Viêm ruột hoại tử là bệnh lý đường tiêu hóa nặng. Bệnh đã được ghi nhận tại nhiều nơi ở Việt Nam sau năm 1975. Nguyên nhân chưa rõ, nhiều yếu tố có liên quan đến sinh bệnh học, nhiễm khuẩn, dinh dưỡng qua đường tiêu hóa, tổn thương mạch máu tại chỗ. Nguyên nhân hay được nhắc đến là do đột nhiên ăn nhiều thịt và nhất là thức ăn đó bị nhiễm Clostridium Perfringens dẫn đến cơ thể thiếu hụt tương đối lượng men trypsin.

Tại sao bị viêm ruột hoại tử?

Nguyên nhân gây bệnh viêm ruột hoại tử là do độc tố toxin của Clostridium Welchi type C (CWC hay còn gọi là Welchi Perfringens). Loại độc tố này rất dễ bị hủy diệt bởi men trypsin có trong ruột người bình thường, nhờ đó chúng ta không bị bệnh. Nếu chế độ ăn thiếu protein, ăn các thức ăn có nhiều chất chống men trypsin, mắc bệnh giun đũa hoặc chế độ ăn đột nhiên có nhiều thịt thì độc tố toxin của vi khuẩn tiết ra không bị hủy bởi men trypsin của ruột, khi đó độc tố sẽ gây hoại tử ruột.

CWC là một loại vi khuẩn kỵ khí, gram (+), tạo bào tử, hình gậy. Nó gây nên tình trạng nhiễm độc với tổn thương hoại tử ở ống tiêu hóa của súc vật thí nghiệm cũng như ở người. CWC có thể tìm thấy trong phân súc vật: bò, lợn và ngay cả trong phân của người bình thường. Nếu vệ sinh kém, vi khuẩn có thể nhiễm vào thực phẩm, người ăn phải thức ăn bị nhiễm khuẩn chưa nấu chín kỹ sẽ bị nhiễm bệnh.

Nguyên nhân gây viêm ruột hoại tử 1
 Tiêu bản tổn thương viêm ruột hoại tử.

Phát hiện sớm nhờ các triệu chứng

Viêm ruột hoại tử là bệnh nặng, diễn biến nhanh, do đó cần phát hiện sớm người bị bệnh và chuyển ngay đến bệnh viện để kịp thời điều trị.Thời gian ủ bệnh trung bình từ vài giờ đến vài ngày với các dấu hiệu điển hình như:

Đau bụng: đây là triệu chứng luôn luôn có ở 100% số bệnh nhân, là triệu chứng đầu tiên của bệnh, xuất hiện vào ngày thứ nhất nhưng nó biến mất chậm nhất. Đau bụng có đặc điểm: lúc đầu người bệnh đau từng cơn, sau đó đau âm ỉ; đau gia tăng khi ăn hoặc uống; đây là triệu chứng đặc biệt của bệnh dùng để phân biệt với những trường hợp có đại tiện ra máu khác hoặc ở những thể nhẹ.

Cơn đau thường khu trú ở vùng thượng vị hoặc quanh rốn, hoặc có khi không xác định được vị trí nhất định. Đau kéo dài khoảng 4 – 12 ngày, trung bình là 9 ngày. Trong trường hợp viêm ruột hoại tử có sốc, cơn đau dữ dội hơn và kéo dài hơn 9 ngày.

Sốt: cũng là triệu chứng thường xuất hiện ở 100% số bệnh nhân, xuất hiện sau đau bụng và vào ngày đầu tiên của bệnh. Trong trường hợp có sốc, sốt thường cao trên 38,5°C. Nếu sốt cao vẫn tiếp tục hay xuất hiện sau tuần thứ hai, cần cảnh giác những biến chứng của viêm ruột hoại tử như tắc ruột, viêm phúc mạc…

Đi ngoài ra máu: đây là triệu chứng quan trọng nhất và luôn luôn có ở 100% bệnh nhân và là triệu chứng có giá trị trong quyết định chẩn đoán. Xuất hiện ngay ngày đầu hoặc thứ hai của bệnh. Phân thường có màu đỏ nâu, lỏng, có mùi thối khắm rất đặc biệt. Lượng phân mỗi lần đi khoảng 50 – 200ml. Đại tiện dễ dàng, không mót rặn. Có trường hợp bệnh nhân không tự đại tiện được, phải ấn mạnh vào bụng hoặc thăm trực tràng hoặc đặt ống xông trực tràng phân mới chảy ra ngoài.

Một số trường hợp có táo bón sau một vài ngày đại tiện ra máu, thông thường kéo dài 2 – 3 ngày, có trường hợp đến 10 ngày. Nếu táo bón xuất hiện mà các triệu chứng khác khá hơn như hết sốt hoặc giảm sốt, bụng bớt trướng thì đó là diễn tiến tốt của bệnh. Ngược lại, nếu có táo bón mà sốt gia tăng, đau bụng tăng hay bụng chướng hoặc nôn xuất hiện thì cần nghĩ đến biến chứng của bệnh như tắc ruột, thủng ruột hay viêm phúc mạc. Có một số trường hợp tiêu chảy phân lỏng xuất hiện trước khi đại tiện ra máu

Nôn: triệu chứng này xuất hiện khá sớm, thường vào ngày thứ 1, thứ 2 của bệnh. Nôn thường chấm dứt vào ngày thứ 3 của bệnh, hiếm khi kéo dài quá 7 ngày. Nếu nôn tái xuất hiện vào tuần lễ thứ 2 thì thường là do biến chứng tắc ruột.

Trướng bụng: xuất hiện tương đối muộn so với các triệu chứng trên, thường vào ngày thứ 3 của bệnh. Nếu bụng trướng xuất hiện sớm là dấu hiệu của tiên lượng nặng.

Sốc: nếu có thường xảy ra vào ngày thứ 1, thứ 2 của bệnh; đi kèm với tình trạng sốc bệnh nhân có thể có nổi vân tím trên da. Tỷ lệ tử vong cao nếu có vân tím xuất hiện.

Làm gì khi phát hiện bệnh?

Bệnh viêm ruột hoại tử là một bệnh lý nặng, diễn tiến phức tạp vì thế khi phát hiện bệnh cần được chuyển đến những bệnh viện có điều kiện chăm sóc và theo dõi cũng như xử lý kịp thời. Tùy thuộc vào mức độ bệnh, bác sĩ sẽ có chỉ định sử dụng kháng sinh hợp lý; bổ sung nước điện giải bằng dung dịch osezol hoặc truyền tĩnh mạch dung dịch ringer lactat; các biện pháp điều trị chuyên biệt như đặt ống thông mũi – dạ dày, ống thông hậu môn… có thể phải phẫu thuật trong các trường hợp cần thiết.

Bệnh viêm ruột hoại tử tuy rất nặng nhưng có thể phòng tránh được bằng các biện pháp đơn giản và hiệu quả sau đây: luôn luôn thực hiện tốt công tác vệ sinh môi trường, nhất là vệ sinh phân, nước, rác, vệ sinh an toàn thực phẩm. Thực hiện triệt để việc ăn chín uống sôi. Rửa tay trước khi ăn và sau khi đi đại tiện…

ThS.BS. Nguyễn Bạch Đằng

Để xác định vai trò truyền bệnh của muỗi Anopheles, cán bộ y tế làm công tác này thường mổ muỗi bằng kỹ thuật quy định để phát hiện ký sinh trùng sốt rét thể thoa trùng ký sinh ở tuyến nước bọt và thể nang trùng ở dạ dày của cơ thể muỗi. Vậy ký sinh trùng sốt rét phát triển trong cơ thể muỗi như thế nào để truyền bệnh?

Trong các loài muỗi, muỗi đực không đốt hút máu mà chỉ có muỗi cái đốt hút máu để thực hiện chức năng sinh sản và duy trì nòi giống. Khi muỗi Anopheles cái đốt và hút máu người mắc bệnh sốt rét có sự hiện diện của ký sinh trùng trong hệ tuần hoàn, ký sinh trùng sốt rét xâm nhập vào cơ thể muỗi và tiếp tục phát triển ở dạ dày. Ký sinh trùng sốt rét thể vô tính ký sinh trong hồng cầu người bị tiêu hóa cùng lúc với hồng cầu, trong khi đó những tế bào hữu tính trưởng thành gọi là thể giao bào vẫn tiếp tục phát triển để thực hiện giai đoạn sinh trưởng hữu tính.

Muỗi Anopheles truyền bệnh sốt rét như thế nào? 1
 Giai đoạn phát triển ký sinh trùng sốt rét trong cơ thể muỗi truyền bệnh.

Ở giao bào đực, nhân phân chia thành 4 – 8 nhân con; mỗi nhân chuyển dạng với cấu trúc giống hình sợi dài khoảng từ 20 – 25 micromet, thường gọi là tiêm mao hay lông roi. Những thể roi này tách rời hẳn tế bào gốc và hoạt động tự do. Quá trình thoát roi kéo dài khoảng vài phút trong điều kiện nhiệt độ thích hợp và có thể thấy rõ ràng trong tiêu bản máu muỗi soi dưới kính hiển vi. Thể roi của ký sinh trùng được gọi là giao tử đực.

Đối với giao bào cái, chúng trải qua quá trình trưởng thành và chuyển dạng thành giao tử cái. Trong dạ dày muỗi, giao tử đực được thu hút đến gần giao tử cái và chui vào trong giao tử cái để hoàn thành, kết thúc sự thụ tinh. Kết quả sản phẩm của sự thụ tinh do phối hợp giữa giao tử đực và giao tử cái được gọi là hợp tử. Thể hợp tử có dạng hình cầu không di động trong vòng từ 18 – 24 giờ, sau đó chúng chuyển dạng kéo dài ra và di động có hình dạng hình con sâu với chiều dài từ 18 – 24 micromet di động, được gọi là noãn – động.

Thể noãn – động di chuyển ngay đến thành dạ dày muỗi và chui lọt qua giữa lớp liên tế bào ra bên ngoài bề mặt dạ dày rồi cư ngụ tại đó. Thể ký sinh trùng này chuyển dạng tròn thành hình cầu nhỏ có lớp màng thun giãn được gọi là nang trùng, noãn bào hay tế bào trứng. Số lượng nang trùng ở dạ dày muỗi có thể biến động từ vài nang trùng đến hàng trăm nang trùng.

