẩm này thực hư như thế nào rất khó biết mà tác hại thì trông thấy rõ.

Không ít người vì muốn giảm cân nhanh chóng vẫn sẵn sàng bỏ ra tiền triệu để mua các sản phẩm giảm cân về sử dụng. Kết quả không như mong muốn: cân nặng không giảm hoặc có giảm cân nhưng lại bị đi tiêu, đi tiểu nhiều, người mệt mỏi và sau khi ngưng sử dụng TPCNGC thì cân nặng tăng trở lại nhiều hơn.

Gần đây, trên các trang web online, trung tâm phẫu thuật thẩm mỹ, spa… lại xuất hiện “thuốc chích giảm cân” với nhiều lời mời chào hấp dẫn như “Loại thuốc này có tác dụng cực tốt, hiệu quả rất nhanh, đặc biệt khi sử dụng tiêm thuốc không gây đau, hiếm gặp dị ứng, không gây rối loạn nội tiết, giảm chứng béo phì và phân hủy mỡ, phục hồi vi tuần hoàn, tái tạo và bảo vệ mô liên kết giúp trẻ hóa da…”. Hoặc “Thuốc còn có tác dụng đánh tan mỡ thừa ở những vùng khó giảm cân nhất, thậm chí cả những vùng tập thể dục không đạt được kết quả thì thuốc có thể giúp bạn làm điều đó”.

Chế độ luyện tập và ăn uống thích hợp là cách tốt nhất để giảm cân hiệu quả.

Chế độ [Xem thêm: bệnh tắc nghẽn phổi] luyện tập và ăn uống thích hợp là cách tốt nhất để giảm cân hiệu quả.

Thực chất của loại thuốc chích này là gì?

Trước hết là phosphatidylcholin, thuộc nhóm chất béo có tên phospholipid (tức chất béo có phosphor). Khi ăn vào trong hệ tiêu hóa của ta, phần lớn phosphatidylcholin bị phân cắt thành cholin, acid béo tự do và nhóm phosphat. Vì vậy, phosphatidylcholin được xem là chất cung cấp cholin là chất rất quan trọng tạo thành acetylcholin dẫn truyền thần kinh (hệ thần kinh ta có tốt hay không phải có đủ acetylcholin). Phosphatidylcholin là chất béo có nhiều ở lòng đỏ trứng gà, đậu nành (trong lòng đỏ trứng gà, phosphatidylcholin là thành phần của lecithin). Còn ở trong cơ thể, nó có ở tế bào, đặc biệt là màng tế bào. Phosphatidylcholin có được nghiên cứu trong lĩnh vực sức khỏe. Thử trên chuột thí nghiệm bị làm nhiễm siêu vi viêm gan A, B và C, phosphatidylcholin cho thấy có thể sửa chữa tình trạng gan bị tổn thương (liver repair) nhưng không cho thấy tác dụng này trên người. Phosphatidylcholin được một số thông tin cho rằng có tác dụng làm phân hủy tế bào mỡ (lipolysis) có thể dùng thay thế phương pháp hút mỡ nhưng chỉ đồn đại nhiều chứ không có công trình nghiên cứu nghiêm túc chứng thực là tiêm phosphatidylcholin làm giảm mỡ để giảm cân. Phosphatidylcholin lại được cho rằng có thể tiêm với deoxycholat để giảm cân. Deoxycholat thực chất là muối mật (muối acid cholic) có trong mật giúp cơ thể hấp thu chất béo dầu mỡ từ thức ăn. Deoxycholat được dùng chung với phosphatidylcholin nhằm giúp chất béo này hấp thu tốt hơn khi đưa vào trong cơ thể. Một thông tin cho rằng deoxycholat được tiêm với phosphatidylcholin dùng trong giải phẫu thẩm mỹ có tên mesotherapy. Mesotherapy là một thủ thuật xâm lấn tối thiểu được sử dụng rộng rãi ở châu Âu để điều trị các tổn thương ở da bằng cách đưa thuốc trực tiếp vào tầng trung [Xem thêm: benh tac nghen phoi man tinh] bì của da với kim tiêm siêu nhỏ theo chỉ định. Tuy nhiên, mesotherapy chỉ điều trị các tổn thương về da như: da lão hóa, nhão xệ, mỏng khô héo do thiếu nước, sắc tố khác thường, đặc biệt là sắc tố nội tiết tố hoặc giảm hiện tượng cằm đôi, thon gọn khuôn mặt chứ hoàn toàn không làm tan mỡ để giảm cân.

Chất thứ hai được đồn đại là có thể chích để giảm cân là vitamin B12. Chích vitamin B12 làm giảm trọng lượng cơ thể được lý giải là làm tăng tốc quá trình chuyển hóa gây tiêu hao năng lượng. Điều này là sai, vitamin nói chung chỉ là các chất xúc tác các phản ứng chứ không thể làm tiêu hao năng lượng làm giảm cân. Người ta chỉ tiêm chích vitamin B12 vì thiếu vitamin này gây thiếu máu đặc biệt gọi là thiếu máu nguyên bào khổng lồ. Loại [Xem thêm: bệnh tắc nghẽn phổi mãn tính] thiếu máu này có những đặc trưng về hình thể tế bào máu thấy trên xét nghiệm. Chích vitamin B12 có thể bị nguy hiểm vì dị ứng, thậm chí là bị sốc phản vệ gây chết người.

Chất thứ ba được đồn đại tan mỡ khi tiêm trực tiếp là chế phẩm chứa 3 loại enzym chính: cholin, inostiol và methionin, các enzym này ngăn ngừa quá trình mỡ tích tụ quanh gan. 3 chất vừa kể mà gọi là enzym là hoàn toàn sai vì cholin là chất có trong cơ thể hoặc đưa từ bên ngoài vào tạo thành acetylcholin là chất dẫn truyền thần kinh đã kể ở trên, inositol là một loại đường đa (polyol chứa nhiều nhóm –OH), còn methonin là một acid amin. 3 chất vừa kể đều bắt nguồn từ thực phẩm, có thể liên quan đến chuyển hóa mỡ nhưng còn làm tan mỡ đến độ giảm cân chống béo phì chỉ là lời đồn đại mà thôi.

Lưu ý đặc biệt

Thông thường, dư cân béo phì là do ăn uống quá thừa chất dinh dưỡng sinh năng lượng (đường bột, béo) nhưng lại không có sự vận động thích hợp để tiêu hao năng lượng, năng lượng thừa biến thành mỡ gây dư cân béo phì. Vì vậy, để giảm cân phải đồng thời tác động đến 2 yếu tố: Chế độ dinh dưỡng thích hợp (ăn kiêng) và Chế độ tập luyện thể dục thích hợp. Có một số trường hợp béo phì bắt buộc phải dùng thuốc (thuốc được thừa nhận dùng trong điều trị hiện nay là orlistat, một thuốc khác trước đây cho dùng nhưng nay bị cấm vì gây hại quá nhiều là sibutramin) chứ không thể dùng thực phẩm chức năng giảm cân hoặc thuốc tiêm giảm cân nào đó không thôi mà giảm cân được.

Cần lưu ý, giảm cân là nhu cầu làm đẹp chính đáng cho những ai đang “quá khổ”, tuy nhiên, giảm cân bằng thuốc, đặc biệt là chích thuốc sẽ có nguy cơ rất lớn cho sức khỏe. Tiêm thuốc giảm cân luôn là cách rất nguy hiểm vì gây ra nhiều phản ứng đối với cơ thể, thậm chí là hiện tượng sốc phản vệ gây chết người đối với người sử dụng. Những người có nhu cầu giảm cân tốt nhất nên đi khám ở bác sĩ hoặc chuyên viên dinh dưỡng để được tư vấn về biện pháp thích hợp và an toàn cho việc giảm cân.

PGS.TS. Nguyễn Hữu Đức (Đại học Y Dược TP.HCM)

Những sản phẩm giảm cân 'lừa dối Những sản phẩm giảm cân “lừa dối” Thu hồi thuốc giảm cân Alli tại Mỹ Thu hồi thuốc giảm cân Alli tại Mỹ 7 loại quả giúp giảm cân nhanh chóng 7 loại quả giúp giảm cân nhanh chóng

 

Thần kinh thực vật tham gia điều chỉnh các cơ quan hô hấp, tuần hoàn, tiêu hóa, bài tiết, chuyển hóa… cho nên ngoài thuật ngữ chẩn đoán bệnh rối loạn thần kinh thực vật còn có những thuật ngữ khác: rối loạn thần kinh giao cảm, rối loạn phó giao cảm, suy nhược thần kinh,… Rối loạn thần kinh thực vật là sự mất cân bằng của hai hệ thần kinh giao cảm và phó giao cảm.

Biểu hiện của rối loạn thần kinh thực vật rất phong phú, đa dạng và thay đổi tùy theo từng người. Thông thường các triệu chứng thường gặp trong rối loạn hệ thần kinh thực vật là có những cơn tim đập nhanh, bốc nóng ở mặt, vã mồ hôi ở lòng bàn chân, bàn tay đau dây thần kinh; khô miệng, nặng hơn có thể tức ngực, khó thở… rối loạn giấc ngủ, thường là mất ngủ; đái rắt. Rối loạn vận mạch ở da, da nổi mẩn đỏ và dễ bị rám nắng; thường xuyên có cảm giác buồn nôn; mệt mỏi quá mức;… Đối với nam giới không có khả năng cương cứng dương vật.

Vấn đề nhận định ranh giới giữa rối loạn tuần hoàn ngoại vi do chức năng với tổn thương thực thể có thể rất khó khăn, vì rối loạn tuần hoàn do thần kinh thực vật cũng có thể sẽ dẫn tới những biến đổi thực thể tại các cơ quan trong cơ thể.

Chứng xanh tím đầu chi: Đây là chứng rối loạn thần kinh thực vật thường gặp, những trường hợp nặng cũng khó chẩn đoán phân biệt với bệnh Raynaud. Ngoài ra bệnh nhân không còn cảm giác đau gì đặt biệt mà chỉ thấy cảm giác sưng phồng. Đây là do rối loạn nội tiết nên phải điều [Xem thêm: benh sot sieu vi] trị bằng các nội tiết tố.

Các bệnh do rối loạn thần kinh thực vật
Mệt mỏi quá mức, tim đập nhanh, bốc nóng ở mặt… có thể mắc rối loạn thần kinh thực vật. Ảnh minh họa

Chứng đỏ đầu chi: Xuất hiện những cơn giãn mạch máu nên tại các ngón tay riêng lẻ có những mảng da màu đỏ tím. Bệnh nhân có cảm giác đau dữ dỗi và kéo dài, nên phải nhúng các ngón tay vào nước lạnh để làm dịu cơn đau. Tuy nhiên những triệu chứng này có thể gặp trong chứng tăng hồng cầu và đái tháo đường nẽn dễ bị nhầm lẫn.

Bệnh cứng bì: Bệnh cứng bì thuộc loại bệnh tạo keo, những rối loạn về tuần hoàn cũng tương tự như bệnh Raynaud nên hai loại bệnh có thể kết hợp với nhau.

Phù nề thần kinh mạch: Đặc trưng của chứng phù Quincke là bắt đầu đột ngột phù ở một vùng nào đó trên cơ thể với những biểu hiện thường gặp nhất là ở mi mắt và mặt. Phù xuất hiện nhanh và biến đi cũng không lâu, có tính chất thoảng qua trong thời gian ngắn.

Bệnh Raynaud: Bệnh được đặc trưng bởi các triệu chứng đau do co thắt mạch tại các động mạch, làm cho màu da biến đổi theo pha co thắt, thường dẫn đến loét các đầu ngón tay. Nếu không được điều trị đúng hoặc điều trị kéo dài không hiệu quả cần phải phẫu thuật cắt bỏ dây thần kinh giao cảm.

Chứng ngón tay và ngón chân chết: Biểu hiện chủ yếu của người bệnh là khi gặp lạnh thì các đầu ngón tay hay ngón chân bị lạnh ngắt, tái nhợt như người chết.

Vì vậy, khi phát hiện những dấu hiệu ban đầu của bệnh, cần đến cơ sở y tế để được khám và điều trị tại các chuyên khoa theo từng loại bệnh như chuyên khoa da liễu, dị ứng, thần kinh…

Bác sĩ Vũ Quang

 

Rối loạn thần kinh thực vật do đâu? Rối loạn thần kinh thực vật do đâu? Bài thuốc chữa rối loạn thần kinh thực vật Bài thuốc chữa rối loạn thần kinh thực vật Rối loạn thần kinh thực vật Rối loạn thần kinh thực vật

 

[Xem thêm: benh tac nghen phoi]

Có tận mắt chứng kiến cảnh ông cặm cụi sắc thuốc, rót nước, đưa thuốc cho bà mới thấu hiểu tình cảm sâu sắc của đôi vợ chồng “Thập cổ lai hy”- cụ ông Nguyễn Huy Thữ – cụ bà Nguyễn Thị Mại ở 254/45 đường Bưởi, Hà Nội. Dù đã kinh qua nhiều khó khăn trong cuộc sống nhưng tình yêu ông dành cho bà khi bà trải qua những cơn bạo bệnh vẫn khiến người ta cảm động.

Tình yêu – liều thuốc diệu kỳ cho “trái tim không khỏe”
Hạnh phúc của ông bà Nguyễn Huy Thữ và Nguyễn Thị Mại

Sau bao năm vất vả vì con cháu, những tưởng năm tháng cuối đời là thời gian để ông bà tận hưởng niềm hạnh phúc bình yên. Nhưng không, căn bệnh tim mạch đã nhiều lần toan “cướp” bà khỏi ông để lại cho ông những xót xa và lo sợ mất đi “một nửa” của riêng mình. Bà bị bệnh tiểu đường từ lâu, mấy năm trước bà phát hiện thêm các biến chứng của bệnh tiểu đường trên tim mạch: Loạn nhịp tim, huyết áp có khi lên tới 210mmHg. Những biểu hiện mệt mỏi, khó thở kéo dài triền miên khiến bà “lúc nào cũng nằm trong cơn mê”. Để sẵn sàng đối phó với những tình huống xấu nhất, ông và các con luôn dự phòng trong nhà hai bình oxy để sử dụng luân phiên.