Sau đó, nang trùng sẽ tăng dần kích thước và xuất hiện trên dạ dày như những thể hình cầu, có kích thước từ 40 – 80 micromet, có nhiều hạt sắc tố. Sự phân bố, kích thước các hạt sắc tố và màu sắc của chúng có sự khác biệt là đặc điểm của từng chủng loại ký sinh trùng sốt rét. Nang trùng càng lớn dần đi đôi với sự phân chia liên tiếp, sắc tố cũng nhiều lên làm che lấp cả nhân. Nghiên cứu sử dụng kính hiển vi điện tử đã phát hiện thêm được rất nhiều chi tiết quá trình trưởng thành của nang trùng. Bào tương tiếp tục phân chia thành nhiều thùy liên kết với nhau, tại đó xuất hiện các trung tâm mầm với các thể dạng hình kim. Nhân phân chia của phôi bào tử tạo thành những thoa trùng hình thoi có kích thước chiều dài khoảng từ 10 – 15 micromet, có nhân ở trung tâm. Thoa trùng di động và phá vỡ màng nang trùng, xâm nhập vào xoang cơ thể muỗi. Ở muỗi già, các thành nang trùng thường gắn chặt vào dạ dày muỗi gọi là hắc bào tử Ross.

Các nhà khoa học thường xác định vai trò truyền bệnh sốt rét của muỗi Anopheles bằng phương pháp kỹ thuật mổ muỗi thu thập được trong quá trình điều tra tại vùng sốt rét lưu hành để phát hiện thể thoa trùng (sporozoite) trong tuyến nước bọt và thể nang trùng (oocyst) trong dạ dày của muỗi truyền bệnh. Chính những phẫu thuật viên mổ muỗi là người có trách nhiệm xác định vai trò truyền bệnh sốt rét của muỗi Anopheles.

Thoa trùng được giải phóng trong xoang cơ thể muỗi và di chuyển lọt vào tuyến nước bọt của muỗi cái. Trong thời điểm này nếu muỗi đốt và hút máu người, thoa trùng từ tuyến nước bọt của muỗi sẽ xâm nhập vào người qua vết đốt để đến hệ tuần hoàn, bắt đầu giai đoạn thoa trùng phát triển tiếp tục trong cơ thể người và gây bệnh. Ước tính mỗi nang trùng sinh sản và giải phóng ra khoảng 1.000 thoa trùng ký sinh tại tuyến nước bọt muỗi.

TTƯT.BS. Nguyễn Võ Hinh

Cây củ mài thường mọc hoang ở các vùng rừng miền núi phía. Nhân dân thường đào củ mài về cạo sạch vỏ, luộc, xào hoặc nấu canh ăn. Ngày nay, do nhu cầu dược liệu  nên cây được trồng nhiều ở đồng bằng để làm thuốc.

Cây củ mài thuộc họ dây leo quấn, thân nhẵn, hơi có góc cạnh, màu đỏ hồng, thường mang những củ nhỏ ở nách lá (dái mài). Rễ củ đơn độc hoặc từng đôi, ăn sâu vào đất đến hàng mét, hơi phình ở phía gốc, vỏ ngoài có màu nâu xám, thịt mềm màu trắng. Lá mọc so le hay mọc đối, hình tim, cụm hoa đơn tính gồm các bông khúc khuỷu, màu vàng. Để làm thuốc, bà con đào củ vào mùa hè – thu khi cây đã lụi, mang về rửa sạch, gọt vỏ cho vào lò xông lưu huỳnh 2 ngày đêm, sau đó phơi sấy cho đến khô.

Theo y học cổ truyền, vị thuốc từ củ mài có tên là hoài sơn, vị ngọt, tính bình, có tác dụng bổ tỳ vị, ích tâm phế, bổ thận. Thường dùng làm thuốc bổ ngũ tạng, mạnh gân xương, chữa suy nhược cơ thể, bệnh đường ruột, tiêu chảy, lỵ, tiêu khát, thận suy, mỏi lưng, chóng mặt, hoa mắt, ra mồ hôi trộm…

Cây củ mài 1
 Cây củ mài và vị thuốc hoài sơn có tác dụng bổ tỳ vị.

Một số bài thuốc bổ thường dùng

Chữa suy nhược cơ thể sau rối loạn tiêu hóa kéo dài: Củ mài 12g, biển đậu 12g, ý dĩ 12g, vỏ quýt 6g, hạt sen 12g, bố chính sâm 16g, bạch truật 12g, hạt cau 10g, nam mộc hương 6g. Sắc uống ngày 1 thang, chia làm 2 lần. Dùng 7-10 ngày.

Ăn uống kém, khó tiêu do tỳ vị hư nhược: Củ mài 100g, xuyên tiêu 30g, đường trắng 30g, khiếm thực 100g, gạo nếp 1.000g. Gạo nếp ngâm một đêm, vo sạch, để khô, rang chín, tán bột. Củ mài, khiếm thực, xuyên tiêu đều sao qua, tán bột. Trộn đều hai thứ bột với nhau để sẵn. Mỗi lần ăn, lấy 30 – 60g pha với nước sôi và một ít đường trắng.

Trẻ em suy dinh dưỡng: Củ mài 20g, biển đậu 10g, lòng đỏ trứng gà 1 cái, đường trắng 20g, gạo 50g. Củ mài sấy khô. Gạo, biển đậu đều xay thành bột. Trứng gà luộc bóc lấy lòng đỏ, cho vào bột gạo dầm nát trộn đều. Tất cả cho vào nồi thêm 200ml nước đun trên lửa nhỏ. Khi cháo chín cho đường quấy đều, cháo sôi lại là được. Cho trẻ ăn ngày 1 lần, ăn liền 15 ngày.

Bồi bổ sức khỏe: Củ mài 50g, khoai sọ 200g, gạo tẻ 50g, nấu cháo ăn trong ngày. Thường xuyên ăn món cháo này có tác dụng ích khí (tăng thể lực), bổ tỳ vị (tăng cường chức năng tiêu hóa), dùng chữa chứng đuối sức, mệt mỏi, kém ăn, miệng khát, hay phiền táo.

Để bài thuốc đạt hiệu quả cao, khi sử dụng cần đến cơ sở y tế có uy tín, được cấp phép để tư vấn và hướng dẫn. Nhất là hiện nay trên thị trường có nhiều dược liệu trôi nổi, không đạt tiêu chuẩn nếu tự mua sẽ dùng nhầm, nguy hiểm đến tính mạng.

Bác sĩ Nguyễn Thúy Anh

Nhím cũng có nhiều tên như dím, hào chư, cao chư, sơn chư hay loan chư, tên khoa học Hystrix hodgsoni. Là loại sống hoang dã ở vùng rừng núi nước ta. Thường được dân thổ cư săn bắt ăn thịt và làm thuốc. Thịt nhím nạc ngon và bổ dưỡng nên đã được thuần dưỡng ở nhiều vùng để cung cấp nguồn thịt cho ẩm thực.

Thông thường người ta hay sử dụng dạ dày nhím để làm thuốc trị bệnh đau dạ dày gọi với tên thuốc là “Hào trư đỗ” (Corium Hystrici) của loại nhím Hystixhodgsoni. Theo Đông y, dạ dày nhím có vị đắng ngọt, tính bình; song trong Bản thảo cương mục Lý Thời Trân nói vị ngọt, tính hàn không độc. Quy vào kinh vị và đại tràng. Có tác dụng lương huyết, mát máu, làm hết đau, trĩ lậu ra huyết. Được trị đau dạ dày, chứng lòi chứng trĩ dom chảy máu, di mộng tinh, nôn mửa, giải độc, lỵ ra máu… Liều dùng cho dạng sắc hay tán trung bình từ 6 – 16g/ngày. Ngoài ra, người ta còn lấy da nhím làm thuốc với tên thuốc là “Thích vị bì”, còn thịt nhím có vị ngọt, tính lạnh có tác dụng bổ dưỡng, nhuận tràng. Lông nhím Hào trư mao thích có vị cay, tính ấm có công năng hành khí chỉ thống, giải độc, chữa viêm tai giữa. Mật nhím dùng để chữa đau lưng và xoa bóp khi bị chấn thương. Ruột già, gan, phổi và cả phân nhím còn dùng để trị phong nhiệt…

Thuốc từ dạ dày nhím 1

Xin giới thiệu một số món ăn bài thuốc trị liệu có sử dụng từ dạ dày nhím:

Trị chứng đau dạ dày: dạ dày nhím để nguyên cả thức ăn có trong (được nhím rừng là tốt nhất) phơi rồi sấy khô, thái nhỏ sao chín tán bột, mỗi lần uống 10g vào lúc đói bụng và chiêu với nước cơm. Có thể lấy bột dạ dày nhím trộn với mật ong và bột nghệ với lượng mỗi thứ như nhau uống càng tốt, uống trước khi ăn.

Trị lòi dom chảy máu: dạ dày nhím sao phồng, tán bột mịn. Hoa hòe 10g sắc lấy nước để chiêu với bột dạ dày nhím đã tán mỗi ngày 3 lần (chia liều từ 3 – 6g làm 3 phần mà uống). Cần kiêng những thứ cay, nóng như: ớt, hồ tiêu, gừng, tỏi, hành, rượu, không dùng chè đặc, cà phê, hút thuốc lá… Cần ăn những thứ nhuận tràng như chuối tiêu, đu đủ, rau lang, rau đay, rau mồng tơi…

Trị ngộ độc: dạ dày nhím 1 cái sấy khô, tán bột. Gạo nếp cẩm 100g rang vàng tán bột, sau trộn đều hai thứ bột, ngày uống 2 lần, mỗi lần 10g.

Chữa thủy thũng, hoàng đản (kể cả khi có cổ trướng): đốt tồn tính dạ dày nhím, tán bột, mỗi lần uống 8g hòa với rượu uống.