Ông trời không lấy của ai tất cả bao giờ, bởi bên bà luôn có người chồng tận tụy, yêu thương, chăm sóc cho bà từ miếng ăn, giấc ngủ. Hàng ngày, ông cặm cụi sắc táo tàu, mộc nhĩ, nấm hương, thịt nạc… chia thành từng khay nhỏ, mỗi ngày đưa bà uống hai lần. Ông cũng là người đồng hành sát cánh bên bà trong những lần chuyển từ viện này đến viện khác, hay những lần bà phải đi thông mạch, đặt sten. Nhưng tất cả vậy vẫn chưa đủ để đưa bà trở lại cuộc sống bình thường, sức khỏe của bà dường như vẫn dậm chân tại chỗ.

Tình yêu luôn là động lực bền vững nhất để thôi thúc ông bằng mọi giá giữ bà bên cạnh. Ông trăn trở, tìm hiểu về bệnh của bà và các sản phẩm phù hợp giúp cải thiện bệnh. Biết đến sản phẩm ÍCH TÂM KHANG qua báo đài, ông nhen nhóm trong mình chút hy vọng để giữ [Xem thêm: benh phoi tac nghen man tinh] bà lâu hơn. Sự tận tâm, tình yêu thương của ông đã được đền đáp. Hàng ngày chứng kiến bà ăn ngon miệng, ngủ ngon giấc, ông yên tâm khi thấy bà khỏe mạnh dần lên, cơ thể nhẹ nhàng, tỉnh táo, nhịp tim, huyết áp cũng trở lại ổn định. Gần hai năm nay bà không phải đi viện, sinh hoạt đi lại bình thường, cùng ông cơm nước, chăm lo nhà cửa. Đôi bình oxy cũng được bỏ quên và xếp gọn trong góc nhà, ông hóm hỉnh chia sẻ sẽ cất giữ chúng như lưu giữ những kỷ vật tình yêu của ông bà.

Hạnh phúc sẽ luôn mỉm cười với những ai biết yêu thương từ trái tim. Và với đôi [Xem thêm: bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính] vợ chồng già này cũng vậy, hạnh phúc chỉ đơn giản là sự quan tâm, lo lắng, chăm sóc nhau từ những điều giản dị nhất như ông mang nước, nhắc bà uống thêm ÍCH TÂM KHANG mỗi ngày để khỏe mạnh và bên ông dài lâu hơn nữa.

Nguyễn Thị Mai

Sản phẩm này không phải là thuốc, không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh

[Xem thêm: benh phoi tac nghen man tinh]

Bệnh đau xơ cơ là một rối loạn thần kinh cảm giác với đặc trưng là đau cơ lan rộng, cứng khớp và mệt mỏi. Bệnh diễn tiến mạn tính liên tục, cơn đau đến, di chuyển khắp cơ thể và lại hết đau. Bệnh này thường bị chẩn đoán nhầm hoặc không được chẩn đoán và khá phức tạp bởi các rối loạn tâm lý, lo lắng của bệnh nhân.

Phải chăng đau do nhạy cảm?

Đến nay, nguyên nhân của bệnh vẫn chưa biết, có một vài giả thuyết đang nghiên cứu cho rằng đau do “trung tâm nhạy cảm”. Theo đó, các bệnh nhân đau xơ cơ tăng nhạy cảm trong não với các tín hiệu đau cụ thể do thiếu hụt serotonin làm giảm ngưỡng đau dẫn đến tăng cảm giác đau và rối loạn giấc ngủ. Nhiều thống kê cho biết: [Xem thêm: bệnh phổi mãn tính] đau xơ cơ ảnh hưởng đến khoảng 3 – 5% phụ nữ, độ tuổi từ 20 – 50, nhưng chỉ 0,5 – 1,6% nam giới. Nhưng một số chuyên gia cho rằng tỷ lệ thực tế cao hơn rất nhiều, rằng đau xơ cơ phổ biến ở người lớn hơn trẻ em, phụ nữ bị bệnh gấp 9 lần nam giới.

Sơ đồ các điểm đau trong bệnh đau xơ cơ.

Sơ đồ các điểm đau trong bệnh đau xơ cơ.

Đau phức tạp và bệnh nhân có thể tự biết bệnh

Những người bị bệnh đau xơ cơ thường có 3 triệu chứng chính: đau cơ khớp, cứng khớp và mệt mỏi. Đau cơ mạn tính, co thắt cơ. Mệt mỏi và giảm năng lực hoạt động. Mất ngủ hoặc ngủ dậy cảm thấy mệt mỏi. Bệnh nhân thường thấy cứng người khi thức dậy hoặc sau khi ở một tư thế quá lâu. Về mặt trí tuệ, bệnh nhân rất khó khăn trong việc ghi nhớ, tập trung và thực hiện nhiệm vụ đơn giản về trí não. Đau đầu căng thẳng hoặc đau nửa đầu. Đau hàm và mặt. Bệnh nhân cảm thấy lo lắng hoặc trầm cảm. Tê hoặc ngứa ran ở mặt, cánh tay, bàn tay, chân hoặc bàn chân. Tuy không bị sưng nhưng bệnh nhân lại có cảm giác sưng ở bàn tay và bàn chân. Có những điểm đau khu trú ở cơ, dây chằng, chỗ bám gân, nếu ấn vào điểm đó sẽ thấy đau. Trong bệnh đau xơ cơ, hay gặp đau lưng, ít khi thấy đau bàn tay, khám không thấy dấu hiệu tổn thương khớp, điều trị bằng thuốc chống đau ít kết quả. Đau bụng, đầy hơi, buồn nôn, táo bón xen kẽ với tiêu chảy. Nhạy cảm với một hoặc nhiều yếu tố gồm: mùi hôi, tiếng ồn, ánh sáng, thuốc men, thực phẩm và thời tiết lạnh.

Chỉ dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ

Thuốc có thể giúp giảm cơn đau của bệnh và cải thiện giấc ngủ. Các thuốc có thể dùng gồm: thuốc giảm đau như paracetamol, diclofenac, aspirin… có thể giảm bớt đau và cứng khớp gây ra bởi bệnh đau cơ xơ. Các loại thuốc chống viêm không steroid khác như ibuprofen, naproxen có thể được dùng kết hợp với các thuốc khác để tăng hiệu lực giảm đau cho bệnh nhân. Thuốc chống trầm cảm có thể giúp giảm đau và mệt mỏi, giúp bệnh nhân ngủ ngon. Thuốc chống động kinh: cần được dùng để điều trị chứng động kinh thường hữu ích trong việc giảm một số loại đau đớn.

Luyện tập, dinh dưỡng phòng bệnh

Đối với bệnh đau xơ cơ, vì chưa biết nguyên nhân gây bệnh nên cũng chưa thể đề ra phương pháp phòng bệnh hiệu quả. Bệnh nhân cần thực hiện một chế độ luyện tập thể dục đều đặn vừa sức để tăng cường dinh dưỡng cho các nhóm cơ, phòng tránh teo cơ và rất có tác dụng hạn chế bệnh tiến triển. Tập đều đặn còn có tác dụng giúp bệnh nhân có chất lượng giấc ngủ tốt hơn để cải thiện chất lượng cuộc sống. Việc dùng vitamin các loại nhất là vitamin nhóm B, C và khoáng chất bổ sung có thể giúp tăng cường hệ thống miễn dịch của bệnh nhân và tăng cường cung cấp năng lượng cho hệ cơ xương. Bệnh nhân cũng cần có chế độ ăn đầy đủ chất dinh dưỡng, nhất là các loại thức ăn giàu đạm như thịt, cá, trứng, sữa, giàu vitamin như rau xanh, trái cây các loại. Giấc ngủ cần đảm bảo để giảm thiểu triệu chứng [Xem thêm: benh phoi tac nghen] đau và hạn chế bệnh nặng lên. Việc phục hồi chức năng có vai trò quan trọng, vì thế, bệnh nhân cần phải được hướng dẫn luyện tập để tái thích ứng với lao động. Liệu pháp vận động nhẹ nhàng, nên kết hợp tắm ngâm nước nóng, xoa bóp, thư giãn, chườm nóng tại chỗ… có tác dụng hoạt hóa hệ thống endorphin làm giảm đau và ổn định trạng thái tâm lý cho bệnh nhân.

Trường Đại học thấp khớp Mỹ đã đưa ra tiêu chuẩn chẩn đoán đau xơ cơ là: đau toàn thân trên 3 tháng: đau cơ hai bên, đau ở trên và dưới thắt lưng và đau cột sống. Có điểm đau khi ấn vào ở ít nhất 11/18 điểm sau: chẩm hai bên, điểm đau ở chỗ bám cơ dưới chẩm; đoạn dưới cột sống cổ: hai bên, điểm đau ở mặt trước C5-C7; Cơ thang: hai bên, điểm đau ở giữa bờ trên; Cơ trên gai: hai bên, điểm đau ở nguyên ủy, trên gai xương vai, gần bờ trên; Xương sườn 2: hai bên, điểm đau ở chỗ nối tiếp sụn – sườn xương sườn 2; Mặt trên mỏm trên lồi cầu: hai bên, điểm đau cách mỏm trên lồi cầu 2cm; Mông: hai bên, điểm đau ở 1/4 trên ngoài mông, ở nếp trước cơ; Mấu chuyển lớn: hai bên, điểm đau ở sau phần lồi mấu chuyển; Đầu gối: hai bên, điểm đau ở phần giữa tổ chức mỡ gần khe khớp gối. Chúng ta có thể tham khảo các tiêu chuẩn này để tự phát hiện bệnh cho bản thân.

ThS. Phạm Thanh Xuân

Uống thuốc đau đầu sau khi say gây nguy hiểm cho cơ thể Uống thuốc đau đầu sau khi say gây nguy hiểm cho cơ thể Thuốc giảm đau, chống co thắt cơ trơn và tác dụng ngoại ý Thuốc giảm đau, chống co thắt cơ trơn và tác dụng ngoại ý Đau thắt ngực và thiếu máu cơ tim Đau thắt ngực và thiếu [Xem thêm: benh phoi tac nghen] máu cơ tim

 

Bệnh đau xơ cơ là một rối loạn thần kinh cảm giác với đặc trưng là đau cơ lan rộng, cứng khớp và mệt mỏi. Bệnh diễn tiến mạn tính liên tục, cơn đau đến, di chuyển khắp cơ thể và lại hết đau. Bệnh này thường bị chẩn đoán nhầm hoặc không được chẩn đoán và khá phức tạp bởi các rối loạn tâm lý, lo lắng của bệnh nhân.

Phải chăng đau do nhạy cảm?

Đến nay, nguyên nhân của bệnh vẫn chưa biết, có một vài giả thuyết đang nghiên cứu cho rằng đau do “trung tâm nhạy cảm”. Theo đó, các bệnh nhân đau xơ cơ tăng nhạy cảm trong não với các tín hiệu đau cụ thể do thiếu hụt serotonin làm giảm ngưỡng đau dẫn đến tăng cảm giác đau và rối loạn giấc ngủ. Nhiều thống kê cho biết: đau xơ cơ ảnh hưởng đến khoảng 3 – 5% phụ nữ, độ tuổi từ 20 – 50, nhưng chỉ 0,5 – 1,6% nam giới. Nhưng một số chuyên gia cho rằng tỷ lệ thực tế cao hơn rất nhiều, rằng đau xơ cơ phổ biến ở người lớn hơn trẻ em, phụ nữ bị bệnh gấp 9 lần nam giới.

Sơ đồ các điểm đau trong bệnh đau xơ cơ.

Sơ đồ các điểm đau trong bệnh đau xơ cơ.

Đau phức tạp và bệnh nhân có thể tự biết bệnh

Những người bị bệnh đau xơ cơ thường có 3 triệu chứng chính: đau cơ khớp, cứng khớp và mệt mỏi. Đau cơ mạn tính, co thắt cơ. Mệt mỏi và giảm năng lực hoạt động. Mất ngủ hoặc ngủ dậy cảm thấy mệt mỏi. Bệnh nhân thường thấy cứng người khi thức dậy hoặc sau khi ở một tư thế quá lâu. Về mặt trí tuệ, bệnh nhân rất khó khăn trong việc ghi nhớ, tập trung và thực hiện nhiệm vụ đơn giản về trí não. Đau đầu căng thẳng hoặc đau nửa đầu. Đau hàm và mặt. Bệnh nhân cảm thấy lo lắng hoặc trầm cảm. Tê hoặc ngứa ran ở mặt, cánh tay, bàn tay, chân hoặc bàn chân. Tuy không bị sưng nhưng bệnh nhân lại có cảm giác sưng ở bàn tay và bàn chân. Có những điểm đau khu trú ở cơ, dây chằng, chỗ bám gân, nếu ấn vào điểm đó sẽ thấy đau. Trong bệnh đau xơ cơ, hay gặp đau lưng, ít khi thấy đau bàn tay, khám không thấy dấu hiệu tổn thương khớp, điều trị bằng thuốc chống đau ít kết quả. Đau bụng, đầy hơi, buồn nôn, táo bón xen kẽ với tiêu chảy. Nhạy cảm với một hoặc nhiều yếu tố gồm: mùi hôi, tiếng ồn, ánh sáng, thuốc men, thực phẩm và thời tiết lạnh.

Chỉ dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ

Thuốc có thể giúp giảm cơn đau của bệnh và cải thiện giấc ngủ. Các thuốc có thể dùng gồm: thuốc giảm đau như paracetamol, diclofenac, aspirin… có thể giảm bớt đau và cứng khớp gây ra bởi bệnh đau cơ xơ. Các loại thuốc chống viêm không steroid khác như ibuprofen, naproxen có thể được dùng kết hợp với các thuốc khác để tăng hiệu lực giảm đau cho bệnh nhân. Thuốc chống trầm cảm có thể giúp giảm đau và mệt mỏi, giúp bệnh nhân ngủ ngon. Thuốc chống động kinh: cần được dùng để điều trị chứng động kinh thường hữu ích trong việc giảm một số loại đau đớn.