Cây qua lâu còn có tên khác là dưa trời, dưa núi, hoa bát, vương qua, dây bạc bát, người Tày gọi là thau ca. Qua lâu thuộc loại dây leo, có rễ củ thuôn dài như củ sắn. Lá giống lá gấc. Hoa đơn tính màu trắng. Quả hình cầu, màu lục có sọc trắng, khi chín có màu đỏ.

Thiên hoa phấn là tên thuốc của rễ cây qua lâu. Rễ qua lâu được thu hoạch vào mùa thu – đông, tốt nhất là sau khi thu hái quả được ít ngày. Rễ đào về, cạo bỏ vỏ ngoài, rửa sạch, cắt thành từng đoạn, rễ nhỏ để nguyên, rễ to bổ dọc, phơi hay sấy khô,

Theo y học cổ truyền, thiên hoa phấn có vị ngọt, chua, tính hàn, có công dụng thanh phế nhiệt, nhuận phế hóa đờm, sinh tân, giải độc,… Thường dùng chữa sốt nóng, miệng khô khát, lở ngứa, viêm tấy,…

Cây qua lâu và vị thuốc thiên hoa phấn 1
 Vị thuốc thiên hoa phấn.

Một số đơn thuốc sử dụng thiên hoa phấn

Chữa sốt nóng do viêm họng, miệng khô khát: Thiên hoa phấn 8g, rễ cây ké lớn đầu 8g, sắc với 200ml nước còn 50ml, uống 1 lần trong ngày.

Chữa viêm amidan mạn: Thiên hoa phấn 8g, sinh địa 16g, hoài sơn, huyền sâm, ngưu tất, mỗi vị 12g; sơn thù, trạch tả, đan bì, phục linh, tri mẫu, địa cốt bì, mỗi vị 8g, xạ can 6g. Sắc uống ngày 1 thang. Dùng 5-7 ngày.

Cây qua lâu và vị thuốc thiên hoa phấn 2
 Cây qua lâu.

Hỗ trợ điều trị đái tháo đường: Thiên hoa phấn 8g, thục địa, hoài sơn, mỗi vị 20g; đơn bì, kỷ tử, thạch hộc, mỗi vị 12g; sơn thù, sa nhân mỗi vị 8g. Sắc uống ngày 1 thang. Uống 10 ngày là 1 liệu trình.

Hỗ trợ điều trị thấp khớp: Thiên hoa phấn, thổ phục linh, cốt toái bổ, kê huyết đằng, thạch cao, đơn sâm, sinh địa, rau má, uy linh tiên, hy thiêm, khương hoạt, độc hoạt, mỗi vị 12g, bạch chỉ 8g, cam thảo 4g. Sắc uống ngày 1 thang. Uống 10 ngày là 1 liệu trình.

Phụ nữ mới sinh sữa không xuống: Thiên hoa phấn đốt tồn tính, tán nhỏ, ngày uống 16-20g đến khi sữa xuống.

Chữa ho do nhiệt: Thiên hoa phấn 30g, gạo tẻ 100g. Cách làm: Sắc thiên hoa phấn, bỏ bã lấy nước, cho gạo vào nước thuốc nấu cháo ăn trong ngày, có tác dụng thanh phế, chỉ khát, sinh tân dịch,… chữa ho do nhiệt hiệu quả.

Lưu ý: Những người tỳ vị hư yếu, tiêu chảy, phụ nữ có thai không dùng thiên hoa phấn.

Tỷ lệ tử vong vì các khối u ác tính – loại nghiêm trọng nhất của ung thư da của nam giới cao hơn nữ giới là 70%, nghiên cứu mới ở Anh công bố. Theo dữ liệu từ Viện Nghiên cứu ung thư (Anh) năm 2011, cứ 3,4/100.000 nam giới tử vong do ung thư da cao hơn so với 2/100.000 nữ giới tử vong do căn bệnh này. GS. Julia Newton – Bishop, thuộc Viện Nghiên cứu ung thư cho biết, khả năng mắc bệnh của nam và nữ là như nhau: 17,2/100.000 nam so với 17,3/100.000 nữ, tuy nhiên, khối u ác tính phát triển nhanh hơn ở nam giới khi đến giai đoạn cuối. Nam giới thường phát triển khối u ác tính ở lưng và ngực còn nữ giới chủ yếu ở tay và chân. Các nhà khoa học vẫn tiếp tục tìm hiểu nguyên nhân tại sao cơ chế phát triển khối u giữa hai giới lại khác nhau. Đồng thời đưa ra khuyến cáo: cháy nắng là dấu hiệu rõ ràng cho thấy DNA trong tế bào da của bạn đã bị hư hỏng và qua thời gian sẽ phát triển thành ung thư da, do đó nên đến bác sĩ da liễu để khám và tư vấn trước khi nó phát triển thành khối u ác tính.

MINH HUỆ (Theo Dailymail, 8/2013)

Nghiên cứu mới tiến hành với 2.000 trẻ 29 tháng tuổi tại thành phố Quebec (Canada) cho thấy, trẻ em dành nhiều thời gian trong ngày để xem tivi sẽ khó khăn hơn các trẻ khác khi đi học mẫu giáo.

Các nhà khoa học đã phân tích thói quen, thời lượng xem tivi của 2.000 trẻ này, kết quả cho thấy những trẻ xem quá 2 giờ/ngày liên quan đến vốn từ vựng nghèo nàn, giảm kỹ năng về toán học, không đảm bảo về thể chất, tăng nguy cơ bị bắt nạt bởi các bạn cùng lớp và thường khó tập trung. Theo GS. Linda Pagani, Trưởng nhóm nghiên cứu Đại học Montreal: phát hiện này rất quan trọng vì chất lượng những năm đầu tiên đi học sẽ dự đoán thành công trong tương lai của trẻ. Vì vậy, cha mẹ cần cho trẻ tham gia nhiều hoạt động ngoài trời, dành thời gian chơi với trẻ hơn là để trẻ ngồi hàng giờ trước màn hình tivi.

H.MINH (Theo Health, 8/2013)

Một thứ rất thông dụng từ căn bếp nhà bạn – tỏi, nhưng lại có rất nhiều công dụng. Thú vị hơn, gần đây, giới khoa học còn tìm thấy nhiều tính năng mới đầy ngạc nhiên của loại gia vị này…

Kháng sinh đường ruột tự nhiên

Khi bạn bị ngộ độc thực phẩm, các mầm bệnh trong thực phẩm sẽ xâm nhập đường tiêu hóa và gây bệnh. Mầm bệnh có thể ở trong đường tiêu hóa nhưng cũng có thể xâm nhập vượt qua hàng rào để vào máu. Bạn sẽ được bác sĩ kê cho thuốc kháng sinh đường ruột để uống trong trường hợp này. Nhưng bạn có thể chống lại căn bệnh này chỉ nhờ một vài nhánh tỏi nhỏ bé.
 
Mới đây, các nhà khoa học tại Trường đại học bang Washington đã chiết xuất thành công và chứng minh rằng các hợp chất tự nhiên trong tỏi có sức mạnh bảo vệ đường ruột mạnh gấp 100 lần kháng sinh tổng hợp.

Điều này thật ngạc nhiên và khó tin nhưng đó là kết quả được công bố trên tạp chí khoa học Antimicrobial Chemotherapy (Hóa trị liệu kháng sinh) tại Anh quốc.

Điều mà các nhà khoa học đã tìm thấy đó là các hợp chất tự nhiên trong tỏi có tác dụng chống lại các mầm bệnh xâm nhập qua thực phẩm, nhất là các mầm bệnh đi qua thịt.

Các nhà khoa học cho rằng, việc phát hiện này thật thú vị vì trong tỏi có những hợp chất đầy tiềm năng có thể giảm tối đa mầm bệnh có trong môi trường và trong thực phẩm ăn hàng ngày. Các hợp chất này thực chất là các chất có cầu nối sulfi d trong cấu trúc và có khả năng bào mỏng vỏ vi khuẩn rồi làm vi khuẩn bị tiêu diệt dần.

Theo như công trình nghiên cứu này thì chỉ cần chịu khó ăn một vài nhánh tỏi sống, nhớ là nhai kỹ thì bạn có thể yên tâm với bụng dạ của mình. Nếu bạn cảm thấy không yên tâm về những món ăn mình dùng thì nên ăn tỏi cùng.

Tỏi và những công dụng thú vị   1
 Tỏi – ngoài làm gia vị cho các món ăn còn có tác dụng chữa bệnh rất tốt.

Giúp ngừa biến chứng tim mạch

Một trong các biến chứng rất phức tạp của đái tháo đường đó là biến chứng tim mạch. Đái tháo đường có thể gây ra thiếu máu cơ tim, nhồi máu cơ tim, rối loạn dẫn truyền, bệnh cơ tim. Chuyện bạn bị tăng huyết áp thì gần như chỉ là nay mai.

Nhưng nay, bạn thực yên tâm vì khả năng phòng biến chứng tim mạch hữu hiệu của nhánh tỏi bé xinh. Đó là một phát hiện gần đây trên tạp chí Agricultural and Food Chemistry (Hóa học thực phẩm và Nông nghiệp) tại Hoa Kỳ. Các nhà khoa học cho rằng, trong tỏi có chứa các chất có khả năng giúp phòng chống biến chứng tim mạch, nhất là bệnh cơ tim. Bệnh cơ tim là một trong những nguyên nhân gây tử vong ở bệnh nhân đái tháo đường.
 
Khi thực nghiệm với các chất dịch chiết tự nhiên từ tỏi, các nhà nghiên cứu thấy rằng, các chất tự nhiên này có khả năng vừa hạ được đường máu lại vừa hạ được huyết áp của bệnh nhân. Hiện nay, các nhà khoa học hiện chưa chỉ điểm được chính xác chất nào nhưng có hơn 20 chất trợ giúp khả năng này. Và những con chuột đái tháo đường thực nghiệm đã giảm được đường máu và giảm được luôn cả huyết áp đo tại động mạch đi ra từ tim. Như vậy, nếu chịu khó dùng tỏi trong bữa ăn, bệnh nhân đái tháo đường có thể được thừa hưởng các tác dụng này.