Luyện tập, dinh dưỡng phòng bệnh

Đối với bệnh đau xơ cơ, vì chưa biết nguyên nhân gây bệnh nên cũng chưa thể đề ra phương pháp phòng bệnh hiệu quả. Bệnh nhân cần thực hiện một chế độ luyện tập thể dục đều đặn vừa sức để tăng cường dinh dưỡng cho các nhóm cơ, phòng tránh teo cơ và rất có tác dụng hạn chế bệnh tiến triển. Tập đều đặn còn có tác dụng giúp bệnh nhân có chất lượng giấc ngủ tốt hơn để cải thiện chất lượng cuộc sống. Việc dùng vitamin các loại nhất là vitamin nhóm B, C và khoáng chất bổ sung có thể giúp tăng cường hệ thống miễn dịch của bệnh nhân và tăng cường cung cấp năng lượng cho hệ cơ xương. Bệnh nhân cũng cần có chế độ ăn đầy đủ chất dinh dưỡng, nhất là các loại thức ăn giàu đạm như thịt, cá, trứng, sữa, giàu vitamin như rau xanh, trái cây các loại. Giấc ngủ cần đảm bảo để giảm thiểu triệu chứng đau và hạn chế bệnh nặng lên. Việc phục hồi chức năng có vai trò quan trọng, vì thế, bệnh nhân cần phải được hướng dẫn luyện tập để tái thích ứng với lao động. Liệu [Xem thêm: benh phoi tac nghen] pháp vận động nhẹ nhàng, nên kết hợp tắm ngâm nước nóng, xoa bóp, thư giãn, chườm nóng tại chỗ… có tác dụng hoạt hóa hệ thống endorphin làm giảm đau và ổn định trạng thái tâm lý cho bệnh nhân.

Trường Đại học thấp khớp Mỹ đã đưa ra tiêu chuẩn chẩn đoán đau xơ cơ là: đau toàn thân trên 3 tháng: đau cơ hai bên, đau ở trên và dưới thắt lưng và đau cột sống. Có điểm đau khi ấn vào ở ít nhất 11/18 điểm sau: chẩm hai bên, điểm đau ở chỗ bám cơ dưới chẩm; đoạn dưới cột sống cổ: hai bên, điểm đau ở mặt trước C5-C7; Cơ thang: hai bên, điểm đau ở giữa bờ trên; Cơ trên gai: hai bên, điểm đau ở nguyên ủy, trên gai xương vai, gần bờ trên; Xương sườn 2: hai bên, điểm đau ở chỗ nối tiếp sụn – sườn xương sườn 2; Mặt trên mỏm trên lồi cầu: hai bên, điểm đau cách mỏm trên lồi cầu 2cm; Mông: hai bên, điểm đau ở 1/4 trên ngoài mông, ở nếp [Xem thêm: benh phoi tac nghen] trước cơ; Mấu chuyển lớn: hai bên, điểm đau ở sau phần lồi mấu chuyển; Đầu gối: hai bên, điểm đau ở phần giữa tổ chức mỡ gần khe khớp gối. Chúng ta có thể tham khảo các tiêu chuẩn này để tự phát hiện bệnh cho bản thân.

ThS. Phạm Thanh Xuân

Uống thuốc đau đầu sau khi say gây nguy hiểm cho cơ thể Uống thuốc đau đầu sau khi say gây nguy hiểm cho cơ thể Thuốc giảm đau, chống co thắt cơ trơn và tác dụng ngoại ý Thuốc giảm đau, chống co thắt cơ trơn và tác dụng ngoại ý Đau thắt ngực và thiếu máu cơ tim Đau thắt ngực và thiếu máu cơ tim

 

Giấc ngủ là vô cùng quan trong để hồi phục sức khỏe của con người sau một ngày dài làm việc. Tuy nhiên cũng có những người thường khó đi vào giấc ngủ hơn những người khác, hãy áp dụng một vài mẹo nhỏ dưới đây để có được một giấc ngủ ngon.

Tắt tất cả các nguồn ánh sáng có màu xanh

20 cách để có một giấc ngủ ngon

Các thiết bị điện tử có trong phòng ngủ như điện thoại di động, đồng hồ kỹ thuật số, tivi… đều có ánh sáng màu xanh, sóng ngắn của ánh sáng xanh có thể làm ảnh hưởng đến giấc ngủ của bạn. Vậy hãy tắt tất cả các thiết bị có ánh sáng màu xanh trước khi ngủ 1 giờ để bạn có thể dễ dàng đi vào giấc ngủ.

Tránh ngủ mọi lúc

20 cách để có một giấc ngủ ngon

Nếu cần phải ngủ trưa, cũng chỉ nên duy trì một giấc ngủ ngắn khoảng 20 phút hoặc ít hơn. Trong vòng 8 giờ trước khi ngủ nếu chỉ chợp mắt trong giây lát cũng có thể phá hoại một đêm ngon giấc của bạn. Khi cơn buồn ngủ kéo đến không đúng lúc, tốt nhất bạn có thể đi bộ, uống 1 ly nước hoặc điện thoại cho 1 người bạn.

Không nhìn đồng hồ

20 cách để có một giấc ngủ ngon

Khi không ngủ được, con người thường có xu hướng xem giờ vào buổi đêm, điều này vô hình chung gây cho bạn thêm lo lắng về một ngày bận rộn sắp đến. Tốt nhất nên để đồng hồ vào ngăn kéo hoặc cho nó ở chỗ nào mà bạn không thể nhìn thấy được nếu muốn có giấc ngủ ngon.

Hãy thử kẹp một chiếc gối vào chân

20 cách để có một giấc ngủ ngon

Chứng đau lưng được cho là thủ phạm làm nhiều người khó có một giấc ngủ dài. Giải pháp là đặt một cái gối giữa 2 chân sẽ làm cho sự liên hệ với hông tốt hơn, giảm căng thẳng trên vùng lưng, điều này sẽ giúp giảm đau lưng khi ngủ.

Đặt cổ ở vị trí tự nhiên nhất

20 cách để có một giấc ngủ ngon

Tư thế của cố giúp cho mọi người có giấc ngủ sâu, tránh bị mỏi và cứng cổ sau khi thức dậy. Để có được điều này cần chọn một chiếc gối vừa phải, tránh cao quá hay thấp quá. Cần chọn gối để cột sống và cổ thẳng hàng.

Cần đảm bảo giường đệm của bạn luôn sạch sẽ

20 cách để có một giấc ngủ ngon

Các phản ứng hắt hơi, sụt sịt, ngứa hay dị ứng có thể làm phân tán giấc ngủ, nệm và ga gối có thể là nguyên nhân. Cần vệ sinh thường xuyên ga gối để đảm bảo bạn luôn có một giấc ngủ an toàn nhất.

Đảm bảo chức năng của phòng ngủ

20 cách để có một giấc ngủ ngon

Các chuyên gia khuyên rằng, trong phòng ngủ và giường ngủ không nên sử dụng bất cứ chức năng phụ nào như xem tivi, nói chuyện điện thoại… Tất cả những đồ vật xuất hiện trong phòng ngủ chỉ nên góp phần tạo cảm giác thư thái, thư giãn.

Thiết lập đồng hồ sinh học

20 cách để có một giấc ngủ ngon

Đi ngủ và thức dậy vào cùng một thời điểm mỗi ngày, kể cả ngày cuối tuần, sẽ tạo một nhịp sinh học tốt cho cơ thể bạn. Thói quen này sẽ đưa não bộ và cơ thể vào một chu kỳ ngủ – thức lành mạnh. Nhờ vậy, ban đêm bạn sẽ đi vào giấc ngủ nhanh nhất và ngủ ngon suốt đêm.

Tránh xa caffein

20 cách để có một giấc ngủ ngon

Nhiều người thường có thói quen uống cà phê vào bữa sáng, nhưng nếu muốn ngủ tốt, kể từ bữa trưa hãy tránh xa caffein trong cả thực phẩm và đồ uống. Caffein gây cản trở đối với giấc ngủ, kể cả một lượng nhỏ trong chocolate. Thuốc giảm đau hay thuốc giảm cân nhiều loại cũng có chứa caffeine trong đó, cần đọc kỹ thành phần thuốc trước khi sử dụng.

Tập thể dục

20 cách để có một giấc ngủ ngon

Tập thể dục thường xuyên đã được chứng minh để cải thiện chất lượng giấc ngủ. Kể cả trước khi đi ngủ, một vài động tác yoga nhẹ nhàng cũng là một biện pháp giúp bạn có một giấc ngủ hoàn hảo.

Tránh ăn đồ ăn giàu năng lượng vào bữa tối

20 cách để có một giấc ngủ ngon

Nếu ăn các đồ ăn giàu năng lượng, hay bổ sung 1 số lượng thực phẩm quá lớn trước giấc ngủ làm cho hệ thống tiêu hóa của chúng ta phải làm việc nhiều hơn, do vậy sẽ khó có một giấc ngủ ngon. Cần ăn tối nhẹ nhàng, và kết thúc bữa ăn ít nhất 1 giờ trước khi đi ngủ.

Không nên uống rượu

20 cách để có một giấc ngủ ngon

Nhiều người nhầm tưởng uống rượu sẽ dễ ngủ hơn. Thực tế là rượu tạo ra hiệu ứng an thần, có thể làm cho bạn buồn ngủ, nhưng sau đó, rượu lại là thủ phạm gây thức giấc vào ban đêm, giấc ngủ trằn trọc. Muốn ngủ tốt, nên uống sữa ấm hoặc trà hoa cúc vào buổi tối trước khi đi ngủ.

Không ăn uống vặt trước khi ngủ

20 cách để có một giấc ngủ ngon

Giống như một đứa trẻ, nếu buổi tối uống quá nhiều nước, hoặc ăn vặt, chúng cần phải thức dậy để đi vệ sinh. Hãy tập thói quen không ăn uống trong vòng 2 giờ trước khi ngủ để không phải thức dậy vào ban đêm, nếu thức dậy bạn sẽ khó trở lại giấc ngủ hơn những người ngủ một mạch đến sáng.

Gạt tất cả mọi việc sang một bên

20 cách để có một giấc ngủ ngon

Khoảng 2-3 giờ trước khi ngủ, tắt đèn và đặt tất cả những công việc, lo lắng của bạn sang một bên, hạ thấp tín hiệu não hoạt động của bạn lại để não có thể sản xuất ra melatonin, một hormone mang lại giấc ngủ.

Loại bỏ những tiếng ồn ban đêm

20 cách để có một giấc ngủ ngon

Những tiếng động ban đêm cũng làm một người khó ngủ tỉnh giấc như tiếng vòi nước, tiếng ho, hay chó sủa… Vậy hãy đảm bảo không có tiếng động nào lọt đến tai bạn khi ngủ như đeo chiếc bịt tai khi ngủ.

Bỏ thuốc lá

20 cách để có một giấc ngủ ngon

Trong thuốc lá có chất nicotine, đây là một chất kích thích giống caffeine, nó làm trầm trọng hơn chứng mất ngủ của con người. Nếu chưa bỏ được thuốc, hãy hút thuốc cách xa giấc ngủ ít nhất 4 giờ.

Để con vật cưng tránh xa giường ngủ

20 cách để có một giấc ngủ ngon

Những con vật di chuyển vào ban đêm có thể làm con người tỉnh giấc. Ngoài ra chúng còn có nguy cơ mang những con bọ chét, lông thú, phấn hoa lên giường của bạn, những vật này gây ra phản ứng dị ứng, phá hoại giấc ngủ của bạn.

Giải phóng tâm trí

20 cách để có một giấc ngủ ngon

Trước khi ngủ, không nên suy nghĩ nhiều, hãy thư giãn hoặc làm việc gì đó nhẹ nhàng như ngồi thiền, nghe nhạc hoặc tắm nước ấm giúp chúng ta thư thái, dễ đi vào giấc ngủ hơn.

Thận trọng với thuốc ngủ

20 cách để có một giấc ngủ ngon

Đối với những người mất ngủ thường xuyên, việc sử dụng thuốc ngủ là không tránh khỏi. Tuy nhiên một số loại thuốc ngủ có thể gây nghiện, thậm chí có các tác dụng phụ gây khó chịu cho người sử dụng. Tốt nhất không nên lạm dụng thuốc, chỉ sử dụng thuốc khi thật cần thiết, không nên dùng dài ngày, nên thay đổi lối sống và hành vi để có thể ngủ tốt hơn.

Mất ngủ vì những nguyên nhân khác

20 cách để có một giấc ngủ ngon

Nếu mất ngủ kéo dài ít nhất 1 tháng, đã áp dụng tất cả các cách trên mà bạn vẫn không thể ngủ được, hãy tìm đến bác sĩ. Bởi đây có thể là một triệu chứng của một căn bệnh nào đó, điển hình nhất là bệnh trầm cảm, nó là nguyên nhân hàng đầu gây mất ngủ, hoặc cũng có thể mắc bệnh như trào ngược axit, hen suyễn, viêm khớp, hay phản ứng phụ của một số loại thuốc. Chỉ có trị tận gốc nguyên nhân mới cho bạn được một giấc ngủ như ý.

Hải Yến (Theo WebMD)

Vai trò của gan trong chuyển hóa thuốc Vai trò của gan trong chuyển hóa thuốc Tình yêu – liều thuốc diệu kỳ cho “trái tim không khỏe” Tình yêu – liều thuốc diệu kỳ cho “trái tim không khỏe” Giữ chi viên sỏi trong túi mật? Giữ chi viên sỏi trong túi mật?

 

[Xem thêm: Bệnh mất ngủ]

Một nghiên cứu được công bố trên Cancer Causes and Control vào tháng 4 năm 2014 phát hiện ra phụ nữ da trắng có chu vi vùng thắt lưng lớn mà chỉ số khối lượng cơ thể (BMI) không cao có nguy cơ bị ung thư vú cao sau mãn kinh.

Nghiên cứu được thực hiện bởi các nhà khoa học thuộc Viện ung thư Hoa Kỳ, trước đó xác nhận rằng hình dáng cơ thể là yếu tố nguy cơ cao của ung thư vú.

Béo phì ở phụ nữ trung niên là một trong những yếu tố nguy cơ cao của ung thư vú sau mãn kinh. Ảnh minh hoạ.

Béo phì ở phụ nữ trung niên là một trong những yếu tố nguy cơ cao của ung thư vú sau mãn kinh. Ảnh minh hoạ.

Béo bụng liên quan tới nhiều bệnh như bệnh tim mạch, đái tháo đường type II, ung thư vú và các ung thư khác. Các nghiên cứu trước đó cho rằng cơ thể hình dáng “quả táo”, với khối lượng tập trung ở ngực và phần trên cơ thể có nhiều nguy cơ hơn cơ thể hình dáng “quả lê”, với khối lượng tập trung ở hông, bắp đùi và mông.

Để có kết quả, các nhà khoa học, đứng đầu là Mia Gadet, PhD, phân tích dữ liệu từ 28.965 phụ nữ điều trị tại Trung tâm ngăn ngừa ung thư số 2. Trong đó có 1.088 được chẩn đoán ung thư vú di căn trong hơn 11 năm. Họ tìm thấy mối liên quan giữa chu vi vùng thắt lưng và nguy cơ ung thư ở phụ nữ sau mãn kinh. Tuy nhiên, khi họ điều chỉnh BMI, nguy cơ này giảm xuống.