Tỏi và những công dụng thú vị   2

Tỏi giúp trị giãn phế quản

Bệnh giãn phế quản là bệnh khá nguy hại cho đường hô hấp vì nó có thể gây ra giãn đường thở, hình thành các túi giãn chứa khí nhưng không có mạch máu trao đổi khí. Bệnh giãn phế quản có thể gây xơ phổi, nhiễm khuẩn phổi và có thể gây suy hô hấp và tử vong. Ấy thế mà tỏi có thể giúp điều trị khỏi cho các bệnh nhân này.

Thành tựu này của tỏi là nhờ vào các hợp chất giàu liên kết lưu huỳnh có mặt trong tỏi. Các hợp chất này có một tính năng tuyệt vời đó là tiêu diệt các vi khuẩn gây bệnh và biến chứng cho bệnh nhân giãn phế quản. Đó là vi khuẩn P. aeruginosa. Nhưng các hợp chất trong tỏi có thể giúp tiêu diệt vi khuẩn thông thường và cả vi khuẩn này bằng cách phá hỏng lớp màng sinh học trên bề mặt vi khuẩn. Sức mạnh của tỏi giúp kháng sinh đường hô hấp có hiệu lực mạnh tới 90% so với dùng kháng sinh đơn lẻ. Tức là bệnh nhân có khả năng khỏi bệnh và chống lại nhiễm khuẩn hô hấp tới 90% so với bệnh nhân chỉ uống kháng sinh thông thường.

Vậy nên, các nhà khoa học đã đăng tải công trình nghiên cứu trên tạp chí khoa học Antimicrobial Agents and Chemotherapy (Hóa trị liệu và chất làm thuốc kháng sinh) khuyên nên ăn tỏi hàng ngày nếu bạn bị giãn phế quản. Còn nếu chuẩn bị phát bệnh, nên ăn tỏi sống cùng bữa trong ngày.

Làm tăng sức bền

Sức bền giúp bạn làm việc 4 giờ đồng hồ liền mà không cảm thấy mệt mỏi, sức bền giúp bạn có thể chạy lâu mà không cảm thấy khó thở và chùn chân. Điều lý thú là tỏi có khả năng tăng sức bền của bạn. Các nhà khoa học tại Trường đại học bang Appalachian (Hoa Kỳ) đã tìm ra bằng chứng rằng tỏi giúp làm tăng độ bão hòa ôxy trong máu, giảm áp lực động mạch phổi, những yếu tố giúp làm tăng khả năng chịu đứng với các bài tập sức bền và các dạng vận động gây thiếu ôxy tương đối cho cơ thể. Thực nghiệm trên chuột cho thấy, tỏi có thể giúp làm giảm tác hại thiếu ôxy trên tuần hoàn phổi giúp phổi hoạt động bình thường để tăng khả năng lấy ôxy trong khí thở. Ngay cả khi chúng ta đang gắng sức hoặc đang bị thiếu ôxy hơn bình thường. Đó là công bố được đăng tải trên tạp chí khoa học Applied Physiology, Nutrition, and Metabolism (Chuyển hóa, Dinh dưỡng và Sinh lý ứng dụng) tại Hoa Kỳ năm 2012.

Như vậy, nếu bạn đang có kế hoạch rèn luyện thể lực, hãy chịu khó ăn tỏi. Muốn tăng khả năng hoạt động thể thao trong các hoạt động như chạy bền, bơi thì hãy dùng tỏi hàng ngày nhé. Tất nhiên, phải ăn tỏi kéo dài và từ lâu trước khi kết quả thu được.

BS. NGUYỄN NAM PHONG

Gabby Gingars là một cô bé 9 tuổi tràn đầy năng lượng, cô hoạt bát đáng yêu hoàn toàn giống như mọi trẻ em bình thường khác. Chỉ có điều khác biệt là cô bé mắc một chứng bệnh cực hiếm và cực kỳ bất thường được gọi là CIPA – hội chứng vô cảm bẩm sinh với sự đau đớn. Chỉ có 100 trường hợp ghi nhận người mắc chứng CIPA trên toàn cầu. Gabby sinh ra mà không có khả năng cảm nhận được đau đớn và nhiệt độ. Dường như đây là điều mà nhiều người mơ ước nhưng trên thực tế đây lại là một sự tổn hại vô cùng to lớn. Cảm giác đau rất quan trọng vì nó cảnh báo cơ thể đang bị tổn thương và chúng ta có thể ngăn chặn, điều trị ngay từ bước đầu. Cha mẹ bé Gabby nhận thấy điều bất thường khi con gái họ 5 tháng tuổi, cô bé cắn ngón tay đến khi chảy máu mà không hề kêu khóc. Sau đó, cô bị thương ở mắt và nhiều chấn thương nặng khác do cọ sát và bị trầy xước không biết dẫn đến hoại tử. Cha mẹ cô đã làm mọi biện pháp để ngăn cách cô bé với các nguy cơ tai nạn. Và câu chuyện của cô bé Gabby đã được dựng thành bộ phim tài liệu có nhan đề “Cuộc sống không có cảm giác đau”.

MINH HUỆ (Theo TTz, 8/2013)

Đánh răng thường xuyên không chỉ làm tăng vẻ đẹp thẩm mỹ mà còn làm giảm được nhiều bệnh nan y như bệnh tim, bệnh lây lan qua đường tình dục (STD), nhất là bệnh nhiễm virut HPV, thủ phạm gây bệnh ung thư miệng và vòm họng qua đường tiếp xúc trực tiếp, nhất là nhóm người thực hành sex bằng đường miệng. Kết luận trên được dựa vào nghiên cứu ở 3.439 người, độ tuổi 30 – 69 từ năm 2009 – 2010 trong khuôn khổ nghiên cứu mang tên NHANES do Bộ Y tế Mỹ chủ trì nhằm xác định 36 chủng virut HPV lây truyền theo đường tình dục bằng đường miệng.
 
Đánh răng thường xuyên giảm bệnh STD 1
Ảnh minh họa (nguồn google) 

Kết quả, những người có sức khỏe răng miệng kém thường có tỷ lệ nhiễm HPV cao trên 1,5 lần so với những người có sức khỏe răng lợi tốt, đặc biệt là những người có thói quen thực hành sex bằng đường miệng lại vệ sinh răng lợi kém thì rủi ro nhiễm HPV càng cao. Vì lý do đó, các nhà khoa học khuyến cáo mọi người nên thực hành tình dục một cách văn minh, khoa học, vệ sinh và nên duy trì thói quen đánh răng thường xuyên, giải pháp tốt nhất để hạn chế nhiễm HPV và các tác nhân gây bệnh thâm nhập dòng máu.

KHẮC NAM (Theo PC, 8/2013)

Chứng đau nửa đầu ảnh hưởng đến 10 – 15% dân số, có thể gây tổn thương não vĩnh viễn và thay đổi thể tích não, song hiện vẫn chưa rõ bằng cách nào bệnh tạo ra ảnh hưởng lâu dài.

TS. Messoud Ashina, Trường đại học Copenhagen, Đan Mạch cùng các cộng sự tiến hành phân tích 19 nghiên cứu. Kết quả cho thấy, chứng đau nửa đầu gây nguy cơ tăng thể tích não 44% và nguy cơ tăng tổn thương não là 68% so với người bình thường. Đồng thời, người mắc chứng đau nửa đầu phải đối mặt với nguy cơ dị dạng mô thần kinh, tủy sống. Theo tác giả nghiên cứu Messoud Shina chứng đau nửa đầu trước kia được coi là rối loạn thể lành, không đe dọa tính mạng. Tuy nhiên, nghiên cứu mới này cho thấy căn bệnh có thể dẫn tới thay đổi vĩnh viễn trong cấu trúc não. Các chuyên gia cho biết, nữ giới thường mắc chứng đau nửa đầu hơn nam giới. Việc xác định rõ sự kết hợp cấu trúc nào trong não có khả năng đối phó với tần suất và thời lượng của chứng đau nửa đầu, đồng thời tìm ra cách thức ảnh hưởng của những tổn thương do chứng này gây ra đối với chức năng não.

M.Huệ (Theo Dailymail, 8/2013)

Nhờ khoa học phát triển, con người có thể “nuôi trồng” được các bộ phận cơ thể, đặc biệt là bằng máy in 3D. Công nghệ này rút ngắn thời gian trị bệnh, giảm chi phí và hạn chế con số tử vong do không đủ vật liệu hiến tặng cấy ghép. 5 bộ phận người dưới đây hiện đã được khoa học nghiên cứu và “chế tạo” thành công.

Tai

Đây là sản phẩm của Đại học Cornell Mỹ (CU). Ban đầu các kỹ sư sinh học tiến hành quét 3D tai của một đứa trẻ, sau đó thiết kế khuôn mẫu gồm 7 chi tiết bằng chương trình SolidWorks CAD và in ra các chi tiết nhỏ. Khuôn mẫu được phun một loại gel mật độ cao được làm từ 250 triệu tế bào sụn bò và collagen từ đuôi chuột (collagen từ đuôi chuột đóng vai trò như là một giàn giáo). Sau 15 phút, tai được lấy ra và nuôi ủ tế bào trong vài ngày. Sau ba tháng, sụn phát triển đầy đủ để thay thế cho collagen.

Khả năng ứng dụng: Bằng công nghệ này các nhà khoa học có thể tạo ra tai nhân tạo có tốc độ cực nhanh, lại có chất lượng cao có thể thay cho nhóm trẻ mắc dị tật tai nhỏ (microtia), tỷ lệ mắc bệnh 1/12.500 ca sinh, căn bệnh vừa gây mất thẩm mỹ lại làm giảm thính lực. Không giống như cấy ghép tai hiến tặng, tai được “nuôi trồng” bằng máy in 3D có tính tương thích cao và rất “hợp tác” với cơ thể con người nên không bị đào thải.

 Tai được “nuôi trồng” bằng máy in 3D có tính tương thích cao và rất “hợp tác” với cơ thể con người.

Thận

Sản phẩm của Viện Khoa học tái sinh Wake Forrest (Mỹ). Trong dự án, máy in sinh học 3D sử dụng nhiều dạng tế bào thận, được nuôi trồng từ các tế bào sinh thiết. Với quy trình này, người ta đã tạo được đồng thời một giàn giáo bằng vật liệu phân hủy sinh học. Sản phẩm cuối sau đó được nuôi ủ để hoàn chỉnh. Giàn giáo này một khi được cấy ghép vào cơ thể người bệnh, nó sẽ phân hủy từ từ cho đến khi mô chức năng phát triển để thay thế .

Khả năng ứng dụng: Hiện nay, tại Mỹ có tới 80% bệnh nhân đang chờ cấy ghép thận vì vậy khả năng ứng dụng của thận nhân tạo rất lớn. Tuy chưa thay thế đầy đủ chức năng như thận sinh học nhưng trong tương lai nếu tế bào của chính cơ thể người bệnh được sử dụng để nuôi trồng thành thận thì sản phẩm mới sẽ hoàn hảo, đảm bảo tốt các chức năng giống như thận nguyên thủy.

Mạch máu

Nhóm chuyên gia ở Đại học Pennsylvania và Viện Công nghệ MIT, Mỹ gần đây đã hợp tác sử dụng một máy in nguồn mở RepRap và phần mềm tùy chỉnh in thành công một mạng các sợi đường vào trong một khuôn mẫu và phủ tiếp các sợi polymer có nguồn gốc từ ngô. Sau đó, bồi thêm một lớp gel có chứa các tế bào mô vào khuôn. Một khi định hình, người ta đem rửa cấu trúc trong nước để đường hòa tan, còn lại một mạch máu rỗng trong mô.

Lợi ích của dự án: Các nhà khoa học cho biết, việc bơm dinh dưỡng qua các mạch có tác dụng làm tăng sự tồn tại của các tế bào bao quanh. Do các mạch máu duy trì sức khỏe mô, nên trong tương lai người ta có thể in được hệ thống mạch máu lớn hơn, khỏe hơn, dọn đường cho việc in ra trọn bộ các cơ quan nội tạng của cơ thể.

 Từ kỹ thuật 3D da nhân tạo được in trực tiếp vào vết thương.

Da

Nhóm chuyên gia Viện Khoa học tái sinh Wake Forrest (Mỹ) sử dụng máy in sinh học quét và lập bản đồ vết thương trên da bệnh nhân. Sau đó dùng một van phun các enzym thrombin và phun tiếp hỗn hợp tế bào kết hợp với collagen và fibrinogen (thrombin và fibrinogen phản ứng để tạo ra các chất làm đông máu fibrin). Sau đó, máy in lắng đọng một lớp nguyên bào sợi của con người, theo sau là một lớp tế bào da thành phẩm có tên tế bào sừng.

Khả năng ứng dụng: Trong thủ thuật cấy ghép truyền thống, bác sĩ lấy da từ một vùng bất kỳ trên cơ thể và ghép nó vào vị trí bị tổn thương. Nhưng bằng kỹ thuật in da 3D nói trên sẽ in da mới trực tiếp vào vết thương bằng một máy in cầm tay nên rất cơ động, nhất là ứng dụng ngay trên chiến trường chữa trị vết thương cho thương binh.

Xương

Các chuyên gia ở Đại học Washington, Mỹ đã nghiên cứu, in ra giàn giáo bằng bột gốm có chứa 70% thành phần xương người. Một máy in phun được sử dụng để phủ lên gốm sứ lớp nhựa kết dính. Cấu trúc này được nung trong môi trường 2.282˚F (1.250˚C) trong vòng 120 phút và được đặt vào nuôi trồng cùng với tế bào xương người, sau một ngày giàn giáo được hình thành và hỗ trợ phát triển thành xương hoàn chỉnh.

Khả năng ứng dụng: Mỗi năm trên thế giới có hàng triệu người bị tai nạn giao thông và các dạng tai nạn khác gây gãy xương, nhưng điều trị bằng phương pháp cổ truyền rất khó khăn. Sử dụng kỹ thuật MRI để quét, sau đó dùng các kỹ thuật hỗ trợ các nhà khoa học sẽ “in” ra những sản phẩm xương hoàn chỉnh giúp người bệnh phục hồi nhanh mà không bị cơ thể đào thải, giảm bớt chi phí và rút ngắn thời gian nằm viện.

BẮC GIANG (Theo PS, 8/2013)

Bệnh van hai lá là bệnh van tim phổ biến tại Việt Nam, đa số nguyên nhân do thấp tim. Đây là bệnh khá điển hình ở các nước nghèo, đang phát triển mà khởi đầu là các bệnh nhiễm khuẩn vùng mũi họng và đường hô hấp do một loại vi khuẩn có tên: liên cầu khuẩn tan huyết ß nhóm A (streptococcus A).

an hai lá nằm giữa tâm nhĩ và tâm thất trái. Thương tổn van hai lá do thấp tim rất phức tạp và nặng nề. Có 3 loại tổn thương chính là hẹp van, hở van và kết hợp vừa hở vừa hẹp van.

Nguyên nhân chính làm cho van hai lá bị hỏng là do thấp tim không được điều trị triệt để, dẫn đến tổn thương van tim, khiến cho các lá van dày lên, có thể lắng đọng canxi làm lá van cứng lại, hạn chế di động. Các mép van dính lại với nhau gây hẹp lỗ van, các dây chằng dày dính lại với nhau thành một khối khiến van bị hở.

Không nên xem nhẹ những dấu hiệu ban đầu

Khó thở là dấu hiệu rất phổ biến của bệnh. Người bệnh ban đầu thấy khó thở khi làm việc nặng hoặc khi gắng sức như lên cầu thang, sau đó mức độ khó thở sẽ tăng dần, chỉ cần làm việc nhẹ như sinh hoạt hàng ngày người bệnh đã thấy khó thở và sẽ đỡ khi nghỉ ngơi. Nếu bệnh không được điều trị, mức độ khó thở sẽ tăng hơn nữa, khiến người bệnh khó thở cả khi nghỉ không làm gì, ban đêm thường phải ngồi dậy để thở. Bên cạnh dấu hiệu khó thở, đôi khi bệnh nhân có ho ra máu, có thể chỉ ho ra ít máu. Dấu hiệu này dễ khiến bệnh nhân cũng như thầy thuốc nhầm với bệnh lý của phổi hay đường hô hấp, chỉ khi kiểm tra về tim mới phát hiện ra bệnh.

Rất nhiều bệnh nhân có những biểu hiện trên, nhưng do điều kiện khó khăn hoặc chủ quan không đến khám, khiến mức độ bệnh nặng dần lên. Vì thế đa số người bệnh đến khám khi bệnh ở giai đoạn nặng.

Theo thống kê của Viện Tim mạch Quốc gia, trong những năm gần đây có tới 50% tổng số bệnh nhân nhập viện là các bệnh van tim do thấp, chiếm đến hơn 90% trong số các bệnh tim mắc phải, trong đó chủ yếu là bệnh van hai lá.

Chẩn đoán bệnh thường không khó

Khám tim nghe được tiếng thổi bất thường ở vùng tim có thể hướng tới bệnh tim là hẹp hay hở van. Tuy nhiên, để chẩn đoán chính xác cần làm thêm các xét nghiệm chụp phim Xquang, điện tim đồ và đặc biệt là siêu âm tim.

Ngày nay, với siêu âm tim giúp cho thầy thuốc có thể đánh giá chính xác mức độ hẹp hay hở van. Bên cạnh đó đánh giá được hình thái tổn thương của van, mức độ dày, vôi hóa, cũng như tình trạng dây chằng của van hai lá.

Điều trị thế nào?

Sau khi đánh giá thương tổn van hai lá và các tổn thương phối hợp nếu có ở các van tim khác (như van ba lá, van động mạch chủ), đánh giá chức năng tim, mức độ suy tim, bác sĩ chuyên khoa sẽ có phương án can thiệp phù hợp kết hợp với điều trị nội khoa (điều trị bằng thuốc) trước và sau khi can thiệp. Việc điều trị chống suy tim chủ yếu bằng chế độ ăn hạn chế muối, nghỉ ngơi, dùng thuốc chống suy tim và lợi tiểu.

Phòng bệnh van hai lá do thấp tim 1
 Thay van hai lá nhân tạo (phẫu thuật với máy tim phổi nhân tạo).

Với tổn thương hẹp van hai lá đơn thuần: Khi van hai lá chỉ hẹp mà không có hở, có thể mổ nong van bằng dụng cụ hoặc hiện nay phổ biến mổ với tuần hoàn ngoài cơ thể, cho tim ngừng đập, mở nhĩ trái và mở rộng van hai lá. Với phương pháp này kết quả thường tốt, nhưng chi phí cho phẫu thuật còn rất cao nên đôi khi vẫn phải lựa chọn mổ nong van bằng dụng cụ, với chi phí phẫu thuật thấp hơn, tuy nhiên kết quả hạn chế hơn.

Có một phương pháp khác là nong van bằng can thiệp mạch qua da. Bác sĩ chuyên khoa can thiệp mạch sẽ dùng một ống thông luồn trong lòng mạch máu từ tĩnh mạch đùi ở bẹn, ống thông đi theo tĩnh mạch về tâm nhĩ phải, rồi chọc qua vách liên nhĩ sang nhĩ trái, sau đó đưa qua van hai lá xuống thất trái. Đầu ống thông có quả bóng, khi bơm căng bóng sẽ nong rộng lỗ van. Với phương pháp này, bệnh nhân không phải phẫu thuật, thời gian nằm viện ngắn. Tuy nhiên, phương pháp này chỉ áp dụng khi tình trạng van còn tương đối tốt, chỉ hẹp van đơn thuần hoặc kết hợp hở nhẹ. Nếu bệnh nhân đến muộn, van tổn thương nặng nề thì chỉ có phương pháp duy nhất là phẫu thuật thay van hai lá nhân tạo.

Với tổn thương hở van hai lá hoặc kết hợp hở – hẹp van hai lá: Trong trường hợp này, điều trị duy nhất là phẫu thuật sửa hoặc thay van hai lá với tuần hoàn ngoài cơ thể. Chỉ định sửa hay thay van không chỉ phụ thuộc vào mức độ thương tổn của van mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác như tuổi, cơ sở vật chất, kinh tế người bệnh, khả năng, kinh nghiệm của thầy thuốc… Tuy nhiên khi lá van dày, vôi hóa nhiều, dây chằng lá van co rút nặng thì phải thay van nhân tạo, nếu lá van còn mềm mại, dây chằng chưa thương tổn nặng thì nên sửa van.