“Thông điệp đưa ra là nếu bạn có chỉ số BMI cao, chưa quan tâm tới bạn có hình dáng “quả lê” hay “quả táo”, nguy cơ ung thư vú của bạn cao,” Dr.Gaudet nói. Hầu hết các nghiên cứu trước đó chỉ quan tâm tới chỉ số BMI hoặc chu vi vùng thắt lưng mà quan tâm tới cả hai. Nghiên cứu này đưa ra bằng chứng rõ ràng về mối liên quan giữa béo phì và ung thư vú”.

Dr.Gaudet nói rằng kết quả giúp phụ nữ hạn chế các yếu tố nguy cơ tiềm tàng của ung thư vú. “Chúng tôi biết rằng béo phì đặc biệt là béo phì ở phụ nữ trung niên là một trong những yếu tố nguy cơ cao của ung thư vú sau mãn kinh. Kết quả mới này cho thấy không phải hình dáng như thế nào, hay loại hình dáng của bạn là gì mà nên tập trung vào những người béo phì”.

Bình Minh (theo sciencedaily)

Bệnh sởi nguy hiểm như thế nào? Bệnh sởi nguy hiểm như thế nào? Sẽ có thuốc kháng virus chặn đứng bệnh sởi? Sẽ có thuốc kháng virus chặn đứng bệnh sởi? Làm thế nào để bé không bị “dính” sởi? Làm thế nào để bé không bị “dính” sởi?

 

[Xem thêm: Bệnh mất ngủ]

Thuốc lá và thuốc tân dược mỗi khi dùng chung đều có những tương tác lẫn nhau. thế nhưng, lại có rất ít người hiểu và kiêng hút thuốc lá khi dùng thuốc tân dược.

Thuốc lá phá tân dược

Trong khói thuốc lá có khoảng 95% là hỗn hợp khí bao gồm các chất chính: carbonic, ocidcarbon…, còn lại khoảng 5% là các chất khác như: nicotin, hắc ín, amine thơm, hydrocarbua vòng thơm… Các chất này khi được hấp thu vào cơ thể chúng sẽ được chuyển hóa như mọi chất khác. Thế nhưng trong quá trình chuyển hóa ấy, chính bản thân các chất này hoặc các sản phẩm tạo thành do chuyển hóa của chúng sẽ gây ra những tương tác với thuốc tân dược. Vì vậy, nếu càng hút thuốc lá nhiều thì các chất gây tương tác đó sẽ có nồng độ cao trong cơ thể, thế là sự tương tác càng dễ xảy ra.

Trong khói thuốc lá có rất nhiều chất, thế nhưng quan trọng nhất là nicotin. Nó là chất gây ra các tác dụng như giãn mạch, hạ huyết áp, làm chậm nhịp tim. Nhưng chỉ trong giai đoạn đầu sau khi hút thuốc rồi ngay sau đó, nó lại kích thích cơ thể làm gia tăng bài tiết adrenalin dẫn đến tình trạng co mạch làm tăng huyết áp, tăng nhịp tim, tăng tiết dịch vị. Nếu hút thuốc lá nhiều thì nồng độ nicotine trong cơ thể cao sẽ làm khó thở, suy hô hấp và cuối cùng đưa đến liệt hô hấp. Do đó, trong khi sử dụng thuốc tân dược để điều trị bệnh, người bệnh cần kiêng cữ thuốc lá, nhất là trong các trường hợp sau:

– Trên người bệnh hen phế quản và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đều có biểu hiện của tình trạng co thắt phế quản gây nên những cơn khó thở. Để chống lại những triệu chứng này, người bệnh phải dùng thuốc làm giảm co thắt phế quản như ipratropium, salbutamol, salmeterol… Khi đó, nếu người bệnh vẫn hút thuốc lá thì nồng độ nicotin trong cơ thể gia tăng sẽ làm giảm hiệu lực của các thuốc trên. Ở người hút thuốc lá nhiều, lâu ngày thì hàm lượng nicotin được tích tụ từ từ, lâu ngày sẽ tạo ra nồng độ cao và trở nên thường xuyên trong cơ thể, nó sẽ làm cho việc điều trị không có hiệu quả như mong muốn và bệnh rất dễ tái phát.

– Các thuốc dùng trong điều trị bệnh viêm loét dạ dày – tá tràng có tác dụng làm giảm bài tiết dịch vị và làm lành vết tổn thương như: cimetidin, ranitidin…Thế nhưng ở người hút thuốc lá thì nồng độ nicotin gia tăng từ đó sẽ làm cho tăng tiết dịch vị, làm cho sẹo lâu lành. Tức là có tác dụng trái ngược với thuốc điều trị bệnh, do vậy khi dùng thuốc để điều trị bệnh thì thuốc sẽ bị giảm hiệu lực, từ đó làm cho việc điều trị bệnh không đạt hiệu quả và bệnh sẽ rất dễ tái phát.

– Đối với bệnh cao huyết áp, các loại thuốc điều trị có tác dụng làm cho huyết áp trở về trị số bình thường nhưng nicotine có tác dụng làm co mạch gây tăng huyết áp tức là làm mất tác dụng của thuốc điều trị. Do đó, những người bị cao huyết áp hay bị bệnh tim mạch không nên hút thuốc lá, nhất là khi đang dùng thuốc.

Do tác động của nicotin có trong khói thuốc lá là làm co mạch, do đó làm giảm sự hấp thu thuốc tân dược, từ đó làm giảm hiệu quả điều trị của thuốc đối với một số bệnh. Ngoài ra, các chất khác như hydocarbua thơm bezopyren, anthracin, phenathren có trong thuốc lá khi vào cơ thể làm cho gan phải tăng cường hoạt động để chuyển hóa thành các chất khác, vì vậy làm cho sự chuyển hóa thuốc trở nên nhanh hơn, làm giảm hiệu quả điều trị.

Thuốc lá và thuốc tân dược luôn có một số tương tác bất lợi, cho nên trong việc điều trị lành bệnh hay không không đơn thuần là dùng thuốc có đúng không mà còn tùy thuộc rất nhiều vào các thói quen khác, như hút thuốc lá chẳng hạn. Trong bất cứ trường hợp nào, bệnh nào cũng vậy, cần phải ngưng ngay việc hút thuốc lá vì thuốc lá không chỉ gây ra những tương tác bất lợi trong thời gian dùng thuốc mà còn gây ra nhiều tác hại khác trong quá trình sống của chúng ta. Không chỉ đơn thuần là kiêng thuốc lá trong khi dùng thuốc mà phải kiêng cả khi bị bệnh, như: bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, bệnh hen phế quản hay bệnh viêm loét dạ dày – tá tràng và nhất là bệnh cao huyết áp, tim mạch.

BS. HỒ VĂN CƯNG

 

Phòng viêm phổi mùa xuân Phòng viêm phổi mùa xuân Phòng và điều trị polyp cholesterol Phòng và điều trị polyp cholesterol Hoạt hình ý nghĩa về bệnh sởi Hoạt hình ý nghĩa về bệnh sởi

[Xem thêm: Benh mat ngu]

Để bảo quản cá khoai, nhiều người bán hàng đã ướp cá bằng chất cấm khiến người tiêu dùng lo ngại, nếu sử dụng phải loại cá này sẽ có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe.