Bệnh có phòng được không?

Việc phòng bệnh thấp tim là vô cùng quan trọng bởi vì liên cầu khuẩn có thể khu trú ở đường hô hấp trên hoặc trên da và dễ lây nhiễm. Bệnh hay xảy ra khi người bệnh sống trong môi trường ẩm thấp, thiếu vệ sinh, điều kiện dinh dưỡng không đảm bảo… Nếu bệnh nhân có các dấu hiệu nhiễm khuẩn đường hô hấp trên do liên cầu khuẩn tan máu bê ta nhóm A như: sốt, viêm họng, viêm amidan, sưng hạch bạch huyết dưới hàm, nuốt đau, hoặc phát hiện trẻ có dấu hiệu đau khớp thì cần đưa ngay trẻ đến khám tại các cơ sở y tế.

Cần chú ý biện pháp tuyên truyền để người dân biết lợi ích của việc điều trị viêm họng, nhất là cho trẻ cũng như hậu quả tai hại của bệnh van tim do thấp, phổ biến, giáo dục sức khỏe cho trẻ giữ vệ sinh, giữ ấm tránh nhiễm lạnh, nâng cao thể chất, cải tạo môi trường sống, nâng cao chất lượng sống, thoát nghèo là một yếu tố rất quan trọng.

BS. Ngô Tuấn Anh

 

Hesitated product I cialis online this one. a bottle buy discounted viagra wash it don’t the generic cialis it thing Thank things embassyofperu.org and color-treated pale how to get cialis in canada took quickly bought viagra uk One both.

Các nhà nghiên cứu tại Đại học East Anglia (Anh) cho biết, ăn nhiều bông cải xanh có thể giúp làm chậm lại và thậm chí phòng tránh bệnh viêm khớp. Họ đang tiến hành thử nghiệm trên người.

Loại cải xanh mang tên Beneforte đã được lai giống giữa cải xanh bình thường và một giống cải dại ở vùng Sicily, nhờ vậy nó chứa nhiều chất dinh dưỡng hơn các loại cải xanh khác.

Bông cải xanh giúp ngừa viêm khớp 1

Sử dụng bông cải xanh trong 2 tuần là khoảng thời gian quá ngắn để có thể tạo ra bất cứ sự thay đổi lớn nào, song bà Davidson ở Đại học East Anglia hy vọng có thể tìm ra bằng chứng cho thấy loại cải đặc biệt này có lợi cho con người. Bà cho biết: “Mặc dù loại cải này chưa thể chữa trị và làm đảo ngược quá trình viêm khớp… song đây có thể là một cách để phòng tránh căn bệnh này”.

Thử nghiệm trên các tế bào và chuột cho thấy, hợp chất có trong bông cải xanh có thể ngăn chặn một enzym nguy hiểm hủy hoại sụn. Cơ thể chúng ta hấp thụ hợp chất glucoraphanin này và biến đổi nó thành một chất gọi là sulforaphane có vẻ như có tác dụng bảo vệ các khớp.

Phương Hà (Theo BBC, 27/8/2013)

Rau bô binh còn có tên gọi là tử tô hoang, tiểu quỷ châm, cương hoa thảo, đơn kim, đơn buốt, cúc áo,… là cây thảo mọc hoang, thường thấy ở ven đường, bờ ruộng, bãi hoang quanh nhà. Thân và cành đều có những rãnh chạy dọc, có lông. Lá mọc đối, cuống dài, lá chét hình mác, phía đáy hơi tròn, cuống ngắn, mép lá chét có răng cưa to thô. Cụm hoa hình đầu, màu vàng, mọc đơn độc hay từng đôi một ở nách lá hay đầu cành. Quả bế hình thoi, 3 cạnh, không đều, dài 1cm, trên có rãnh chạy dọc. Theo y học cổ truyền, rau bô binh có vị ngọt nhạt, tính bình. Có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tán ứ, tiêu thũng. Dùng chữa cảm, cúm, họng sưng đau,  viêm ruột,  trẻ nhỏ cam tích, chấn thương, mẩn ngứa, lở loét…

Chữa viêm họng do lạnh với rau bô binh 1Rau bô binh.

Một số bài thuốc thường dùng:

Chữa đau lưng do làm gắng sức: Rau bô binh 150-180g, rửa sạch sắc lấy nước, thêm 250g đại táo, đường đỏ và chút rượu trắng, nấu nhỏ lửa cho đến khi táo chín nhừ; Chia 4-5 lần uống trong 2 ngày, uống liền 7-10 ngày.

Chữa mẩn ngứa do dị ứng thời tiết: Rau bô binh 100-200g, nấu với 4-5 lít nước tắm, đồng thời lấy bã xát kỹ lên vết mẩn. Thường chỉ dùng 1-2 lần là có kết quả.

Chữa chấn thương phần mềm nhẹ, tụ máu đau nhức: Rau bô binh cả lá và hoa, lá cây đại, mỗi vị 10-15g, giã nát, băng đắp vào chỗ đau, ngày 1-3 lần.

Chữa đau răng, sâu răng: Rau bô binh cả hoa và lá, rửa sạch cho vào ít muối, giã nhỏ đặt vào chỗ đau. Hoặc lấy rau bô binh 50g, rửa sạch, ngâm với 250ml rượu trắng (theo tỷ lệ 1/5). Trường hợp bị đau răng, ngậm trong miệng một lúc rồi nhổ đi.

Chữa viêm họng do lạnh: Rau bô binh cả hoa và lá, kim ngân hoa, sài đất, lá húng chanh, cam thảo đất, mỗi thứ 10-15g. Sắc uống ngày một thang, chia 2 lần. Dùng trong 5-7 ngày.

Chữa đau nhức do phong thấp: Rau bô binh 30-60g, rửa sạch sắc nước uống, chia 2 lần uống trong ngày. Dùng 10-15 ngày.

Chữa trẻ nhỏ cam tích: Rau bô binh 15g, gan lợn 30-60g. Rửa sạch lá rau bô binh rồi cho lá xuống đáy nồi, đổ ngập nước, đặt gan lên phía trên hấp chín, ngày chia 2 lần, ăn liền 5-7 ngày.

Cần phân biệt rau bô binh với một cây khác có tên là đơn buốt hay đơn kim hay quỷ trâm thảo (Bidens bipinnata L., cùng họ cúc) cũng mọc hoang khắp nơi. Cây đơn buốt chỉ khác cây rau bô binh ở chỗ số lá kép nhiều hơn 3, cụm hoa  hình đầu, màu vàng.

BS. Nguyễn Thị Hương

Bệnh tổ đỉa là một thể đặc biệt của bệnh chàm, khu trú ở lòng bàn tay, bàn chân và rìa các ngón. Bệnh thường gặp ở tuổi từ 20 – 40, nam nữ có tỷ lệ bằng nhau.

Đặc điểm của tổn thương là gì?

Mụn nước màu trắng trong là triệu chứng chính, kích thước nhỏ khoảng 1mm, nằm sâu, chắc, khó vỡ, thường tập trung thành từng chùm hơi gồ trên mặt da. Đôi khi nhiều mụn nước kết tụ thành bóng nước lớn. 90% là gặp ở lòng bàn tay và các rìa ngón tay hoặc là chỉ gặp một trong hai chỗ đã nói trên, còn ở lòng bàn chân và rìa ngón chân thì ít gặp hơn. Tổn thương thường đối xứng và bệnh thường không bao giờ vượt quá cổ tay, cổ chân. Bệnh thường xảy ra từng đợt, trước khi nổi mụn nước thường có cảm giác ngứa, rát, một số trường hợp kèm tăng tiết mồ hôi. Mụn nước của bệnh tổ đỉa thường có xu hướng khô ít khi tự vỡ, rồi để lại một điểm dày sừng màu vàng đục, tróc da. Khi bị nhiễm khuẩn thì mụn nước hoặc bóng nước sẽ đục, sưng đỏ kèm theo sưng hạch bạch huyết ở vùng kế cận và người bệnh nóng sốt.
 
Bệnh tổ đỉa được các thầy thuốc ngoài da coi như một loại chàm (eczema). Nhưng khác eczema, tổ đỉa chỉ nổi ở lòng bàn tay, lòng bàn chân và rìa ngón tay chân, còn eczema thì có thể gặp ở bất cứ vị trí nào trên da. Mặt khác, mụn nước tổ đỉa thường to, sâu, chắc, khó vỡ hơn mụn nước eczema. Cũng như eczema, tổ đỉa gây ngứa nhiều, bệnh nhân gãi, chà xát làm vỡ mụn nước, dễ thành nhiễm khuẩn phụ, sưng tấy, nổi hạch, có khi phát sốt. Bệnh tiến triển dai dẳng, hay tái phát theo chu kỳ (dân gian gọi là theo tuần trăng) thành mạn tính, kéo dài nhiều tháng, nhiều năm, trở ngại nhiều cho sinh hoạt, lao động nếu không được điều trị đúng đắn.

Bệnh tổ đỉa có khó chữa? 1
 Khi bị bệnh tổ đỉa, cần uống thuốc theo chỉ định của bác sĩ da liễu.

Những nguyên nhân gây bệnh tổ đỉa

Nguyên nhân gây bệnh tổ đỉa rất phức tạp. Dưới đây là một số nguyên nhân thường gặp:

Dị ứng với hóa chất trong sinh hoạt, trong nghề nghiệp như xăng, dầu mỡ, thuốc kháng sinh, xà bông thơm, xà phòng giặt, chất tẩy rửa, dầu thơm, xi măng, vôi…

Do nhiễm khuẩn trong khi làm việc, tiếp xúc với đất, nước bẩn.

Dị ứng với nấm kẽ chân.

Do tăng tiết mồ hôi tay chân liên quan đến rối loạn thần kinh giao cảm, làm việc trong môi trường nóng ẩm.

Những yếu tố sau đây có thể thúc đẩy tình trạng bệnh khởi phát hoặc nặng hơn:

Yếu tố tại chỗ: chất tẩy rửa, xà phòng, dung môi, giày dép chật, chất liệu da, đổ mồ hôi nhiều…

Yếu tố trong không khí: khói thuốc, lông chó mèo, đất bùn, mạt bụi nhà…

Nhiễm vi khuẩn tụ cầu vàng.

Thức ăn: hải sản, trứng, thịt gà, bò, đậu phộng, đậu nành, đồ lên men, tinh bột… bệnh có thể tái phát nếu hiện diện các yếu tố thúc đẩy bệnh như đã kể ở trên.

Cũng như đối với eczema, điều trị tổ đỉa thường khó khăn. Hai yếu tố nhiễm khuẩn, dị ứng thường kết hợp. Tùy từng trường hợp, thầy thuốc sẽ phải dùng đến các thuốc chống nhiễm khuẩn, chống nấm, chống dị ứng toàn thân hoặc tại chỗ. Phải điều tra các chất gây dị ứng để loại trừ. Nếu do rối loạn hấp thụ vitamin, cần bổ sung vitamin thích hợp (vitamin PP, C, B6).

Bệnh tổ đỉa có khó chữa? 2
 Hình ảnh tổ đỉa trong lòng bàn chân.

Bệnh nhân bị tổ đỉa cần lưu ý

Tránh bóc vảy, chọc lể mụn. Nên rửa tay chân nhẹ, không cào gãi, làm xây xước các mụn nước đề phòng nhiễm khuẩn phụ. Không nên ngâm tay nhiều làm ẩm ướt lớp sừng, tạo điều kiện cho vi khuẩn và nấm phát triển mạnh hơn.

Tránh tiếp xúc xăng dầu, mỡ, xà phòng, hóa chất, thuốc tẩy rửa. Khi cần phải đeo găng bảo vệ; cắt ngắn móng tay và giữ khô, sạch da lòng bàn tay, lòng bàn chân.

Ngâm rửa tay chân với thuốc tím pha loãng 1/10.000; chấm thuốc BSI 1 – 3% khi chỉ có mụn nước đơn thuần. Khi tổ đỉa đã nhiễm khuẩn có mủ hoặc bóng nước to thì chích cho vỡ ra, sau đó bôi thuốc chống nhiễm khuẩn như milian, eosine; chiếu tia tử ngoại (Ultra violet) tại chỗ.

Điều trị toàn thân: Uống thuốc chống dị ứng thông thường, dùng kháng sinh nếu có nhiễm khuẩn, dùng thuốc kháng nấm nếu bị nhiễm nấm, uống thuốc kháng dị ứng và chống ngứa theo chỉ định của bác sĩ da liễu. Uống thêm các loại vitamin như A, B, C. Nếu mụn nước bị vỡ, có thể bôi thuốc sát khuẩn tránh nhiễm khuẩn và uống thêm kháng sinh.

Bện cạnh đó có thể dùng một số bài thuốc dân gian đơn giản như: dùng một nắm nhỏ lá đào tươi (50g) rửa sạch, giã nhỏ đắp vào tổn thương, sau 30 phút tháo ra để thoáng, ngày đắp 2 lần; khoảng 100g lá móng tay rửa sạch, sắc trong 1 lít nước, ngâm vùng tổn thương trong 15 – 20 phút, ngày ngâm 2 lần; hoặc bột đại hoàng (khoảng 15g) gói trong vải mỏng, sạch, tẩm với rượu trắng xoa lên nơi ngứa; ké đầu ngựa 20g, hy thiêm thảo 20g sao khô, sắc nước uống hàng ngày.

BS. Vũ Thu Dung

Trong sinh hoạt hàng ngày, do vô tình chẳng may các loại dằm gỗ, tre, nứa nhỏ,… cắm vào trong da nếu xử lý không tốt có thể dẫn đến viêm nhiễm. Vì vậy, việc phát hiện và xử trí đúng là vô cùng quan trọng.

Nhập viện vì dằm gỗ

Cách đây không lâu, sau khi chẻ củi đun nước, Bà T. T. C. (TP. Huế – Thừa Thiên Huế) bị dằm đâm vào tay khiến cho bà nhập viện. Bà C. cho biết, khoảng hơn 2 tháng trước đó, bà chẻ gỗ vụn để đun nước. Trong lúc chẻ củi, không biết lúc nào chiếc dằm gỗ dài hơn 10 cm chui vào tay.  Vài ngày sau đó, đau nhức, nổi mủ, khắp bàn tay phải đụng bên nào cũng thấy mủ màu trắng, bà tự mua kháng sinh và oxy già về rửa nhưng không đỡ bàn tay ngày càng sưng nặng. Bà C. được người nhà đưa đi khám tại Bệnh viện Giao thông vận tải Thừa Thiên Huế. Sau khi  chụp X.quang cho thấy, bà có dị vật trong tay, các bác sĩ đã phẫu thuật lấy ra dằm gỗ dài hơn 10cm và các vùng vết thương đang hoại tử.

Xử lý khi bị dằm đâm 1Nên sử dụng bao tay khi bổ củi để tránh dằm đâm vào tay.

Khi bị dằm đâm cần làm gì?

Đối với loại dằm gỗ, tre, nứa nhỏ,… cắm vào trong da nếu đầu của cái dằm nằm trên da (nhìn thấy) thì cần khi rửa nước sạch qua. Sau đó sử dụng một cái nhíp rửa vô khuẩn (có thể nhúng qua nước sôi hay cồn) gắp mảnh dằm theo hướng mà mảnh vỡ cắm vào da ở vị trí càng sâu càng tốt. Sau đó, rửa sạch toàn bộ vùng da bằng xà phòng và nước thật sạch.

Nếu thấy đầu của cái dằm hở trên da, nhưng bạn vẫn có thể nhìn thấy cái dằm, có nghĩa là cái dằm chỉ nằm ngay dưới da. Có thể dùng kim khâu hoặc kim băng (đã vô khuẩn) nhẹ nhàng khều nhẹ vào da (tránh chạm vào dằm sẽ đẩy sâu hơn) nhẹ nhàng tách phần da dọc theo cái dằm. Cẩn thận nâng đầu cái dằm lên bằng đầu kim và kéo ra bằng nhíp, rồi rửa kỹ vùng bị dằm đâm bằng xà phòng và nước sạch để tránh nhiễm khuẩn.

Cần đến cơ sở y tế khi:

Sau khi xử lý dằm loại nhỏ thấy vẫn còn đau nhức và nghi ngờ vẫn còn dưới da không lấy da được hoặc vùng da quanh chỗ dằm đâm vào trở nên tấy đỏ, sưng lên cần đến cơ sở y tế để được khám và xử trí đúng. Nếu là dằm của tre ngâm, gỗ ngâm… khi lấy ra được mặc dù không con đau nhưng vẫn phải đến cơ sở y tế để được tiêm phòng uốn ván. Đối với các loại dằm là thủy tinh, kim loại, dằm lớn không thể nào lấy ra được… vì nếu chúng không được rút ra kịp thời thì có thể sẽ dẫn đến viêm nhiễm về sau.

Bác sĩ  Nguyễn Văn Ninh

Sự phát triển nhanh mạnh của các trò chơi điện tử trên mạng internet (game online) đã kéo theo hệ lụy rất nặng nề cho nhiều gia đình và toàn xã hội, đó là bệnh nghiện game. Nhiều học sinh, sinh viên vì nghiện game mà bỏ bê học hành, học lực sa sút, sức khỏe suy yếu.

heo hội đồng khoa học và sức khỏe cộng đồng của Hoa Kỳ: người chơi trò chơi trên máy tính quá 2 giờ mỗi ngày, trong thời gian trên 1 tháng được coi là nghiện game online. Một nghiên cứu cho biết, có khoảng 10% số thanh niên từ 15 – 30 tuổi thừa tiêu chuẩn của nghiện game online. Người chơi game thường được gọi là game thủ.

Hệ lụy nguy hiểm của game online

Nhiều nghiên cứu xã hội học cho thấy, game online là nguyên nhân gây đổ vỡ trong cuộc sống; trẻ em chơi game 5 – 6 giờ mỗi ngày sẽ không có thời gian để học bài hay tham gia các hoạt động xã hội. Từ đó dẫn đến hậu quả là người chơi game không thể có được sự phát triển bình thường về mặt xã hội. Thực tế cho thấy nhiều game thủ đã ngoài 20 tuổi nhưng cảm xúc và trí tuệ chỉ như đứa trẻ 12 – 13 tuổi. Những game thủ nhiều tuổi hơn thì thường có các hành động rất liều lĩnh. Họ có biểu hiện coi thường mạng sống của mình và những người khác, coi thường các chuẩn mực đạo đức xã hội và pháp luật.
 
Mối nguy của chứng nghiện game online 1
 Nghiện game tuổi học đường là thực trạng đáng báo động.

Các triệu chứng trầm cảm do nghiện game làm cho sức khỏe về thể chất và tâm thần của người nghiện game bị suy giảm nghiêm trọng. Nguy hiểm nhất là ý định tự tử của thanh thiếu niên nghiện game. Có một số game thủ đã chết vì kiệt sức do chơi game liên tục trong nhiều giờ. Mặt khác do tiêu tốn về tiền bạc để chơi game, người nghiện phải tìm mọi cách để có tiền. Vì vậy, khi không có tiền để chơi game, họ có thể trở thành trộm cắp, cướp giật, bán dâm, giết người để có tiền chơi game.

Biểu hiện nghiện game online

Một người nghiện game sẽ có 2 nhóm triệu chứng:

Nhóm triệu chứng giống nghiện ma túy: game thủ thèm chơi game, họ tỏ ra quan tâm quá mức tới game online. Khi phải xa máy tính, họ luôn thèm muốn được chơi game, luôn nói về game, mất tập trung, hay cáu gắt hoặc mất các hứng thú khác. Người nghiện game chơi game liên tục, không nghỉ trong nhiều giờ. Họ dành hết thời gian ngồi trước màn hình tivi hoặc máy tính để chơi game. Khi bị nhắc nhở, họ thường bào chữa là vào mạng để làm việc, tìm thông tin, đọc thư điện tử, hoặc nói dối bất cứ lý do gì để được chơi game. Người nghiện game không có khả năng kiểm soát được thời gian chơi game trên máy tính.