Cá khoai là loài cá sống chủ yếu ở nước mặn, đôi khi bắt gặp chúng ở vùng nước lợ nơi cửa sông, bơi thành từng đàn. Cá khoai mình tròn, thon dài như củ khoai lang, không vảy, phần lưng và đuôi có màu phơn phớt xanh, miệng rộng, hàm răng sắc, thịt trắng trong, xương mềm và trong suốt. Nhiều nơi còn gọi cá khoai là cá cháo vì thịt cá mềm như cháo. Cá khoai là món ăn quen thuộc của người dân ven biển nhưng hiện nay cá khoai đã trở thành món ăn được nhiều người ưa thích. Nhưng do thân chứa nhiều nước nên việc bảo quản và vận chuyển cá khoai rất khó khăn. Chính vì vậy, nhiều người kinh doanh đã ướp cá bằng hóa chất cấm để việc bảo quản được dễ dàng hơn.

Nhận biết cá khoai “ủ” chất cấm
Không nên chọn cá khoai có độ tươi sáng bất thường.

Mới đây, tại thành phố Hạ Long, Đội Quản lý thị trường số 5 (Chi cục QLLT Quảng Ninh) phối hợp với Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường (Công an tỉnh Quảng Ninh) đã thu giữ 444kg cá khoai ướp lạnh. Sau khi đưa số cá khoai thu giữ đi kiểm tra tại Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh đã phát hiện có chứa chất phoóc – môn (formaldehyde) bị cấm sử dụng trong thực phẩm.

Chất formaldehyde là một chất khí không màu, có mùi hăng rất mạnh thường được sử dụng trong ngành may mặc, sản xuất giấy và vật liệu gia dụng. Chất này cũng thường được sử dụng như một chất bảo quản trong các phòng thí nghiệm y học, sử dụng để ướp xác và trong một số sản phẩm tiêu dùng bao gồm các thuốc duỗi tóc.

Formaldehyde là chất cấm dùng trong bảo quản thực phẩm. Tuy nhiên, vì lý do lợi nhuận, một số tiểu thương đã lén lút dùng để ướp thực phẩm để tránh ôi, ươn. Formaldehyde là chất rất độc, nguy hiểm cho con người, hàm lượng nhiều có thể gây tử vong nhưng nếu ăn hàm lượng thấp, chất này tích tụ trong cơ thể có thể gây ung thư, kích ứng da, gây bệnh đường thở, đường tiêu hóa…

Rất khó để nhận biết formaldehyde vì vậy, người tiêu dùng phải cảnh giác với các loại thực phẩm có nguồn gốc xuất xứ không rõ ràng. Cần tránh mua loại cá vây đen, bụng to, thịt cá xỉn đục là cá đã bị ươn hoặc tẩm chất bảo quản. Không nên chọn cá khoai có độ tươi, sáng bất thường vì đây là loại cá thân mềm rất dễ bị phân hủy, khó bảo quản. Tươi bất thường chính là dấu hiệu của sự bất bình thường trong bảo quản.

Huy Dũng

 

34 ngàn cơ sở vi phạm an toàn thực phẩm 34 ngàn cơ sở vi phạm an toàn thực phẩm Đậu phụ chứa quá nhiều chất cấm?! Đậu phụ chứa quá nhiều chất cấm?! Phát hiện hủ tiếu, mì sợi khô chứa chất cấm Phát hiện hủ tiếu, mì sợi khô chứa chất cấm

 

[Xem thêm: bệnh hen suyễn ở trẻ em]

Giảm thính giác là hiện tượng rất hay gặp ở người cao tuổi. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, có khoảng 40% người trên 65 tuổi bị giảm thính giác do bộ phận dẫn truyền âm thanh thoái hóa hay bộ phận thần kinh dẫn tín hiệu nghe lên não bị ảnh hưởng. Đây là quá trình lão hóa khiến chức năng nghe bị rối loạn hoặc có thể gây điếc ở người cao tuổi.

Suy giảm thính giác ở người cao tuổi
Khi có biểu hiện suy giảm thính giác cần được khám và tư vấn cụ thể. Ảnh: TL

Nguyên nhân

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy giảm thính giác của người cao tuổi trong đó, thường gặp nhất là liên quan đến quá trình lão hóa. Khi tuổi trên 50, da ống tai ngoài bị teo dần mất nước, ứ đọng dáy tai tạo thành nút dáy trong khi đó màng nhĩ dày đục, mất bóng, xuất hiện các mảng xơ nhĩ, chuỗi xương con nằm trong tai giữa bị xốp, có hiện tượng canxi hóa các khớp xương làm cho việc dẫn truyền âm thanh bị giảm. Ngoài ra, nếu người cao tuổi làm việc hoặc sinh sống trong môi trường tiếng ồn làm trầm trọng bệnh tuổi già và tiến triển suy giảm thích giác sẽ nhanh hơn. Việc sử dụng các chất kích thích như rượu, thuốc lá kéo dài và một số bệnh mạn tính như: tim mạch, hô hấp, tiêu hóa, huyết áp, xương khớp …khiến việc sử dụng thuốc có tác dụng phụ cũng là tác nhân làm nặng thêm sự giảm thính lực ở người cao tuổi.

Cần phát hiện sớm

Hiện tượng giảm thính lực thường xảy ra rất chậm, không đi kèm theo triệu chứng như các bệnh khác. Nếu tai gặp phải những vấn đề sau đây, người cao tuổi cần đi kiểm tra thính giác: Có thể nghe ở những nơi yên tĩnh hoặc chỉ có hai người, khó nghe ở nơi đông người. Hoàn toàn không nghe được gì hoặc chỉ nghe loáng thoáng từng câu, từng chữ đứt quãng trong trường hợp ở những nơi như sân khấu, nhà hát, chỗ họp đông người. Khó khăn khi nghe âm thanh phát ra từ ti vi hoặc điện thoại trong khi đối với những người khác lại là quá to. Khó khăn để hiểu những đối thoại của gia đình và bạn bè mỗi khi họp mặt. Thường xuyên yêu cầu người khác lặp đi lặp lại câu nói họ vừa nói. Luôn phải ghé đầu về phía người nói để lắng nghe. Không thể nghe rõ ràng phát âm hoặc những lời nói cuối câu của người đối diện.

Giải pháp nào?

Nếu do quá trình lão hóa thì việc cải thiện chức năng nghe bằng máy trợ thính theo hướng dẫn của các nhà chuyên môn để phù hợp. Nếu do sử dụng một số loại thuốc khiến cho sức nghe bị giảm thì cần thông báo với các bác sĩ để có biện pháp thay thuốc cho phù hợp. Ngoài ra, người cao tuổi cần có chế độ ăn giàu vitamin. Có thể kết hợp với vitamin B, vitamin E, kẽm, sắt, vitamin D… mặt khác khi có biểu hiện cần được khám và tư vấn cụ thể.

Bác sĩ Nguyễn Thị Bích

Khó hồi phục thính lực do tiếng ồn Khó hồi phục thính lực do tiếng ồn Suy giảm thính lực ở người cao tuổi Suy giảm thính lực ở người cao tuổi Suy giảm thính lực do tiếng ồn Suy giảm thính lực do tiếng ồn

 

[Xem thêm: benh hen suyen o tre em]