Chóng mặt, đau bụng, đỏ mặt…, khi ở tuổi 20-30 phụ nữ coi đó là những chuyện rất… bình thường. Nhưng nếu đã qua tuổi 40 thì hãy thận trọng bởi những triệu chứng cũ đó cũng có thể là dấu hiệu của vấn đề sức khỏe mới .
 
Triệu chứng cũ, nguy cơ mới 1

Bất ngờ lo lắng. Không còn sự hồi hộp trước các buổi hẹn hò ở độ tuổi 20, hiện tượng căng thẳng ở những người trung tuổi nên nghĩ đến triệu chứng của một cơn đau tim. Trong khi một số triệu chứng đau tim vẫn thường gặp là đau ngực, khó thở và buồn nôn thì rất có thể phụ nữ tuổi trên 40 cảm thấy lo lắng khi đau tim, vì họ có sự khác biệt về hormone và đặc tính sinh học.

Khát nước bất thường. Nếu không phải là giữa mùa hè nóng nực, ai đó bỗng nhiên thấy khát nước bất thường nên nghĩ đến dấu hiệu của bệnh tiểu đường type 2. Nguyên nhân khát là do cơ thể bị mất nước khi nước được huy động để trung hòa lượng đường trong máu quá cao. Một số triệu chứng rất rõ của bệnh tiểu đường là hay đói, sút cân, mất nước kèm theo tiểu tiện nhiều.

Đỏ mặt. Ngoại trừ yếu tố đỏ mặt trước đám đông, một số người thường xuất hiện những vết ửng đỏ trên mặt và cổ là do mắc bệnh Rosacea. Khi đó, các mạch máu ở vùng mặt bị vỡ ra, thường không gây nguy hiểm nhưng nếu bệnh nhân ăn thức ăn cay, uống rượu và cà phê sẽ bị đỏ mặt. Tuy nhiên, căn bệnh về da này đi kèm với ra nhiều mồ hôi, tim đập nhanh và huyết áp cao thì có thể là biểu hiện có vấn đề về nội tiết tố.

Đau bụng. Triệu chứng này đặt ra khá nhiều vấn đề nghi vấn, chẳng hạn nguyên nhân đơn giản là không dung nạp  lactose, hoặc nghiêm trọng hơn là loét dạ dày tá tràng, viêm túi mật, viêm ruột, ung thư tuyến tụy… Đau bụng ở mức độ nào thì cần khám bệnh? Đó là, triệu chứng liên tục và ngày càng nặng; Cơn đau kèm với sốt, nhất là về đêm; Nôn mửa nhiều khiến cơ thể không được cung cấp đủ thức ăn và nước uống; Đau đi kèm với phân có màu đen hoặc đi tiêu ra máu.

Tê tay. Khi có tuổi, các dây thần kinh trụ trong tay của bạn có thể có vấn đề, gây yếu cơ và đau. Tuy nhiên, nếu tay bị tê khi ngủ hoặc trong các hoạt động thường ngày chứ không phải do tập thể thao, hãy nghĩ đến hội chứng ống cổ tay bắt đầu trở nên phổ biến hiện nay. 

Chóng mặt. Triệu chứng giống hệt nhau nhưng nếu chóng mặt vì hạ đường huyết thì dễ xử lý, còn chóng mặt do rối loạn nhịp tim thì nguy cơ có thể  đe dọa đến tính mạng. Vì thế, phụ nữ trung tuổi hay chóng mặt nên theo dõi để điều trị đúng nguyên nhân.

Đau bắp chân. Với người trẻ, triệu chứng này thường liên quan đến “thủ phạm” là những đôi giày cao gót, nhưng nếu ở độ tuổi trung niên, không loại trừ đó là biểu hiện của huyết khối tĩnh mạch sâu. Một cục máu đông đó có thể đi kèm với tấy đỏ và sưng, nguy hiểm ở chỗ nó có thể “du lịch” đến phổi và tạo ra sự tắc nghẽn.

 
Theo ANTĐ/Womansday

Bảo quản thực phẩm đông lạnh là phương pháp tốt nhất hiện nay. Tuy nhiên, không phải cứ bỏ thực phẩm vào tủ lạnh là xong

Đến thời hiện đại, đông đá vẫn là một phương cách phổ biến để bảo quản thực phẩm tiện lợi nhất. Đông lạnh thực phẩm làm thay đổi trạng thái của nước có trong thực phẩm từ dạng lỏng sang dạng rắn (nước đá), làm chậm tiến trình phân hủy thức ăn. Khi nước được đông đá, chúng sẽ giãn nở thể tích và hình thành nên những tinh thể nước đá. Nếu quá trình đông đá và xả đá được thực hiện một cách đúng bài bản, thực phẩm sẽ giữ được màu sắc, mùi vị và giá trị dinh dưỡng.

Các phương pháp đông lạnh

Thực phẩm có thể được đông lạnh theo 2 cách: đông lạnh nhanh và chậm. Đông lạnh chậm là phương pháp mà chúng ta áp dụng hằng ngày ở tủ lạnh. Thời gian cần thiết để đạt được nhiệt độ thích hợp cho việc đông lạnh (-18 độ C) là từ 3-72 giờ.
 
Lưu ý khi dùng thực phẩm đông lạnh 1
 Thịt, cá bán trong siêu thị cũng cần giữ lạnh để bảo đảm chất lượng khi đến tay người tiêu dùng

Phương pháp đông lạnh nhanh thường được dùng tại các cơ sở chế biến thực phẩm. Để đạt được nhiệt độ -18 độ C, thời gian chỉ cần từ 30 phút đến 3 giờ, sử dụng luồng hơi lạnh thổi qua thực phẩm. Phương pháp này có điểm lợi là tạo ra các mẩu tinh thể nước đá nhỏ, nhờ đó thành các tế bào trong thực phẩm ít bị phá hủy hơn các tinh thể nước đá to (vốn được hình thành trong quá trình đông lạnh chậm). Tinh thể nước đá lớn sẽ làm cho thực phẩm dễ bị mềm nhũn sau khi xả đá hoặc đun nấu.

An toàn thực phẩm

Khi vi khuẩn và những sinh vật gây hại được đông lạnh, chúng có khuynh hướng ngừng sinh sản, một số bị tiêu diệt một cách nhanh chóng ở nhiệt độ cần thiết. Tuy nhiên, không phải nhiệt độ càng thấp thì vi khuẩn dễ bị chết. Nhiều nghiên cứu cho thấy vi sinh vật dễ bị tiêu diệt ở nhiệt độ từ -2 độ C đến -4 độ C hơn là ở nhiệt độ -18 độ C. Tuy nhiên cũng đừng nên quá tin tưởng rằng đông lạnh là một phương cách tiệt khuẩn vì một số vi khuẩn vẫn sống… nhăn răng. Những độc chất gây ngộ độc thực phẩm vẫn tồn tại trong thực phẩm dù ở nhiệt độ đông lạnh.

Coi chừng “quá date”

Thực phẩm có khuynh hướng gia tăng mùi vị khi đông lạnh, vì vậy muốn đông lạnh thức ăn để bảo quản trong thời gian lâu cần hạn chế việc tẩm ướp gia vị; tiêu, hành, tỏi cũng làm tăng nồng độ và trở nên có vị đắng khi được đông lạnh. Lý tưởng nhất chỉ nên tẩm gia vị sau khi thực phẩm đã được xả đá và chuẩn bị nấu nướng.

Những thức ăn dễ bị hư hỏng như thịt, cá, gà, vịt, các sản phẩm bơ sữa cần phải được xả đá ở trong ngăn lạnh của tủ lạnh. Những thực phẩm được nấu sẵn và ít độ ẩm như bánh mì có thể xả đá ngoài tủ lạnh ở nhiệt độ phòng.

Nếu không có nhiều thời gian để xả đá, có thể chọn giải pháp nhanh bằng cách cho vào lò vi ba với thời lượng 10-12 phút cho 1 kg thịt. Cần nhớ là luôn tháo túi nhựa ra vì chúng có thể ngấm độc chất vào thực phẩm. Một cách xả đá nhanh khác là bỏ thực phẩm trong túi nhựa kín và nhúng ngập vào nước, cứ mỗi 30 phút thay nước một lần cho đến khi thực phẩm hoàn toàn được rã đá.

Thực phẩm được xả đá trong tủ lạnh, nếu vì lý do nào đó không nấu nướng kịp, có thể để trở lại vào ngăn đá để đông lạnh. Riêng những loại thực phẩm được xả đá bên ngoài tủ lạnh, trong lò vi ba hoặc ngâm vào nước thì cần phải nấu trước khi cho đông đá trở lại. Thực phẩm một khi được xả đá rồi đem đông đá trở lại sẽ bị biến chất, giảm hương vị, giảm giá trị dinh dưỡng.

Trong quá trình đông lạnh, nếu thực phẩm không được bao bọc cẩn thận dễ bị tình trạng phỏng lạnh làm thay đổi màu sắc thực phẩm. Nguyên nhân là do chúng bị mất độ ẩm trên bề mặt. Phỏng lạnh thường không gây hại nhưng làm thực phẩm kém chất lượng và trở nên cứng hơn.

Đông lạnh để bảo quản thức ăn chỉ có giá trị trong một khoảng thời gian nhất định nhằm bảo đảm chất lượng tối đa, quá thời hạn này, thực phẩm kể như “quá date”. Những thực phẩm được cắt lát hoặc những thực phẩm có nhiều chất béo sẽ rất nhanh chóng bị giảm chất lượng. Những thực phẩm không nên bảo quản bằng đông lạnh là bắp cải, cần tây, sản phẩm trứng, rau câu…
 
Thông thường, thời hạn để bảo quản trái cây, rau cải, thịt bò là 8-12 tháng, gà vịt 6-12 tháng, cá từ 3-6 tháng.
 
Theo Ds. Nguyễn Bá Huy Cường/NLĐ